1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết cuộc đời ngoài cửa của nguyễn danh lam

114 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 6,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Góp phần tạo nên sự đa dạng và không ngừng biến động của tiểu thuyết đương đại không thể không kể đến một số tên tuổi dự phần đáng kể vào tiến trình đổi mới thể loại như Nguyễn Huy Thiệp

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

THÁI THỊ THANH LIÊM

NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT

TRONG TIỂU THUYẾT CUỘC ĐỜI NGOÀI CỬA

CỦA NGUYỄN DANH LAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM

Đà Nẵng - Năm 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

THÁI THỊ THANH LIÊM

NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT

TRONG TIỂU THUYẾT CUỘC ĐỜI NGOÀI CỬA

CỦA NGUYỄN DANH LAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60 22 01 21

Người hướng d n hoa học: TS BÙI BÍCH HẠNH

Đà Nẵng - Năm 2017

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Cấu trúc luận văn 6

CHƯƠNG 1 NGUYỄN DANH LAM VỚI XU HƯỚNG CÁCH TÂN TRONG NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỈ XXI 7

1.1 TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XXI NHÌN TỪ NHỮNG ĐỔI MỚI TRONG NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT 7

1.1.2 Ngôn ngữ đa thanh, phức điệu 11

1.1.3 Trùng phức nhiều giọng điệu trần thuật 16

1.1.4 Không – thời gian trần thuật đan xen, lắp ghép 17

1.2 NGUYỄN DANH LAM VỚI NỖ LỰC ĐỔI MỚI TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỈ XXI 19

1.2.1 Nguyễn Danh Lam – một nhà văn trẻ say viết, đam mê sáng tạo 19

1.2.2 Nguyễn Danh Lam và tư duy nghệ thuật tiểu thuyết 20

1.2.3 Cuộc đời ngoài cửa – tiếp nối mạch tư duy “lạc thể” của tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam 25

CHƯƠNG 2 CUỘC ĐỜI NGOÀI CỬA NHÌN TỪ ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT VÀ KĨ THUẬT XÂY DỰNG KHÔNG - THỜI GIAN NGHỆ THUẬT 30

2.1 ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT 30

2.1.1 Điểm nhìn bên ngoài – cái nhìn “lạnh”, toàn tri 30

Trang 5

2.1.2 Điểm nhìn bên trong – những soi chiếu dư chấn tinh thần 35

2.1.3 Điểm nhìn trần thuật luân phiên phi quy tắc 37

2.2 KHÔNG GIAN TRẦN THUẬT 45

2.2.1 Không gian “ngoài ô cửa” – cuộc hành trình rong ruổi với cõi người 46 2.2.2 Không gian hiện thực đổ vỡ - soi chiếu những dư chấn tinh thần 48

2.2.3 Không gian tâm tưởng – đồng hiện tâm thức bất định 51

2.3 THỜI GIAN TRẦN THUẬT 53

2.3.1 Đồng hiện thời gian với đảo thuật, dự thuật 54

2.3.2 Thời gian tâm tưởng - cái nhìn “trì hoãn” 57

2.3.3 Thời gian xếp chồng – giao cắt của những trật tự hỗn độn 60

CHƯƠNG 3 CUỘC ĐỜI NGOÀI CỬA NHÌN TỪ THỦ PHÁP TRẦN THUẬT VÀ NGÔN NGỮ, GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT 61

3.1 THỦ PHÁP DÒNG Ý THỨC 61

3.1.1 Hồi thuật - tâm thức chiêm nghiệm quá khứ 62

3.1.2 Dòng suy tư bất định về phận đời, phận người 65

3.1.3 Cơn mơ giằng xé - đối mặt với hiện thực tàn nhẫn 68

3.2 NGÔN NGỮ TRẦN THUẬT 73

3.2.1 Ngôn ngữ đối thoại mang tính khẩu ngữ, pha tạp 73

3.2.2 Ngôn ngữ biểu cảm và giàu chất thơ 75

3.3 GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT 79

3.3.1 Giọng triết nghiệm 80

3.3.2 Giọng hoài nghi 84

3.3.3 Giọng vô âm sắc 86

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Thế hệ nhà văn sau 1975 nói chung và các cây bút viết tiểu thuyết nói riêng

đã không ngừng sáng tạo để định hình nên phong cách văn chương thời kỳ đổi mới Trong hành trình khó nhọc đó, có lúc tưởng chừng như nền văn học nước nhà đã có thể bị gián đoạn, trở nên mờ nhạt, nhưng chính nhờ niềm đam mê sáng tác và ý thức nỗ lực cách tân của các nhà văn đã góp mặt vào khuynh hướng đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam đương đại Góp phần tạo nên sự đa dạng và không ngừng biến động của tiểu thuyết đương đại không thể không kể đến một số tên tuổi dự phần đáng kể vào tiến trình đổi mới thể loại như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Chu Lai, Bảo Ninh, Nguyễn Việt Hà, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Đình Tú, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Danh Lam…

Trần thuật là một trong những phương diện cơ bản đối với hoạt động sáng tạo văn học Nghiên cứu nghệ thuật trần thuật còn mở ra nhiều bình diện khác nhau như nghệ thuật xây dựng nhân vật, nghệ thuật tạo dựng kết cấu, lời văn nghệ thuật, giọng điệu, kĩ thuật xây dựng không gian, thời gian nghệ thuật… Tìm hiểu nghệ thuật trần thuật trong văn xuôi tự sự nói chung, trong tiểu thuyết nói riêng một mặt giúp khai thác góc độ thi pháp thể loại, mặt khác đứng từ góc nhìn nghiên cứu này giúp chúng ta có cơ sở định giá tác phẩm, khẳng định tài năng và những đóng góp mang dấu ấn cá tính sáng tạo của nhà văn Việt Nam vào tiến trình văn chương vẫn còn nhiều đòi hỏi, thách thức từ phía người tiếp nhận, thời đại tiếp nhận

Nguyễn Danh Lam, một cây bút trẻ vốn xuất thân là sinh viên tốt nghiệp trường Đại học Mỹ thuật Nhưng có lẽ, văn chương mới là sự lựa chọn mang đến

cho nhà văn này nhiều thành công nhất Cuộc đời ngoài cửa là tiểu thuyết mới

Trang 7

nhất của Nguyễn Danh Lam Một cuốn sách mỏng nhưng có sức chứa tương đối đầy đặn, đủ để lại những ám ảnh và trăn trở trong lòng độc giả về đời sống xã

hội, gia đình, tình yêu, tình bạn, thân phận con người, tương lai đất nước…Cuộc

đời ngoài cửa trên bề mặt có vẻ như đơn giản bởi những câu chuyện đời thường,

nhưng ngầm ẩn trong tác phẩm là những bi kịch lớn của con người đương đại Tác phẩm thể hiện một Nguyễn Danh Lam thâm trầm, sắc sảo, suy tư, với một nội lực sáng tác đang thời sung sức Cùng với dòng chảy của văn học thế giới, Nguyễn Danh Lam đã đi đúng vào quỹ đạo tư duy của tiểu thuyết thời kỳ hội nhập và đổi mới Với lối viết khá “chắc tay”, nhà văn đã thúc đẩy và khai thác những tìm tòi, thể nghiệm trong văn học, đặc biệt là trên phương diện trần thuật

Lựa chọn đề tài “Nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết Cuộc đời ngoài cửa của

Nguyễn Danh Lam”, chúng tôi muốn kiến giải thêm một số phương diện của kĩ thuật trần thuật đã tạo nên dấu ấn phong cách tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Nguyễn Danh Lam là một nhà văn trẻ, song bằng tài năng và niềm say mê sáng tác, anh đã cho ra đời nhiều tác phẩm, đặc biệt là thể loại tiểu thuyết đã được đánh giá cao từ giới chuyên môn và độc giả Trong những năm gần đây, tác phẩm của anh trở thành đề tài thu hút khá nhiều người nghiên cứu, tập trung một

số nội dung chủ yếu như: đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam, cảm thức hiện sinh trong tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam…Tiểu thuyết “Cuộc đời ngoài cửa” là

một tác phẩm mới của tác giả Riêng về nghệ thuật trần thuật trong Cuộc đời

ngoài cửa, có một số ý kiến liên quan được bàn đến trong một vài bài báo, cụ thể:

Bài báo “Vì sao Nguyễn Danh Lam đạt giải C tiểu thuyết với Cuộc đời

ngoài cửa” của tác giả Lê Minh Phong đề cập đến lối viết tiểu thuyết của nhà

văn: “Nguyễn Danh Lam đã sử dụng nhiều yếu tố thuộc về kĩ thuật tiểu thuyết hiện đại, hậu hiện đại như xây dựng các kiểu nhân vật nghịch dị, nhân vật đám đông, xây dựng không gian hiện thực thậm phồn (hyper-reality), sử dụng các

Trang 8

phương thức làm mờ hóa nhân vật, kĩ thuật dòng ý thức…”; hay “Trong khi nền tiểu thuyết Việt Nam nhìn chung vẫn đang loay hoay ở những lối viết thiên về cảm tính, dựa trên bút pháp mô phỏng, nệ thực, thì Nguyễn Danh Lam đã mở ra cho mình một thế giới khác Một thế giới văn chương khởi từ sự làm chủ lối viết,

sự ý thức đủ đầy về vai trò của các phương pháp sáng tác, các hệ thống lí thuyết nghệ thuật của một nhà văn có trách nhiệm với đời sống” [43]

Cũng trong bài báo này, tác giả đề cập đến cảm thức hiện sinh, yếu tố góp

phần tạo nên giọng điệu của tác phẩm: “Giá trị của Cuộc đời ngoài cửa không

chỉ nằm ở nội dung câu chuyện được kể mà còn nằm ở không khí xung quanh câu chuyện này Nó chán chường, tuyệt vọng Không khí này làm chúng ta nhớ

tới cuốn tiểu thuyết hiện sinh Buồn nôn, một tác phẩm kinh điển của Jean-Paul

Sartre Đó là không khí của sự trống vắng, vô phương hướng và hoài nghi thực

tại đến tột cùng… Đọc Cuộc đời ngoài cửa để thấy thế giới vô nghĩa, phi lý, để

thấy con người không biết mình tới từ đâu, sẽ về đâu và sẽ làm được gì trong cảm thức buồn nôn kéo dài lê thê suốt năm tháng sống mòn” [43]

Tác giả Võ Văn trong bài viết “Về sự cách tân của tiểu thuyết” ghi chép

bộc bạch của nhà văn Nguyễn Danh Lam về điểm nhìn khách quan (điểm nhìn bên ngoài) khi viết tiểu thuyết: “Trong truyện ngắn cũng như tiểu thuyết của tôi hầu hết là không có mở đầu hay kết thúc, không có tên tuổi nhân vật, địa danh Thậm chí là tôi không thể can thiệp vào đó để đem lại một cái mở hoặc kết theo ý mình Mà can thiệp vào, có thể nó còn vụng hơn, mất tính khách quan, mặc định cho bạn đọc cái nhìn của tác giả Nó xảy ra như vậy đấy, đến và đi như vậy đấy, và tôi để nguyên nó như thế!” [67]

Trong bài viết “Khởi từ cuộc sống”, tác giả Lê Viễn Phương đánh giá:

“Một cuộc sống nhàm chán, nhuốm màu sắc triết học hiện sinh trong Cuộc đời

ngoài cửa đều là những dẫn chứng để chứng minh cho giá trị của một tác phẩm

văn học là phải luôn khởi đi từ chính cuộc sống Lấy hiện thực cuộc sống làm

Trang 9

nền tảng rồi sau đó mới hướng tới những biên độ của sự khai mở bên ngoài cuộc sống hiện thực” [45]

