1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu lo âu ở học sinh lớp 12 trường thpt ba gia huyện sơn tịnh, tỉnh quảng ngãi

72 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra cũng có thể xem học sinh gián tiếp trở thành nạn nhân từ những áp lực về chỉ tiêu, sự căng thẳng của giáo viên được “vô tình đè lên đứa trẻ”… Lo âu được gây ra bởi nhiều nguyên

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA TÂM LÝ – GIÁO DỤC -

NGHIÊN CỨU LO ÂU Ở HỌC SINH LỚP 12 TRƯỜNG THPT BA GIA HUYỆN SƠN TỊNH, TỈNH QUẢNG NGÃI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐÀ NẴNG, 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA TÂM LÝ – GIÁO DỤC -

NIÊN KHÓA 2013 - 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian dài nghiên cứu và làm việc cố gắng, tôi đã hoàn thành luận văn này Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến những người đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua

Lời đầu tiên, tôi xin cảm ơn những tình cảm chân thành và sự giúp đỡ tận tình của gia đình đã giúp đỡ tôi về mặt tinh thần lẫn vật chất để tôi có được điều kiện hoàn thành bài khóa luận này

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu, các thầy cô trong phòng tổ chức hành chính, các thầy cô trong Khoa Tâm lý - Giáo dục đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành bài khóa luận Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Th.S Nguyễn Thị Hồng Nhung là người đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu và tập thể giáo viên, học sinh trường THPT Ba Gia – Quảng Ngãi đã tạo điều kiện và hợp tác cùng tôi trong quá trình nghiên cứu Tôi xin gửi đến mọi người lòng biết ơn sâu sắc nhất Kính chúc mọi người sức khỏe, niềm vui và hạnh phúc

Đà Nẵng, tháng 4 năm 2017

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

DSM-III – TR : Hướng dẫn chẩn đoán và Thống kê các rối loạn tâm thần lần thứ

III - TR của Hiệp hội Tâm thần học Mỹ (Diagnostic and statistical manual of mental disorders)

ĐTB : Điểm trung bình

F : Tần số

ICD – 10 : Bảng phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 của Tổ chức Y tế thế giới

(Intermational classification of diseases)

SD : Độ lệch chuẩn

RLLA : Rối loạn lo âu

SAS : Thang lượng giá lo âu Zung (The Zung Self Rating Axiety Scale) THPT : Trung học phổ thông

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 1.2 Sự khác nhau giữa lo âu bình thường và lo âu bệnh lý 10

Bảng 2.1 Đặc điểm khách thể nghiên cứu 23

Bảng 3.1 Lo âu giữa nam và nữ 30

Bảng 3.2 Đặc điểm ở học sinh THPT Ba Gia có lo âu 31

Bảng 3.3 Nguyên nhân dẫn đến lo âu ở học sinh 32

Bảng 3.4 Nguyên nhân về học tập gây lo âu ở học sinh THPT Ba Gia 33

Bảng 3.5 Nguyên nhân về quan hệ gia đình gây lo âu ở học sinh THPT Ba Gia 35

Bảng 3.6 Nguyên nhân về quan hệ xã hội gây lo âu cho học sinh 37

Bảng 3.7 Nguyên nhân về bản thân gây lo âu cho học sinh 39

Bảng 3.8 Ứng phó với lo âu của học sinh trường THPT Ba Gia 41

Bảng 3.9 Những nguyên nhân chính gây ra lo âu của B.T.M.N 44

Trang 6

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Trang

Biểu đồ 3.1 Thực trạng lo âu ở học sinh lớp 12 trường THPT Ba Gia 29 Biểu đồ 3.2 Lo âu giữa nam và nữ 30 Biểu đồ 3.3 Những nguyên nhân về học tập gây lo âu cho học sinh lớp 12 trường THPT Ba Gia 34 Biểu đồ 3.4 Nguyên nhân về quan hệ gia đình gây lo âu ở học sinh THPT Ba Gia 36 Biểu đồ 3.5 Nguyên nhân về quan hệ xã hội gây lo âu ở học sinh THPT Ba Gia 38 Biểu đồ 3.6 Nguyên nhân về bản thân gây lo âu cho học sinh 40

Trang 7

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2

4 Giả thuyết nghiên cứu 2

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Phạm vi nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 3

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 3

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 3

7.2.1 Phương pháp trắc nghiệm 3

7.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 3

7.2.3 Phương pháp phỏng vấn cá nhân 3

7.3 Phương pháp thống kê toán học 4

8 Cấu trúc của luận văn 4

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LO ÂU Ở HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 5

1.1 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

1.1.1 Một số nghiên cứu trên thế giới 5

1.1.2 Một số nghiên cứu ở Việt Nam 7

1.2 Những vấn đề lý luận về lo âu 8

1.2.1 Khái niệm lo âu 8

1.2.1.1 Lo âu bình thường 8

Trang 8

1.2.1.2 Lo âu bệnh lý 9

1.2.2 Biểu hiện lo âu 11

1.2.3 Lo âu ở học sinh THPT 13

1.2.3.1 Khái niệm lo âu ở học sinhTHPT 13

1.2.3.2 Biểu hiện lo âu ở học sinh THPT 14

1.2.3.3 Nguyên nhân gây ra lo âu ở học sinh THPT 15

1.2.3.4 Ứng phó với lo âu ở học sinh THPT 18

1.3 Những đặc điểm tâm lý – xã hội của học sinh THPT 20

1.3.1 Khái niệm học sinh THPT 20

1.3.2 Đặc điểm phát triển thể chất của học sinh THPT 20

1.3.3 Đặc điểm phát triển tâm lý của học sinh THPT 20

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 22

CHƯƠNG II: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

2.1 Giới thiệu khái quát về trường THPT Ba Gia, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi 23

2.2 Tổ chức nghiên cứu 24

2.2.1 Kế hoạch nghiên cứu 24

2.2.2 Triển khai nghiên cứu 25

2.2.2.1 Nghiên cứu lý luận 25

2.2.2.2 Nghiên cứu thực tiễn 25

2.3 Phương pháp nghiên cứu 25

2.3.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 25

2.3.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn 26

2.3.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 26

2.3.2.2 Phương pháp trắc nghiệm 27

2.3.2.3 Phương pháp phỏng vấn cá nhân 28

2.3.2.4 Phương pháp thống kê toán học 28

Trang 9

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 28

CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29

3.1 Kết quả nghiên cứu thực trạng 29

3.1.1 Tổng quan thực trạng lo âu ở học sinh THPT 29

3.1.2 Tỉ lệ lo âu giữa nam và nữ 30

3.1.3 Đặc điểm của học sinh trường THPT Ba Gia có lo âu 31

3.1.4 Nguyên nhân dẫn đến lo âu ở học sinh THPT Ba Gia 32

3.1.4.1 Nhóm nguyên nhân gây lo âu cho học sinh trường THPT Ba Gia 32

3.1.4.2 Nguyên nhân về học tập gây lo âu ở học sinh THPT Ba Gia 33

3.1.4.3 Nguyên nhân về quan hệ gia đình gây lo âu ở học sinh THPT Ba Gia 35

3.1.4.4 Nguyên nhân về quan hệ xã hội gây lo âu ở học sinh THPT Ba Gia 37

3.1.4.5 Nguyên nhân về bản thân gây lo âu ở học sinh THPT Ba Gia 39

3.1.5 Ứng phó với lo âu của học sinh trường THPT Ba Gia 41

3.2 Nghiên cứu trường hợp điển hình 43

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 45

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 47

1 Kết luận 47

1.1 Về mặt lý luận 47

1.2 Về mặt thực tiễn 47

2 Khuyến nghị 48

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

PHỤ LỤC 55

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Xã hội ngày càng phát triển kéo theo đó là sự biến đổi trong đời sống của con người được kéo theo, đặc biệt là sự phát sinh ra nhiều mối nguy hại tiềm ẩn cho

sức khỏe của con người Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì ngày

nay có ¼ nhân loại (khoảng 25% dân số thế giới) bị ảnh hưởng bởi sức khỏe tâm thần và tới năm 2020 trầm cảm-lo âu chỉ đứng sau các bệnh tim mạch về bệnh tật Đặt biệt là dạng trầm cảm lo âu do căn nguyên tâm lý xã hội gây nên [1, tr.10] Còn

theo Gro Harlem – nguyên tổng thư ký Tổ chức Y tế thế giới nói “Ngày nay không

một cá nhân nào, lúc này hay lúc khác lại không có vấn đề về sức khỏe tâm thần”

[1, tr.16]

