BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHẠM NGỌC TUYẾN BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG TỆ NẠN XÃ HỘI CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG THPT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TR
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
PHẠM NGỌC TUYẾN
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC
PHÒNG CHỐNG TỆ NẠN XÃ HỘI CHO HỌC SINH
CÁC TRƯỜNG THPT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Trang 2
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC
PHÒNG CHỐNG TỆ NẠN XÃ HỘI CHO HỌC SINH
CÁC TRƯỜNG THPT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60-14-05
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN XUÂN BÁCH
Đà Nẵng – Năm 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
PHẠM NGỌC TUYẾN
Trang 4MỤC LỤC Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
Danh mục các sơ đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG TNXH CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THỒNG 8
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 8
1.2 Một số khái niệm cơ bản được xử dụng trong luận văn 11
1.2.1 Quản lý 11
1.2.2 Quản lý giáo dục 13
1.2.3 Quản lý nhà trường 14
1.2.4 Tệ nạn xã hội 15
1.2.5 Phòng chống TNXH 17
1.2.6 Công tác giáo dục phòng chống TNXH 19
1.2.7 Quản lý công tác giáo dục phòng chống TNXH 19
1.2.8 Biện pháp quản lý giáo dục phòng chống TNXH 20
1.3 Các dạng tệ nạn xã hội mà nhà trường cần quan tâm phòng chống 20
1.3.1 Tệ nạn ma tuý 20
1.3.2 Tệ nạn mại dâm 24
1.3.3 Tệ nạn cờ bạc, trộm cắp 26
1.3.4 Tệ nạn gây gỗ, đánh nhau 27
1.3.5 Vi phạm trật tự an toàn giao thông 27
1.3.6 Những nguyên nhân dẫn đến TNXH 27
1.4 Những nội dung cơ bản của công tác giáo dục phòng chống TNXH cho học sinh Trung học phổ thông 30
1.4.1 Đặc điểm học sinh Trung học phổ thông 30
Trang 51.4.2 Những nội dung cơ bản của công tác giáo dục phòng chống TNXH cho
học sinh Trung học phổ thông 31
1.4.2.1 Mục tiêu giáo dục phòng chống TNXH 31
1.4.2.2 Nội dung giáo dục phòng chống TNXH 32
1.4.2.3 Phương pháp giáo dục phòng chống TNXH 32
1.4.2.4 Các hình thức tổ chức giáo dục phòng chống TNXH 323 1.5 Những yêu cầu của quản lý công tác giáo dục phòng chống TNXH cho học sinh Trung học phổ thông 34
1.5.1 Cần kế hoạch hoá công tác phòng chống TNXH cho học sinh 34
1.5.2 Phòng, chống TNXH cho học sinh cần được tổ chức quản lý chặt chẽ 35
1.5.3 Cần có sự chỉ đạo, phối hợp đồng bộ trong công tác phòng, chống TNXH cho học sinh 35
1.5.4 Cần kiểm tra phòng chống TNXH cho học sinh 35
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG TỆ NẠN XÃ HỘI CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 39
2.1 Khái quát lịch sử và tình hình kinh tế - xã hội của thành phố Đà Nẵng 39
2.2 Khái quát tình hình giáo dục Trung học phổ thông của thành phố Đà Nẵng 45
2.3 Tình hình người chưa thành niên vi phạm pháp luật 47
2.4 Thực trạng quản lý công tác giáo dục phòng chống TNXH cho học sinh Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Đà Nẵng 51
2.4.1 Khái quát về quá trình khảo sát 51
2.4.1.1 Mục tiêu khảo sát 51
2.4.1.2 Đối tượng và địa bàn khảo sát 51
2.4.1.3 Nội dung khảo sát 52
2.4.1.4 Phương pháp khảo sát 52
2.4.1.5 Thời gian tiến hành khảo sát 52
2.4.2 Kết quả khảo sát 52
2.4.2.1 Thực trạng tình hình TNXH của nhà trường và các nguyên nhân đưa học sinh vào TNXH 52
2.4.2.2 Thực trạng công tác giáo dục phòng chống TNXH của nhà trường53
Trang 62.4.2.3 Thực trạng quản lý công tác giáo dục phòng chống TNXH 59
2.4.2.4 Nguyên nhân 64
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG TNXH CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 67
3.1 Các nguyên tắc đề xuất các biện pháp 67
3.1.1 Biện pháp quản lý công tác giáo dục phòng chống tệ nạn xã hội phải góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện 67
3.1.2 Biện pháp quản lý công tác giáo dục phòng chống tệ nạn xã hội phải có tính hiện thực 67
3.1.3 Biện pháp quản lý công tác giáo dục phòng chống tệ nạn xã hội phải có tính xã hội 68
3.1.4 Biện pháp quản lý công tác giáo dục phòng chống TNXH phải đảm bảo tính hệ thống và tính toàn vẹn của quá trình giáo dục 69
3.2 Biện pháp quản lý công tác giáo dục phòng chống TNXH cho học sinh các trường Trung học phổ thông tại thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay 71
3.2.1 Nâng cao nhận thức về tác hại của tệ nạn xã hội và ý thức trách nhiệm của các lực lượng phòng chống tệ nạn xã hội 71
3.2.1.1.Ý nghĩa 71
3.2.1.2 Nội dung 71
3.2.1.3 Cách thức tiến hành 73
3.2.2 Xây dựng kế hoạch quản lý công tác giáo dục phòng chống TNXH 74
3.2.2.1.Ý nghĩa 74
3.2.2.2 Nội dung 75
3.2.2.3 Cách thức tiến hành 76
3.2.3 Tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên về giáo dục phòng chống tệ nạn xã hội 77
3.2.3.1.Ý nghĩa 77
3.2.3.2 Nội dung 77
3.2.3.3 Cách thức tiến hành 78
Trang 73.2.4 Đa dạng hoá các hình thức, phương pháp giáo dục phòng chống tệ nạn
xã hội 80
3.2.4.1 Nội dung 81
3.2.4.2 Cách thức tiến hành 82
3.2.5 Quản lý, sử dụng hợp lý cơ sở vật chất, trang thiết bị và kinh phí phục vụ công tác giáo dục phòng chống tệ nạn xã hội 84
3.2.5.1.Ý nghĩa 84
3.2.5.2 Nội dung 84
3.2.5.3 Cách thức tiến hành 84
3.2.6 Xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh, phối hợp chặt chẽ các lực lượng giáo dục phòng chống tệ nạn xã hội 85
3.2.6.1 Ý nghĩa 85
3.2.6.2 Nội dung 86
3.2.6.3 Cách thức tiến hành 87
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp quản lý công tác giáo dục phòng chống TNXH 91 3.4 Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp 92
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
PHỤ LỤC
Trang 93.1 Tính cấp thiết và tính khả thi các biện pháp quản lý
giáo dục công tác phòng, chống TNXH học sinh THPT 94
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
2.1 Tình hình phát triễn kinh tế thành phố Đà Nẵng 45 2.2 Số học sinh Trung học phổ thông thành phố Đà Nẵng 46 2.3 Phân tích học sinh Trung học phổ thông công lập và
Trang 11DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Số hiệu
3.1 Mối quan hệ các nguyên tắc quản lý công tác giáo dục
Trang 12MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đất nước ta đang trên đường hội nhập kinh tế quốc tế, là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới WTO, vận hành nền kinh tế theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) Sự chuyển đổi cơ chế từ kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng XHCN đã tạo động lực, giải phóng sức sản xuất làm cho GDP tăng trưởng liên tục, đời sống người dân được cải thiện đáng kể Việt Nam được bầu làm Uỷ viên không thường trực của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc khoá 2008-2009, đã thể hiện uy tín
vị thế trên trường quốc tế
Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, hội nhập kinh tế thị trường cũng chính là điều kiện phát sinh các tệ nạn xã hội (TNXH) gia tăng và diễn biến phức tạp, làm băng hoại và phá vỡ các giá trị văn hoá, chuẩn mực đạo đức và truyền thống tốt đẹp của dân tộc, gây mất an ninh, trật tự xã hội Trước những tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường, một bộ phận thanh niên do thiếu ý thức tu dưỡng, rèn luyện, đã
có lối sống lệch lạc, buông thả, sa vào các tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm, cờ bạc, gây rối trật tự công cộng…
Trong những năm gần đây, quy mô, tính chất, mức độ vi phạm, số lượng thanh, thiếu niên phạm tội và mắc phải tệ nạn xã hội có chiều hướng gia tăng và diễn biến phức tạp dưới các hình thức mới như dùng “thuốc lắc”, ăn chơi theo kiểu thác loạn, truyền bá sách báo, phim ảnh độc hại, đồi trụy, nhất là qua mạng internet Đây chính là vấn đề nhức nhối, là nguy cơ, thách thức lớn đối với mỗi cá nhân, gia đình, nhà trường và xã hội
Trước thực trạng đó, Báo cáo chính trị của BCH Trung ương Đảng tại Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã chỉ rõ: “ các tệ nạn xã hội, tội phạm và sự xâm nhập của các sản phẩm và dịch vụ độc hại làm suy đồi đạo đức nhất là trong thanh, thiếu niên, rất đáng lo ngại.”, “ …tội phạm, tệ nạn xã hội, suy thoái đạo đức, lốp sống… chưa được ngăn chặn, đẩy lùi…”[10] Do vậy , cần phải “ Có giải pháp
