Phần 1 Tài liệu Việt Nam - 25 năm trên đường đổi mới 1986-2011 qua Tài liệu lưu trữ giới thiệu tới người đọc về Việt Nam trước những năm đổi mới bao gồm: Nước Việt Nam thống nhất, từng bước khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa; một số Tài liệu, hiện vật về thời kỳ bao cấp. Mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 1CỤC VĂN THƯ VÀ LƯU TRỮ NHÀ NƯỚC
TRUNG TÂM LƯU TRỮ QUỐC GIA III
VIỆT NAM - 25 NĂM TRÊN ĐƯỜNG ĐỔI MỚI
1986 - 2011 QUA TÀI LIỆU LƯU TRỮ
HÀ NỘI, 2012
Trang 2CHỊU TRÁCH NHIỆM CÔNG BỐ
TS VŨ THỊ MINH HƯƠNG Cục trưởng Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước
BAN XÂY DỰNG BẢN THẢO
Th.S VŨ XUÂN HƯỞNG Giám đốc Trung tâm Lưu trữ quốc gia III
Th.S PHẠM THỊ BÍCH HẢI Phó Giám đốc Trung tâm Lưu trữ quốc gia III
Th.S NGUYỄN THỊ NGỌC DIỆP Trưởng phòng Công bố và Giới thiệu tài liệu
Trang 3LỜI GIỚI THIỆU
Ngày 30/4/1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, cả nước tập trung hàn gắn các vết thương chiến tranh và bước vào công cuộc xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội
Song song với việc ổn định về chính trị, giữ vững an ninh quốc phòng, những nhiệm vụ kinh tế - xã hội đầu tiên sau khi đất nước thống nhất cũng đã được toàn Đảng, toàn dân ta nỗ lực thực hiện và đạt được những thành tựu đáng
kể Nhưng do những tác động khách quan cũng như chủ quan đã làm cho đời sống kinh tế - xã hội của nước ta gặp nhiều khó khăn
Tháng 12 năm 1986, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước và tiếp tục được hoàn thiện tại các đại hội tiếp theo, đưa nền kinh tế - xã hội nước ta phát triển theo các hướng cơ bản: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa; dân chủ hóa đời sống kinh tế - xã hội; mở rộng giao lưu và hợp tác với các nước trên thế giới…
Sau 25 năm thực hiện, với sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, công cuộc đổi mới đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử Nước ta đã thoát khỏi tình trạng kém phát triển và có sự thay đổi cơ bản, toàn diện, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt, sức mạnh quốc gia về mọi mặt được tăng cường, độc lập, tự chủ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững, vị thế và vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao, tạo tiền đề để nước ta tiếp tục phát triển mạnh mẽ và bền vững hơn trong giai đoạn mới
Nhân kỉ niệm 25 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước, Trung tâm
Lưu trữ quốc gia III - Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước biên soạn sách “Việt
Nam - 25 năm trên đường đổi mới 1986 - 2011 qua tài liệu lưu trữ”
Bố cục cuốn sách gồm hai phần chính với những nội dung cụ thể sau đây:
Phần I: Việt Nam - những năm trước đổi mới
Trang 41 Nước Việt Nam thống nhất, từng bước khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa;
2 Một số tài liệu, hiện vật về thời kỳ bao cấp
Phần II: Đổi mới, hội nhập và phát triển
1 Những trăn trở, tìm tòi và thử nghiệm;
2 Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định đường lối đổi mới;
3 Một số thành tựu của công cuộc đổi mới
Với độ dài 500 trang, với những tài liệu lưu trữ mang tính chính xác và khách quan, cuốn sách sẽ giới thiệu với bạn đọc về những bước chuyển biến mạnh mẽ của đất nước trong 25 năm thực hiện đường lối đổi mới mà điểm khởi đầu quan trọng nhất là Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 12 năm 1986 cho tới những thành tựu nổi bật trong quá trình đổi mới, hội nhập và phát triển
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!