Lo âu là một hiện tượng tự nhiên, hết sức bình thường của con người khi họ gặp những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống Ngày nay, cuộc sống của con người không phải lúc nào cũng diễn ra tốt đẹp, đó là một chuỗi các thăng trầm Áp lực từ công việc, sức khỏe, gia đình, môi trường sống là nguyên nhân phổ biến khiến nhiều người rơi vào trạng thái lo âu, sự lo âu ấy được xem như một phản ứng tự vệ mang tính bản năng của con người Ở một khía cạnh nào đó, sự lo âu này có thể mang ý nghĩa tích cực, như một động lực để giúp con người hành động giải quyết những khó khăn hay nguy hiểm, chấm dứt trạng thái lo âu Tuy nhiên nếu trạng thái tâm lý này ảnh hưởng thái quá đến nhận thức, cảm xúc, hành vi và sinh lý của cá nhân thì dẫn đến ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống như học tập, làm việc, giao tiếp hay vui chơi Khi đó cá nhân rơi vào rối loạn lo âu

Một trong những lứa tuổi có nguy cơ mắc lo âu nhiều nhất là lứa tuổi thanh thiếu niên, do lứa tuổi này đang chuyển từ thời kỳ quá độ của sự trưởng thành

“không hoàn toàn là trẻ con và cũng chưa phải là ngưới lớn” Giai đoạn này các

em đang bước vào thời kỳ cơ thể có nhiều thay đổi quan trọng, với những thay đổi xảy ra nhanh, không đồng đều, không cân bằng nếu như không có sự quan tâm hợp

lý từ người lớn Hơn nữa, những xáo trộn này kết hợp với hoàn cảnh, điều kiện không thuận lợi trong cuộc sống thì dễ dàng dẫn đến lo âu Theo các nhà Tâm lý học và sinh lý học cho rằng lứa tuổi THPT là lứa tuổi chưa hoàn thiện về mặt thể chất cũng như hình thành những kỹ năng để ứng phó với những khó khăn trong

Trang 11

cuộc sống Tâm lý chưa thật vững vàng, một khi rơi vào trạng thái lo âu không thể kiểm soát được thì các em rất khó khăn trong việc giải quyết

Ngày nay, áp lực học tập có xu hướng ngày một tăng lên bên cạnh những áp lực từ sự kỳ vọng của bố mẹ, từ gia đình cho đến các kỳ thi – xét tuyển từ tiểu học lên trung học cơ sở và từ trung học cơ sở lên trung học phổ thông đặc biệt gây căng thẳng Ngoài ra cũng có thể xem học sinh gián tiếp trở thành nạn nhân từ những áp lực về chỉ tiêu, sự căng thẳng của giáo viên được “vô tình đè lên đứa trẻ”… Lo âu được gây ra bởi nhiều nguyên nhân nhưng những nguyên nhân phổ biến dẫn đến lo

âu ở học sinh THPT có sự tác động của các yếu tố tâm lý-xã hội như: áp lực thành tích học tập, quan hệ gia đình, quan hệ xã hội Những nguyên nhân gây xáo trộn tâm tư, tình cảm của học sinh THPT nếu không kiểm soát được sẽ phát sinh những rối loạn về mặt tâm lý cho các em

Xuất phát từ những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài: “Nghiên cứu lo âu

ở học sinh lớp 12 trường THPT Ba Gia huyện Sơn Tịnh Tỉnh Quảng Ngãi” để

làm đề tài khóa luận tốt nghiệp

2 Mục đích nghiên cứu

Khảo sát thực trạng lo âu và xác định một số nguyên nhân gây ra lo âu cho học sinh lớp 12 trường THPT Ba Gia huyện Sơn Tịnh tỉnh Quảng Ngãi

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Lo âu ở học sinh lớp 12 trường THPT Ba Gia huyện Sơn Tịnh tỉnh Quảng Ngãi

3.2 Khách thể nghiên cứu

200 học sinh lớp 12 trường THPT Ba Gia huyện Sơn Tịnh tỉnh Quảng Ngãi

4 Giả thuyết nghiên cứu

4.1 Yếu tố về học tập ảnh hưởng lớn đến lo âu ở học sinh lớp 12 trường THPT Ba Gia, yếu tố gia đình và các mối quan hệ khác cũng ảnh hưởng không nhỏ đến lo âu

ở học sinh lớp 12 trường THPT Ba Gia

4.2 Lo âu ở học sinh nữ cao hơn nam

Trang 12

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về lo âu của học sinh THPT

5.2 Khảo sát thực trạng lo âu và xác định một số nguyên nhân tâm lý xã hội gây lo

âu ở học sinh lớp 12 trường THPT Ba Gia

6 Phạm vi nghiên cứu

6.1 Giới hạn nội dung

Đề tài khảo sát thực trạng lo âu ở học sinh lớp 12 trường THPT Ba Gia

Xác định một số nguyên nhân tâm lý – xã hội gây lo âu ở học sinh trường THPT

Ba Gia và không tiếp cận đến các nguyên nhân do các bệnh lý cơ thể khác, di truyền hoặc do sử dụng chất kích thích

6.2 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu chỉ giới hạn những ở học sinh lớp 12 trường THPT Ba Gia trong năm học 2016 – 2017

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Thu thập tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu, sách, tạp chí chuyên ngành Đọc, phân tích, tổng hợp tài liệu, trên cơ sở đó, hệ thống và khái quát các khái niệm công cụ căn bản làm cơ sở lý luận cho đề tài

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp trắc nghiệm

Dùng thang đo lo âu “Trắc nghiệm đánh giá lo âu của Zung” để xác định biểu hiện lo âu ở học sinh lớp 12 trường THPT Ba Gia

7.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Dùng bảng hỏi để tìm hiểu về các thông tin cá nhân cần thiết, nguyên nhân

và cách ứng phó với lo âu của học sinh lớp 12 trường THPT Ba Gia

7.2.3 Phương pháp phỏng vấn cá nhân

Trang 13

Dùng những câu hỏi ngắn để hỏi các em học sinh về sự hiểu biết của các em đối với chứng lo âu, để tăng thêm tính xác thực cho bài nghiên cứu

7.3 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 21.0 và Excel để xử lý các kết quả thu được

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, cấu trúc luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Trang 14

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LO ÂU Ở HỌC SINH TRUNG HỌC

PHỔ THÔNG

1.1 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Một số nghiên cứu trên thế giới

Lo âu được phát hiện và nghiên cứu từ rất sớm bởi Hypocrate (460 – 356), ông đã đề cập đến sự “lo âu” với ý nghĩa là một bệnh lý Trong tác phẩm

“Aphorism” ông đã mô tả lại sự sợ hãi của đứa trẻ như một căn bệnh với các triệu chứng sinh lý như nôn mửa và tâm lý sợ bóng tối [17, tr.2]

Năm 1621, Robert Burton đã viết cuốn sách “The Anatomy of Melancholy”, ông đã gợi ý rằng có mối liên quan chặt chẽ giữa cảm giác lo lắng và sợ hãi với các biểu hiện cơ thể như khó thở, mạch nhanh, đau tức vùng ngực, chóng mặt Richard Younge (1671) cho rằng lo âu chính là trạng thái phiền muộn khổ sở với mọi vấn đề trong cuộc sống, lo âu là sự không bình thường về mặt tâm lý Đầu thế kỷ 18, thuật ngữ lo âu được y học nhắc tới và được cho là rối loạn tâm thần Sách giáo khoa về tâm thần học đầu tiên ở Anh quốc do tác giả William Battie (1703-1776) viết, ông

đã phân biệt được sự khác nhau giữa “điên loạn” và “lo âu” Khi nghiên cứu về các biểu hiện của lo âu, Benedict Morel (1809 –1873) đã khẳng định rằng có mối liên quan chặt chẽ giữa lo âu với các triệu chứng cơ thể và sự thay đổi ở hệ thần kinh tự trị [16, tr 3-7]

Vào năm 1871 Jacob DaCosta đã mô tả các triệu chứng tim mạch mạn tính mà không có tổn thương thực thể và có liên quan đến những than phiền về mệt mỏi, lo lắng và buồn phiền DaCosta đã mô tả các triệu chứng lo âu gọi là trạng thái tim bị kích thích [2, tr.123]

Charles Darwin (1872) trong tác phẩm “Biểu hiện của cảm xúc ở người và động vật” (The Expression of Emotions in Man and Animals) đã nói rõ nguồn gốc, bản chất của sợ hãi và lo âu, mô tả như sau: Con người trải qua các thế hệ đã cố gắng chạy trốn khỏi những kẻ thù nguy hiểm với niềm sợ hãi, lo âu ngày một tăng lên Từ đó, tâm lý học và tâm thần học bắt đầu nghiên cứu về lo âu và mô tả bản chất của nó [18]

