1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của tính mùa vụ đến hoạt động du lịch tỉnh thừa thiên huế

87 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh Hưởng Của Tính Mùa Vụ Đến Hoạt Động Du Lịch Tỉnh Thừa Thiên - Huế
Tác giả Hồ Thị Diệu Ái
Người hướng dẫn Th.S. Phạm Thị Tú Trinh
Trường học Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Văn Hóa Học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2017
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 883,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Ảnh hưởng của tính mùa vụ đến hoạt động du lịch tỉnh Thừa Thiên - Huế” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, không sao

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN

HỒ THỊ DIỆU ÁI

ẢNH HƯỞNG CỦA TÍNH MÙA VỤ ĐẾN HOẠT ĐỘNG DU

LỊCH TỈNH THỪA THIÊN - HUẾ

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN

ẢNH HƯỞNG CỦA TÍNH MÙA VỤ ĐẾN HOẠT ĐỘNG DU

LỊCH TỈNH THỪA THIÊN - HUẾ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Ảnh hưởng của tính

mùa vụ đến hoạt động du lịch tỉnh Thừa Thiên - Huế” là công trình nghiên cứu

của riêng tôi, không sao chép của bất cứ ai Nếu không đúng như đã nêu trên, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về đề tài của mình

Người cam đoan

Hồ Thị Diệu Ái

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ths Phạm Thị Tú Trinh, người đã định hướng đề tài, tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt quá trình viết luận văn tốt nghiệp

Nhân dịp hoàn thành khóa luận, em xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường đã tạo điều kiện tốt nhất cho em cũng như các bạn sinh viên khác hoàn thành nhiệm vụ tốt nghiệp của mình, đồng cảm ơn các thầy cô trong khoa Ngữ Văn, cũng như các thầy cô ở các khoa của Trường Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng đã tận tình truyền đạt kiến thức cho em trong suốt 4 năm học qua Với vốn kiến thức được tiếp thu trong suốt quá trình học đó, không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu mà còn là hành trang quý báu để em bước vào đời một cách vững chắc

và tự tin

Dù đã có rất nhiều cố gắng, song luận văn chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Kính mong nhận được sự chia sẻ và những ý kiến đóng góp quý báu của các Thầy, Cô

Xin trân trọng cảm ơn!

Đà Nẵng, ngày 02 tháng 05 năm 2017

Sinh Viên

Hồ Thị Diệu Ái

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Số lượng khách quốc tế tới Thừa Thiên - Huế, giai đoạn 2003 - 2016 24 Bảng 1.2: Cơ cấu khách quốc tế đến Thừa Thiên - Huế, năm 2016 25 Bảng 1.3: Số lượng khách nội địa đến Thừa Thiên - Huế, giai đoạn 2003 - 2016 26 Bảng 2.1: Mức độ tác động của các yếu tố tự nhiên đến việc hình thành tính mùa vụ

trong hoạt động du lịch ở một số loại hình du lịch chủ yếu[17; tr 20] 30 Bảng 2.2: Mức độ tác động của các yếu tố kinh tế - xã hội đến việc hình thành tính

mùa vụ trong hoạt động du lịch ở một số loại hình du lịch chủ yếu [17; tr.22] 32 Bảng 2.3: Tỷ lệ lượng khách du lịch đến Thừa Thiên - Huế theo tháng từ 2014 -

2016 (Đơn vị tính %) 34 Bảng 2.4: Tỷ lệ lượng khách du lịch quốc tế đến Thừa Thiên - Huế theo tháng từ

2014 - 2016 (Đơn vị tính %) 36 Bảng 2.5: Tỷ lệ lượng khách du lịch nội địa đến Thừa Thiên - Huế theo tháng từ

2014 - 2016 (Đơn vị tính %) 37

theo tháng năm 2016 (Đơn vị tính %) 40 Bảng 2.7: Tỷ lệ doanh thu du lịch theo tháng của Thừa Thiên - Huế từ năm 2014

đến năm 2016 (Đơn vị tính %) 42 Bảng 2.8: Tổng số loại cơ sở lưu trú, phòng của khách sạn, nhà nghỉ tại Thừa Thiên

- Huế năm 2016 45 Bảng 2.9: Tỷ lệ lượt khách lưu trú tại Thừa Thiên - Huế theo tháng từ 2014 - 2016

(Đơn vị tính: %) 46 Bảng 2.10: Ngày lưu trú bình quân khách du lịch tại Thừa Thiên - Huế từ 2014 -

2016 (Đơn vị tính: Ngày) 47 Bảng 2.11: Tỷ lệ lao động trực tiếp và gián tiếp trong ngành du lịch Thừa Thiên -

Huế năm 2016 (Đơn vị tính %) 48

Trang 6

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

2016 37 Biểu đồ 2.3: Lượng khách du lịch nội địa đến Thừa Thiên - Huế theo tháng từ 2014 -

2016 38 Biểu đồ 2.4: Lượng khách du lịch đến Lăng Cô theo tháng năm 2016 40 Biểu đồ 2.5: Lượng khách du lịch đến Quần thể di tích cố đô Huế theo tháng năm 2016 41 Biểu đồ 2.6: Doanh thu du lịch Thừa Thiên - Huế qua các tháng từ 2014 - 2016 43 Biểu đồ 2.7: Lượt khách lưu trú tại Thừa Thiên - Huế theo tháng từ 2014 - 2016 46 Biểu đồ 2.8: Tỷ lệ lao động trực tiếp và gián tiếp trong ngành du lịch Thừa Thiên - Huế

năm 2016 49

Trang 7

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 2

3 Mục đích nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

4.2 Phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

5.1 Phương pháp phân tích tổng hợp và nghiên cứu hệ thống 4

5.2 Phương pháp điều tra thực địa 4

5.3 Phương pháp đánh giá có sự tham gia của người dân, chuyên gia 4

5.4 Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu 4

6 Bố cục đề tài 5

NỘI DUNG 6

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6

1.1 Các khái niệm 6

1.1.1 Khái niệm du lịch 6

1.1.2 Văn hóa du lịch 7

1.1.3 Hoạt động du lịch 9

1.1.4 Tính mùa vụ 9

1.2 Đặc trưng của hoạt động du lịch 10

1.2.1 Tính tổng hợp 10

1.2.2 Tính liên kết 10

1.2.3 Tính mùa vụ 11

1.2.4 Tính khu vực 12

1.3 Ngành du lịch tỉnh thừa Thiên Thiên - Huế 14

Trang 8

1.3.1 Tài nguyên du lịch 14

1.3.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 14

1.3.1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 16

1.3.2 Khai thác du lịch 22

1.3.3 Khách du lịch của Thừa Thiên - Huế 24

1.3.3.1 Khách quốc tế 24

1.3.3.2 Khách nội địa 26

Tiểu kết chương 1 27

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM CỦA TÍNH MÙA VỤ TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TỈNH THỪA THIÊN - HUẾ 29

2.1 Các yếu tố tạo nên tính mùa vụ trong hoạt động du lịch Thừa Thiên - Huế 29

2.1.1 Yếu tố tự nhiên 29

2.1.2 Yếu tố kinh tế - xã hội 31

2.2 Đặc điểm của mùa vụ du lịch 34

2.2.1 Lượng khách theo mùa 34

2.2.2 Doanh thu theo mùa 42

2.2.3 Cơ sở lưu trú 44

2.2.4 Lao động theo mùa 48

2.3 Ảnh hưởng của tính mùa vụ đến hoạt động du lịch 50

2.3.1 Ảnh hưởng đến công tác tổ chức quản lý và hiệu quả kinh doanh 50

2.3.2 Ảnh hưởng đến tài nguyên và môi trường du lịch 55

2.3.3 Ảnh hưởng đến kinh tế - xã hội 57

2.3.4 Ảnh hưởng đến du khách 59

Tiểu kết chương 2 61

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM GIẢM THIỂU ẢNH HƯỞNG CỦA TÍNH MÙA VỤ ĐẾN HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TỈNH THỪA THIÊN - HUẾ 62

3.1 Cơ sở đưa ra giải pháp 62

3.1.1 Định hướng phát triển ngành du lịch của tỉnh Thừa Thiên - Huế 62 3.1.2 Dự báo về các chỉ tiêu du lịch Thừa Thiên - Huế giai đoạn 2013-2030 63

Trang 9

3.2 Giải pháp 65

3.2.1 Đa dạng hóa các loại hình du lịch 65

3.2.2 Tăng cường công tác tuyên truyền quảng cáo du lịch 67

3.2.3 Giải pháp về tài chính 69

3.2.4 Khuyến khích cộng đồng tham gia hoạt động du lịch 70

3.2.5 Tổ chức các sự kiện văn hóa - thể thao vào mùa thấp điểm 70

3.2.6 Xây dựng cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật 71

3.2.7 Đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường 72

3.2.8 Hợp tác và liên kết phát triển du lịch 72

Tiểu kết chương 3 73

KẾT LUẬN 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Những năm qua hoạt động văn hóa, du lịch đạt nhiều kết quả quan trọng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, tạo điều kiện để xây dựng tỉnh Thừa Thiên - Huế xứng tầm là trung tâm văn hóa, du lịch đặc sắc của cả nước theo kết luận 48 của Bộ Chính trị và Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV

Hoạt động du lịch của tỉnh Thừa Thiên - Huế ngày càng được chú trọng đầu tư: mở rộng và phát triển các cơ sở lưu trú, hệ thống các nhà hàng, nhà vườn, trùng

tu và bảo tồn các di tích lịch sử - văn hóa, gắn với đổi mới và nâng cao chất lượng phục vụ, sản phẩm du lịch ngày càng phát triển và đa dạng Sự gắn kết giữa du lịch

và văn hóa ngày càng chặt chẽ, trở thành nét đặc sắc của du lịch Thừa Thiên - Huế Công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch, kêu gọi đầu tư, hợp tác được đẩy mạnh