Tác giả Việt Quỳnh nhận xét về lối kể chuyện thâm trầm trong Cuộc đời

ngoài cửa: “Trong tiểu thuyết Cuộc đời ngoài cửa, Nguyễn Danh Lam lại thoát

ra khỏi những tếu táo bông đùa đa sự, thành một ông già kể chuyện thâm trầm…Có cảm giác Nguyễn Danh Lam viết cuốn tiểu thuyết này chẳng mấy khó nhọc Cứ lững thững đi dạo rồi nhặt nhạnh bao cảnh đời bình dị bắt gặp mà viết ra…” [46]

Tác giả Lê Hương cho rằng bao quát cuốn tiểu thuyết này là sự bế tắc và bi

quan không lối thoát: “Cuộc đời ngoài cửa của Nguyễn Danh Lam có một kết

cục không thể nào bi đát hơn Đó là một bi kịch mà chẳng có vở kịch nào bi đát hơn cuộc đời ông Để kết thúc những chuỗi bi kịch đau đớn thấu máu xương, Nguyễn Danh Lam đã cho nhân vật một lối thoát hết sức bình thản mà xót xa; đó

là cái chết trên hành trình nhân vật ông tìm lại bản thể sau những trơn trượt ê chề, tuyệt vọng, trong cơn khổ đau, lẻ loi và dằn vặt tận cùng của sự sống” [23] Tác giả này cũng nhận xét về lối viết: “Các nhân vật xuất hiện trong tác phẩm này hầu hết là kiểu nhân vật tự ý thức Thủ pháp xây dựng nhân vật chủ đạo vẫn

là ngôn ngữ đối thoại và dòng ý thức” [23]

Qua khảo sát lịch sử nghiên cứu, chúng tôi thấy rằng đề tài “Nghệ thuật

trần thuật trong tiểu thuyết Cuộc đời ngoài cửa của Nguyễn Danh Lam” là một

đề tài mới mẻ và còn khá nhiều “đất” để người viết thể hiện Qua việc nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sẽ khai thác được nghệ thuật kể chuyện ở nhiều khía cạnh từ điểm nhìn, giọng điệu, cách sử dụng ngôn ngữ, kĩ thuật xây dựng không – thời gian, các thủ pháp trần thuật…, qua đó góp thêm một cách đánh giá, nhìn nhận về nghệ thuật viết tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Danh Lam trong dòng chảy tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI

Trang 10

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Tiểu thuyết Cuộc đời ngoài cửa của nhà văn

Nguyễn Danh Lam (NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2016)

3.2 Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu nghệ thuật trần thuật trong

tiểu thuyết Cuộc đời ngoài cửa từ phương diện điểm nhìn trần thuật, kĩ thuật xây

dựng không – thời gian trần thuật; thủ pháp trần thuật; ngôn ngữ, giọng điệu trần thuật

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp loại hình: được dùng để xem xét tác phẩm dựa trên đặc

điểm loại hình tiểu thuyết để từ đó thấy được đóng góp của tác phẩm vào nền tiểu thuyết đương đại nhìn từ nghệ thuật trần thuật

4.2 Phương pháp khảo sát, thống kê: phương pháp này được sử dụng

trong việc khảo sát, thống kê các tần số xuất hiện một số yếu tố ngôn từ trong tác phẩm nhằm làm nổi bật các yếu tố trần thuật

4.3 Phương pháp so sánh – đối chiếu: đặt tiểu thuyết Cuộc đời ngoài cửa

của Nguyễn Danh Lam trong cái nhìn tham chiếu với các tiểu thuyết khác của nhà văn này cũng như một số tiểu thuyết của tác giả khác để nhận thấy những nét riêng đồng thời cũng thấy những đóng góp của nhà văn trong dòng chung đổi mới tiểu thuyết Việt Nam đương đại

4.4 Phương pháp phân tích – tổng hợp: phân tích các yếu tố trần thuật

trong tác phẩm, từ đó tổng hợp, khái quát lại trên cơ sở đã phân tích để có cái nhìn khách quan, chính xác

4.5 Phương pháp vận dụng lý thuyết thi pháp học và tự sự học: vận dụng

hệ thống lý thuyết thi pháp học và tự sự học để soi chiếu vào tiểu thuyết "Cuộc đời ngoài cửa" của Nguyễn Danh Lam để làm rõ nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết này

Trang 11

5 Cấu trúc luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được

triển khai thành 3 chương:

Chương 1: Nguyễn Danh Lam với xu hướng cách tân trong nghệ thuật trần thuật tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI

Chương 2: Cuộc đời ngoài cửa của Nguyễn Danh Lam nhìn từ điểm nhìn

trần thuật và kĩ thuật xây dựng không – thời gian trần thuật

Chương 3: Cuộc đời ngoài cửa của Nguyễn Danh Lam nhìn từ thủ pháp

trần thuật và ngôn ngữ, giọng điệu trần thuật

Trang 12

CHƯƠNG 1 NGUYỄN DANH LAM VỚI XU HƯỚNG CÁCH TÂN TRONG NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỈ XXI

1.1 TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XXI NHÌN TỪ NHỮNG ĐỔI MỚI TRONG NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT

Trần thuật là phương diện cơ bản của phương thức tự sự, là việc giới thiệu khái quát, thuyết minh, miêu tả đối với nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh, sự vật theo cách nhìn của người trần thuật Trần thuật không chỉ là lời kể mà còn bao hàm cả việc miêu tả đối tượng, phân tích hoàn cảnh, thuật lại tiểu sử nhân vật, lời bình

luận, lời trữ tình ngoại đề, lời ghi chú của tác giả… [19, tr 364] Tiểu thuyết

thuộc loại hình tự sự nên nghệ thuật trần thuật là một trong những yếu tố quan trọng trong phương thức biểu hiện, còn là yếu tố cơ bản thể hiện cá tính sáng tạo

của nhà văn

Nghệ thuật trần thuật luôn vận động để làm mới mình theo thời gian Lyotard – được xem là triết gia khởi đầu của chủ nghĩa hậu hiện đại, cho rằng thế kỉ XXI không có văn bản hay tác phẩm nữa mà chỉ có sự trải chữ trên bề mặt của văn bản Điều này cũng thể hiện rõ quan niệm hậu hiện đại của ông là không còn tồn tại văn bản lớn nữa mà chỉ có những vi bản thức, tức là những mảng ý nghĩa, mảng đối thoại, những câu nói, những câu đang nghĩ Quan niệm tiểu thuyết như một trò chơi thể hiện rõ nhất ở nghệ thuật trần thuật hỗn độn, lắp ghép, phi logic, chối bỏ đại tự sự, khước từ vai trò toàn tri của người kể chuyện ở ngôi thứ ba; nhân vật bị tẩy trắng; không gian nhòe mờ; thời gian đảo lộn, phi thực

Văn học Việt Nam đầu thế kỉ XXI, theo sự chuyển mình của toàn hệ thống văn học – nghệ thuật, tiếp thu những ảnh hưởng từ nền văn học thế giới, tiểu

Trang 13

thuyết cũng từng bước cách tân trên nhiều mặt, trong đó có nghệ thuật trần thuật Trần thuật đổi mới ở nhiều phương diện, trong công trình này chúng tôi đề cập đến một số phương diện cơ bản như: điểm nhìn trần thuật, thủ pháp trần thuật, ngôn ngữ, giọng điệu và không - thời gian trần thuật

1.1.1 Sự đa dạng hóa luân phiên điểm nhìn trần thuật

Bất cứ nhà văn nào cũng phải lựa chọn cho mình một điểm nhìn phù hợp,

để từ đó miêu tả, trần thuật, kể chuyện theo góc nhìn của mình Trong văn học, điểm nhìn trần thuật được hiểu là vị trí người trần thuật quan sát, cảm thụ và miêu tả, đánh giá đối tượng Người ta có thể nói đến điểm nhìn qua bình diện vật

lý, bình diện tâm lý, qua trường nhìn…Trong nhiều tác phẩm, qua điểm nhìn trần thuật, nhà văn cho người đọc một cái nhìn mới về cuộc đời Mặt khác, thông qua điểm nhìn trần thuật, người đọc có cơ hội đi sâu tìm hiểu cấu trúc tác phẩm và kiến giải đặc điểm phong cách nhà văn

Trong nghiên cứu văn học, thuật ngữ “điểm nhìn” đã trở nên quen thuộc với người nghiên cứu Tuy nhiên, cho đến nay thuật ngữ này vẫn là một vấn đề còn nhiều tranh cãi Có người chia điểm nhìn thành hai loại: trường nhìn tác giả

và trường nhìn nhân vật Trường nhìn tác giả tức là người trần thuật đứng ngoài câu chuyện để quan sát đối tượng, khiến cho kiểu trần thuật mang tính khách quan Trường nhìn nhân vật tức là người trần thuật nhìn sự vật, con người, sự việc, hiện tượng theo quan điểm của một nhân vật trong tác phẩm, vì thế trường nhìn này bị chi phối bởi cảm xúc, xuất thân, địa vị, hiểu biết, lập trường của nhân vật Có người lại chia điểm nhìn thành điểm nhìn bên trong và điểm nhìn bên ngoài Điểm nhìn bên trong tức là người trần thuật nhìn thấy đối tượng, sự việc qua lăng kính của một nhân vật cụ thể Điểm nhìn bên ngoài là cái nhìn khách quan khi chủ thể trần thuật giữ khoảng cách nhất định với đối tượng trần thuật Theo lí thuyết tự sự học, có ba kiểu điểm nhìn phổ biến ở người kể chuyện: điểm nhìn toàn tri khi người kể chuyện có vai trò toàn năng với cái nhìn

Trang 14

thông suốt tất cả; điểm nhìn bên trong khi người kể chuyện là nhân vật; điểm nhìn bên ngoài khi người kể chuyện hoàn toàn xa lạ với thế giới mà anh ta kể, chỉ kể về những hành động, lời nói thể hiện ra bên ngoài nhân vật chứ không am hiểu nội tâm của nhân vật Như vậy, có thể thấy rằng sự phân chia các kiểu điểm nhìn chỉ mang tính tương đối Ở mỗi trường hợp khác nhau, việc sử dụng linh động các kiểu điểm nhìn phụ thuộc vào ý đồ sáng tạo của người sáng tác

Trước năm 1975, văn học tập trung mục đích phục vụ công cuộc giải phóng dân tộc, nội dung phản ánh của văn học hầu hết hướng đến cái nhìn nhất quán nhằm ca ngợi, cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân dân trong cuộc đấu tranh bảo

vệ độc lập tự do của tổ quốc Tuy vẫn hiện tồn một bộ phận sáng tác rẽ vào những mối bận tâm đời tư, song vẫn chỉ là một dòng riêng, phụ lưu trong hợp lưu văn học 1945 – 1975 Sau chiến tranh, văn học chuyển hướng phản ánh cuộc sống hòa bình với những vấn đề lien quan đến đời tư thế sự Khởi đầu, nhiều nhà văn đã có dấu hiệu khắc phục cái nhìn một chiều trước đó, chẳng hạn một số tác

giả tác phẩm như Nguyễn Minh Châu (miền cháy, lửa từ những ngôi nhà), Nguyễn Khải (Cha và con, và…), Khuất Quang Thụy (Trong cơn gió lốc), Nguyễn Trí Huân (Năm 75 họ đã sống như thế), Nguyễn Trọng Oánh (Đất

trắng)… Nhưng phải từ sau Đổi mới, sự khuyến khích, yêu cầu những thể

nghiệm mạnh bạo và rộng rãi trong sáng tạo nghệ thuật đã tạo động lực mạnh mẽ cho đội ngũ nhà văn thực hiện sự cách tân đột phá văn học, đặc biệt là tiểu thuyết Đội ngũ nhà văn viết tiểu thuyết ngày càng nhiều và nhiều tác phẩm ra đời theo xu hướng cách tân thể loại: Nguyễn Khải, Bảo Ninh, Chu Lai, Lê Lựu,