Có lẽ sự kiện có sức thuyết phục nhất trong lịch sử nghiên cứu về lo âu đó là học thuyết của Freud (1895) về chứng suy nhược thần kinh Lần đầu tiên khái niệm

Trang 15

lo âu được tiếp cận và được làm sáng tỏ về mặt bản chất Từ suy nhược thần kinh Freud đã tách ra một hội chứng riêng biệt gọi là “tâm căn lo âu” (anxiety neurosis) Vào thời điểm đó, rối loạn phân ly và rối loạn nghi bệnh được xếp vào suy nhược thần kinh và được cho là bệnh lý tâm thần, còn tình trạng hoảng sợ có kèm lo âu theo Freud có liên quan đến những yếu tố sinh học cơ thể Tuy không có bằng chứng khoa học xác đáng nhưng học thuyết này cũng làm sáng tỏ thêm về bản chất bên trong của lo âu và thể hiện một cách nhìn mới về lâm sàng Quan điểm về bệnh học này đã để lại ảnh hưởng trong một thời gian dài những năm đầu thế kỷ XXI Tuy không có bằng chứng khoa học xác đáng nhưng học thuyết này cũng làm sáng

tỏ thêm về bản chất bên trong của RLLA và thể hiện một cách nhìn mới [16, tr.8] Trong một báo cáo của Ollendick (1998) khi nghiên cứu 694 trẻ em được lựa chọn ngẫu nhiên trong độ tuổi từ 12-17, có tới 16% cho biết ít nhất đã một lần từng trải qua một cơn kịch phát hoảng sợ, đây là một dạng RLLA ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe thể chất và tinh thần [17, tr 104-105] Một nghiên cứu khác về thực trạng

lo âu ở trẻ em của M.Prior và cộng sự (1983 - 2001) trên 2443 trẻ theo chiều dọc từ lúc sinh cho đến 18 tuổi Kết quả cho thấy 42% những em có tính cách hay xấu hổ, nhút nhát, thu mình trước 9 tuổi thường có RLLA vào giai đoạn tuổi thiếu niên [1, tr.206]

Nghiên cứu nhóm tác giả Sibnath Deb, Pooja Chatterjee, Kerryann Walsh (2010) ở thành phố Kolkata, Ấn Độ, với mẫu nghiên cứu 460 thanh thiếu niên (gồm

220 nam và 240 nữ) từ 13 tuổi đến 17 tuổi (lớp 9 đến lớp 12) được chọn để tham gia nghiên cứu và sử dụng thang lượng giá STAI (State trait anxiety inventory Spieberger, Gorsuch và Lushene 1970), kết quả cho thấy tỉ lệ RLLA chiếm khoảng 20,1% đối với học sinh nam (45/220) và 17,9% nữ (43/240) Theo Deb, (2001) nguyên nhân chính của sự RLLA ở thanh thiếu niên Ấn Độ cao là do kì vọng của cha mẹ và áp lực thành tích học tập, khi so sánh tỉ lệ RLLA giữa học sinh ở trường Bengali 24,6 % cao hơn học sinh trường English chỉ 21,6 % Nhóm kinh tế - xã hội:

so sánh tỉ lệ RLLA cao nhất là nhóm kinh tế - xã hội có mức thu nhập trung bình 30%, tiếp theo mức thu nhập thấp 28,6% cuối cùng là nhóm kinh tế - xã hội có thu nhập cao 23,6% [20]

Trên phương diện nghiên cứu thực nghiệm mô hình trị liệu RLLA cho trẻ em, trong đó liệu pháp nhận thức hành vi được đề cập nhiều nhất trong thời gian gần đây, nghiên cứu của Philip Kendall ở Trường Đại học Temple (1994) với tên gọi

Trang 16

“coping cat workbook” Ở Úc, Paula Brrett và Jane Hollmes (1999) xây dựng một chương trình can thiệp lo âu sớm với tên gọi “Friends program” và đã được Wignall

và Rapee (1998, Đại học Queensland) ứng dụng trong điều trị RLLA, cho đến ngày nay các phương pháp đó được ứng dụng ở nhiều nước [1, tr.490]

1.1.2 Một số nghiên cứu ở Việt Nam

Trước những năm 90, ở Việt Nam chưa có nhiều công trình nghiên cứu về rối loạn lo âu một cách độc lập, chuyên biệt Từ sau năm 1987 đến nay đã có một số nghiên cứu về sức khỏe tâm thần ở trẻ em Việt Nam Tuy nhiên, các nghiên cứu đó chỉ mới diễn ra trên phạm vi hẹp mà chưa diễn ra với quy mô toàn quốc

Nghiên cứu của tác giả Ngô Thanh Hồi - Bệnh viện Tâm thần ban ngày Mai Hương trong dự án “Chăm sóc sức khỏe tâm thần học sinh trường học tại Hà Nội”

là dự án hợp tác quốc tế giữa Sở Y tế Hà Nội, Bệnh viện Tâm thần ban ngày Mai Hương với Trường Đại học Melbourne (Australia) Kết quả cuộc khảo sát đã đưa ra con số giật mình: 19,46 % học sinh trong độ tuổi từ 10-16 tuổi gặp trục trặc về sức khỏe tâm thần, đặc biệt sự hiểu biết của xã hội, thậm chí ngay trong ngành y tế về chăm sóc sức khỏe tâm thần còn nhiều hạn chế Như vậy, gần 20% trẻ dưới 16 tuổi

có vấn đề sức khỏe tâm thần [21]

Nghiên cứu của nhóm tác giả Hồ Hữu Tính, Nguyễn Doãn Thành (2009)

“Thực trạng stress lo âu và những liên quan đến lo âu ở học sinh Trường THPT Phan Bội Châu, Phan Thiết, Bình Thuận”, nhóm nghiên cứu đã sử dụng phương pháp cắt ngang mô tả, trên khách thể 311 học sinh lớp 12 Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ học sinh có biểu hiện stress lo âu chiếm khoảng 38%, theo nhận xét của nhóm này với con số như trên là tương đối cao nhưng có thể hiểu được vì nghiên cứu chỉ lấy mẫu trên học sinh lớp 12, là một đối tượng có thể nói đang phải đối mặt với nhiều lo âu Nguyên nhân stress lo âu như áp lực thành tích học tập, áp lực kỳ vọng của gia đình, thi cử và thua kém bạn bè [22]

Luận văn thạc sĩ của tác giả Huỳnh Hồ Ngọc Anh (2012), về mô hình trị liệu

“Tác động của trị liệu nhận thức – hành vi đến học sinh THPT có RLLA dựa trên định hình trường hợp” và sử dụng thang lượng giá lo âu Zung và thang trầm cảm Beck, đã tiến hành thực nghiệm trị liệu RLLA ở 3 trường hợp trên mô hình trị liệu nhận thức - hành vi và mô hình định hình trường hợp Tác giả nêu lên một số cơ chế dẫn đến RLLA theo các trường phái tâm lý học như tâm động học, nhận thức của

Trang 17

Beck và Emery, tập nhiễm xã hội và thuyết gắn bó, đồng thời dùng các phương thức trị liệu RLLA cũng như một số cách tiếp cận trong trị liệu tâm lý hiện nay [23] Nguyễn Thị Hằng Phương (2008) với đề tài “Nghiên cứu nguyên nhân gây ra rối loạn lo âu ở học sinh THPT chuyên Quảng Bình” đã sử dụng công cụ nghiên cứu chính thang lượng giá trầm cảm – Lo âu – stress (DASS42) và thang lượng giá

lo âu Zung Kết quả cho thấy tỉ lệ học sinh có biểu hiện RLLA tương đối cao 21,6%, trong nghiên cứu tác giả còn dùng bảng hỏi để tìm hiểu một số nguyên nhân gây ra RLLA và nhận thấy nguyên nhân RLLA ở học sinh THPT chuyên Quảng Bình, như mối quan hệ trong gia đình, áp lực thành tích học tập, quan hệ với bạn bè, thầy cô giáo, bạn khác giới [9]

Một nghiên cứu thực trạng về RLLA ở học sinh THPT trên địa bàn thành phố

Hà Nội của Lê Khanh, Nguyễn Thị Hằng Phương (2005) thực hiện, sử dụng thang lượng giá lo âu Zung, kết quả so sánh về giới tính thì học sinh nam 7,72% có tỉ lệ cao hơn nữ 5,45% Theo nhận xét của nhóm nghiên cứu này nguyên nhân chính gây

ra RLLA là áp lực về cường độ học tập, định hướng tương lai, áp lực về thành tích học tập và kỳ vọng của gia đình [24]