Trang 13kiểm soát và hạn chế tệ nạn mại dâm, giảm thiểu tác hại của các tệ nạn xã hội Nhân rộng mô hình xã, phường, thôn, ấp, bản không có tệ nạn xã hội ” [10]
“ Đa dạng hóa cá hình thức tuyên truyền, giáo dục cộng đồng, đề cao vai trò giáo dục của gia đình đối với thanh, thiếu niên về tác hại của ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác Đấu tranh quyết liệt với việc buôn bán, sử dụng ma túy Huy động nhiều nguồn vốn, tăng cường xây dựng, quản lý, các trung tâm cai nghiện có hiệu quả Đề cao trách nhiệm gia đình, đoàn thể và chính quyền cơ sở trong quản
lý, tạo việc làm , tái hòa nhập cộng đồng cho các đối tượng sau cai nghiện…” [10]
Luật Thanh niên đã được Quốc hội khoá XI thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/ 7/ 2006 quy định rõ quyền và nghĩa vụ của thanh niên, trách nhiệm của Nhà nước, gia đình, nhà trường và xã hội đối với thanh niên, trong đó có vấn đề phòng chống tệ nạn xã hội [28]
Học sinh các trường phổ thông là lực lượng lao động tương lai cho xã hội Nguy cơ lan tràn dịch HIV/AIDS cộng đồng đe dọa sức khoẻ của học sinh phổ thông trung học nói riêng và thế hệ trẻ nói chung Trước yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực là lao động có tay nghề phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thì việc quan tâm đầu tư đúng mức cho học sinh phổ thông trung học đóng một vai trò rất quan trọng
Luật Giáo dục được Quốc hội khoá XI ban hành ngày 14/ 6/ 2005 quy định
tại Khoản 1 Điều 32 “ Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển
toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc.”[29]
Khoản 4 điều 27 Luật giáo dục năm 2005 qui định “ Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng
Trang 14phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động ” [29]
Học sinh Trung học phổ thông được đào tạo để trở thành lực lượng lao động
có tay nghề, trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội Nếu công tác giáo dục phòng chống tệ nạn xã hội không được nhà trường quan tâm, các em sẽ dễ bị sa vào cạm bẫy, dẫn đến suy giảm chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Giáo dục phòng chống tệ nạn xã hội cho học sinh Trung học phổ thông là vấn đề cần được nhà trường và gia đình quan tâm nhằm giúp cho các em có được nhận thức đầy đủ về tác hại của tệ nạn xã hội, từ đó có sức đề kháng cao, thậm chí
là miễn dịch đối với các tệ nạn xã hội
Ngày 13/ 8/ 2007, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân
đã ban hành Quy chế Học sinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng và trung cấp
chuyên nghiệp hệ chính quy Trong đó quy định 1 trong 10 nghĩa vụ của học sinh,
sinh viên là tham gia phòng chống tội phạm, tệ nạn ma tuý, mại dâm và các tệ nạn
Nghị quyết 33 của Bộ chính trị BCH Trung ương Đảng khoá IX về “Xây
dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” đã xác định Đà Nẵng là Trung tâm kinh tế, văn hoá của khu vực miền Trung
Tây nguyên Trong những năm qua, với sự đồng thuận, quyết tâm cao và nỗ lực không ngừng của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố đã đưa Đà Nẵng phát triển trên mọi lĩnh vực Cùng với tăng trưởng GDP năm sau cao hơn năm trước
và cao hơn mức tăng của cả nước, cơ sở hạ tầng đô thị được chỉnh trang, mở rộng
ngày càng khang trang, hiện đại, thành phố đã cơ bản hoàn thành “Chương trình 5
Trang 15không”: không có hộ nghèo theo chuẩn thành phố, không có học sinh bỏ học ở cấp
tiểu học và Trung học cơ sở, không có người lang thang xin ăn, không có người nghiện ma tuý trong cộng đồng, không có giết người để cướp của và đang triển
khai thực hiện “Chương trình 3 có”: có nhà ở, có việc làm, có nếp sống văn
hoá-văn minh đô thị
Ở thành phố Đà Nẵng, công tác quản lý các hoạt động giáo dục phòng chống
tệ nạn xã hội cho học sinh các trường Trung học phổ thông tuy có đạt được kết quả nhất định nhưng vẫn còn nhiều hạn chế Trong giai đoạn hiện nay, khi thành phố
đang quyết tâm giữ vững kết quả “Chương trình 5 không” và triển khai thực hiện
“Chương trình 3 có” thì công tác này càng phải được đặc biệt quan tâm
Vì những lý do đã trình bày ở trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu “Biện
pháp quản lý công tác giáo dục phòng chống tệ nạn xã hội cho học sinh các trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay”
Công tác quản lý giáo dục ở trường Trung học phổ thông
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý công tác giáo dục phòng chống tệ nạn xã hội cho học sinh Trung học phổ thông
4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Xác định cơ sở lý luận về quản lý công tác giáo dục phòng chống tệ nạn xã
hội cho học sinh Trung học phổ thông
Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý công tác giáo dục phòng chống TNXH tại các trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Trang 16Đề xuất biện pháp quản lý công tác giáo dục phòng chống TNXH cho học
sinh các trường Trung học phổ thông tại thành phố Đà Nẵng
Khảo sát tính hợp lý và khả thi của các giải pháp đó
5 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Công tác giáo dục phòng chống TNXH ở các trường Trung học phổ thông tại thành phố Đà Nẵng đã đạt được một số kết quả nhưng so với yêu cầu ngăn chặn, đẩy lùi TNXH ra khỏi học đường, đáp ứng yêu cầu phát triển của thành phố và đổi mới giáo dục thì vẫn còn nhiều bất cập Nếu thực hiện được các biện pháp quản lý
mà chúng tôi đề xuất trong luận văn này thì công tác giáo dục phòng chống TNXH cho học sinh các trường Trung học phổ thông sẽ đạt được hiệu quả cao hơn
6 GIỚI HẠN, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
6.1 Giới hạn nghiên cứu
- Về không gian được giới hạn ở các trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
- Về thời gian được tiến hành trong năm học 2010-2011
6.2 Phạm vi nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu nhằm đề xuất một số biện pháp quản lý công tác giáo dục phòng chống TNXH cho học sinh các trường Trung học phổ thông tại thành phố Đà Nẵng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ giáo dục phòng chống TNXH hiện nay
7 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật lịch sử và duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin, trong luận văn này, chúng tôi phối hợp xử dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu dưới đây:
7.1 Phương pháp luận
7.1.1 Phương pháp tiếp cận hệ thống: Xem giáo dục phòng chống TNXH là
một thành tố có quan hệ biện chứng với các thành tố khác trong nội dung, quá trình giáo dục và quản lý giáo dục của trường Trung học phổ thông
7.1.2 Phương pháp tiếp cận phức hợp: Nghiên cứu công tác giáo dục phòng
chống TNXH và biện pháp quản lý công tác giáo dục phòng chống TNXH dựa trên
Trang 17nhiều lý thuyết khoa học khác nhau, chủ yếu là triết học, tâm lý học phát triển, giáo dục học, khoa học quản lý và quản lý giáo dục
7.1.3 Phương pháp tiếp cận quản lý dựa vào nhà trường: Nghiên cứu công
tác giáo dục phòng chống TNXH và biện pháp quản lý công tác giáo dục phòng chống TNXH dựa vào tính chất, yêu cầu của nhà trường và các thành viên có quyền
và trách nhiệm
7.2 Phương pháp nghiên cứu
7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu pháp luật, chính sách, văn bản của Bộ Giáo dục Đào tạo, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, các Bộ, ngành liên quan về quản lý công tác giáo dục phòng chống TNXH cho thanh, thiếu niên
- Nghiên cứu các công trình khoa học có liên quan đến công tác giáo dục phòng chống TNXH
Nhằm mục đích xác định cơ sở lý luận về quản lý công tác giáo dục phòng chống TNXH cho học sinh Trung học phổ thông
7.2.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Bằng việc quan sát, điều tra, xin ý kiến chuyên gia, tổng kết kinh nghiệm, xử dụng các phần mềm tin học, thuật toán thống kê, mô hình hoá
Nhằm mục đích:
- Khảo sát, đánh giá thực trạng, đề xuất biện pháp quản lý công tác giáo dục phòng chống TNXH cho học sinh các trường Trung học phổ thông tại thành phố Đà Nẵng;
- Minh chứng cho tính hợp lý và khả thi của các biện pháp đó;
- Chuyển hoá quá trình hoạt động và các biện pháp từ ý tưởng thành các mô hình nhằm giới thiệu đề tài một cách cô đọng, súc tích
8 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Luận văn có phần Mở đầu gồm lý do chọn đề tài, mục đích nghiên cứu,
