Tác giả đã đưa ra một cái nhìn mới về vai trò của giáo dục đạo đức đối với sự hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hội nhập hiện nay, từ sự phân tích các
Trang 1Giảng viên hướng dẫn : TS PHẠM HUY THÀNH
Sinh viên thực hiện : TRẦN VĂN TÙNG
Chuyên ngành : GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
Đà Nẵng, tháng 6 năm 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình, em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ nhiệt tình của quý thầy cô Đầu tiên, em xin chân thành gửi lớn cảm ơn sâu sắc nhất đến thầy Phạm Huy Thành người đã hướng dẫn và giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình thực hiện đề tài khóa luận này Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô khoa Giáo dục Chính trị của Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng, khoa Lý luận chính trị và khoa Kinh tế chính trị của Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng đã trang bị cho em những kiến thức quý báu trong suốt bốn năm học để em hoàn thành đề tài này Ngoài ra, trong quá trình thực hiện khóa luận em còn nhận được rất nhiều sự động viên và giúp đỡ từ phía gia đình, bạn bè, thầy giáo chủ nhiệm và các bạn trong lớp Kết quả của đề tài này là lời cảm ơn sâu sắc nhất của em gửi đến mọi người, là nguồn động lực để em tự tin hơn trên bước đường học tập và nghiên cứu
Với khả năng và điều kiện của một sinh viên, khóa luận không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Em kính mong nhận được những góp ý chân thành của quý thầy
cô và các bạn để tài khóa luận được hoàn thiện hơn
Đà Nẵng, ngày 6 tháng 5 năm 2017
Sinh viên thực hiện
Trần Văn Tùng
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục của đề tài 3
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
NỘI DUNG 5
Chương 1: TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC GIÁO DỤC TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VỚI VIỆC XÂY DỰNG NHÂN CÁCH SINH VIÊN 5
1.1.Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và giáo dục đạo đức 5
1.1.1 Đạo đức 5
1.1.2 Giáo dục đạo đức 7
1.1.3 Những phẩm chất đạo đức và nguyên tắc xây dựng đạo đức mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh 10
1.2 Nhân cách sinh viên 18
1.2.1 Nhân cách và cấu trúc của nhân cách 18
1.2.2 Sinh viên và nhân cách sinh viên 24
1.2.3 Tính quy luật của sự hình thành nhân cách 27
1.2.4 Định hướng nhân cách con người Việt Nam trong thời đại mới 32
1.3 Những nhân tố tác động đến quá trình phát triển nhân cách sinh viên 34
1.3.1 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi sinh viên tác động rõ nét đến quá trình phát triển nhân cách của họ 34
1.3.2 Tác động của quá trình toàn cầu hóa và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đến phát triển nhân cách sinh viên hiện nay 36
1.4 Vai trò của công tác giáo dục đạo đức đối với việc xây dựng nhân cách sinh viên .41
Kết luận chương 1 43
Chương 2 GIÁO DỤC TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VỚI VIỆC XÂY DỰNG NHÂN CÁCH SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG HIỆN NAY: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 43
Trang 42.1 Giới thiệu sơ lược về Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng .44
2.2 Thực trạng giáo dục nhân cách sinh viên Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng hiện nay 45
2.2.1 Mặt tích cực 45
2.2.2 Hạn chế 54
2.3 Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức, nhân cách với việc xây dựng nhân cách cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng .58
2.3.1 Khắc phục những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường ảnh hưởng vào sinh viên Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng để xây dựng nhân cách sinh viên theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh 58
2.3.2 Đổi mới hình thức, phương pháp giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng nhằm xây dựng nhân cách sinh viên 61
2.3.3 Kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội đối với giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh nhằm xây dựng nhân cách sinh viên Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng hiện nay 65
2.3.4 Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của sinh viên Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng để tiếp thu tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm xây dựng nhân cách sinh viên tiến bộ, hiện đại 70
Kết luận chương 2 74
KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ vĩ đại của Đảng Cộng sản Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hoá thế giới đã về với cõi vĩnh hằng được gần 47 năm Người ra đi, nhưng đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta một di sản vô cùng to lớn – đó là tư tưởng về đạo đức cách mạng Có thể nói rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng được bắt nguồn từ truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam, nền đạo đức đã được hình thành hàng ngàn năm suốt chiều dài lịch sử dân tộc và kế thừa tư tưởng đạo đức phương Đông cũng như tinh hoa đạo đức của nhân loại và dựa trên nền tảng tư tưởng đạo đức cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa có chọn lọc những giá trị đạo đức của dân tộc; vừa tìm hiểu, tích lũy thêm những giá trị đạo đức của thời đại; đề xuất những tư tưởng đạo đức mới, phù hợp với yêu cầu của cách mạng Việt Nam trong thời đại mới và hướng tới việc xây dựng con người mới có đủ đức, đủ tài phục vụ đất nước và làm rạng ngời con người Việt Nam
Sau hơn 30 năm đổi mới chuyển sang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đạt được nhiều thành tựu đáng tự hào Tuy nhiên, kinh tế thị trường cũng tồn tại những mặt trái đang tác động trực tiếp đến mọi mặt của xã hội Các tác động của kinh tế thị trường đã can thiệp, phá vỡ nhiều nét đẹp của văn hóa truyền thống cũng như những khuôn mẫu đạo đức cách mạng Chủ nghĩa cá nhân – mối nguy hiểm nhất của đạo đức cách mạng theo cách gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, giờ đây có
cơ hội trỗi dậy và phát triển Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh được Đảng ta xác định giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội, là nền tảng tư tưởng, kim chỉ Nam cho hành động của Đảng đang bị các thế lực thù địch chống phá, công kích Ngoài ra, chúng còn đẩy mạnh tiến công trên lĩnh vực văn hóa, đạo đức, lối sống mà đối tượng chủ yếu là sinh viên – đội ngũ trí thức tương lai Tất cả những điều
đó đã và đang tác động xấu đến việc hình thành và phát triển nhân cách của sinh viên hiện nay Trong đó có sinh viên Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng, với những biểu hiện ở một bộ phận sinh viên thể hiện trong nhận thức và hành động như: xác định động cơ học tập không đúng; hiện tượng bỏ học không lý do, đi muộn, quay cóp trong thi cử; sinh viên thờ ơ với các vấn đề chính trị, các hoạt động xã hội, còn mơ hồ về lý tưởng cách mạng, lối sống thực dụng, buông thả Quá trình đổi mới của đất nước đòi hỏi
Trang 6xây dựng sinh viên năng động, sáng tạp, bản lĩnh, trí tuệ vì ngày mai lập thân, lập nghiệp
Chính vì vậy, việc giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh cho sinh viên là nội dung quan trọng hàng đầu trong việc hình thành và phát triển nhân cách sinh viên, đây
là bước chuẩn bị hết sức quan trọng giúp họ vào đời, lập thân, lập nghiệp Với lý do trên, tôi chọn đề tài: “Giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh với việc xây dựng nhân cách cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng” làm luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Giáo dục chính trị
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Nghiên cứu những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức; nhân cách sinh viên và những yếu tố tác động đến nhân cách sinh viên; chỉ ra thực trạng xây dựng nhân cách sinh viên Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng hiện nay; từ đó đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh đối với việc xây dựng nhân cách cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng
Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau:
- Làm rõ những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức; nhân cách sinh viên và những yếu tố tác động
- Phân tích thực trạng giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh đối với việc xây dựng nhân cách sinh viên Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu để tiếp tục nâng cao hiệu quả giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh với việc xây dựng nhân cách sinh viên Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: khóa luận làm rõ nội dung giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và sự vận dụng tư tưởng đó vào việc xây dựng nhân cách sinh viên Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng hiện nay
Phạm vi nghiên cứu: sinh viên Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng từ năm 2010 đến nay
Trang 74 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: ngoài phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử, luận văn còn sử dụng các phương pháp lôgíc, phương pháp lịch sử – cụ thể, phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp…
5 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 2 chương, 7 tiết
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Vấn đề giáo dục đạo đức cho sinh viên được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu theo những khía cạnh, cách tiếp cận khác nhau:
- Hoàng Anh (2007), Nhân cách sinh viên hiện nay (Qua khảo sát một số trường đại
học), Đề tài nghiên cứu cấp bộ, Mã số: B.07-21, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Tác giả đã chỉ ra thực trạng nhân cách sinh viên hiện nay cũng như nguyên nhân của những thực trạng đó thông qua việc phân tích các khảo sát một số trường đại học, từ
đó tác giả đưa ra một số giải pháp hướng đến xây dựng và hoàn thiện nhân cách sinh viên hiện nay
- Nguyễn Duy Bắc (2004), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dạy và học môn Mác
– Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong trường đại học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội Tác giả đã nêu ra một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dạy và học môn Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh thường gặp ở cả người dạy lẫn người học trong trường đại học, từ đó tác giả đi sâu phân tích và trình bày một cách rõ ràng, đưa ra một cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề này
- Thành Duy (2002), Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người Việt
Nam phát triển toàn diện, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Tác giả đề cập đến những
vấn đề cơ bản về mối quan hệ giữa văn hóa và với việc xây dựng con người phát triển toàn diện: về đặc điểm và bản chất, quan hệ và giải pháp phát triển con người phát triển toàn diện trong bối cảnh hiện nay
- Trần Sỹ Phán (1999), Giáo dục đạo đức đối với sự hình thành và phát triển nhân
cách sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Tác giả đã đưa ra một cái nhìn mới về vai trò của giáo dục đạo đức đối với sự hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hội nhập hiện nay, từ sự phân tích các tác động tích cực của việc giáo
Trang 8dục đạo đức, tác giả đã đề cập đến các giải pháp giúp nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức hiện nay.