“Tìm hiểu biểu hiện rối loạn lo âu của học sinh trung học phổ thông ở thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Bùi Thị Hạnh Dung (2011) đã nghiên cứu RLLA được biểu hiện ở 4 khía cạnh: Nhận thức, hành vi, cảm xúc và sinh lý cơ thể, đồng thời tác giả đã nêu lên một 16 số yếu tố dẫn đến RLLA như học tập, gia đình, bản thân và biến cố Mặt hạn chế của nghiên cứu này, tác giả chưa đưa ra được những giải pháp khắc phục RLLA ở học sinh THPT [3]

và xã hội Lo âu là tín hiệu cảnh báo của cơ thể trước những mối đe dọa đột ngột, trực tiếp Lo âu cần thiết cho mỗi cá thể để tồn tại và thích nghi [12, tr.11]

Trang 18

Lo âu bình thường có chủ đề, nội dung rõ ràng như: bệnh tật, công việc, học tập Lo âu diễn biến nhất thời khi có các sự kiện trong đời sống tác động đến tâm

lý của chủ thể, hết tác động thì lo âu cũng không còn và thường không có hoặc có rất ít triệu chứng cơ thể [4, tr.28]

Theo U Baumann: Lo âu là một hiện tượng phản ứng cảm xúc tự nhiên tất yếu của con người trước những khó khăn, thử thách, đe dọa của tự nhiên, xã hội mà con người phải tìm ra các giải pháp (cách) để vượt qua, vươn tới, tồn tại [7, tr.11]

1.2.1.2 Lo âu bệnh lý

Theo Ernest Jones đã đưa ra các trạng thái lo âu như sau: sợ, kinh sợ, hoảng

sợ, sợ hãi và lo âu Ông mô tả 2 nét khác nhau giữa sợ và lo âu:

Sợ nói chung được coi như sự đáp ứng với kích thích đe dọa từ bên ngoài nguy hiểm có thực đang đến, vì vậy có tính sống còn

Ngược lại lo âu giống như sợ nhưng lại không có sự đe dọa rõ ràng Không cân xứng giữa kích thích bên ngoài và biểu hiện tâm lý, cơ thể

Lo âu trở thành lo âu bệnh lý, khi xuất hiện không có liên quan tới một đe dọa nào, mức độ lo âu không cân xứng với bất cứ một đe dọa nào và có thể tồn tại kéo dài Khi mà mức độ lo âu ngày tăng dần đến gây trở ngại rõ rệt các hoạt động thường ngày lúc đó được coi là lo âu bệnh lý

Lo âu bệnh lý có 2 mức độ: Lo âu tính cách (nhân cách lo âu) và rối loạn lo âu

Tính cách lo âu: Một số người có nhân cách lo âu, thường được mô tả như lo âu

“bẩm sinh” Họ lo buồn vì những nguyên cớ nhỏ, căng thẳng bởi những sức ép thậm chí nhỏ nhất và thấy sợ hãi vì năng lực của họ Họ được nhận ra như: thường dễ xúc động, dễ sợ hãi, cẩn thận quá mức và trải nghiệm lo âu nhiều hơn người cùng tuổi trong các tình huống tương ứng [10, tr.129]

Lo âu bệnh lý là lo âu không phù hợp với hoàn cảnh, không có chủ đề rõ ràng, mang tính chất vô lý, mơ hồ, thời gian thường kéo dài Mức độ lo âu thường gây trở ngại rõ rệt đến các hoạt động của cá nhân, đồng thời lo âu lặp đi lặp lại với nhiều triệu chứng cơ thể như: mạch nhanh, chóng mặt, khô miệng, vã mồ hôi, lạnh tay chân, run rẩy, bất an [14, tr.4]

Theo Getzfeint (2005) sự phân biệt giữa lo âu bình thường và lo âu bệnh lý chính là mức độ khó khăn trong việc kiểm soát hoặc loại bỏ lo âu [2, tr.3]

Trang 19

Bảng 1.2 Sự khác nhau giữa lo âu bình thường và lo âu bệnh lý

Lo âu không làm ảnh hưởng đến công

việc, hoạt động hàng ngày

Lo âu gây mất ổn định các hoạt động, ảnh hưởng đến nghề nghiệp, cuộc sống

xã hội

Lo âu gây khó chịu đôi chút, không nặng

Lo âu trong mọi tình huống bất kỳ, luôn

có xu hướng chờ đợi những kết cục xấu

Lo âu chỉ tồn tại trong một thời điểm

nhất định

Lo âu kéo dài ngày này qua ngày khác trong khoảng thời gian ít nhất 6 tháng

1.2.1.3 Quan điểm của các nhà nghiên cứu về lo âu

Theo Mike Nichol trong bài viết về “Lo âu bình thường và Rối loạn lo âu lan

tỏa” cho rằng: Lo âu thường gặp là một cảm giác sợ hãi mơ hồ, khó chịu, lan tỏa

cùng với rối loạn cơ thể ở bất cứ bộ phận nào, ít nhất trong thể nhẹ và nhất thời, chúng ta thường thấy mang tính chu kỳ Lo âu có thể là hoạt động thích nghi như một tín hiệu báo động và báo trước sự đe dọa bên ngoài hoặc bên trong và hậu quả

là tạo ra hoạt động thích hợp [15]

Theo Kazdin [9, tr.47], lo âu về bản chất là đáp ứng với một đe dọa không

được biết trước từ bên trong, mơ hồ hay có nguồn gốc xung đột

Theo tác giả Nguyễn Minh Tuấn: Lo âu là một rối loạn có cấu trúc đơn sơ thể

hiện ra ngoài bằng một mối lo âu không đối tượng, lan tỏa và dai dẳng [11, tr.11]

Còn theo Nguyễn Khắc Viện trong từ điển tâm lý: Lo âu là việc đón chờ và

suy nghĩ về một điều gì đó có thể, để mà không chắc chắn có thể đối phó được là lo Nếu sự việc cụ thể mà đã từng gây nguy hiểm thì là lo sợ Trong nhiều trường hợp, đặc biệt là khi tâm lý bị rối loạn, một triệu chứng thường gặp là mối lo nhưng cụ thể không thật rõ là lo về cái gì, sợ về cái gì, đó là hãi [13, tr.190]

Trang 20

Theo Nguyễn Viết Thêm, Lã Thị Bưởi, Trần Viết Nghị: Lo âu là trạng thái

cảm xúc thông thường của con người trước những sự kiện của cuộc sống (thi cử, xung đột các mối quan hệ, bệnh tật, tai nạn ) là tín hiệu báo trước một sự trở ngại sắp xảy ra, kèm theo sự suy diễn tính toán sắp đặt của quá trình tư duy trước sự thay đổi của cuộc sống hàng ngày và cho phép con người sử dụng mọi biện pháp để giải quyết, đương đầu với đe dọa Lo âu bình thường sẽ hết khi mọi chuyện đã giải quyết xong, Khi vượt qua được lo âu và sợ hãi thông thường trong cuộc sống hàng ngày, con người sẽ có thêm kinh nghiệm và thích nghi với cuộc sống để phát triển các chức năng tâm lý [8, tr.41]

Tác giả Trần Viết Nghị “lo âu là một trạng thái bệnh lý: khi lo âu mang đặc

tính dai dẳng lan tỏa, tản mạn, không liên quan, không khu trú vào một sự kiện, hoàn cảnh đặc biệt nào ở xung quanh hoặc có liên quan với những sự kiện đã qua không còn tính chất thời sự nữa (lo lơ lửng – tản mạn – vô lý – lo bệnh lý – lo âu) ”

[7, tr.11]

Theo tác giả Đặng Bá Lãm: “Lo âu là trạng thái cảm xúc thông thường của

con người trước những sự kiện của cuộc sống, là tín hiệu báo trước một trở ngại sắp xảy ra kèm theo sự suy diễn tính toán sắp đặt của quá trình tư duy trước sự thay đổi của cuộc sống hằng ngày và cho phép con người sử dụng mọi biện pháp để giải quyết, đương đầu với mọi sự đe dọa” [6, tr.205]

Trong đề tài này tôi xin chọn khái niệm lo âu của Nguyễn Viết Thêm, Lã Thị

Bưởi, Trần Viết Nghị: “Lo âu là trạng thái cảm xúc thông thường của con người

trước những sự kiện của cuộc sống (thi cử, xung đột các mối quan hệ, bệnh tật, tai nạn ) là tín hiệu báo trước một sự trở ngại sắp xảy ra, kèm theo sự suy diễn tính toán sắp đặt của quá trình tư duy trước sự thay đổi của cuộc sống hàng ngày và cho phép con người sử dụng mọi biện pháp để giải quyết, đương đầu với đe dọa Lo âu bình thường sẽ hết khi mọi chuyện đã giải quyết xong, Khi vượt qua được lo âu và

sợ hãi thông thường trong cuộc sống hàng ngày, con người sẽ có thêm kinh nghiệm

và thích nghi với cuộc sống để phát triển các chức năng tâm lý”