khách thể và đối tượng nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu, giả thuyết khoa học, giới
Trang 18hạn-phạm vi nghiên cứu, phương pháp luận-phương pháp nghiên cứu và cấu trúc luận văn
Các chương gồm:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác giáo dục phòng chống TNXH
cho học sinh Trung học phổ thông
- Chương 2: Thực trạng quản lý công tác giáo dục phòng chống TNXH cho
học sinh các trường Trung học phổ thông tại thành phố Đà Nẵng
- Chương 3: Biên pháp quản lý công tác giáo dục phòng chống TNXH cho
học sinh các trường Trung học phổ thông tại thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay
Ngoài ra, luận văn còn có phần danh mục Tài liệu tham khảo và Phụ lục
Trang 19Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC
PHÒNG CHỐNG TNXH CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THỒNG
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Tệ nạn xã hội là một hiện tượng xã hội đã tồn tại từ lâu trong xã hội loài người Nó như một căn bệnh mà mọi quốc gia trên thế giới đều mắc phải, chỉ khác nhau ở mức độ nhiều hay ít, nghiêm trọng hay không mà thôi Tệ nạn xã hội chính
là cơ sở của tình trạng phạm tội, là một trong những nguồn gốc phát sinh tội phạm, làm thiệt hại to lớn về kinh tế, làm băng hoại đạo đức, gây mất an ninh trật tự xã hội
và sự ổn định chính trị của đất nước Chính vì vậy mà phòng chống TNXH là một yêu cầu khách quan, là nhiệm vụ quan trọng của mỗi quốc gia Công việc này phải được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục, bằng những biện pháp tích cực và triệt để Các tổ chức thế giới như Liên hợp quốc, Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Chương trình kiểm soát ma tuý quốc tế của Liên hợp quốc (UNDCP) đã nhiều lần cảnh báo và phát động chiến dịch với quy mô toàn cầu, kêu gọi nhân loại chung sức, đồng lòng chặn đứng và đẩy lùi TNXH, đem lại sự yên bình cho cuộc sống Sau hơn hai mươi năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử Kinh tế tăng trưởng cao, đời sống nhân dân được nâng cao, Việt Nam được công nhận là quốc gia thành công nhất trong chương trình chống đói nghèo Quốc phòng được giữ vững, an ninh chính trị ổn định, Việt Nam là điểm đến an toàn nhất của bạn bè năm châu Vị thế nước ta được nâng cao trên trường quốc tế, trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới WTO, được bầu làm Uỷ viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008-2009
Trong quá trình lãnh đạo và điều hành đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã xây dựng lụât pháp, đề ra nhiều chủ trương, chính sách liên quan đến đấu tranh phòng chống TNXH như Luật phòng chống ma tuý, Pháp lệnh về phòng chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS), Pháp lệnh phòng chống mại dâm, Chỉ thị số 33-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về
Trang 20lãnh đạo phòng chống các TNXH, Nghị quyết 05/CP của Chính phủ về ngăn chặn
và chống tệ nạn mại dâm, Nghị quyết 06/CP về tăng cường chỉ đạo công tác phòng, chống và kiểm soát ma tuý, Nghị quyết 20/CP về đẩy mạnh công tác phòng chống nhiễm HIV/AIDS, Nghị định 87/CP về tăng cường quản lý các hoạt động văn hoá
và dịch vụ văn hoá, đẩy mạnh bài trừ một số TNXH nghiêm trọng, Chiến lược phòng chống tệ nạn ma tuý, mại dâm giai đoạn 2006-2010 Những chủ trương, chính sách đó nhằm huy động tối đa sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân, sức mạnh của mọi cấp, mọi ngành trong cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi, tiến tới xoá bỏ TNXH ra khỏi đời sống xã hội
Cho tới nay, đã có nhiều công trình của các tác giả Việt Nam và nước ngoài nghiên cứu về vấn đề TNXH Hầu hết các tác giả đều chú ý đi vào một số vấn đề như: “Căn nguyên của TNXH là gì? Những nhân tố nào: kinh tế hay chính trị, xã hội hay văn hoá, truyền thống hay hiện đại, trong nước hay ngoài nước góp phần làm cho nó trầm trọng thêm hay giảm nhẹ đi? Phương thuốc chữa trị nó là gì? Liệu
có thể loại bỏ nó ra khỏi đời sống xã hội loài người ?” [40]
Trên thế giới, vấn đề phòng chống TNXH đã được nhiều nhà luật học, nhiều chuyên gia thực tiễn nghiên cứu Tuy nhiên, do nhiều lý do khác nhau, các công trình này chưa được phổ biến rộng rãi ở Việt Nam
Ở Việt Nam, những năm gần đây đã có nhiều công trình khoa học bước đầu nghiên cứu về các TNXH Có thể điểm qua một số tác giả như:
1 Phạm Văn Đức: TNXH và giải pháp đấu tranh phòng chống - Năm 1993
2 Lê Thế Tiệm và đồng nghiệp: TNXH ở Việt Nam - Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp - Năm 1994
3 Vũ Ngọc Bừng: Các chất ma tuý - Năm 1994
4 Lê Thế Tiệm và tập thể tác giả: Luận cứ khoa học đổi mới chính sách xã hội nhằm đảm bảo an ninh xã hội và khắc phục TNXH - Năm 1994
5 Vũ Ngọc Bừng: Phòng chống ma tuý trong nhà trường - Năm 1997
6 Nguyến Xuân Yêm và Trần Văn Luyện: 101 câu hỏi, đáp về phòng chống
ma tuý - Năm 2000
Trang 217 Nguyễn Xuân Yêm và Trần Văn Luyện: Hiểm hoạ ma tuý và cuộc chiến đấu mới - Năm 2002
8 Nguyễn Xuân Yêm: Phòng chống tệ nạn ma tuý trong nhà trường - Năm
mô đến cấp vi mô, trong đó đặc biệt nhấn mạnh công tác phòng ngừa bởi nếu không làm tốt công tác phòng ngừa, ngăn chặn sớm thì hậu quả sẽ rất khó lường Chính những nghiên cứu này đã góp phần trang bị kiến thức, giáo dục nhân dân, đặc biệt
là thanh, thiếu niên hiểu biết về tác hại nghiêm trọng của TNXH và cách phòng tránh, đồng thời là cơ sở lý luận giúp các cấp có thẩm quyền đề ra những chủ trương, quy định về phòng chống TNXH
Tác giả Phạm Thị Bích [6] đã nghiên cứu biện pháp quản lý của Hiệu trưởng nhằm ngăn chặn TNXH xâm nhập vào trường THCS ở tỉnh Phú Thọ Ngoài việc trình bày cơ sở lý luận về vai trò của nhà trường THCS trong phòng chống TNXH, trên cơ sở phân tích thực trạng quản lý của Hiệu trưởng trong việc phòng chống TNXH ở các trường THCS tỉnh Phú Thọ, tác giả đề xuất các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng THCS nhằm ngăn chặn TNXH xâm nhập vào nhà trường
Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả Phạm Anh Tuấn [38] đã tìm hiểu khái niệm TNXH dưới các góc độ xã hội học, triết học, khoa học xã hội, khoa học pháp lý để đi đến một khái niệm chuẩn xác về TNXH Từ thực tiễn tình hình TNXH trong thanh, thiếu niên hiện nay, tác giả đưa ra các biện pháp của Hiệu trưởng nhằm tăng cường giáo dục phòng chống TNXH cho học sinh trung học phổ thông thành phố Đà Nẵng
Trang 22Tóm lại, các công trình nghiên cứu tiêu biểu nêu trên đã đề cập khá toàn diện đến vấn đề TNXH, giáo dục phòng chống TNXH cho các đối tượng khác nhau trong xã hội và từng bước đặt ra vấn đề biện pháp quản lý công tác giáo dục phòng chống TNXH trong nhà trường Tuy nhiên, chưa có tác giả nào nghiên cứu đề xuất biện pháp quản lý công tác giáo dục phòng chống TNXH cho học sinh các trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay, khi Đảng bộ và nhân dân thành phố đang quyết tâm xây dựng Đà Nẵng trở thành một
đô thị văn minh, hiện đại, xứng đáng là trung tâm kinh tế, văn hoá của miền Trung - Tây Nguyên
1.2 Một số khái niệm cơ bản được xử dụng trong luận văn
1.2.1 Quản lý
Hoạt động quản lý đã nảy sinh và tồn tại cùng với quá trình hình thành và
phát triển của xã hội loài người Ngay từ khi con người bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện những mục tiêu mà họ không thể đạt được với tư cách cá nhân riêng lẻ thì quản lý đã là một yếu tố cần thiết để đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân Quản lý là một thuộc tính gắn liền với xã hội ở mọi giai đoạn phát triển Thuộc tính này bắt đầu từ bản chất hệ thống của xã hội, từ lao động tập thể, lao động xã hội của con người
Khi đề cập đến vấn đề quản lý, C Mác đã viết: “Bất cứ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân Sự chỉ đạo đó phải là những chức năng chung, tức là những chức năng phát sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động chung của cơ thể sản xuất với những vận động cá nhân của những khí quan độc lập hợp thành cơ thể sản xuất đó Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng” [23]
