Phần 2 Tài liệu Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (1960-1977) trình bày các vấn đề sau: MTGP với cuộc kháng chiến của nhân dân ở miền Nam; hoạt động đối ngoại của MTGP. Bằng những tư liệu đã được công bố chính thức trong 50 năm qua, bằng lối tiếp cận theo phương pháp lịch sử và phương pháp logic, chuyên khảo mong muốn cung cấp cho các nhà nghiên cứu và đông đảo người đọc một bức tranh toàn cảnh về MTGP với những đường nét và gam màu cơ bản của tổ chức chính trị này đối với sự nghiệp kháng chiến giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Trang 1Tổ chức Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ngoài Ủy
ban Trung ương có hệ thống Ủy ban Mặt trận ở các ựịa phương Ủy ban Mặt trận ựịa phương ựược tổ chức ở 4 cấp: cấp khu, cấp tỉnh, cấp huyện,
cấp xã Dưới sự lãnh ựạo của đảng bộ ựịa phương, các tổ chức ựoàn thể quần chúng cách mạng ựã tập hợp quần chúng các giới các ngành tổ chức hình thành Ủy ban Mặt trận lâm thời, tiến tới đại hội bầu Ủy ban Mặt trận chắnh thức các cấp ở ựịa phương
đến tháng 10/1962, hầu hết các tỉnh thành ựều có Ủy ban Mặt trận Trong số 41 tỉnh thành từ vĩ tuyến 17 ựến mũi Cà Mau thì có 38 tỉnh thành
có Ủy ban Mặt trận ra mắt nhân dân Tất cả các xã thuộc vùng giải phóng và vùng phá thế kềm kẹp của ựịch ựều có cơ sở Mặt trận, có ủy ban Mặt trận làm nhiệm vụ ựoàn kết toàn dân, tổ chức chắnh trị, quân trị, quân sự, văn hóa
và cả kinh tế Xét toàn bộ cơ sở và hệ thống, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam giống như cây ựại thụ, gốc rễ bám sâu vào lòng ựất Cuối năm 1962, vùng giải phóng mở rộng ựến 76% diện tắch và 50% dân số toàn miền Nam Số hội viên tham gia vào các Hội giải phóng phát triển nhanh chóng Nếu năm 1961, toàn miền Nam mới có gần 40 vạn hội viên thì con số này năm 1962 ựã tăng lên hàng triệu người Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ựã trở thành tâm ựiểm thu hút những tâm nguyện của ựông ựảo các tầng lớp về nguyện vọng hòa bình, giải phóng miền Nam
Ở tỉnh Thủ Dầu Một, cuối tháng 12-1960, tỉnh tổ chức mừng Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra ựời và thành lập Ủy ban Mặt trận Giải phóng lâm thời của tỉnh, làm cơ sở cho việc hình thành hệ thống Ủy ban Mặt trận Dân tộc giải phóng các cấp ựịa phương trong tỉnh lần lượt ra mắt ựồng bào
đến ngày 27-2-1965, tại vùng Hố đá, ấp Bà Tứ, xã Long Nguyên, huyện Bến Cát, đại hội lần thứ nhất Mặt trận Dân tộc giải phóng tỉnh Thủ Dầu Một, với 110 ựại biểu chắnh thức, ựã tưng bừng và long trọng khai mạc Trong 3 ngày làm việc, ựại hội ựã thảo luận, ựánh giá phong trào cách mạng của nhân dân trong tỉnh, nhận ựịnh tình hình và ựề ra phương hướng, nhiệm
vụ mới, nhất trắ ựưa ra những biện pháp cụ thể nhằm ựộng viên toàn thể nhân dân trong tỉnh ựẩy mạnh cuộc kháng chiến cứu nước, quyết tâm nỗ lực giành thắng lợi to lớn đại hội ựã cử ra 23 ủy viên khóa I gồm ựông ựủ ựại
Trang 239
diện các thành phần xã hội trong tỉnh Ngoài ựại diện đảng bộ đảng Nhân dân cách mạng tỉnh và các ựoàn thể: Công ựoàn, Nông hội, Thanh niên, Phụ
nữ, ựại diện quân giải phóng còn có các vị ựại biểu tiêu biểu khác tham gia
Ủy ban Mặt trận giải phóng tỉnh, như Hòa thượng Thắch Thiện Tràng, nữ tu Trương Thị Xuân, ựạo hữu Cao ựài Lê Văn Thanh, nhân sĩ yêu nước Nguyễn Vân Phi, bác sĩ Nguyễn Phú Cường, tư chức Nguyễn Minh Tâm, tiểu thương Nguyễn Thị Mười, ựại biểu những người công giáo di cư Tạ Thị Yên Ông Huỳnh Văn Cường (tức Sáu Thanh), một nhà giáo yêu nước ựược cử làm Chủ tịch Mặt trận Dân tộc giải phóng tỉnh Thủ Dầu Một khóa I
Ở Bến Tre, ựêm 28-12-1960 hơn 10.000 ựồng bào các ựịa phương tỉnh Bến Tre tổ chức mắt tinh tại sân vận ựộng Mỹ Chánh Hòa gần chợ Bến Bàu
xã Châu Bình huyện Ba Tri, mừng Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra ựời
Tại buổi lễ này, tỉnh tuyên bố ra mắt Ủy ban Mặt trận dân tộc Giải phóng tỉnh Bến Tre gồm 13 nhân vật tiêu biểu ựại diện cho các giới trong tỉnh, do ông Hồ Văn Ngôi, ựại diện cho tư sản dân tộc, làm Chủ tịch; ông đặng Bá Tiên (Sáu Giáo) ựại diện ựồng bào Công giáo di cư làm Tổng Thư
ký Các ủy viên là: Bà Nguyễn Thị định (ựại diện đảng Nhân dân cách mạng miền Nam VN), Nguyễn văn Cứng (Chỉ huy trưởng QGPMN), Giáo
sư Lê Quang Quới (ựại diện trắ thức), Ngọc ựầu sư Nguyễn Ngọc Ngợi (ựại diện Giáo hội Trung ương ựạo Cao đài Tiên Thiên), Phối sư Nguyễn Văn Bình (ựại diện Trung ương giáo hội Cao đài Ban chỉnh ựạo), Nguyễn Chắnh Sách (ựại diện ựạo Thiên chúa), Hòa thượng Thắch Thiện Hào (ựại diện Phát giáo), Phêrô Nguyễn Văn Chống (ựại diện binh sĩ yêu nước), ông Ba Lễ (ựại diện nông dân), Phạm Thị Qươi (ựại diện Phụ nữ), Hồ Hữu Nghĩa (ựại diện thành niên học sinh)1
Ở Tây Nguyên, ngày 21-01-1961, đại hội ựại biểu nhân dân B6 tổ chức tại khu rừng Dak Mâm ựể thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng đại hội ựã bầu ra Ủy ban Mặt trận dân tộc giải phóng B6 gồm 34 thành viên, do
Cụ Y Bih Alêô làm Chủ tịch
Tháng 01-1961, đại hội ựại biểu nhân dân B5 tổ chức tại vùng căn cứ V2 (Huyện Lăk) ựể thành lập Mặt trận Dân tộc tự trị (sau ựổi tên thành Mặt trận Dân tộc Giải phóng) đại hội ựã bầu Ban Chấp hành gồm 25 thành viên,
do ông Ama Min (tức Ama Krô) làm Chủ tịch
Tháng 02-1961, đại hội đại biểu nhân dân B3 tổ chức tại suối Ea M'kan (Huyện Ea HỖLeo) ựể thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng đại hội
ựã bầu ra Ban Chấp hành Mặt trận Dân tộc Giải phóng B3 do ông Rơ Chăm
1 Theo Huyền thoại quê hương đồng khởi Nxb QđND H.2008 trang 492-496
Trang 340
Thép (Ama Kuăng) người dân tộc Jrai, Phĩ Bí thư Ban cán sự tỉnh làm Chủ tịch
Tháng 2-1961 ðại hội đồn kết dân tộc Huyện Kiến ðức (Dak R'Lấp)
tổ chức tại buơn Bu Gân quyết định thành lập Mặt trận Nơ Trang Lơng, bầu
ra Ban Chấp hành của Mặt trận do Ơng Bơ ðơm Bơ Ri làm Chủ tịch
Ngày 15-3-1961, ðại hội thành lập Mặt trận Dân tộc giải phĩng huyện Khiêm ðức tổ chức tại Buơn Né ốt ðại hội bầu ra Ủy ban Mặt trận dân tộc giải phĩng huyện Khiêm ðức gồm 17 thành viên do ơng Bặp Măng làm Chủ tịch
Ngày 04 tháng 05 năm 1961, tại khu rừng Kon Hà Nừng thuộc vùng giải phĩng tỉnh Gia Lai, hơn 600 đại biểu các dân tộc thiểu số Tây Nguyên
và miền núi các tỉnh khu V từ Quảng Trị đến Phan Thiết đã dự ðại hội thành lập Phong trào dân tộc tự trị Tây Nguyên Sau 7 ngày làm việc, ðại hội đã thơng qua Cương lĩnh hoạt động và Lời kêu gọi gửi nhân dân các dân tộc trong tồn khu ðại hội đã bầu ơng Y Bih Alêŏ, người dân tộc Ê đê của ðăk Lăk làm Chủ tịch
Ở ðak Lak đầu năm 1961, các vùng, các huyện trong tỉnh lần lượt tổ chức mít tinh nhân dân để mừng thành lập Mặt trận Dân tộc giải phĩng Trong những năm 1961- 1965, Ủy ban Mặt trận các cấp được thành lập rộng khắp trong cả tỉnh
Tháng 12 năm 1965, tỉnh tổ chức hội nghị hợp nhất Mặt trận Dân tộc Giải phĩng B3, B5, B6 thành Mặt trận Dân tộc Giải phĩng tỉnh ðăk Lăk Hội nghị đã bầu ơng Siu Pui (Ama Thương), làm Chủ tịch Hội nghị này được Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phĩng miền Nam Việt Nam chấp nhận như ðại hội Mặt trận Dân tộc Giải phĩng tỉnh ðăk Lăk lần thứ II (nhiệm kỳ 1965-1969)1
Hệ thống Ủy ban Mặt trận các cấp các địa phương từ khu V, Tây Nguyên, Nam bộ từ đĩ vừa là nơi tập hợp đồn kết các giới, các dân tộc, tơn giáo, các thành phần chính trị ở địa phương, vừa thay nhiệm vụ của chính quyền cách mạng xử lý những cơng việc của các đơn vị hành chính kháng chiến Ủy ban Mặt trận các cấp các địa phương đã giương cao ngọn cờ đồn kết, hồ hợp dân tộc để tập hợp đồn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân; đặc biệt đi sâu tuyên truyền, giáo dục, vận động tầng lớp trên, lơi kéo họ đứng vào mặt trận nhân dân chống Mỹ, cứu nước MTDTGP đã xây dựng cơ sở cốt cán trong tầng lớp trên, trong hàng ngũ trí thức, cơng chức, nhân sĩ, già làng; nắm lực lượng binh lính, dân vệ ở các dinh điền, buơn ấp; động viên sức mạnh của quần chúng nhân dân xây dựng vùng căn cứ kháng chiến, xây dựng những căn cứ “lõm” trong vùng địch làm chỗ dựa cho lực lượng cách
1 Một số sự kiện chính lịch sử MTDTTNVN tỉnh ðắc Lắk
Trang 4“Chiến tranh ñặc biệt”, mục tiêu ñến hết năm 1962 tập trung ñược 10 triệu dân ở nông thôn vào 1.600 - 1.700 ấp chiến lược trên toàn miền Nam
Thực hiện chiến lược này, cuối năm 1961 kế hoạch Staley – Taylor ñược triển khai nhằm bình ñịnh miền Nam trong vòng 18 tháng Ngày 8-2-
1962, Mỹ thành lập tại Sài Gòn "Bộ chỉ huy quân sự ñặc biệt” (MACV) do ñại tướng Paul Harkins cầm ñầu Chiến tranh của Mỹ - Diệm ở miền Nam trở nên khốc liệt với hàng chục nghìn cuộc hành quân càn quét, bom ñạn ñánh phá ác liệt, rải chất ñộc hóa học, chà ñi xát lại từng khu vực ñể lùa dân váo ấp chiến lược Chúng huy ñộng máy bay trực thăng, xe cơ giới, thiết giáp ñể lùa dân ñến những nơi lập ấp chiến lược
Trước tình hình ñó, ñể ñối phó với chiến lược chiến tranh mới của kẻ thù, tháng 1/1961, Tổng Quân ủy Trung ương ra chỉ thị thành lập Quân giải phóng miền Nam - lực lượng vũ trang chính quy của miền Nam Chỉ thị chỉ rõ: “Quân giải phóng miền Nam là một bộ phận của quân ñội nhân dân Việt Nam, do ðảng sáng lập và xây dựng, giáo dục và lãnh ñaọ… Mục tiêu chiến ñấu của nó là kiên quyết thực hiện cương lĩnh, ñường lối của ðảng, giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của ñế quốc và phong kiến, thực hiện ñộc lập dân tộc, người cày có ruộng, tiến lên xã hội chủ nghĩa…”
Trang 542
Ngày 15/12/1961, các lực lượng vũ trang nhân dân miền Nam thống nhất thành ỘGiải phóng quân miền Nam Việt NamỢ Giải phóng quân miền Nam Việt Nam tuyên bố tán thành mục ựắch và chương trình của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, ựược Ủy ban Trung ương lâm thời của Mặt trận công nhận là thành viên của Mặt trận và ựược trao quân kỳ có
hàng chữ ỘGiải phóng quân anh dũng, chiến thắngỢ Bộ tư lệnh các lực
lượng vũ trang giải phóng miền Nam cũng ựược thành lập Ban quân sự Miền là cơ quan giúp Trung ương Cục chỉ ựạo, chỉ huy các lực lượng vũ trang giải phóng ở chiến trường Nam bộ và cực Nam Trung bộ Hệ thống chỉ huy quân sự ựược xây dựng từ Miền ựến tỉnh Ờ huyện Ờ xã Các quân khu cũng ựược thành lập
Tắnh ựến cuối năm 1961, bộ ựội ựịa phương tỉnh, huyện và bộ ựội chủ lực khu có 24.500 người; du kắch, tự vệ có 100.000 người (70.000 người ở Nam bộ, 30.000 người ở khu V) Bộ ựội chủ lực thuộc các quân khu có 11 tiểu ựoàn Tại các thôn, ấp giải phóng, ựược các tổ chức cách mạng giác ngộ
và ựộng viên, hàng nghìn thanh niên ựã tình nguyện tham gia vào lực lượng Quân giải phóng Năm 1963, Quân Giải phóng ựã tuyển ựược 26.000 thanh niên, bên cạnh ựó miền Bắc chi viện 8.719 quân, nâng tổng số quân toàn miền Nam lên 133.650 cán bộ, chiến sĩ đến năm 1964, các ựịa phương toàn miền Nam ựã ựộng viên ựược 25.960 thanh niên vào lực lượng Quân giải phóng, miền Bắc chi viện 17.475 cán bộ, chiến sĩ đến cuối năm 1964, lực lượng Giải phóng quân lên tới 294.000 người