1.2.2 Biểu hiện lo âu

Đặc điểm lâm sàng của lo âu: [7, tr.25]

- Lo âu không có chủ đề rõ ràng, không khu trú vào một hoàn cảnh, sự kiện xung quanh nào Bệnh nhân lo sợ bản thân hoặc người ruột thịt sẽ sớm mắc một

Trang 21

bệnh hoặc sẽ bị tai nạn hoặc lo lắng về một tương lai bất hạnh, đói kém, cô đơn mà không hề có căn cứ thực tế nào

- Lo âu thường kéo dài nhiều ngày, nhiều tuần nhiều tháng đến nỗi bệnh nhân mất ăn mất ngủ

- Triệu chứng kèm theo với lo âu được trải nghiệm tùy theo từng cá thể, rất khác nhau nhưng thường có biểu hiện như sau:

+ Kích thích, nóng nảy, bồn chồn

+ Run rẩy tay chân

+ Rối loạn giấc ngủ (ngủ rất khó, không duy trì được yên giấc)

+ Vã mồ hôi nhiều (kể cả lúc trời lạnh)

Chẩn đoán theo ICD – 10 [7, tr.12]:

- Trong rối loạn lo âu thì rối loạn lo âu lan tỏa là đặc trưng nhất (GAD) hay xảy ra nhất

- GAD được chẩn đoán dựa vào những nguyên tắc sau:

+ Lo âu là biểu hiện chính, chủ yếu, nguyên phát dẫn đếnphản ứng sợ sệt quá mức

+ Thường kéo dài nhiều ngày, nhiều tuần, nhiều tháng (thông thường 06 tháng) – DSM.III.R đề nghị chẩn đoán khi lo âu kéo dài ít nhất 1 tháng

+ Triệu chứng:

Trang 22

a Sợ hãi (lo lắng bất hạnh về tương lai, dễ cáu bẳn, khó tập trung)

b Căng thẳng vận động (bồn chồn đứng ngồi không yên, đau căng thẳng tròn đầu, run rẩy, không thể thư giãn)

c Triệu chứng gợi ý cao (vã mồ hôi, mạch nhanh, khô miệng, khó chịu ở dạ dày, chóng mặt, hoa mắt, đầu óc trống rỗng)

Chẩn đoán phân biệt [7, tr.13]:

- Rối loạn lo âu thực tổn do bệnh lý cơ thể (trong cường giáp trạng, lạm dụng chất, phát hiện bằng nghiên cứu bệnh sử, xét nghiệm CLS, chúng thực sự hiện diện của các bệnh nội tiết, nghiện )

- Rối loạn sự điều chỉnh do stress

1.2.3 Lo âu ở học sinh THPT

1.2.3.1 Khái niệm lo âu ở học sinhTHPT

Con người, trong sự sinh tồn của mình, cần được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản về vật chất, tinh thần, quan hệ xã Nhu cầu an toàn có từ nhỏ cho đến khi trưởng thành và đến tận khi về già, tức là suốt cả cuộc đời Cảm giác thiếu hoặc mất

an toàn sinh ra lo âu [26]

Những thay đổi ở tuổi thanh thiếu niên nói chung và tuổi đầu thanh niên (học sinh THPT) nói riêng, là quá trình trải qua thời kỳ quan trọng trong đời sống con người Tuy nhiên, có những khác biệt nơi mỗi cá nhân, ở một số thiếu niên sự chuyển qua thời kỳ tuổi đầu thanh niên có thể diễn ra nhanh hoặc chậm hơn so với trẻ khác cùng tuổi, trong quá trình đó phải trải qua nhiều thách thức khi gặp những thay đổi sinh học, tâm lý và quan hệ xã hội Quá trình thay đổi đó, phải được diễn ra bên trong mỗi cá nhân, đồng thời chủ thể phải đương đầu những thách thức này một cách thích nghi và thành công, bao gồm những thách thức sau: (1) Thách thức sinh học, (2) Thách thức tâm lý, (3) Thách thức nhận thức, (4) Thách thức xã hội Một khi cá nhân đó không thể đương đầu và giải quyết thành công những thách thức phát triển trên, để chuyển sang một giai đoạn mới thì có thể sẽ xảy ra hậu quả bất lợi về mặt tâm lý, cảm xúc, hành vi

Lo âu nói chung là hiện tượng phổ biến ở tất cả mọi thanh niên mới lớn, trong mọi hoàn cảnh để thúc đẩy con người hoạt động, đem lại nhiều kết quả tốt đẹp cho cuộc sống, bởi vì, lo âu thường biểu hiện thích hợp với sự phát triển trong suốt

Trang 23

các thời kỳ của cuộc sống, nên điều quan trọng là phải phân biệt giữa lo âu bình thường phù hợp với sự phát triển tâm lý và lo âu bệnh lý

Vậy ,lo âu ở học sinh THPT là một hiện tượng tâm lý phổ biến ở hầu hết tất cả mọi thanh niên mới lớn, trong mọi hoàn cảnh gây ảnh hưởng nhiều đến các hoạt động thường ngày như học tập, tình cảm, giao tiếp, hành vi và các mối quan hệ xã hội

1.2.3.2 Biểu hiện lo âu ở học sinh THPT

Biểu hiện về lo âu ở học sinh THPT là rất đa dạng và phức tạp, nhưng xét từ góc độ tâm lý học thì lo âu được biểu hiện 4 mặt cơ bản sau:

Có những lúc đầu óc các em trở nên trống rỗng, không có khả năng suy nghĩ đến bất kỳ vấn đề gì Khi đang trong trạng thái lo âu, chủ thể thường nhìn những sự việc hiện tượng không đúng với sự thật (sai thực tại) những gì xảy ra xung quanh

và đồng thời thiếu khả năng xem xét khách quan Khả năng tập trung và chú ý ở học sinh THPT có lo âu sẽ giảm sút đi rất nhiều, cụ thể là không thể tập trung sự chú ý vào một việc gì lâu được mà rất dễ bị phân tán tư tưởng từ đó dẫn đến không thể tập trung chú ý để học tập, hoạt động giao tiếp và các hoạt động xã hội khác Những biểu hiện về cảm xúc:

Khi lo âu, học sinh thường có cảm xúc lo lắng, căng thẳng, sợ hãi, luôn cảnh giác Ở học sinh THPT,các em luôn trong trạng thái tâm lý căng thẳng, dễ

bị kích động dù chỉ một kích thích nhỏ cũng có thể dẫn đến những cảm xúc tiêu cực như dễ nổi nóng, cáu giận không có lý do, khó kiểm soát cảm xúc

Những biểu hiện về hành vi:

Trang 24

Đặc trưng lo âu ở học sinh THPT là luôn có cảm giác bứt rứt toàn cơ thể, không thể đứng hoặc ngồi yên một chổ, luôn ngọ nguậy chân tay, dẫn đến không thể tập trung chú ý học tập Lo âu gây ra một số các hành vi thích ứng Khi gặp tác nhân gây lo âu, chúng ta thường nảy sinh các hành vi để loại bỏ điều nguy hiểm hoặc làm chúng ta cảm thấy an toàn Các hành vi này bao gồm:

Tránh hoặc thoát khỏi các tình huống, trải nghiệm, nơi hoặc con người gây cho chúng ta cảm giác sợ hãi Cần một người làm chúng ta an tâm, có cảm giác an toàn Đi đến những nơi an toàn Sử dụng rượu, ma túy để giảm đi các biểu hiện lo

âu

Những biểu hiện về sinh lý cơ thể:

Các triệu chứng về đường hô hấp như đánh trống ngực, tim đập nhanh hoặc nhịp tim nhanh và kèm theo các cảm giác đau ở ngực, tức ngực, khó thở, cảm giác thiếu không khí, thở gấp, thở ngắn Đồng thời cơ thể xuất hiện những triệu chứng kích thích thần kinh thực vật như toàn thân nóng bừng hoặc ớn lạnh, vã mồ hôi, có cảm giác tê cóng hoặc như kim châm Về giấc ngủ cũng thường rối loạn, như khó đi vào giấc ngủ, ngủ ít, ngủ không sâu, chập chờn, có thể có chiêm bao, ngủ đủ giấc nhưng luôn cảm thấy thiếu ngủ, không sảng khoái