Du lịch phát triển cả về quy mô lẫn chất lượng, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Thừa Thiên - Huế, lượng khách du lịch tăng nhanh Năm 2010 thành phố Huế đón 1,451,000 lượt khách, tăng gấp ba lần so với năm 2001 (470.000 lượt khách), đến năm 2016 đạt 3,258,000 lượt khách (1.052.952 lượt khách quốc tế, 2.205.175 lượt khách nội địa) Thời gian lưu trú bình quân đạt 2.2 ngày Doanh thu

du lịch tăng trưởng bình quân hàng năm trên 25% Du lịch - dịch vụ chiếm 45% trong GDP

Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển du lịch vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, ảnh hưởng đến hoạt động du lịch của tỉnh Thừa Thiên - Huế Đó là ảnh hưởng của tính mùa vụ du lịch, gây ra những khó khăn cho công tác tổ chức các hoạt động du lịch của vùng, tạo nên tác động tiêu cực đến các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường của tỉnh Thừa Thiên - Huế

Hiện nay đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của tính mùa vụ đến hoạt động du lịch vẫn chưa được quan tâm và nghiên cứu chuyên sâu Trong khi đó nó có vai trò rất

Trang 11

quan trọng đối với hoạt động và phát triển du lịch của Thừa Thiên - Huế, nên vấn đề này rất cần được quan tâm nghiên cứu

Với những thực tế của ngành du lịch Thừa Thiên - Huế hiện nay, em chọn

nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của tính mùa vụ đến hoạt động du lịch tỉnh Thừa

Thiên Huế” với mong muốn góp một phần nhỏ vào sự phát triển du lịch và giảm

thiểu tác động của tính mùa vụ đến hoạt động du lịch tỉnh Thừa Thiên - Huế

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu ảnh hưởng của tính mùa vụ đến hoạt động du lịch là một trong những vấn đề được quan tâm giúp phát triển du lịch theo hướng bền vững, nhằm hạn chế tác động của tính mùa vụ đến hoạt động du lịch, mang lại hiệu quả kinh tế,

xã hội, môi trường…

Đến nay đã có một số công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề này như:

Luận văn “ Giải pháp giảm thiểu tác động tiêu cực của tính thời vụ đến du

lịch Quảng Ninh” của Nguyễn Thị Kim Thanh đề cập đến việc xác định các nhân

tố chính gây lên tính thời vụ du lịch ở Hạ Long, mức độ bất lợi của tính thời vụ du lịch đến hoạt động kinh doanh du lịch tại địa phương Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế ảnh hưởng bất lợi của tính thời vụ du lịch trong hoạt động kinh doanh du lịch Hạ Long

Đề tài nghiên cứu của Viện nghiên cứu phát triển du lịch “Nghiên cứu ảnh

hưởng của tính mùa vụ đến hoạt động du lịch ở Việt Nam” của Nguyễn Thăng

Long đề cập về vấn đề xác định các nhân tố hình thành tính mùa vụ du lịch, ảnh hưởng của tính mùa vụ du lịch đến hoạt động du lịch Việt Nam Đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế ảnh hưởng của tính mùa vụ du lịch đến hoạt động du lịch Việt Nam

Luận văn “ Nghiên cứu tính thời vụ của hoạt động du lịch biển Đồ Sơn” của

Hoàng Thị Thùy Trang đề cập đến vấn đề xác định các nhân tố gây lên tính thời vụ

du lịch ở Đồ Sơn, thực trạng tính thời vụ của hoạt động du lịch biển Đồ Sơn Từ đó

Trang 12

đưa ra một số giải pháp nhằm giảm thiểu tác động bất lợi của tính thời vụ đến hoạt động du lịch Đồ Sơn… Nhiều tạp chí, sách báo, website cũng đề cập đến tính thời

vụ và ảnh hưởng của tính thời vụ trong du lịch

Đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của tính mùa vụ đến du lịch đến nay chỉ có một số nghiên cứu nhưng phần lớn là những đề tài nghiên cứu dưới hình thức luận văn về ảnh hưởng của tính thời vụ du lịch đến loại hình du lịch biển Ở Thừa Thiên

- Huế, đến nay hầu như chưa từng có nghiên cứu, tài liệu nào đi sâu vào vấn đề nghiên cứu mà chỉ có một số bài báo, bàn luận trên giấy báo, điện tử, những vấn đề

có liên quan như: “Khai thác tiềm năng du lịch Huế vào mùa mưa”, “Triển khai

hàng loạt biện pháp kích cầu du lịch các tỉnh miền Trung”, “Khắc phục tính thời

vụ do tác động của khí hậu đến du lịch biển”…

3 Mục đích nghiên cứu

- Xác định các yếu tố gây nên tính mùa vụ du lịch Thừa Thiên - Huế

- Xác định và đưa ra những ảnh hưởng của tính mùa vụ đối với hoạt động du lịch tỉnh Thừa Thiên - Huế

- Đưa ra một số giải pháp nhằm giảm thiểu ảnh hưởng của tính mùa vụ đến hoạt động du lịch tỉnh Thừa Thiên - Huế

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Ảnh hưởng của tính mùa vụ đến hoạt động du lịch tỉnh Thừa Thiên - Huế

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Tỉnh Thừa Thiên - Huế

5 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài bao gồm:

Trang 13

5.1 Phương pháp phân tích tổng hợp và nghiên cứu hệ thống

Đây là phương pháp cơ bản được sử dụng phổ biến trong hầu hết các công trình nghiên cứu khoa học Phương pháp này được sử dụng có hiệu quả trong nghiên cứu những đối tượng có mối quan hệ đa chiều và biến động trong không gian và thời gian Phương pháp này được sử dụng trong đề tài với mục đích là phân tích các thông tin từ các tài liệu khác nhau nhằm tìm ra những nội dung tư tưởng cơ bản của tài liệu và những vấn đề liên quan đến đề tài một cách có hệ thống, nghĩa là phải phân loại, lựa chọn và so sánh, đối chiếu các thông tin từ tài liệu

5.2 Phương pháp điều tra thực địa

Quan sát, tìm hiểu và nghiên cứu tình hình hoạt động du lịch, ảnh hưởng của tính mùa vụ đến hoạt động kinh doanh, đến du khách, môi trường và an ninh trật tự, nhất là vào mùa cao điểm, các ngày lễ

5.3 Phương pháp đánh giá có sự tham gia của người dân, chuyên gia

Phương pháp này nhằm xin ý kiến và sự hỗ trợ cần thiết để đề tài được tốt hơn Đánh giá, ý kiến của các chuyên gia về vấn đề phát triển và tầm quan trọng của

du lịch tỉnh Ý kiến, đánh giá của khách du lịch về vấn đề an ninh trật tự, giá dịch vụ… đặc biệt là vào mùa du lịch cao điểm

5.4 Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu

Là phương pháp chính được sử dụng trong đề tài Thu thập số liệu, tài liệu của cơ quan quản lý nhà nước, của Sở Du lịch về số lượng khách, doanh thu, số lượng phòng, cơ sở lưu trú qua các tháng, các năm, các báo cáo về phát triển du lịch…

Thu thập các số liệu, tài liệu từ các tài liệu sách, báo, tạp chí phục vụ cho việc tìm hiểu, nghiên cứu đề tài

Xử lý, chọn lọc, phân tích để tổng hợp, kết luận, khái quát lại những nội

dung cần thiết về vấn đề nghiên cứu

Trang 14

6 Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài được chia làm 3 chương:

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM CỦA TÍNH MÙA VỤ TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TỈNH THỪA THIÊN - HUẾ

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM GIẢM THIỂU ẢNH HƯỞNG CỦA TÍNH MÙA VỤ ĐẾN HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TỈNH THỪA THIÊN - HUẾ

Trang 15

NỘI DUNG Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Các khái niệm

1.1.1 Khái niệm du lịch

Từ xa xưa trong lịch sử nhân loại, du lịch đã được ghi nhận như một sở thích, một nhu cầu, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người Từ khi hình thành đến nay, có nhiều quan niệm không giống nhau về khái niệm du lịch Mỗi một học giả, mỗi một nhà nghiên cứu, tổ chức lại đưa ra một khái niệm khác nhau:

Năm 1811, định nghĩa về du lịch lần đầu tiên xuất hiện tại nước Anh: “Du

lịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của các cuộc hành trình với mục đích giải trí” [7; tr 5]

Năm 1930, Glusman người Thụy Sĩ định nghĩa: “Du lịch là sự chinh phục

không gian của những người đến một địa điểm, mà ở đó họ không có chỗ cư trú thường xuyên” [7; tr 6]

Hai học giả Hunziker và Krapf, những người đặt nền móng cho lý thuyết về

cung - cầu du lịch, đưa ra định nghĩa: “Du lịch là tập hợp của các mối quan hệ và

các hiện tượng phát sinh trong cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không liên quan đến hoạt động kiếm lời” [7; tr 6]

Theo I.I Pirojink (năm 1985): “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư

trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu trú tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức - văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị

về tự nhiên, kinh tế và văn hóa” [7; tr 6]

Năm 1991, tại Otawa (Canada), Hội nghị quốc tế về Thống kê Du lịch đưa ra

định nghĩa: “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường

thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình), trong một khoảng thời gian ít hơn

Trang 16

khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến

đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng đến thăm” [7; tr 6]

Trong hội nghị lần thứ 27 (1993) của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO)

đã đưa ra khái niệm: “Du lịch là hoạt động về chuyến đi đến một nơi khác với môi

trường sống thường xuyên (usual environment) của con người và ở lại đó để tham quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay các mục đích khác ngoài các hoạt động để có thù lao ở nơi đến với thời gian liên tục ít hơn 1 năm” [7; tr 6]