Hà Nội, tháng 12 năm 2012
Ban Biên soạn
Trang 6PHẦN I VIỆT NAM - NHỮNG NĂM TRƯỚC ĐỔI MỚI
Trang 7
NƯỚC VIỆT NAM HÒA BÌNH, THỐNG NHẤT,
TỪNG BƯỚC KHẮC PHỤC HẬU QUẢ CHIẾN TRANH, XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Trang 8Lễ khai mạc Hội nghị Hiệp thương thống nhất đất nước tại
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 15/11/1975
Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, tài liệu ảnh sưu tầm
Đoàn tàu khách đầu tiên tới ga Thành phố Hồ Chí Minh
sau ngày khánh thành đường sắt Thống nhất, tháng 02/1976
Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, tài liệu ảnh sưu tầm
Trang 9Đồng bào các dân tộc Gia Lai - Kon Tum bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội thống nhất, ngày 05/4/1976
Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, tài liệu ảnh sưu tầm
Đồng bào các dân tộc ở Lạng Sơn bỏ phiếu bầu Quốc hội thống nhất, ngày 25/4/1976
Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, tài liệu ảnh sưu tầm
Trang 10Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa VI thông qua các nghị quyết
về đặt tên nước, Quốc huy, Quốc ca, Thủ đô và chính thức đặt tên Thành phố Sài Gòn - Gia Định là Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 02/7/1976
Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, tài liệu ảnh sưu tầm
Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IV,
Hà Nội, tháng 12/1976
Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, tài liệu ảnh sưu tầm
Trang 11Lễ ký Hiệp định Hợp tác về thăm dò và khai thác dầu khí
ở thềm lục địa phía Nam Việt Nam, tại điện Kremlin, Liên bang Nga,
ngày 03/7/1980
Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, tài liệu ảnh sưu tầm
Cầu Thăng Long do Liên Xô giúp Việt Nam xây dựng, khánh thành năm 1985
Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, tài liệu ảnh sưu tầm
Trang 12Cầu Chương Dương bắc qua sông Hồng do các kỹ sư Việt Nam
thiết kế và thi công đã được đưa vào sử dụng, năm 1985
Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, tài liệu ảnh sưu tầm
Trang 13
MỘT SỐ TÀI LIỆU, HÌNH ẢNH
VỀ THỜI KỲ BAO CẤP
Trang 14Mẫu phiếu phân phối, bìa mua hàng công nghệ phẩm (tập thể),
bìa mua hàng (gia đình), sổ mua bán hàng của các sở, ty thương nghiệp, năm 1971 - 1972
Trang 16Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, phông Bộ Nội thương, hồ sơ 2449
Trang 17Thẻ xã viên do Ban Quản lý Hợp tác xã mua bán cơ sở xã Liên Hà,
huyện Đông Anh, Hà Nội cấp cho ông Ngô Văn Ẩm ngày 13/12/1972
Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, tài liệu sưu tầm
Trang 18Phiếu vải (loại 5m) do Bộ Nội thương phát hành, cấp cho cán bộ, công nhân
là nam giới, năm 1972, được Cục Thương nghiệp Hà Nội cấp cho ông Nguyễn Quý Tích công tác tại trường Đại học Tổng hợp (Hà Nội)
Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, tài liệu sưu tầm
Trang 19Mẫu tem phiếu vải, thực phẩm in cho các tỉnh, các lực lượng
quốc phòng năm 1973 của Bộ Nội thương
Trang 20Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, phông Bộ Nội thương, hồ sơ 2517
Trang 21Tem lương thực do Bộ Lương thực và Thực phẩm phát hành,
năm 1976
Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, tài liệu sưu tầm