Những công trình khoa học trên của các tác giả là cơ sở lý luận cho khóa luận tiếp thu tham khảo, làm định hướng cho đề tài nghiên cứu của mình Nghiên cứu về nhân cách sinh viên được rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, nhưng nghiên cứu giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh với việc xây dựng nhân cách sinh viên tại Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng cho đến nay chưa có ai nghiên cứu Do
đó, khóa luận tốt nghiệp tiếp tục kế thừa các công trình khoa học trên, đồng thời đi sâu nghiên cứu giáo dục tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh đối với việc xây dựng nhân cách sinh viên Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng
Trang 9NỘI DUNG Chương 1 TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC GIÁO DỤC TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC
HỒ CHÍ MINH VỚI VIỆC XÂY DỰNG NHÂN CÁCH SINH VIÊN
1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và giáo dục đạo đức
cổ đại Đạo có nghĩa là con đường, đường đi, về sau khái niệm đạo được vận dụng trong triết học để chỉ con đường của tự nhiên Đạo còn có nghĩa là con đường sống của con người trong xã hội
Khái niệm đạo đức đầu tiên xuất hiện trong kinh văn đời nhà Chu và từ đó trở đi
nó được người Trung Quốc cổ đại sử dụng nhiều Đức dùng để nói đến nhân đức, đức tính và nhìn chung đức là biểu hiện của đạo, là đạo nghĩa, là nguyên tắc luân lý Như vậy có thể nói đạo đức của người Trung Quốc cổ đại chính là những yêu cầu, những
nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà mỗi người phải tuân theo
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác–Lênin thì cho rằng, đạo đức xét đến cùng
là sự phản ánh của các quan hệ xã hội Giá trị đạo đức được xác định ở chỗ nó phục vụ cho tiến bộ xã hội vì hạnh phúc của con người “Đạo đức giúp cho xã hội loài người tiến lên trình độ cao hơn, thoát khỏi ách bóc lột lao động” [29, tr.371] V Lênin khi nói về đạo đức cộng sản chủ nghĩa cho rằng “Đó là những gì góp phần phá hủy xã hội cũ của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội mới của những người cộng sản” [30, tr 214] Đây được xem là một quan niệm mang tính cách mạng và khoa học về đạo đức tạo tiền đề quan trọng cho
Trang 10những nghiên cứu sâu hơn về đạo đức sau này, các quan niệm của các tôn giáo và các nền đạo đức khác không thể nào vươn tới đươc
Theo Hồ Chí Minh đạo đức được xác định trong mối quan hệ với mình, với người và với công việc Như vậy, trong quan niệm của Hồ Chí Minh, đạo đức không phải chỉ là những lý tưởng cao xa mà còn là những thái độ, hành vi, việc làm cụ thể của mỗi người hàng ngày, hàng giờ trong cuộc sống sinh hoạt, trong học tập, trong lao động và trong chiến đấu Mặt khác, ở đây Hồ Chí Minh còn chỉ ra rằng đạo đức cách mạng và đạo đức đời thường là hoàn toàn thống nhất với nhau, sẽ không có đạo đức đời thường tách rời với đạo đức cách mạng và cũng không thể có đạo đức cách mạng đứng ngoài với đạo đức đời thường Vì vậy, không thể bào chữa cho khuyết điểm của bản thân mình, “cái đó là việc riêng của tôi, gia đình tôi không liên quan gì với cái chung” Cái riêng mà phù hợp với cái chung (của Đảng, của cách mạng, của Tổ quốc, của nhân dân) thì đó là đạo đức Cái riêng mà đi ngược với cái chung là chủ nghĩa cá nhân, là vi phạm đạo đức
Đạo đức mới, đạo đức cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề xướng và cùng với Đảng ta dày công xây dựng, bồi đắp khác với đạo đức cũ về chất, ngược lại nó hoàn toàn thống nhất với đạo đức của chủ nghĩa Mác–Lênin Đó là kết hợp truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc với đạo đức mang bản chất giai cấp công nhân và tinh hoa đạo đức của nhân loại Hồ Chí Minh đã làm cuộc cách mạng trong lĩnh vực đạo đức Người nói: “Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất chân chổng lên trời Đạo đức mới như người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngửng lên trời” [40, tr.320-321] Đạo đức
cũ - đạo đức thực dân, phong kiến, là thứ đạo đức ích kỷ, nó kìm hãm trói buộc con người, tàn phá con người Còn đạo đức mới là vì nước, vì dân; là “dĩ công vi thượng” Đây là đạo đức vĩ đại Bởi lẽ, đạo đức đó “không vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người” [39, tr.252]
Như vậy, đạo đức trong quan niệm của Hồ Chí Minh được hiểu là toàn bộ những chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với cộng đồng Dựa vào những chuẩn mực đó, người ta đánh giá hành
vi của mỗi người theo các quan niệm về thiện và ác, về cái không được làm và về nghĩa vụ phải làm
Tóm lại, đạo đức ở đây được hiểu là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những nguyên tắc, chuẩn mực của xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi
Trang 11của mình sao cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người, vì sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã hội
1.1.2 Giáo dục đạo đức
Giáo dục – hiểu theo nghĩa rộng của từ này – là quá trình trao đổi và chuyển
giao tri thức, là sự đạt được những giá trị và các mô hình hành vi theo một mục đích, yêu cầu sẵn Hiểu theo nghĩa hẹp, giáo dục là một quá trình hình thành nhân cách con người dưới ảnh hưởng của hoạt động có mục đích của nhà giáo dục trong hệ thống các
cơ quan giáo dục và dạy học
Từ điển tiếng Việt định nghĩa: giáo dục, đó là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra Dưới góc độ triết học, có thể hiểu rằng, giáo dục là một quá trình hai mặt, một mặt đó là sự tác động từ bên ngoài vào đối tượng giáo dục (sự tác động của tri thức, văn hóa nhân loại thông qua nhà sư phạm đến đời sống của học sinh, sinh viên); mặt khác, thông qua sự tác động này làm cho đối tượng tự biến đổi bản thân, tự hoàn thiện,
tự nâng mình lên qua giáo dục [46, tr.38]
Về bản chất, giáo dục là quá trình tổ chức cuộc sống, hoạt động và giao lưu cho đối tượng giáo dục, nhằm giúp họ nhận thức đúng, tạo lập tình cảm và thái độ đúng, hình thành những thói quen hành vi văn minh trong cuộc sống, phù hợp với chuẩn mực xã hội [49, tr.137]
Còn giáo dục đạo đức có thể hiểu là một quá trình tổ chức, hướng dẫn, kích thích hoạt động tích cực của người được giáo dục để họ lĩnh hội được nội dung của các giá trị đạo đức, hình thành nên hệ thống thái độ, hành vi của cá nhân, phù hợp với chuẩn mực đạo đức và sự mong đợi của xã hội Giáo dục đạo đức chính là làm cho người được giáo dục nhận thức được kiến thức văn hóa ứng xử, kỹ năng ứng xử, hành
vi ứng xử… Nhận thức được các phẩm chất nhân cách thể hiện tính nhân văn như: lòng biết ơn, ý thức trách nhiệm, giàu lòng nhân ái, vị tha, biết quan tâm chia sẻ và giúp đỡ người khác… là những giá trị đạo đức cao quý trong các mối quan hệ của con người
Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến giáo dục vì giáo dục có một vai trò quan trọng trong kháng chiến cũng như kiến quốc Nói chuyện tại lớp đào tạo hướng dẫn viên các trại hè cấp I, Người chỉ rõ mục đích của nền giáo dục cách mạng không
Trang 12thể là gì khác ngoài: “Phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, đào tạo lớp người, lớp cán
bộ mới” [42, tr.183] Chính đây là điểm khác nhau cơ bản giữa nền giáo dục mới, nền giáo dục tương lai mà chúng ta đang dốc toàn lực để xây dựng với nền giáo dục cũ – nền giáo dục thực dân Theo Hồ Chí Minh, nền giáo dục thực dân là một nền giáo dục ngu dân, mị dân, hoàn toàn không phải là một nền giáo dục với mục đích mở mang trí tuệ và phát triển tư tưởng cho nhân dân Ngược lại, nền giáo dục thực dân sẽ chỉ làm cho nhân dân ngày càng thêm “u mê” và “đần độn hơn” Đây hoàn toàn là một nền giáo dục phản tiến bộ mang tính chất “đồi bại, xảo trá và nguy hiểm hơn cả sự dốt nát nữa” Vì hậu quả mà nó mang lại chỉ là phá hoại tính nết, nhân cách của người học Điều mà thanh niên học được ở trường học thuộc địa là “lòng “trung thực” giả dối”, tư tưởng “sùng bái những kẻ mạnh hơn mình”, “yêu một Tổ quốc không phải là Tổ quốc của mình và đang áp bức mình”, là sự “khinh rẻ nguồn gốc dòng giống mình” [38, tr.399] Nền giáo dục đó chỉ dạy cho thanh niên thái độ vô tâm, thờ ơ đối với xã hội, xa rời cũng như thiếu cái nhìn đúng đắn đời sống lao động và đấu tranh của nhân dân Mục đích duy nhất và xảo quyệt của nền giáo dục thực dân là đào tạo những người phục vụ cho chính quyền của bọn xâm lược: tùy phái, thông ngôn, viên chức nhỏ
Trong xã hội mới, giáo dục có nhiệm vụ quan trọng và vẻ vang là “Phục vụ đường lối chính trị của Đảng và Chính phủ, gắn liền với sản xuất và đời sống của nhân dân” [35, tr.190] Giáo dục cách mạng là nền giáo dục bình đẳng Nó không dành riêng cho một nhóm người nào trong xã hội mà cho tất cả mọi người
Trong giáo dục, đối tượng chủ yếu mà Hồ Chí Minh nhắm tới là nhi đồng và thanh thiếu niên Bởi lẽ, đây là lứa tuổi, là những mầm non đang trong quá trình hình thành hoàn thiện nhân cách Bên cạnh đó, đây còn là những thế hệ sẽ nắm trong tay tương lai của đất nước, là lực lượng kế tục sự nghiệp cách mạng của thế hệ cha ông nói riêng và của cả dân tộc nói chúng Chính vì vậy, sự định hướng của giáo dục, đặc biệt
là giáo dục nhân cách là một yêu cầu vô cùng cần thiết
Xuất phát từ mục tiêu của giáo dục là đào tạo những con người mới vừa có Đức vừa có Tài, những công dân biết làm chủ để đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ đất nước Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương bồi dưỡng giáo dục thế hệ trẻ một cách toàn diện: đức, trí, thể, mỹ Người yêu cầu: “Trong việc giáo dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, kỹ thuật, lao động và sản xuất” [44, tr.190]
Trang 13Trong công tác giáo dục, Hồ Chí Minh coi trọng cả “Đức” lẫn “Tài”, nhưng đặt giáo dục đạo đức lên hàng đầu Người khẳng định cũng như chỉ rõ vai trò và sức mạnh
to lớn của đạo đức, đạo đức là chính cái gốc của mỗi con người, là cái nền tảng vững chắc của người cách mạng Có đạo đức cách mạng, thì dù nhiệm vụ nặng nề đến mức nào, khó khăn đến bao nhiêu, con người ta đều vượt qua được Theo Hồ Chí Minh,
“Tâm” có sáng thì trí mới sáng, có cái Đức thì cái Tài mới được phát huy, phát triển và trở nên có ích đối với xã hội
Người dạy thanh niên phải yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu CNXH, yêu lao động, yêu khoa học, yêu kỹ thuật… Đó là đạo đức mới và chỉ có thông qua phấn đấu, rèn luyện mới trở thành những con người phát triển toàn diện, có tư tưởng đúng, tình cảm đẹp, có kiến thức, có sức khỏe để làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội, làm chủ bản thân Để làm được như vậy, Người khuyên Thanh niên: “Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền, đào núi và lấp biển, quyết chí ắt làm nên” [40, tr.95]
Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng không phải là bẩm sinh, hay thiên phú