Theo điều 4 của Luật Du lịch Việt Nam (2005) thì thuật ngữ “du lịch” được

định nghĩa: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người

ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [16]

Như vậy, có thể chưa có sự thống nhất về ngữ nghĩa và cách dùng từ trong khái niệm du lịch, nhưng có những điểm chung có thể thấy về “du lịch” đó là cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của con người ở một nơi khác (cách xa nơi ở thường xuyên của họ) để nghỉ dưỡng, chữa bệnh, thỏa mãn các nhu cầu về: văn hóa, nghệ thuật, giao lưu về tình cảm, trao đổi học hỏi nhau về công cụ Mặt khác, du lịch được hiểu là tập hợp các hoạt động kinh doanh nhằm giúp đỡ các cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của con người thông qua việc tổ chức, phục vụ vận chuyển, ăn uống, tham quan, lưu trú… tất cả những hoạt động nêu trên tạo nên ngành hoạt động kinh doanh du lịch nói chung

Trang 17

- Văn hóa du lịch là tổng thể của cải vật chất và của cải tinh thần có liên quan đến du lịch Ví dụ như: “Văn hóa du lịch là tổng thể văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần do loài người sáng tạo nên trước kia và hiện nay”, “Văn hóa du lịch là chỉ văn minh tinh thần với văn minh vật chất có liên quan mật thiết đến hoạt động

du lịch của loài người” [11; tr.12]

- Văn hóa du lịch là kết quả tác động lẫn nhau giữa chủ thể du lịch (du khách), khách thể du lịch (tài nguyên du lịch), với môi giới du lịch (ngành du lịch)

Ví dụ: “Văn hóa du lịch không phải là tổ hợp giữa du lịch với văn hóa mà là kết hợp giữa du lịch với văn hóa, là kết quả tinh thần và vật chất do tác dụng tương hỗ lẫn nhau giữa ba loại: nhu cầu văn hóa và tình cảm tinh thần của chủ thể du lịch, nội dung và giá trị văn hóa của khách thể du lịch, ý thức và tố chất văn hóa của môi giới

du lịch sản sinh ra” [11; tr.12]

- Văn hóa du lịch là một loại hình thái văn hóa của đời sống du lịch Ví dụ:

“Văn hóa du lịch là một loại hình thái văn hóa đặc thù, lấy nhân tố giá trị nội tại của văn hóa chung làm chỗ dựa, lấy các yếu tố du lịch làm căn cứ, tác dụng với quá trình hoạt động du lịch”, “Văn hóa du lịch tức là nội dung văn hóa do du lịch - hiện tượng xã hội độc đáo này thể hiện ra” [11; tr.12]

Văn hóa du lịch không phải là phép cộng đơn giản giữa văn hóa với du lịch

mà là sự kết hợp giữa du lịch và văn hóa, là kết quả tinh thần và vật chất do tác động tương hỗ lẫn nhau giữa ba loại: nhu cầu văn hóa và tình cảm tinh thần của chủ thể du lịch, nội dung và giá trị văn hóa của khách thể du lịch, ý thức và tố chất văn hóa của người môi giới phục vụ du lịch sản sinh ra Ba yếu tố du lịch là chủ thể du lịch, khách thể du lịch và môi giới du lịch đều không thể đơn độc tạo thành văn hóa

du lịch Nếu tách khỏi khách thể du lịch thì du khách sẽ mất đối tượng tham quan thưởng thức Không có môi giới du lịch thì chủ thể du lịch và khách thể du lịch không thể gặp nhau, và không có du lịch thì sẽ không nảy sinh ra văn hóa du lịch Nếu không có chủ thể và khách thể du lịch thì ngành du lịch lập ra chỉ có danh, và

Trang 18

không thể sản sinh ra văn hóa du lịch mới, ngay cả thành phần văn hóa du lịch vốn

có cũng không thể hiện ra được

1.1.3 Hoạt động du lịch

Tại điều 4, Luật Du lịch (2005) đã đưa ra khái niệm: “Hoạt động du lịch là

hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng dân

cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch” [16]

1.1.4 Tính mùa vụ

Tính mùa vụ du lịch trong những năm gần đây là vấn đề được các nhà nghiên cứu du lịch quan tâm nhất, nhằm tìm hiểu được bản chất của chúng và cách khắc phục để mang lại hiệu quả cao trong hoạt động du lịch

Mùa vụ du lịch được hiểu là những biến động lặp đi lặp lại hàng năm của cung và cầu các dịch vụ và hàng hóa du lịch dưới tác động của một số nhân tố xác định

Theo Nguyễn Văn Đính: “Tính thời vụ du lịch là sự dao động lặp đi, lặp lại

đối với cung và cầu của các dịch vụ và hàng hoá du lịch, xảy ra dưới tác động của các nhân tố nhất định Thời vụ du lịch là khoảng thời gian của một chu kỳ kinh doanh, mà tại đó có sự tập trung cao nhất của cung và cầu du lịch” [5; tr.99]

Tính mùa vụ du lịch được đặc trưng bởi cường độ, độ dài và tần suất

Cường độ là mức độ tập trung khách trong một thời gian và không gian nhất định, vào mùa du lịch chính thì cường độ mạnh nhất và cường độ thấp thường vào trái mùa du lịch

Độ dài của mùa du lịch là khoảng thời gian mà khách vẫn còn để đảm bảo cho quá trình hoạt động du lịch diễn ra bình thường

Tần số của mùa du lịch là số lần suất hiện mùa du lịch trong một năm ở một không gian lãnh thổ nhất định nào đó Thông thường tần số này là một hoặc hai lần

ở một vùng lãnh thổ du lịch, và rất hiếm khi vượt quá hai lần

Trang 19

1.2 Đặc trưng của hoạt động du lịch

1.2.1 Tính tổng hợp

Hoạt động du lịch là một tổ hợp bao gồm nhiều loại hình hoạt động có liên quan đến du lịch như các hoạt động của khách du lịch, các tổ chức hay cơ quan kinh doanh du lịch, cá nhân có liên quan đến du lịch…, mà mỗi một loại hình hoạt động còn bao gồm nhiều hoạt động khác nhau Ví dụ như du khách khi đến tham quan tại vườn quốc gia Cúc Phương thì du khách có thể tham gia các hoạt động như đi bộ trong rừng nguyên sinh, xem động vật hoang dã ban đêm, tham gia vào chương trình văn nghệ của dân tộc Mường và dân tộc vùng cao biểu diễn, chèo thuyền Kayak trên hồ Mạc và hồ Yên Quang… Hay hoạt động của một cơ quan kinh doanh mảng điều hành tour du lịch như hoạt động thiết kế và điều hành tour du lịch, hoạt động tư vấn khách hàng, hoạt động quảng bá, tuyên truyền…

Hoạt động du lịch có phạm vi nội dung hoạt động rộng lớn, nó bao quát tất

cả những hoạt động của con người đến du lịch, các hoạt động bảo vệ và khai thác tài nguyên du lịch vào phát triển du lịch

Các đơn vị, cá nhân không thể nào cung cấp được tất cả các dịch vụ du lịch,

mà chỉ cung cấp được một số dịch vụ du lịch nhất định như các công ty du lịch có thể cung cấp các chương trình du lịch, hướng dẫn viên, xe du lịch… Các cơ quan chuyên về lĩnh vực bảo tồn, phát triển văn hóa và du lịch, các nhà hàng, khách sạn, hay các cá nhân hoạt động riêng lẽ như hướng dẫn viên Vì vậy, mà cần có sự liên kết, hợp tác giữa các đơn vị, tổ chức, cá nhân với nhau

Trang 20

Do vấn đề tài chính, kinh tế, loại hình hoạt động, phạm vi hoạt động, địa lý

mà cũng cần có sự liên kết Việt Nam có diện tích đất liền và hải đảo 331.212 km2,

có đường bờ biển dài 3260 km, hơn 4000 đảo lớn nhỏ, tài nguyên du lịch phong phú, 63 tỉnh thành phố Vì vậy mà các tổ chức, đơn vị, các nhà kinh doanh du lịch không thể tham gia vào tất cả, quản lý các hoạt động liên quan đến du lịch ở phạm

vị cả nước mà có chia phạm vi, không gian hoạt động

Sự tham gia của các tổ chức, đơn vị, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực du lịch

có sự liên kết, hợp tác với nhau để đáp ứng được các nhu cầu của khách du lịch, cũng như liên kết và hợp tác để bảo vệ, giữ gìn tài nguyên du lịch và phát triển du lịch

1.2.3 Tính mùa vụ

Mùa vụ du lịch là quy luật phổ biến ở tất cả các nước và các vùng có hoạt động du lịch Một nước hoặc một vùng có thể có một hoặc nhiều mùa vụ du lịch tùy thuộc vào loại hình phát triển ở đó

Du khách thường đi du lịch vào những ngày lễ, nghỉ phép hằng năm… nhất

là vào mùa hè Vì vậy mà thời gian vào hè trở thành mùa cao điểm du lịch Ở Vũng Tàu, mỗi năm có hai mùa vụ du lịch cao điểm, đợt 1 là từ tháng 1 đến tháng 4, đợt hai là từ tháng 5 đến tháng 8 Vào những mùa này khách du lịch đến Vũng Tàu đông Du khách đến đây có nhu cầu nghỉ hè và tắm biển vì loại hình du lịch biển là phổ biến nhất đồng thời cũng là thế mạnh của Vũng Tàu Ngoài ra, cũng có nhiều hoạt động du lịch thường diễn ra vào hai mùa này như: Festival lướt ván buồn quốc

tế, lễ hội Caravan Văn hóa Du lịch biển, lễ hội Nghinh Ông, lễ hội Ẩm thực thế giới… Còn từ tháng 9 đến tháng 12 thì ít khách du lịch hơn, và đây được gọi là mùa thấp điểm du lịch vì đây là khoảng thời gian bắt đầu năm học mới, các bậc cha mẹ

và con cái có ít thời gian hơn Hơn nữa đây cũng là thời gian cận tết nên các công nhân của các khu chế xuất, khu công nghiệp phải tăng ca làm ngoài giờ để hoàn thành các công việc