Thực hiện kế hoạch quân sự 5 năm (1961 ựến 1965) của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, nhiều xã giải phóng thành lập ựược trung ựội du kắch tập trung, mỗi huyện, tỉnh giải phóng ựều thành lập 1 ựến 2 ựại ựội bộ ựội ựịa phương Chiến trường miền Nam ựược chia thành các quân khu: Quân khu 5 (Trị - Thiên Ờ Nam Trung bộ), Quân khu 6 (cực Nam Trung bộ), Quân khu 7 (miền đông Nam bộ), Quân khu 8 (miền Trung Nam bộ), Quân khu 9 (miền Tây Nam bộ), Quân khu Sài Gòn Ờ Gia định Từ năm
1961 - 1965, Quân giải phóng vừa chiến ựấu vừa xây dựng ựã trưởng thành
và lớn mạnh vượt bậc, giành nhiều thắng lợi trong các hoạt ựộng quân sự
Trong năm 1961, quân và dân miền Nam ựã tiến hành ựấu tranh vũ trang kết hợp với ựấu tranh chắnh trị rộng khắp trên cả 3 vùng chiến lược, ựã ựánh 15.525 trận lớn nhỏ, loại khỏi vòng chiến ựấu 28.968 tên ựịch (có 41 tên Mỹ, bắt 3.259 tên, thu 6.000 súng các loại Cùng với các cuộc tấn công quân sự, có 33,8 triệu lượt người ựã xuống ựường ựấu tranh chắnh trị trực diện với ựịch Cuộc ựấu tranh chắnh trị và binh vận của nhân dân ựã làm cho 14.500 binh sĩ ựào ngũ và rã ngũ Vùng giải phóng ựược củng cố và giữ vững, hàng ngàn thanh niên tham gia Quân giải phóng
Trang 6ðầu năm 1963, quân và dân miền Nam ñã làm nên chiến thắng Ấp Bắc oanh liệt Rạng sáng ngày 2/1/1963, quân ñội Sài Gòn ñã tiến hành tấn công vào Ấp Bắc Trận ñánh kéo dài từ 6 giờ sáng cho ñến gần tối, quân ñội Sài Gòn ñã cho máy bay trút hàng chục tấn bom ñạn, bắn hơn 1.000 quả ñại bác vào Ấp Bắc Nhưng lực lượng quân giải phóng và người dân ñịa phương
ñã bẻ gãy 5 ñợt tiến công, gây ra những thiệt hại nặng nề cho quân ñội Mỹ
và Sài Gòn Ngoài việc chiến ñấu trực diện, Quân giải phóng còn kết hợp với lực lượng ñấu tranh vũ trang, ngay trong ñêm 2/1, quân giải phóng rút khỏi
Ấp Bắc an toàn, còn người dân Ấp Bắc cùng một số xã lân cận kéo lên quận Cai Lậy ñấu tranh chính trị, phản ñối việc ném bom, bắn phá xóm làng, yêu cầu chính quyền ñịa phương phải ngăn chặn các cuộc khủng bố Sau khi trận
Ấp Bắc kết thúc, quân dân Ấp Bắc ñã loại khỏi vòng chiến ñấu 450 binh lính, trong ñó có 3 cố vấn Mỹ bị chết và 4 người khác bị thương; bắn rơi 8 máy bay trục thăng; 3 xe lội nước M113 bị cháy, 1 tàu chiến bị ñánh chìm và thu một số vũ khí Về phía Quân giải phóng có 12 người hy sinh
Thắng lợi Ấp Bắc ñã gây tiếng vang lớn trên toàn miền Nam, ñánh dấu sự phát triển về chất của phong trào ñấu tranh của quân dân miền Nam Với thắng lợi Ấp Bắc ñầu năm 1963, quân ta ñã tìm ra ñược phương thức tác chiến phù hợp ñể ñối phó có hiệu quả với “trực thăng vận”, “thiết xa vận” của ñịch Sau chiến thắng này, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ñã phát ñộng “Thi ñua ấp Bắc, diệt giặc lập công”, kiên quyết tiến công tiêu diệt ñịch, làm phá sản chiến thuật “trực thăng vận” và “thiết xa vận” của chúng
Cùng với quân sự, phong trào phá ấp chiến lược là những cuộc ñấu tranh chính trị rộng lớn, mãnh liệt, thu hút mọi tầng lớp nhân dân tham gia Trong năm 1963, toàn miền Nam có 34 triệu lượt người tham gia ñấu tranh chính trị Nhân dân ñã phá hoàn toàn 2.895 “ấp chiến lược” trong số 6.164
ấp do ñịch lập ra, số còn lại ñã bị phá ñi phá lại 5.950 lần ấp Nhân dân cũng
ñã phá ñược thế kìm kẹp, giành quyền làm chủ ở 12.000 thôn trong tổng số 17.000 thôn toàn miền Nam, giải phóng hơn 5 triệu dân trong tổng số 14 triệu dân toàn miền Nam Hơn 1,5 triệu ha trên tổng số 3,5 triệu ha ruộng ñất
ñã về tay nông dân; hơn 23.000 thanh niên ñã tòng quân Hàng nghìn “ấp chiến lược” ñã biến thành ấp chiến ñấu
Trang 744
Do tác ựộng của ựấu tranh vũ trang và phong trào phá Ộấp chiến lượcỢ
ở các vùng nông thôn, phong trào ựấu tranh chắnh trị của công nhân, nhân dân lao ựộng, học sinh, sinh viên, tắn ựồ Phật giáo ở ựô thị phát triển rộng khắp Nổi bật trong phong trào ựô thị thời gian này là cuộc ựấu tranh của tắn
ựồ Phật giáo đỉnh cao của phong trào ựấu tranh chắnh trị ở các ựô thị miền Nam là cuộc xuống ựường ựấu tranh của 70 vạn nhân dân Sài Gòn ngày 16-6-1963, cuộc tổng bãi khoá của học sinh, sinh viên Sài Gòn tháng 8-1963
Tháng 11/1963, Mỹ ựã chỉ ựạo cho lực lượng quân nhân trong chế ựộ Sài Gòn làm ựảo chắnh, lật ựổ Ngô đình Diệm, ựưa Dương Văn Minh rồi Nguyễn Khánh lên thay Tuy nhiên, các lực lượng này tiếp tục ựấu ựá nhau
và không chống ựỡ nổi cuộc tiến công nổi dậy ngày càng mạnh mẽ của quân
và dân miền Nam Tháng 3/1964, Mỹ ựưa ra kế hoạch Johnson-Mc Namara, nhằm bình ựịnh miền Nam trong vòng hai năm (1964-1965) Chúng lập ra
Bộ chỉ huy liên hợp Việt - Mỹ Cùng một lúc, chúng tăng thêm 6.000 cố vấn
và lắnh chiến ựấu Mỹ, ựưa số quân Mỹ ở miền Nam lên trên hai vạn rưỡi tên vào cuối năm 1964 Các cuộc càn quét ựể ựể lập ấp chiến lược, tiêu diệt lực lượng vũ trang giải phóng, phá căn cứ kho tàng ựược chắnh quyền Sài Gòn với cố vấn Mỹ chỉ huy ựược tổ chức liên tiếp, ựi ựôi với việc dùng chất ựộc hóa học ựánh phá ác liệt vùng giải phóng nhằm tạo ra các vành ựai trắng, ựẩy mạnh chiến dịch chiêu hồi
Âm mưu mới của Mỹ ựã vấp phải sức phản kháng vô cùng mãnh liệt của các tầng lớp nhân dân cả nước, trực tiếp là nhân dân miền Nam Phong trào chống Mỹ-Khánh từ Huế, Sài Gòn lan ra các thành phố và thị xã toàn miền Nam Ngày 20-8-1964, 20 vạn ựồng bào Sài Gòn bao vây ỘDinh độc lậpỢ, ựòi Nguyễn Khánh từ chức Ngày 24-8-1964, 3 vạn ựồng bào thành phố
đà Nẵng tuần hành kết hợp với bãi chợ, bãi khoá Ngày 20-9-1964, hơn 10 vạn công nhân Sài Gòn-Gia định bãi công và tuần hành phản ựối chế ựộ ựộc tài quân sự Mỹ-Khánh, v.v
Phong trào ựấu tranh sôi sục của nhân dân miền Nam ựã ựẩy nhanh cuộc khủng hoảng trong chắnh quyền Sài Gòn Chỉ trong vòng 1 năm rưỡi, từ tháng 11-1963 ựến tháng 6-1965, ựã xảy ra 14 cuộc ựảo chắnh và phản ựảo chắnh giữa bọn tay sai Mỹ Nhân dân Sài Gòn và nhiều thành phố khác ựã tạo ựiều kiện cho các lực lượng vũ trang giải phóng tổ chức nhiều trận ựánh rất táo bạo, có hiệu suất cao, nhằm thẳng vào các trung tâm chỉ huy Mỹ và các lực lượng kỹ thuật của chúng ở tại sào huyệt của ựịch
Từ ngày 1 ựến ngày 8-11-1964, tại vùng giải phóng Tây Ninh, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tổ chức đại hội lần thứ II, nhằm ựộng viên nhân dân miền Nam dốc toàn lực, thực hiện ựến cùng cuộc kháng chiến toàn diện và trường kỳ chống Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai bán nước, tiến lên giành thắng lợi to lớn hơn nữa trong thời gian trước mắt đại
Trang 845
hội kêu gọi mọi người Việt Nam không phân biệt dân tộc, tôn giáo, ựảng phái, giai cấp, tầng lớp xã hội, trong và ngoài nước ựoàn kết chặt chẽ dưới lá
cờ cứu nước của Chủ tịch Hồ Chắ Minh, kiên cường chiến ựấu vì ựộc lập, tự
do của cả nước đại hội ựã nhất trắ bầu lại Luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam
Cuối năm 1964, Bộ Chắnh trị giao cho Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng chuẩn bị kế hoạch chiến lược, tranh thủ thời cơ ựánh bại quân ngụy trước khi Mỹ tăng cường lực lượng ồ ạt vào miến Nam Việt Nam Cuối tháng 11/1964, Bộ chỉ huy Miền quyết ựịnh mở chiến dịch tiến công trên ựịa bàn 4 tỉnh Bà Rịa, Long Khánh, Biên Hòa, Bình Thuận Mục ựắch chiến dịch
là diệt một bộ phận sinh lực ựịch, phá kế hoạch bình ựịnh trọng ựiểm của ựịch, phá ấp chiến lược, hỗ trợ phong trào ựấu tranh chắnh trị của quần chúng, ựẩy mạnh chiến tranh du kắch, mở rộng vùng căn cứ, ựánh bại chỗ dựa cơ bản của Mỹ trong chiến lược ỘChiến tranh ựặc biệtỢ
Chiến dịch Bình Giã thắng lợi góp phần tạo bước ngoặc trong so sánh lực lượng và cục diện chiến trường có lợi cho chiến tranh cách mạng, nó chứng tỏ một khả năng lớn của lực lượng vũ trang Quân Giải phóng miền Nam và xu hướng thất bại của chiến tranh ựặc biệt, ựúng như nhận ựịnh của
Tổng Bắ thư Lê Duẩn: ỘẦựến trận Bình Giã, thì Mỹ thấy thua ta trong Chiến
tranh ựặc biệtỢ
Sau chiến thắng Bình Giã, Quân giải phóng tiếp tục tiêu diệt nhiều tiểu ựoàn quân chủ lực Sài Gòn trong các trận An Lão, đèo Nhông, Plâycu, đồng Xoài, Ba Gia Tắnh chung trong 6 tháng ựầu năm 1965, quân và dân miền Nam ựã loại khỏi vòng chiến ựấu 90 nghìn tên ựịch, trong ựó có 3 nghìn tên xâm lược Mỹ Chiến dịch Bình Giã cùng với Chiến dịch Ba Gia, Chiến dịch đồng Xoài góp phần ựánh bại chiến lược ỘChiến tranh ựặc biệtỢ của Mỹ, ựánh dấu bước trưởng thành về trình ựộ tổ chức, chuẩn bị tác chiến tập trung của lực lượng vũ trang nhân dân miền Nam
Thắng lợi của quân và dân miền Nam và thất bại của ựịch ựã làm thay ựổi so sánh lực lượng trên chiến trường theo hướng có lợi cho quân và dân miền Nam Lực lượng vũ trang giải phóng với ba thứ quân ựã lớn mạnh vượt bậc Vùng giải phóng ựã mở rộng, chiếm phần lớn lãnh thổ miền Nam, trở thành hậu phương trực tiếp và vững chắc của cách mạng miền Nam Trong khi ựó, về phắa ựịch, chỗ dựa chủ yếu của Ộchiến tranh ựặc biệtỘ là chắnh quyền và quân ựội tay sai, hệ thống Ộấp chiến lượcỢ ựều bị lung lay tận gốc, các tầng lớp trung gian ngày càng ngả về xu hướng chống Mỹ, ủng hộ chắnh sách hoà bình, trung lập của Mặt trận
Trước nguy cơ bị thất bại hoàn toàn của chế ựộ thực dân mới ở miền Nam, ựể cứu vãn tình thế, Mỹ ựã ồ ạt ựưa quân viễn chinh cùng với vũ khắ
Trang 946
và trang bị kỹ thuật hiện ựại vào Việt Nam, ựẩy mạnh chiến tranh xâm lược Việt Nam, chuyển nhanh sang chiến lược ỘChiến tranh cục bộỢ ở miền Nam
và mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc
đến cuối năm 1965, số quân Mỹ và quân chư hầu Mỹ ựưa vào miền Nam ựã lên tới hơn 20 vạn, gồm 18 vạn quân Mỹ và hơn 2 vạn quân chư hầu, chưa kể 7 vạn hải quân và không quân Mỹ từ các căn cứ trên biển hoặc
từ ựất Thái Lan và Philắppin Như vậy, Mỹ từ chỗ dựa vào lực lượng quân ựội Sài Gòn là chủ yếu, lúc này ựã phải dựa vào hai lực lượng chiến lược là quân ựội viễn chinh Mỹ và quân ựội Sài Gòn; chúng tiến hành các cuộc hành quân tìm diệt căn cứ và lực lượng Quân giải phóng miền Nam Việt Nam Mỹ thực hiện hai gọng kìm chiến lược Ộtìm diệtỢ và Ộbình ựịnhỢ, nhằm giành lại thế chủ ựộng trên chiến trường Mỹ liên tiếp tổ chức nhiều cuộc hành quân
Ộtìm diệtỢ trong các mùa khô 1965-1966, 1966-1967, tạo ựiều kiện cho lực lượng Ộbình ựịnh nông thônỢ chiếm lại vùng giải phóng
Hội nghị lần thứ 11 (3-1965), và Hội nghị lần thứ 12 (12-1965) của Ban Chấp hành Trung ương đảng ựã nghiên cứu một cách sâu sắc và toàn diện tình hình do âm mưu và hành ựộng chiến tranh mới của ựế quốc Mỹ gây
ra, ựã quyết ựịnh nhiều vấn ựề quan trọng về chủ trương chiến lược, phương châm và biện pháp cách mạng trong giai ựoạn mới, nêu cao quyết tâm ựộng viên lực lượng của toàn đảng, toàn quân, toàn dân: ỘKiên quyết ựánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của ựế quốc Mỹ trong bất kỳ tình huống nào, nhằm bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới hoà bình, thống nhất nước nhàỢ Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 12 của Trung ương, Quân ủy Trung ương ựã triển khai toàn diện các mặt công tác quân sự trên cả hai miền