Ma Văn Kháng, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Việt Hà, Hồ Anh Thái, Nguyễn Danh Lam, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Đình Tú, Thuận, Y Ban, Trần Nhã Thụy, Đỗ Phấn…Lúc này, các nhà văn được

tự do phản ánh cuộc sống hiện thực với cái nhìn đa chiều khiến cuộc sống được hiện ra một cách chân thực và sống động như thực tế vốn có Cái nhìn đa chiều

Trang 15

đó mở ra với một tư duy rộng mở, đón nhận nhiều cái nhìn trái chiều, đối lập tạo nên một nền văn học mới – nền văn học dân chủ, sáng tạo hòa nhịp cùng với nền dân chủ của dân tộc và thế giới

Nếu trước đây, vai trò của nhà văn thường là độc tôn, là “toàn tri”, “biết tuốt”, thì tiểu thuyết đầu thế kỷ XXI, với tinh thần gia tăng tính đối thoại, đã thực hiện sự thay đổi tương quan hết sức quan trọng: vai trò của nhân vật ngang hàng, bình đẳng với vai trò của người kể chuyện Tác phẩm không chỉ có điểm nhìn của nhà văn, của người kể chuyện mà còn sử dụng điểm nhìn của các nhân vật sắm nhiều ngôi kể trong tác phẩm Khi sử dụng điểm nhìn của nhân vật, tác giả đã trao cho nhân vật cái quyền phát ngôn và những phát ngôn ấy thường hàm chứa cái nhìn của chủ thể trần thuật Qua đó, ta thấy mối tương quan giữa điểm nhìn của tác giả và điểm nhìn của nhân vật Hai điểm nhìn này có khi song song,

có khi hòa nhập tùy thuộc vào chủ ý của người sáng tác

Đặc biệt, trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, điểm nhìn của người kể chuyện không phân định một cách rạch ròi giữa điểm nhìn bên ngoài, điểm nhìn bên trong, điểm nhìn tác giả, điểm nhìn nhân vật mà các điểm nhìn này được di chuyển một cách linh động/ luân phiên Ngoài ra, trong một tác phẩm có khi có thể có nhiều người cùng mang điểm nhìn, tức là điểm nhìn được di chuyển từ nhân vật này tới nhân vật khác Có thể nói sự đan xen và dịch chuyển điểm nhìn liên tục cũng là một cách thức để tạo nên tính phức điệu trong phương thức trần thuật của tiểu thuyết Sự di chuyển, luân phiên điểm nhìn này có thể từ người kể chuyện tới nhân vật hoặc từ điểm nhìn nhân vật này tới điểm nhìn nhân vật khác Theo đó, văn bản nghệ thuật trở thành một cấu trúc đa tầng, có khả năng phá vỡ tính đơn âm và cùng lúc chồng xếp lên nhiều tiếng nói khác nhau

Bên cạnh việc di chuyển, luân phiên điểm nhìn, các điểm nhìn còn đan chồng nhau mở ra cho người đọc những khám phá mới mẻ về đối tượng Trường hợp như vậy gọi là đa bội điểm nhìn Đa bội điểm nhìn xuất phát từ nguyên tắc

Trang 16

phi trung tâm hóa trần thuật Nền tảng triết học của nó chính là ở sự đả phá các đại tự sự tạo nên tính dân chủ, đa trị trong nghệ thuật kể chuyện Không chỉ có vậy, khi có nhiều người kể, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy các điểm nhìn đó

tự chúng đối thoại, tương tác xoắn bện nhau để làm rõ hiện tượng, bản chất vấn

đề Đây cũng được coi là điểm trần thuật mới mẻ mà các nhà tiểu thuyết đại Việt Nam thường áp dụng [44] Qua đa bội điểm nhìn, trần thuật được khách quan hóa và giúp người đọc nắm bắt được bản chất hiện tồn của con người cũng như

có thể đối thoại để tìm ra nội dung, ý nghĩa của tác phẩm

Như vậy, sự đa dạng hóa điểm nhìn trần thuật và luân phiên thay đổi điểm nhìn cũng là một đặc điểm cách tân nổi rõ trong nghệ thuật tự sự của các tiểu thuyết theo hướng hiện đại ở đầu thế kỉ XXI

1.1.2 Ngôn ngữ đa thanh, phức điệu

Gorki đã viết: “Yếu tố đầu tiên của văn học là ngôn ngữ, công cụ chủ yếu của nó và - cùng với các sự kiện, các hiện tượng của cuộc sống - nó là chất liệu của văn học” Trong thực tế, chúng ta thấy rằng, ngôn ngữ không chỉ là chất liệu của văn học mà nó còn là “sự phát ngôn thể hiện nhãn quan giá trị của những nhóm xã hội khác nhau với tư cách là những chủ thể giao tiếp thẩm mĩ” (Lã Nguyên) Từ sau năm 1986, cùng với sự thay đổi tư duy văn học, ngôn ngữ trần thuật cũng đã có nhiều cách tân đáng kể, nổi bật ở thể loại tiểu thuyết

Ngôn ngữ trần thuật gồm có ngôn ngữ người trần thuật và ngôn ngữ nhân vật Ngôn ngữ người trần thuật là phần lời văn độc thoại thể hiện quan điểm tác giả hay quan điểm người kể chuyện (sản phẩm sáng tạo của tác giả) đối với cuộc sống được miêu tả, có những nguyên tắc thống nhất trong việc lựa chọn và sử dụng các phương tiện tạo hình và biểu hiện ngôn ngữ Ngôn ngữ người trần thuật

là yếu tố cơ bản thể hiện phong cách nhà văn, truyền đạt cái nhìn, giọng điệu, cá tính của tác giả [19, tr 212 – 213]

Trang 17

Ngôn ngữ nhân vật là lời nói của nhân vật trong các tác phẩm thuộc các loại hình tự sự Ngôn ngữ nhân vật là một trong những phương tiện quan trọng được nhà văn sử dụng nhằm thể hiện cuộc sống và cá tính nhân vật Trong tác phẩm, nhà văn có thể cá thể hóa ngôn ngữ nhân vật bằng nhiều cách: nhấn mạnh cách đặt câu, ghép từ, lời phát âm đặc biệt của nhân vật, cho nhân vật lắp lại những từ, câu mà nhân vật thích nói… Ngôn ngữ nhân vật bao giờ cũng phải đảm bảo sự kết hợp sinh động giữa cá thể và tính khái quát, nghĩa là một mặt, mỗi nhân vật có một ngôn ngữ mang đặc điểm riêng, có “lời ăn tiếng nói” riêng, mặt khác, ngôn ngữ ấy lại phản ánh được đặc điểm ngôn ngữ của một tầng lớp người nhất định gần gũi về nghề nghiệp, tâm lí, giai cấp, trình độ văn hóa…[19, tr 214]

Ngôn ngữ trần thuật của nhân vật có thể là đối thoại hay độc thoại Đối thoại gắn liền với việc những người nói hướng vào nhau và tác động vào nhau Độc thoại là hướng vào nội tâm của bản thân mình Với ngôn ngữ trần thuật của nhân vật, nhà văn dùng để miêu tả nhân vật từ tính cách cho đến nội tâm, diễn biến tâm lí của nhân vật Thông qua ngôn ngữ nhân vật, nhân vật tự kể về cuộc đời mình, tự bộc lộ tâm tư, suy nghĩ, nhìn nhận về bản thân, về cuộc đời, qua đó giúp người đọc lĩnh hội được tư tưởng của nhà văn Theo Bakhtin, “Lời nói của những nhân vật chính trong tiểu thuyết – những nhân vật ít nhiều có tính độc lập

về mặt tư tưởng, ngôn từ, có nhãn quan của mình – vốn là tiếng nói của người khác bằng ngôn ngữ khác, đồng thời có thể khúc xạ cả những ý chỉ của tác giả

và do đó, đến một mức độ nhất định, có thể được coi là ngôn ngữ thứ hai của tác giả.” Mỗi nhân vật đều có ngôn ngữ trần thuật của mình, làm phân hoá ngôn ngữ tiểu thuyết, đưa vào tiểu thuyết nhiều tiếng nói khác nhau, đa thanh,

đa giọng điệu

Bakhtin ví một văn bản tiểu thuyết với bản tổng phổ một tác phẩm giao hưởng: ở đấy có rất nhiều bè, nhiều bộ với những cách đi bè, phối khí phức tạp;

Trang 18

ai không nắm vững được nghệ thuật đi bè, phối khí thì có tài mấy cũng không viết được nhạc giao hưởng và các thể loại âm nhạc phức hợp khác Bakhtin nói: tương tự như thế, người viết văn xuôi nào chỉ biết nói cái của mình bằng ngôn ngữ của mình, không biết nói cái của mình bằng ngôn ngữ của người khác (trong

đó có ngôn ngữ của nhân vật), không biết đưa vào và “phối khí” trong câu văn của mình những tiếng nói khác nhau ở ngoài đời thì người ấy dù cố gắng thế nào cũng chỉ viết được những sáng tác bề ngoài rất giống tiểu thuyết nhưng không phải là tiểu thuyết [9]

Cũng theo Baktin, cần phân biệt “phức điệu” với “đa thanh”, Bakhtin sử dụng cả hai thuật ngữ âm nhạc này Trong âm nhạc, “phức điệu” đối lập với “chủ điệu” (homophonie), cả nhạc phức điệu (thí dụ Bach) lẫn nhạc chủ điệu (thí dụ Beethoven) đều đa thanh (nhiều bè), nhưng trong nhạc phức điệu tất cả các bè đều bình đẳng, có giá trị như nhau, còn trong nhạc chủ điệu thì có bè chính và những bè phụ (đệm) Trong hệ thống khái niệm của Bakhtin, “phức điệu” là “đa thanh” ở độ phát triển cao nhất “Tính đa thanh” trong văn chương là biểu hiện của “nguyên tắc đối thoại” được Bakhtin quan niệm như một thuộc tính phổ biến của tư duy con người Toàn bộ văn xuôi nghệ thuật, theo Bakhtin, có chất đa thanh, chất đối thoại.[9]

Trong tiểu thuyết đương đại, xuất hiện nhiều tác giả thường trần thuật ở ngôi thứ nhất, xưng “tôi” “Tôi” ở đây có thể là chính bản thân tác giả, có thể là một nhân vật do tác giả sáng tạo nên Với kiểu trần thuật này, lời trần thuật vừa

là ngôn ngữ trần thuật của tác giả vừa là ngôn ngữ trần thuật của nhân vật, tức vừa là lời trực tiếp, vừa là lời gián tiếp Ngoài ra, nhiều tác giả cũng lựa chọn kiểu trần thuật ở ngôi thứ ba dưới hình thức người kể chuyện Với kiểu trần thuật này, lời trần thuật mang tính khách quan hoá và trung tính Người trần thuật được chứng kiến câu chuyện và có khả năng kể lại toàn bộ câu chuyện theo cách riêng của mình Theo Bakhtin, lời văn trần thuật gián tiếp này có thể chia làm hai

Trang 19

loại: loại thứ nhất là gián tiếp một giọng, là lời trần thuật tái hiện, phẩm bình các hiện tượng của thế giới trong ý nghĩ khách quan vốn có của chúng Loại thứ hai

là lời gián tiếp hai giọng, là lời trần thuật có hấp thu lời nhân vật, tức là trong phát ngôn của người trần thuật cùng lúc có thể có cả lời trực tiếp hay những suy tư gián tiếp của nhân vật, nó thể hiện sự đối thoại với ý thức khác của cùng một đối tượng miêu tả Loại thứ hai này cho phép tác giả di chuyển

“điểm nhìn” trần thuật và tạo nên tính chất đa thanh trong ngôn ngữ trần thuật, ngôn ngữ tiểu thuyết