Trang 21

Tại các khu vực mà hoạt động du lịch phát triển thì mùa du lịch thường kéo dài hơn Ví dụ như Hà Nội - thành phố cổ kính nghìn năm tuổi, là đầu mối giao thông lớn, trung tâm văn hóa - kinh tế - chính trị, du lịch thuộc loại lớn nhất cả nước

và là đầu mối phân phối khách cho các tỉnh khu vực phía Bắc Hà Nội đứng đầu về

số lượng di tích Việt Nam với 3840 di tích trên tổng số gần 40.000 di tích Việt Nam, và nhiều tài nguyên du lịch tự nhiên khác Du khách có thể lấy Hà Nội là điểm dừng chân chính, sau khi tham gia các lễ hội đón xuân từ tháng 2 đến tháng 4 tại Hà Nội, du khách có thể tham gia hoạt động du lịch leo núi, nghỉ dưỡng… ở vùng núi cao miền Bắc, sau đó có thể quay lại Hà Nội thưởng thức mùa thu tại đây

từ tháng 9 đến tháng 11, rất nhiều người đều có chung một nhận xét là Hà Nội đẹp nhất khi thu đến Hay tiếp tục khám phá vẻ đẹp hoang sơ, hùng vĩ của vùng rừng núi phía Bắc từ tháng 10 đến tháng 12

Tính mùa vụ trong hoạt động du lịch có ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh du lịch, du khách, môi trường, quảng bá và tuyên truyền sản phẩm du lịch…

Ví dụ như đối với các cơ sở kinh doanh du lịch, vào những mùa vụ du lịch thì cường độ hoạt động cao dẫn đến doanh thu, lợi nhuận cao còn ngoài vụ thì cường

độ chỉ mang tính chất duy trì, điều này dẫn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh không đồng đều Hay vào những mùa vụ du lịch như thế này, du khách quá đông dẫn đến việc các dịch vụ du lịch phục vụ du khách không đảm bảo chất lượng, mất trật tự, giá cả cao hoặc bị chèn ép… Xã rác bừa bãi, ô nhiễm nguồn nước, chặt cây phá rừng, làm hỏng cảnh quan môi trường… Tùy theo từng thời điểm để các nhà sản xuất có thể quảng bá tốt nhất và đưa ra những sản phẩm dịch vụ độc đáo nhất, đúng thời điểm và phù hợp nhất nhằm đáp ứng các nhu cầu của du khách và kinh doanh

có hiệu quả, như vào mùa đông ta không thể quảng bá và tuyên truyền về loại hình

du lịch biển đảo

1.2.4 Tính khu vực

Do tác động của những yếu tố khí hậu, địa hình, thời gian, kinh tế, xã hội mà mỗi vùng, mỗi khu vực có những đặc trưng văn hóa riêng hay những đặc trưng nổi

Trang 22

trội hơn những nơi khác về con người, lối sống, phong tục, tín ngưỡng, lễ hội, âm nhạc, kiến trúc… Ví dụ như Hà Nội, là kinh đô của nhiều triều đại, là thủ đô của nước Việt Nam, là trung tâm văn hóa, kinh tế - chính trị - xã hội và du lịch lớn nhất

cả nước Với những điều kiện này, Hà Nội là nơi có tiềm năng hàng đầu về tài nguyên du lịch và hình thành nên những nét văn hóa đặc trưng riêng cho vùng như: các di tích, danh thắng, đền đài được xây dựng qua các triều đại, những làng nghề, phường nghề thủ công truyền thống Con người Hà Nội có những tính cách nổi trội như chất tài hoa, tài tử, trí tuệ, phong nhã, thanh lịch… Đặc biệt, ở đây có một nét văn hóa mà không nơi nào có, đó là 36 phố phường, được nghe truyền lại là: Thăng Long thời Lý có 61 phường, sang thời Lê thì gộp lại thành 36, người dân ở đây sống chủ yếu bằng nghề thủ công và buôn bán Hay ở khu vực Nam Bộ Việt Nam, đây là một vùng đất mới, là nơi hội tụ của nhiều nền văn hóa khác nhau như văn hóa của người Chăm Hồi giáo, người Khmer, người Hoa, phương Tây… đã tạo nên một vùng văn hóa đa dạng cũng như hình thành nên những tính cách đặc trưng của con người nơi đây như tính mở thoáng, tính cách bao dung, tính năng động, tính bộc trực Ở khu vực này, thành phố Hồ Chí Minh từng là Viên ngọc Viễn Đông và nay

là trung tâm trọng điểm phát triển kinh tế miền Nam, vì vậy mà nơi đây có khá nhiều khu vui chơi giải trí, đa năng và thuộc loại hiện đại nhất như công viên Đầm Sen, khu du lịch Suối Tiên và là nơi có cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng phát triển nhất cả nước Ngoài ra, ở đây còn có nhiều điểm du lịch độc đáo khác như địa đạo

Củ Chi, là một công trình hy hữu trong lịch sử quân sự thế giới, là biểu tượng của ý chí sắt đá và thông minh, mưu trí của quân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Mỗi khu vực khác nhau, văn hóa, du lịch thể hiện ra những đặc điểm và hoạt động du lịch khác nhau, tạo nên những đặc trưng riêng thu hút du khách

Trang 23

1.3 Ngành du lịch tỉnh thừa Thiên Thiên - Huế

1.3.1 Tài nguyên du lịch

Khoản 4 Điều 4, chương 1 Luật Du lịch Việt Nam (2005) quy định: “Tài

nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch” [16]

Tài nguyên du lịch được xem như là tiền đề phát triển du lịch Tài nguyên du lịch càng phong phú đặc sắc có mức độ tập trung cao thì càng có sức hấp dẫn với khách du lịch và có hiệu quả kinh doanh du lịch cao

1.3.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên

Theo khoản 1, Điều 13, Chương II Luật Du lịch Việt Nam năm (2005) quy

định: “Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí

hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan tự nhiên đang được khai thác hoặc có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch” [16]

Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm địa hình, khí hậu, thủy văn, tài nguyên sinh vật; các cảnh quan du lịch tự nhiên và cảnh quan di sản thiên nhiên thế giới

Thừa Thiên - Huế là một một vùng đất giàu tài nguyên nước nhất ở nước ta Lượng mưa trung bình nhiều năm biến đổi từ 2000 - 5000 mm/năm Đặc biệt có tâm mưa Bạch Mã đạt tới 8000 mm/năm

Lượng mưa trên toàn tỉnh là 9,975 tỷ m3 nước, bình quân một người dân có trung bình 9.400 m3/năm, lớn gấp hai lần so với bình quân của cả nước 4.342 m3/năm, tính theo nước nội địa Nước nhiều, sông lắm, mạng lưới sông hồ dày Điều này đã hình thành nên hệ thống thủy văn ở Thừa Thiên - Huế khá phức tạp và độc đáo Tính phức tạp và độc đáo thể hiện ở chỗ hầu hết các con sông đan nối vào nhau thành một mạng lưới chằng chịt: Sông Ô Lâu - phá Tam Giang - sông Hương - sông Lợi Nông - sông Đại Giang - sông Hà Tạ - sông Cống Quan - sông Truồi -

Trang 24

sông Nong - đầm Cầu Hai Tính độc đáo của hệ thống thủy văn Thừa Thiên Huế còn thể hiện ở chỗ là nơi hội tụ của hầu hết các con sông trước khi ra biển là một vực nước lớn, kéo dài gần 70km dọc bờ biển, có diện tích lớn nhất Đông Nam Á (trừ sông A Sáp chạy về phía tây, và sông Bù Lu chảy trực tiếp ra biển qua cử Cảnh Dương) Đó là hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, đầm phá tiêu biểu nhất trong 12 khu vực nước cùng loại ven bờ biển Việt Nam và là một trong những đầm phá lớn nhất thế giới Phá Tam Giang - đầm Cầu Hai là một vùng cửa sông bao gồm 1 phá

và 4 đầm nối tiếp kéo dài 68km với diện tích 216km2, độ sâu trung bình 1,5 - 2,0m,

tổng dung tích khoảng 300 triệu mét khối

Mạng lưới sông - đầm phá còn liên kết với rất nhiều trằm, bàu tự nhiên, có tên và không tên, với các hồ, đập nhân tạo lớn nhỏ Tổng diện tích nước của hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai khoảng 231 km2 và tổng lượng nước mặt do các sông bắt nguồn từ đông Trường Sơn chảy ra lên tới hơn 9 tỷ mét khối nước

Bên cạnh hệ thống sông ngòi, đầm phá là các hồ cả nhân tạo và tự nhiên không chỉ có vai trò quan trọng trong việc thu - thoát, đều hòa nguồn nước trong khu vực mà còn được khai thác phục vụ du lịch, các hồ như hồ Hòa Mỹ, hồ Truồi,

hồ Tịnh Tâm, hồ Học Hải, hồ Phú Văn, hồ Thanh Ninh…

Với mạng lưới sông ngòi, hồ và đầm phá, Thừa Thiên - Huế có thể nối liền các huyện và thành phố rất thuận lợi cho giao thông đường thủy, phục vụ du lịch Các cảng biển Thuận An, Chân Mây thuận lợi cho việc đón du khách quốc tế