và ựề ra 6 phương thức tác chiến cho các lực lượng vũ trang nhân dân miền Nam: 1- đẩy mạnh hoạt ựộng tác chiến của bộ ựội chủ lực tập trung trong những chiến dịch vừa và lớn, dưới hình thức tiến công hoặc chủ ựộng phản công ựịch; 2- đẩy mạnh chiến tranh du kắch ựến trình ựộ cao; 3- đánh phá các căn cứ hậu cần, kho tàng, sân bay, hải cảng, cơ quan ựầu não; 4- Triệt phá các ựường giao thông thuỷ bộ quan trọng, tạo thế bao vây, chia cắt ựịch; 5- đẩy mạnh hoạt ựộng ở các ựô thị; 6- Tác chiến kết hợp với binh biến; triển khai công tác binh vận, ngụy vận trên quy mô chiến lược Quán triệt Chỉ thị của Trung ương, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam
ựã tổ chức ựánh Mỹ ngay từ khi chúng vừa ựặt chân ựến Việt Nam
Ngày 16/5/1965, Quân giải phóng ựã tập kắch sân bay Biên Hòa, phá hủy 11 máy bay B57 và 4 máy bay phản lực, làm hư hại nặng 25 máy bay khác, 21 lắnh Mỹ bị chết, 64 bị thương đây là ựòn cảnh cáo ựầu tiên của quân dân miền Nam ựối với tập ựoàn hiếu chiến Mỹ
Trang 1047
Ngày 26/5/1965, lực lượng Quân giải phóng gồm ựại ựội 2 của tiểu ựoàn 70 thuộc tỉnh Quảng Nam cùng với một tổ ựặc công nhận nhiệm vụ tấn công một ựại ựội lắnh Mỹ ựóng quân trên hai mỏm ựồi 49 và 50 của Núi Thành, xung quanh có hai lớp kẽm gai bảo vệ Sau hơn một giờ chiến ựấu, các lực lượng giải phóng ựã hoàn toàn làm chủ trận ựịa, diệt ựại ựội lắnh thủy ựánh bộ Mỹ, loại khỏi vòng chiến ựấu 140 tên, thu toàn bộ vũ khắ, quân dụng Lá cờ Quyết chiến quyết thắng giặc Mỹ xâm lược do đảng bộ Quảng Nam trao cho đại ựội 2 trước giờ xuất kắch phấp phới bay trên Núi Thành Chiến thắng Núi Thành có ý nghĩa to lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam, là trận ựầu biểu thị ý chắ quyết tâm ựánh
Mỹ và thắng Mỹ của nhân dân Việt Nam Từ chiến thắng Núi Thành ựã xuất hiện khảu hiệu ỘTìm Mỹ mà ựánh, gặp Mỹ mà diệtỢ
Ngày 8/8/1965 lại mở ựầu trận Vạn Tường bẻ gãy là cuộc hành quân Ánh sáng sao (Starlight) của tướng Oetmolen, Tổng chỉ huy quân ựội Mỹ tại miền Nam Việt Nam Trong trận này, Trung ựoàn 1 Quân khu 5 phối hợp với đại ựội 21 bộ ựội ựịa phương và du kắch ở ựây chiến ựấu ngoan cường, mưu trắ, loại khỏi vòng chiến ựấu khoảng 900 lắnh Mỹ, diệt 22 xe tăng, xe bọc thép, bắn rơi 13 máy bay Trận Vạn Tường mở ựầu cao trào diệt quân xâm lược Mỹ Thắng lợi của trận Vạn Tường chứng tỏ quân và dân miền Nam hoàn toàn có khả năng thắng Mỹ về quân sự trong chiến tranh cục bộ, mặc
dù chúng chiếm ưu thế về số lượng, về hoả lực và sức cơ ựộng; nó mở ựường cho các ựơn vị chủ lực quân giải phóng tiếp tục phát triển thế tiến công tập trung ựánh những trận tiêu diệt từng ựơn vị quân cơ ựộng Mỹ
Ở Plâyme (Tây Nguyên), Quân Giải phóng buộc Sư ựoàn kỵ binh không vận 1 Mỹ phải tham chiến Bằng cách ựánh táo bạo, mưu trắ và dũng cảm, từ ngày 14 ựến ngày 18-11-1965, lực lượng vũ trang Tây Nguyên loại khỏi vòng chiến ựấu 1.700 tên Mỹ, 1.274 tên lắnh Sài Gòn, tiêu diệt và ựánh thiệt hại nặng 2 tiểu ựoàn kỵ binh không vận Mỹ, diệt gọn 1 chiến ựoàn xe
cơ giới, 1 tiểu ựoàn bộ binh Sài Gòn, phá 89 xe quân sự, 59 máy bay các loại (chủ yếu là máy bay lên thẳng) Sư ựoàn kỵ binh bay Ộniềm hy vọng lớn nhất của lục quân MỹỢ, với chiến thuật Ộnhảy cócỢ,Ộứng viện giải vâyỢ lần ựầu tiên bị ựánh bại trên chiến trường rừng núi Việt Nam
Bước vào mùa khô 1965 Ờ 1966, với lực lượng 72.000 quân, trong ựó
có 220.000 quân viễn chinh, Mỹ mở cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất Cuộc phản công ựược bắt ựầu từ tháng 1-1966, kéo dài trong 4 tháng với tất
cả 450 cuộc hành quân lớn nhỏ, trong ựó có 5 cuộc hành quân Ộtìm diệtỢ then chốt, nhằm vào hai hướng chiến lược chắnh là ựồng bằng Khu 5 và miền đông Nam Bộ, với mục tiêu là ựánh bại quân chủ lực giải phóng, thực hiện
Ộbẻ gãy xương sống Việt cộngỢ, giành lại thế chủ ựộng trên chiến trường, củng cố quân ựội Sài Gòn
Trang 1148
Quân và dân miền Nam với thế trận chiến tranh nhân dân, với nhiều phương thức tác chiến khác nhau ựã chặn ựánh ựịch trên mọi hướng, tiến công chúng khắp nơi Những trận thắng lớn ở Nhà đỏ Bông Trang (Thủ Dầu Một), ở Củ Chi (Sài Gòn), ở Bắc Sông Bé (Biên Hoà), thắng lợi của chiến dịch Bình Long, chiến thắng Cần đâm, Cần Lệ (Thủ Dầu Một), ở Bà Rịa, những trận thắng ựịch ở Tây Nguyên, Bồng Sơn (Bắc Bình định), ở Sơn Tịnh (Quảng Ngãi), ở Phú Yên cùng với những trận diệt Mỹ ngay tại các căn cứ của chúng và phong trào ựấu tranh chắnh trị quyết liệt ở nông thôn, ựô thị, phong trào chống phá Ộbình ựịnhỢ, ựã làm cho ựịch tổn thất lớn, buộc phải kết thúc sớm cuộc phản công Trong 4 tháng mùa khô 1965 - 1966, trên toàn miền Quân Giải phóng loại khỏi vòng chiến ựấu 104.000 tên, trong ựó
có 42.500 tên Mỹ, 3.500 quân các nước chư hầu, bắn rơi và phá huỷ 1.430 máy bay, phá huỷ 600 xe tăng và xe bọc thép, 1.310 xe ô tô, 80 khẩu pháo và
số quân tham chiến trong cuộc phản công lần này lên tới 1 triệu 20 vạn, trong ựó có 60 vạn quân Mỹ địch tập trung ựánh vào miền đông Nam Bộ, trọng ựiểm là Tây Ninh, nhằm mục tiêu Ộtìm diệtỢ cơ quan lãnh ựạo, chỉ huy Trung ương Cục, Bộ Chỉ huy Miền, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và các ựơn vị chủ lực Quân giải phóng Chúng ựã mở 895 cuộc hành quân lớn nhỏ, trong ựó có 3 cuộc hành quân then chốt
Ngày 14/9/1966, ựịch mở cuộc hành quân Attleboro với 3.000 lắnh Mỹ
và quân Sài Gòn, ựánh vào căn cứ Dương Minh Châu ựể tiêu diệt chủ lực, phá căn cứ, kho tàng của Mặt trận Dựa vào thế trận liên hoàn ựã ựược bố trắ sẵn, các lực lượng chủ lực, ựịa phương, dân quân du kắch và tự vệ cơ quan liên tục chặn ựánh, tiến công vào ựội hình ựịch, ựánh bại các mũi tiến quân, gây cho chúng nhiều thiệt hại và phương tiện chiến tranh Sau 72 ngày ựêm,
Mỹ và quân Sài Gòn không thực hiện ựược mục tiêu cuộc hành quân và ngày càng rơi vào thế bất lợi buộc phải kết thúc cuộc hành quân vào ngày 24/11/1966
Ngày 8/1/1967, quân Mỹ mở cuộc hành quân Cedar Falls, cuộc hành quân lớn cấp quân ựoàn thứ hai ựánh vào Tam giác sắt (Củ Chi, Bến Cát, Bến Súc), nhằm tiêu diệt quân chủ lực Quân Giải phóng, phá căn cứ du kắch, bình ựịnh vùng tam giác sắt, nới rộng vành ựai an ninh, chia cắt vùng giải phóng của hai tỉnh Gia định và Thủ Dầu Một ựể phòng thủ chắc chắn Bắc Sài Gòn được chuẩn bị khá tốt, bộ ựội chủ lực phối hợp với lực lượng vũ
Trang 1249
trang Sài Gòn Ờ Gia định, dựa vào hệ thống ựịa ựạo, công sự của các xã chiến ựấu, chủ ựộng chặn ựánh ựịch, liên tục tổ chức các cuộc tập kắch vào ựội hình ựịch, quân Mỹ và quân Sài Gòn ựối phó lúng túng với lực lượng vũ trang tại chỗ, lại bị bộ ựội chủ lực quân khu Sài Gòn Ờ Gia định ựánh vào bên sườn phắa sau tiêu hao nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh Ngày 26/1/1967, quân Mỹ phải chấm dứt cuộc hành quân
Ngày 22/2/1967, quân Mỹ tiến hành cuộc hành quân lớn thứ ba mang tên Junction City, cuộc hành quân lớn nhất của Mỹ ở miền Nam ựánh vào căn cứ Dương Minh Châu Mỹ huy ựộng 42.000 quân, 1.200 xe tăng xe bọc thép, hơn 250 khẩu pháo, 17 phi ựoàn máy bay mở cuộc hành quân ựánh vào căn cứ Dương Minh Châu đây là một căn cứ rộng khoảng 1.500 km2 thuộc tỉnh Tây Ninh, nơi tập trung nhiều cơ quan trọng yếu như Trung ương Cục,
Cơ quan Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Quân ủy Miền, đài phát thanh Giải phóng, trường học, bệnh viện, kho tàngẦ Dựa vào thế trân ựã ựược xây dựng trước, lực lượng vũ trang trong căn cứ bám trận ựịa, chủ ựộng tiến công ựánh ựịch rộng khắp bằng nhiều hình thức gây cho quân Mỹ và quân Sài Gòn bị tổn thất ngày từ ngày ựầu Lực lượng chủ lực Quân giải phóng miền Nam cơ ựộng ựánh vào những chỗ
sơ hở của ựịch làm cho chúng thiệt hại nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh Ngày 15/5/1967, tướng Westmoreland phải tuyên bố kết thúc cuộc hành quân vào
Nhìn chung, trong cuộc phản công mùa khô này, quân và dân miền Nam ựã mở hàng loạt trận phản công, ựánh bại các cuộc hành quân của Mỹ
và quân ựội Sài Gòn Bộ ựội chủ lực, bộ ựội ựịa phương, dân quân tự vệ ựã cùng toàn dân bám sát ựịch, tiêu diệt và tiêu hao chúng trên khắp các chiến trường Những trận ựánh ựịch ngay trên ựịa bàn hành quân của chúng, ở trong vùng sau lưng ựịch, ở hậu cứ và cơ quan ựầu não của chúng, những hoạt ựộng mạnh ở các vùng ựồng bằng, ở Tây Nguyên, ở ựường 9-Trị Thiên
ựã căng kéo ựịch ra mọi hướng, ựánh bại 3 cuộc hành quân lớn và nhiều cuộc hành quân khác, loại khỏi vòng chiến ựấu 175.000 quân Mỹ, chư hầu, quân Sài Gòn, 49 tiểu ựoàn và ựơn vị tương ựương (28 tiểu ựoàn Mỹ) bị ựánh thiệt hại, 1.800 máy bay và 1.786 xe quân sự bị bắn cháy, bắn hỏng, 100 tàu xuồng bị bắn cháy, bắn chìm
Trung tuần tháng 8-1967, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ựã họp đại hội bất thường, thông qua Cương lĩnh chắnh trị nhằm
mở rộng khối ựoàn kết dân tộc, ựẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Trung tuần tháng 9-1967, đại hội Anh hùng chiến sĩ thi ựua và dũng sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam Việt Nam lần thứ 2
ựã họp ựể tổng kết phong trào ựánh Mỹ, diệt ngụy, rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm tiếp tục chỉ ựạo và ựẩy mạnh phong trào kháng chiến
Trang 1350
Tháng 12-1967, Bộ Chắnh trị Trung ương đảng họp, ựề ra chủ trương:
ỘTổng công kắch và tổng khởi nghĩa, giành thắng lợi quyết ựịnh cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nướcỢ Nghị quyết của Bộ Chắnh trị sau ựó ựược Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương đảng họp vào tháng 1-1968 thông qua và trở thành Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương đảng, quyết ựịnh mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy ựồng loạt Tết Mậu Thân (1968) nhằm giáng một ựòn quyết ựịnh vào ý chắ xâm lược của Mỹ
Thực hiện quyết tâm chiến lược ựó, ựêm giao thừa Tết Mậu Thân (ựêm 30 rạng 31-1-1968) quân và dân miền Nam ựồng loạt tiến công và nổi dậy trên toàn miền; ựồng loạt tiến công ựịch ở 4/6 thành phố, 37/42 thị xã, hàng trăm thị trấn, quận lỵ; ựánh vào hầu hết các cơ quan ựầu não trung ương, ựịa phương của cả Mỹ lẫn ngụy, bao gồm cả 4 bộ tư lệnh quân khu - quân ựoàn, 8 bộ tư lệnh sư ựoàn, 2 bộ tư lệnh biệt khu ngụy, 2 bộ tư lệnh dã chiến Mỹ, 30 sân bay và nhiều tổng kho lớn đồng thời, nhân dân ở hầu khắp các vùng nông thôn ựược sự giúp sức của các lực lượng vũ trang ựã nổi dậy, phá tan từng mảng hệ thống kìm kẹp của ngụy quyền ở thôn xã, giành thắng lợi oanh liệt cả về tiêu diệt sinh lực ựịch và giành quyền làm chủ