Ngoài ra, tính phức tạp của các kĩ thuật tiểu thuyết đương đại còn được gia

cố thêm bằng sự linh hoạt trong việc luân chuyển giữa trần thuật từ ngôi thứ nhất

và trần thuật từ ngôi thứ ba Điều này kéo theo sự đa dạng về giọng trần thuật với sự hiện diện đồng thời của các loại lời của người trần thuật, nhân vật và lời gián tiếp tự do - sự pha trộn giữa lời của người trần thuật và lời nhân vật [55] Trước đây, cũng như các yếu tố khác, ngôn ngữ trần thuật cũng bị chi phối bởi tư duy thời cuộc quy định chung cho sự sáng tạo văn học Các nhà văn mỗi người có mỗi cách phát huy tài năng sáng tạo của riêng mình, tuy nhiên việc sử dụng ngôn ngữ trần thuật vẫn không nằm ngoài quỹ đạo chung, tất cả đều chung một tiếng nói, một chất giọng Đó là tiếng nói của tập thể, tiếng nói của nhân dân, tiếng nói của tổ quốc…hợp thành một tiếng nói chung bảo vệ lợi ích của dân tộc Sau chiến tranh, đặc biệt sau năm 1986, trong nền dân chủ hóa văn học, với tư duy đối thoại - tranh biện, nhà văn nhìn nhận cuộc sống với nhiều chiều kích khác nhau Từ đó, lắng nghe nhiều tiếng nói khác nhau, có thể là tiếng nói của tác giả, tiếng nói của người kể chuyện, tiếng nói của nhân vật, tiếng nói của bạn đọc…Nhiều tiếng nói cùng hòa lên trên cùng một văn bản tạo cho ngôn ngữ tiểu thuyết trở nên giàu tính đa thanh, phức điệu, hấp dẫn nhiều đối tượng bạn đọc

Trang 20

Do đổi mới tư duy nghệ thuật, cách tân về thi pháp nên ngôn ngữ trần thuật

ở tiểu thuyết đương đại không còn là tiếng nói quyền uy, độc tôn mà trở nên bình

dị, gần với ngôn ngữ bình dân, sát với đời sống hiện thực Vì đó là tiếng nói của nhiều cá nhân, cá thể thuộc nhiều tầng lớp trong xã hội Nếu những tiểu thuyết

giai đoạn 1945 – 1975 như Xung kích của Nguyễn Đình Thi, Trước giờ nổ súng của Phan Tứ, Sống mãi với thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng, Cao điểm cuối cùng

của Hữu Mai,… là những bản hùng ca cất vang tiếng nói của nhân dân, mang tính đại chúng, thì những tiểu thuyết sau năm 1986 của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Chu Lai, Bảo Ninh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Danh Lam…lại là một một bản hợp xướng nhiều bè, tập hợp nhiều tiếng nói của các cá nhân trong đời thực Đó là lời ăn tiếng nói hằng ngày, gần gũi, có khi dung tục Nhiều từ ngữ sử dụng trong giao tiếp hằng ngày được đưa vào văn bản tiểu thuyết, tạo thành “phong cách ngôn ngữ” đa dạng như “phong cách ngôn ngữ” của giới trẻ, của tầng lớp lao động bình dân, “phong cách ngôn ngữ” chát…được các nhà văn sử dụng ngày càng tự nhiên và thường xuyên Lúc này ngôn ngữ của người trần thuật và ngôn ngữ của nhân vật có khi tách bạch, có khi lại hòa nhịp phụ thuộc vào ý đồ nghệ thuật của tác giả

Bên cạnh đó, ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết đầu thế kỷ XXI cũng mang tính chất văn hoá vùng miền thể hiện ở chất giọng nhà văn, người trần thuật không những kể chuyện mà còn chuyển tải những giá trị văn hoá nằm sâu dưới lớp ngôn ngữ, làm cho nội dung trần thuật phong phú, đặc trưng Ngoài ra,

trong xu hướng cách tân tiểu thuyết, ngôn ngữ được xem như “trò chơi” Lyotard

ví “trò chơi ngôn ngữ” như một trận cờ: “Không nhất thiết người ta chơi là phải thắng Người ta có thể đi một nước cờ chỉ để thỏa thú vui nghĩ ra được nó Việc liên tục nghĩ ra các cách nói, từ ngữ và ý nghĩa ở cấp độ lời nói (parole) giúp cho ngôn ngữ (langue) phát triển, đem lại những niềm vui lớn” [37, tr 82] Với quan niệm xem ngôn ngữ như một trò chơi, nên lớp ngôn từ tiểu thuyết được các nhà

Trang 21

văn sử dụng từ sự phức hợp nhiều loại hình ngôn ngữ ở các lĩnh vực như chính trị, văn hóa, tôn giáo, khoa học… Đặc điểm này thể hiện khá rõ nét trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái - có sự pha tạp ngôn ngữ văn học, văn hóa, lịch sử, tôn giáo, chính trị; tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà thì có sự pha trộn của ngôn ngữ kịch, ngôn ngữ văn hóa, ngôn ngữ lịch sử, tôn giáo; tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương

có ngôn ngữ thơ, kịch…

1.1.3 Trùng phức nhiều giọng điệu trần thuật

Theo các nhà tự sự học, giọng điệu cùng với ngôi kể và điểm nhìn trần thuật là những phương diện cơ bản để xác định người kể chuyện Nếu như ngôi

kể được dùng để xác định mối quan hệ giữa người kể chuyện với câu chuyện được kể lại, điểm nhìn trần thuật cho biết ai nhìn, ai nhận thức, điểm nhìn của ai chi phối việc trần thuật thì giọng điệu cung cấp thông tin về vấn đề ai nói, ai kể…

G.Genette, nhà tự sự học cho rằng giọng điệu trả lời cho câu hỏi ai “nói”, ai

“phát ngôn” Ngoài ra, giọng điệu còn gắn liền với việc tổ chức ngôn từ trong tác phẩm văn học Muốn nhận diện được giọng điệu thì phải thông qua con đường phân tích ngôn từ, bởi vì ngôn từ là hình thức thể hiện giọng điệu

Nguyễn Đăng Điệp phân chia giọng điệu thành hai dạng: giọng điệu cá nhân và giọng điệu thời đại: “Ở đây, diễn ra sự tương tác hai chiều: một mặt, giọng điệu cá nhân chịu sự quy định/ ảnh hưởng của giọng điệu thời đại, mặt khác, giọng điệu cá nhân, nhất là những cá nhân tài năng, góp phần làm phong

phú, thậm chí thay đổi cấu trúc giọng điệu thời đại” [14, tr 14]

Văn chương giai đoạn trước năm 1975, cùng một điểm nhìn, một tiếng nói chung, là một giọng điệu chung mang tính thời đại Lúc này, các văn nghệ sĩ đều nhất nhất hướng về một tương lai tươi sáng của dân tộc, một lòng phụng sự tổ quốc với một thái độ trân trọng, tôn vinh Mỗi nhà văn là một chiến sĩ, vừa cầm

Trang 22

súng vừa cầm bút với tinh thần “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” Cho nên, văn học giai đoạn này đồng nhất một giọng điệu ngợi ca, thành kính

Sau 1986, trong sự chuyển đổi của xã hội, trong cuộc sống “hậu hiện đại” ngổn ngang, chồng chất nhiều mặt đối lập, bản hợp âm pha tạp của đời sống đã xâm nhập vào tiểu thuyết, quyết định một giọng riêng của thời đại Mỗi nhà văn trong sự đổi mới thể loại cũng làm mới giọng điệu, góp phần cách tân nghệ thuật

tổ chức truyện kể Nhiều tác giả đã khẳng định mình qua giọng điệu trần thuật

như Nguyễn Khải, Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái, Vũ Bão… [52, tr 142]

Nói chung, tiểu thuyết đương đại đã xây dựng được thể loại tiểu thuyết đa thanh, nhiều bè, nhiều giọng điệu, đánh dấu bước trưởng thành trong tư duy nghệ thuật Giọng điệu tiểu thuyết Việt Nam đương đại rất đa dạng Có giọng thương cảm, trữ tình; có giọng suồng sã; giọng chua chát, bi thương, giọng ỡm ờ, giọng suy tưởng, triết lí… Nhưng trên bình diện giọng điệu trần thuật có các giọng chủ yếu: giọng triết lý, giọng trào phúng diễu nhại và giọng vô âm sắc [2] Theo đó, chúng ta dễ dàng nhận thấy giọng triết lý ở các tiểu thuyết của các tác giả Nguyễn Khải, Vũ Đình Giang, Tạ Duy Anh, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Danh Lam…; giọng châm biếm, trào lộng ở tiểu thuyết của Chu Lai, Lê Lựu, Hồ Anh Thái ; giọng giễu nhại trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái, Nguyễn Huy Thiệp, Thuận…; giọng vô âm sắc trong tiểu thuyết Phạm Thị Hoài, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương…

Như vậy, tiểu thuyết Việt Nam đương đại đã tạo được tiếng nói đa thanh, nhiều bè, nhiều giọng điệu Tạo được giọng điệu đa dạng, phong phú là đánh dấu một bước trưởng thành trong tư duy nghệ thuật [16]

1.1.4 Không – thời gian trần thuật đan xen, lắp ghép

“Không gian” cùng với “thời gian” – chỉ hình thức tồn tại của vật chất, của thế giới Trên thực tế, không có gì tồn tại ngoài không gian và thời gian Bakhtin nhận định: “Trường mô tả cuộc sống biến đổi theo thể loại và các thời đại phát

Trang 23

triển văn học Nó được tổ chức theo nhiều cách và có ranh giới khác nhau trong

thời gian và không gian” [7, tr 63] Bakhtin cũng cho rằng cần phải nắm được

những mặt khác nhau của thời gian và không gian được sử dụng trong giai đoạn hiện nay của nhân loại thì mới có thể tìm ra được những phương pháp phản ánh của các thể loại, mới có thể tìm ra được những thủ pháp nghệ thuật để nhận thức

1986, tiểu thuyết phổ biến kiểu trần thuật phi tuyến tính Lúc này thời gian tuyến tính bị phá vỡ, phân mãnh, xáo trộn, không theo trật tự nào cả Không – thời gian trần thuật trong tiểu thuyết thời kì đổi mới không còn giữ nguyên trật tự như truyền thống, mà được đan xen, lắp ghép, đảo lộn khiến mọi ranh giới không gian, thời gian bị xóa nhòa: giữa cụ thể và tượng trưng, giữa ý thức và tâm linh, giữa hiện thực và huyền ảo

Trang 24

1.2 NGUYỄN DANH LAM VỚI NỖ LỰC ĐỔI MỚI TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỈ XXI

1.2.1 Nguyễn Danh Lam – một nhà văn trẻ say viết, đam mê sáng tạo

Nguyễn Danh Lam sinh năm 1972, tốt nghiệp Đại học Mĩ thuật thành phố

Hồ Chí Minh năm 2001 Tác phẩm đầu tay của anh là một tập thơ mang tên

“Tìm”, được sáng tác năm 1998 khi anh còn là sinh viên trong trường mĩ thuật

“Tìm”, như một sự thể nghiệm tài năng, một cuộc tìm kiếm đam mê, một sự lựa chọn con đường nghệ thuật Và cho đến hôm nay, con đường nghệ thuật anh đang bước đi đã trả lời cho những kiếm tìm năm nào Đó là sự lựa chọn là một nhà văn chứ không phải một nhà thơ, là những tác phẩm tiểu thuyết chứ không

phải hội họa Sau tập thơ Tìm, anh đã ra mắt liên tiếp các tác phẩm văn xuôi lôi cuốn người đọc: tiểu thuyết Bến vô thường, tiểu thuyết Giữa vòng vây trần gian, tập truyện ngắn Mưa tháng mười một, tiểu thuyết Giữa dòng chảy lạc, tiểu thuyết Cuộc đời ngoài cửa…