Với điều kiện vị trí địa lý, khí hậu, địa hình, Thừa Thiên - Huế là nơi giao lưu giữa hai luồng động, thực vật từ Bắc xuống và từ Nam lên, đồng thời còn là khu vực có vị trí chuyển tiếp của hai miền khí hậu Bắc và Nam đã hình thành nên thảm thực vật nhiệt đới đa dạng và phong phú

Thực vật: Hội tụ nhiều loại cây như: Cây bản địa như lim, gõ, kiền, chò… (cây họ đậu phương Bắc); cây di cư như dẻ, re, thông, bàng và các cây họ dầu phương Nam… Diện tích rừng chiếm khoảng 57% đất tự nhiên, độ che phủ 55% (2008)

Trang 25

Động vật: ngoài những động vật phổ biến trong rừng như khỉ, hưu, nai, công,

gà rừng… nhiều động vật quý hiếm đã được phát hiện ở Nam Đông, Phú Lộc, A Lưới như voi, trĩ, sao, gà lôi, chồn bay, gấu chó…

Thủy sản: với gần 126 km đường bờ biển, 22.000 ha đầm phá và một hệ thống sông ngòi phong phú, Thừa Thiên Huế có lượng thủy sản đa dạng với nhiều loại có giá trị quý hiếm như sò huyết, mực, tôm, rau câu…

Hệ thống sinh vật phong phú góp phần tạo nên cảnh quan môi trường sinh thái và cảnh quan du lịch của vùng Vườn quốc gia Bạch Mã vừa có khí hậu mát mẻ vừa đa dạng sinh vật đã trở thành một trung tâm du lịch sinh thái rất hấp dẫn

1.3.1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn

Tài nguyên du lịch nhân văn do con người tạo ra, hay nói cách khác, nó là đối tượng và hiện tượng được tạo ra một cách nhân tạo Đây cũng là nguyên nhân khiến cho tài nguyên du lịch nhân tạo này có những đặc điểm khác biệt nhiều với nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên

Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005), quy định tại điều 13, chương II: “Tài

nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được

sử dụng phục vụ mục đích du lịch” [16]

Thừa Thiên - Huế là nơi lưu giữ nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể chứa đựng nhiều giá trị biểu trưng cho trí tuệ và tâm hồn của dân tộc Việt Nam Đặc biệt, trong đó có quần thể di tích cố đô Huế và nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO ghi danh vào danh mục Di sản văn hóa thế giới

* Di tích lịch sử - văn hóa

Nói đến Huế, người ta nghĩ ngay đến những công trình lăng tẩm, đền đài, cung điện, là kinh đô của triều đại nhà Nguyễn kéo dài gần hai thế kỷ Theo thời

Trang 26

gian, Huế vẫn phần nào lưu giữ những công trình, những nét cổ kính và trầm mặc Một số di tích đặc sắc, nổi tiếng như:

Chùa Thiên Mụ

Chùa Thiên Mụ được xây dựng năm 1601 dưới thời chúa Nguyễn Hoàng và được tu sửa nhiều lần Chùa được xây dựng trên đồi Hà Khê, tả ngạn sông Hương, cách trung tâm thành phố Huế khoảng 5km về phía tây

Chùa được chia làm 2 phần, lấy cổng Tam quan làm ranh giới: phần trước cổng giáp bờ sông Hương là phần có những công trình kiến trúc mang tính kỷ niệm như bia đá, chuông đồng, bửu tháp… Phần sau là các điện thờ Phật và nhà tăng Kiến trúc chùa Thiên Mụ nổi bật nhất là tháp Phước Duyên Tháp Phước Duyên là một biểu tượng gắn liền với chùa Thiên Mụ Tháp cao khoảng 21m, gồm bảy tầng, được xây ở phía trước chùa, mỗi tầng đều có thờ tượng Phật

Chùa Thiên Mụ ngày nay còn là nơi có nhiều cổ vật quý giá không chỉ về lịch sử mà còn cả về nghệ thuật như các bức tượng Hộ pháp, tượng Thập Vương, tượng Tam thế, những bức hoành phi, câu đối, chuông đồng, trống…

Chùa Thiên Mụ tọa lạc bên bờ sông Hương thơ mộng cùng với kiến trúc cổ kính đã góp phần tô điểm cho bức tranh thiên nhiên nơi đây thêm duyên dáng, thi

vị Tiếng chuông chùa như linh hồn của Huế, vang vọng mãi theo dòng nước sông Hương chảy qua Kinh Thành, rồi xuôi về của biển, đọng lại trong lòng khách phương xa đến Huế một nỗi niềm vương vấn chốn Thần Kinh

Du khách có thể xuống thuyền Rồng lướt trên sông Hương đến chùa, đồng thời có thể ngắm cảnh hai bên bờ sông Từ đây có thể lại chuyển sang phương tiện ôtô để đi tham quan các di tích khác

Trang 27

1m, cao 4m Xung quanh đào một hệ thống hào để bảo vệ Có 10 chiếc cầu bắc qua hào Có 4 cửa ra vào ở 4 mặt thành là Ngọ Môn (cửa trước), Hòa Bình (cửa sau), Hiển Nhơn (cửa trái), Chương Đức (cửa phải) Diện tích trong Hoàng thành 38 ha (bao gồm cả Tử Cấm thành)

Khu vực cử hành đại lễ từ Ngọ Môn đến điện Thái Hòa Đây là nơi diễn ra các cuộc đăng quang, khánh thọ, Nguyên đán, duyệt binh và thiết đại triều mỗi tháng hai lần vào ngày mồng 1 và ngày rằm

Khu vực ăn ở của Hoàng thái hậu (mẹ vua) có cung Diên Thọ với khoảng 20 công trình kiến trúc với đầy đủ tiện nghi

Khu vực ăn ở của Thái hoàng thái hậu (bà nội vua) có cung Trường Sanh với khoảng 10 công trình kiến trúc kèm theo

Khu vực Phủ Nội vụ bao gồm nhà kho, xưởng chế tạo đồ dùng phục vụ sinh hoạt của gia đình nhà vua

Khu vực điện Khâm Văn và vườn Cơ Hạ là nơi để các Hoàng tử học tập và vui chơi

Trang 28

của các phi tần), Thái Bình lầu (nơi vua đọc sách) kế đó là vườn Thượng Uyển và những đình tạ, ao hồ, cầu cống…

Lăng Khải định

Lăng Khải Định nhỏ hẹp hơn các lăng tẩm khác, nhưng đây lại là một tòa điện đài được cấu trúc bằng xi - măng cốt thép lộng lẫy, tráng lệ giữa núi đồi làng Châu Chữ, cách thành phố Huế 10km Lăng Khải Định xây dựng trong 11 năm (1920 - 1931) tốn nhiều công phu, tiền của

Với bối cảnh lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XX, sở thích và phong cách cá nhân thường được biểu hiện trong cuộc sống hàng ngày, vua Khải Định (1916 - 1925) đã đưa vào kiến trúc lăng tẩm của mình nhiều yếu tố mới của nghệ thuật, kỹ thuật và vật liệu xây dựng Về nghệ thuật lăng Khải Định đã kết hợp hai dòng kiến trúc Á - Âu Về kỹ thuật thì tiếp thu không ít những tiện nghi tân tiến như cột thu lôi, đèn điện, cổng sắt… Về vật liệu kiến trúc, gỗ ở đây dường như vắng bóng để cho kỹ thuật bê - tông cốt thép, ngói ác - đoa (ardoise), gạch ca - rô chiếm lĩnh Phần thiên nhiên bên trong lăng Khải Định bị lu mờ

Hổ Quyền

Hổ Quyền là nơi nhà Nguyễn tổ chức hàng năm những trận đấu giữa voi và cọp để vua và đình thần đến xem Đây là một đấu trường lộ thiên hình vành khăn, đường kính 44m, dày 4,50m, cao 5,80m được xây bằng gạch ở cả hai mặt trong và ngoài ôm lấy mô thành bằng đất ở giữa Khán đài vua ngồi quay mặt về hướng Nam, đối diện với 5 chuồng cọp nằm ngay trong chân thành Có một cửa cao và rộng để voi đi vào dự trận đấu

Hổ Quyền được xây dựng năm 1830 thời vua Minh Mạng, rồi được sửa chữa nâng cao thêm trong thời vua Thành Thái Trận đấu cuối cùng giữa voi và hổ là năm

1904 Ở vùng Đông Nam Á, Hổ Quyền là đại đấu trường duy nhất dành cho voi -

hổ tranh hùng, đến nay còn nguyên vẹn

Trang 29

* Bảo tàng, nhà lưu niệm

Thừa Thiên - Huế là một trong 3 trung tâm có hệ thống bảo tàng độc đáo Sự

ra đời của các bảo tàng, nhà trưng bày là nơi lưu giữ nhiều cổ vật, di vật gắn liền với văn hóa cung đình, văn hóa dân gian, về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lịch sử cách mạng, các anh hùng, danh nhân tiêu biểu, nghệ sĩ tài hoa của đất nước, trong đó có nhiều hiện vật được công nhận là bảo vật quốc gia như: bộ Cửu vị thần công, bộ Cửu Đỉnh, bệ thờ Vân Trạch Hòa, Áo Tế giao

Một số bảo tàng và nhà lưu niệm tại Thừa thiên - Huế: bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế (Điện Long An), bảo tàng Đồ sứ ký kiểu thời Nguyễn, bảo tàng Hồ Chí Minh Thừa Thiên - Huế, bảo tàng Lịch sử và Cách mạng, nhà trưng bày nông cụ Thủy Thanh (Hương Thủy)…