Tỉnh nổ súng sớm nhất là Khánh Hòa, từ 23 giờ ựêm ngày 28/1/1968, pháo binh Quân giải phóng ở Khánh Hòa ựã bắn phá trung tâm huấn luyện hải quân Sài Gòn ở thành phố Nha Trang đến 0 giờ ngày 30/1/1968, Quân giải phóng ựồng loạt tấn công thị trấn Tân Cảnh, thị xã Kon Tum (tỉnh Kon Tum), thị xã Buôn Mê Thuột (tỉnh đắc Lắc), thị xã Pleiku (tỉnh Gia Lai), thành phố đà Nẵng, thị xã Hội An (tỉnh Quảng đà Ờ Quảng Tắn), thành phố Quy Nhơn (tỉnh Bình định)Ầ Quân dân Sài Gòn Ờ Gia định, Quảng Trị, Huế, Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Phan Thiết, Biên Hòa, Cần Thơ, Sóc Trăng, Kiến Phong, Kiến Tường, Gò Công, Bến Tre, Kiên Giang, Vĩnh Bình, Châu đốc, Tuyên đức mở nhiều cuộc tấn công quyết liệt vào quân ựịch Sài Gòn, Huế, đà Nẵng là trọng ựiểm tấn công và nổi dậy tết Mậu Thân, trong ựó, Sài Gòn Ờ Gia định là trọng ựiểm lớn nhất đây là trung tâm ựầu não chỉ ựạo toàn bộ bộ máy ựiều hành chiến tranh của Mỹ và chắnh quyền Sài Gòn Vì vậy, Mỹ và chắnh quyền Sài Gòn ựã bố trắ một hệ thống phòng thủ dày ựặc, nhiều tầng gồm cả quân Mỹ và quân ựội Sài Gòn tham gia bảo vệ
Rạng sáng ngày mồng 1 Tết Mậu Thân, tức ngày 30/1/1968, cuộc tấn công và nổi dậy ở Sài Gòn Ờ Gia định bắt ựầu Quân giải phóng ựã nhanh chóng ựánh vào Bộ Tổng tham mưu quân ựội Sài Gòn, sân bay Tân Sơn Nhất và đài phát thanh Sài Gòn, Tòa đại sứ Mỹ Các trận chiến ựấu ựã diễn
ra ác liệt, nhiều chiến sĩ cách mạng ựã hy sinh nhưng không chiếm ựược Bộ Tổng tham mưu và sân bay Tại đài phát thanh Sài Gòn, đội biệt ựộng số 1 sau 3 phút tấn công dã loại khỏi vòng chiến ựấu trung ựội cảnh sát dã chiến bảo vệ ở ựây và chiếm ựược ựài Quân ựội Sài Gòn ựã dùng một lực lượng quân sự rất lớn tấn công chiếm lại Cùng lúc này, 17 chiến sĩ thuộc đội biệt
Trang 14Ngay trong ựêm 30/1/1968, phối hợp với các ựội ựặc công và biệt ựộng thành phố, các ựội du kắch, các nhóm vũ trang và các tổ chức quần chúng cách mạng ựã chiếm lĩnh nhiều xóm lao ựộng Các tiểu ựoàn mũi nhọn
và ựịa phương tiến công và làm chủ trại thiết giáp Phù đổng, trại pháo binh
Cổ Loa, phá huỷ nhiều pháo và xe cơ giới, nhiều xưởng quân cụ, chiếm trung tâm huấn luyện Quang Trung, làm chủ nhiều ngày khu Bình Hoà, ngã
ba Cây Thị, Trường nữ quân nhân Sài GònẦ Các lực lượng vũ trang cách mạng cũng làm chủ khu vực giáp ranh giữa các quận 5, 6, 8, 10, 11, khu Minh Mạng, Ấn Quang, khu chợ Thiếc, khu cầu chữ Y, cầu Muối, Bàu Sen, Hàng Xanh, Thị Nghè, Trương Minh GiảngẦ Nhân dân còn tổ chức nổi dậy, giành quyền làm chủ ở một số nơi thuộc quận 7, 8, ngã ba Hàng Xanh, ngã năm Bình Hoà, chợ Trần Quốc Toản, khu vực trường ựua Phú Thọ, Gò Vấp, Bến Tre, Phú LâmẦ
Tại Huế, cuộc tấn công của các lực lượng vũ trang cách mạng nổ ra vào lúc 2 giờ 23 phút ngày 31/1/1968 Quân giải phóng chia làm hai cánh ựồng loạt ựánh vào 39 khu vực và mục tiêu trong và ngoài thành phố Sau những trận ựánh diễn ra ác liệt trên các ựường phố và khu dân cư, các căn cứ quân sựẦ, hầu hết các cơ quan ựầu não của chắnh quyền và quân ựội Sài Gòn ở Huế ựều bị Quân giải phóng ựánh chiếm Sau một ngày chiến ựấu, phần lớn thành phố Huế ựược giải phóng, trong ựó có cả khu đại Nội Cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam tung bay trên ựỉnh Phú Văn Lâu Quân giải phóng và nhân dân Huế ựã làm chủ thành phố 25 ngày ựêm, ựã tổ chức hàng trăm trận ựánh ựịch phản kắch
Sau khi ựợt 1 kết thúc, quân và dân miền Nam mở cuộc tấn công thứ hai bắt ựầu từ ựêm 4 rạng ngày 5/5/1968 với mục tiêu vây hãm Khe Sanh, kìm giữ và diệt ựịch ở đường 9, Trị Thiên, Tây Nguyên, tiếp tục tiến công
và nổi dậy ở Sài Gòn Ờ Gia định Phối hợp chặt chẽ với quân dân Sài Gòn Ờ Gia định, quân và dân miền đông và Tây Nam Bộ, khu 5, Tây Nguyên ựều tấn công vào các thành phố, thị xã như đà Nẵng, Hội An, Quảng Ngãi, đà Lạt, Phan ThiếtẦ
Trang 1552
Từ 17/8/1968, mở ựợt 3 Tổng công kắch Ờ Tổng khởi nghĩa Mục tiêu của ựợt 3 vẫn ựược xác ựịnh là: chiến trường Sài Gòn Ờ Gia định và miền đông Nam Bộ, Khu 5 là hướng phối hợp, trọng ựiểm là Quảng đà
Qua 3 ựợt tổng công kắch Ờ tổng khổi nghĩa, mặc dù bị tổn thất khá lớn, nhưng quân và dân miền Nam ta ựã Ộxoay chuyển ựược cục diện tình hìnhỢ mà trước ựó ta chưa bao giờ có ựược Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân của quân và dân miền Nam như Ộmột ựòn sét ựánhỢ ựối với bọn trùm xâm lược Mỹ, làm choáng váng cả nước Mỹ và chấn ựộng dư luận thế giới
Với thất bại này, tướng Westmoreland, Tổng chỉ huy quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam bị cách chức, một tháng sau ựó, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ
Mc Namara cũng xin từ chức Hai tháng sau, ngày 31/3/1968, Tổng thống
Mỹ Johnson phải tuyên bố ba ựiểm: 1- đơn phương ngừng ựánh phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra; 2- Nhận ựàm phán với Chắnh phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Pa-ri; 3- Không ra tranh cử Tổng thống Mỹ nhiệm
kỳ hai và chủ trương Ộphi Mỹ hoá chiến tranhỢ đây là sự thừa nhận ựầu tiên nhưng ựầy ựủ nhất về sự phá sản của chiến lượcỘchiến tranh cục bộỢ của
Mỹ, chiến lược chiến tranh quan trọng nhất ựược Mỹ chuẩn bị công phu và ựánh giá cao trong chiến lược toàn cầuỘphản ứng linh hoạtỢ của Mỹ những năm 60
Với những thắng lợi ựạt ựược trong đông-Xuân 1965-1966 và
1966-1967 ựánh bại 2 cuộc phản công mùa khô của ựịch, thắng lợi của Tết Mậu Thân ựã ựánh bại cố gắng quân sự cao nhất của ựế quốc Mỹ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam Bằng cuộc tổng tiến công chiến lược Mậu Thân, quân và dân Việt Nam ựã giáng một ựòn quyết ựịnh vào chiến lược ỘChiến tranh cục bộỢ của Mỹ, buộc chúng phải bắt ựầu quá trình xuống thang chiến tranh, phải chuyển hướng chiến lược Ộphi Mỹ hoá chiến tranhỢ bắt ựầu rút dần quân Mỹ về nước, chấm dứt cuộc chiến tranh phá hoại ựối với miền Bắc,
cử người ựàm phán với chắnh phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ở Hội nghị Paris, mở ra cục diện Ộvừa ựánh vừa ựàmỢ kết hợp chặt chẽ ựấu tranh quân
sự-chắnh trị-ngoại giao cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Ngày 3-11-1968 Hồ Chủ tịch kêu gọi nhân việc Mỹ buộc phải chấm dứt hoàn toàn không ựiều kiện cuộc chiến tranh phá hoại Người nhấn mạnh:
Ộựó chỉ mới là thắng lợi bước ựầu đế quốc Mỹ rất ngoan cố xảo quyệt, chúng nói Ộhòa bình thương lượngỢ nhưng vẫn chưa từ bỏ dã tâm xâm lược của chúngẦ Vì vậy, nhiệm vụ thiêng liêng của toàn dân ta lúc này là phải
nâng cao tinh thần quyết chiến quyết thắng, quyết tâm giải phóng miền Nam,
Trang 1653
bảo vệ miền Bắc, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc Hễ còn một tên xâm
Nhưng ở miền Nam lúc ấy Mỹ chuyển sang chiến lực Việt Nam hóa chiến tranh, trong ựó quân Mỹ vẫn còn vai trò quan trọng ở chiến trường, là chỗ dựa chủ yếu của quân Sài Gòn, nhưng quân Sài Gòn sẽ phải thay thế và dần dần trở thành lực lượng chủ yếu của chiến tranh; Bình ựịnh là một biện pháp chiến lược, là nội dung hoạt ựộng cụ thể của chiến tranh Việt Nam hóa
Mỹ tập trung xây dựng cho chế ựộ Sài Gòn có: quân ựội mạnh - chắnh quyền mạnh - bộ máy cảnh sát mạnh - nền kinh tế mạnh Thực hiện ựược Việt Nam hóa chiến tranh, Mỹ dùng lối rút quân nhỏ giọt kết hợp với việc xây dựng nhanh cho quân Sài Gòn ựủ mạnh thay thế vào các vị trắ của Mỹ trên chiến trường miền Nam Quân ựội Sài Gòn từ 700.000 (1969) lên 1.100.000 (1971), lực lượng bán vũ trang từ 1.500.000 lên 2.000.000 người, vũ khắ trang bị vào loại mạnh và hiện ựại nhất ở đông Nam Á với hơn 1.100 máy bay chiến ựấu các loại, gần 2000 xe tăng thiết giápẦ Cuộc kháng chiến ở miền Nam trở nên ác liệt và gặp nhiều khó khăn phức tạp
đáp lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, nhân dân ta ở cả nước ựã tiếp tục nêu cao quyết tâm chống Mỹ cứu nước Năm 1969, quân Giải phóng miền Nam
cố gắng giữ thế tiến công, duy trì hoạt ựộng quân sự, ựể tăng cường thực lực chắnh trị Ngày 6/6/1969, tại vùng Giải phóng ở miền đông Nam bộ, đại hội ựại biểu quốc dân miền Nam Việt Nam ựược triệu tập ựể thành lập Chắnh phủ và Hội ựồng cố vấn Chắnh phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam
Ngày 18/3/1970 Mỹ cho tiến hành ựảo chắnh lật ựổ nền trung lập của Campuchia, dựng lên chế ựộ Lon Non làm tay sai, sau ựó phát ựộng chiến tranh xâm lược Campuchia
Ngày 24 và 25/4/1970, Hội nghị cấp cao nhân dân 3 nước đông Dương ra tuyên bố chung có tắnh chất cương lĩnh ựấu tranh chung và là Hiến chương về quan hệ láng giềng, cam kết hết lòng ủng hộ lẫn nhau theo yêu cầu của mỗi nước ựể chống kẻ thù chung giành ựộc lập, hòa bình, trung lập, hình thành liên minh chiến ựấu ựặc biệt Việt Nam Ờ Lào Ờ Campuchia
Từ nửa cuối năm 1970 ựến nửa ựầu năm 1971, ựịch có 280.000 quân
Mỹ, 695.000 quân Sài Gòn, 120.000 quân Phnôm Pênh, 60.000 quân Viên Chăn, chúng cùng lúc mở 3 cuộc hành quân lớn: Lam Sơn 719, Toàn Thắng 01/71, Quang Trung 4, trong ựó hành quân Lam Sơn 719 là quan trọng nhất,
vì nó là thử thách quyết ựịnh của Việt Nam hóa chiến tranh Quân Giải phóng miền Nam tập trung lực lượng, kiên quyết tiêu diệt thật nhiều sinh lực
và phương tiện chiến tranh của ựịch, bảo vệ bằng ựược con ựường chi viện
1 Hồ Chắ Minh Toàn tập, tập 12 Nxb CTQG H.2000 trang 407
Trang 1754
cho các tiền tuyến, phối hợp với các chiến trường Lào và Campuchia, ựập tan hành ựộng phiêu lưu quân sự của ựế quốc Mỹ và tay sai Kết quả là ựã tiêu diệt và làm bị thương hàng chục ngàn quân ựịch, phá hủy nhiều vũ khắ, phương tiện chiến tranh của chúng Lực lượng tinh nhuệ nhất của quân ựội Sài Gòn bị ựánh qụy, vai trò nòng cốt của chúng trong chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh bị giáng một ựòn nặng nề Phối hợp với đường 9 - Nam Lào, các mặt trận khác trên cả 3 nước đông Dương cũng hoạt ựộng mạnh, gây cho ựịch những tổn thất lớn cả về sinh lực và tinh thần
Những hoạt ựộng quân sự dồn dập ựầu năm 1971 ựã tạo ra cơ hội thuận lợi cho phong trào chống phá bình ựịnh nông thôn miền Nam Việt Nam Quân dân Khu IX mở chiến dịch phản công chống bình ựịnh của ựịch; quân dân Khu VIII ựẩy mạnh chiến tranh du kắch, phá các kế hoạch bình ựịnh của ựịchẦ Số ấp ựịch kểm soát năm 1971 so với năm 1970 giảm hơn 2.000 ấp, 70% trong số 117 xã ựược kiểm tra ở miền Nam là có cơ sở cách mạng hoạt ựộng đến cuối năm 1971, Ộtình hình nông thôn ựã vướt qua thời
kỳ khó khăn nghiêm trọng nhấtỢ1 Trong lúc ựó phong trào ựô thị chuyển biến nhanh, xuất hiện nhiều hình thức tổ chức công khai hợp pháp, chuẩn bị ựưa phong trào ựấu tranh chắnh trị ở miền Nam lên một cao trào mới
Thắng lợi to lớn năm 1971 và khả năng phát triển thuận lợi của cách mạng miền Nam, cho phép tắnh toán ựến kế hoạch phát triển thế chiến lược tiến công, tạo ra bước phát triển nhảy vọt cho cuộc kháng chiến Hội nghị Bộ
Chắnh trị (tháng 5/1971) ựã ựề ra chủ trương ỘKịp thời nắm lấy thời cơ lớn,
trên cơ sở phương châm chiến lược ựánh lâu dài, ựẩy mạnh tiến công quân
sự, chắnh trị và ngoại giao, phát triển thế chiến lược tiến công mới trên toàn chiến trườngẦ giành thắng lợi quyết ựịnh trong năm 1972, buộc ựế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng trên thế thuaỢ Kế hoạch tiến
công chiến lược Xuân - Hè 1972 ựược ráo riết chuẩn bị và ngày 30-3-1972 bắt ựầu nổ súng mở màn việc thực hiện quyết tâm ấy