Trong lịch sử có nhiều lý thuyết quản lý Thời Trung hoa cổ đại có tư tưởng đức trị của Khổng Tử đối lập với tư tưởng pháp trị của Hàn Phi Tử Trong khi Khổng Tử quan niệm bản chất con người là “thiện” và nhấn mạnh khía cạnh đạo đức, nhân nghĩa, thì Hàn Phi Tử cho rằng bản chất con người là “ác” và quan tâm
Trang 23đến quyền lực, đến khoảng cách địa vị giữa người cai trị và người bị cai trị Từ giữa thế kỷ XIX đến nay, cùng với sự phát triển của nền sản xuất công nghiệp, đã xuất hiện nhiều lý thuyết quản lý mang tính giai cấp F.W Taylor với thuyết quản lý khoa học quan niệm “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” Thuyết quản lý hành chính của H Fayol phân biệt hoạt động quản lý thành 5 chức năng cơ bản: dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra Thuyết quan hệ con người của M.P Follet cho rằng “Quản lý là nghệ thuật khiến cho công việc của mình được thực hiện thông qua người khác” Thuyết quản
lý tổ chức của C.I.Barnard quan niệm tổ chức là hệ thống các hoạt động hay các tác động có ý thức của 2 hay nhiều người , quản lý không phải là việc của tổ chức mà là công việc chuyên môn duy trì công việc của tổ chức Thuyết văn hoá kiểu Z của doanh nghiệp Nhật Bản, kiểu A của doanh nghiệp phương Tây được lựa chọn, vận dụng khá thành công
Về khái niệm quản lý, có nhiều quan niệm khác nhau:
- Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý
(người quản lý) đến khách thể quản lý (đối tượng quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức [7]
- Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, người tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, xã hội, văn hoá, kinh tế … bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng”[9]
- Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ chức
và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động [33]
- Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, thuật ngữ “Quản lý” (tiếng Việt gốc Hán) lột
tả được bản chất hoạt động này trong thực tiễn Nó gồm 2 quá trình tích hợp vào nhau: quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới, đưa hệ vào thế “phát triển” Nếu
Trang 24người đứng đầu chỉ việc “quản”, tức là chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức dễ trì trệ Tuy nhiên, nếu chỉ quan tâm đến “lý”, tức là chỉ lo việc sắp xếp, tổ chức, đổi mới mà không đặt trên nền tảng của sự ổn định thì sự phát triển của tổ chức sẽ không bền vững Trong “quản” phải có “lý”, trong “lý” phải có “quản” để trạng thái của hệ luôn ở thế cân bằng động: Hệ vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong mối tương tác giữa các nhân tố bên trong (nội lực) với các nhân tố bên ngoài (ngoại lực) [4]
Trong quản lý, khách thể là những con người với các mối quan hệ đa dạng
và phức tạp Nhiệm vụ của người quản lý là biến các mối quan hệ trên thành những yếu tố tích cực, hạn chế xung đột và tạo nên một môi trường thuận lợi để thực hiện mục tiêu quản lý Để thực hiện được mục tiêu đã đề ra, nhiệm vụ của người quản lý
là sắp xếp các nguồn lực của tổ chức một cách khoa học và phải sáng tạo khi xử lý các mối quan hệ, các tình huống cụ thể trong hoạt động của tổ chức Với ý nghĩa đó, quản lý là một nghệ thuật Tuy nhiên, muốn có được nghệ thuật ấy, nhà quản lý phải nắm vững những vấn đề cơ bản của khoa học quản lý để vận dụng một cách sáng tạo, linh hoạt trong điều kiện thực tế Với ý nghĩa này, quản lý là một khoa học Như vậy, quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật
Khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hoàn toàn nhất trí với định nghĩa của tác
giả Trần Kiểm: Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động,
phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất [20]
1.2.2 Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là một bộ phận quan trọng của quản lý xã hội Quản lý giáo dục theo nghĩa rộng (cấp vĩ mô) là quản lý mọi hoạt động giáo dục trong xã hội Quá trình đó bao gồm các hoạt động giáo dục có tính giáo dục của bộ máy Nhà nước, của các tổ chức xã hội, của hệ thống giáo dục quốc dân, của gia đình…Quản
lý giáo dục theo nghĩa hẹp (cấp vi mô) là những tác động có ý thức, có mục đích, có
Trang 25hệ thống của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý là quá trình dạy và học diễn ra ở các cơ sở giáo dục
Giống như khái niệm quản lý, có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm quản lý giáo dục (cấp vĩ mô)
- Quản lý công tác giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức
và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắc xích của
hệ thống nhằm mục đích bảo đảm việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ
sở nhận thức và vận dụng những qui luật chung của xã hội cũng như những quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em”.[24]
- Quản lý công tác giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành,
phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội [4]
- Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp
quy lụât của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất [26]
Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi đồng ý với định nghĩa về khái niệm quản
lý giáo dục của tác giả Trần Kiểm: Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động
tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắc xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục [20]
1.2.3 Quản lý nhà trường
Trường học là đơn vị cơ sở của ngành giáo dục đào tạo Trường học là một
thiết chế xã hội trong đó diễn ra quá trình đào tạo - giáo dục với sự hoạt động tương tác của hai nhân tố thầy - trò Trường học là một bộ phận của cộng đồng và trong guồng máy của hệ thống giáo dục quốc dân, nó là đơn vị cơ sở [35]
Trang 26Quản lý trường học/ nhà trường là quản lý giáo dục thuộc tầm vi mô Thực chất của quản lý trường học là quản lý quá trình dạy học - giáo dục, tổ chức điều hành việc dạy của thầy và việc học của trò, đồng thời quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật, tạo điều kiện tốt cho việc dạy và học
M.I Kônzacôv đã khẳng định: “Quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy
và học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục.”[24]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì “Quản lý nhà trường là quản lý hệ thống xã hội - sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức,
có khoa học và có hướng của chủ thể quản lý trên tất cả các mặt của đời sống nhà trường để đảm bảo vận hành tối ưu xã hội- kinh tế và tổ chức sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục thế hệ đang lớn lên.”[26]
Như vậy, quản lý nhà trường là tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên tất cả các nguồn lực nhằm đẩy mạnh hoạt động của nhà trường theo nguyên lý giáo dục và tiến tới mục tiêu giáo dục mà trọng tâm của nó là đưa hoạt
động dạy học tiến lên trạng thái mới về chất
Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi đồng ý với định nghĩa về khái niệm quản
lý nhà trường của tác giả Trần Kiểm: Quản lý nhà trường là những tác động của
chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường.[20]
1.2.4 Tệ nạn xã hội
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam thì: “TNXH là hiện tượng xã hội có tính
phổ biến, lan truyền, biểu hiện bằng những hành vi lệch chuẩn mực xã hội, vi phạm đạo đức và gây hậu quả nghiêm trọng trong đời sống cộng đồng TNXH bao gồm: mại dâm, nghiện ma tuý, cờ bạc, mê tín dị đoan TNXH là cơ sở xã hội của tình trạng phạm tội, là một trong những nguồn gốc phát sinh tội phạm Phòng chống TNXH là nhiệm vụ của toàn xã hội, phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, bằng những biện pháp đồng bộ, tích cực và triệt để”[18]
Trang 27Để hiểu rõ khái niệm này, cần tìm hiểu về chuẩn mực xã hội và sai lệch xã hội Chuẩn mực xã hội là tập hợp các yêu cầu hoặc sự mong đợi mà cộng đồng xã hội (nhóm, tổ chức, giai cấp, xã hội ) đưa ra nhằm tạo lập các khuôn mẫu hành vi
và hành động cho các thành viên của mình Chuẩn mực xã hội được biểu hiện dưới dạng ngôn ngữ (pháp luật, quy định, hương ước ) hay bất thành văn Chuẩn mực
xã hội chia thành: chuẩn mực bắt buộc và chuẩn mực mong đợi