Một nhà văn đã từng nhận định về hoạt động lao động nghệ thuật của người nghệ sĩ, rằng không có may mắn trong sáng tác, không có chỗ cho những trò lừa gạt, điều tốt nhất anh có thể viết là con người tốt nhất của anh (Henry David Thoreau) Nguyễn Danh Lam là một nhà văn như thế, không phải do may mắn trong sáng tác, mà tác phẩm của anh là cả một quá trình lao động nghệ thuật cật lực Theo như anh từng chia sẻ: “Năm 16 tuổi, tôi sống một mình coi cái rẫy cà phê ở Đăk Lăk cho đến 20 tuổi Không điện, không nước, không một tiếng người Thậm chí nhiều khi không ăn Chỉ có một tủ sách nhỏ bầu bạn Tôi bắt đầu làm thơ Có đêm viết 7- 8 bài một cách tự nguyện, không biết đăng báo nào, hay gửi cho ai đọc Có lẽ tôi đã mê chữ từ đó Ngoảnh đi ngoảnh lại, cũng đã 24 năm” Nguyễn Danh Lam đã từng thừa nhận: “Tôi không phải tạng có đủ nội lực

để viết ào ạt mà chẳng cái nào giống cái nào” Để có đủ nội lực để viết, nhà văn

đã có một niềm say mê từ nhỏ là đọc, đọc nhiều, đọc đều, “trung bình tháng 3- 4

Trang 25

cuốn sách”, vì theo anh “đó là cách để tiếp tục thèm viết và có thể viết tiếp” Nhà văn đã đọc say sưa các tác giả lớn như Tolstoi, Dostoievsky, Turghenev, Balzac, Hugo, La Quán Trung, Ngô Thừa Ân, Thi Nại Am, Lỗ Tấn, Milan Kundera, Coetzee, Naipaul, Murakami, Mạc Ngôn, Lý Nhuệ…[24]

Nhà văn Hoài Nam đã nhận xét về Nguyễn Danh Lam: “Nghiệp của y là viết Viết văn Cái nghiệp này có lẽ mọc mầm từ lúc y “chuẩn bị sống”, tức là từ lúc y làm thằng canh rẫy Khi ấy, trong giai đoạn mà y gọi là kinh hoàng ấy, đói

mờ mắt nên y ra sức ngốn ngấu văn học cổ điển Pháp, Nga, Trung từ tủ sách vài trăm cuốn của ông bố, cái tủ sách ông luôn gìn giữ và mang theo bất chấp những tao loạn của thời cuộc” [39]

Vì niềm đam mê, Nguyễn Danh Lam tâm niệm rằng trong quá khứ, anh đã sống nhiều vùng miền, sống nhiều cảnh đời, nhưng anh vẫn muốn tiếp tục được được đi, được sống, và chắc chắn là để được viết nhiều hơn

1.2.2 Nguyễn Danh Lam và tƣ duy nghệ thuật tiểu thuyết

Thuộc đội ngũ nhà văn trẻ đã và đang có nhiều đóng góp cho nền tiểu thuyết đương đại, Nguyễn Danh Lam không nằm ngoài tác động của tư duy nghệ thuật tiểu thuyết thời kỳ đổi mới Bên cạnh đó, nhà văn vẫn tạo cho mình những nét riêng trong lối viết và cả tư duy nghệ thuật

Trước hết, sự cách tân tư duy tiểu thuyết đầu thế kỉ XXI bắt nguồn từ thay đổi trong quan niệm nghệ thuật về con người Văn xuôi từ sau 1975 đến nay, quan niệm nghệ thuật về con người đang dần hướng về con người cá nhân, con người của những số phận riêng tư trong mối quan hệ nhiều chiều của đời sống xã hội Nhờ đó các nhân vật tồn tại như một nhân cách, chứ không còn là một ý

niệm Và nó đã trở thành đối tượng thẩm mĩ quan trọng của văn xuôi Việt Nam

đương đại Tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam không nằm ngoài sự cách tân trong quan niệm nghệ thuật về con người như vậy

Trang 26

Đặc điểm nổi bật trong tư duy tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam là chịu ảnh

hưởng của văn học hiện sinh sâu đậm Cái thế giới trong tiểu thuyết của nhà văn

là một thế giới cực kỳ phi lí, trong đó là những con người cá nhân cô đơn, lạc loài, vong thân, bị bỏ rơi và tha hóa một cách nghiệt ngã Cũng như các nhà hiện sinh, tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam chủ yếu là cách nêu và trả lời câu hỏi “Con

người, anh là ai?” Jean Paul Sartre cho rằng, bị ném vào trong thế giới hiện sinh

như một thách thức, con người là thực thể cô đơn, bé nhỏ và bơ vơ, thiếu vắng

điểm tựa Nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam từ Bến vô thường, Giữa

vòng vây trần gian, Giữa dòng chảy lạc đến Cuộc đời ngoài cửa đều là những

con người mang ám ảnh cô đơn, lẻ loi, lạc loài trong chính thế giới mình đang

tồn tại Đó là Thức, là anh, là ông…mỗi người một hoàn cảnh, một cuộc đời

nhưng đều mang chung một nỗi ám ảnh về sự cô đơn, vô định giữa cuộc đời đầy phi lí Họ đều là những vong thân mang nỗi ám ảnh về thân phận với câu hỏi luôn day dứt “Tôi là ai ?”, “Tôi là ai giữa cuộc đời này?” Để trả lời được câu

hỏi đó, họ cũng đều mang đặc điểm chung là “dấn thân”, “nhập cuộc” lên đường

tìm kiếm để tự tìm ra bài học cho chính bản thân mình Những càng đi, càng tìm kiếm họ càng thấy bế tắc, bất lực và mãi không trả lời được câu hỏi lúc ban đầu Cùng với Nguyễn Danh Lam, một số tác giả đầu thế kỷ XXI cũng chịu ảnh hưởng sâu đậm của văn học hiện sinh như hiện tượng Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh…

Cùng với cảm quan hiện sinh, tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam cũng chịu sự ảnh hưởng của cảm quan hậu hiện đại Đó là một kiểu cảm nhận đời sống đặc thù thể hiện trạng thái tinh thần của thời đại là nhận thấy sự đổ vỡ của những trật

tự đời sống, sự đảo lộn trong các thang giá trị trong đời sống xã hội, sự mất niềm tin, bơ vơ, lạc loài, vong thân, tâm trạng hoài nghi và tình trạng bất an của con người Nhiều tác giả trẻ trong dòng văn học này như Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy Anh, Nguyễn Việt Hà…đều phản ánh một cuộc sống là sự ám ảnh bởi sự

Trang 27

khủng hoảng niềm tin, sự đổ vỡ của những trật tự đời sống xã hội và gia đình, sự đánh mất bản ngã, sự băng hoại đạo đức, sự cô đơn, bơ vơ, lạc loài, họ khắc khoải đi tìm bản ngã, tìm một giá trị nhân bản trên cái đời sống đổ nát, và loay hoay lí giải, hóa giải những nỗi đọa đày con người từ kiếp trước…nhưng rồi tất

cả đều vô vọng, bất lực Cũng vậy, tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam là nỗi ám ảnh

về những phận người nhàn nhạt, buồn chán, có thực tài, có đạo đức nhưng lại “lơ mơ” trước những tình huống trong cuộc sống và trở nên lạc lõng giữa thế giới loài người đầy phi lí Và đỉnh điểm của nỗi ám ảnh và trạng thái tâm lí của con người đó

là cảm giác bất lực một cách toàn diện, không lối thoát của người trong cuộc

Bàn về tư duy tiểu thuyết, tác giả Nguyễn Mạnh Hà cho rằng, tư duy tiểu thuyết được nhận diện bởi bốn yếu tố sau: 1 Sự trần thuật không khoảng cách, nói khác đi là sự trần thuật ở điểm nhìn hiện tại, ở cái chưa hoàn thành; 2 Giọng điệu và ngôn ngữ: như đã nói, giọng điệu đó là giọng điệu xoi mói, giễu cợt, có sắc điệu xót xa, là chất giọng của đời thường của ngôn ngữ đời thường vốn sinh động và giàu sắc thái, không thuần khiết; 3 Sự bất định, nói rõ hơn đó là những

dự cảm của tác giả về cuộc đời, có thể bắt gặp trong tác phẩm những bất trắc, những sự không đoán lường, những chân thật của cõi lòng kiếp hiện sinh; 4 Sự

tự do, kết cấu mở của tác phẩm: kết cấu mở được hiểu là việc nhà văn "tạo ra tác phẩm của mình giống như cuộc sống anh ta miêu tả nó cứ tự nhiên tuôn chảy, độc lập với anh ta"(Koginov) [18]

Tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam ẩn chứa những dự cảm mang tính hoài nghi,

bế tắc nhưng cũng không hoàn toàn vô vọng trước cuộc sống, theo quan niệm chừng nào anh còn băn khoăn đi tìm bản ngã, tìm kiếm ý nghĩa cuộc đời là khi

đó cuộc đời vẫn đang có ý nghĩa Với kết cấu phân mãnh, kết cấu mở, tác giả viết nên những tiểu thuyết theo dòng chảy tự nhiên của cuộc sống hiện thực, tự nhiên như dòng ý thức của con người

Trang 28

Về điểm nhìn trần thuật, tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam hầu như sử dụng cách kể chuyện ngôi thứ ba Với ngôi kể này, người kể chuyện là một người đừng đằng sau câu chuyện quan sát, theo dõi và tường thuật lại câu chuyện Trong trường hợp này, người kể chuyện có thể là tác giả ẩn tàng, có thể là một nhân vật giấu mặt – là sản phẩm sáng tạo của nhà văn Với vị trí kể chuyện như

vậy, ít nhiều người kể chuyện có điểm nhìn của một người “toàn tri”, “biết tuốt”

như trong văn xuôi truyền thống Tuy nhiên, với tư duy đối thoại trong tiểu thuyết đương đại, nhà văn cũng đã lựa chọn cho mình nhiều vị trí khác để

“nhìn”, luân phiên, dịch chuyển điểm nhìn Từ đó, trong tiểu thuyết xuất hiện nhiều góc nhìn xuất phát từ những điểm nhìn khác nhau Đó không chỉ là điểm nhìn của người kể chuyện hay điểm nhìn của tác giả, mà còn là điểm nhìn của người trong cuộc – nhân vật chính, cũng như điểm nhìn từ các nhân vật khác

trong tác phẩm Tiểu thuyết Giữa dòng chảy lạc tồn tại nhiều điểm nhìn: điểm

nhìn của người kể chuyện, điểm nhìn của nhân vật anh, điểm nhìn của người vợ,

điểm nhìn của ông anh rể, điểm nhìn của ông họa sĩ…Trong Cuộc đời ngoài cửa

đó là điểm nhìn của người kể chuyện, điểm nhìn của nhân vật ông, điểm nhìn của cô con gái, của người bạn dạy ngoại ngữ, của người bạn nhà thơ, của người

thanh niên đi nhờ xe, của người đàn ông lạ mặt xuất hiện cuối truyện…Những điểm nhìn khác nhau có khi tách bạch, có khi cùng xuất hiện trong thế đối thoại, tranh biện để giúp người đọc nhận ra được bản chất của vấn đề Sự đa dạng trong điểm nhìn trần thuật khiến tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam mang đến cho người đọc những cái nhìn khác nhau về cuộc đời

Về ngôn ngữ, Nguyễn Danh Lam là một cây bút trẻ được đánh giá là có lối viết khá sung sức và làm chủ được lối viết Là người ham đọc và chịu khó trau dồi viết lách, lại có thế mạnh ở các lĩnh vực nghệ thuật khác như hội họa, thơ ca…nên những yếu tố đó có sự góp phần vào việc sử dụng ngôn ngữ trong tiểu thuyết của nhà văn trẻ này Về ngôn ngữ người trần thuật, nhà văn có sở trường