Trang 22Thông tư số 18/TT/LB ngày 31/8/1977 của Liên Bộ Nội thương - Quốc phòng quy định việc tổ chức phân phối
hàng công nghiệp tiêu dùng cho quân đội
Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, phông Bộ Nội thương, hồ sơ 2645
Trang 23Sổ ghi công điểm vụ Đông Xuân năm 1977 - 1978 của đội 4,
Phước Trạch, thuộc hợp tác xã Ea Phờ, tỉnh Đắc Lắc
Trang 24Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, tài liệu sưu tầm
Trang 25Chỉ thị số 44 NT/M ngày 26/02/1979 của Bộ Nội thương về việc
chấn chỉnh và cải tiến công tác phân phối, bán lẻ vật phẩm
tiêu dùng nhằm phục vụ đắc lực cho sản xuất, chiến đấu
và đời sống nhân dân
Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, phông Bộ Nội thương, hồ sơ 2685
Trang 26Phiếu sữa trẻ em phát hành ở Lai Châu, năm 1979
Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, tài liệu sưu tầm
Người dân xếp hàng mua lương thực, thực phẩm
bằng tem phiếu thời kỳ bao cấp
Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, tài liệu ảnh sưu tầm
Trang 27Chỉ thị số 504 NT/KD-B ngày 06/7/1979 của Bộ Nội thương về
hướng dẫn bán vải lụa năm 1979 - 1980 cho công nhân viên chức
và nhân dân cả nước
Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, phông Bộ Nội thương, hồ sơ 2697
Trang 28Bìa mua hàng hộ gia đình loại B và loại C năm 1980
do Phòng Thương nghiệp Hoàn Kiếm thuộc Sở Thương nghiệp
Hà Nội cấp cho bà Nguyễn Thị Bảy, ở số 8 ngõ I phố Hàng Khoai, Hoàn Kiếm, Hà Nội
Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, tài liệu sưu tầm
Trang 29Phiếu bồi dưỡng người đẻ cấp cho nhân dân nông thôn,
thành thị ở Cao Bằng năm 1980
Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, tài liệu sưu tầm
Phiếu mua hàng (loại E) do Bộ Nội thương cấp cho
cán bộ, công nhân viên chức, năm 1985
Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, tài liệu sưu tầm
Trang 30Sổ đăng ký mua lương thực cấp cho gia đình ông Phan Văn Sinh,
xã Duyên Hà, huyện Thanh Trì, Hà Nội năm 1988
Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, tài liệu sưu tầm
Trang 31Phiếu mua chất đốt (loại N1) do Sở Thương nghiệp Hà Nội
phát hành năm 1989 cấp cho cháu Nguyễn Hoàng Thảo
Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, tài liệu sưu tầm
Phiếu mua hàng của Sở Thương nghiệp Hà Nội cấp cho bà
Hoàng Vĩnh Hạnh, cán bộ Bảo tàng Cách mạng Việt Nam
năm 1989
Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, tài liệu sưu tầm
Trang 32Một chuyến tàu hỏa thời kỳ trước đổi mới
Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, tài liệu ảnh sưu tầm
Một chuyến xe điện trên đường phố Hà Nội thời kỳ trước đổi mới
Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, tài liệu ảnh sưu tầm
Trang 33PHẦN II ĐỔI MỚI, HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN
Trang 34NHỮNG TRĂN TRỞ, TÌM TÒI VÀ THỬ NGHIỆM
Trang 35Chỉ thị số 15 CT/TW ngày 04/8/1977 của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về thí điểm cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp ở miền Nam
Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, tài liệu sưu tầm
Trang 36Đồng chí Kim Ngọc (trái) - Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Vĩnh Phúc,
người đã tìm con đường thử nghiệm chính sách khoán