Sai lệch xã hội là sự vi phạm các chuẩn mực xã hội Hành vi sai lệch xã hội trái với sự mong đợi của cộng đồng, phá vỡ trật tự của đời sống xã hội Ví dụ người bình thường không ai tham gia vào hoạt động càn quấy, không sử dụng ma tuý, không trộm cắp Hành vi sai lệch chuẩn mực thường bị xã hội lên án Bản chất xã hội của sự sai lệch có tính tương đối vì có hành vi bị coi là sai lệch trong xã hội này nhưng lại không bị coi là sai lệch trong xã hội khác hoặc ngay trong một xã hội quan niệm về sự sai lệch về hành vi cũng thay đổi theo thời gian Trong từng hoàn cảnh cụ thể, quan niệm về sự sai lệch của hành vi cũng phải được hiểu một cách khoa học, phù hợp với hoàn cảnh đó Ví dụ giết người hầu hết được coi là tội ác nhưng khi nó diễn ra trong hoàn cảnh vì mục đích bảo vệ Tổ quốc thì lại là một hành động được ca ngợi Như vây, không thể quan niệm hành vi sai lệch một cách tuyệt đối mà nó phải được hiểu trong sự biến đổi về mặt xã hội, tuỳ thuộc vào những gì mà một nhóm xã hội hay một xã hội nhất định, ở một thời điểm lịch sử nhất định, xác định là sai lệch Ở xã hội ta hiện nay, những hành vi sai lệch vi phạm các chuẩn mực, quy định chung của xã hội, của pháp luật khá đa dạng như hành vi gây rối trật tự công cộng, nghiện ma tuý, mại dâm, trộm cắp, cờ bạc, tham nhũng,
mê tín dị đoan, truyền bá sách báo, phim ảnh đồi truỵ
Tóm lại, tệ nạn xã hội là hiện tượng xã hội bao gồm những hành vi sai lệch các chuẩn mực xã hội (từ các vi phạm những nguyên tắc về lối sống, truyền thống văn hoá, đạo đức xã hội trái với thuần phong mỹ tục, các giá trị xã hội cho đến các
vi phạm các quy tắc đã được thể chế hoá bằng pháp luật), mang tính phổ biến, có xu hướng phát triển lan rộng trong xã hội, gây ảnh hưởng xấu về đạo đức truyền thống
Trang 28văn hoá dân tộc và những hậu quả nghiêm trọng cho đời sống kinh tế - văn hoá - xã hội của đất nước
Những hành vi thuộc TNXH có các đặc trưng cơ bản sau đây:
- Một là hành vi sai lệch theo hướng tiêu cực, trái với những chuẩn mực xã hội đang được xã hội tôn trọng và tuân theo (Chuẩn mực xã hội được quy định bởi truyền thống, lối sống, phong tục, đạo đức, luật pháp)
- Hai là hành vi sai lệch mang tính phổ biến lặp đi lặp lại nhiều lần, không phải là một vài hiện tượng đơn lẻ, cá biệt mà có xu hướng phát triển, lây lan nhanh chóng trong xã hội, có nguy cơ thành tội phạm Đây là đặc trưng nổi bật của TNXH
- Ba là các hành vi sai lệch xảy ra trong một phạm vi nhất định ở một địa phương, một tầng lớp xã hội thường có nhiều đối tượng tham gia gắn liền với các hoạt động của con người ở các lĩnh vực văn hoá, giáo dục, kinh doanh, lưu thông, phân phối, dịch vụ
- Bốn là các hành vi sai lệch gây ra hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng không tốt đến cuộc sống về mặt kinh tế, xã hội, tư tưởng, tình cảm, chính trị, đạo đức, lối sống, truyền thống văn hoá, an toàn xã hội
Cần phân biệt sự khác nhau giữa TNXH và tội phạm Theo Từ điển bách
khoa Việt Nam “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ
luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật
tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”[18]
1.2.5 Phòng chống TNXH
Hezhaofa đã viết: “Ma tuý, mại dâm, cờ bạc, buôn lậu là mối độc hại lớn
của xã hội Nó ăn mòn cơ thể của một xã hội lành mạnh, phá hoại sự phát triển của
xã hội đó, nó cũng là căn nguyên của mọi tội phạm khác trong xã hội.” [40]
Trang 29Ở nước ta, TNXH đã và đang gây nhiều tác hại to lớn về kinh tế, xã hội, làm băng hoại và phá vỡ các gíá trị văn hoá, đạo đức và truyền thống tốt đẹp của dân tộc, gây mất an ninh, trật tự xã hội TNXH đã trở thành nỗi lo lắng, điều nhức nhối của mỗi người dân, mỗi gia đình và toàn xã hội Chính vì tác hại nghiêm trọng như vậy nên cần phải đấu tranh phòng chống TNXH
Vậy, phòng chống TNXH là gì? Là phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh chống TNXH và kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến TNXH Phòng chống TNXH là nhiệm vụ của toàn xã hội, phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, bằng những biện pháp đồng bộ, tích cực và triệt để Đối với thanh, thiếu niên, công tác phòng chống TNXH phải đặc biệt đề cao việc phòng ngừa, ngăn chặn TNXH xâm nhập vào nhà trường, xem đây là nhiệm vụ chủ yếu
Việc phòng chống TNXH có ý nghĩa quan trọng đối với cá nhân, gia đình và
cộng đồng Tổ chức tốt việc phòng chống các TNXH, đặc biệt là ma tuý giúp cho cá
nhân nhận thức đúng đắn về tác hại to lớn của các TNXH đối với bản thân, gia đình
và cộng đồng Từ đó làm nảy sinh thái độ và hành vi tránh xa các TNXH Mỗi người sẽ là một tuyên truyền viên tích cực trong công tác phòng chống TNXH, xây
dựng một xã hội tốt đẹp, không có ma tuý và TNXH
Gia đình có người mắc vào TNXH thì tan vỡ hạnh phúc, kinh tế sa sút Vì vậy, phòng chống TNXH tốt sẽ làm cho gia đình đầm ấm, hạnh phúc, kinh tế phát triển Gia đình là tế bào của xã hội Nếu gia đình êm ấm thì xã hội lành mạnh, yên bình, an ninh trật tự được bảo đảm Phòng chống TNXH tốt thì toàn xã hội sẽ tập trung vào sản xuất, kinh doanh, học tập, nghiên cứu, tập trung mọi nguồn lực để
thực hiện mục tiêu “ Xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
Như vậy, phòng chống TNXH là một vấn đề cần sự quan tâm của mọi ngành, mọi cấp và của mỗi công dân Phòng chống tốt sẽ tránh được thảm hoạ cho bản thân, gia đình và cộng đồng Tuy nhiên, công tác này phải được tiến hành thường xuyên, liên tục ở mọi nơi, mọi lúc một cách tích cực, đồng bộ và triệt để thì mới đạt được hiệu quả mong muốn
Trang 301.2.6 Công tác giáo dục phòng chống TNXH
Hậu quả mà các loại tệ nạn xã hội gây ra là hết sức to lớn, cả về bề rộng lẫn chiều sâu Công tác giáo dục phòng chống TNXH là một quá trình sư phạm có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch và được kiểm tra chặt chẽ, thông qua hệ thống những phương pháp, hình thức hoạt động nhằm làm cho học sinh nhận thức được những tác hại của TNXH, hậu quả nghiêm trọng do TNXH đem lại, từ đó tránh xa các TNXH và có ý thức đấu tranh với các loại TNXH
Nếu hiểu quá trình quản lý xã hội là qua trình tác động có tổ chức, có hướng đích của một chủ thể xã hội nào đó vào những nhóm, những con người trong một xã hội nhằm điều chỉnh hành vi xã hội của họ, đạt tối đa những mục tiêu đã được đặt ra thì phòng chống các tệ nạn xã hội, giữ gìn môi môi trường xã hội trong sạch là nhiệm vụ quan trọng thiết yếu của quản lý xã hội
1.2.7 Quản lý công tác giáo dục phòng chống TNXH
Quản lý giáo dục phòng chống TNXH là tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong việc huy động, tổ chức, phối hợp, chỉ đạo, sử dụng, điều chỉnh, giám sát một cách có hiệu quả các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) nhằm hình thành và phát triển phòng chống TNXH, góp phần phát triển toàn diện nhân cách của đối tượng quản lý theo mục tiêu của tổ chức đặt ra
Quản lý công tác giáo dục phòng chống TNXH thực chất là điều khiển các hoạt động giáo dục phòng chống TNXH (quản lý giáo dục nhà trường, gia đình và
xã hội) một cách có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch nhằm đạt đến hiệu quả cao nhất Như vậy, quản lý công tác giáo dục phòng chống TNXH là hoạt động điều hành để làm cho những yêu cầu, mục tiêu, nội dung của giáo dục phòng chống TNXH trở thành hiện thực với một phương pháp tốt nhất, đạt hiệu quả cao nhất
Tệ nạn xã hội dưới góc nhìn khác nhau thì sẽ có có cách giải quyết khác nhau , Do vậy, có nhiều quan điểm về cách giải quyết về vấn đề này Thống nhất quan điểm trong phòng chống tệ nạn xã hội là việc hết sức cần thiết
Cũng cố và tăng cường hệ chuẩn mực giá trị, tạo cơ sở xã hội vững chắc cho những hành vi đúng, bài trừ tệ nạn xã hội Ở nước ta từ khi đổi mới, mở cửa chuyển
Trang 31sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhiều chuẩn mực xã hội thay đổi nhanh chóng Hệ chuẩn mực cũ thời bao cấp bị phá vỡ hệ chuẩn mực mới hình thành Bên cạnh những giá trị mới hướng con người đến tự do, nhạy cảm, năng động, sáng tạo, thị trường cũng tạo ra những hành vi tác phong mới: lối sống chạy theo đồng tiền, sự bừa bãi trong quan hệ tình dục, chủ nghĩa cá nhân… Đây là những yếu tố làm gia tăng những hành vi sai lệch hệ chuẩn mực xã hội, làm phát triển một số tệ nạn xã hội như mại dâm, ma túy, rượu chè, tham nhũng v.v Củng cố
hệ chuẩn mực xã hội rõ ràng là cần thiết Vấn đề là củng cố những chuẩn mực và giá trị nào ?
