1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Sự mất ngủ của lửa: Tâm thức hoài hương trong thơ sinh thái Nguyễn Quang Thiều

6 453 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 85,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ra mắt bạn đọc từ những năm 90 của thế kỉ XX, Sự mất ngủ của lửa được nhắc đến như một dấu mốc đổi mới thơ ca Việt Nam hiện đại. Từ góc nhìn sinh thái, tập thơ mở ra những trang đầu của khát vọng “trốn lo âu về lại cánh đồng”. Trên con đường lưu lạc tha hương với những va đập ồn ào phố thị, cố hương trở thành nơi chốn tìm về, thành điểm tựa nương náu.

Trang 1

This paper is available online at http://stdb.hnue.edu.vn

SỰ MẤT NGỦ CỦA LỬA: TÂM THỨC HOÀI HƯƠNG

TRONG THƠ SINH THÁI NGUYỄN QUANG THIỀU

Đặng Thị Bích Hồng

Khoa Khoa học Xã hội & Nhân văn, Trường Đại học Hùng Vương

Tóm tắt Ra mắt bạn đọc từ những năm 90 của thế kỉ XX, Sự mất ngủ của lửa được nhắc

đến như một dấu mốc đổi mới thơ ca Việt Nam hiện đại Từ góc nhìn sinh thái, tập thơ mở

ra những trang đầu của khát vọng “trốn lo âu về lại cánh đồng” Trên con đường lưu lạc tha

hương với những va đập ồn ào phố thị, cố hương trở thành nơi chốn tìm về, thành điểm tựa

nương náu Không gian của dòng sông Đáy thân thuộc và kì vĩ, của đồng đất khôi nguyên

và nồng ấm tạo mạch nguồn cảm hứng tư hương Nơi đó, thiên nhiên giăng níu với con

người, đặc biệt, với mẹ và với những người phụ nữ thôn quê Không gian cố hương vì thế

không chỉ gắn liền với kí ức tuổi thơ mà còn là biểu tượng cho những giá trị cao đẹp của

con người và thế giới tự nhiên.

Từ khóa: Nguyễn Quang Thiều, Sự mất ngủ của lửa, sông Đáy, cố hương.

1 Mở đầu

Ra mắt bạn đọc từ những năm 90 của thế kỉ XX, Sự mất ngủ của lửa đánh dấu bước ngoặt

quan trọng trong hành trình thơ Nguyễn Quang Thiều Thậm chí, tập thơ được nhắc đến như một dấu mốc đổi mới thơ ca Việt Nam hiện đại Những thể nghiệm cách tân của Nguyễn Quang Thiều

thực tế đã lan tỏa rộng rãi tới nhiều cây bút trẻ sau đó Cũng vì thế, Sự mất ngủ của lửa thu hút sự

quan tâm của không ít nhà nghiên cứu phê bình

Đánh giá về cách tân trong Sự mất ngủ của lửa, Nguyễn Đăng Điệp cho rằng đó là những

cách tân có tính gây hấn, “tạo nên sự khác lạ về cái nhìn nghệ thuật, hệ thống biểu tượng, cách tổ chức cấu trúc văn bản ” [1;tr.23] Mai Văn Phấn khẳng định thi pháp Nguyễn Quang Thiều ở tập thơ này là “những kết cấu mới, mở ra những liên tưởng phi tuyến tính, và đặc biệt, tạo những hình ảnh lạ lẫm, trương nở, chuyển động nhanh” [3;tr.270]

Nhiều nhà phê bình sớm nhận ra rằng, thơ Nguyễn Quang Thiều xuất hiện dày đặc những

từ ngữ gợi nhắc về cố hương [1], [6] Nhận diện niềm hoài hương xứ mẹ trong Sự mất ngủ của

lửa, Nguyễn Mạnh Tiến nhấn mạnh: “Trở về tối, trở về thẳm sâu, nơi khuất kín nhất của đời sống nội tâm Thiều còn là trở về với thiên đường bụng mẹ” [5;tr.44]

Như vậy, Sự mất ngủ của lửa đã được các nhà nghiên cứu luận giải từ nhiều góc nhìn khác

nhau Tuy nhiên, tiếp cận văn học là một hoạt động mở cho phép mỗi nhà nghiên cứu có một lựa

chọn riêng và một cách cấu trúc riêng cho sự lựa chọn của mình Ở bài viết này, chúng tôi đọc Sự