trong nông nghiệp, đi kiểm tra thực tế tại các hợp tác xã
Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, tài liệu ảnh sưu tầm
Trang 37Quyết định số 558 KT/CTN ngày 30/8/1995 của Chủ tịch
nước CHXHCN Việt Nam về việc truy tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất cho đồng chí Kim Văn Nguộc (tức Kim Ngọc)
Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, phông Chủ tịch nước giai đoạn 1992-1997,
hồ sơ 1442
Trang 38Chỉ thị số 100 CT/TW ngày 13/01/1981 của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về việc cải tiến công tác khoán,
mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động
trong hợp tác xã nông nghiệp
Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, tài liệu sưu tầm
Trang 39Công văn số 126-VP/BNN ngày 23/9/1980 của Ban Nông nghiệp Trung ương gửi Ban Cán sự Bộ Nông nghiệp về việc gửi Đề cương nghiên cứu các hình thức khoán trong hợp tác xã nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng lao động, vật tư, cơ sở vật chất, kỹ thuật, thực hiện tốt chế độ trả công cho lao động, hoàn thành kế hoạch sản xuất
Trang 40ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
BAN NÔNG NGHIỆP
Số: 126-VP/BNN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 23 tháng 9 năm 1980
Kính gửi: Ban Cán sự Bộ Nông nghiệp
Thi hành ý kiến của Ban Bí thư về việc nghiên cứu tiếp công tác khoán nhất là đối với cây lúa, cây công nghiệp vùng tập trung trong hợp tác xã sản xuất nông nghiệp
Ngày 18.9.1980, cùng với một số cơ quan tỉnh, Ban Nông nghiệp Trung ương đã họp bàn mục đích, yêu cầu, nội dung, phương pháp và phân công nhau xuống các địa phương nghiên cứu
Với Bộ Nông nghiệp, chúng tôi có mời Ban Quản lý Hợp tác xã, trường Đại học Nông nghiệp I, II và Viện Kinh tế nông nghiệp cùng tham gia Ban Quản lý Hợp tác xã nghiên cứu tiếp Vĩnh Phú; Trường Đại học Nông nghiệp I đi
Hà Nam Ninh; Trường Đại học Nông nghiệp II đi Hà Bắc; Viện Kinh tế Nông nghiệp đi Nghệ Tĩnh
Ban Nông nghiệp Trung ương xin gửi các đồng chí bản dự thảo đề cương nghiên cứu để tham khảo Và đề nghị các đồng chí có chỉ thị cho các đơn vị nói trên, để họ an tâm tổ chức nghiên cứu được tốt./
BAN NÔNG NGHIỆP TRUNG ƯƠNG
Trưởng ban (Đã ký và đóng dấu)
Võ Thúc Đồng
Trang 41Ngày 04 tháng 10 năm 1980
ĐỀ CƯƠNG Nghiên cứu các hình thức khoán trong hợp tác xã nông nghiệp,
nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng lao động, vật tư, cơ sở vật chất
kỹ thuật, thực hiện tốt chế độ trả công cho lao động,
hoàn thành kế hoạch sản xuất
ĐẶT VẤN ĐỀ Trải qua 20 năm xây dựng củng cố hợp tác xã, với sự đầu tư xây dựng cơ
sở vật chất kỹ thuật đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp; trình độ sản xuất kinh doanh của một số khá lớn hợp tác xã đã được mở rộng; sự phân công