mà là kết quả trực tiếp của hoạt động giáo dục và tự giáo dục, tự rèn luyện của mỗi cá nhân Giáo dục nói chung và giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên nói riêng là sự nghiệp của quần chúng Trong thư Gửi các em học sinh (24/10/1955), Hồ Chí Minh khẳng định: “Giáo dục các em là việc chung của gia đình, trường học và xã hội Bố mẹ, thầy giáo và người lớn phải cùng nhau phụ trách” [42, tr.74] Kết quả giáo dục tùy thuộc rất nhiều vào sự tham gia tích cực, sự giúp đỡ thiết thực và sự giác ngộ về trách nhiệm đối với giáo dục của các ngành, các cấp ủy Đảng, chính quyền cũng như của cha mẹ học sinh và của các lực lượng xã hội Người đề nghị: “Sự giáo dục thanh niên phải liên hệ vào dư luận xã hội, lực lượng của chính phủ để ngăn ngừa những cái gì có thể ảnh hưởng xấu đến thanh niên, để nâng cao tính cảnh giác của thanh niên” [41, tr.455-456]
Xuất phát từ sự nhìn nhận mặt tốt và mặt xấu trong con người, nhất là đối với thanh niên – lứa tuổi đang hoàn thiện nhân cách, đang phát triển và muốn khẳng định mình, Hồ Chí Minh rất coi trọng việc kết hợp cả hai mặt giáo dục và tự giáo dục Theo Người, khi mặt tự giáo dục thực sự được đặt ra ở mỗi người thì việc giáo dục mới có hiệu quả và chắc chắn
Với Hồ Chí Minh, thanh niên có ưu điểm là hăng hái, giàu tinh thần xung phong nhưng cũng có khuyết điểm là ham chuộng hình thức, thiếu thực tế, bệnh cá nhân, bệnh anh hùng Do vậy, thanh niên muốn xứng đáng là người chủ tương lai của
Trang 14nước nhà thì phải tự giác rèn luyện bản thân Đó là yếu tố hết sức quan trọng Trước tiên, thanh niên “phải rèn luyện và thấm nhuần tư tưởng xã hội chủ nghĩa” [43, tr.310]; “Phải trau dồi đạo đức của người cách mạng” [44, tr.305] Người nhắc nhở thanh niên phải luôn luôn gắn chặt quá trình “xây và chống” trong rèn luyện đạo đức Người dạy: “Thanh niên cần phải chống tâm lý tự tư tự lợi, chỉ lo cho lợi ích riêng và sinh hoạt riêng của mình Chống tâm lý ham sung sướng và tránh khó nhọc Chống thói xem khinh lao động, nhất là lao động chân tay Chống lười biếng, xa xỉ Chống cách sinh hoạt ủy mị Chống kiêu ngạo, giả dối, khoe khoang” [41, tr.455]
Như vậy, giáo dục đạo đức là hoạt động của các cá nhân và thiết chế xã hội nhằm hình thành những phẩm chất đạo đức ổn định, những nhu cầu, niềm tin, tình cảm, thói quen trong hành vi đạo đức trên cơ sở nhận thức lý tưởng đạo đức và những nguyên tắc đạo đức xã hội Thông qua giáo dục đạo đức, các khái niệm, giá trị đạo đức được nhận thức sâu sắc hơn, những hành động của con người sẽ phù hợp hơn với các chuẩn mực xã hội, làm cho con người có khả năng tự kiểm tra, đánh giá, thẩm định và điều chỉnh hành
vi của mình Đạo đức có quan hệ chặt chẽ với lối sống Đạo đức là mặt nội dung, qui định lối sống Còn lối sống là mặt thể hiện của đạo đức Do đó, giáo dục đạo đức chính là giáo dục lối sống một cách gián tiếp, là quá trình định hướng lối sống cho mỗi cá nhân
1.1.3 Những phẩm chất đạo đức và nguyên tắc xây dựng đạo đức mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Vấn đề đạo đức được Hồ Chí Minh xem xét một cách toàn diện đối với mọi
giai cấp và tầng lớp nhân dân lao động, đặc biệt là cán bộ, đảng viên Người yêu cầu rèn luyện đạo đức trong các môi trường gia đình, công sở, xã hội Tấm gương và tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh có giá trị to lớn, lâu dài trong phạm vi dân tộc và quốc tế Người đề cập đạo đức trong nhiều mối quan hệ khác nhau, nhưng chủ yếu là các mối quan hệ với mình, với người và với việc
Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức cách mạng là gốc của người cách mạng, từ rất
sớm và xuyên suốt cuộc đời cách mạng của mình Cuốn sách Đường cách mệnh năm
1927 không phải là một chuyên luận về vấn đề đạo đức cách mạng, nhưng ở trang đầu cuốn sách Người đã nêu lên hai mươi ba điều về tư cách một người cách mạng, giải quyết ba mối quan hệ: Với mình, với người, với việc Những thập kỷ bốn mươi, năm mươi, sáu mươi, Người đều có những bài viết ngắn gọn, súc tích về đạo đức cách
mạng Trong Di chúc, Người nhấn mạnh: Đảng ta là một Đảng cầm quyền Mỗi đảng
Trang 15viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn viên và thanh niên, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”
Người coi đạo đức như gốc của cây, như nguồn của sông, cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự
đức cách mạng được Hồ Chí Minh khẳng định: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới, là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ Sức có mạnh mới gánh
được nặng và đi được xa Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền
thành nhân tố quyết định sự thành bại của mọi công việc, phẩm chất mỗi con người:
“Mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không”, “Tuy năng lực và công việc mỗi người có khác nhau, người làm việc
to, người làm việc nhỏ, nhưng ai giữ được đạo đức cách mạng đều là người cao thượng”
Nghiên cứu di sản tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, ta thấy Người có những lời dạy với những phẩm chất đạo đức cụ thể cho từng đối tượng Người nêu cái đúng, cái tốt, cái hay, đồng thời cũng chỉ ra cái sai, cái xấu, cái dở để giáo dục đạo đức cho các tầng lớp nhân dân Qua đó, Hồ Chí Minh đã nêu bật những phẩm chất đạo đức cơ bản nhất của con người Việt Nam trong thời đại mới Đây cũng là những phẩm chất của nền đạo đức mới, đạo đức cách mạng Việt Nam
Thứ nhất, trung với nước, hiếu với dân
Đây là phẩm chất đạo đức bao trùm quan trọng nhất và chi phối các phẩm chất khác Trung, hiếu là những khái niệm đạo đức trong xã hội phong kiến phương Đông Trên cơ sở kế thừa, phát triển chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam, khắc phục,
vượt qua những hạn chế của truyền thống đó, Hồ Chí Minh khẳng định trung với
Trang 16nước, hiếu với dân là một trong những phẩm chất của đạo đức cách mạng Việt Nam
Hồ Chí Minh không gạt bỏ từ ngữ “trung, hiếu” đã ăn sâu, bám rễ trong con người Việt Nam với một ý nghĩa trách nhiệm, bổn phận của người dân, người con Với khái
niệm cũ, Người đưa vào đây một nội dung mới, cách mạng, phản ánh đạo đức ngày
nay cao rộng hơn, không phải trung với vua và chỉ có hiếu với cha mẹ, mà “trung với nước, hiếu với dân”
Đây là cuộc cách mạng trong quan niệm đạo đức Người gạt bỏ điều cốt lõi nhất trong đạo đức Nho giáo là lòng trung thành tuyệt đối với chế độ phong kiến và ông vua phong kiến Cái mà Nho giáo tôn thờ nhất chính là cái mà cách mạng lên án và đánh đổ Hồ Chí Minh không thể chấp nhận lòng trung thành tuyệt đối của nhân dân bị
áp bức với kẻ áp bức mình, “Trung với nước” thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng, xã hội; thể hiện trách nhiệm với sự nghiệp dựng nước và giữ nước, với con đường đi lên của đất nước Nước ở đây là nước của dân và dân là chủ nhân của nước
Từ chỗ “trung với vua, hiếu với cha mẹ” chuyển thành “trung với nước, hiếu với dân” là một sự đảo lộn trong quan niệm đạo đức truyền thống Hồ Chí Minh đã viết: “Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất chân chổng lên trời Đạo đức mới
như người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngửng lên trời” [40, tr.320-321]
Nhân dân từ chỗ là kẻ nghèo hèn, phải được chăn dắt, sai khiến trở thành lực lượng làm nên lịch sử, sáng tạo ra lịch sử Trước, quan là phụ mẫu của dân, thì nay - Đảng, cán bộ, đảng viên là “đầy tớ trung thành của nhân dân” Theo Hồ Chí Minh, trung với nước, hiếu với dân là phải suốt đời đấu tranh cho cách mạng, ra sức làm việc, giữ vững
kỷ luật, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng Hồ Chí Minh dạy rằng, hiếu với dân thì phải hoà mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng, làm cho dân tin, dân phục, dân yêu, đoàn kết quần chúng chặt chẽ xung quanh Đảng, tổ chức tuyên truyền và động viên quần chúng hăng hái thực hiện chính sách và nghị quyết của Đảng; phải lấy dân làm gốc, phải thực hiện dân chủ, bao nhiêu lợi ích đều vì dân Đảng, Nhà nước hoạt động phải gần dân, thân dân, lấy trí tuệ ở dân, học hỏi dân, phải biết làm học trò dân mới làm được thầy học của dân Chỉ có thực hiện được như thế thì người cách mạng mới được dân tin yêu, cách mạng mới đi đến thành công
Trang 17Thứ hai, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
Phẩm chất này gắn bó chặt chẽ với phẩm chất “trung với nước, hiếu với dân” Việc thực hiện phẩm chất này, đặt ra đối với tất cả mọi người, đòi hỏi mỗi người phải lấy bản thân mình làm đối tượng điều chỉnh Nó diễn ra hàng ngày, hàng giờ, trong công tác, sinh hoạt Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là những khái niệm đạo đức phương Đông, đạo đức truyền thống Việt Nam, được Hồ Chí Minh tiếp thu chọn lọc, đưa vào những yêu cầu và nội dung mới Người khẳng định: “Bọn phong kiến ngày xưa nêu ra cần, kiệm, liêm, chính, nhưng không bao giờ làm mà lại bắt nhân dân phải tuân theo để phụng sự quyền lợi cho chúng Ngày nay ta đề ra cần, kiệm, liêm, chính cho cán
bộ thực hiện làm gương cho nhân dân theo để lợi cho nước, cho dân” [40, tr.321]
Tháng 6-1949, với bút danh Lê Quyết Thắng, Hồ Chí Minh viết tác phẩm Cần,
kiệm, liêm, chính Sau đó, Người thường xuyên đề cập tới các phạm trù đạo đức này
Hồ Chí Minh không chỉ giải thích nghĩa của cần, kiệm, liêm, chính mà Người còn nêu lên mối quan hệ giữa bốn phẩm chất đó: “Cần, Kiệm, Liêm, là gốc rễ của Chính Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có ngành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn Một người phải Cần, Kiệm, Liêm, nhưng còn phải Chính mới là người hoàn toàn”
[39, tr.643] So sánh với bốn mùa của trời, bốn phương của đất, Người cho rằng:
“Thiếu một mùa thì không thành trời Thiếu một phương thì không thành đất, thiếu một đức, thì không thành người”
Cần, kiệm, liêm, chính đối với cán bộ đảng viên lại càng cần thiết, bởi vì: “Cán
bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ Dù to hay
nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút” [39, tr.641]
Theo Hồ Chí Minh, càng có chức, có quyền càng cần phải cần kiệm, liêm, chính Người viết: “Những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của
dân” [39, tr.104]
Theo Hồ Chí Minh, cần, kiệm, liêm, chính là thước đo văn minh, tiến bộ của một dân tộc Người viết: “Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm, là một dân tộc giàu về
vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ” [39, tr.642]
Cần, kiệm, liêm, chính, vì vậy là “nền tảng của đời sống mới, của thi đua ái quốc”; là cái cần để “làm việc, làm người, làm cán bộ, phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại” Đồng chí Phạm Văn Đồng cho rằng “cần, kiệm,
Trang 18liêm, chính là đặc điểm của xã hội hưng thịnh Những điều trái lại là đặc điểm của xã hội suy vong”
Chí công, vô tư là không nghĩ đến mình trước, hưởng thụ đi sau, là “lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào” Điều mà Phạm Trọng Yêm đời Tống đã nói: “Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc” đã được Hồ Chí Minh đưa thành nội dung phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân Hồ Chí Minh đòi hỏi, thực hành chí công vô tư là phải “kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng” Bởi vì, chủ nghĩa cá nhân là trái với chủ nghĩa tập thể, trái với đạo đức cách mạng