Ngày nhận bài: 15/7/2017 Ngày sửa bài: 28/8/2017 Ngày nhận đăng: 20/10/2017

Liên hệ: Đặng Thị Bích Hồng, e-mail: dangbichhonghvu@gmail.com

Trang 2

mất ngủ của lửatrong mối quan hệ giữa tâm thức hoài hương và chủ đề sinh thái Từ góc độ này,

Sự mất ngủ của lửamở ra những trang đầu của khát vọng “trốn lo âu về lại cánh đồng” Đó là khát vọng trở về quê hương, trở về tuổi thơ, trở về những giá trị cao đẹp của con người và thế giới tự nhiên

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Thân phận tha hương và sự tách rời tự nhiên

Với những người đã sinh ra ở làng, lớn lên từ làng thì ra ngoài chốn quê cũng tức là rơi vào tha hương Bao giờ cũng thế, kẻ tha hương luôn thấy con đường của mình như một trường lưu lạc Với người nghệ sĩ, cảm thức này càng trở nên mạnh mẽ trong nỗi cô đơn thân phận Trước Nguyễn Quang Thiều cả nghìn năm, các thi nhân đời Đường đã nói rất thấm về nỗi niềm xa xứ:

“Quê hương khuất bóng hoàng hôn/ Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai” (Thôi Hiệu) Tâm thế thường trực của thân phận li hương là mong nhớ: “Ngẩng đầu nhìn trăng sáng/ Cúi đầu nhớ cố hương” (Lí Bạch) Gần hơn với thi sĩ làng Chùa cả về không gian lẫn thời gian, thi sĩ thôn Vân từng chua xót giữa gió mưa thiên hạ: “Giang hồ sót lại mình tôi/ Quê người đắng khói, quê người cay men” Đến Nguyễn Quang Thiều, hình ảnh “Con đường” trở thành biểu tượng của sự ra đi, của

sự tách lìa chốn quê

Xa

Xa ngơ ngác con đường Người đi, người đi, người đi.

Vừa bước vừa vấp [ ]

Quê hương Khuất khuất sau mây Quê hương âm âm trong gió

Ta không thể dâng tay gạt hết mưa chiều

Để nhìn cho tỏ mặt.

(Tha phương)

Thơ Nguyễn Quang Thiều ngay từ Sự mất ngủ của lửa đã xuất hiện không ít những “rời

nhà”, “xa quê”, “lưu lạc” Trên hành trình “bước hụt” ấy, thiên nhiên kì vĩ chẳng những không xoa dịu mà nhiều khi còn xoáy sâu vào tâm thức con người cảm xúc buồn thương:

Chỉ còn một vòng nữa thôi Mặt trời sẽ chạm vào biển

Đó là lúc lòng ta đau đớn nhất

Đó là lúc ta không sao chịu nổi Lúc có một bài ca lưu lạc trở về.

(Xô-nát hoàng hôn trên biển) Thơ cất lên như một tiếng nói tự thú: tiếng nói của thân phận, của cảnh ngộ lưu lạc, tha hương Sức lay động của thơ, suy cho cùng, nằm ở sự chân thành của cảm xúc mà trước hết là sự chân thành của nhà thơ khi đối diện với cảm xúc của chính mình Khi làm thơ như một hành vi tự thú, con người không còn thấy cái tôi là một biểu tượng quyền uy Cái tôi khi đó trở thành một bản thể mong manh, trước niềm hạnh phúc, và trước cả nỗi đớn đau

Viết về không gian bên ngoài cội nguồn văn hóa làng Chùa, Nguyễn Quang Thiều đưa vào

Trang 3

vàn những biến đổi giàu – nghèo, cũ – mới, hèn – sang Nhiều giá trị đang trong chiều dâu bể Điểm dễ nhận thấy ở không gian này là sự thiếu vắng thiên nhiên

Sự xuất hiện của không gian đô thị là một sự kiện đặc biệt trong lịch sử văn hóa nhân loại

Ở một khía cạnh, thành phố là đơn vị hành chính đánh dấu sự phát triển của xã hội Ở khía cạnh khác, sự kiến tạo thành phố thể hiện tham vọng sánh ngang kiến tạo thế giới của Chúa Trời Trong