Trên hướng chủ yếu là Trị Thiên, những trận hiệp ựồng binh chủng ựầu tiên của quân Giải phóng ựem lại hiệu qủa thật to lớn, chọc thủng tuyến phòng ngự vững chắc của ựịch ở ựường 9 Ngày 2/5/1972 tỉnh Quảng Trị lọt vào tay quân Giải phóng Tại ựây diễn ra cuộc chiến 81 ngày ựêm vô cùng ác liệt giành giật thành cổ Quảng Trị Trên các hướng phối hợp, những trận tiến công vừa và nhỏ của quân Giải phóng dồn dập ập xuống quân Mỹ - Sài Gòn, ựánh chiếm và giải phóng nhiều ựịa bàn ở Tây Nguyên, đông Nam bộ, ựồng bằng Khu V Trong khi ựó ựồng bằng sông Cửu Long lại phát triển các chiến dịch tấn công tổng hợp, mở ra triển vọng lớn cho phong trào chống phá bình ựịnh
1 Nghị quyết Hội nghị Trung ương Cục tháng 10/1971
Trang 1855
Chỉ hai tháng tiến công (cuối tháng 3 - cuối tháng 5/1972), quân dân miền Nam ựã tiêu diệt, loại khỏi vòng chiến ựấu hàng chục ngàn tên ựịch, thu và phá hủy hàng vạn khẩu pháo, súng bộ binh, máy truyền tin, nhiều xe tăng M.48, M.41, M.113, xe cơ giới bị bắn cháy Vừa phá vỡ hệ thống phòng thủ vòng ngoài của ựịch, vừa ựứng vững trên ựiạ bàn chiến lược ở miền Nam, lực lượng vũ trang Quân Giải phóng ựược bố trắ lại trong tư thế vững chắc, vùng giải phóng mở rộng
Số phận của Việt Nam hóa chiến tranh ựến giữa năm 1972 ựã ựược ựịnh ựoạt khi chúng bị giáng những ựòn thất bại nặng nề ở miền Nam Nhưng Mỹ vẫn chưa cam chịu thất bại, tháng 5/1972 Mỹ thực hiện "Mỹ hóa" trở lại cuộc chiến tranh bằng cách gây lại cuộc chiến tranh phá hoại ở miền Bắc Quân dân miền Nam tiếp tục ựẩy mạnh tiến công và nổi dậy trên chiến trường, kết hợp với ựấu tranh trên bàn hội nghị, tranh thủ thời ựiểm chắnh trị của cuộc bầu cử tổng thống Mỹ ựể buộc Mỹ ký kết một hiệp ước hòa bình kết thúc chiến tranh vào tháng 10/1972 đặc biệt là trong 12 ngày ựêm (từ 18 ựến 29/12/1972) quân dân miền Bắc ựã giáng cho ựối phương một ựòn quân
sự mạnh, làm nên một trận "điện Biên Phủ trên không"; buộc Mỹ phải ngừng ném bom không ựiều kiện và ựề nghị nối lại ựàm phán
Ngày 27-1-1973, hiệp ựịnh Paris về kết thúc chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam ựược ký kết Hiệp ựịnh Paris phản ánh thắng lợi to lớn của nhân dân Việt Nam sau 18 năm chống Mỹ cứu nước, là kết qủa của gần 5 năm ựấu tranh ựàm phán (từ ngày 19/5/1968 ựến ngày 27/1/1973) với 201 phiên họp công khai, 45 cuộc gặp riêng giữa Việt Nam và Mỹ, 500 cuộc họp báo, 1.000 cuộc phỏng vấn, hàng trăm cuộc mắt tinh ủng hộ Việt Nam Hiệp ựịnh ựược ký kết tạo ra bước ngoặt căn bản cho cuộc kháng chiến, ựã Ộđánh cho Mỹ cútỢ và mở ra một thời cơ chiến lược mới cho quân dân Việt Nam tiến lên Ộđánh cho ngụy nhàoỢ, ựể giải phóng hoàn toàn miền Nam
Từ cuối năm 1973, Quân Giải phóng miền Nam kiên quyết trừng trị ựịch hành quân bình ựịnh lấn chiếm, thực hiện ựánh trả những hành ựộng chiến tranh của ựịch ở bất cứ ựâu, với hình thức và lực lượng thắch ựáng Từ giữa năm 1974 những hoạt ựộng tấn công và nổi dậy của quân dân miền Nam ngày càng mạnh mẽ, làm thất bại các hoạt ựộng bình ựịnh của ựịch và ựẩy chúng vào thế phòng ngự Trên cơ sở so sánh lực lượng thay ựổi có lợi cho cách mạng miền Nam, Hội nghị Bộ chắnh trị (tháng 10-1974) ựã hoạch ựịnh kế hoạch 2 năm giải phóng miền Nam với nhiệm vụ trung tâm trước
mắt: Ộđộng viên những nỗ lực lớn nhất của toàn ựảng, toàn quân, toàn dân
ở cả hai miền, mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy cuối cùng, ựưa chiến tranh
cách mạng phát triển ựến mức cao nhất, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân ngụy, ựánh chiếm Sài Gòn, sào huyệt trung tâm của ựịch cũng như tất cả các thành thị khác, ựánh ựổ ngụy quyền ở Trung ương và các cấp, giành toàn bộ chắnh quyền về tay nhân dân, giải phóng hoàn toàn miền Nam, hoàn thành
Trang 19cơ, chiến dịch mở ra chiến dịch, ngày 1/4/1975 bước vào chuẩn bị chiến dịch giải phóng Sài Gòn Ngày 14/4/1975 Bộ chính trị phê chuẩn ñề nghị của Bộ chỉ huy chiến dịch, ñặt tên chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia ðịnh là
“Chiến dịch Hồ Chí Minh”
17 giờ ngày 26/4/1975 chiến dịch Hồ Chí Minh tổng công kích ñánh chiếm Sài Gòn bắt ñầu, các mục tiêu tấn công ngập chìm trong bão lửa Cùng với tiến công của các lực lượng vũ trang, quần chúng nhân dân khắp nội và ngọai thành Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia ðịnh ñã nổi dậy, phối hợp ñánh, chiếm giữ các vị trí, các mục tiêu trong hệ thống chính quyền và quân ñội, cảnh sát của ñịch trong thành phố Lúc 11 giờ 30’ ngày 30/4/1975, Quân Giải phóng tiến vào, cắm lá cờ giải phóng lên dinh tổng thống chế ñộ Sài Gòn, Dương Văn Minh thay mặt cho chính quyền Sài Gòn tuyên bố ñầu hàng không ñiều kiện Cùng với tiến công và nổi dậy ở Sài Gòn, ñồng bằng sông Cửu Long cũng tiến công và nổi dậy ðến ngày 2/5/1975, tòan bộ miền Nam Việt Nam từ ñất liền ñến hải ñảo hoàn toàn giải phóng
Hơn 50 ngày thần tốc, cuộc tổng tấn công nổi dậy mùa Xuân 1975 ñã ñại thắng Hơn một triệu quân ñịch bị tiêu diệt và tan rã ngay trên hệ thống thiết bị chiến trường của chúng Chính quyền ñịch từ trung ương ñến ñịa phương sụp ñổ hoàn toàn Chế ñộ thực dân mới dày công xây dựng trong 20 năm bị xóa bỏ Sự nghiệp kháng chiến ñể giải phóng miền Nam ñến ñây ñã hoàn thành
3 MTGP với quá trình xây dựng vùng giải phóng và hậu phương tại chỗ cho chiến tranh cách mạng
Ngay khi ra ñời, Mặt trận ñã xác ñịnh phải ñánh ñịch trên cả 3 vùng chiến lược: ñô thị, nông thôn ñồng bằng và miền núi, qua ñó có thể huy ñộng lực lượng toàn dân vào cuộc kháng chiến, ñồng thời không ñể cho ñịch biến nông thôn Nam bộ thành hậu phương trực tiếp an toàn của chúng
Vùng rừng núi là căn cứ ñịa vững chắc của cách mạng, nơi ñứng chân của lực lượng vũ trang chính quy của cách mạng, nơi diễn ra những trận ñánh tiêu diệt lớn, nhằm bẻ gẫy những ñội quân chủ lực của ñịch Vùng rừng
1 Văn kiện ðảng Toàn tập, tập 35 Nxb CTQG H.2004 trang 185
Trang 20và rừng núi Làm chủ ựược nông thôn ựồng bằng, Mặt trận sẽ có hành lang
an toàn ựể giữ vững căn cứ ựịa rừng núi, ựồng thời áp sát ựô thị ựể tiến công vào các căn cứ lớn, các ựường giao thông huyết mạch của ựịch
Vùng ựô thị là trung tâm kinh tế, chắnh trị, quân sự của ựịch, nơi tập trung các cơ quan ựầu não của chúng và là căn cứ quân sự lớn của Mỹ Ở ựây hoạt ựộng chủ yếu của cách mạng là phát ựộng phong trào ựấu tranh chắnh trị của quần chúng, ựồng thời phối hợp với lực lượng cách mạng ở nông thôn ựể tiến công tiêu diệt ựịch ngay trong hậu phương của chúng
để giành ựược thắng lợi cuối cùng, ba vùng chiến lược phải phối hợp chặt chẽ với các mũi ựấu tranh ựể phát triển thực lực, chuyển thế, tạo thời cơ tiến lên tấn công ựô thị, lật ựổ chắnh quyền ựịch, giành chắnh quyền về tay nhân dân
Thực tế ở miền Nam ựến trước ựồng khởi 1960, chắnh quyền Sài Gòn kiểm soát tuyệt ựại ựa số các thôn xã Tuy nhiên, ngay ở các vùng ựồng bằng, một số thôn xã bề ngoài thì vẫn có chắnh quyền ựịch, nhưng lực lượng của nhân dân mạnh nên sức kiềm kẹp của ựịch bị hạn chế đồng thời, ở nhiều vùng rừng núi Nam Bộ, Tây Nguyên, các tỉnh duyên hải Trung Bộ, ựịch chưa thiết lập ựược bộ máy chắnh quyền cơ sở; ựồng thời nhân dân ở ựây cũng chưa xây dựng ựược bộ máy tự quản
Phong trào đồng khởi, trước hết là ở Nam Bộ và vùng miền núi miền Trung Trung Bộ, ựã làm sụp ựổ từng mảng hệ thống chắnh quyền ựịch ở cơ
sở Nhiều nơi nhân dân ựã nổi dậy phá thế kiềm kẹp của ựịch, nhiều nơi tự xây dựng chắnh quyền tự quản Trên cơ sở ựó, vùng giải phóng và vùng phá thế kìm kẹp ựược hình thành Tắnh ựến cuối năm 1960, phong trào đồng khởi ựã căn bản làm tan rã cơ cấu chắnh quyền cơ sở nông thôn của Việt Nam Cộng hòa Trong 2.627 xã toàn miền Nam, lực lượng Cộng sản ựã lập chắnh quyền tự quản ở 1.383 xã, ựồng thời làm tê liệt chắnh quyền Việt Nam Cộng hòa ở hầu hết các xã khác Dân số vùng giải phóng toàn miền Nam có khoảng 5,6 triệu người Kế hoạch lập khu trù mật và chắnh sách Ộcải cách ựiền ựịaỢ của của Ngô đình Diệm bị thất bại nặng Hai phần ba số ruộng ựất trong Cải các ựiền ựịa (khoảng 17 vạn héc ta) ựược chia lại cho người dân Trong ựó, vùng tự do và vùng phá thế kềm kẹp (là vùng có cơ quan ngụy quyền nhưng bất lực), hai loại hình ựã phát triển nhiều nơi, ở Nam Bộ có
Trang 2158
1.000 xã trên tổng số 1.300 xã Miền rừng núi Nam Trung Bộ có 5.000 thôn trên tổng số 9.000 thôn Trong một báo cáo gửi Tổng thống Mỹ Kennedy,
Cục Tình báo Trung ương Hoa Kỳ thừa nhận: ỘMột thời kỳ hết sức nghiêm
trọng ựối với Tổng thống Ngô đình Diệm và Việt Nam Cộng hoà ựã ở ngay trước mặt Chỉ trong vòng 6 tháng cuối năm 1960 tình hình an ninh trong nước vẫn tiếp tục ngày càng xấu ựi và nay ựã lên tới mức nghiêm trọngẦ Toàn bộ vùng nông thôn ở phắa Nam và Tây nam Sài Gòn cũng như một số vùng phắa Bắc ựã nằm trong quyền kiểm soát rất lớn của Việt CộngỢ điều
này cho thấy chắnh quyền Sài Gòn thực sự bất lực trong việc kiểm soát các tỉnh ở miền Nam
Sau khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra ựời (1960), vùng giải phóng càng ựược củng cố và phát triển Trên thực tế, Mặt trận ựược coi như một Chắnh phủ ngay từ năm 1961, ựiều này có ý nghĩa là ở chỗ vùng quản trị của Mặt trận vững chắc và ngày càng rộng, uy tắn của Mặt trận to lớn Mặt trận ựã xây dựng ựược hệ thống của mình từ xã ựến huyện, tỉnh, miền lên ựến Ủy ban trung ương của Mặt trận Ngay từ cuối năm 1960, các tỉnh thành ở miền Nam ựều vận ựộng thành lập Ủy ban Mặt trận Dân tộc giải phóng ựịa phương và kịp thời ra mắt ựồng bào Mặc dù chắnh quyền và quân ựội Sài Gòn ra sức lập lại những vùng ựã bị mất, củng cố chắnh quyền ở những vùng ựang mất kiểm soát, nhưng những vùng tự quản của nhân dân và vùng phá thế kiềm kẹp của ựịch vẫn do phắa cách mạng kiểm soát và phát triển Số xã do nhân dân tự quản ở Nam Bộ là 1.070 xã, ở Nam và Trung Trung Bộ là 5.100 xã
Ở các vùng giải phóng, Ủy ban Mặt trận ựảm nhiệm chức năng chắnh quyền ngày càng rõ nét và có hiệu quả Ủy ban Mặt trận chăm lo mọi mặt cho ựời sống của nhân dân, trong việc cung cấp lương thực và vận ựộng tuyển mộ tân binh cho lực lượng vũ trang, một số nơi ựã giành lại ruống ựất cho nhân dân ựã ựược cách mạng tạm cấp trước ựây nay bị ựịch cướp giật Trong vùng giải phóng và một phần vùng tranh chấp, Ủy ban Mặt trận và Ủy ban nhân dân tự quản các cấp ựã ựược thành lập từ Miền tới xã Ở Tây Nguyên và vùng núi nhiều tỉnh duyên hải của Liên khu V cũ, song song với các Ủy ban nhân dân tự quản, có lập những Ủy ban phong trào dân tộc tự trị
Ủy ban Mặt trận và Ủy ban phong trào tự trị không phải chỉ có ở vùng giải phóng mà có cả một số vùng tạm chiếm
Cuối tháng 11/1963, miền Trung Nam Bộ có tất cả là 489 xã, trong ựó
có 86 xã giải phóng hoàn toàn, 160 xã còn ựồn bốt ựịch, nhưng các ựồn bốt
ựó bị giam trong một khu ựất hẹp, mỗi lần lắnh Mỹ - Diệm muốn ựi ra xa ựồn thì phải xin phép quân du lắch thì mới ựược ra vào an toàn, 162 xã còn lại còn bị ựịch kiểm soát từ một nửa ựến 2/3 ựất ựai, chỉ còn 90 xã còn ở trong
Trang 2259