Hồ Chí Minh chỉ ra chủ nghĩa cá nhân là một thứ rất gian giảo, xảo quyệt, nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc Nó là một thứ vi trùng rất độc, đẻ ra hàng trăm thứ bệnh: tham ô, hủ hoá, lãng phí, xa hoa, tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành,
tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền, quan liêu mệnh lệnh Tóm lại, chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng tiểu tư sản còn ẩn nấp trong mình mỗi người chúng ta Nó chờ dịp - hoặc dịp thất bại, hoặc dịp thắng lợi - để ngóc đầu đậy Nó là một kẻ địch, bạn đồng minh của các kẻ địch khác
Tuy nhiên, cần có nhận thức về sự thống nhất giữa lợi ích chung và lợi ích riêng, cần phân biệt giữa chủ nghĩa cá nhân và lợi ích cá nhân Chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”, chỉ “lo mình béo mặc thiên hạ gầy” Như thế là phải “tiêu diệt”, “quét sạch”, “trừ bỏ” Theo Hồ Chí Minh, “đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân” “Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích của tập thể thì không phải là xấu [43, tr.291]
Thứ ba, yêu thương con người
Xuất phát từ nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, đặc biệt là từ thực tiễn cách mạng, từ cuộc sống của các dân tộc bị áp bức và giai cấp cần lao, Hồ Chí Minh cho rằng, trên đời này có hàng muôn triệu người, hàng trăm nghìn công việc nhưng có thể chia thành hai hạng người: người Thiện và người Ác, và hai thứ việc: việc Chính và việc Tà Có lúc Người khái quát hai hạng người đó là hạng người đi áp bức bóc lột và hạng người bị áp bức bóc lột Hồ Chí Minh chỉ rõ: làm việc chính là người thiện, làm
Trang 19việc tà là người ác Cần phải thực hành chữ Bác ái Khi trả lời các nhà báo, Người nói: Tôi yêu nhất điều thiện và ghét nhất điều ác
Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người rất toàn diện và độc đáo Con người không phải thần thánh, có tốt có xấu ở trong lòng Dù văn minh hay dã man, tốt hay xấu, đều có tình Chúng ta cần làm cho trong mỗi con người phần tốt nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu mất dần đi
Tình yêu thương con người ở Hồ Chí Minh không chung chung trừu tượng kiểu tôn giáo, mà trước hết dành cho những người mất nước, người cùng khổ
Hồ Chí Minh yêu thương con người với một tình cảm sâu sắc, vừa bao la, vừa gần gũi, bao trùm cả cộng đồng đến từng số phận con người Người thức tỉnh, tái tạo lương tâm, vạch hướng đi, đánh thức những gì tốt đẹp nhất trong mỗi con người, tạo điều kiện cho con người đứng dậy, vươn lên hoàn thành nhiệm vụ
Hồ Chí Minh yêu thương những con người đang sống trên trái đất này Đó là tình yêu thương gắn liền với hành động cụ thể để mang lại cơm ăn, nước uống, trả lại nhân phẩm cho con người
Tình yêu thương con người ở Hồ Chí Minh vượt ra ngoài phạm vi dân tộc, mang tính nhân loại, vừa bốn biển năm châu, vừa bốn phương vô sản Đó chính là một nội dung cơ bản của tinh thần quốc tế trong sáng thủy chung
Hồ Chí Minh là bậc danh nhân, thể hiện tinh thần phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân Đó cũng chính là phẩm chất đạo đức cách mạng “giàu sang không quyến rũ, nghèo khó không chuyển lay, uy vũ không khuất phục” mà người cộng sản quyết tâm thực hiện để phục vụ quần chúng nhân dân
Thứ tư, tinh thần quốc tế trong sáng, thủy chung
Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự thống nhất, hòa quyện giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng
Chủ nghĩa quốc tế là một trong những đặc điểm quan trọng nhất của đạo đức cộng sản chủ nghĩa Nó bắt nguồn từ bản chất quốc tế của giai cấp công nhân và của xã hội xã hội chủ nghĩa
Nội dung chủ nghĩa quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh rộng lớn và sâu sắc Đó
là sự tôn trọng và thương yêu tất cả các dân tộc, nhân dân các nước, chống sự hằn thù, bất bình đẳng dân tộc và sự phân biệt chủng tộc Người khẳng định: bốn phương vô sản đều là anh em; giúp bạn là giúp mình; thắng lợi của mình cũng là thắng lợi của nhân dân
Trang 20thế giới Người đã góp phần to lớn, có hiệu quả xây đắp tình đoàn kết quốc tế, tạo ra một kiểu quan hệ quốc tế mới: đối thoại thay cho đối đầu, kiến tạo một nền văn hóa hòa bình trên thế giới
Những nguyên tắc cơ bản xây dựng đạo đức mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Nói đến tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, phải chú ý tới con đường và phương pháp hình thành đạo đức mới Đặc điểm và quy luật hình thành tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh cho thấy rõ một số nguyên tắc xây dựng đạo đức mới cơ bản sau đây:
Thứ nhất, tu dưỡng đạo đức bền bỉ suốt đời thông qua thực tiễn cách mạng
Theo Hồ Chí Minh, “đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện cành trong
Có gì sung sướng vẻ vang hơn là trau dồi đạo đức cách mạng để góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và giải phóng loài người [43, tr.293]
Vì vậy, Hồ Chí Minh đòi hỏi phải “gian nan rèn luyện mới thành công” “Hiền dữ đâu phải là tính sẵn Phần nhiều do giáo dục mà nên” “Kiên trì và nhẫn nại Không nao núng tinh thần”
Tu dưỡng đạo đức cách mạng phải trên tinh thần tự giác, tự nguyện, dựa vào lương tâm của mỗi người và dư luận của quần chúng Người cách mạng phải ý thức được đạo đức cách mạng là nhằm giải phóng con người và là đạo đức của những con người được giải phóng Đã hoạt động cách mạng thì khó tránh khỏi sai lầm và khuyết điểm Vấn đề là phải cố gắng sửa chữa sai lầm và khuyết điểm Tu dưỡng đạo đức mới phải gắn với thực tiễn, bền bỉ mọi lúc, mọi nơi, mọi hoàn cảnh Như vậy mới phân biệt được việc tu dưỡng đạo đức của người cộng sản với cách tu dưỡng của các nhà nho Người viết: “Tư tưởng cộng sản với tư tưởng cá nhân ví như lúa với cỏ dại Lúa phải chăm bón rất khó nhọc thì mới tốt được Còn cỏ dại không cần chăm sóc cũng mọc lu
bù Tư tưởng cộng sản phải rèn luyện gian khổ mới có được Còn tư tưởng cá nhân thì
nhân “ví như rửa mặt thì phải rửa hàng ngày”
Thứ hai, nêu gương đạo đức, lời nói đi đôi với việc làm
Đây không chỉ là một nguyên tắc rèn luyện đạo đức, mà còn là ranh giới phân biệt giữa đạo đức cách mạng và không phải đạo đức cách mạng
Trang 21Nói nhưng không làm là đặc trưng đạo đức của giai cấp bóc lột Lời nói phải đi đôi với việc làm và thực hành đạo làm gương là đạo đức của người cách mạng nói chung, nằm trong vốn văn hoá phương Đông nói riêng Hồ Chí Minh viết: “Nói chung thì các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền” [38, tr.263] Người nhấn mạnh:
“Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến
Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước Hô hào dân tiết kiệm,
“làng nước theo sau”
Đạo làm gương phải được quán triệt trong tất cả mọi đối tượng, mọi lĩnh vực:
từ Đảng, Nhà nước, các đoàn thể đến nhà trường, gia đình, xã hội
Đạo làm gương, lời nói đi đôi với việc làm của Hồ Chí Minh thực sự có một sức thu hút mãnh liệt, khiến cho cả dân tộc, nhiều thế hệ, các giai tầng xã hội đều tin tưởng đi theo tiếng gọi của Người
Thứ ba, xây dựng đạo đức mới, đấu tranh với những hiện tượng phi đạo đức
Trong Đảng và mỗi con người, vì những lý do khác nhau, không phải “người người đều tốt, việc việc đều hay” Vả lại, để tiến lên chủ nghĩa xã hội, cuộc đấu tranh phải lâu dài và gian khổ Cần có người cách mạng là vì còn có kẻ chống lại cách mạng
Có nhiều kẻ địch, nhưng Hồ Chí Minh nhấn mạnh ba loại: chủ nghĩa tư bản và bọn đế quốc là kẻ địch rất nguy hiểm Thói quen và truyền thống lạc hậu cũng là kẻ địch to,
nó ngấm ngầm ngăn trở cách mạng tiến bộ Loại địch thứ ba là chủ nghĩa cá nhân
Từ đó Người kết luận: “Đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnh nào, cũng
phải quyết tâm đấu tranh, chống mọi kẻ địch, luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu,
Hồ Chí Minh yêu cầu “trước hết phải đánh thắng lòng tà là kẻ thù trong mình” Với việc, với người thì nhất thiết phải phê phán, đấu tranh, loại bỏ những hiện tượng phi đạo đức, tàn dư đạo đức cũ Hàng trăm thứ bệnh do chủ nghĩa cá nhân đẻ ra thì phải tiêu diệt, vì đó là cản trở lớn trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội Nhưng phải thấy rằng, chống là nhằm xây, đi liền với xây và lấy xây làm chính Lấy gương người
Trang 22tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới
Ngày nay, tình hình mọi mặt so với thời Hồ Chí Minh còn sống đã có nhiều thay đổi Nhưng nhiều cái xấu, cái ác, cái sai, cái vô đạo đức mà Người đã nêu lên từ
những năm 1925-1927, trong Đường cách mệnh, đặc biệt từ năm 1945 trở đi, đến nay
dưới nhiều biểu hiện khác nhau, vẫn tiếp tục tồn tại Do đó, quan điểm Hồ Chí Minh
về xây dựng đạo đức mới đấu tranh với những hiện tượng phi đạo đức vẫn có ý nghĩa thời sự
1.2 Nhân cách sinh viên
1.2.1 Nhân cách và cấu trúc của nhân cách
Từ trước khi ra đời triết học Mác, tư tưởng về nhân cách đã được Arixtốt (385 – 322 TCN) – nhà triết học cổ uyên bác người Hy Lạp – bàn đến khi ông cho rằng, con người là một “động vật chính trị” (Joon poltikon) Với quan niệm này, bước đầu Arixtốt đã thấy được vai trò của xã hội, của giáo dục đào tạo tác động đến sự phát triển của con người như một nhân cách Đến cuối thể kỷ XIX đầu thế kỷ XX, lần đầu tiên, hai nhà tâm lý học người Đức Dilthey và Spranger mới đưa ra khái niệm nhân cách Theo đó, các ông cho rằng nhân cách là cái mặt nạ có tính chất xã hội của cái tôi bên trong Khi nào cái mặt nạ đó trung với cái tôi thì nhân cách phát triển đến chín muồi”.[27, tr.42]
Để hiểu sâu sắc hơn khái niệm nhân cách, cần phân biệt khái niệm nhân cách với các khái niệm có liên quan như: con người, các nhân, cá thể Khi nhân thức và nghiên cứu về vấn đề con người, chủ nghĩa Mác đã tìm ra mối qua hệ bên trong và sự khác biệt tương đối giữa các khái niệm: Con người, cá nhân, cá thể và nhân cách Trong đó:
Con người, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác là chủ thể của hoạt động lao động, vừa là sản phẩm vừa là chủ thể sáng tạo ra lịch sử Trong quá trình hoạt động thực tiễn cải tạo tự nhiên và xã hội, con người từng bước hoàn thiện chính bản thân mình Bản chất con người mang phẩm chất xã hội
Bản chất con người, một mặt bị qui định bởi môi trường và hoàn cảnh lịch sử
mà con người tồn tại nhưng mặt khác chính là con người cũng tạo ra hoàn cảnh cho phù hợp với mục đích, nhu cầu và lịch ích của bản thân con người Mác viết: “Bản
thân xã hội sản xuất ra con người với tính cách là con người như thế nào thì nó cũng
Trang 23sản xuất ra xã hội như thế” [36, tr.169] Trong “Luận cương về Feuerbach” năm 1845,
Mác nhấn mạnh “Đời sống xã hội, về thực chất là có tính chất thực tiễn”
[34, tr.12] Quan điểm của chủ nghĩa duy vật mới là xã hội loài người, hay loài người
xã hội hóa “Nhưng bản chất con người không phải là một sự trừ tượng cố hữu của cá