Kinh thánh, thành phố là không gian của sự sa đọa, của thói kiêu hãnh thái quá Hình phạt lẫn lộn ngôn ngữ trong công cuộc xây tháp Babel đã chia rẽ loài người thành các bộ phận đối địch Họ không nói cùng một thứ tiếng, không hiểu nhau, không đồng cảm Từ phương diện sinh thái, đời sống đô thị kéo theo hệ quả tệ hại là sự tách rời con người với thế giới tự nhiên Nhiều cây bút lãng mạn nổi tiếng như George Byron, Alphonse Daudet đã nối dài quan điểm đoạn tuyệt đô thị Thơ rút vào cung đình, lui về đồng quê, tìm đến những vùng đất lạ Văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX bắt đầu đề cập tới sự bất trắc của không gian thị thành Đến những năm 90 của thế kỉ này, khi đất nước tiến nhanh vào guồng đô thị hóa, con người vẫn không hết tâm lí vừa hào hứng

ra phố, vừa sợ phố

Không gian đô thị đi vào Sự mất ngủ của lửa gắn liền với dục vọng, với vật chất, với những

dự cảm bất trắc Trong Bầy kiến qua bàn tiệc, thế giới ấy là ngổn ngang “bàn tiệc”, là “cơn gió lốc

quạt trần”, là “chiếc bóng điện 1000 oát – vầng mặt trời giả dối” Tất cả khiến cho những sinh loài nhỏ bé trong thế giới tự nhiên “đắng cay nhòa mắt/ dìu nhau về thăm thẳm những hang sâu”

Đó vừa là thân phận bầy kiến, vừa là số phận con người trong cõi sinh tồn khắc nghiệt Hợp âm phố xá được nhà thơ thâu tóm trong sự hỗn độn và nhiều khi giả dối:

Thị xã hỡi, đêm mất điện

Có ai đó kêu lên

Có ai đó cười sằng sặc

Có kẻ lấy đêm che nửa phần suồng sã Nửa phần kia làm đom đóm lập lòe.

(Cánh buồm)

Ở Câu hỏi cuối ngày, một góc đô thị với sự thiếu vắng thiên nhiên, với những nhịp tẻ ngắt

được phác họa trong một cái nhìn gần như vô cảm: tôi “đợi chuyến xe tan tầm”, lá “rụng xuống”, cơn mưa chiều “dâng lên” Giữa cơn mộng mị và giấc mơ tỉnh của nhân vật trữ tình, đời sống phố thị hiện lên qua hai mảng hiện thực đối lập, một bên là “Các cô gái đẹp mặc váy cưỡi xe máy phóng qua”, một bên là “Các cô gái buôn chuyến đang nghoẹo đầu ngủ/ Tóc tai quần áo sặc mùi

cá khô” Đất nước trên đường đổi mới, cuộc sống đẩy về những thái cực, và ở chiều nào đi chăng nữa, đọng lại vẫn là dư vị chua xót Câu hỏi cuối ngày khi “nấc lên”, sặc nghẹn, khi “nhói lên”, đau thắt Cả hai đều là câu hỏi về một sự hôn phối: “Nếu tôi lấy họ/ Tôi sẽ ngủ với họ như thế nào” Khi thời đại đang thay đổi, văn hóa đang thay đổi, câu hỏi đó như là biểu tượng về một cuộc đại hôn phối giữa những giá trị sống Con người bị ném vào cuộc đại hôn phối ấy với một tâm thế nhập cuộc tận cùng cô đơn

Giữa va đập ồn ào phố thị, cố hương trở thành nơi chốn tìm về, thành điểm tựa nương náu:

Những chiều xa quê tôi mong dòng sông dâng lên ngang trời cho tôi được nhìn thấy Cho đôi mắt nhớ thương của tôi như hai hốc đất ven bờ, nơi những chú bống đến làm tổ được giàn giụa nước mưa sông(Sông Đáy)

Không gian của dòng sông Đáy thân thuộc và kì vĩ, của đồng đất khôi nguyên và nồng ấm, của người phụ nữ thôn quê tảo tần tạo mạch nguồn cảm hứng tư hương