Trang 29

trong việc sử dụng ngôn ngữ miêu tả nhân vật, miêu tả cảnh thiên nhiên, miêu tả đời sống Với khả năng tạo ra nhiều từ láy giàu hình ảnh, kết hợp với những câu văn mềm mượt, êm ả đi vào lòng người, tiểu thuyết của Nguyễn Danh Lam dễ dàng để người đọc tiếp cận và bị lôi cuốn theo dòng chảy của tác phẩm Với khả năng quan sát tinh tế, tỉ mẫn, tác giả có thể ghi lại những chi tiết đẹp, “có hồn” trong đời sống, trong thiên nhiên, trong thế giới tâm hồn con người Về ngôn ngữ nhân vật, tác giả sử dụng ngôn ngữ đối thoại và độc thoại nội tâm Ngôn ngữ đối thoại được sử dụng với một dung lượng đáng kể trong các tiểu thuyết của ông Thông qua đối thoại, các nhân vật dần hiện ra rõ nét với nhiều đặc điểm như tính cách, nội tâm, trạng thái tâm lý, phản ứng trước hoàn cảnh, ứng xử trước các tình huống cũng như cách nhìn của mình trước các vấn đề đang xảy ra Với ngôn ngữ đối thoại, nhà văn để cho các nhân vật sử dụng lớp từ ngữ thông dụng trong đời sống hằng ngày Đó là lớp từ ngữ mang tính khẩu ngữ, dung tục thuộc đa dạng các tầng lớp trong xã hội Với ngôn ngữ độc thoại, tác giả chủ yếu sử dụng

kĩ thuật dòng ý thức để cho nhân vật tự bộc lộ tâm tư, tình cảm theo “lời nói

trong đầu” của mình Vì thế, ngôn ngữ độc thoại là ngôn ngữ thuộc về cảm

nhận, cảm giác và phát ngôn của nhân vật Ngôn ngữ độc thoại mang tính cá nhân và thể hiện nổi bật thế giới nội tâm của nhân vật Trong tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam, lời độc thoại của nhân vật là phần lời mang tính đối thoại, tranh biện với chính bản thân mình Đó là cuộc đối thoại, tranh biện để tìm lời giải đáp cho

câu hỏi “Tôi là ai giữa cuộc đời đầy phi lí?” Vì thế, phần lời độc thoại

thường gắn với nghệ thuật đồng hiện, có khi vừa quay về với kí ức, kỷ niệm,

có khi lại quay ngay về với thực tại, có khi lại mường tượng ngay đến những giấc mơ xa xôi

Về giọng điệu, tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam chủ yếu mang các giọng như: giọng triết lý, chiêm nghiệm; giọng hoài nghi, cật vấn; và giọng vô âm sắc

Trong Bến vô thường, Giữa vòng vây trần gian, Giữa dòng chảy lạc, Cuộc đời

Trang 30

ngoài cửa, giọng triết lý biểu hiện ở cảm nhận về nhân sinh, cuộc đời; giọng hoài

nghi, cật vấn là những câu hỏi dai dẳng về những phi lí diễn ra trong cuộc sống hằng ngày, và bản thân con người thì sống trong trạng thái buồn chán, không biết trôi về đâu; giọng vô âm sắc là thái độ của tác giả đứng ngoài, khách quan trước câu chuyện đang diễn ra

1.2.3 Cuộc đời ngoài cửa – tiếp nối mạch tƣ duy “lạc thể” của tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam

Nhìn lại bốn tiểu thuyết đã xuất bản của Nguyễn Danh Lam, người đọc dễ dàng nhận thấy một tư duy xuyên suốt từ đầu đến cuối cả bốn tác phẩm Đó là tư duy “lạc thể” Tư duy này là một trong những biểu hiện nổi bật của dòng văn học hiện sinh và hậu hiện đại Trong con mắt của các nhà văn thuộc dòng văn học này, thế giới được nhìn một cách bi quan, chán chường Họ cho rằng thế giới ngày nay mọi giá trị tinh thần đang mất hết ý nghĩa mà không thể bù đắp lại được Theo họ, con người đang bị bỏ rơi trong nỗi cô đơn giữa cái hiện hữu thù nghịch, cho nên cuộc đời chỉ là một sự vô nghĩa

Dấu hiệu nhận biết đầu tiên về nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Danh

Lam đó là sự vô danh, không tên, không tuổi, không lai lịch Thế giới nhân vật

đó chỉ là những gã, ông, anh, cô, ông họa sĩ, cô gái bán bảo hiểm, anh bạn nhà thơ, thằng bé…Từ khi xuất hiện, họ vốn đã là những cá thể nhàn nhạt, trôi nổi giữa cuộc đời Tuy nhiên, dù không ưu ái cho nhân vật lấy một cái tên, nhưng mỗi nhân vật xuất hiện, dù là nhân vật chính hay nhân vật phụ, thì tác giả cũng luôn dành cho nhân vật một sự quan tâm, cảm thông đặc biệt Đó là việc nhà văn tinh tế quan sát từng biểu hiện, cử chỉ của nhân vật Sâu sắc hơn, tác giả luôn đi sâu vào thế giới nội tâm của nhân vật, luôn để cho nhân vật đối diện với bản ngã của mình Để rồi, ai trong số họ cũng đều tuyệt vọng, chán chường nhận ra bản thân mình chỉ là những thân phận con người luôn mang bên mình nỗi cô đơn truyền kiếp Họ chán chường để mọi thứ trôi qua một cách nhạt nhẽo, vô vị mà

Trang 31

không hề tìm thấy một động lực nào để cố gắng, để thay đổi Và rồi, họ cũng

“dấn thân” và “nhập cuộc” để hành động tự do sáng tạo ra “con đường của riêng

mình” như một sự cần thiết phải lựa chọn trong “những tình huống bên bờ vực thẳm” đầy bi kịch [19, tr 76]

Với lối trần thuật từ ngôi thứ ba, được soi chiếu từ nhiều điểm nhìn, cùng với thủ pháp dòng ý thức được sử dụng đậm đặc, trong một không gian tâm tưởng là chủ yếu, nghệ thuật đồng hiện thời gian với các kĩ thuật “đảo thuật”,

“dự thuật”, một số mô - típ thể hiện thân phận phi lí của con người như mô - típ

“lạc đường”, “chạy trốn”, “mê cung vòng tròn” …Nguyễn Danh Lam đã xây

dựng những “lạc thể” khá thành công, phù hợp với ý đồ sáng tạo nghệ thuật của tác giả

Hai tiểu thuyết đầu tay, Bến vô thường và Giữa vòng vây trần gian, tác giả

xây dựng một không gian huyền ảo, siêu thực Điểm chung là trong không gian

ấy đều có những con người “kỳ dị” Ở Bến vô thường là một thế giới nhân vật

không mặt, không tên: hắn, thằng câm, chị mặt rỗ, cô tóc tém, thằng mắt híp, thằng “chữ ký”, lão toét, lão cóc…Họ nhỏ bé, cô đơn, tồn tại giữa cuộc đời vô thường, phi lí với những ngộ nhận, những ân oán, những hi vọng và tuyệt vọng

Và trong mỗi con người đó đều có khao khát hướng tới sự rộng lớn bao la vĩ đại, nhưng có lẽ họ đều nhận ra rằng, sẽ chẳng bao giờ mơ ước đấy thành hiện thực

Ở Giữa vòng vây trần gian là một nỗi ám ảnh về sự lạc lõng, cô đơn cùng cực

của con người giữa biển nhân sinh và bất trắc cuộc đời Xuyên suốt cuốn tiểu thuyết là chuyến đi của nhân vật chính tên Thức Thức chạy trốn cõi nhân gian phi lí để tìm bản ngã của chính mình Nhưng càng tìm càng bị lạc vào mê cung không lối thoát Cùng với Thức là các nhân vật khác không rõ người hay ma, không rõ sống hay đã chết, cứ luẩn quẩn, ẩn hiện như hai ông già trên thuyền, cô gái đã chết mượn khuôn mặt cô gái Thức định chung sống để hiện hồn…Các nhân vật cứ chạy luẩn quẩn trong thế giới tù đày do chính mình tạo ra với đầy

Trang 32

rẫy nỗi sợ hãi vô lí Nghĩa là con người tự lưu đày mình với những tri giác sai lầm Sau cùng, con người cố gắng vùng vẫy để thoát ra thế giới đó vẫn không sao vượt qua được tâm hồn yếu đuối và bị chính bản ngã đè nặng như cái tên của nhân vật chính: Thức

Đến Giữa dòng chảy lạc và Cuộc đời ngoài cửa, tác giả đưa người đọc trở

về với thế giới cuộc sống đời thường Trong thế giới đời thường ấy là những con người có thực, nhưng hết thảy họ đều mang điểm chung trong tư duy của nhà

văn, đó là những con người nhỏ bé, cô đơn, lạc loài Trong Giữa dòng chảy lạc,

nhân vật là những anh, cô ấy, ông họa sĩ, vợ ông họa sĩ, ông anh rể, bà chị gái,

cô gái ở lớp học ngoại ngữ, ông chủ quán… “Đó là những nhân vật cứ chập chờn, chấp chới, nửa khôn nửa dại, nửa mê nửa tỉnh, nửa tinh nửa lú trong sách của y, đôi khi, chính là cái Ta giữa cuộc đời đầy nhọc mệt này Trót sinh ra làm người, chẳng biết làm sao nữa, cứ thế phải sống với phận người cho đến suốt kiếp‟‟ (Hoài Nam) Thử điểm qua các nhân vật trong tiểu thuyết này: “Ông họa

sĩ, một người nghệ sĩ có tài năng, có đạo đức, được nể trọng nhưng rồi đến lúc gần cuối cuộc đời lại phải sống mòn mỏi nơi đất người “như cái cây già bứng

gốc mà trồng trên đất mới”, nên còi cọc, héo hon, tàn tạ và xác định “bỏ lại linh

hồn và trôi nốt phần thể xác cho những tháng năm còn lại” “Ông anh rể”, quanh năm suốt tháng hùng hục kiếm sống trên xứ người, có khi cả ngày vợ chồng không nhìn thấy mặt nhau, khi về nước thì hối hả tìm vui thú “hạ cấp” bằng những đồng ngoại tệ nhọc nhằn tích cóp “Cô gái bán bảo hiểm” - vợ của nhân

vật anh, cũng là một cô gái chịu nhiều sức ép từ cuộc sống xã hội, ở thế mất

thăng bằng, thiếu vắng niềm tin vào cuộc sống, cuối cùng là chông chênh, quá sức chịu đựng nên phải lựa chọn ra đi Nhưng, đỉnh cao trong khắc họa nhân vật

vô danh, “lạc thể” trong tiểu thuyết này phải là nhân vật anh Đây là nhân vật tập trung ở mức cao nhất sự nhạt nhòa, sự vô danh, sự tầm thường trong Giữa dòng

chảy lạc của Nguyễn Danh Lam Anh không nghề nghiệp, và cũng chẳng mấy

Trang 33

mặn mà với chuyện phải tìm cho mình một công việc Anh sống chủ yếu bằng đồng tiền bao cấp của bà chị gái “ở bển” Anh không lấy gì làm kiêu hãnh với

kiếp sống tầm gửi, có lúc cũng cảm thấy áy náy, tự ti nhưng cũng không đến

mức khiến anh phải bận tâm suy nghĩ nhiều Anh đối xử tốt với mọi người,

nhưng tấm lòng của anh không đủ lớn để có thể biến thành một hành vi mang

tính hữu ích nào Anh thụ động, nhờ nhờ, bất lực Anh đã để cho nhiều năm

tháng trôi qua trong trạng thái thụ động, nhờ nhờ, bất lực đó Tệ hại hơn, đến khi

anh ý thức được trạng thái thụ động, nhờ nhờ, bất lực của mình, anh vẫn không

biết làm thế nào cũng như không hề có động thái nào để thay đổi tình

thế Anh buông mình xuôi theo dòng chảy của cuộc đời, phó thác bản thân mình

cho mọi ngẫu nhiên, được mất Liên tưởng đến nhân vật Hộ trong Đời thừa của Nam Cao, Hộ cũng để cuộc sống trôi qua vô vị, nhàn nhạt, vô dụng Nhưng trong hoàn cảnh đó, Hộ luôn day dứt, trăn trở, đau đớn về hoàn cảnh của mình và

không ngừng đấu tranh để tìm lối thoát Thế nhưng, ở anh là sự thờ ơ, lãnh đạm,

thậm chí đầu hàng trước dòng chảy cuộc đời mà chưa hề có một động thái cố

gắng nào Nói rõ hơn, đó là anh không hề muốn cố gắng, cũng không bận tâm

suy nghĩ đến việc có nên cố gắng hay không Nguyễn Danh Lam đã đặt nhân vật vào chỗ tận cùng của sự vô nghĩa trong cuộc sống Nhân vật chính thực chất chỉ còn là một thân xác con người đang cố đi cho hết hành trình cuộc đời