nhân riêng biệt, Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là sự tổng hòa những quan hệ xã hội” [34, tr.12] Đây là luận điểm tiêu biểu nổi tiếng nhất của triết học Mác – Lênin về bản chất con người Nó đã trở thành có cơ sở khoa học cho các tiếp cận nghiên cứu về con người
Như đã phân tích ở trên, nhân cách là của con người và chỉ có con người mới có
nhân cách nhưng không vì thế mà chúng ta đồng nhất con người với nhân cách Con
người là một thực thể sinh vật – xã hội Các yếu tố sinh vật ở mỗi con người chỉ được tạo nên để hình thành nhân cách, hình thành phẩm chất xã hội đặc thù của nhân cách, còn nhân cách phản ánh trình độ phát triển về mặt xã hội, phản ánh mức độ cá thể hóa, tính độc đáo trong mỗi cá nhân con người Nhân cách là sự thống nhất biện chứng giữa yếu tố xã hội và yếu tố cá nhân trong mỗi con người
Cá nhân được hiểu là:
Một chỉnh thể đơn nhất gồm cả một hệ thống những đặc điểm cụ thể, không lặp lại, khác biệt với những cá nhân khác về cơ thể, tâm lý, trình độ…nhưng đó mới chỉ là
sự khác biệt lộ ra bên ngoài so với những cá nhân khác, còn đi vào chiều sâu bên trong của cá nhân là toàn bộ hoạt động sống của nó, người ta sử dụng thêm phạm trù nhân cách [13, tr.265]
Khái niệm cá nhân, trước hết, chỉ một cá thể riêng lẻ với tư cách là đại biểu cho loài sinh vật phát triển cao nhất Thứ hai, chỉ một phần tử đơn nhất, riêng lẻ của cộng
đồng xã hội Cá nhân đặc trưng trong con người sự thống nhất giữa những đặc điểm riêng biệt của cá nhân với chức năng xã hội mà cá nhân đó thực hiện Hoạt động xã hội qui định những phẩm chất của cá nhân như biết suy nghĩ, biết đánh giá thực tế cuộc sống V.I.Lênin đã viết: “Chúng ta căn cứ vào cái gì để xét đoán những tư tưởng và tình cảm thực của các cá nhân có thực? Tất nhiên, căn cứ đó chỉ có thể là những hoạt động của các cá nhân ấy, và một khi vấn đề chỉ là tư tưởng và tình cảm xã hội thì cần phải nói thêm: những hoạt động xã hội của cá nhân tức là những sự kiện xã hội” [28, tr.531]
Mặt khác, đề cập đến khái niệm cá nhân là người ta muốn đặt nó trong quan hệ
với mặt đối lập với nó là khái niệm xã hội: Cá nhân – xã hội Trong đó, cá nhân người
Trang 24là một chỉnh thể đơn giản nhất gồm cả một hệ thống những đặc điểm cụ thể, không lặp lại, khác biệt với những cá nhân khác về cơ thể, tâm lý, trình độ…Bất kì xã hội nào cũng được cấu thành không phải từ những con người trừu tượng mà chính từ những cá nhân cụ thể, những cá nhân sống, cá nhân – xã hội Trong xã hội có giai cấp, ngoài những đặc trưng riêng có của mình, mỗi cá nhân đều mang bản chất chung của loài người và mang bản chất của một giai cấp nhất định
Tóm lại, cá nhân là một khái niệm triết học dùng để chỉ một con người, một
thành viên của xã hội là sản phẩm của sự phát triển xã hội, là chủ thể của hoạt động, chủ thể của những quan hệ xã hội và chủ thể của nhận thức trong một điều kiện lịch
cá nhân và nó cũng tác động đến cả nhân cách cá nhân ấy Như vậy, nhân cách được
cá thể hóa ở từng cá nhân, được biểu hiện thông qua từng cá nhân nhưng không đồng nhất với cá nhân
Hiện nay, có rất nhiều ngành học nghiên cứu và đưa ra nhiều định nghĩa về nhân cách, có thể nêu một số định nghĩa tiêu biểu như: S.Freud – cha đẻ của thuyết phân tâm, một nhà tâm thần học người Áo cho rằng bản chất của nhân cách là thuộc tính sinh vật hay sinh vật hóa thuộc tính nhân cách Nhân cách được gọi như bản năng tính dục, nhân cách con người bao gồm ba bộ phận: "bản năng", “ý thức" và "siêu thức" và các bộ phận trên tồn tại không ôn hoà trong nhân cách con người, giữa chúng luôn mâu thuẫn, đấu tranh với nhau và bao giờ bộ phận "vô thức” với các bản năng tình dục cũng chiến thắng và quyết định cho toàn bộ hành vi ứng xử tâm lý của con người Động lực của sự phát triển nhân cách xuất phát từ các nhu cầu động cơ mang tính sinh học các nhu cầu cơ thể mà trước hết và cơ bản là nhu cầu, bản năng tình dục
là động lực chính ; hay theo nhà tâm lý học người Mỹ G.Allport nhân cách coi sự vô thức tập thể (kaal Jung); bản chất nhân cách là nhân tính con người Nhân cách là động
cơ tự động điều hành; nhân cách được hiểu là toàn bộ mối quan hệ của cá nhân con người; nhân cách được hiểu đồng nhất với khái niệm con người; nhân cách được hiểu
Trang 25như cá nhân con người với tư cách là chủ thể của các mối quan hệ và hoạt động có ý thức; nhân cách được hiểu là một thuộc tính nào đó [11] Đại biểu nổi tiếng nhất của chủ nghĩa Nhân bản triết học tư sản thế kỷ XX là M.Scheler – một nhà triết học Đức cho rằng: “Bản chất vốn có của con người không gắn với tồn tại của nó về mặt sinh vật
và xã hội mà nằm trong tinh thần của nó, trong khả năng của con người trở thành nhân cách” [14, tr.23] Theo quan niệm của ông, con người không tồn tại thực mà con người chỉ là một bộ phận của thực tại tinh thần Nhìn chung, các học thuyết trên hoặc xem nhân cách như là sự đáp ứng nhu cầu sinh học thuần túy, hoặc xem nhân cách chỉ có tính chất thuần túy của cá nhân con người mà không thấy được tính quyết định của vai trò xã hội trong sự hình thành và phát triển nhân cách con người
Triết học Mác ra đời đánh dấu bước ngoặc vĩ đại trong lịch sử tư tưởng của nhân loại Theo đánh giá của Lênin, triết học Mác đã khắc phục được hai thiếu sót lớn nhất của lịch sử triết học: Chủ nghĩa duy tâm “không thấy được” điểm xuất phát là hiện thực khách quan và chủ nghĩa duy vật siêu hình “không thấy được” vai trò tích cực của chủ thể con người Chủ nghĩa Mác khẳng định: Con người là một thực thể sinh vật – xã hội Mặt xã hội không trừu tượng, trống rỗng, hư vô mà nó là sự phản ánh hiện thực của tồn tại sinh vật – xã hội Con người sinh ra và phát triển không chỉ tuân theo những qui luật sinh học mà nó còn chịu sự tác động của những qui luật xã hội Sự hoàn thiện bản chất xã hội trong mỗi con người cũng đồng thời là quá trình hoàn thiện nhân cách Trong quá trình này, cái sinh vật ngày càng được xã hội hóa, nhân tính hóa nhiều hơn Nhân cách được hình thành và phát triển trong quá trình sống, lao động và trong các quan hệ giao tiếp của con người
Tuy nhiên, trên lập trường triết học mácxít giữa các nhà khoa học cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về nhân cách, chẳng hạn: “Nhân cách là hệ thống những phẩm giá xã hội của cá nhân thực hiện trong cá nhân, ngoài cá nhân, thông qua hoạt động giao tiếp của cá nhân ấy” [10, tr.74], “Nhân cách là toàn bộ những đặc điểm tâm
lý của cá nhân đã hình thành và phát triển trong các quan hệ xã hội” [46, tr.80] hoặc khái niệm nhân cách được thể hiện là toàn bộ đời sống tinh thần và xã hội của con
người Khái niệm này cho phép hiểu bản chất người ở mỗi cá nhân, cái tư cách làm
người của nó, cái phân biệt nó với các loài động vật Có thể nhận thấy rằng, các quan
điểm đó tập hợp thành hai khuynh hướng cơ bản:
Trang 26Một là: Coi nhân cách như là đặc trưng, chức năng, vai trò, vị trí của con người
trong xã hội
Hai là: Coi nhân cách là đặc trung bản chất của con người
Khi bàn về vấn đề con người, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đặc biệt chú
ý đến bản chất xã hội của con người, lý giải các quan hệ xã hội tham gia vào sự hình thành bản chất ấy cũng như vai trò của thực tiễn và hoạt động thực tiễn đối với sự bộc
lộ những sức mạnh bản chất Người tới sự hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân
cách Từ đó, triết học Mác – Lênin xem nhân cách là những phẩm chất, những trạng
thái, tính chất, xu hướng bên trong của từng cá nhân Đó là thế giới của cái “tôi” do tác động tổng hợp của các yếu tố cơ thể và xã hội hết sức riêng biệt tạo nên để cá nhân đó có thể tồn tại và hoàn thành trách nhiệm của mình đối với bản thân và xã hội
[12, tr.264]
Từ định nghĩa nêu trên, khi bàn đến nhân cách là nói tới nhân cách của con
người hiện thực, gắn liền với bản chất xã hội của nó, là sản phẩm của những hoàn cảnh
xã hội, hoàn cảnh lịch sử cụ thể Nhân cách là kết quả của hoạt động của con người trong quá trình họ tiếp nhận sự giáo dục của xã hội và quá trình tự giáo dục của bản thân Quá trình này có ý nghĩa đặc biệt trong sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi người Trong sự phát triển nhân cách, các yếu tố sinh vật di truyền, tâm sinh lý là
cơ sở tự nhiên mà trên cơ sở đó hình thành những đặc điểm lịch sử - xã hội của nhân cách
Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước về cấu trúc nhân cách, trong khóa luận này, tôi chỉ đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu và trình bày quan niệm về cấu trúc của nhân cách mà quá trình hình thành và phát triển của các yếu tố cấu thành chịu nhiều ảnh hưởng từ giáo dục – đào tạo Quan niệm này
cho rằng, cấu trúc nhân cách gồm hai mặt thống nhất với nhau là phẩm chất và năng
lực Cấu trúc này theo Hồ Chí Minh chính là sự thống nhất giữa Đức và Tài trong mỗi
nhân cách Trong cấu trúc này, Đức được coi là thành phần đặc biệt của nhân cách Tài
là các năng lực thích ứng với xã hội của con người, là hiệu suất, hiệu quả trong một lĩnh vực nào đó của họ Ta có thể khái quát lại cấu trúc Đức – Tài như sau:
Thứ nhất, mặt Đức được gọi là “gốc”, là cơ sở nền tảng của sự hình thành và
phát triển nhân cách được thể hiện thông qua những phẩm chất chủ yếu sau:
Trang 27- Phẩm chất đạo đức cá nhân: Theo quan điểm triết học mácxít, đạo đức là một
hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội Chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn của mình, các cá nhân thực hiện đạo đức xã hội như là hệ thống kinh nghiệm xã hội, những lý tưởng, chuẩn mực,
tư tưởng đánh giá đạo đức đều được hình thành trong lịch sử cộng đồng, biến kinh nghiệm xã hội thành kinh nghiệm bản thân
Một cách khái quát, đạo đức cá nhân là đạo đức của từng cá nhân riêng lẻ của cộng đồng, phản ánh và khẳng định tồn tại xã hội của các cá nhân ấy như là một thể hiện riêng rẽ của tồn tại xã hội về lợi ích và hoạt động của các cá nhân
- Phẩm chất ý chí, tính kỷ luật, tính phê phán, cung cách ứng xử, tác phong… là
những phẩm chất quan trọng của một con người có nhân cách
- Sự phát triển cao của ý thức thẩm mỹ là một phẩm chất quan trọng trong nhân
cách Với một ý thức thẩm mỹ cao, cá nhân có một cuộc sống tinh thần thanh cao, khoáng đạt, vui vẻ, khơi dậy ở bản thân tiềm năng sáng tạo không ngừng, ý thức luôn vương với và chiếm lĩnh cái đẹp trong mỗi con người
Thứ hai, mặt Tài – là năng lực hoàn thành các hoạt động được giao với chất
lượng và hiệu quả cao Năng lực của các nhân, một mặt xây dựng trên cơ sở của những phẩm chất tâm sinh lý, mặt khác, quan trọng hơn đó là kết quả của quá trình tích lũy tri thức, kinh nghiệm trong hoạt động nhận thức và cải tạo thực tiễn, là sự phát triển về mặt tư chất được biểu hiện ra các mức độ như: năng khiếu, tài năng, thiên tài Ở mức
độ chung nhất có thể xem xét ở các mặt sau:
Năng lực xã hội hóa: Biểu đạt khả năng chiếm lĩnh tri thức, vốn tri thức được
tích lũy, biến những tri thức đó thành cơ sở cho sự vận dụng, sáng tạo của chủ thể mang nhân cách trong hoạt động thực tiễn
Năng lực chủ thể hóa: Biểu đạt khả năng thể hiện cái “tôi”, bản lĩnh và dấu ấn