Hiện tại, mỗi địa phương, cơ sở đã thành lập ban chỉ đạo phòng chống tệ nạn xã hội Tuy nhiên hoạt động của hệ thống này còn nhiều vấn đề cần giải quyết Củng cố bộ máy tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo phòng, chống tệ nạn xã hội là nhân tố quan trọng đảm bảo công cuộc phòng, chống tệ nạn xã hội thành công
1.2.8 Biện pháp quản lý giáo dục phòng chống TNXH
Biện pháp quản lý là cách thức tiến hành hoạt động quản lý nhằm tác động
có hiệu quả đến khách thể, đối tượng quản lý để thực hiện các nhiệm vụ và đạt được các mục tiêu đã đề ra Biện pháp quản lý giáo dục phòng chống TNXH nằm trong biện pháp quản lý chung của nhà trường nhưng lại có nét đặc thù riêng Việc lựa chọn các biện pháp quản lý của nhà trường phải theo từng mục tiêu, đối tượng, nội dung, hình thức, phương pháp hoạt động, điều kiện, môi trường và thời điểm của mỗi giai đoạn khác nhau là yếu tố quyết định cho sự thành bại của quá trình quản lý giáo dục phòng chống TNXH trong nhà trường
1.3 Các dạng tệ nạn xã hội mà nhà trường cần quan tâm phòng chống
1.3.1 Tệ nạn ma tuý
Các chuyên gia hàng đầu của Liên hợp quốc về ma tuý đưa ra cách nhận biết
về ma tuý như sau:
“Ma tuý là các chất hoá học có nguồn gốc tự nhiên và nhân tạo khi xâm
nhập vào cơ thể con người sẽ có tác dụng làm thay đổi tâm trạng, ý thức và trí tuệ, làm con người bị lệ thuộc vào chúng, gây nên những tổn thương cho từng cá nhân
Trang 32và cộng đồng, do vậy, việc vận chuyển, mua, bán, sử dụng chúng phải được quy định chặt chẽ trong các văn bản pháp luật và chịu sự kiểm soát của các cơ quan bảo vệ pháp luật”.[5]
Ở Việt Nam, lần đầu tiên, vấn đề thuốc phiện và ma tuý được đề cập đến tại điều 61, chương V của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992: “Nghiêm cấm sản xuất, vận chuyển, buôn bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc phiện và các chất ma tuý khác”
Luật Phòng chống ma tuý được Quốc hội khoá XI thông qua ngày
9/12/2000 Điều 2 của Luật ghi rõ:
1 Chất ma tuý là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành
2 Chất gây nghiện là chất kích thích, ức chế thần kinh gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng
3 Chất hướng thần là chất kích thích thần kinh gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn đến tình trạng nghiện đối với nguời sử dụng
Từ điển bách khoa Việt Nam đã nêu lên khái niệm rất đầy đủ về ma tuý:
Ma tuý là các chế phẩm có tác dụng mạnh lên hệ thần kinh: nhiều chế phẩm
có tác dụng giảm đau mạnh, đặc biệt các chế phẩm này gây cho người dùng cảm giác sảng khoái, bay bổng, quên lãng, làm cho họ dần dần quen thuốc, trở nên nghiện Khi đã nghiện, nếu thiếu các chế phẩm ma tuý, người nghiện bị bồn chồn,
lo âu, khó chịu, đờ đẫn và nhiều triệu chứng bệnh lí khác; nếu tiếp tục sử dụng, càng bị nghiện nặng hơn, làm cho sức khoẻ yếu kém, suy nhược cơ thể, mất dần khả năng tư duy, lao động và có thể chết Người nghiện bị giảm sút cả về thể xác lẫn tinh thần và khi lên cơn nghiện không làm chủ được bản thân, dễ có hành động phạm tội Các chế phẩm ma tuý chính: thuốc phiện với các dạng cao thuốc phiện, morphin (hoạt chất chính của cao thuốc phiện), heroin (bạch phiến) và nhiều dẫn chất thuộc nhóm này được sản xuất bằng phương pháp chiết xuất, bán tổng hợp hay tổng hợp toàn phần; cần sa có chứa hoạt chất chính là delta - 9 - tetrahydrocanabinol; coca (lá coca để nhai) với hoạt chất chính là cocain; lá cây
Trang 33khát (Catha edulis) để nhai mà hoạt chất chính là ancaloit cathinon Các chế phẩm
ma tuý đã được biết đến từ thời xa xưa Các chất này là nguồn gốc gây nên nhiều thảm hoạ cho con người
Nghiện ma tuý là một tệ nạn xã hội Hiện nay, hằng năm thế giới có hàng chục triệu người bị nghiện nặng, nhiều người bị chết một cách thảm thương Cộng đồng thế giới đã áp dụng nhiều biện pháp kiên quyết để chống lại tệ nạn ma tuý Uỷ ban quốc tế chống ma tuý, cảnh sát quốc tế đã có nhiều biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn việc trồng trọt, chế biến, sản xuất, lưu thông và sử dụng các chế phẩm ma tuý Một trong những biện pháp được coi có hiệu quả nhất là phá huỷ các đồn điền, nông trại trồng thuốc phiện ở vùng Tam giác vàng, trồng coca ở Côlômbia và các nước khác, trồng cần sa ở các nước Đông Nam Á, trồng cây khát ở các nước Đông Phi và Trung Cận Đông Ở Việt Nam, đã có nhiều biện pháp để ngăn chặn và hạn chế tối đa việc trồng thuốc phiện ở các tỉnh miền núi phía bắc và trồng cần sa ở một số tỉnh phía Tây Nam; đã lập các trung tâm đặc biệt để chữa trị cho những người nghiện ma tuý Việc sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép và tổ chức dùng ma tuý bị nghiêm cấm Tội phạm ma tuý được quy định tại chương XVIII, Bộ luật hình sự.[18]
Ma tuý gây nhiều tác hại cho phát triển cá nhân và xã hội, đã trở thành hiểm hoạ chung của nhân loại Tại diễn đàn Liên hợp quốc, ngài Boutros Gali - nguyên Tổng thư ký Liên hợp quốc đã khuyến cáo và nhấn mạnh: “Trong những năm gần đây, tình trạng nghiện hút ma tuý đã trở thành hiểm hoạ lớn của toàn nhân loại Không một quốc gia, dân tộc nào có thể thoát ra ngoài vòng xoáy khủng khiếp của
nó để tránh khỏi phải gánh chịu những hậu quả tai hại do nghiện hút và buôn lậu ma tuý gây ra Ma tuý đang làm gia tăng tội phạm, bạo lực, tham nhũng, vắt cạn kiệt nhân lực, tài chính, huỷ diệt những tiềm năng quý báu khác mà lẽ ra phải được huy động cho việc phát triển kinh tế - xã hội, đem lại ấm no, hạnh phúc cho mọi người
Ma tuý đang làm suy thoái nhân cách, phẩm giá, tàn phá cuộc sống yên vui gia đình, gây xói mòn đạo lý, kinh tế, xã hội…Nghiêm trọng hơn, ma tuý còn là tác nhân chủ yếu thúc đẩy căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS phát triển”[5]
Trang 34Trong thông điệp nhân Ngày quốc tế phòng, chống lạm dụng ma tuý 26/6/2001, ngài Cofi Anan - nguyên Tổng thư ký Liên hợp quốc chỉ rõ: “Một trong những nguy hại nhất do hiểm hoạ ma tuý gây ra trên toàn cầu là ma tuý ảnh hưởng nhiều nhất đến thanh, thiếu niên Hãy thống nhất hành động ở mọi nơi, mọi cấp, từ quốc gia đến địa phương cho đến từng gia đình để ngăn chặn mối đe doạ của hiểm hoạ ma tuý” [39]
Trước thực trạng vô cùng nguy hại đó, Chính phủ ta đã ban hành Nghị quyết
số 06/CP ngày 29/1/1993 về “Phòng chống và kiểm soát ma tuý” nhằm huy động