Ở tiểu thuyết mới nhất, Cuộc đời ngoài cửa, những “lát cắt hiện sinh” hiện ra khá rõ nét Nhân vật trung tâm là ông – một thầy giáo bỏ dạy về hưu sớm bởi những đổ vỡ cả trong cuộc sống gia đình và nghề nghiệp Ông – một con

người luôn hết lòng vì tha nhân, biết quên đi bản thân mình để phục vụ người khác Một người luôn có những ý niệm tốt đẹp về con người, về cuộc đời Một con người rất cần cho cuộc sống nhân bản nhưng oái ăm thay, con người đó lại

trở nên lạc lõng giữa đám đông hiện tại Cùng với ông, là các thân phận lạc loài khác trong tiểu thuyết này: nhân vật cô con gái cũng là một cá nhân trẻ tuổi

Trang 34

mang cảm giác bi quan, mất niềm tin vào cuộc sống nên nhìn cuộc sống với một thái độ vô cảm, lạnh lùng và bàng quan trước mọi chuyện, mọi người Nhân vật

người thanh niên đau ốm “nằm vạ” trên chiếc xe của hai cha con – một vong

thân yếu đuối đến đáng thương, cô đơn không một điểm tựa, bơ vơ không một chốn nương nhờ Nhân vật ông già trong bàn rượu, nhân vật cô gái phục vụ quán rượu, nhân vật cô giáo vùng cao nơi quanh năm suốt tháng chẳng tìm ra được một người đàn ông để chở che, nương tựa…Họ là những con người đáng thương Họ tồn tại giữa cuộc đời này Họ biết cuộc đời phi lí nhưng mặc nhiên chấp nhận những điều phi lí đó Bởi họ làm được gì khác ngoài sự bất lực, đành phó mặc cho phần số định đoạt

Nếu trong Giữa dòng chảy lạc, tác giả đã xây dựng một kết thúc mở, hình

ảnh cuối cùng của tác phẩm mang lại niềm hi vọng, khi nhân vật chính bất chợt tìm thấy bộ phim No country for old men (Oscar 2008, chuyển thể từ tác phẩm văn học cùng tên của nhà văn Cormac McCarthy) Với cái kết mở này, có thể

anh lại tiếp tục cuộc sống lay lắt của mình nhưng cũng có thể sẽ bắt lấy cơ hội để

thoát khỏi cuộc sống lay lắt đó như nhân vật chính trong No country for old

men đã làm Nhưng đến Cuộc đời ngoài cửa, nhà văn đã đóng lại hoàn toàn cánh

cửa hi vọng cho cuộc đời nhân vật Đó là truyện kết thúc bằng cái chết của nhân vật chính Cái chết là câu trả lời cho sự tuyệt vọng, bế tắc, bất lực đến hoàn toàn không cách nào cứu rỗi Đó là cái chết của sự cùng đường, chết như một sự

“không thể khác” và như định mệnh

Trang 35

2.1.1 Điểm nhìn bên ngoài – cái nhìn “lạnh”, toàn tri

Điểm nhìn bên ngoài có thể hiểu là vị trí của người kể chuyện đứng bên ngoài câu chuyện, quan sát sự kiện, quan sát nhân vật để tường thuật lại mọi chuyện với độc giả Với điểm nhìn này, người kể chuyện như một nhân vật ẩn tàng, không tham gia vào câu chuyện, không tiếp xúc với nhân vật mà chỉ đứng

đằng sau nhân vật, đẩy nhân vật ra phía trước để tự nhân vật “diễn xuất” cùng

với các sự kiện trong tác phẩm Với điểm nhìn bên ngoài, tác giả để người trần thuật và nhân vật có khoảng cách nhất định với mục đích để người trần thuật sẽ

có cái nhìn khách quan, tỉnh táo kể lại, tả lại các nhân vật và sự kiện

Ở điểm nhìn này, người trần thuật được nhà văn ban cho khả năng “biết tuốt”, “biết hết” mọi chuyện đã, đang xảy ra để tái hiện mọi sự vật hiện tượng được phản ánh một cách khách quan Các nhân vật, sự kiện hiện lên với vẻ bề ngoài mà không có sự phân tích bản chất bên trong

Nhìn từ bên ngoài, người kể chuyện trong Cuộc đời ngoài cửa đứng vào

một góc để quan sát và kể lại chuyện với sự kiện và con người như vốn

có Nhưng đằng sau những câu văn thản nhiên tưởng như tách mình ra khỏi sự đồng cảm của nhân vật ấy lại ẩn chứa nỗi lòng đau đáu của tác giả như muốn chia sẻ với nhân vật của mình

Tác giả lựa chọn điểm nhìn bên ngoài nhằm tô đậm tính khách quan hiện thực Mặc dù chọn trần thuật khách quan, nhưng người kể chuyện không hoàn

Trang 36

toàn lạnh lùng Trong tác phẩm bằng cách này hay cách khác, khi trực tiếp lúc gián tiếp, chủ thể trần thuật vẫn khéo léo bộc lộ cảm xúc của mình trước những

sự việc mà mình mô tả

Cuộc đời ngoài cửa có chủ thể trần thuật ngôi thứ ba với điểm nhìn bên

ngoài là lối kể chuyện khách quan Dưới góc độ là người kể chuyện, đứng bên ngoài câu chuyện, ghi lại diễn biến của sự việc và tường thuật lại câu chuyện y nguyên như nó vốn có Mở đầu tác phẩm, người kể chuyện đã dẫn dắt người đọc

vào một câu chuyện về nhân vật chính – không tên, mà chỉ xưng là ông Câu

chuyện bắt đầu từ một góc quán gần trường học: “Cái quán đã ở đó, mấy mươi năm trời xa ngái, từ ngày ông mới về trường Hai gốc xoài cổ thụ dưới vườn thực vật vươn lên, che xanh tầm nhìn những ô cửa sổ hướng ra phía chân trời Lũ học trò phá ranh giới giữa trường và phố bằng những lỗ thủng nhỏ, tranh thủ lúc vắng thầy chui ra quán hút thuốc lá trộm Khi mấy đứa bạn đứng trên cửa sổ đưa tay vẫy, chúng lại nhớn nhác ùa về Ông bà chủ bày mấy cái bàn, bán kem, chè, nước ngọt Sau phát triển bán cả đồ ăn Cách đây mươi năm, bia hơi, bia chai, lai

rai, chiếm chỗ mỗi buổi chiều” [31, tr.5] Với cách dẫn chuyện như vậy, người

đọc biết rằng người kể chuyện đang ở đâu đó, đang ngồi ở góc nào đó để quan sát và kể lại cuộc gặp gỡ trên

Lời kể của người kể chuyện không nhiều, nhưng tác giả đã khéo léo lồng ghép, chia tách để người đọc vẫn nhận ra được đang có một người kể chuyện

“tàng hình”, ẩn náu, lùi ra sau vẫn theo dõi câu chuyện, theo sát nhân vật và xuất hiện đúng lúc để tách nhân vật ra khỏi dòng suy nghĩ, kéo nhân vật về tới thực tại và người kể chuyện lại tiếp tục dẫn dắt người đọc vào câu chuyện đang diễn

ra như nó vốn có

Với điểm nhìn bên ngoài, người kể chuyện luôn giữ một khoảng cách nhất định với nhân vật, để người kể chuyện thể hiện điểm nhìn của mình một cách riêng biệt, khách quan Qua lời người kể chuyện, người đọc sẽ nhận diện được

Trang 37

nhân vật ở vẻ bề ngoài như hoàn cảnh xuất thân, diện mạo, đôi nét tính cách, thói

quen, nghề nghiệp…Trong Cuộc đời ngoài cửa, nhân vật ông vốn là một thầy

giáo yêu nghề, có đạo đức, sớm từ giã giảng đường vì những hành động tiêu cực,

đạo đức xuống cấp của học sinh, vì gia đình đổ vỡ; ông tìm niềm vui bằng cách

chọn một cuộc hành trình vòng quanh đất nước để tìm đến những niềm vui mới, quên đi những nát vỡ trong cuộc sống gia đình và cả sự nghiệp Trong cuộc hành trình dài ngày đó, cùng với đứa con gái, hai cha con đã gặp gỡ không ít những

nhân vật “kì lạ”, trải nghiệm không ít những điều “khó hiểu”, “kỳ quái” của cuộc

sống đầy phức tạp Thông qua những dữ kiện mà người kể chuyện cung cấp, cùng với cách mà nhân vật tự thể hiện, người đọc sẽ tự khám phá, đánh giá, nhận xét dựa trên cái vẻ bề ngoài đó

Với điểm nhìn bên ngoài, điểm nhìn lạnh, toàn tri, người kể chuyện có một góc quan sát rộng, tựa như người đứng từ bốn phía bên ngoài, đằng sau, bên trên, phía trước để bao quát, khái quát vấn đề Ở góc nhìn đó, người kể chuyện có khả năng thâu tóm mọi diễn biến của sự kiện, biết tuốt những hành động của nhân vật, từ đó người kể chuyện biết cách đặt nhân vật trong tương quan với hoàn cảnh để nhân vật tự bộc lộ nội tâm, tâm lí, tình cảm, ứng xử của mình trước hoàn cảnh đó

Trong Cuộc đời ngoài cửa, điểm nhìn bên ngoài còn thể hiện ở những

đoạn miêu tả thuần túy cảnh thiên nhiên, thời tiết, cây cỏ…như làm nền cho diễn biến tâm lí nhân vật Dường như, thiên nhiên luôn là người bạn đồng cảm, thấu hiểu cùng nhân vật trong mọi hoàn cảnh Điều này, có lẽ cũng là sự đồng cảm của tác giả dành cho nhân vật: “Mấy mảnh vườn nhỏ được người dân khoét ngang vách núi, trồng các loại rau màu Sau mấy ngày mưa, cây cỏ đẫm mình trong sắc lá xanh rười rượi, gió từ biển thổi lên mơn man da mặt‟ [31, tr 35]

Trước khung cảnh thiên nhiên đó, ông tìm được “một cảm giác yên bình, xa

Trang 38

vắng đến nào lòng” Và, nhận ra rằng “phải chăng, đó chính là cảm giác bạn ông

tìm thấy nơi đây?”