các nhân trong các quan hệ xã hội
Năng lực hành động: Thể hiện khả năng hành động theo mục đích, có tinh thần
chủ động và cao nhất là thể hiện tính tích cực xã hội của chủ thể mang nhân cách
Trang 28Năng lực trong mỗi nhân cách phát triển ở mức độ khác nhau, tùy thuộc vào năng khiếu bẩm sinh của mỗi con người nhưng yếu tố giữ vai trò quyết định hơn cả đó chính
là quá trình tu dưỡng, rèn luyện, học tập trong hoạt động thực tiễn của mỗi các nhân
Có thể nói, sự thống nhất giữa những phẩm chất và năng lực, giữa Đức và Tài
mà mỗi cá nhân đạt được trong quá trình học tập, lao động và tu dưỡng được xã hội thừa nhận như một giá trị đã tạo thành nhân cách của chính cá nhân ấy Giá trị, theo
Giáo sư Vũ Khiêu viết trong lời giới thiệu tác phẩm “Những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam” của tác giả Trần Văn Giàu thì có thể phân loại thành: Giá trị vật chất và giá trị tinh thần, giá trị xã hội và giá trị cá nhân, giá trị thiết yếu và giá trị cao đẹp Về mặt cá nhân thì những thành tựu về mặt vật chất và tinh thần mà con người đã đặt được trong quá trình hoạt động thực tiễn như tri thức khoa học, phẩm chất đạo đức, tài năng, sức khỏe và cái đẹp của thân thể…là những giá trị mà cá nhân
đạt được trong quá trình học tập, rèn luyện trên cả bốn mặt trí, đức, thể, mỹ “Tổng hòa
những giá trị ấy ở mỗi cá nhân sẽ đem lại cho cá nhân ấy một bản lĩnh độc đáo, khiến cho cá nhân ấy trở thành một nhân cách độc đáo (personnalité), và tồn tại như một giá
trị” [24, tr.11] Như vậy, quá trình hình thành và đạt đến trình độ ổn định bền vững
những giá trị làm người trong mỗi người cũng chính là quá trình hình thành và phát triển nhân cách ở họ Những giá trị này, một mặt đã trở thành động lực thúc đẩy mỗi
cá nhân mang nhân cách thực hiên các chức năng xã hội, khẳng đinh sự tồn tại thực của nhân cách đó Mặt khác, nó bộc lộ xu hướng của chính nhân cách ấy, chỉ rõ những hạn chế điều chỉnh, những thiếu hụt cần bổ sung đối với mỗi nhân cách trên con đường
phát triển và hoàn thiện Tính tự điều chỉnh chính mình trước những tác động của xã
hội chính là linh hồn của nhân cách con người
1.2.2 Sinh viên và nhân cách sinh viên
người học tập, nghiên cứu, người đi tìm kiếm, khai thác tri thức Khác với học sinh phổ thông, bên cạnh hoạt động chủ đạo là học tập, lĩnh hội tri thức của thầy, người sinh viên còn phải có nhiệm vụ tự học, tự nghiên cứu trên cơ sở tư duy độc lập Về bản chất, quá trình học tập của sinh viên ở bậc đại học là quá trình nhận thức có tính nghiên cứu
Ở Việt Nam, sinh viên là một bộ phận thanh niên đã được tuyển chọn qua các
kỳ thi quốc gia và được đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng Sinh viên là lớp
Trang 29người đang trưởng thành, đang chuẩn bị hành trang nghề nghiệp cần thiết và chín muồi
về nhân cách Là một bộ phận dân cư tuổi đời chủ yếu khoảng từ 18 – 23, sinh viên được xã hội đào tạo theo hệ thống cơ bản để trở thành những nhà quản lý xã hội, lực lượng sản xuất hiện đại và quan trọng trong tương lai Là một bộ phận xã hội đặc thù, sinh viên có những đặc điểm riêng cu thể như sau:
Đầu tiên, số lượng sinh viên thay đổi theo từng năm, tùy thuộc vào quá trình
tuyển sinh và tăng dần theo từng năm
Thứ hai, sinh viên là đội dự bị trí thức tương lai Chính vì vậy, họ mang trong
mình những đặc điểm của tầng lớp trí thức như: Có khả năng lĩnh hội và sáng tạo tri thức khoa học - kỹ thuật – công nghệ, khả năng nhạy cảm với những vấn đề chính trị -
xã hội Họ có thể trở thành lực lượng xung kích của một giai cấp này hay một giai cấp khác Họ là nhóm xã hội dễ tiếp thu tư tưởng mới (bao gồm cả tư tưởng tích cực
và tiêu cực) Hồ Chí Minh đã từng dạy: “Óc những người trẻ tuổi sạch như một tấm lụa trắng, nhuộm xanh thì nó sẽ xanh, nhuộm đỏ thì nó sẽ đỏ” [37, tr.56] Vì vậy, các lực lượng xã hội và các đảng phái khác nhau đều tìm cách lôi kéo sinh viên, mong muốn sự ủng hộ từ phía họ cho các hoạt động của mình
Thứ ba, sinh viên ở đây chưa có một vị trí thực rõ ràng trong cơ cấu nghề
nghiệp xã hội cũng như trong xã hội Bởi lẽ, bản thân sinh viên đang trong quá trình được đào tạo, chưa có một nghề nghiệp ổn định, chưa có một vị trí riêng của mình trong quá trình sản xuất của nền sản xuất xã hội Hoạt động chủ yếu nhất của họ là hoạt động học tập và bước đầu tham gia nghiên cứu khoa học, nắm vững một lĩnh vực tri thức nghề nghiệp nhất định để sau này trở thành chuyên gia của nghề nghiệp đó Như vậy, sinh viên có vị trí “song hành”, vị trí “kép” trong xã hội Một mặt, họ là những thanh niên sinh viên đang dần hoàn thiện nhân cách, là lực lượng sản xuất hiện đại, người chủ của đất nước trong tương lai Mặt khác, họ là nguồn lực cơ bản để bổ sung vào đội ngũ trí thức nước nhà trong tương lai Họ chính là nguồn nhân lực khoa học đầy tiềm năng tư duy sáng tạo và ứng dụng những thành tựu khoa học – công nghệ hoàn toàn mới của nhân loại vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đưa nước ta trở thành một quốc gia giàu mạnh
Chúng ta đều biết rằng, mỗi cá nhân ở những địa vị xã hội khác nhau đều có sự thể hiện nhân cách đặc trung phù hợp với vị thế xã hội của mình Chẳng hạn như: nhân cách người cán bộ lãnh đạo, nhân cách người nhà giáo… Sinh viên, một bộ phận xã
Trang 30hội đặc thù cũng có phương diện thể hiện tính đặc thù trong nhân cách của mình Nhân cách sinh viên là trường hợp cụ thể của nhân cách, là hình thức biểu hiện tính người ở một tầng lớp xã hội đặc biệt Có thể bước đầu hiểu:
Nhân cách sinh viên là tổng thể những phẩm chất đạo đức, năng lực thể chất và tinh thần được hình thành một cách lịch sử - cụ thể, qui định giá trị và những hành vi
xã hội của sinh viên, được thể hiện, thực hiện trong hoạt động học tập, hoạt động giao tiếp, ứng xử, hoạt động xã hội của cá nhân mỗi sinh viên [1, tr.31]
Nhân cách sinh viên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường hội nhập quốc
tế hiện nay, ngoài những đặc điểm chung của nhân cách thì còn có những biểu hiện riêng về phẩm chất và năng lực như:
Sinh viên ngày nay năng động, nhiệt huyết, sáng tạo và thực tế hơn: So với các
thế hệ sinh viên trước đổi mới, sinh viên hiện nay có tính thực tế hơn nhiều Tính thực
tế được biểu hiện đầu tiên trong việc chọn ngành, nghề để theo học Họ tập trung nhất vào những ngành nghề mà ra trường có thể xin việc được ngay vì nhu cầu của xã hội đối với ngành nghề này là rất cao, hay những ngành nghề có thu nhập cao, chỉ một số
ít sinh viên chọn ngành nghề theo ước mơ của mình Ngoài tính thực tế, sinh viên hiện
nay rất năng động Bên cạnh nhiệm vụ chính là học tập trên giảng đường, đa số sinh
viên có nhu cầu đi làm thêm dưới nhiều hình thức thời gian (bán thời gian, các ngày nghỉ, ngày cuối tuần hay vào các buổi tối) và các công việc làm thêm này cũng rất phong phú và đa dạng (như làm gia sư, bán hàng online, phục vụ quán café, phục vụ tiệc cưới nhà hàng, thậm chí là kinh doanh đa cấp…) Một số sinh viên có tham vọng trở thành những nhà kinh doanh giỏi đã mở cửa hàng kinh doanh thể hiện tính năng động, sáng tạo cao cũng như bản lĩnh trong công việc của mình
Tính sáng tạo của sinh viên được thể hiện ở việc rất nhiều sinh viên tham gia
nghiên cứu khoa học và đạt giải cao trong các kỳ thi quốc tế, đạt giải sinh viên nghiên cứu khoa học cấp Bộ, giải thưởng VIPOTEC hàng năm…
Sinh viên hiện nay đề cao vai trò cá nhân: Kinh tế thị trường hội nhập quốc tế
có tác động mạnh mẽ đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay Sinh viên luôn có ý thức cao việc khẳng định nhân cách bằng cách trau dồi kiến thức chuyên môn, khẳng định vị trí của mình trước xã hội Đồng thời, họ thể hiện rõ vai trò cá nhân, lợi ích cá nhân trong hành động Lợi ích chung và sự quan tâm,
Trang 31chia sẻ với những người xung quanh dường như bị lấn át bởi việc thực hiện những lợi ích riêng, nhu cầu cá nhân ở một bộ phận sinh viên
Sinh viên xác định rõ phương pháp thực hiện lý tưởng của mình: Nếu trong cấu
trúc nhân cách, phần Đức của nhân cách bao gồm thế giới quan, lý tưởng… giữ vai trò chủ đạo thì nhìn chung, đại đa số sinh viên Việt Nam có lý tưởng cao cả là giữ vững nền độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Trong đó, lý tưởng đạo đức cộng sản là yếu tố cấu thành quan trọng nên lý tưởng của sinh viên Khẳng định điều này vì đạo đức là thành phần đặc biệt trong nhân cách của sinh viên Theo cách nói của G Bandzeladze thì “đạo đức là nội dung cốt yếu của tính cách con người”, phân biệt với sự khác nhau giữa nhân cách này và nhân cách khác xuất phát từ điểm gốc là cái “đức” trong mỗi con người Ở tầm cao nhất, lý tưởng đạo đức cộng sản là sự thống nhất giữa quan niệm và biểu tượng về các chuẩn mực, các quan hệ đạo đức và nhân cách xã hội chủ nghĩa Trong thời đại hiện nay, mỗi sinh viên hiểu rằng, sống có
lý tưởng trước hết phải trân trọng và bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc, bởi đó là thành
quả được đổi bằng biết bao mồ hôi và xương máu của các thế hệ cha ông đánh bại mọi
kẻ thù xâm lược Thứ hai, sinh viên phải dốc lòng học tập, rèn luyện để góp sức mình
xây dựng thành công sự nghiệp đổi mới, đưa đất nước tiến lên những bước vững chắc trong quá trình hội nhập, phát triển, toàn cầu hóa trong thế kỷ XXI Họ hiểu muốn củng cố và bảo vệ nền độc lập tự do của dân tộc chỉ có một con đường duy nhất đúng
là đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội Lý tưởng của sinh viên được biểu hiện rõ
nhất ở khát vọng học tập, nghiên cứ, ở sự nỗ lực, chuyên cần, sáng tạo trong học tập nhằm nắm vững những tri thức vươn lên chiếm lĩnh những đỉnh cao của khoa học – công nghê, nhanh chóng hội nhập với xu thế phát triển của nền văn minh nhân loại
Bởi vì, trong nền kinh tế tri thức, hội nhập quốc tế hiện nay, dân tộc nào vươn lên đến đỉnh cao trí tuệ thì dân tộc đó sẽ chiến thắng
1.2.3 Tính quy luật của sự hình thành nhân cách
Smirnov – nhà triết học Liên Xô trước đây đã từng nói con người được sinh ra, nhưng nhân cách thì phải được hình thành Qua nghiên cứu, bước đầu tôi đưa ra tính quy luật của sự hình thành và phát triển nhân cách như sau:
Đầu tiên, sự hình thành và phát triển nhân cách gắn liền với sự phát triển của con người qua quá trình giáo dục, tự giáo dục và hoạt động thực tiễn
Trang 32Vai trò chủ đạo của giáo dục trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách
được thể hiện qua nội dung và hình thức giáo dục Đầu tiên, giáo dục vạch ra phương
hướng, tạo dựng lên những hình mẫu nhân cách phù hợp với các yêu cầu của xã hội hiện tại thông qua nội dung giáo dục giá trị nhân cách, qua mục tiêu giáo dục mẫu hình
nhân cách của nhà trường và xã hội Thứ hai, giáo dục là truyền thụ các vốn văn hóa truyền thống của dân tộc, để các thế hệ nối tiếp nhau kế thừa, bảo tồn và phát triển những giá trị truyền thống tốt đẹp Giá trị truyền thống được coi là cơ sở nền tảng để hình thành giá trị nhân cách của con người Thứ ba, qua giáo dục và bằng giáo dục