vùng kiềm kẹp của ựịch1 đến cuối năm 1963, vùng giải phóng và phá thế kềm kẹp bao gồm một dải ựất rộng lớn chạy từ cực Bắc Tây Nguyên ựến tận miền đông Nam Bộ, lưu vực sông Cửu Long xuống ựến tận mũi Cà Mau Tuy lúc này chưa có tỉnh nào ựược hoàn toàn tự do, nhưng không phải chỉ vùng rừng núi hiểm trở, mà ngay cả vùng ựồng bằng, nhiều tỉnh như Tân An,
Mỹ Tho, Bến TreẦ ựịch bị dồn tới sát thị trấn, thị xã Các vùng giải phóng
và phá thế kiềm kẹp chia cắt, lấn át, cài nhau với các vùng còn bị ựịch thống trị, bao vây chúng càng ngày càng chặt Từ 1964 ựến 1965, vùng giải phóng càng ựược mở rộng và ựược củng cố, chiếm 3/4 diện tắch và 2/3 dân số miền Nam Việt Nam
Vùng giải phóng là kết quả cao nhất của phong trào ựấu tranh chắnh trị
và vũ trang của nhân dân miền Nam Bằng ựấu tranh chắnh trị và vũ trang, nhân dân miền Nam ựã bứt rút ựồn bốt hay trực tiếp hạ ựồn bốt, nhân dân bức tề chạy trốn hay trực tiếp diệt tề Chắnh quyền ựịch bị giải tán, binh lắnh chế ựộ Sài Gòn ựược giáo dục, ác ôn bị trừng trị Có nhiều nơi nhân dân tùy tình hình cụ thể mà dùng một phần cái vỏ tề xã cũ ựể bênh vực một số lợi ắch của mình Nhưng nói chung thì nhân dân tự quản hẳn, cấp ủy và Mặt trận Dân tộc Giải phóng thường làm nhiệm vụ quản lý làng xã tự do, lập ra ủy ban Mặt trận ựể quản lý làng xã Vùng giải phóng là nguồn cung cấp sức người sức của cho cuộc kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam Vùng giải phóng còn là ngọn cờ hiệu triệu nhân dân trong các vùng, miền bị Mỹ - Diệm kiểm soát ựứng lên chiến ựấu ựể tự giải phóng
Từ cuối 1964, các ựồng bằng miền Trung Trung Bộ ựược giải phóng, sang ựầu 1965, vùng quản lý cũ của ựịch bị thu hẹp nhiều, có thể nói không một nơi nào trong thời gian này ựịch tấn công ựược vùng giải phóng Trái lại, vùng giải phóng mở rộng, từ phân nửa diện tắch toàn miền Nam lên ựến 3/4 với 2/3 dân số toàn miền Nam địch bị dồn về các ựô thị và các vùng phụ cận, bị dồn về một số những con ựường giao thông huyết mạch ựã bị cắt ựứt
ra từng ựoạn Mặt trận Dân tộc giải phóng chẳng những kiểm soát chắn phần mười biên giới trên bộ giữa Việt Nam Ờ Campuchia và Việt Ờ Lào mà còn kiểm soát phân nửa các bờ biển của miền Nam Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert McNamara trong Bị vong lục gửi Tổng thống Mỹ Johnson ngày
16/3/1964 ựã phải thừa nhận: ỘTrong số ựất ựai của 22 trong số 43 tỉnh, Việt
cộng kiểm soát tới hơn 50% hoặc nhiều hơn thế, bao gồm 80% ở Phước Tuy, 90% ở Bình Dương, 75% ở Hậu Nghĩa, 90% ở Long An, 90% ở Kiến Tường,
Theo báo cáo của Trung ương Cục (10/1965), số ấp chiến lược còn lại chưa phá ựược là 1712 ấp, vùng giải phóng mở rộng trên 7 triệu dân Cuối
1
Dẫn theo Trần Văn Giàu, Miền Nam giữ vững thành ựồng, tập 2, Nxb Khoa học xã hội, H., 1966
2 Tài liệu mật của Bộ Quốc phòng Mỹ về chiến tranh xâm lược Việt Nam, Việt Nam Thông tấn xã dịch và
phát hành, 1971, tr 253
Trang 2360
năm 1965, vùng giải phĩng miền Nam đã rộng chiếm tới 4/5 đất đai với hơn
10 triệu dân1 Tướng Mỹ Maxwell D Taylor (nguyên ðại sứ Mỹ ở Sài Gịn)
thú nhận: “Thời kỳ 1965 là một giai đoạn rất khĩ khăn cho chúng ta bởi vì
khơng những chúng ta lo lắng trước sức mạnh quân sự ngày một tăng của Việt Cộng mà cịn phải luơn luơn quan tâm lo lắng duy trì cho được sự ổn
Ngày 25-5-1968, Trung ương Cục miền Nam ra Chỉ thị 13-CTNT về
“Ra sức xây dựng chính quyền cách mạng các cấp theo kịp sự phát triển của tình hình” Theo Chỉ thị này, Ủy ban Mặt trận Dân tộc Giải phĩng các cấp cơ
sở được thống nhất đổi tên là Ủy ban nhân dân cách mạng Chỉ thị đã đánh giá tình hình từ sau ðồng khởi, cơ cấu tổ chức chính quyền cấp xã, ấp được hình thành và hoạt động, với “Nhiệm vụ của chính quyền cách mạng được xác định là tổ chức và lãnh đạo nhân dân miền Nam chiến đấu hồn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân miền Nam,hịa bình, thống nhất Tổ quốc tiến lên chủ nghĩa xã hội” Chỉ thị cũng nêu lên cấu tạo, số lượng, thành phần, lề lối làm việc và mối quan hệ giữa chính quyền với các ngành đồn thể khác3
Năm 1968, số dân miền Nam do Mặt trận Giải phĩng quản lý là 10 triệu/14 triệu người, trong đĩ cĩ “4 triệu người sống trong vùng giải phĩng
và ít nhất cĩ 6 triệu rưỡi người nữa thuộc quyền cai trị bí mật của Mặt trận trong các vùng danh nghĩa là của Mỹ và Sài Gịn kiểm sốt”4 Vì số đơng nhân dân do Mặt trận lãnh đạo nên khơng cĩ ai cung cấp tin tức về nơi đĩng quân của Quân giải phĩng, vì vậy Mỹ khĩ tìm được Việt cộng để mà đánh,
Mỹ hồn tồn bị cơ lập với dân chúng Mặt trận kiểm sốt hồn tồn các vùng xung quanh các trại lực lượng đặc biệt của Mỹ
Về những vùng trên danh nghĩa là do Sài Gịn kiểm sốt nhưng thực tế cũng do Mặt trận kiểm sốt ở những mức độ khác nhau Trong số khoảng 6 triệu dân do Sài Gịn kiểm sốt, khơng thuộc quyền kiểm sốt của Mặt trận cũng đĩng thuế cho Mặt trận Khoảng 70% viên chức cấp xã trong các vùng
do Sài Gịn kiểm sốt khơng dám ở lại xã ban đêm, một số tề xã đĩng trụ sở
Trang 2461
ở quận lỵ cách xã ựến mấy dặm Trên thực tế, từ năm 1968 về sau ỘMặt trận
là chắnh phủ mạnh nhất ở nông thôn Nam Việt NamỢ1
Trong các thành thị, Mặt trận có cán bộ bắ mật ở hầu hết các thành thị, các nhà kinh doanh thường xuyên ựóng thuế cho Mặt trận Khi Quân giải phóng tấn công vào dịp Tết Mậu Thân thì nhân dân ở 40 ựô thị trong 28 tỉnh
lỵ ựã nổi dậy tiến hành ựấu tranh chắnh trị và binh vận Về ban ựêm, phạm
vi kiểm soát của Mặt trận ựược mở rộng Tối ựến, hầu hết các trưởng thôn ựều bỏ trụ sở chạy vào thành thị Trong khi các viên chức chắnh quyền Sài Gòn ựua nhau chạy về thành thị thì các cán bộ ựịa phương của Mặt trận công khai nắm lấy chắnh quyền
Trên cơ sở phong trào kháng chiến chống Mỹ cứu nước phát triển cao nhất là từ ựầu năm 1968, trên cơ sở lực lượng mạnh và uy tắn của Mặt trận,
từ năm 1968, nhân dân miền Nam bắt ựầu mở cuộc vận ựộng thành lập chắnh quyền cách mạng Cho ựến cuối năm 1968, các Ủy ban giải phóng ựã thành lập ở nhiều ựịa phương, mạnh nhất là ở ựồng bằng sông Cửu Long, căn cứ lâu ựời của Mặt trận, và hầu hết cao nguyên Trung phần bắt ựầu chuyển thành Ủy ban nhân dân cách mạng2
Cuối năm 1968, nhiều ựịa phương miền Nam tổ chức bầu cử ỘHội ựồng nhân dân cách mạngỢ Tỉnh Quảng đà có hơn 90% số xã và tất cả các quận trong tỉnh ựã có chắnh quyền nhân dân; việc bầu cử Hội ựồng nhân dân cách mạng ựược tiến hành thắng lợi trong 134 xã và 12 quận Trên toàn miền Nam ựã xây dựng chắnh quyền ở 516 xã/1800 xã, xây dựng chắnh quyền huyện 7/121 huyện, chắnh quyền cấp tỉnh xây dựng ựược 3/44 tỉnh (Gia Lai,
Cà Mau, Mỹ Tho)3 Hệ thống chắnh quyền cách mạng ựã ựem lại cho ựồng bào quyền dân sinh, dân chủ, bình ựẳngẦ trong ựó quan trọng nhất là ựem lại quyền lợi ruộng ựất cho nông dân Hệ thống chắnh quyền cách mạng thực
sự trở thành một nhân tố thắng lợi cho cách mạng miền Nam
Mặt trận thực sự Ộcó dân, có ựất và có lực lượng vũ trang Mặt trận có trách nhiệm phải giữ ựất bảo vệ dân, Mặt trận làm chức năng chắnh quyền Trong những vùng giải phóng, Mặt trận là một uy tắn chắnh trị có tổ chức, là chắnh phủ có hiệu lực, là một tổ chức chắnh quyền quản lý một phần lớn ựất ựai ở miền Nam ựược giải phóngỢ4
để tăng cường tiềm lực tòan diện cho cuộc kháng chiến, Mặt trận chủ trương giải phóng ựến ựâu, tiến hành xây dựng và củng cố ựến ựó ỘMục ựắch của ta là ựánh ựổ chắnh quyền ựịch, xây dựng chắnh quyền cách mạng
Trang 2562
của ta Nhưng trước mắt ta chưa xây dựng ựược chắnh quyền cách mạng của
ta ở những nơi chắnh quyền ựịch tan rã Ở các vùng miền núi và một số vùng ựồng bằng, nếu chắnh quyền ựịch tan rã thì ta dùng các Ủy ban Mặt trận ựịa phương làm cả nhiệm vụ giữ gìn trật tự trị an, hướng dẫn quần chúng ựoàn kết, sản xuất, học tập, cải thiện ựời sống, bảo vệ trật tự cách mạng, v.vẦ ựó
là mầm mống của chắnh quyền cách mạng sau nàyỢ1 Thực hiện Tuyên ngôn
và chương trình của Mặt trận, những nơi chắnh quyền Diệm bị sụp ựổ thì ở
ựó Ủy ban Mặt trận ựiều hành quản lý ựịa phương Mặt trận ựã ựề ra nhiều biện pháp nhằm bênh vực quyền lợi thiết thực cho nông dân như: chia ruộng ựất, giảm tô, xóa nợ
để giải quyết vấn ựề ruộng ựất cho nông dân trong vùng giải phóng một cách hợp lý, phù hợp với tình hình ựặc ựiểm của cách mạng miền Nam, Mặt trận ựề ra chắnh sách gồm những ựiểm sau:
1 Thực hiện giảm tô, ựảm bảo nguyên canh đảm bảo quyền sở hữu ruộng ựất khai hoang cho người có công khai phá Bảo hộ quyền sở hữu chắnh ựáng về ruộng ựất ựã ựược chia của nông dân
2 Bãi bỏ các Ộkhu trù mậtỢ, chế ựộ bắt dân ựi Ộdinh ựiềnỢ đồng bào
ta bị cưỡng bức vào Ộkhu trù mậtỢ và Ộdinh ựiềnỢ ựược tự do trở về sinh sống, làm ăn trên ruộng vườn của mình
3 Tịch thu ruộng ựất của ựế quốc Mỹ và bè lũ tay sai ựể chia cho dân nghèo không có ruộng hoặc thiếu ruộng Chia lại công ựiền cho công bằng hợp lý
4 Bằng thương lượng và giá cả công bằng hợp lý, Nhà nước mua lại ruộng ựất của ựiền chủ có từ mức ựộ nào trở lên tùy tình hình ruộng ựất của mỗi ựịa phương ựem chia cho nông dân không ựất hoặc thiếu ựất Nông dân ựược chia ruộng ựất không phải trả tiền và không bị ràng buộc bởi một ựiều kiện nào2
Tắnh ựến năm 1962, nông dân miền Nam Việt Nam ựã giành lại ựược 650.000 mẫu ruộng vườn ựược chi hồi trước khi chiến tranh đông Dương kết thúc (1954) mà Mỹ - Diệm và tay sai ựã cướp ựoạt từ 1954 ựến 1959 đến cuối năm 1962, nông dân theo lời kêu gọi của Mặt trận ựã khia hoang ựược 101.250 mẫu, Mặt trận cấp cho nông dân thêm 700.000 mẫu Tắnh ựến năm 1963, trên 2.000.000/3.200.000 mẫu ruộng vườn ựã về tay nông dân3
đến hết năm 1965, chắnh quyền cách mạng ựã chia 2 triệu 10 vạn hécta (tức 70% diện tắch canh tác) cho nông dân không có ruộng Ở miền
1 Văn kiện đảng về Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, Nxb Sự thật, H., 1985, tr 305
2 đại hội Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam lần thứ nhất, Nxb Sự thật, H., 1962, tr 27
3
Dẫn theo đoàn Luyến, Vai trò của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam trong cuộc kháng
chiến chống Mỹ (1960-1968), Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, Trường đại học Sư phạm TP Hồ Chắ Minh, 2007,
tr 59
Trang 2663
Tây Nam Bộ, nông dân tỉnh Cà Mau ñã làm chủ 82% ruộng ñất, Vĩnh Long: 75%, Sóc Trăng: 70%, Trà Vinh: 65% diện tích ñịa phương Ở miền Trung Trung Bộ, trong năm 1965, chính quyền cách mạng ñã chia 50.000 hécta ruộng ñất cho nông dân Theo ñiều tra một số tỉnh thuộc Liên khu V và Nam
Bộ cuối năm 1965, ruộng ñất do nông dân làm chủ chiếm tỷ lệ khá lớn1
Không chỉ ñược giải quyết vấn ñề ruộng ñất, nông dân miền Nam trong vùng giải phóng cũng ñược giảm tô rất lớn Mức tô những năm 1962-
1963 giảm từ 40 ñến 80 % so với mức tô năm 1958-1959 Ngay trong vùng mới phá thế liềm kẹp thì nông dân chỉ phải nộp thúê cho ñiền chủ từ 8 ñến
20 % Tính chung, ở Nam Bộ, từ ngày ðồng Khởi (1960) cho ñến ngày chính quyền Diệm bị lật ñổ thì số tô ñược giảm lên tới 10 triệu giạ lúa, nghĩa