* Lễ hội

Thừa Thiên - Huế là một vùng đất có truyền thống văn hóa, tuy không lâu đời như ở miền Bắc, nhưng từ khi chúa Nguyễn đặt thủ phủ tại đây cho đến khi triều đại nhà Nguyễn chấm dứt (1945), Huế là kinh đô của nhà Nguyễn, là nơi giao lưu, gặp gỡ các luồng tư tưởng Đông Tây kim cổ Văn hóa Huế có truyền thống từ Bắc tràn vào, theo những lưu dân lập nghiệp trên vùng đất mới Tại đây còn tồn tại dân tộc Chăm với nền văn hóa Ấn Độ, sau này có thêm nền văn hóa phương Tây thâm nhập vào từ thời các chúa Nguyễn Các lễ hội truyền thống được duy trì và phát triển thêm những lễ hội từ những nguồn văn hóa ấy

Lễ hội ở Thừa Thiên - Huế khá đa dạng với hai loại lễ hội chính là lễ hội cung đình và lễ hội dân gian Lễ hội cung đình phản ánh sinh hoạt lễ nghi của triều Nguyễn, phần lớn chú trọng về “lễ” hơn là “hội” Lễ hội dân gian đa dạng và phong phú, tiêu biểu như: lễ hội Huệ Nam (điện Hòn Chén) hay còn gọi là lễ rước sắc nữ thần Thiên Y A Na theo tín ngưỡng của người Chămpa xưa… Trong những dịp tế

lễ, nhiều sinh hoạt văn hóa bổ ích như đua thuyền, kéo co, đấu vật… được tổ chức

và thu hút đông người xem Một số lễ hội ở Thừa Thiên - Huế: hội đua ghe truyền

thống, hội vật làng Sình, lễ tế Nam Giao, Festival Huế…

Trang 30

* Văn hóa, ẩm thực

Ẩm thực: ông Trần Đình Giáng, sống ở Thừa Thiên - Huế là một nhà địa lý học say mê nghiên cứu sưu tầm món ăn trên các miền đất nước đã tổng kết khoảng 3.000 món ăn Việt Nam, trong đó có 1.700 món ăn Huế và tạm chia làm 3 loại: món

ăn bình dân, món ăn chay và ngự thiện (cơm vua) Những món ăn của các vua triều nhà Nguyễn có trên vài chục món thuộc loại cao lương mỹ vị, được chuẩn bị vô cùng công phu, tỷ mỷ, cầu kỳ như chè yến sào hạt sen, vi cá xào rối, cháo hải sâm, chả phụng… Các món ăn dân dã rất phổ biến trong quần chúng nhân dân với bản thực đơn phong phú hàng trăm món ăn được chế biến khéo léo, hương vị quyến rũ, màu sắc hấp dẫn, coi trọng phần chất lượng, nghệ thuật bày biện các món ăn đẹp mắt, nghệ thuật thưởng thức tinh tế như cơm hến, bún bò Huế, nem lụi, chè hẻm, cơm chay Huế, bánh canh, chè Huế

Đặc biệt Huế còn là xứ sở của các loại bánh như bánh bột lọc quai vạc, bánh

lá chả tôm, bánh lọc lá, bánh bèo chén, bánh cuốn tôm chấy, bánh khoái…

* Làng nghề truyền thống

Nghề và làng nghề ra đời, tồn tại và phát triển luôn gắn liền với những bước thăng trầm của lịch sử Thuận Hóa - Phú Xuân - Huế và góp phần tạo dựng bản sắc văn hóa Huế, đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội Ngày nay, các làng nghề truyền thống còn có vai trò phát triển du lịch, vì vậy mà có không ít làng nghề được phục hồi, đầu tư và phát triển Làng nghề truyền thống là một lợi thế cho

du lịch, là một yêu cầu tất yếu khách quan, cần thiết để giúp cho kinh tế du lịch thực

sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, phong phú và đa dang nhiều loại hình du lịch: tham quan, chữa bệnh, an dưỡng, học tập, thể thao, tín ngưỡng, lễ hội, nghề truyền thống

Một số làng nghề tiêu biểu: làng nghề đan lát Bao La, làng nghề nón lá, nghề dệt Zèng, nghề đúc đồng, nghề gốm Phước tích, nghề thêu, tranh làng Sình…

Trang 31

1.3.2 Khai thác du lịch

Theo xu hướng phát triển du lịch toàn cầu cùng với tầm quan trọng, ý nghĩa

mà du lịch mang lại, Thừa Thiên - Huế xác định du lịch dịch vụ là ngành kinh tế mũi nhọn

Từ khi quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là di sản văn hóa nhân loại (1993), Nhã nhạc Cung đình Huế là kiệt tác phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại (2003), các loại hình nghệ thuật truyền thống, công trình kiến trúc, làng nghề… dần được phục hồi và phát triển Đặc biệt, khi Đại hội Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên - Huế lần thứ XIV đã khẳng định: “Du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, cần phải được ưu tiên đầu tư trong 5 năm tới nhằm khai thác tốt hơn thế mạnh hiện

có cả về quy mô, chất lượng, gắn phát triển du lịch với văn hóa, tạo môi trường du lịch văn minh, lịch sự, tăng sức hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước, góp phần thúc đẩy các ngành nghề sản xuất, dịch vụ phát triển, giải quyết thêm việc làm cho người lao động” thì việc đầu tư, khai thác, phát triển du lịch diễn ra sôi nổi và đặc sắc

* Hoạt động bảo tồn, trùng tu di tích

Sau chiến tranh (năm 1975), toàn bộ khu vực Tử Cấm Thành hầu như bị xóa

sổ Khu vực Hoàng Thành chỉ còn lại 62 công trình so với 136 công trình kiến trúc lúc nguyên thủy Khu vực Kinh Thành còn 97 công trình trong tình trạng hư hỏng nặng Các lăng tẩm hầu hết đều bị hư hỏng ở những mức độ khác nhau, bị dột nát,

có nguy cơ đổ sụp bất cứ lúc nào Nhưng đến nay, nhờ sự quan tâm của chính phủ, cán bộ, ngành Trung Ương, sự nổ lực của địa phương đã có khoảng 130 công trình

di tích lớn nhỏ được đầu tư trùng tu, bảo tồn như Kỳ Đài, Ngọ Môn, Điện Thái hòa, Hiển Lâm Các, cụm di tích Thế Miếu, Cung Diên Thọ, Duyệt Thị Đường, cung Trường Sanh, hệ thống Trường Lang (Tử Cấm Thành), cung An Định, tổng thể đàn Nam Giao, đàn Xã Tắc, tổng thể lăng vua Gia Long, Minh lâu, Điện Sùng Ân, Thiên Định Cung, Bi Đình (lăng vua Khải Định), tổng thể chùa Thiên Mụ, 10 cổng

Trang 32

Kinh Thành, lầu Tứ Phương Vô Sự, Đông - Tây Khuyết Đài, Hữu Tùng Tự, Khiêm Cung Môn…

* Phát triển du lịch sinh thái

Tận dụng những ưu thế về cảnh quan thiên nhiên, Thừa Thiên - Huế đẩy mạnh hoạt động du lịch biển, xây dựng các khu du lịch cao cấp tại một số khu vực như: Thuận An, Cảnh Dương, Lăng Cô, đầm Lập An… các bãi biển mới như Vinh Thanh, Bãi Chuối, Điền Hải, Quảng Ngạn Đẩy mạnh hoạt động thể thao, một số dịch vụ làm phong phú hoạt động du lịch tại các khu vực này

Kết hợp cảnh quan thiên thiên với các lễ hội, tham quan di tích dọc tuyến bằng cả đường bộ và đường thủy như tham quan thành Hóa Châu, Trấn Hải Thành, tháp Chăm Phú Diên (Mỹ Khánh), chùa Túy Vân, núi Linh Thái, Hải Vân Quan…

Xây dựng chiến lược, đề án “Phát triển kinh tế tổng hợp vùng kinh tế đầm phá Tam Giang - Cầu Hai tỉnh Thừa Thiên - Huế đến năm 2020”

Khai thác các thác A Ngo, A Roàng (A Lưới), hồ Truồi, suối Voi (Phú Lộc), đèo Pê Ke (A Lưới), các khu rừng ngập mặn, các tràm chim của vùng sông Ô Lâu…

* Đẩy mạnh du lịch làng nghề

Do yêu cầu xây dựng kinh đô nhà nước đã tổ chức thành các tượng cục như Nội Kim tượng cục (Cục thợ vàng), Tất tượng (Cục thợ sơn thiếp), Nê ngõa tượng cục (Cục thợ nề), Chú tượng ty (Cục thợ đúc)… cùng với sự phát triển của các tượng cục là các làng nghề truyền thống như Phường Đúc, làng Kim hoàn Kế Môn, làng gốm Phước Tích, làng điêu khắc Mỹ Xuyên, làng tranh Lại Ân… đến nay một

số nghề vẫn còn duy trì và hòa nhập với nền sản xuất hiện tại Các làng nghề là thực thể sống động tạo nên nét đặc trưng văn hóa đồng thời đem lại nguồn lợi về kinh tế cho tỉnh

Phát triển làng nghề là một lợi thế cho du lịch tỉnh, các loại hình hoạt động

du lịch mà làng nghề mang lại như tham quan, triển lãm, tham gia trực tiếp vào các

Trang 33

công đoạn sản xuất… Các sản phẩm từ các làng nghề không chỉ đáp ứng nhu cầu của người dân mà còn là sản phẩm du lịch làm quà tặng, kỷ niệm cho du khách