hướng các thế hệ trẻ đến một tương lai tươi sáng Giáo dục có khả năng uốn nắn những hành vi lệch chuẩn trong sự phát triển nhân cách, tạo dựng những mẫu hình nhân cách mới đáp ứng những đòi hỏi của xã hội Hệ thống giáo dục của xã hội đã khẳng định vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng những phẩm chất tốt đẹp của nhân cách Những yêu cầu, những chuẩn mực xã hội (cộng đồng, giai cấp, dân tôc) không thể trực tiếp áp đặt vào con người những phẩm chất cá nhân phù hợp với các yêu cầu, các chuẩn mực ấy Những phẩm chất của nhân cách được hình thành chủ yếu
là do quá trình giáo dục và tự giáo dục
Nhân cách trong sự hình thành và phát triển bên cạnh việc chịu sự tác động có
mục đích của quá trình giáo dục, mặt khác, nhân cách cũng là kết quả của quá trình tự
giáo dục, tự hoàn thiện trong bản thân mỗi con người Sự tự giáo dục biểu hiện ở chỗ
mỗi chủ thể tự giáo dục hướng toàn bộ năng lực, hành động của mình vào sự hình thành thế giới nội tâm bắt đầu từ sự tự ý thức cho đến quá trình tham gia tích cực và tự giác vào việc tạo ra cho mình những điều kiện, môi trường, hoàn cảnh để trong đó họ tồn tại Trong quá trình hoạt động tự giác ấy, mỗi con người đã biết tách mình ra thành hai phần riêng biệt: Cái tôi – chủ thể và cái tôi – đối tượng để tự giác phấn đấu, cải tạo, xây dựng thế giới quan, nhân sinh quan và những phẩm chất tích cực trong nhân cách Chính sự phát triển của tình cảm, lý trí và ý chí, tức là sự phát triển của ý thức nhân cách trong mỗi chủ thể hoạt động là yếu tố trực tiếp qui định khả năng xác định, lực chọn và thực hiện hành vi của nhân cách Sự phát triển của ý thức nhân cách chính là chỉ số phản ánh sự phát nhân cách và là điều kiện quan trọng của việc thực hiện những hoạt động thực tiễn của nhân cách mỗi người trong môi trường xã hội
Đồng thời, hoạt động thực tiễn của mỗi người để cải tạo môi trường xã hội cũng
là nhân tố tác động quan trọng tới sự phát triển nhân cách của chính họ Tính xã hội là
Trang 33một trong những đặc trung cơ bản nhất trong các hoạt động thực tiễn của con người Trong quá trình hoạt động thực tiễn, con người phải trao đổi với nhau bằng ngôn ngữ, phải sử dụng một khối lượng lớn văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần của nhân loại Trong các hoạt động của mình, con người cần thiết phải hợp tác với những người xung quanh Họ phải tồn tại và phát triển trong các mối quan hệ xã hội, nếu tách khỏi nó con người không bao giờ có thể phát triển được Trong quá trình ấy, mỗi cá nhân phản ứng trước sự tác động của môi trường xã hội một cách khác nhau, thể hiện trong bản thân mình nét này hoặc nét khác của môi trường xã hội tạo nên sự phong phú, đa dạng của
nhân cách con người Có thể nói, thông qua hoạt động thực tiễn, con người biểu hiện
các năng lực và phẩm chất nhân cách của mình
Hai là, sự hình thành và phát triển nhân cách là quá trình thống nhất giữa cá nhân và xã hội, giữa mặt sinh vật và mặt xã hội Đó là sự thống nhất giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan
Như đã trình bày, nếu con người bị tách ra khỏi môi trường và các hoạt động xã hội thì nhân cách con người không thể hình thành và phát triển được Mác và Ăngghen, trên cơ sở kế thừa quan niệm của các nhà duy vật Pháp về sự tác động của môi trường đến cá nhân, đã khẳng định rằng: “Nếu như con người bẩm sinh đã là sinh vật có tính xã hội thì do đó con người chỉ có thể phát triển bản tính chân chính của mình trong xã hội và cần phải phán đoán lực lượng của bản tính của anh ta, không phải căn cứ vào lực lượng của cá nhân riêng lẻ mà căn cứ vào lực lượng của toàn xã hội [33, tr.200] Nói cách khác, đây chính là quá trình xã hội hóa cá nhân và cá nhân hóa
xã hội, nhưng suy cho cùng xã hội hóa cá nhân là yếu tố quyết định đến quá trình phát triển nhân cách Vì thế, có thể khái quát một số yếu tố cơ bản tác động đến sự phát triển nhân cách như sau:
Thứ nhất, sự phát triển nhân cách trước hết bị sự qui định bởi điều kiện kinh tế
- xã hội
Con người trong hoạt động sản xuất, hoạt động chính trị - xã hội… đều thể hiện mục đích, lợi ích của mình trong quan hệ với những người xung quanh, với xã hội Mác khẳng định, lịch sử không phải là cái gì mà là hoạt động của con người theo đuổi những mục đích của mình Những mục đích của con người bao giờ cũng xuất phát và gắn liền với tính chế định của điều kiện lịch sử - xã hội, của các quan hệ kinh tế trong một thời đại nhất định Tính qui định khách quan của điều kiện kinh tế - xã hội đã tạo
Trang 34ra một giới hạn chung, một xu thế chung cho mọi hoạt động của con người sự phát triển của nhân cách với tư cách là sự phát triển của phẩm chất xã hội của mỗi cá nhân trong cộng đồng xã hội cũng không nằm ngoài những qui định khách quan của điều kiện kinh tế - xã hội hiện thời mà mỗi cá nhân đó là thành viên
Bị qui định khách quan bởi điều kiện kinh tế - xã hội, nhưng cái trực tiếp quyết định bản chất và đặc trung của nhân cách lại không phải là tất cả các quan hệ kinh tế,
mà nhân tố qui định nhân cách ở tầng sâu nhất đó là quan hệ lợi ích Bởi cái lõi vật
chất của nhân cách là vấn đề lợi ích Nói cụ thể hơn, tính chất của việc giải quyết quan
hệ lợi ích giữa cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích xã hội là nhân tố sau cùng qui định bộ mặt của nhân cách
Việc giải quyết hài hòa giữa lợi ích xã hội với lợi ích cá nhân là động lực của sự phát triển nhân cách được minh chứng cụ thể thông qua quá trình xây dựng đất nước
ta Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, lợi ích tập thể được đề cao, lấn át lợi ích
cá nhân, dẫn tới sự đối lập tách rời giữa việc thực hiện hành vi đạo đức với việc thực hiện lợi ích cá nhân Con người đứng trước hai lựa chọn: Thực hiện hành vi đạo đức phải từ bỏ lợi ích của cá nhân; ngược lại, hoạt động vì lợi ích cá nhân có thể không có động cơ để thực hiện hành vi đạo đức, điều này khiến cho hoạt động đạo đức của nhân cách bị hạn chế Vì vậy, nhân cách không có điều kiện phát triển một cách hoàn thiện
Từ khi đất nước đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ chế thị trường với tính đặc thù của mình là thừa nhận tính hợp lý và thỏa mãn lợi ích cá nhân đã tạo điều kiện tốt cho sự phát triển nhân cách của con người Trên mặt tích của của mình, lợi ích cá nhân là “liều thuốc bổ” thôi thúc con người năng động, sáng tạo, tích cực hoạt động Quá trình tham gia và chủ động tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện của nhân cách Bởi nhân cách chỉ có thể được xác định đầy đủ khi đặt nó trong mối quan hệ với các nhu cầu và lợi ích
Thứ hai, sự phát triển nhân cách bị qui định bởi nhân tố văn hóa của xã hội
Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc có tác động mạnh mẽ đến sự hình thành những kiểu mẫu hành vi, đến sự đánh giá và những tình cảm đạo đức trong sáng của nhân cách Hiệu quả của giáo dục, với tính cách là một nhân tố phát triển nhân cách phụ thuộc rất nhất vào kỹ năng vận dụng những giá trị truyền thống vào hoàn cảnh xã hội mới để phục vụ xã hội và bản thân mỗi cá nhân
Trang 35Văn hóa xã hội là tổng hòa của văn hóa cá nhân, tuy nhiên đây không phải là phép cộng giản đơn của tất cả văn hóa cá nhân mà nó là cả sự kết tinh những tinh hoa của nhiều thời đại, nhiều thế hệ đã qua Mỗi cá nhân khi sinh ra đã được sống, được tiếp nhập một hệ thống các giá trị, hệ các chuẩn mực của văn hóa xã hôi Những giá trị, chuẩn mực này được phản ánh trong thế giới quan, hệ thống tri thức xã hội, trong những chuẩn mực về pháp lý, đạo đức, thẩm mỹ… Chúng ta không thể nói đến nhân cách của một đứa trẻ sơ sinh Nhân cách của con người được hình thành và phát triển trong môi trường văn hóa xã hội một cách gián tiếp thông qua quá trình giáo dục và tự giáo dục
Tuy nhiên, khi chúng ta nhấn mạnh tính quyết định xã hội của nhân cách đây là điều kiện cần nhưng chưa đủ Trong hiện thực cuộc sống, sự hình thành và phát triển nhân cách không diễn ra đơn giản như vậy, ảnh hưởng của điều kiện kinh tế, của môi trường xã hội, môi trường giáo dục đối với nhân cách không phải là quá trình thuận một chiều mà giữa chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau Khi nhân cách được hình thành, con người trở thành chủ thể xã hội với bản chất là hoạt động sáng tạo, cải tạo thế giới hiện thực Con người lại không ngừng tạo ra những điều kiện môi trường xã hội
mới, tốt đẹp làm cơ sở cho quá trình xây dựng nhân cách Đó chính là quá trình nhân
cách hóa xã hội trong mỗi chủ thể hoạt động mang nhân cách Với sức sáng tạo của tư
duy trí tuệ và thông qua hàng loạt các hoạt động trong thực tiễn, nhân cách của con người tự biểu hiện, tự khẳng định chính mình Là sản phẩm của tự nhiên, của lịch sử -
xã hội, đến lượt mình con người lại tác động vào tự nhiên nhằm khai thác mọi tiềm năng
tự nhiên phục vụ mục đích và nhu cầu của mình, tái tạo “tự nhiên thứ hai” cho đời sống con người Là chủ thể sáng tạo, tự ý thức, tự giác hành động, bằng năng lực tuyệt đối và riêng có là hoạt động thực tiễn, con người ngày càng nắm bắt được qui luật tự nhiên, qui luật xã hội, ngày càng có khả năng sáng tạo to lớn để phục vụ thiên nhiên và cải tạo xã hội làm nên lịch sử nhân loại Đồng thời con người không ngừng cải tạo bản thân mình
Sự thành đạt của mỗi người có tác động tích cực đến việc lành mạnh hóa môi trường xã hội Sự thành đạt ấy không chỉ tạo nên tâm lý tự tin, niềm kiêu hãnh trong mỗi chủ thể hoạt động, mà nó còn mở rộng khả năng hiện có và tác động tích cực đến tinh thần phấn đấu của những người xung quanh
Xã hội hóa cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách không chỉ biểu hiện sự tác động một chiều mà còn bao hàm cả quá trình cá nhân hóa xã hội
Trang 36Giữa chúng có mối quan hệ biện chứng Mối quan hệ này khẳng định vai trò to lớn của
sự tác động xã hội đến sự hình thành và phát triển nhân cách, đồng thời khẳng định vai trò chủ thể hoạt động cải tạo xã hội của con người
1.2.4 Định hướng nhân cách con người Việt Nam trong thời đại mới
Năm 1986, Đại hội VI của Đảng quyết định đường lối đổi mới, chuyển nền kinh tế kế hoạch hóa, cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước Vấn đề xây dựng nhân cách được đưa vào Nghị quyết của Đại hội, đoạn nói về nhiệm vụ phát triển giáo dục: “Nâng cao chất lượng giáo dục nhằm mục tiêu hình thành và phát triển toàn diện nhân cách xã hội chủ nghĩa của thế hệ trẻ”[32, tr.402] nhằm tạo ra một lớp người vừa hồng, vừa chuyên, có đức, có tài, thực hiện lời chỉ dạy của Chủ tịch Hồ Chí
Minh: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa” Báo cáo Chính trị trình bày tại Đại hội cũng giao nhiệm vụ cho các tổ chức
Đảng phải quan tâm chỉ đạo công tác văn hóa, văn nghệ: “Đảng yêu cầu các văn nghệ