là từ 210.000 ñến 230.000 tấn lúa2 Bên cạnh ñó, Mặt trận các cấp còn thực hiện xóa bỏ mọi khoản nợ của nông dân ñối ñã vay với tổ chức “Nông tín cuộc” của chính quyền Sài Gòn
Nhờ giải quyết tốt vấn ñề ruộng ñất, chính quyền cách mạng ñã ñộng viên ñược lực lượng to lớn của nông dân tham gia vào cuộc kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước Chính tờ báo ảnh Diễn ñàn số ra ngày 6/3/1964 ñã phải thừa nhận rằng: “Việt Cộng ñã thắng lợi vì họ mang lại cho nông dân
những cái mà nông dân mong muốn, nhất là ruộng ñất Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ñã có chương trình rõ ràng ñể giải quyết vấn ñề ruộng ñất ở miền Nam, ñã và ñang thực hiện chương trình ñó bằng cách ñem hàng triệu ha ruộng ñất cho cho nông dân ở các vùng giải
hăng hái sản xuất, trước hết là ñể cung cấp cho cách mạng, ñồng thời ñể nâng cao mức sống của mình ngay trong khi chiến ñấu
Từ năm 1965, cuộc kháng chiến lan ra cả nước Miền Bắc tiếp tục là
“hậu phương lớn” và vùng giải phóng ở miền Nam là “hậu phương trực tiếp”, Mặt trận chú trọng ñến việc bảo vệ, xây dựng vùng giải phóng, ñộng viên nhân tài vật lực cho tiền tuyến và các mặt trận
ðể thực hiện vai trò hậu phương trực tiếp, Mặt trận ñã chia cho nông dân 2 triệu hécta ñất trồng trọt Người cày có ruộng là bí quyết lớn về việc củng cố, mở rộng vùng giải phóng, bồi dưỡng sức dân, ñộng viên nhân tài vật lực Chính sách ruộng ñất của Mặt trận sớm làm cho bộ mặt nông thôn biến ñổi: số bần nông hạ xuống nhanh, số trung nông tăng lên mau Do nhu cầu kháng chiến, nhiều tổ ñổi công vần công giúp nhau cày cấy ñược thành lập ðược sự giúp ñỡ của Hội Nông dân giải phóng, ñồng bào vượt ñược mọi
Trang 2764
khó khăn Nhân dân ra sức bám làng, bám ựất ựể làm ăn, ựể sống và cũng là
ựể duy trì và củng cố cơ sở du kắch, cơ sở kháng chiến
Trong vùng giải phóng nhiều giống lúa mới năng suất cao ựược phổ biến như Ộlúa xiêmỢ, Ộsóc rôỢ, Ộlúa giángỢẦ cả những giống lúa từ miền Bắc gởi vào tặng như Ộtrà trung tửỢ, Ộnông nghiệp IỢ Ở nhiều nơi ựã thực hiện tăng vụ ựể bù lại việc ựịch phá hoại Ở miền đông Nam Bộ nhiều vùng
bị phá hoại xóm làng, nhà cửa, nhưng trong năm 1967, tới 85% diện tắch rẫy ựược trồng trọt Miền Trung Nam Bộ tiến hành thâm canh, tăng vụ, có nơi ở quận Cai Lậy ựạt năng suất 9 tấn thóc/1 hécta Cũng trong năm 1967, miền Trung Nam Bộ cấy 384.000 hécta một vụ và 88.000 hécta hai vụ, năng suất tăng từ 20% ựến 80% Tây Nam Bộ lúa hai vụ năm 1967 tăng bằng hai lần năm 1966, lúa một vụ tăng 20.000 hécta Các tỉnh bị càn quét hết sức nặng như Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình định vẫn giữ diện tắch cày cấy, vượt chỉ tiêu 250 kilô bột/ựầu người hàng năm và vượt 12 kilô thịt/ựầu người hàng năm Nhiều vùng ở Tây Nguyên ựạt từ 400 ựến 600 kilô bột mỗi người một năm, dự trữ muối ựầy ựủ1
Tại các vùng giải phóng, Mặt trận ựã phát ựộng phong trào thi ựua sản xuất Quân và dân, tay cày tay súng, trồng tỉa quanh năm, ựẩy mạnh sản xuất lúa gạo, ngô khoai, thực phẩm, chú trọng ựến chăn nuôi bảo ựảm nhu cầu cung cấp cho kháng chiến ựến mức tối ựa Ủy ban Mặt trận các cấp chẳng những quan tâm ựến chiến sự, trị an, mà rất quan tâm ựến việc hướng dẫn ựồng bào cải tiến kỹ thuật canh tác, cải tiến nghề nông Khắp các vùng tự do Nam Bộ, kể cả các vùng hẻo lánh ựều có máy bơm nước, máy diện, máy nổ, ựài thu thanh, ghe máy, xuồng máyẦ khá phổ biến
Do yêu cầu cuộc chiến ựấu phải phá lộ ựể ngăn chặn các cuộc hành quân của ựịch Nhưng ựồng thời cũng phải tổ chức ựào nhiều kênh rạch nhỏ, ựắp nhiều lộ nhỏ trong các xóm ấp giải phóng ựể ựi lại2 Ở miền Trung Nam
bộ năm 1963, nhân dân ựã ựào 190 con kênh dài 600 km Mỹ Tho ựào 412
km kênh mương rút phèn, nhờ vậy hai quận Châu Thành và Cai Lậy ựã ựưa diện tắch trồng lúa lên gấp 3 lần so với trước giải phóng Chỉ trong 3 tháng ựầu năm 1963, nông dân quận Mỏ Cày (Bến Tre) ựã lập thêm ựược 3.000 công vườn, trồng thêm 160 công dừa, 169 công quýt, 2.563 công mắa3 Năm
1965, ựào ựắp 2.400 km kênh ngòi Các phong trào thi ựua và các biện pháp sản xuất ựược ựề ra, năng suất lúa ở vùng giải phóng ựã ựạt sản lượng cao Ở vùng giải phóng miền Trung và Tây Nam bộ, năng suất lúc trung bình ựạt 3
1 Dẫn theo đoàn Luyến, Tlựd, tr 112
2 Trong thời kỳ này, việc ựào kênh khai mương, ựắp bờ trồng cây, lên vườn không phải chỉ nhằm mục ựắch kinh tế mà còn theo kế hoạch tác chiến quân sự nữa Kênh là ựường giao thông mau lẹ cho xuồng, mương là chiến hào, cây trồng bờ mương bảo vệ việc ựi lại cho cán bộ, ngăn chặn việc tấn công của xe lội nước M113
3 đoàn Luyến, Tlựd, tr 60-61
Trang 2865
tấn/ ha; trong khi ựó ở vùng tạm chiếm năng suất lúa chỉ ựạt 1,5 tấn/ ha1 Tại
Cà Mau, năm 1967, nông dân ựắp và sửa 621 ựập và 500 bờ ngăn nước mặn Tại Trà Vinh, sáu tháng ựầu năm 1967, nông dân ựào 75 kênh dài 120 km, vét lại 440 kênh cũ Trong thời gian ựó, Bến Tre ựào 20 km kênh mới, vét 62
km kênh cũ Cả miền Tây ựào 467 km kênh mới, vét 263 kênh cũ, ựào 3.295
km mương, ựắp 4.380 ựập
Trong khi ựó, vùng rừng núi từ miền đông Nam Bộ tới Tây Nguyên ựiều kiện sản xuất khó khăn, rừng núi bao la, ựất ựai chưa khai phá, dân cư thưa thớt, ựịch bao vây phá hoại, ựồng bào thiếu dụng cụ canh tác, thiếu muối ăn Mặt trận ựề ra nhiều biện pháp khắc phục khó khăn, vừa ựẩy mạnh chiến ựấu, vừa phát triển sản xuất, không sản xuất ựược gần căn cứ thì sản xuất xa, không sản xuất tập trung ựược thì sản xuất phân tán, phấn ựấu sản xuất ựể tự túc lương thực
Sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp trong các vùng giải phóng tuy còn nhỏ bé, nhưng ựang từng ngày phát triển và có vị trắ quan trọng trong nền kinh tế dân chủ nhân dân miền Nam Ở những nơi có ựiều kiện, các cấp của Mặt trận tiến hành khôi phục, tổ chức các cơ sở, ngành nghề sản xuất ựể phục vụ chiến ựấu và ựời sống nhân dân Nhiều cơ sở sản xuất, sửa chữa vũ khắ, ựạn dược, thuốc men, giấy viết, vải vóc, nông cụ ựã ựược thành lập
Về tiểu công nghệ, mở nhiều lò rèn nông cụ, phát triển một số khung cửi, số bàn dệt thô sơ Hàng trăm khung cửi dệt ựã họat ựộng, cung cấp ựược một phần nhu cầu mặc củ bộ ựội và nhân dân Số thợ dệt lên tới 5.000, giải quyết ựược một phần vải mặc cho nhân dân Có cả xắ nghiệp sản xuất xà phòng, xắ nghiệp sản xuất thuốc tiêm, thuốc uống, xắ nghiệp may ựã ựược tổ chức, sản xuất và cung cấp kịp thời các nhu yếu phẩm cho nhân dân vùng giải phóng Ngoài các ngành nghề trên, các ngành khác như ựan lát, ựồ gốm, làm ựường, bánh kẹo cũng ựược khôi phục sản xuất
Lao ựộng sản xuất tập thể trở thành một kiểu làm ăn rộng rãi và sôi nổi, một phần vì giác ngộ chắnh trị, một phần vì tình thế khách quan ựòi hỏi, xuất hiện ngày càng nhiều tổ ựổi công, tổ hợp tác Năm 1962, tỉnh Quảng Ngãi có 600 tổ ựổi công, ở 3 tỉnh Bến Tre, Mỹ Tho, Long An có gần 2.000 tổ tương trợ sản xuất Cuối năm 1963, ở Mỹ Tho, các tổ vần công, tổ ựổi công
có 12 vạn hội viên2 Trong các phong trào thi ựua sản xuất, phụ nữ nông thôn luôn là lực lượng hùng hậu nhất Ngoài việc ựấu tranh chắnh trị và tham gia
du kắch bảo vệ xóm làng, các chị xung phong gánh vác mọi công việc ựồng áng, quản lý gia ựình ựể chồng con ựi giết giặc lập công Ngoài ra các chị còn tham gia giúp ựỡ các gia ựình thương bình, liệt sĩ, gia ựình neo ựơn, tham gia văn nghệ, dạy họcẦ
1 Viện Sử học, Sựd, tr 354
2 đoàn Luyến, Tlựd, tr 62
Trang 2966
Những thành tựu về xây dựng và phát triển kinh tế trong vùng giải phóng tuy mới là bước ñầu, nhưng có ý nghĩa rất lớn, khẳng ñịnh tính ưu việt của chế ñộ mới dưới sự lãnh ñạo của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, góp phần làm biến ñổi một bước nền kinh tế vùng giải phóng, hình thành nền kinh tế mang tính dân chủ nhân dân
Bên cạnh việc chăm lo giải quyết các vấn ñề kinh tế, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam còn chăm lo giải quyết các vấn ñề văn hóa, văn nghệ trong vùng giải phóng Trong Cương lĩnh chính trị của mình, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ñã ñề ra nhiệm vụ: “Bài trừ văn hóa, giáo dục nô dịch, ñồi trụy theo kiểu Mỹ ñang tác hại ñến truyền thống văn hóa tốt ñẹp lâu ñời của dân tộc ta Xây dựng một nền văn hóa, giáo dục dân tộc và dân chủ, phát triển khoa học và kỹ thuật nhằm phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ ñất nước ”1
Mặt trận chú trọng xây dựng một nền “giáo dục dân tộc, tiến bộ, phục
vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân” ñược phát triển mạnh mẽ trong vùng giải phóng Ngay từ năm 1962, phong trào “học tập bình dân chống Mỹ” ñã phát triển ở Nam Bộ Hệ thống trường tiểu học, trung học ñược thiết lập Hầu như không có vùng giải phóng nào là không có trường học Tháng 10/1962, Tiểu ban Giáo dục toàn miền Nam ñược thành lập và ñã có cơ sở ñến các ñịa phương ñể chỉ ñạo phong trào giáo dục toàn miền Phương hướng nhiệm vụ
của công tác giáo dục ở miền Nam Việt Nam ñược xác ñịnh: “Dựa vào lực
lượng nhân dân, cán bộ giáo dục và các nhà giáo yêu nước, kiên quyết ñả phá chính sách ngu dân và các hình thức giáo dục nô dịch phản ñộng, ngọai lai ñồi trụy của Mỹ-ngụy, tích cực xây dựng nền giáo dục dân tộc, dân chủ
và khoa học theo chủ nghĩa Mác-Lênin, nhằm bồi dưỡng văn hóa chính trị cho nhân dân lao ñộng, trước nhất cho cán bộ chiến sĩ, ñào tạo thế hệ trẻ tòan diện, biết căm thù giặc sâu sắc, biết yêu nước nồng nàn, có kiến thức
ñạo ñức và sức khỏe ñể tiếp tục sự nghiệp chống Mỹ cứu nước và kiến thiết
xã hội sau này”2
Vùng giải phóng miền Tây Nam Bộ trong năm 1962 có 1.117 trường tiểu học và trung học, gần 20 vạn học sinh Vùng giải phóng tỉnh Bình Thuận
có 17 trường phổ thông và 2 trường cho ñồng bào dân tộc miền núi Vùng giải phóng Kon Tum và ðắc Lắc có 7 trường dân tộc và 39 lớp bình dân Sang năm 1963, toàn miền Nam có tới 1 triệu học sinh trong vùng giải phóng trên tổng số dân torng vùng giải phóng là 7 triệu3
ðể tiếp tục chăm lo cho việc phát triển giáo dục ở vùng giải phóng,
Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ñã
Trang 3067
thành lập ỘBan thông tin, văn hóa, giáo dụcỢ ựể chỉ ựạo các hoạt ựộng liên quan ựến giáo dục trong vùng giải phóng Ngày 20/11/1963, Hội Nhà giáo yêu nước miền Nam ựược thành lập Trong năm 1963, Mặt trận ựã thành lập trường sư phạm ựầu tiên trong vùng giải phóng mang tên ỘTrường Tháng TámỢ, viết một số sách giáo khoa các môn Văn, Sử, địa và Toán cho cấp 1
và cấp 2 đến năm 1964, ở vùng giải phóng ựã phát hành thống nhất sách giáo khoa dùng trong trường học của vùng giải phóng Tới năm 1965, ựã có
283 loại sách giáo khoa ựược biên soạn, nhà in Giáo dục Giải phóng ựã in trên 1.000 cuốn sách khác nhau Học sinh vừa học vừa tham gia sản xuất, tham gia công tác chiến ựấu như vót chông, rào làng, trinh sát, giao liên