Trang 4

2.2 Tự nhiên và tính nữ: trầm tích cố hương

Lịch sử mỗi cá nhân dù có những thăng trầm, biến cố khác nhau nhưng đều kết nối với một môi trường vật lí, đều có một “sự gắn-bó-nơi-chốn” nhất định Nguyễn Quang Thiều từng khẳng định trong một lần trả lời phỏng vấn: “Mỗi người đều có một mối liên hệ vừa mơ hồ, vừa bí ẩn, vừa thiêng liêng và vừa quyền uy với nơi chôn nhau cắt rốn của mình [ ] Tất cả những thứ đó đã dựng nên một không gian sống động và huyền ảo mà chúng ta không thể lớn lên nếu như không

có một không gian như thế” [2] Mang theo xác tín ấy, nhà thơ viết về cố hương như một không gian sinh thái, ở đó, kí ức về mẹ, về những người phụ nữ thôn quê luôn được tái hiện trong sự gắn kết với môi trường tự nhiên

Kẻ tha hương “vừa bước vừa vấp” mang theo hành trang là những kí ức về nơi chốn Không gian làng Chùa, không gian của dòng sông Đáy, của bến kín, cánh đồng, triền bãi cứ trở đi trở lại Mùi của quê hương len vào giấc ngủ: “Chỉ mùi khói phân trâu khô bên đường bén lửa/ Ngăn ngắt đắng vào giấc ngủ kẻ tha phương” Cơn mơ của người con xa quê cũng khắc khoải âm thanh sông nước tự nhiên: “Năm tháng sống xa quê tôi như người bước hụt/ Cơn mơ vang tiếng cá quẫy tuột câu như một tiếng nấc” Nếu như trong Thơ mới, thiên nhiên đồng quê với những vẻ đẹp

thanh tân là đối tượng để thi nhân soi ngắm, mê say thì ở Sự mất ngủ của lửa, không gian làng

quê còn được tái hiện với cả sự thô tháp, dữ dội: “Làng quê ơi, bao năm xa cách/ Đêm nay tôi trở lại làng/ Trời sắp bão oi nồng cơn sốt/ Bên ngọn đèn hạt đỗ/ Tôi ngồi nghe/ Tiếng chó khuya sủa chớp cuối chân trời [ ] Chó ơi, đừng sủa nữa/ Gió đêm thành gió dại rồi/ Ai ném lại vầng trăng

ra khỏi sự bình yên/ Lao rồ dại trong mây trời xứ mẹ”

Nhưng trên hết, chốn quê trong thơ Nguyễn Quang Thiều là không gian lưu giữ những tháng năm tuổi thơ kì diệu, là nơi tìm về bình yên sau bao mệt mỏi tha hương, là chốn linh thanh tẩy, tái sinh những giá trị tốt đẹp của đời sống Đặc biệt, cảm hứng về làng Chùa trong thơ Nguyễn Quang Thiều bao giờ cũng có sự gắn kết, đan bện giữa thiên nhiên và con người Nhà thơ đồng nhất dòng sông Đáy với cuộc đời tảo tần sớm hôm của mẹ:

Sông Đáy chảy vào đời tôi Như mẹ tôi gánh nặng rẽ vào ngõ sau mỗi chiều đi làm về vất vả Tôi dụi mặt vào lưng áo người đẫm mồ hôi mát một mảnh sông đêm

(Sông Đáy)

Mẹ và dòng sông quê hương song hành cùng nhau, chuyển hóa vào nhau, trở thành biểu tượng của những giá trị tinh thần cao đẹp Những giá trị ấy gắn với một thiên đường tuổi thơ không thể nào trở lại bởi dòng thời gian vô thủy vô chung:

Sông Đáy ơi, sông Đáy ơi chiều nay tôi trở lại

Mẹ tôi đã già như cát bên bờ

Ôi mùi cát khô, mùi tóc mẹ tôi Tôi quỳ xuống vốc cát ấp vào mặt Tôi khóc.