tối đa sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân, mọi ngành, mọi cấp đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi, tiến tới loại bỏ ma tuý ra khỏi đời sống xã hội Nhằm thể chế hoá công tác phòng chống ma tuý, ngày 9/12/2000, Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật Phòng, chống ma tuý Đây là cơ sở pháp lý cho cuộc đấu tranh với tệ nạn ma tuý ở nước ta
Thực tế cuộc đấu tranh chống ma tuý ngày càng nóng bỏng, quyết liệt và phức tạp hơn nhiều Ma tuý là loại hàng buôn bán đem lại món lợi kếch xù Lợi nhuận do buôn bán ma tuý chỉ đứng thứ hai sau buôn bán vũ khí và còn hơn cả buôn bán dầu mỏ Vì “siêu lợi nhuận”, những kẻ buôn bán ma tuý đã bất chấp tất
cả Họ dùng mọi thủ đoạn để lôi kéo, rủ rê và nhiều thanh, thiếu niên đã trở thành con nghiện một cách vô thức vì muốn chơi trội, do tính hiếu thắng, tò mò muốn thử một lần cho biết
Thực hiện Quyết định 150/CP của Thủ tướng chính phủ và Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm, công tác phòng chống ma tuý ở nước ta đã có những chuyển biến cơ bản, tốc độ gia tăng người nghiện ma tuý tuy đã được kiềm chế tốt hơn nhưng vẫn đang trong xu thế tăng nhanh và ngày càng “trẻ hoá” Theo báo cáo của Bộ Công an và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, số thanh niên nghiện ma tuý năm 2002 là 92.301 người , năm 2005 là 119.840 người và hiện nay khoảng 169.000 người Thanh niên nghiện ma tuý chiếm 70% tổng số người nghiện có hồ sơ kiểm soát Những địa phương có số người nghiện và thanh niên nghiện ma tuý cao như TP Hồ Chí Minh, Sơn La, Hà Nội, Nghệ An
Trang 35Điều đáng quan tâm là sự gia tăng đột biến của tệ nạn ma tuý trong học đường với con số học sinh, sinh viên có liên quan đến ma tuý tăng từ 600 người năm 2004 lên 1.234 người năm 2007 Tình trạng nghiêm trọng khác là sự gia tăng
số thanh, thiếu niên sử dụng ma tuý tổng hợp ở các “động lắc” Việc ma tuý xâm nhập học đường đã gây nên nỗi lo lắng cho toàn xã hội Bởi vì ma tuý không chỉ huỷ hoại thế hệ trẻ hôm nay mà còn huỷ hoại cả nòi giống và các thế hệ mai sau
Ma tuý đang huỷ hoại sức khoẻ, truyền thống, đạo đức, trí tuệ của những thanh, thiếu niên mất phương hướng đang lao vào con đường nghiện ngập, ăn chơi, lười biếng, trốn học, thậm chí là trộm cắp, cướp giật để có tiền thoả mãn cơn nghiện Trách nhiệm của mỗi gia đình, nhà trường và toàn xã hội là phải làm trong sạch môi trường, làm lành mạnh hoá cuộc sống để thanh, thiếu niên không bị cuốn vào dòng xoáy huỷ hoại của cơn lốc ma tuý
1.3.2 Tệ nạn mại dâm
Công ước quốc tế về loại trừ bóc lột tình dục thông qua tại Băng Cốc - Thái Lan (tháng 12/1992) xác định: “Mại dâm là những hành vi trao đổi tình dục có tính mua bán trên cơ sở một giá trị vật chất nhất định ngoài phạm vi hôn nhân”
Trong Từ điển bách khoa Công an nhân dân có nêu: “Mại dâm là nhằm thoả mãn nhu cầu tình dục người khác để lấy tiền hoặc lợi ích vật chất khác”
Từ điển bách khoa Việt Nam xác định khái niệm về mại dâm:
Mại dâm là kiếm tiền bằng các kiểu quan hệ tình dục (đồng giới tính, khác giới tính, vv.), với mục đích kiếm sống do nghèo khó thất nghiệp; hoặc để thoả mãn lối sống buông thả, sa đoạ Mại dâm là một tệ nạn xã hội phức tạp có nguy cơ làm lan tràn các bệnh hoa liễu, hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS) và các
tệ nạn xã hội khác (nghiện ma tuý, vv.)
Cần kiên quyết đấu tranh và bài trừ tệ nạn mại dâm Các biện pháp để từng bước khống chế tệ nạn mại dâm: xây dựng xã hội tiến bộ, lành mạnh dựa theo một chiến lược con người thích hợp; đẩy mạnh giáo dục thanh niên có lối sống lành mạnh, có hiểu biết về các bệnh lây truyền qua đường tình dục, có quan niệm đúng
Trang 36đắn về hôn nhân và gia đình; phát triển kinh tế để nâng cao mức sống của toàn dân.[18]
Mại dâm có 3 đặc trưng:
- Có sự thoả thuận giữa 2 bên (thường là nam và nữ) về nhu cầu tình dục thông qua việc giao hợp hoặc các hình thức làm tình khác
- Thoả mãn tình dục thông qua quá trình mua - bán dâm
- Hành vi thoả mãn tình dục thực hiện ngoài phạm vi tình yêu chân chính Các đối tượng tham gia tệ nạn mại dâm gồm người bán dâm, người mua dâm, người chứa mại dâm và người môi giới Theo báo cáo gần đây nhất của Bộ Lao động - TB&XH, tuổi của gái mại dâm phần đông còn trẻ, chủ yếu tập trung ở
độ tuổi từ 18 đến 35, trong đó khoảng 70% dưới 25 tuổi và tỷ lệ gái mại dâm là người chưa thành niên tăng nhanh
Mại dâm là một tệ nạn xã hội nguy hiểm cần phải cương quyết đấu tranh để loại bỏ nó ra khỏi đời sống cộng đồng Tệ nạn mại dâm có quan hệ chặt chẽ với ma tuý và thường dẫn đến HIV/AIDS Tệ nạn này còn phá vỡ sự phát triển bền vững của gia đình, làm băng hoại các giá trị đạo đức, nhiều nơi đã xảy ra hiện tượng xâm hại tình dục trẻ em Đây là một vấn đề đáng báo động cần phải có giải pháp ngăn chặn kịp thời
Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm phòng chống tệ nạn mại dâm Ngày
29/1/1993, Chính phủ ban hành Nghị quyết 05 về “Ngăn chặn và chống tệ nạn mại
dâm” Ngày 07/3/2003, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá XI đã ban hành Pháp
lệnh Phòng, chống mại dâm
Các cơ quan có trách nhiệm đã triển khai nhiều chiến dịch triệt phá các ổ mại
dâm, đem lại sự bình yên cho đời sống cộng đồng Theo Báo cáo tổng kết công tác
phòng chống tệ nạn mại dâm giai đoạn 2001-2005 của Uỷ ban quốc gia, tệ nạn mại
dâm đến nay đã được kiềm chế về tốc độ, phạm vi, giảm cơ bản mức độ hoạt động công khai, các tụ điểm nóng phức tạp; kiểm soát được tình hình mại dâm nơi công cộng
Trang 371.3.3 Tệ nạn cờ bạc, trộm cắp
Trong Từ điển tiếng Việt đã nêu: “Cờ bạc là trò chơi ăn thua bằng tiền” [37] Nạn cờ bạc đã có từ lâu đời Trên thế giới, nhiều quốc gia đã tổ chức thành các sòng bạc và cho hoạt động hợp pháp để thu thuế Ở Việt Nam, cờ bạc đã tồn tại
từ xưa, biểu hiện là khi có các trò chơi giải trí thì một số người lợi dụng để tổ chức đánh bạc, cá cược nhằm thu lợi bất chính Ngày nay, mặc dù chúng ta đã có nhiều biện pháp ngăn chặn nhưng tệ nạn này vấn lén lút xảy ra dưới nhiều hình thức
Tại điều 10 trong Quy định những biện pháp cấp bách bài trừ một số TNXH nghiêm trọng [8] đã chỉ ra các hành vi đánh bạc bao gồm:
- Đánh bạc dưới mọi hình thức: xóc đĩa, tá lả, tổ tôm, tú lơ khơ, ba cây, tứ sắc, đỏ đen, cờ thế và các hình thức khác
- Đánh bạc bằng máy trò chơi điện tử