1.2.3.3 Nguyên nhân gây ra lo âu ở học sinh THPT

Lo âu là một vấn đề về sức khỏe tâm thần phổ biến nhất ở trẻ em và thanh thiếu niên Đôi khi lo âu có thể bị tác động bởi nhiều môi trường như trường học, quan hệ bạn bè và cuộc sống gia đình Nó có thể gây ảnh hưởng đến cuộc sống con người bằng việc giới hạn khả năng tham gia của họ vào các hoạt động khác nhau Mỗi chúng ta đều thừa nhận rằng mình đã trải qua cảm giác lo hãi trong các tình huống của cuộc sống hàng ngày (hỏi chuyện với những người cấp trên, các bài kiểm tra…) hoặc trong các tình huống đặc biệt được đặt trong sự nguy hiểm Lo âu có thể được phát sinh từ sự phức tạp của cuộc sống nhưng nó cũng có thể được nảy sinh trực tiếp từ môi trường học đường Chúng ta phải xem xét lo âu của học sinh ở các mức độ và gắn với yếu tố trường học:

+ Yếu tố thứ nhất - lo âu trong trường học, là tất cả những trạng thái cảm xúc liên quan đến mối quan hệ với bạn bè, giáo viên hay các hoạt động ở trường như đến lớp nghe giảng, kiểm tra bài, làm bài trên lớp…

Trang 25

+ Yếu tố thứ hai - stress xã hội, trong yếu tố này cần tập trung vào cảm xúc của trẻ trong mối quan hệ với bạn bè

+ Yếu tố thứ ba - hụt hẫng nhu cầu đạt thành tích, trẻ có những cảm xúc tiêu cực khi thỏa mãn nhu cầu đạt kết quả cao trong học tập Trẻ em có rối loạn lo âu thường quá bận tâm về thành công của mình và khả năng giành được sự tán dương của những người khác Những đứa trẻ này cũng có thể thiếu tự tin, luôn phê bình bản thân hoặc quá cầu toàn trong mọi việc

+ Yếu tố thứ tư - sự tự thể hiện, trẻ có những cảm xúc âm tính liên quan đến nhu cầu thể hiện năng lực của bản thân, khám phá bản thân

+ Yếu tố thứ năm - các tình huống kiểm tra kiến thức, trẻ có trạng thái cảm xúc tiêu cực khi được cô gọi lên bảng, khi làm bài thi hay kiểm tra trên lớp…

+ Yếu tố thứ sáu - không làm thỏa mãn mong đợi của người khác, trẻ quá tập trung vào việc thực hiện những mong muốn về học tập của cha mẹ và thầy cô bằng cách chờ đợi các đánh giá âm tính Điều này làm cho các em phải đối mặt với những áp lực rất lớn về mặt tinh thần: áp lực phải giữ hình ảnh bản thân, áp lực

từ sự mong đợi của những người xung quanh (cha mẹ, thầy cô…) Các em thường thức trắng đêm để ôn bài trước kì kiểm tra, thậm chí vắng mặt trong cả ngày thi vì sợ thất bại

+ Yếu tố thứ bảy – khả năng chống đỡ stress sinh lý thấp, điều này làm giảm khả năng thích ứng của trẻ trước các tình huống

+ Yếu tố thứ tám – quan hệ với giáo viên, trẻ có những cảm xúc mang tính bất lợi, làm giảm kết quả học tập

Trong trường học, lo âu của học sinh ở mức độ bình thường thì nó sẽ là động lực để thúc đẩy học sinh học tập tốt hơn Nhưng nếu lo âu ở mức độ cao làm cho các em sợ đến trường, cũng như tránh né các hoạt động của trường học Kết quả là các em sẽ bị ảnh hưởng rất nhiều đến việc học cũng như sự phát triển nhân cách Trẻ bị lo lắng quá mức tỏ ra thiếu linh hoạt trong việc tuân theo các nguyên tắc, không có khả năng tham gia các sở thích hoặc các hoạt động giải trí Một vài đứa trẻ có thể trở nên nhút nhát Thực tế, chúng bận tâm với những lo lắng nhiều hơn Thậm chí những đứa trẻ có thể nhận thức được sự lo lắng của mình nhưng chúng không có khả năng để ngăn chặn được sự lo lắng này Những học sinh bị lo âu đôi

Trang 26

khi là những học sinh giỏi, thậm chí là những học sinh rất giỏi Họ có khả năng trí tuệ bình thường Vì vậy mà lo âu trở thành sự bất lợi thật sự, đôi khi lo âu cũng dẫn đến ám ảnh sợ học đường hay lo âu từ chối trường học

Nguyên nhân dẫn đến lo âu ở học sinh THPT có các yếu tố sinh học, môi trường hoặc kết hợp cả hai, trong nghiên cứu này chỉ đề cập yếu tố môi trường như học tập, quan hệ gia đình, quan hệ xã hội và một phần liên quan đến bản thân cá nhân

Nguyên nhân học tập

McDonal (2001), nhận xét rằng mối quan hệ giữa kết quả học tập với lo âu ở học sinh THPT là một vòng luẩn quẩn không lối thoát, phần nhiều học sinh có xu hướng lo lắng về kết quả học tập, nhưng ngược lại sự lo lắng quá mức ấy sẽ làm suy giảm thành tích học tập Hoạt động chủ đạo của lứa tuổi học sinh THPT là hoạt động học tập, vì thế yếu tố học tập là nguyên nhân chính gây lo âu ở các em và cũng như được học sinh chia sẻ một số nội dung sau: Kì thi quan trọng sắp đến; Học cả ngày và gần như không có thời gian thư giãn; Kết quả học tập không như mong muốn; Điểm kém nhiều lần; Có quá nhiều bài tập; Nội dung bài học khô khan và không làm hết bài tập Bên cạnh đó, giáo dục nhà trường cũng tạo ra nguyên nhân quan trọng, đó là cách giáo dục áp đặt làm cho học sinh thiếu tự tin, sáng tạo, nội dung chương trình quá tải, áp lực thi cử nặng nề làm cho học sinh lúc nào cũng căng thẳng, lo sợ

Nguyên nhân quan hệ gia đình

Gia đình luôn là nơi tổ ấm để cá nhân được yêu thương, chia sẻ, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ và đồng thời khi ở bên cạnh người thân thì cảm thấy được an toàn, được hạnh phúc Ngược lại, khi gia đình không còn là chổ dựa mặt tinh thần nữa thì cá nhân cảm thấy bất an, bất hạnh, lo lắng, sợ hãi Lứa tuổi học sinh THPT có những gắn bó nhất định với gia đình, do đó có những ảnh hưởng về mặt tâm lý tích cực hoặc tiêu cực đối với gia đình, trong nghiên cứu này chúng tôi đề cập một số nguyên nhân gây lo âu ở học sinh THPT như: Cha mẹ thường xuyên bất hòa, anh chị em có xung đột lẫn nhau, cha mẹ ly hôn, không được tự quyết định một số việc liên quan đến bản thân (như làm theo sở thích…), cha/mẹ quá khắt khe, cha mẹ không tin tưởng; và có xung đột với cha hoặc mẹ

Trang 27

Nguyên nhân quan hệ xã hội

Trong mối quan hệ xạ hội, có nhiều nguyên nhân dẫn tới lo âu ở học sinh THPT nhưng chủ yếu là các mối quan hệ chính sau: Quan hệ bạn bè Quan hệ với bạn khác giới Quan hệ với thầy cô giáo và những người xung quanh

Nguyên nhân liên quan đến bản thân

Nguyên nhân liên quan đến bản thân học sinh THPT cũng là một trong những nguyên do tác động mạnh mẽ đến đời sống tâm lý của các em.Lo âu ở học sinh THPT có những khía cạnh sau: Thứ nhất, tự ý thức ở lứa tuổi học sinh THPT đã phát triển mức độ cao, có liên quan đến nhu cầu tìm hiểu và đánh giá những thuộc tính tâm lý, phẩm chất cá nhân một cách quá tỉ mỉ và nghiêm khắc Mặt khác do còn hạn chế về kinh nghiêm sống, cho nên việc tự đánh giá gặp không ít khó khăn, đôi khi còn ngộ nhận dẫn đến có những lo lắng như: Về ngoại hình không như mong muốn, cảm thấy không ai hiểu mình, không đánh giá đúng năng lực của mình hoặc đặt ra mục tiêu quá cao mà không thực hiện được Một nguyên nhân khác nữa liên quan đến lòng tự trọng không chấp nhận thua kém bạn bè cùng trang lứa Nguyên nhân thứ hai là do thiếu các kỹ năng xã hội, theo nghiên cứu của Đặng Thanh Tùng (1991) cho rằng nguyên nhân lo âu ở học sinh THPT là do thiếu hụt các kĩ năng xã hội cần thiết hay là do lối sống thụ động, thu mình cụ thể như: Không biết cách giải quyết vấn để của bản thân, không định hướng được tương lai, thay đổi thói quen [6, tr.208]