sĩ thường xuyên trau dồi ý thức trách nhiệm của công dân, chiến sĩ, thực hiện chức trách cao quý: tạo nên những giá trị tinh thần, bồi dưỡng tâm hồn và tình cảm, xây dựng nhân cách và bản lĩnh của các thế hệ công dân, xây dựng môi trường đạo đức trong xã hội” [32, tr.346] Điều này nêu trên chứng tỏ ngay khi mở đầu công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta đã xác định rõ mục tiêu cũng như nhiệm vụ của văn hóa (bao gồm cả giáo dục) là phải hướng đến xây dựng nhân cách con người đồng thời với quá trình đổi mới về kinh tế
Nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện được Đảng ta làm
rõ trong Báo cáo Chính trị trình bày tại Đại hội IX (2001) của Đảng với nhận thức mới
về xây dựng nhân cách Việc xây dựng nhân cách con người không chỉ ở phương diện
sự tác động của xã hội mà còn ở phương diện sự tự ý thức, răn mình, sửa mình của mỗi cá nhân đặt trong mối quan hệ với văn hóa: “Mọi hoạt động văn hóa nhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hóa, quan hệ hài hòa trong gia đình, cộng đồng và xã hội Văn hóa trở thành nhân tố thúc đẩy con người tự hoàn thiện nhân cách, kế thừa truyền thống cách mạng của dân tộc, phát huy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc” [32, tr.796]
Trang 37Năm 2006, tại Đại hội X của Đảng, vấn đề xây dựng nhân cách con người Việt Nam được đặt trong tương quan với quan điểm tiếp cận giá trị Báo cáo Chính trị trình bày tại Đại hội đề ra nhiệm vụ: “Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế” [32, tr.973-974] Và, trong Phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 – 2010, nhân tố văn hóa với vai trò là
hệ thống tri thức, giá trị, khơi dậy tính tích cực, hướng tới chân, thiện, mĩ được đề cao trong hoạt động lãnh đạo, quản lý, kinh doanh và phẩm giá con người: “Đặc biệt coi trọng nâng cao văn hóa lãnh đạo và quản lý, văn hóa trong kinh doanh và văn hóa trong nhân cách của thanh niên, thiếu niên” [32, tr.1049]
Năm 2011, Báo cáo Chính trị trình bày tại Đại hội XI, Đảng ta trên quan điểm giá trị đã nêu chủ trương và nhiệm vụ rất mới là “Đúc rút và xây dựng hệ giá trị chung của người Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” [20, tr.223] Tiếp thu tinh thần chỉ đạo của Đại hội XI, những năm 2013 – 2014, Đảng ta chỉ đạo cả hệ thống chính trị tiến hành tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết
Trung ương 5 khóa VIII về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc” Báo cáo tổng kết của Ban Chỉ đạo Trung ương công phu, thẳng thắn, không né tránh khuyết điểm, yếu kém của nền văn hóa, thể hiện tính chiến đấu cao, trong đó có phân tích sâu sắc liên quan đến việc xây dựng nhân cách: “Nhiều giá trị truyền thống, đạo đức nghề nghiệp không còn được coi trọng như trước đây, có mặt bị mai một, đảo lộn; những giá trị mới chưa hình thành hoặc chưa bền vững ảnh hưởng tiêu cực đối với định hướng giá trị nhân cách; chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền có xu hướng gia tăng, chi phối đời sống xã hội, gây hậu quả xấu đối với việc xây dựng con người và môi trường văn hóa” [4, tr.36] Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI nêu 5 quan điểm chỉ đạo, trong đó có một quan điểm mới để chỉ đạo xây dựng con người, đặc biệt là xây dựng nhân cách: “Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần
cù, sáng tạo” Lần đầu tiên trong một văn kiện của Đảng đã đúc rút nêu ra 7 đặc tính
chung nhất trong các phẩm chất cần có của con người Việt Nam Từ cái chung đó, mỗi ngành, mỗi cơ quan, đơn vị triển khai cụ thể việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 9
Trang 38và từ tổng kết thực tiễn đúc rút những đặc tính riêng của con người cho ngành, cơ quan, đơn vị mình
Nghị quyết đã xác định nhiệm vụ trọng tâm của xây dựng con người phát triển toàn diện là bồi dưỡng nhân cách: “Chăm lo xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, lối
sống và nhân cách” Xây dựng môi trường văn hóa chính là để rèn luyện con người về
nhân cách: “Mỗi địa phương, cộng đồng, cơ quan, đơn vị, tổ chức phải là một môi trường văn hóa lành mạnh, góp phần giáo dục, rèn luyện con người về nhân cách, lối sống”; “Thực hiện chiến lược phát triển gia đình Việt Nam, xây dựng gia đình thực sự
là nơi hình thành, nuôi dưỡng nhân cách văn hóa và giáo dục nếp sống cho con người”; “Xây dựng mỗi trường học phải thực sự là một trung tâm văn hóa giáo dục, rèn luyện con người về lý tưởng, phẩm chất, nhân cách, lối sống” [21]
Như vậy, từ thời điểm đổi mới đến nay, Đảng ta rất quan tâm đến việc xây dựng nhân cách con người, từng bước “làm mới” nhận thức về nhân cách, từ nhân cách xã hội chủ nghĩa đến nhân cách con người Việt Nam trong mối quan hệ đa chiều với tư tưởng, đạo đức, lối sống, với lãnh đạo, quản lý, tổ chức thực hiện và các mối quan hệ trong môi trường gia đình, nhà trường, xã hội Nhân cách trở thành giá trị sống cốt lõi của con người Việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam được kết tinh thành mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ cụ thể trong Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI về văn hóa, con người, trở thành định hướng và quyết tâm chính trị, góp phần xây dựng hệ giá trị chuẩn của con người Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và hội nhập quốc tế
1.3 Những nhân tố tác động đến quá trình phát triển nhân cách sinh viên
Ngoài tính qui luật chung qui định sự phát triển nhân cách, sự phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay còn chịu sự tác động của các nhân tố sau:
1.3.1 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi sinh viên tác động rõ nét đến quá trình phát triển nhân cách của họ
Sinh viên, đa số nằm trong độ tuổi thanh niên Đây là độ tuổi con người phát triển lên một bước mới trong hoạt động tư duy, trong tình cảm, ý chí và đầy khát vọng hướng tới tương lai Đồng thời, cũng chính là quá trình con người phát triển và dần hoàn thiện nhân cách Sự phát triển và hoàn thiện nhân cách ở sinh viên được biểu biện cả ở hai mặt là: mặt sinh học và mặt xã hội
Trang 39Ở mặt sinh học, sinh viên chưa phát triển đầy đủ về mặt thể chất nên có nhu cầu
rất cao về vật chất, đi liền với nhu cầu vật chất ấy là nhu cầu hoạt động như một tất yếu cần thiết trong quá trình lượng hóa vật chất đã tiếp nhận Vì vậy, dễ dàng nhận
thấy về mặt xã hội, sinh viên tham gia vào tất cả các hoạt động tập thể rất nhiệu tình,
thậm chỉ cả những hoạt động không phù hợp với bản thân họ Khi tham gia các hoạt động xã hội, sinh viên về mặt tích cực được tự thể hiện, tự khẳng định bản thân, mặt khác có một số sinh viên hoạt động thiếu ý thức, quậy phá không rõ nguyên nhân, có nhiều biểu hiện lệch lạc trong định hướng cuộc sống, đó là những biểu hiện chưa hoàn chỉnh trong nhân cách ở sinh viên Vì vậy, khi xem xét đạo đức của sinh viên, yếu tố nền tảng xây dựng nét nhân cách sinh viên không căn cứ vào những tiêu chuẩn chung chung mà nên lấy những tiêu chí cụ thể, gần gũi trong cuộc sống Trong quá trình hội nhập kinh tế hiện nay, nêu sinh viên không thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng thì rất
dễ bị đồng tiền, danh vọng mê hoặc, quyến rũ Vì ở độ tuổi này sinh viên thường thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo, sa ngã Vì vậy sinh viên khi tránh được các tệ nan xã hội như ma túy, rượu chè…, ấy chính là biểu hiện của việc giữ gìn đạo đức Chúng ta cần làm rõ nguyên nhân chủ quan và khách quan tác động đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách ở sinh viên, một trong những nguyên nhân chủ quan bắt nguồn từ đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của sinh viên
Do đặc điểm riêng biệt của lứa tuổi, sự phát triển nhân cách sinh viên luôn chịu ảnh hưởng, tác động chi phối và lệ thuộc nhiều vào hoàn cảnh kinh tế - xã hội, vào chế
độ chính trị - xã hội của đất nước Họ là trái ngọt của sự giáo dục kết hợp giữa gia đình – nhà trường và xã hội Họ tiếp thu nhanh những giá trị truyền thống và những giá trị
xã hội mới Họ có khả năng thụ cảm, khát vọng vươn tới lý tưởng, luôn khao khát hiểu biết và khám phá…
Tuy nhiên, họ còn rất bồng bột, thiếu kinh nghiệm sống, nhiều khi hay lẫn lộn
lý tưởng với ảo tưởng, tính lãng mạn với sự kỳ dị… Trước những va chạm trong cuộc sống, một số ít sinh viên không đủ nghị lực dũng cảm, kiên trì cho lý tường, cho việc thực hiện ước mơ hoài bão của mình Để giải quyết mâu thuẫn, lấp đầy hố ngăn cách giữa những vấn đề tiêu cực trong hiện thực cuộc sống với những điều tốt đẹp đã được dạy trong nhà trường, sinh viên dễ bị rơi vào chủ nghĩa hoài nghi bi quan hoặc chủ nghĩa hoài nghi lãnh đạm Trong những trường hợp nay, sự định hướng giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội là hết sức cần thiết
Trang 401.3.2 Tác động của quá trình toàn cầu hóa và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đến phát triển nhân cách sinh viên hiện nay
Thành tựu mà chúng ta đạt được sau 30 năm đổi mới là minh chứng chân thực, rõ ràng và hùng hồn cho sức phát triển nhanh chóng của kinh tế thị trường Cùng với thế mạnh phát triển kinh tế - xã hội, kinh tế thị trường có ảnh hưởng mạnh đến sự phát triển nhân cách con người, đặc biệt là sự hoàn thiện nhân cách sinh viên – thế hệ trẻ nhạy bén, dễ tiếp nhận và thích nghi với những điều mới mẻ Cơ chế thị trường có tác động
“hai mặt”, điểu này đã được Đảng ta khẳng định: “Cơ chế thị trường và sự hội nhập quốc tế, bên cạnh những tác động tích cực, to lớn cũng đã bộc lộ mặt trái của nó, ảnh hưởng tiêu cực đến ý thức tư tưởng, lối sống của nhân dân ta” [19, tr.52]
Tác động tích cực của kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế đến sự phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay
Có thể khái quát một số điểm sau:
Một là, tính chủ động, sáng tạo, độc lập trong suy nghĩa và hành động của mỗi sinh viên được nâng cao
Phát triển kinh tế thị trường cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo
ra môi trường thuận lợi để mỗi cá nhân phát triển và hoàn thiện Kinh tế thị trường đề cao trách nhiệm cá nhân và phát triển cá nhân là một sản phẩm tất yếu của phát triển nền kinh tế thị trường Ph.Ăngghen cho rằng: “Xã hội không thể giải phóng cho mình được, nếu không giải phóng cho mỗi cá nhân riêng biệt” [34, tr.406] Bởi mục tiêu cao nhất mà xã hội với tư cách là những người sản xuất cần đạt đến là tạo ra những cá nhân được phát triển toàn diên Như vậy, giải phóng cho mỗi cá nhân là điều kiện, là
cơ sở cho sự giải phóng toàn xã hội Nói cách khác, phát triển cá nhân vừa là điều kiện, vừa là sản phẩm của phát triển kinh tế thị trường
Đồng thời, dưới sự tác động của kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế một
số giá trị mới đang hình thành và phát triển như tinh thần độc lập, tự chủ, khả năng quyết đoán, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong công việc của mình “Bản chất cạnh tranh cao độ của nền kinh tế thị trường đề cao các phẩm chất linh hoạt, chính xác, do
đó đòi hỏi sự gia tăng trí thông minh, chất trí tuệ trong mọi lĩnh vực hoạt động sống của từng người lao động” [26, tr.10] Nó có tác động tích cực đến việc bài trừ thói dựa dẫm, ỷ lại vốn tiềm ẩn trong mỗi người Nó khắc phục quan niệm giản đơn và ấu trĩ