Đó là những con đường ven biển đầy nắng gió nơi hai cha con đi ngang qua: “Những ngày mới đột nhiên nóng hập, dù theo lịch đã vào mùa đông Dải duyên hải thuần một sắc trắng, pha chút vàng rơm, không phân định sỏi đá hay cây cối Lâu lâu, một khoảng biển xanh ngắt lộ ra” [31, tr 65]

Rất nhiều những đoạn văn miêu tả thiên nhiên được xen kẽ giữa những dòng tâm trạng miên man của nhân vật Đó như là để xoa dịu những ngổn ngang

đang chất đầy suy tư của ông, và cũng là “cái cớ” để kéo nhân vật trở về với thực tại: “Những cồn cát đầy nắng vẫn trải dài, song sắc xanh đã dần chiếm chỗ Dải

duyên hải bắt đầu được xen bởi những cánh đồng lúa nước, những ruộng muối, những làng mạc mang nhiều màu sắc thân thuộc hơn đối với ông” [31, tr 90] Trong phần cuối tác phẩm, có một nhân vật không tên xuất hiện trong

đoạn cuối hành trình của nhân vật ông, đó là “một người đàn ông tầm tuổi ông, vai khoác ba lô, ngực đeo máy ảnh, tóc râu lòa xòa cùng cái nhìn sắc như nước” Một người đàn ông có diện mạo khác người, mà theo ông nhận định rằng “một hình dong chẳng dễ gặp, cho dù ở đâu” [31, tr 255] Phải chăng, đây chính là

hình ảnh của tác giả - người giấu mặt, ẩn danh trong tác phẩm, và đến phút cuối cùng mới xuất hiện để đối thoại cùng với nhân vật, để trao đổi với nhân vật về góc nhìn của riêng mình về những chuyện đã xảy ra

“Người đàn ông” cũng “đi một mình, lang thang và đến đây với một chai

rượu” [31, tr 256] Hoàn cảnh gần giống nhau, trạc tuổi ông, nhưng có điều, cách nhìn của nhân vật này hoàn toàn khác với ông, tỉnh táo hơn nhiều, thực tế

hơn nhiều và những phát ngôn dường như có vẻ “toàn năng”, “biết tuốt”, “biết hết mọi chuyện” trên đời Với người đàn ông ấy, có vẻ như mọi điều hắn nói ra

đều đúng, đều chí lí, đều thuyết phục, và theo cách nhìn nhận của ông là “những

câu có phần hơi sách vở” [31, tr 258]

Trang 39

Hai nhân vật đối thoại với nhau về “số phận”:

- Ông là nghệ sĩ nhiếp ảnh à?

- Không, tôi chẳng là gì hết Chỉ là…tôi thôi Nghe có vẻ gàn, nhưng thực vậy đấy

- Được là chính mình, tuyệt quá rồi còn gì

- Điều đó do ông chọn lựa, Ai ngăn cản nổi

- Cũng tùy vào số phận nữa chứ

- Số phận cũng có Nhưng trong cái dòng số phận đẩy đưa ấy, mình vẫn có thể là mình Tất nhiên, dưới góc độ nào đó thôi [31, tr 256- 257]

Với giọng văn trải đời, già dặn, người đàn ông như đứng trên ông một bậc

về độ từng trải, chiêm nghiệm cuộc đời

Đặc biêt, nhân vật người đàn ông đã có một số phát ngôn trùng với phát

ngôn của nhà văn, cụ thể là về cách nhìn đời một cách lướt qua, xem như đó là cách tận hưởng cuộc sống, trải nghiệm cuộc đời, con người, không cần phải để tâm, hay lưu giữ những chuyện phi lí trong cuộc đời này

Phát ngôn của người đàn ông: “Rất đơn giản, máy của tôi không lắp phim

Tôi đã đi khắp nơi, chụp rất nhiều kiểu ảnh, nhưng máy của tôi chẳng bao giờ lắp phim Cái sướng là lúc mình giơ máy, nhìn thấy đối tượng trong khung hình Vậy coi như mình đã có một kiểu ảnh rồi Dùng phim lưu giữ để làm gì, vô

nghĩa như nhau hết” [31, tr 258], hay “ông đã ra đến đây, chắc hẳn có bao nhiêu

điều đã thấy, đã nghe, trên suốt dọc hành trình Nhưng thực sự, ông và mọi thứ chỉ lướt qua nhau thôi Ông vẫn là ông, mọi thứ ấy vẫn cứ là mọi thứ ấy, có gì

khác đâu Ông có muốn nó khác đo, nó cũng chẳng khác đi được” [31, tr 258]

Phát ngôn của tác giả: “Đó là cái nhìn chủ quan của tôi về nhân sinh Những nhân vật ấy đi lướt qua cuộc đời Trong cuộc đời, chúng ta đi "lướt qua nhau" Ai có thể biết được tên tuổi, quá khứ, tương lai của một người thoáng thấy trên hè phố? Tất cả đều vô lai lịch trong mắt người khác”

Trang 40

Phát ngôn của người đàn ông: “ông cứ nhớ tôi là gã đàn ông với cái máy chụp ảnh không phim, thế được rồi Tôi có nói tên ra, rồi ông cũng sẽ quên thôi Hàng tỉ kẻ đã biến mất trên hành tinh này, lẫn vào nhau hết Ông có biết tên một

gã đàn ông, chết giữa bầy voi ma mút cách đây mấy chục ngàn năm không?” [31, tr.260]

Phát ngôn của tác giả: “Tất cả các nhân vật trong tiểu thuyết cũng như truyện ngắn của tôi từ trước đến nay đều vô danh, hoặc nếu “hữu danh” thì cũng chỉ một “cái gì đó” để gọi vậy, chứ không phải tên! Ngoài tên, họ còn không có

cả lai lịch và nhiều thứ thuộc về cá nhân khác nữa”

Như vậy, điểm nhìn của tác giả đã được thể hiện phần nào qua điểm nhìn

của người đàn ông xuất hiện cuối truyện Người đàn ông đứng ngoài câu chuyện,

nghe kể lại và đã đưa ra những nhận định, đánh giá của mình một cách khách

quan, hơn nữa lại nhìn nhận một cách “toàn tri”, lạnh lùng, “biết tuốt” mọi

chuyện như chuyện như chuyện của chính bản thân mình

2.1.2 Điểm nhìn bên trong – những soi chiếu dƣ chấn tinh thần

Theo lí thuyết tự sự học, chủ thể trần thuật ngôi thứ ba theo điểm nhìn bên trong là hình thức trần thuật mà người kể chuyện lấy thế giới nội tâm nhân vật làm trung tâm, làm vị trí chỗ đứng để kể chuyện, người kể chuyện nhìn các sự vật, hiện tượng, con người theo cách nhìn, cách nhận xét, cách suy nghĩ, đánh giá của nhân vật Dòng suy nghĩ nội tâm của nhân vật trở thành nguồn mạch xuyên suốt dẫn dắt nội dung câu chuyện

Theo Đinh Trọng Lạc: “Người trần thuật tách mình ra diễn biến câu chuyện, dẫn dắt câu chuyện từ ngôi ba, nhưng đến lúc nào đó để cho sự tường thuật được sinh động lại ủy thác cho một nhân vật, để cho nhân vật nói năng y

nguyên như cuộc sống thật” [26, tr 170]

Có thể nói rằng, người kể chuyện mang điểm nhìn bên trong khi người kể chuyện cũng là nhân vật ngay trong câu chuyện Như vậy có thể hiểu điểm nhìn

Ngày đăng: 12/05/2021, 20:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Thái Phan Vàng Anh, “Khuynh hướng hiện sinh trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986” http://vannghequandoi.com.vn/Binh-luan-van-nghe/khuynh-huong-hien-sinh-trong-tieu-thuyet-viet-nam-sau-1986-7357.html,truycập ngày 15/12/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuynh hướng hiện sinh trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986
[2]. Thái Phan Vàng Anh (2010), “Giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại”, https://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/giong-dieu-tran-thuat-trong-tieu-thuyet-viet-nam-duong-dai, truy cập ngày 16/12/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Tác giả: Thái Phan Vàng Anh
Năm: 2010
[3]. Thái Phan Vàng Anh, “Tiểu thuyết Việt Nam đầu XXI từ góc nhìn hậu hiện đại” http://bichkhe.org/home.php?cat_id=147&id=1052, truy cập ngày 16/12/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam đầu XXI từ góc nhìn hậu hiện đại
[4]. Thái Phan Vàng Anh, “Thời gian trần thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại”, http://hueuni.edu.vn/portal/data/doc/tapchi/54_1.pdf, truy cập ngày 23/12/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời gian trần thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại
[5]. Aristotle (nhiều người dịch, 2007), Nghệ thuật thi ca, NXB Lao động trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thi ca
Nhà XB: NXB Lao động trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây
[6]. Đào Tuấn Ảnh, “Quan niệm về thực tại và con người trong văn học hậu hiện đại” http://phebinhvanhoc.com.vn/quan-niem-thuc-tai-va-con-nguoi-trong-van-hoc-hau-hien-dai/, truy cập ngày 15/01/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm về thực tại và con người trong văn học hậu hiện đại
[8]. Lê Huy Bắc (chủ biên, 2013), Phê bình văn học hậu hiện đại Việt Nam, NXB Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình văn học hậu hiện đại Việt Nam
Nhà XB: NXB Tri thức
[9]. Phạm Vĩnh Cư – “M. Bakhtin với lý luận tiểu thuyết” - https://phebinhvanhoc.com.vn/m-bakhtin-voi-ly-luan-tieu-thuyet/, truy cập ngày 17/1/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: M. Bakhtin với lý luận tiểu thuyết
[10]. Trương Đăng Dụng (2004), Tác phẩm văn học như là quá trình, NXB Khoa học Xã hôi, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học như là quá trình
Tác giả: Trương Đăng Dụng
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hôi
Năm: 2004
[11]. Nguyễn Hồng Dũng, “Tâm thức hậu hiện đại trong tiểu thuyết Việt Nam 1986–2010”, http://tapchisonghuong.com.vn/tin-tuc/p0/c7/n24144/Tam-thuc-hau-hien-dai-trong-tieu-thuyet-Viet-Nam-1986-2010.html,truy cập ngày 18/12/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm thức hậu hiện đại trong tiểu thuyết Việt Nam 1986–2010
[12]. Đặng Anh Đào (1995), Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương tây hiện đại, NXB GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương tây hiện đại
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1995
[13]. Phan Cự Đệ (1978), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, tập 2, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, tập 2
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1978
[14]. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu trong thơ trữ tình, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trong thơ trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2002
[15]. Trịnh Bá Đĩnh (2002), Chủ nghĩa cấu trúc và văn học, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa cấu trúc và văn học
Tác giả: Trịnh Bá Đĩnh
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2002
[16]. Trần Minh Đức (2009), “Bàn về khía cạnh trần thuật trong tiểu thuyết”, http://vietvan.vn/vi/bvct/id1206/Ban-ve-khia-canh-tran-thuat-trong-tieu-thuyet/, truy cập ngày 08/12/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về khía cạnh trần thuật trong tiểu thuyết
Tác giả: Trần Minh Đức
Năm: 2009
17]. Hoàng Cẩm Giang (2015), “Tiểu thuyết đương đại như là một thế giới trò chơi”, http://www.spnttw.edu.vn/Pages/ArticleDetail.aspx?siteid=1&sitepageid=306&articleid=4369, truy cập ngày 22/12/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết đương đại như là một thế giới trò chơi
Tác giả: Hoàng Cẩm Giang
Năm: 2015
[18]. Nguyễn Mạnh Hà, “Tư duy tiểu thuyết - khái niệm của hệ hình” http://vannghedanang.org.vn/nonnuoc/chitiet.php?id=884&so=9, truy cập ngày 27/12/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư duy tiểu thuyết - khái niệm của hệ hình
[19]. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên, 2004), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: NXB Giáo dục
[21]. Đào Duy Hiệp (2008), Phê bình văn học từ lý thuyết hiện đại, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình văn học từ lý thuyết hiện đại
Tác giả: Đào Duy Hiệp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
[33]. Phạm Quang Long – Đào Cư Phú, Lối kể chuyện khuếch tán trong tiểu thuyết có yếu tố hậu hiện đại, http://vhnt.org.vn/tin-tuc/van-hoc-nhiep-anh/30187/loi-ke-chuyen-khuech-tan-trong-tieu-thuyet-co-yeu-to-hau-hien-dai, truy cập ngày 15/3/2017 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w