1.2.3.4 Ứng phó với lo âu ở học sinh THPT

Có những cách sau để giúp các em học sinh ứng phó với lo âu [27]

- Can thiệp sớm

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng can thiệp sớm cho những trẻ em có dấu hiệu của sự lo

âu có hiệu quả trong việc hạn chế sự phát triển kéo dài của các rối loạn lo âu Trong một nghiên cứu được thực hiện ở các trẻ trong độ tuổi mẫu giáo, những cha mẹ đã can thiệp sớm cho kết quả tốt hơn Những trẻ được lựa chọn có dấu hiệu của sự thu hồi hoặc ức chế hành vi, đó là một trong số những yếu tố nguy cơ của sự phát triển các rối loạn lo âu sau này Trong nghiên cứu đặc biệt này, các bậc cha mẹ tham gia vào một chương trình giáo dục nâng cao nhận thức về bệnh Những trẻ em có cha

mẹ tham gia chương trình này cho thấy sự giảm đáng kể trong chẩn đoán bệnh

Trang 28

Những kết quả này đem lại một sự khích lệ đáng kể Với cả người lớn và trẻ em thì việc điều trị sớm là cách tốt nhất để ngăn chặn các vấn đề trong tương lai Nhiều người tránh những yêu cầu được giúp đỡ để giải quyết những vấn đề rối loạn lo âu

vì họ cảm thấy xấu hổ Họ có thể cảm thấy các vấn đề về tâm thần là dấu hiệu của

sự thất bại Bên cạnh đó, họ có thể lo sợ rằng người khác sẽ nghĩ không tốt về họ Điều quan trọng cần nhớ rằng rối loạn lo âu là một bệnh Với những thay đổi lối sống và điều trị, bạn có thể kiểm soát các triệu chứng và ngăn ngừa những vấn đề lo

- Chế độ ăn uống lành mạnh

Một chế độ ăn lành mạnh sẽ đem lại cho bạn sự khỏe mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần Đừng căng thẳng khi lựa chọn thức ăn, nhưng hãy cố gắng bổ sung nhiều loại thức ăn tươi, lành mạnh như rau củ, trái cây, ngũ cốc nguyên hạt bất cứ khi nào có thể Tránh các thực phẩm nhiều dầu mỡ, nhiều đường Hãy nhớ rằng khi bạn chăm sóc tốt cho cơ thể cũng chính là chăm sóc tốt cho não bộ của mình

- Ghi chép

Không ai có thể làm bạn cảm thấy tốt hơn là chính bạn Ghi chép lại là một cách tuyệt vời để bạn có thể theo dõi tâm trạng, căng thẳng và lo lắng Nhiều người thấy rằng việc xác định và viết ra các vấn đề sẽ khiến họ dễ dàng đối phó với chúng Nếu bạn đang làm việc với một bác sĩ tâm lí, thì một cuốn sổ ghi chép có thể giúp cả hai tìm ra những gì gây ra căng thẳng của bạn và những gì khiến bạn cảm thấy tốt hơn

- Tránh những chất không có lợi cho sức khỏe

Thuốc lá, chất gây nghiện và rượu thường được gọi là những chất giảm căng thẳng nhưng thực tế, nếu chúng đang phá hủy cơ thể của bạn, chúng làm cho bạn khó khăn hơn để kiểm soát căng thẳng và lo âu Cafein cũng vậy, nó có thể làm gia tăng

Trang 29

sự lo âu Nghiện các chất này có thể gây thêm sự căng thẳng và lo lắng, và khi bỏ cũng gây ra sự căng thẳng như vậy

1.3 Những đặc điểm tâm lý – xã hội của học sinh THPT

1.3.1 Khái niệm học sinh THPT

Theo Bách khoa toàn thư Wikipedia: Bậc trung hoạc phổ thông là một trong

số các bậc học của hệ thống giáo dục ở Việt Nam hiện nay, nó sau tiểu học, trung học cơ sở và trước cao đẳng đại học Trung học phổ thông là bậc học kéo dài ba năm (từ lớp 10 đến lớp 12) Để tốt nghiệp bậc học này, học sinh phải vượt qua kỳ thi tốt nghiệp Trung học phổ thông vào cuối năm học lớp 12 [19]

Như vậy, học sinh THPT là những em học sinh từ lớp 10 đến lớp 12 ở các

trường THPT, tuổi đi học chuẩn từ 15;16 đến 18 tuổi

1.3.2 Đặc điểm phát triển thể chất của học sinh THPT

Do sự hoàn thiện về cấu tạo và chức năng của hệ thần kinh trung ương và các giác quan nên có sự thay đổi trong chiều cao, cơ thể phát triển Ở các em nam thì cao vọt lên, râu cằm, ria mép, cơ bắp nổi lên, hoàn thiện dần chức năng làm cha còn ở các em nữ thì cơ thể duyên dáng, mềm mại hơn, hoàn thiện chức năng làm mẹ nói chung là thời gian này, các em đã có sự chín muồi về mặt thể chất

1.3.3 Đặc điểm phát triển tâm lý của học sinh THPT

Sự phát triển của tự ý thức

Tự ý thức ở lứa tuổi đầu thanh niên đã phát triển mức độ cao, có liên quan đến nhu cầu tìm hiểu và đánh giá những thuộc tính tâm lý theo quan điểm, mục đích sống, hoài bão Chính điều này, làm cho các em quan tâm sâu sắc tới đời sống tâm

lý, phẩm chất nhân cách và năng lực của mình

Nếu như học sinh trung học cơ sở thường đặt bản thân mình vào hiện tại thì ngược lại học sinh THPT lại đặt bản thân mình vào tương lai Vì vậy, các em quan tâm nhiều đến cuộc sống sau này, tình yêu, gia đình, nghề nghiệp và lựa chọn bạn đời tương lai

Trang 30

Sự phát triển thế giới quan

Học sinh THPT đã có một quá trình tích lũy hệ thống tri thức, kỹ năng, lối sống, hành vi… trong nhiều năm, nên đã có khả năng đúc kết những suy nghĩ của mình trong việc nhìn nhận thế giới Các em xây dựng hệ thống quan điểm riêng dựa trên những điều kiện về mặt trí tuệ và xã hội Tuy nhiên, thế giới quan chưa đạt đến mức sâu sắc và bền vững

Đặc điểm giao tiếp

Đầu tuổi thanh niên là lứa tuổi hoạt động giao tiếp mang tính chất tập thể, điều quan trọng đối với các em là được sinh hoạt với những bạn bè cùng lứa, cảm thấy mình cần cho nhóm, có uy tín và trị trí nhất định trong nhóm Mối quan hệ giao tiếp được mở rộng cả về 40 phạm vi lẫn chất lượng, đồng thời các em ngày càng được thể hiện sự bình đẳng, độc lập trong giao tiếp với người lớn và bạn bè

Đặc điểm đời sống tình cảm

Tình cảm được nảy sinh trên cơ sở nhận thức về thế giới quan và xu hướng nghề nghiệp Các loại tình cảm đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ đều phát triển mạnh Các em có khả năng chủ định phân tích tình cảm của chính mình, có khả năng kiềm chế cảm xúc Tình bạn sâu sắc, bền chặt, thẳng thắn giúp nhau cùng tiến bộ Tình bạn được xây dựng trên cơ sở của sự hiểu biết lẫn nhau, cùng phấn đấu mục đích chung, cùng hứng thú, sở thích, lí tưởng Một loại tình cảm rất đặc trưng cũng xuất hiện ở lứa tuổi này đó là tình cảm bạn khác giới Tình cảm yêu đương nam nữ

là tình cảm đẹp đẽ, trong sáng có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của các

Trang 31

em Tình yêu của lứa tuổi đầu thanh niên có thể do sự say mê hoặc sự rung cảm mãnh liệt trong tâm hồn Nhưng nó thường được xuất phát từ tình bạn, sự đồng cảm với hoàn cảnh của nhau và sự hòa hợp trong tâm hồn, sự quý mến, cảm phục đối với nhau… Những biểu hiện của loại tình cảm này, nhìn chung rất phức tạp, không đồng đều