Cát từ mặt tôi chảy xuống dòng dòng

(Sông Đáy)

Mẹ như dòng sông Đáy với rất nhiều những biến thể của nó Nhìn rộng ra, mẹ là thiên nhiên,

mẹ là quê hương Từ phương diện sinh thái nữ quyền, Sự mất ngủ của lửa góp một tiếng nói về

thiên tính nữ trong mối quan hệ mang tính nhị nguyên mà khuynh hướng phê bình này tuyên chiến: quan hệ nam – nữ Trong kí ức của con, cha gắn liền với nguyên tắc, với kỉ luật cứng rắn: “Chiếc

Trang 5

roi cha ta quất nát sợi khói mềm” Với mẹ, cha là căn nguyên của nỗi buồn đau: “Cha đã mang tuổi hai mươi lên đò không ngoảnh lại/ Mẹ con đứng vùi chân trong cát/ Nước mắt buồn bay ướt một triền sông” Và mẹ, như thiên tính nữ ngàn đời nay vẫn thế, đợi chờ, hy sinh, bao bọc, chở che Trước mẹ, với mẹ, người con lúc nào cũng như đứa trẻ Lạc mẹ là bơ vơ, òa khóc “Ta đi qua tháng Mười, ta đi qua tiếng gọi buổi chiều của mẹ/ Mây trời vun lên những đống rơm khô/ Dấu chân ta xóa dấu chân chú bê vàng lạc mẹ và dấu chân chú bê vàng xóa dấu chân ta/ Khi bóng đêm vụt ra đứng chặn trước mặt ta, ta vội quay lại tìm dấu chân mình/ Òa khóc./ Ta tin có một mụ phù thủy

đã biến ta thành một chú bê” Câu thơ như một tiên cảm tháng Mười của Mẹ

Thiên nhiên và phụ nữ được các nhà sinh thái nữ quyền đánh giá là bản nguyên tồn tại, phát

triển của thế giới Trong Sự mất ngủ của lửa, hai hình tượng này đi vào vị trí trung tâm giăng níu

lẫn nhau Cô gái đắm trong men say tình yêu được mô tả bằng những nét khoáng đạt của trời đất:

“Đêm đã trải tấm khăn của tình yêu xuống rồi/ Hơi thở em cỏ đã ướp đầy hương/ Bầu vú em gió núi thổi mát rượi” Nguyễn Quang Thiều không viết nhiều thơ về tình yêu Và tình yêu trong thơ Nguyễn Quang Thiều thường khắc khoải hoài tiếc Nhưng kí ức tình yêu bao giờ cũng được hình

dung trong sự đan bện với tự nhiên Có thể kể ra ở Sự mất ngủ của lửa nhiều câu thơ như thế:

Sông Đáy ơi! chiều nay tôi trở lại Những cánh buồm cổ tích đã bay xa về một niềm tức tưởi

Em đã mang đôi môi màu dâu chín sang đò một ngày sông vắng nước

(Sông Đáy)

Em quẫy trong tay ta như một con cá Rồi bỏ ta chạy vào lối ngõ không trăng Như cá thoát câu chạy rúc xuống bùn”

(Mười một khúc cảm, VII)

Em nằm nghiêng trong đêm Như con thuyền cô đơn nép mình bên bến cát”

(Con thuyền)

Vẻ đẹp, tính cách, số phận tất cả không được miêu tả trực tiếp, nhưng tất cả được lộ hiện qua góc nhìn biểu trưng: người phụ nữ gắn với cỏ cây, sông nước chốn quê Thiên nhiên trở thành một thứ ngôn từ kiến tạo thơ

Trở về với trí tuệ sinh thái phương Đông, nhà thơ thiết lập thế bình quyền trong tương quan giữa “tôi” và “cái khác”, giữa “người” và “vật” Không gian cố hương trong thơ Nguyễn Quang Thiều là ấm áp tuổi thơ, là đắng đót ra đi, là đau đáu tìm về Ở đó, tất cả không ngừng dịch chuyển theo vòng luân hồi sự sống, tất cả đều mang chứa linh hồn: linh hồn những chiếc tiểu sành, linh hồn lò gốm, linh hồn con chó nhỏ - linh hồn người, linh hồn vật, linh hồn cố hương Cố hương trở thành huyền thoại, vừa cá thể, vừa phổ quát trong ánh sáng của tình yêu và của đức tin:

Tôi hát, tôi hát bài ca về cố hương tôi Trong những chiếc tiểu sành đang xếp bên lò gốm Một mai đây tôi sẽ nằm trong đó

Kiếp này tôi là người Kiếp sau phải là vật Tôi xin ở kiếp sau làm một con chó nhỏ

Để canh giữ nỗi buồn – báu vật cố hương tôi.”