và hiệp tác lao động trong nội bộ hợp tác xã bước đầu hình thành; các chế độ chính sách khuyến khích lao động để mọi người cùng quan tâm đến kết quả lao động sản xuất cũng được Đảng, Nhà nước coi trọng; hiện nay và một số năm nữa, tuy nhà nước cố gắng, nhưng vật tư, máy móc vẫn còn bị hạn chế; bình quân diện tích canh tác cho đầu người lại quá thấp và phân bổ không đều giữa các vùng Vì vậy chúng ta vừa phải tổ chức lại nền nông nghiệp phân bố hợp lý lao động (phân bố tại chỗ, phân bố giữa các vùng), vừa phải đầu tư lao động sống để thâm canh tăng năng suất cây trồng, vật nuôi là một tất yếu khách quan Hiện nay một vấn đề rất bức thiết đối với các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp làm làm cho mọi người lao động phấn khởi tích cực lao động sản xuất, bỏ thêm công sức để thâm canh, tận dụng được ưu thế thuận lợi của thiên nhiên, sử dụng tốt nhất đất đai, vật tư, để tăng sản phẩm cho xã hội, đảm bảo lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp và nông sản xuất khẩu, kết hợp 3 lợi ích
Song sản phẩm sản xuất trong nông nghiệp lại phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên; lao động có phân công và hiệp tác lại là một yêu cầu khách quan; vậy làm sao cho mỗi người lao động quan tâm đến kết quả của mỗi khâu công việc được giao và cùng quan tâm đến kết quả cuối cùng, đây là một yêu cầu của sản xuất
và cũng là nguyện vọng của mọi lao động xã viên
Trang 42Vài năm gần đây tình hình sản xuất của các hợp tác xã năng suất cây trồng, vật nuôi dẫm chân tại chỗ; hiệu quả sử dụng đất đai, lao động, vật tư, tiền vốn đạt thấp; tâm tư quần chúng xã viên có nhiều băn khoăn vướng mắc; lao động tập thể không được phát huy, thậm chí có những hiện tượng tiêu cực (trừ các hợp tác xã tiên tiến và khá), hợp tác xã trung bình và yếu kém còn chiếm số đông Tại sao có tình hình đó? Phải chăng cần xem xét một cách toàn diện cả chủ quan và khách quan?
Ngoài nguyên nhân khách quan ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp không nhỏ như: hậu quả của chiến tranh, thiên tai liên tiếp, và hiện nay còn phải thường xuyên cảnh giác tăng cường lực lượng quốc phòng bảo vệ tổ quốc … Song về mặt chủ quan có phải chúng ta đã có những thiếu sót:
1- Hợp tác xã là một đơn vị kinh tế tập thể nhưng các chế độ quản lý, các chính sách kinh tế (kế hoạch hóa, hạch toán, thu mua, giá…) của nhà nước và trong chỉ đạo cụ thể của cấp trên đã làm cho hợp tác xã mất quyền chủ động trong sản xuất, kinh doanh1
; những điều kiện tối thiểu để tái sản xuất sức lao động, tái sản xuất mở rộng của hợp tác xã không được bảo đảm
2- Công tác tổ chức quản lý nội bộ hợp tác xã mặc dầu được Đảng và Nhà nước rất quan tâm có nhiều chủ trương đúng đắn; song cũng không ít những chủ trương chính sách cụ thể, nhất là về mặt tổ chức chỉ đạo các cấp, các ngành đã gây thêm rối rắm cho hợp tác xã: xác định phương hướng sản xuất không đúng;
bố trí cơ cấu sản xuất, cơ cấu cây trồng, vật nuôi, và bước đi vừa không tích cực, vừa không vững chắc; mở rộng quy mô hợp tác xã, quy mô đội quá lớn lại tiến hành đồng loạt không có sự chuẩn bị chu đáo; đội sản xuất cơ bản là đơn vị nhận khoán chịu trách nhiệm sản phẩm cuối cùng đối với hợp tác xã thì không được củng cố nên tình trạng phổ biến ở nhiều hợp tác xã các đội sản xuất cơ bản không còn là đơn vị chịu trách nhiệm sản phẩm cuối cùng và hạch toán nội bộ; công tác khoán quản của đội sản xuất không được bồi dưỡng hoàn thiện; một số
1
Nói chủ động kinh doanh là cấp trên và Đảng bộ cơ sở lãnh đạo hợp tác xã lập kế hoạch theo quy hoạch và phương hướng đã được xác định, tránh áp đặt cơ cấu bước đi, chỉ tiêu v.v… không hợp lý và không có hiệu quả