Trong những năm gần đây, internet và công nghệ thông tin có tác động rất mạnh đến giới trẻ Bên cạnh mặt tích cực, nhiều thanh, thiếu niên không được sự quan tâm định hướng đúng đắn của gia đình và xã hội đã chịu những tác động xấu Nhiều em nghiện chát, nghiện game như là một sự chạy trốn cuộc sống thực để chìm đắm trong thế giới ảo Ở các điểm internet, quán game, có thể dễ dàng bắt gặp nhiều học sinh còn nguyên bộ đồng phục ngồi “thiền” hàng tiếng đồng hồ, thậm chí thâu đêm suốt sáng
- Tham gia cá cược ăn tiền trong các môn thể thao, vui chơi giải trí (như đua ngựa, chọi gà, bóng đá)
- Mua bảng đề, ô số đề
Số đề là “lối chơi dựa vào việc đoán trước các con số nào đó” [37] Số đề là một kiểu đánh bạc mới dựa vào kết quả của xổ số kiến thiết Hiện nay, số đề đã trở thành một TNXH nhức nhối của xã hội Nhiều người vì ham mê cờ bạc, số đề mà khuynh gia bại sản, đi tới sự trộm cắp Từ cờ bạc đến trộm cắp chỉ là một giới hạn nhỏ
Trộm cắp là “lấy trộm của người khác một cách lén lút, nhân lúc đêm hôm hoặc lúc vắng người ” [37] Tệ nạn trộm cắp đã có từ xưa, những kẻ lười biếng
Trang 38muốn sung sướng không bằng lao động chân chính của mình mà đi lấy của người khác một cách bất chính
Cờ bạc, trộm cắp là bạn đồng hành của ma tuý, mại dâm Khi chúng cấu kết với nhau thường gây ra cho xã hội những hậu quả tai hại
Kéo bè, nhóm gây gỗ đánh nhau trong nhà trường hay giữa trường này với trường khác là hành động gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội Đã có nhiều cuộc đánh nhau gây thương tích thậm chí gây án mạng chỉ vì những lý do rất đơn giản như một “cái liếc”, một câu nói khích nhau rất bình thường
1.3.5 Vi phạm trật tự an toàn giao thông
Bên cạnh tệ nạn gây gỗ, đánh nhau, nhiều học sinh chưa đến tuổi được điều khiển xe máy nhưng đã tự tiện xử dụng gây mất trật tự an toàn giao thông Cá biệt,
có một số học sinh đi xe phân khối lớn, tụ tập nhau đua xe trái phép, gây mất trật tự
an toàn giao thông Nhiều cuộc đua xe đã làm nên những “cơn bão” kinh hoàng trên đường phố và gây ra tai nạn chết người
Trang 39đua đòi” được xếp vào hạng cao nhất 75,6% Ngoài ra, các đặc điểm của tuổi trẻ như ưa phiêu lưu, thích mạo hiểm, cảm giác mạnh, liều lĩnh, không làm chủ bản thân cũng là nguyên nhân dẫn đến TNXH và tội phạm
- Nguyên nhân do ảnh hưởng của sách báo, phim ảnh độc hại, Trong thực tế,
có nhiều trường hợp thanh thiếu nhi sau khi xem sách báo, phim ảnh độc hại đã bị kích động tới cuồng loạn, hành động theo bản năng, không kiểm soát được hành vi
và suy nghĩ của mình
- Nguyên nhân do nhận thức pháp luật của TTN còn hạn chế, không ý thức được mối nguy hiểm và hậu quả hành vi phạm tội của mình mà chỉ hành động theo bản năng, cảm tính Có một số đối tượng khi bị bắt mới biết mình phạm tội nghiêm trọng
- Nguyên nhân do thiếu ý thức tự rèn luyện, không chủ động phòng tránh những nguy cơ tấn công của các TNXH Những học sinh mắc các TNXH đều học yếu, nhận thức chậm Đặc biệt, số này rất thiếu thông tin, rất ít hiểu biết về tác hại của các TNXH, không phân biệt được đúng sai, a dua theo bạn bè
Gia đình là tế bào của xã hội, là nhân tố tích cực thúc đẩy sự phát triển của
xã hội thông qua việc thực hiện các chức năng như tái sản xuất con người, sức lao động, của cải vật chất và tinh thần của các thành viên trong gia đình và của toàn thể cộng đồng xã hội Đặc biệt là gia đình có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế, cũng như giữ gìn, phát huy, truyền thụ những giá trị văn hóa tinh thần từ đời này sang đời khác, giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc một cách bền vững Cha
mẹ có trách nhiệm phải nuôi day con cái nên người, đồng thời phải là tấm gương sáng cho con cái noi theo Gia đình có vai trò quan trọng trong công tác giáo dục phòng chống tệ nạn xã hội
Trong xã hội hiện đại, gia đình phổ biến là có ít con, thu nhập lại tăng lên nên có điều kiện nuôi con tốt hơn; thậm chí sinh ra chiều chuộng con, nhiều lúc quá đáng Đồng thời, cha mẹ đi làm suốt ngày, phần lớn ở xa nhà, ít có thời gian ở gần con, chăm sóc, theo dõi việc học tập, vui chơi, kết bạn của con Họ phó mặc cho nhà trường, các đoàn thể cả việc giáo dục văn hóa và xây dựng đạo đức, nhân cách
Trang 40của con Họ cung cấp tiền học, đồ chơi, ngày nay lại sắm máy vi tính điện tử cho con chơi ở nhà và nghĩ rằng đã làm hết nghĩa vụ Như vậy, điểm nổi bật hiện nay là quan hệ giữa cha mẹ và con cái khá lỏng lẻo ở một số gia đình Con cái họ trưởng thành chủ yếu từ môi trường xã hội: nhà trường, bạn bè, hội hè Hội hè có khi chỉ là những nhóm thanh thiếu niên tụ tập nhau theo một ý thích chung, như đua xe máy,
đi hát karaoke, đến vũ trường, đánh bạc, hút sách, chè chén, nhậu nhẹt và do vậy, dễ
sa vào con đường trộm cắp, cướp giật khi thiếu tiền
Có sự đứt đoạn trong quan hệ “cha truyền con nối” về nghề nghiệp: con cái phần lớn làm nghề khác cha mẹ và tự do lựa chọn Sự truyền đạt kinh nghiệm sống, các kiến thức giữa các thế hệ trong gia đình cũng diễn ra theo hai chiều: từ cha mẹ đến con cái và ngược lại, từ con cái đến cha mẹ Ngày nay, không phải chỉ có cha
mẹ là người hiểu biết nhiều nhất, là người giỏi nhất, là người thày dạy duy nhất của các con Lớp trẻ có điều kiện tiếp xúc với nhiều loại thông tin, sách báo nên dễ dàng thu nhận được nhiều kiến thức mới, đặc biệt là về kỹ thuật sản xuất hiện đại, các công nghệ thông tin… Bởi vậy, nhiều điều cha mẹ cần lắng nghe con, học tập ở con, mà không tự coi là điều gì mình cũng biết Đặc biệt, khi con có ý kiến khác, cha mẹ phải lắng nghe con trình bày một cách bình tĩnh, điều gì con nói đúng cần tiếp thu, không giấu dốt; điều gì con nói sai phải thuyết phục bằng lý lẽ, không thể
áp đặt một cách gia trưởng
Trong hôn nhân đã nảy sinh khuynh hướng chủ nghĩa thực dụng; không ít người lấy nhau, bỏ nhau vì động cơ tiền tài, địa vị, danh vọng Tỷ lệ ly hôn, ly thân của các gia đình ở nước ta có xu hướng tăng lên hàng năm Đồng thời, đã định hình thành quan niện dễ dãi trong quan hệ tình dục nam nữ, gắn với sự chung sống tạm
bợ, không tính đến chuyện hôn nhân nghiêm túc và lâu dài Đó là những biểu hiện của lối sống bắt chước phương Tây: Nam nữ ăn ở với nhau, chán thì chia tay; nếu
nữ có thai thì đi nạo, phá thai, hay có con thì tự nuôi…Gia đình sau ly hôn, con sống với cha thì không có mẹ, nếu sống với mẹ thì không có cha Chúng lớn lên thiếu sự săn sóc của người cha hoặc người mẹ và đó là một sự thiếu hụt to lớn