* Phát triển du lịch nhà vườn

Du lịch nhà vườn là một điểm đến riêng biệt của Huế Sự tồn tại của phong cảnh kiến trúc độc đáo cùng với đời sống tinh thần của người dân đã đem lại cho du khách sự trải nghiệm, khám phá Xây dựng các tour để tham gia các khu nhà vườn tiêu biểu ở Kim Long - Phú Mộng, Vỹ Dạ, Gia Hội, Bao Vinh, cùng với các sinh hoạt trong khu làng cổ Phước Tích (Phong Điền), cầu ngói Thanh Toàn (Hương Thủy), Thanh Tiên (Phú Vang), Nguyệt Biều (thành phố Huế) Kết hợp du lịch nhà vườn với ẩm thực Huế

1.3.3 Khách du lịch của Thừa Thiên - Huế

1.3.3.1 Khách quốc tế

Trước năm 1993, số lượng khách quốc tế đến Thừa Thiên - Huế rất ít, chủ yếu là khách bao cấp và tăng chậm Nhưng từ cuối năm 1993 và năm 2003 thì có bước ngoặc lớn, đó là quần thể di tích cố đô Huế và Nhã nhạc cung đình Huế được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới Hai mốc thời gian này đã góp phần truyền bá văn hóa, thu hút khách quốc tế và tăng dần số lượng khách quốc tế đến Thừa Thiên - Huế

Bảng 1.1: Số lượng khách quốc tế tới Thừa Thiên - Huế, giai đoạn 2003 - 2016

Trang 34

Số lượng khách quốc tế đến Thừa Thiên - Huế qua các năm đều có xu hướng tăng lên, nhưng cũng có những lúc giảm xuống do khủng hoảng tài chính hay dịch bệnh như năm 2009 do khủng hoảng kinh tế toàn cầu nên số lượng khách có giảm xuống

Bảng 1.2: Cơ cấu khách quốc tế đến Thừa Thiên - Huế, năm 2016

Nguồn: Sở Du lịch Thừa Thiên - Huế

Thông qua bảng số liệu trên ta có thấy số lượng khách quốc tế đếm Thừa Thiên - Huế hiện nay chủ yếu là khách thuộc thị trường Đông Á và Châu Âu, trong

đó chiếm tỷ lệ lớn nhất là Hàn Quốc, sau đó là Pháp

Về mục đích khách quốc tế đến Thừa Thiên - Huế du lịch chủ yếu là các đối tượng khách du lịch thuần túy, khách công vụ, khách thăm người thân Đặc biệt

Trang 35

khách công vụ kết hợp với tham quan và khách thăm người thân ngày càng tăng do những chính sách cởi mở của tỉnh trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa và đời sống Như hiện nay, trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên - Huế có hai dự án do các doanh nghiệp Singapore đầu tư đó là, dự án khu du lịch Languna Lăng Cô của tập đoàn Banyan Tree và dự án nâng cấp Cảng Chân Mây để thường xuyên dưa các chuyến tàu du lịch biển cỡ lớn đến Cảng Chân Mây của Tập đoàn Royal Caribean Những nhà đầu tư, cá nhân đến đây công tác, làm việc đồng thời tham quan, tìm hiểu, nghiên cứu tại điểm và các địa điểm du lịch khác nhằm tham quan và phục vụ cho công việc của mình

1.3.3.2 Khách nội địa

Kinh tế, xã hội phát triển, đời sống của người dân không ngừng được nâng cao, thời gian lao động của người dân được giảm xuống nhờ sự tiến bộ của khoa học - kỹ thuật Vì vậy, sau thời gian lao động căng thẳng, họ có nhu cầu nghỉ ngơi,

du lịch, thư giãn Điều này khiến cho số lượng khách du lịch nội địa không ngừng tăng lên

Bảng 1.3: Số lượng khách nội địa đến Thừa Thiên - Huế, giai đoạn 2003 - 2016

Nguồn: Sở Du lịch Thừa Thiên - Huế

Thông qua bảng số liệu trên ta có thể thấy số lượng khách du lịch nội địa đến Thừa Thiên - Huế không ngừng tăng lên, từ 400.000 năm 2003 lên 2.205.175 năm

Trang 36

2016, tăng hơn 5 lần Lượng khách tăng dần qua các năm nhưng cũng có năm giảm xuống, đó là năm 2009, đây là thời gian khủng hoảng kinh tế toàn cầu

Tiểu kết chương 1

Kinh tế, xã hội, chính trị là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy sự gia tăng người dân đi du lịch Xã hội, chính trị ổn định, khoa học phát triển không ngừng tiến bộ, con người ngày càng sử dụng khoa học - kỹ thuật vào công việc, chế

độ nghỉ phép hằng năm, nghỉ hè, nghỉ đông, sự quan tâm của các đơn vị, tổ chức đã

và đang tạo ra nhiều thời gian và điều kiện ngày càng tốt cho người lao động tham quan nghỉ mát, giải trí, nghỉ ngơi…

Cảnh quan thiên nhiên, các yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, con người… là những yếu tố thu hút du khách, phát triển các loại hình du lịch, phát triển

du lịch Thừa Thiên - Huế là vùng đất giàu di sản, lịch sử đã để lại nơi đây một hệ thống di tích phong phú với gần 1000 di tích trong đó có hơn 130 di tích được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia và cấp tỉnh, hệ thống này bao gồm: di tích lịch sử văn hóa, di tích lịch sử cách mạng, di tích kiến trúc tôn giáo… đặc biệt Quần thể di tích cố đô Huế đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới (1993) Thừa Thiên - Huế còn là nơi hội tụ những giá trị văn hóa phi vật thể phong phú gồm nếp sống, lễ hội, ẩm thực, nghề thủ công truyền thống… trong đó Nhã nhạc cung đình Huế được công nhận là kiệt tác phi vật thể truyền khẩu đại diện của nhân loại (2003)

Thừa Thiên - Huế là vùng đất có đầy đủ các dạng địa hình núi, gò, đồi, đồng bằng, đầm phá, biển, có Vườn quốc gia Bạch Mã một trong những Vườn quốc gia lớn nhất Việt Nam là nơi nghỉ mát lý tưởng và phát triển loại hình du lịch sinh thái Đặc biệt, Thừa Thiên - Huế có mạng lưới sông ngòi dày, diện tích đầm phá rộng nhất khu vực Đông Nam Á (gồm phá Tam Giang, đầm Thủy Tú, đầm Cầu Hai, đầm

An Cư chiếm 23% diện tích toàn tỉnh)

Trang 37

Những ưu thế trên là tiền đề làm cho ngành du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng trong sự phát triển của tỉnh, là thế mạnh làm cho Thừa Thiên - Huế trở thành một trung tâm văn hóa, du lịch của khu vực miền Trung và cả nước

Xác định tầm quan trọng của ngành du lịch trong sự phát triển, hoạt động du lịch, đầu tư, bảo tồn di sản, tạo ra thêm nhiều sản phẩm du lịch mới… không ngừng được quan tâm và phát triển Khách du đến Thừa Thiên - Huế qua các năm không ngừng tăng lên với các thị trường du khách đa dạng

Trang 38

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM CỦA TÍNH MÙA VỤ TRONG HOẠT ĐỘNG

DU LỊCH TỈNH THỪA THIÊN - HUẾ

2.1 Các yếu tố tạo nên tính mùa vụ trong hoạt động du lịch Thừa Thiên

- Huế

Các yếu tố gây nên tính mùa vụ du lịch rất đa dạng và có tác động khác nhau phụ thuộc vào loại hình du lịch, vị trí địa điểm du lịch… Các yếu tố này có thể chia làm hai nhóm yếu tố lớn là nhóm yếu tố tự nhiên và nhóm yếu tố kinh tế - xã hội Mỗi nhóm có những đặc điểm khác nhau và mức độ ảnh hưởng của chúng tới các loại hình du lịch cũng khác nhau

2.1.1 Yếu tố tự nhiên

Các yếu tố tự nhiên có vai trò rất quan trọng trong hoạt động du lịch Các yếu tố tự nhiên này tham gia vào hoạt động du lịch với vai trò là các tài nguyên du lịch tự nhiên như tài nguyên khí hậu, tài nguyên địa hình, tài nguyên sinh vật… Đối với một số loại hình du lịch tự nhiên này thì yếu tố tự nhiên còn là một trong các điều kiện để tiến hành hàng hoạt động du lịch, đặc biệt là điều kiện khí hậu

Với vai trò là các tài nguyên du lịch tự nhiên, chúng có ý nghĩa rất quan trọng và trong nhiều trường hợp khác chúng còn có ý nghĩa quyết định tới việc hình thành và phát triển các loại hình du lịch Ở mỗi loại hình du lịch, dưới tác động của

tự nhiên trong quá trình khai thác mà hình thành nên tính mùa vụ có đặc điểm khác nhau

Trang 39

Bảng 2.1: Mức độ tác động của các yếu tố tự nhiên đến việc hình thành tính mùa vụ trong hoạt động du lịch ở một số loại hình du lịch chủ yếu[17; tr 20]

Yếu tố

Loại hình du lịch

Khí hậu (1)

Địa hình (1,2)

Thủy văn (1,2)

Hội nghị, hội thảo

Vui chơi, giải trí

Ghi chú:

Qua bảng phân tích trên ta có thể thấy ảnh hưởng mạnh nhất và rõ rệt nhất là yếu tố khí hậu và địa hình Đây là yếu tố gây nên tính mùa vụ mạnh ở Thừa Thiên - Huế, nhất là yếu tố khí hậu

Do điều kiện thiên nhiên ở đây thay đổi khá mạnh theo thời gian Nhiệt độ của tỉnh chênh lệch nhau rất lớn vào mùa hè và mùa đông, cùng hiện tượng mưa phùn gây ảnh hưởng rất mạnh đến hoạt động du lịch, nhiệt độ có thể lên trên 38°C -