(Bài hát về cố hương)

Trang 6

3 Kết luận

Trong Lời mở sách Sự mất ngủ của lửa dịp tái bản lần thứ nhất, Nguyễn Quang Thiều chia sẻ: “Khi Ngôi nhà 17 tuổi ra đời, tôi càng nhìn thấy rõ hơn gương mặt mình và nghe rõ hơn giọng nói mình ở bên ngoài tập thơ này Và tôi đã viết tập Sự mất ngủ của lửa trong vòng một năm sau

đó [ ] tôi tin vào con đường của tôi và không bao giờ chối từ gương mặt của chính tôi, từ chối

giọng nói của chính tôi” [4;tr.6] Tín niệm ấy giúp nhà thơ kiên định một lựa chọn nghệ thuật Sự

mất ngủ của lửatrở thành cột mốc quan trọng trên lộ trình cách tân thơ Việt Những cấu trúc văn bản mới, những biểu tượng mới, những thi ảnh mới đã làm cho thơ Nguyễn Quang Thiều bước

ra ngoài dàn đồng ca đơn độc đi về chiều hiện đại Nhưng bóc tách lớp vỏ hiện đại, Sự mất ngủ

của lửalại bám rễ rất sâu vào truyền thống Nếu mĩ cảm hiện đại khiến thơ Nguyễn Quang Thiều

ít có được tiếng nói đồng vọng trong không gian thơ đương đại thì ngược lại, tâm thức hoài hương

trong Sự mất ngủ của lửa lại làm cho “giọng nói đặc thổ âm” Nguyễn Quang Thiều có khả năng chạm vào căn tính mỗi kiếp người trong cõi nhân sinh Một phần tư thế kỉ đã trôi đi sau ngày Sự

mất ngủ của lửađược ấn hành lần đầu tiên năm 1992 Thời gian trả lời những gì “có khả năng đi cùng nó”

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Nguyễn Đăng Điệp, 2012 “Đổi mới thơ Việt Nam đương đại nhìn từ trường hợp Nguyễn Quang

Thiều ”, trong Thơ Việt Nam hiện đại và Nguyễn Quang Thiều Nxb Hội Nhà văn, tr.9-34.

[2] Phan Hoàng, Nguyễn Quang Thiều mãi là ẩn số, nguồn http://nhavantphcm.com.vn/chan-dung-phong-van/nguyen-quang-thieu-mai-la-an-so.html

[3] Mai Văn Phấn, 2012 “Hiện tượng thơ Nguyễn Quang Thiều và lộ trình cách tân”, trong Thơ

Việt Nam hiện đại và Nguyễn Quang Thiều Nxb Hội Nhà văn, tr.269-285

[4] Nguyễn Quang Thiều, 2015 “Lời mở sách”, trong Sự mất ngủ của lửa Nxb Hội Nhà văn,

tr.5-8

[5] Nguyễn Mạnh Tiến, 2012 “Nguyễn Quang Thiều, lửa thức (Những mơ mộng nghệ thuật giữa

lòng Sự mất ngủ của lửa) ”, trong Thơ Việt Nam hiện đại và Nguyễn Quang Thiều Nxb Hội Nhà

văn, tr.37-50

[6] Đỗ Minh Tuấn, 1996 “Trốn lo âu về lại cánh đồng”, trong Ngày văn học lên ngôi Nxb Văn

học, tr.325-332

ABSTRACT

The Insomnia of Fire: Nostalgic Sense in Ecological Poems by Nguyen Quang Thieu

Dang Thi Bich Hong Faculty of Social Sciences and Humanities, Hung Vuong University

Published in the 1990s, the collection of poems, entitled The Inssomnia of Fire is considered

a milestone in renovation of modern Vietnamese poetry From perspectives of ecocriticism, the collection points to desires of “escaping from the anxiety, returning to the green field” On the exiles with impacts of urban lives, native land becomes place for returning and resting Spaces of intimate and magnificent Day River as well as of pure and warm rice field inspire poetic thoughts

In these spaces, nature is associated with human beings, particularly, with mothers and countryside women Therefore, space of native land is associated with not only childhood memory but also good connections between human and non-human worlds

Keywords: Nguyen Quang Thieu, The Insomnia of Fire, Day River, native land.

Ngày đăng: 12/05/2021, 19:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w