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Hệ thống lý luận về lo âu là tương đối nhiều, nhưng chỉ có ở nước ngoài, hiện tại ở Việt Nam các công trình chuyên nghiên cứu về lo âu còn có nhiều hạn chế, các kết quả chỉ mang tính thí điểm, chưa tập trung, chính thức Trong phạm vi chương

1, đề tài cũng xác định được một số lý luận cơ bản làm cơ sở cho việc nghiên cứu thực trạng, như: khái niệm, biểu hiện, cách phân loại của lo âu và những nét cơ bản của lứa tuổi học sinh THPT và nguyên nhân gây lo âu ở học sinh THPT Về nguyên nhân gây lo âu ở học sinh THPT, xét từ góc độ tâm lý, là do những mối quan hệ xoay quanh chính bản thân các em Đó là quan hệ gia đình (cha mẹ, anh chị em), quan hệ xã hội (thầy cô, bạn bè, các quan hệ khác ), hoạt động chủ đạo của các em (học tập, rèn luyện) và nguyên nhân liên quan đến bản thân học sinh (kỹ

năng sống, nhận thức, cảm xúc)

Trang 32

CHƯƠNG II: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Giới thiệu khái quát về trường THPT Ba Gia, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi

- Trường THPT Ba Gia lúc đầu có tên là trường PTTH số 2 Sơn Tịnh được UBND tỉnh Nghĩa Bình thành lập tháng 8/1979 và khai giảng khóa đầu tiên ngày 5/9/1979 Tháng 8/2005, trường PTTH số 2 Sơn Tịnh đổi thành trường THPT Ba Gia (quyết định số 2220/QĐ – UBND ngày 11/8/2005 của chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi) Hiệu trưởng qua các thời kỳ lần lượt là 1979-1985: Hồ Tân, 1985-2002: Nguyễn Công Hành, 2002 – 2013: Đỗ Tấn Khoa, 2013 – nay: Nguyễn Hồng Danh Trường đạt chuẩn quốc gia năm 2009

- Trường đào tạo 3 khối lớp 10, 11 và 12, trong đó khối 10 có 428 học sinh, khối

11 có 431 học sinh và khối 12 có 411 học sinh Với một đội ngũ giáo viên giàu kinh nghiệm, tận tâm với nghề, với truyền thống hiếu học của học sinh nhà trường, trường đã đạt được nhiều kết quả tốt Và có nhiều học sinh đạt nhiều vị thứ cao trong các kì thi học sinh giỏi Thành phố, quốc gia Hiện nay, trường gồm 89 cán bộ giáo viên và nhân viên Nhà trường gồm 10 tổ chuyên môn: Tổ toán, tổ Vật lý - công nghệ, tổ Hóa học, tổ Sinh học, tổ Tin học, tổ Ngữ văn, tổ Sử - GDCD-Địa, tổ GDTC-GDQP,AN, tổ Ngoại Ngữ, tổ Văn phòng

- Cơ sở vật chất: trường có diện tích 11035 m2, với số phòng học là 42 phòng

Có 3 khu nhà 2 tầng, 1 khu nhà 3 tầng và 1 khu giáo dục thể chất

Trong đề tài nghiên cứu tôi chọn mẫu khách thể là 200 học sinh lớp 12 trường THPT Ba Gia Đặc điểm khách thể nghiên cứu được thể hiện qua bảng 3.1

Bảng 2.1 Đặc điểm khách thể nghiên cứu

Trang 33

2.2.1 Kế hoạch nghiên cứu

Kế hoạch nghiên cứu từ tháng 10/2016 đến tháng 5/2017

TT Thời gian Nội dung nghiên cứu

1 10 – 12/2016

- Chính xác hóa tên đề tài, vấn đề nghiên cứu

- Tìm tài liệu vấn đề cần nghiên cứu

- Xây dựng đề cương chi tiết

- Bảo vệ đề cương luận văn

- Hoàn thành phần cơ sở lý luận của đề tài

- Xây dựng phiếu điều tra và hoàn thiện

- Hoàn thiện luận văn

- Nộp và bảo vệ luận văn

Trang 34

2.2.2 Triển khai nghiên cứu

2.2.2.1 Nghiên cứu lý luận

Nghiên cứu những tài liệu văn bản có liên quan đến lo âu, RLLA để xây dựng

cơ sở lý luận cho để tài Từ đó, định hướng cho việc xây dựng quy trình triển khai

- Phân tích, tổng hợp những công trình nghiên cứu của những tác giả trong và ngoài nước về lo âu

- Xác định các khái niệm công cụ và các khái niệm liên quan để làm cơ sở cho việc nghiên cứu

2.2.2.2 Nghiên cứu thực tiễn

Giai đoạn 1: Gửi giấy giới thiệu của trường Đại học Sư Phạm Đà Nẵng đến trường THPT Ba Gia, trình bày nội dung của luận văn và xin phép được tiến hành nghiên cứu

Giai đoạn 2: Cho học sinh làm phiếu điều tra về nguyên nhân, biểu hiện, cách ứng phó với lo âu và trắc nghiệm lo âu để sàng lọc 200 học sinh ở 6 lớp 12

Giai đoạn 3: Xử lý phiếu và lên kế hoạch hỗ trợ cho học sinh có biểu hiện lo

âu nặng

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Mục đích nghiên cứu:

+ Xây dựng nền tảng lý luận về lo âu

+ Xây dựng các khái niệm cơ bản: Lo âu, học sinh THPT

+ Biết được biểu hiện, nguyên nhân và cách ứng phó với lo âu ở học sinh THPT

- Nội dung nghiên cứu:

+ Những đề tài nghiên cứu về lo âu và RLLA ở trẻ em ở Việt Nam và trên thế giới

+ Những khái niệm về lo âu, học sinh THPT và cách nhận biết

Trang 35

- Phương pháp nghiên cứu: tiến hành sưu tập, thu thập những tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu Sau đó phân tích, tổng hợp khái quát những lý luận có liên quan để xây dựng nền tảng lý luận về vấn đề nghiên cứu

2.3.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

2.3.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

- Mục đích:

+ Lấy thông tin cơ bản về học sinh

+ Xác định những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến lo âu ở các em và cách ứng phó được các em lựa chọn nhiều nhất

- Cách tiến hành:

+ Giai đoạn 1: Xây dựng phiếu

Phần 1: Thông tin chung gồm có:

Học lực

Điều kiện kinh tế

Hoàn cảnh gia đình

Phần 2: Nguyên nhân gây lo âu ở học sinh THPT gồm có 30 câu, khảo sát trên

4 nguyên nhân chính là: Học tập, quan hệ gia đình, quan hệ xã hội và liên quan đến bản thân

Phần 3: Ứng phó với lo âu ở học sinh THPT gồm có 13 câu

+ Giai đoạn 2: Phát phiếu

Xin phép Ban giám hiệu trường THPT Ba Gia để phát phiếu cho học sinh Xin phép giáo viên chủ nhiệm các lớp được phát phiếu và mong các thầy cô giúp đỡ để các em học sinh hoàn thành bảng hỏi một cách chính xác, trung thực Giới thiệu bản thân, giới thiệu lý do phát phiếu, cách thức làm phiếu cho học sinh rồi tiến hành phát cho các em

Thu phiếu và cảm ơn các em học sinh và giáo viên chủ nhiệm

+ Giai đoạn 3: Xử lý số liệu

Trang 36

2.3.2.2 Phương pháp trắc nghiệm

- Mục đích: Biết được biểu hiện khi xảy ra lo âu ở học sinh và phát hiện những trường hợp bị lo âu nặng

- Phương tiện điều tra

Tôi dùng thang lượng giá lo âu của Zung để tiến hành tìm ra biểu hiện khi lo

âu ở học sinh

+ Mô tả thang lượng giá lo âu của Zung

Thang lượng giá lo âu của Zung do William W.K Zung xây dựng (1971) còn được gọi tắt là SAS (The Zung Self Rating Axiety Scale)

SAS là thang lượng giá về mức độ lo âu ở người trưởng thành

SAS đã được chỉnh lý trên người Việt Nam và được sử dụng khá phổ biến tại các Bệnh viện Tâm thần và trong nghiên cứu khoa học

Thang lượng giá SAS gồm có 20 đề mục, trong đó có 5 đề mục tính điểm ngược, mỗi đề mục có 4 lựa chọn và chỉ được chọn 1 giá trị từ 1 – 4

 1 = Hầu hết hoặc tất cả thời gian

Tổng điểm từ 20 – 80, tương ứng với tổng điểm càng cao thì mức độ lo âu càng nặng và điểm số được phân bố như sau:

 20 – 44 = Bình thường

Ngày đăng: 12/05/2021, 20:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w