Trang 40

40°C vào mùa hè kèm theo gió tây nam khô nóng rất khó chịu, trong khi đó vào mùa mưa nhiệt độ có thể giảm xuống dưới 20°C kèm theo gió mùa đông bắc gây mưa kéo dài làm cho các hoạt động du lịch gần như ngưng trệ Thỉnh thoảng lũ lụt vào tháng 5 Các tháng 6, 7, 8 có gió mạnh Mưa lũ và có gió đông vào tháng 9, 10 Tháng 11 thường có lụt Cuối năm mưa kéo dài

Vào mùa mưa bão các hoạt động du lịch ở Thừa Thiên - Huế hầu như không thực hiện được kể cả các loại hình tham quan, văn hóa, tâm linh…

Thời tiết khắc nghiệt và biến đổi liên tục làm cho hoạt động du lịch rất khó khăn, đặc biệt là những cơn bão, lũ lụt đến thất thường có rất nhiều chuyến tham quan của khách du lịch phải tạm hoãn thậm chí bị huỷ bỏ do thời tiết gây ra

Ở Thừa Thiên - Huế thời tiết thường có mùa mưa rất dài luôn luôn trên 3 tháng, mưa kết hợp với gió mùa Đông Bắc tạo ra thời tiết cực kỳ khó chịu làm cho hoạt động du lịch gặp nhiều khó khăn, và gây ra hiện tượng mùa vụ du lịch đậm nét,

đó là mùa du lịch chính là mùa hè và trái mùa du lịch là mùa đông

Tuy nhiên không chỉ chịu tác động của mưa và lạnh vào mùa đông mà Thừa Thiên - Huế còn chịu tác động mạnh vào mùa hè, nhiệt độ tăng cao cùng tác động

như vậy có thể vượt khỏi mức chịu đựng của du khách Châu Âu Cho nên dòng khách du lịch này rất ngại đến Huế vào mùa hè Gây nên tính mùa vụ đối với dòng khách du lịch quốc tế ở Thừa Thiên - Huế

2.1.2 Yếu tố kinh tế - xã hội

Nhóm các yếu tố kinh tế - xã hội gây nên tính mùa vụ du lịch có thành phần

đa dạng và phong phú Các yếu tố kinh tế - xã hội có thể phân làm hai nhóm lớn là nhóm mang tính toàn xã hội và nhóm mang tính cá nhân Nhóm mang tính toàn xã hội thường là các quy định mang tính hành chính như quy định nghỉ phép của người lao động, quy định nghỉ hè, nghỉ đông của học sinh, sinh viên quyết định đến việc đi

du lịch của bản thân và gia đình họ Giá cả, số lượng, chất lượng, dịch vụ cung ứng trong và ngoài ngành du lịch, các hoạt động tuyên truyền, quảng bá tác động trực

Ngày đăng: 12/05/2021, 20:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Thị Tám, Nguyễn Thị Ngọc Cẩm, Hướng dẫn du lịch, NXB Đại học Huế, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn du lịch
Nhà XB: NXB Đại học Huế
2. Bùi Thị Yến, Phạm Hồng Long, Tài nguyên du lịch, NXB giáo dục, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên du lịch
Nhà XB: NXB giáo dục
3. Nguyễn Bích San, Nguyễn Cường Hiền, Nguyễn Thị Lâm, Lương Chi Lan, Cẩm nang hướng dẫn du lịch, NXB Văn hóa Thông tin, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang hướng dẫn du lịch
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
4. Ngô Tất Hổ, Trần Đức Thanh, Bùi Thanh Hương, Phát triển và quản lý du lịch địa phương, Nhà xuất bản khoa học Bắc Ninh, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển và quản lý du lịch địa phương
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học Bắc Ninh
5. Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa, Kinh tế du lịch, NXB Đại học kinh tế Quốc dân, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế du lịch
Nhà XB: NXB Đại học kinh tế Quốc dân
6. Nguyễn Văn Cao (2011), Thừa Thiên Huế khai thác du lịch dịch vụ có trọng tâm, trọng điểm để đạt hiệu quả cao nhất, Tạp chí văn hóa Huế, Số 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thừa Thiên Huế khai thác du lịch dịch vụ có trọng tâm, trọng điểm để đạt hiệu quả cao nhất
Tác giả: Nguyễn Văn Cao
Năm: 2011
7. Nguyễn Minh Tuệ, Lê Thông, Vũ Đình Hoa, Lê Mỹ Dung, Nguyễn Trọng Đức, Lê Văn Tin, Trần Ngọc Điệp, Địa lý du lịch Việt Nam, NXB giáo dục, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý du lịch Việt Nam
Nhà XB: NXB giáo dục
8. Nguyễn Văn Cao (2012), Thừa Thiên Huế nỗ lực, hợp tác và liên kết phát triển du lịch các tỉnh miền Trung, Tạp chí văn hóa Huế, Số 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thừa Thiên Huế nỗ lực, hợp tác và liên kết phát triển du lịch các tỉnh miền Trung
Tác giả: Nguyễn Văn Cao
Năm: 2012
9. Phạm Lê Thảo, Ảnh hưởng của tính mùa vụ đến hoạt động du lịch biển phía Bắc Việt Nam, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của tính mùa vụ đến hoạt động du lịch biển phía Bắc Việt Nam
10. Phạm Tiến Dũng (2012), Những nổ lực cho một thời kỳ mới, Tạp chí văn hóa Huế, Số 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nổ lực cho một thời kỳ mới, Tạp chí văn hóa Huế
Tác giả: Phạm Tiến Dũng
Năm: 2012
11. Phạm Thị Tú Trinh, Văn hóa Du lịch, Đà Nẵng, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Du lịch
12. Trần Viết Lực (2009), Để cảnh quan môi trường Thừa Thiên Huế xanh - sạch - đẹp, Tạp chí văn hóa Huế, Số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để cảnh quan môi trường Thừa Thiên Huế xanh - sạch - đẹp
Tác giả: Trần Viết Lực
Năm: 2009
13. Trần Viết Lực (2012), Thừa Thiên Huế phát triển du lịch bền vững, Tạp chí văn hóa Huế, Số 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thừa Thiên Huế phát triển du lịch bền vững
Tác giả: Trần Viết Lực
Năm: 2012
14. Ngô Đình Tuấn, Thừa Thiên Huế - Biến tiềm năng thành hiện thực trong công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa, Với Huế, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thừa Thiên Huế - Biến tiềm năng thành hiện thực trong công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa
15. Ban tổ chức Festival Nghề truyền thống Huế, Nghề truyền thống Huế, NXB Tài nguyên mi trường và bản đồ Việt Nam, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề truyền thống Huế
Nhà XB: NXB Tài nguyên mi trường và bản đồ Việt Nam
19. Các website tham khảo: Svhtt.thuathienhue.gov.vn www.bachmapark.com.vn tintuc.hues.vn Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Số lượng khách quốc tế tới Thừa Thiên - Huế, giai đoạn 2003 - 2016. - Ảnh hưởng của tính mùa vụ đến hoạt động du lịch tỉnh thừa thiên   huế
Bảng 1.1 Số lượng khách quốc tế tới Thừa Thiên - Huế, giai đoạn 2003 - 2016 (Trang 33)
Bảng 1.2: Cơ cấu khách quốc tế đến Thừa Thiên - Huế, năm 2016. - Ảnh hưởng của tính mùa vụ đến hoạt động du lịch tỉnh thừa thiên   huế
Bảng 1.2 Cơ cấu khách quốc tế đến Thừa Thiên - Huế, năm 2016 (Trang 34)
Bảng 2.1: Mức độ tác động của các yếu tố tự nhiên đến việc hình thành tính  mùa vụ trong hoạt động du lịch ở một số loại hình du lịch chủ yếu[17; tr - Ảnh hưởng của tính mùa vụ đến hoạt động du lịch tỉnh thừa thiên   huế
Bảng 2.1 Mức độ tác động của các yếu tố tự nhiên đến việc hình thành tính mùa vụ trong hoạt động du lịch ở một số loại hình du lịch chủ yếu[17; tr (Trang 39)
Bảng 2.2: Mức độ tác động của các yếu tố kinh tế - xã hội đến việc hình thành - Ảnh hưởng của tính mùa vụ đến hoạt động du lịch tỉnh thừa thiên   huế
Bảng 2.2 Mức độ tác động của các yếu tố kinh tế - xã hội đến việc hình thành (Trang 41)
Bảng 2.3: Tỷ lệ lượng khách du lịch đến Thừa Thiên - Huế theo tháng - Ảnh hưởng của tính mùa vụ đến hoạt động du lịch tỉnh thừa thiên   huế
Bảng 2.3 Tỷ lệ lượng khách du lịch đến Thừa Thiên - Huế theo tháng (Trang 43)
Bảng 2.5: Tỷ lệ lượng khách du lịch nội địa đến Thừa Thiên - Huế theo tháng - Ảnh hưởng của tính mùa vụ đến hoạt động du lịch tỉnh thừa thiên   huế
Bảng 2.5 Tỷ lệ lượng khách du lịch nội địa đến Thừa Thiên - Huế theo tháng (Trang 46)
Bảng 2.6: Tỷ lệ lượng khách du lịch đến Lăng Cô và Quần thể di tích - Ảnh hưởng của tính mùa vụ đến hoạt động du lịch tỉnh thừa thiên   huế
Bảng 2.6 Tỷ lệ lượng khách du lịch đến Lăng Cô và Quần thể di tích (Trang 49)
Bảng 2.10: Ngày lưu trú bình quân khách du lịch tại Thừa Thiên - Huế - Ảnh hưởng của tính mùa vụ đến hoạt động du lịch tỉnh thừa thiên   huế
Bảng 2.10 Ngày lưu trú bình quân khách du lịch tại Thừa Thiên - Huế (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w