Tháng 4/1964, đại hội giáo dục tòan miền Nam lần thứ Nhất khai mạc, với ựông ựủ ựại biểu từ Bến Hải ựến Cà Mau về tham dự ựể thống nhất ựường lối giáo dục, phương châm, biện pháp xây dựng giáo dục kháng chiến chống Mỹ Ngày 19/5/1964, đại hội ựại biểu Hội Nhà giáo yêu nước miền Nam Việt Nam lần thứ nhất tiến hành thông qua ựiều lệ chắnh thức, bầu Ban Chấp hành Trung ương Hội gồm 31 vị do Giáo sư Lê Văn Huấn làm Chủ tịch đó là những sự kiện ựánh dấu cột mốc quan trọng cho sự phát triển của ngành giáo dục kháng chiến ở miền Nam Việt Nam
Cùng với sự chi viện của ngành giáo dục miền Bắc, công tác giáo dục của ngành giáo dục giải phóng ựã ựạt ựược những thành tựu ựáng kể đến năm 1966, trên tòan vùng giải phóng ựã thành lập ựược 5.994 trường phổ thông với hơn 500.000 học sinh theo học Phong trào bổ túc văn hóa cũng ựược ựẩy mạnh, hết năm học 1965-1966 ựã có hơn 100.000 cán bộ các cấp của Mặt trận ựược bồi dưỡng văn hóa cấp 11 Theo Hội nhà giáo yêu nước miền Nam thì vùng giải phóng năm 1966 có tất cả 5.994 trường phổ thông, dạy 50 vạn học sinh Mặc dù chiến sự ác liệt nhưng giáo dục vẫn páht triển Năm học 1966 Ờ 1967, vùng giải phóng miền Tây Nam Bộ có thêm 1.671 trường cấp 1, 10 trường cấp 2 với 100.000 học sinh Không kể mẫu giáo và
vỡ lòng thôn, ấp nào cũng có Miền Trung Nam Bộ, niên khóa 1966 Ờ 1967
mở thêm 1.250 lớp cấp 1 và cấp 2 với 1.250 giáo viên và 42.000 học sinh Riêng tỉnh Bến Tre ựược tặng Huân chương Giải phóng hạng Nhất về thành tắch giáo dục nhân kỷ niệm 5 năm ngày thành lập Mặt trận, ựã có 26.000 học sinh 3 cấp Niên khóa 1966 Ờ 1967, Bến Tre mở thêm 560 lớp Quảng Nam, Quảng Ngãi, mỗi tỉnh ựều có hơn 1.500 lớp phổ thông và gần 30.000 học sinh Phong trào bổ túc văn hóa trong vùng giải phóng phát triển mạnh Cuối năm học 1965-1966, có 10.000 cán bộ các cấp của Mặt trận ựược bồi dưỡng
về văn hóa ựến trình ựộ lớp 3, lớp 4 Sang năm học 1966 Ờ 1967 thì tiếp tục lên lớp 5, lớp 6, có nơi như Bến Tre thì lên lớp 7 Tỉnh Quảng Nam có 4 trường văn hóa tỉnh chuyên bồi dưỡng cho các bộ người Kinh, Thượng, mỗi
1 Viện Sử học, Sựd, tr 365
Trang 3168
khóa 200 người Nhân dân tham gia các lớp bổ túc văn hóa rất ựông, riêng miền Tây Nam Bộ năm học 1966 Ờ 1967 có 10.000 người ựi học, tỉnh Kon Tum có 192 làng có lớp bình dân học vụ1
Trong Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, các trường lớp ựều ựóng cửa đông ựảo thầy cô giáo, học sinh tham gia cầm súng ra chiến trường, trực tiếp ựánh giặc hoặc phục vụ cho tiền tuyến Cuối năm 1968, Chỉ thị 22 của Thường vụ Trung Trung ương Cục khẳng ựịnh: Ộtrong bất kỳ tình huống nào cũng phải xây dựng ngành giáo dục vững mạnh ở vùng giải phóngỢ Trên cơ sở ựó, trường lớp ựược phục hồi lại mau chóng Ở miền Tây Nam Bộ có 92.943 học sinh ựến lớp Riêng Cà Mau có 40.414 học sinh Một
số nơi ựã có 95-100% trẻ em ựến tuổi ựược ựi học Trường lớp cũng ựược khôi phục ở các vùng có chiến sự ác liệt như miền đông Nam Bộ và những vùng rừng núi hẻo lánh ở Tây Nguyên2
đặc biệt các trường sư phạm trung cấp ựược xây dựng ở nhiều khu vực ựể bồi dưỡng và ựào tạo giáo viên: Trung Trung Bộ có trường sư phạm miền núi; Tây Nam Bộ có trường sư phạm Hoa kiều Niên khóa 1966 - 1967 miền Tây Nam Bộ ựào tạo ựược 2.028 giáo viên phổ thông, 1.541 giáo viên bình dân học vụ3
Thực hiện ựường lối của Mặt trận, một phong trào ựấu tranh chống lại những chắnh sách văn hóa phản ựộng, giữ gìn văn hóa dân tộc nổi lên mạnh
mẽ Nhiều tổ chức ựược thành lập như Hội bảo vệ thanh thiếu nhiỢ, ỘHội bảo
vệ nhân phẩm và quyền sống của phụ nữỢ, ỘLực lượng bảo vệ văn hóa dân tộcỢ với các hình thức họat ựộng phong phú và quyết liệt như phong trào
ỘVăn hóa tìm về dân tộcỢ, ỘHát cho ựồng bào tôi ngheỢ, Ộđêm ựốt lửa căm thùỢ với các mục tiêu Ộựòi giảng dạy tiếng Việt ở ựại họcỢ, Ộựòi tự trị ựại họcỢ, Ộchống quân sự hóa học ựườngỢ mà tiêu biểu là việc tổ chức đại hội bảo vệ văn hóa dân tộcỢ với lời tuyên ngôn: ỘVận ựộng hướng dẫn quần chúng trong các nghĩa vụ xây dựng văn hóa dân tộc song song với bài trừ văn hóa ựồi trụy, lai căng, mất gốcỢ4
Sân khấu, văn nghệ trong vùng giải phóng cũng ựược Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam chú trọng phát triển Theo lời kêu gọi của Mặt trận, nhiều nghệ sĩ ựã bỏ vùng tạm chiếm chạy ra vùng tự do mang theo tiếng hát lời ca phục vụ kháng chiến; nhiều diễn viên, soạn giả là chiến
sĩ, nhiều nghệ sĩ xuất thân từ quần chúng đời sống sôi nổi vui tươi và ựầy nhiệt tình cách mạng ựã sản sinh ra nhiều ựội văn công giải phóng Khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra ựời, thì những chiến sĩ văn
Trang 3269
hóa kiên cường của miền Nam ựã tập hợp ựội ngũ của mình trong Hội Văn nghệ Giải phóng miền Nam, ra ựời này 20/7/1961 Cuối năm 1961, đoàn Văn công giải phóng ra ựời đến năm 1963, ở miền đông Nam Bộ có 100 ựội văn nghệ và tổ ca vũ ở xã, ở miền núi có 10 ựội văn công dân tộc ắt người Những ựơn vị giải phóng quân ựều có ựoàn văn công riêng Các ựội văn công giải phóng cũng có nhiều tiết mục rất phong phú, chương trình biểu diễn ngày càng hấp dẫn Năm 1962, có trên 62 vở kịch nói, cải lương, tuồng
Các tiết mục như Lê Lợi khởi nghĩa, Nợ nước thù nhà, Lời ca bất khuấtẦ có
nội dung tư tưởng và giáo dục sâu sắc Sau ựó, nhà xuất bản Giải phóng cũng ựược thành lập ựể xuất bản các tác phẩm văn hóa, nghệ thuật, truyền bá rộng rãi trong vùng giải phóng và cả nước
Những thành tựu trên ựược ựánh dấu bằng sự kiện ỘGiải thưởng văn nghệ Nguyễn đình Chiểu 1960-1965Ợ do Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam trao tặng Một Hội ựồng văn học, nghệ thuật của Mặt trận ựứng ựầu là ựồng chắ Trần Bạch đằng và các ủy viên thường trực Hội văn nghệ ựã xem xét, trao tặng gần 40 giải cho các tác phẩm ựủ loại hình Một luồng không khắ nô nức phấn chấn lan truyền trong cả nước và thế giới, sau khi đài phát thanh giải phóng công bố chi tiết giải thưởng từ tiền tuyến miền Nam cho ựến hậu phương lớn miền Bắc tin vui này ựược coi như một tin thắng trận lớn Từ hàng ngàn chiến công của các chiến sĩ văn hóa vừa bám chiến trường, vừa sáng tác, ựã xuất hiện 54 tác phẩm tiêu biểu cho nền
văn học, văn nghệ giải phóng như tập sách Từ tuyến ựầu Tổ quốc, Sống như
Anh, Người mẹ cầm súng, Những ngày gian khổ, Hòn đất; các bài thơ Quê hương, Bài ca chim Chơrao; các bài hát Giải phóng miền Nam, Bài ca may
áo, Xuân chiến khu 1
Bên cạnh ựó, ngành ựiện ảnh giải phóng cũng có những bước phát triển tắch cực đến năm 1963, vùng giải phóng có xưởng phim Giải phóng, sản xuất ựược 15 bộ phim giới thiệu ựủ các mặt hoạt ựộng yêu nước của các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, các tôn giáo Ở các tỉnh ựều có ựội chiếu
bóng lưu ựộng Những bộ phim có giá trị tuyên truyền, cổ vũ cao như: Miền
Nam anh dũng, đại hội Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam lần thứ nhất, Tổ săn trực thăngẦ Tất cả diễn viên văn công, diễn viên ựiện
ảnh ựều ý thức sâu sắc về vai trò chiến ựấu của mình, coi ựiện ảnh là một thứ
vũ khắ hiện ựại, sắc bén, cùng với nhân dân miền Nam hoàn thành cuộc chiến ựấu giải phóng dân tộc
Mặt trận báo chắ, thông tin, phát thanh cũng phát triển khá nhanh đến năm 1963, toàn vùng giải phóng miền Nam có 40 tờ báo, 17 tờ tạp chắ, 40
bản tin Tờ Tiên phong là cơ quan ngôn luận của đảng nhân dân cách mạng
1 Xem thêm Xuân Hồng, ỘHọat ựộng ca nhạc ở miền Nam Việt NamỢ Trong Chung một bóng cờ, Sựd, tr
648-654
Trang 3370
Việt Nam, các tỉnh ựều có những tờ báo của mình Tỉnh Quảng Nam, Bình
định có tờ: Giải phóng 1
, Hừng ựông; tỉnh đắc Lắc có tờ báo tiếng dân tộc:
Pơlir, Pơhing rim hrơi; Nam Bộ có gần 30 tờ báo Có 13 tờ báo văn nghệ
như: Văn nghệ Giải phóng, Văn nghệ đồng Nai Thông tấn xã giải phóng và
đài phát thanh giải phóng cũng ra ựời và ựi vào hoạt ựộng từ năm 1960 Thông tấn xã giải phóng chắnh thức thành lập ngày 12/10/1960, phát hành bằng 3 thứ tiếng: Anh, Pháp, Hoa, phát trên làn sóng ựiện tử ựủ mạnh ựể tuyên truyền về mặt quốc tế cho cách mạng miền Nam đài phát thanh giải phóng có ảnh hưởng rất lớn, cả trong vùng tự do và trong vùng tạm chiếm,
số người nghe ựài ngày càng ựông làm cho chắnh quyền Sài Gòn phải thực hiện một số biện pháp ựối phó Những người làm báo, thông tắn viên Thông tấn xã giải phóng cũng như những người làm báo tiến bộ trong các thành thị tập hợp nhau thành Hội Nhà báo yêu nước và dân chủ, trở thành thành viên của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam
Vùng giải phóng mở rộng thì cũng theo ựó mạng lưới y tế cũng hình thành Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam vận ựộng ựồng bào lập tủ thuốc gia ựình, tủ thuốc thôn xóm Lập Trạm y tế, nhà hộ sinh, lập các
tổ nghiên cứu và sử dụng thuốc Bắc, thuốc Nam, phối hợp đông Tây y ựể phòng và chữa bệnh Năm 1962, trong vùng giải phóng ở miền đông Nam
Bộ xây dựng một bệnh viện, 5 nhà hộ sinh, 36 tủ thuốc, ựào tạo 165 cán bộ y
tế xã, 205 hộ sinh Năm 1963, vùng giải phóng miền Trung Nam Bộ xây dựng thêm 78 nhà hộ sinh với 222 hộ sinh, ựào tạo thêm 125 y tá2 Tinh thần thầy thuốc giải phóng ựược nêu cao, bác sĩ tận tâm cứu chữa bệnh nhân như người mẹ chăm sóc con cái, lại còn dành thời gian ựể tăng gia sản xuất và vác súng chống càn, bảo vệ bệnh viện, bảo vệ bệnh nhân Bên cạnh ựó, ngành y tế giải phóng ựã góp công xứng ựáng vào công việc phòng chống chất ựộc hóa học của Mỹ rải trên xóm làng ở nhiều tỉnh, xây dựng các chuyên ựề Ộchống sốt rétỢ, Ộngoại khoa dã chiếnỢẦ Hội ựồng quân y giải phóng ựã biết tổng hợp kinh nghiệm, phổ biến nghiên cứu khoa học, kết hợp đông Tây y, làm cho công tác ựiều trị có nhiều tiến bộ
để phục vụ cho sự phát triển của ngành y tế, việc ựào tạo, bồi dưỡng cán bộ y tế ựược triển khai rộng rãi, từ cấp Miền cho ựến các khu, tỉnh, huyện Ở ựâu có thể ựủ ựiều kiện thầy trò thì mở lớp, thường tổ chức lớp khỏang 30 học viên Nhiều lớp cô ựỡ, cứu thương ựược tổ chức ngắn hạn cho học sinh người Khmer Các lớp bồi dưỡng chuyên tu nâng cao trình ựộ cho cán bộ y tế ựã qua thử thách ựược tổ chức Trường Y tế cao cấp của Miền thành lập, thường xuyên mở lớp ựào tạo cán bộ y tế cho tòan miền Nam
1 Tờ Giải phóng là cơ quan Trung ương của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, xuất bản số
ựầu tiên vào ngày 20/12/1964 nhân kỷ niệm 4 năm ngày thành lập Mặt trận Ban biên tập lúc ựầu gồm các ựồng chắ: Thái Duy (Trần đình Vân), Tống đức Thắng (Trần đức Trắ) và Trần Phong (Trần Kỳ Phương)
2 Dẫn theo đoàn Luyến, Tlựd, tr 64
Trang 3471
Nhờ những chủ trương và những chính sách đúng đắn của Mặt trận Dân tộc giải phĩng miền Nam Việt Nam, đời sống nhân dân vùng giải phĩng, được cải thiện rõ rệt Nhiều gia đình trong vùng giải phĩng cĩ máy thu thanh, máy may, xe đạp, xuồng máy Sức đĩng gĩp nhân tài, vật lực của vùng giải phĩng cho kháng chiến ngày càng lớn, mặc dù chiến tranh tàn phá ngày càng dữ dội Mỗi năm cĩ hàng vạn thanh niên tham gia Giải phĩng quân, kể cả những người cĩ tuổi tác cũng tham gia phục vụ chiến trường Thương bệnh binh về làng được nhân dân đùm bọc chăm sĩc chu đáo Dưới
sự tổ chức lãnh đạo của mặt trận, đời sống nhân dân vùng giải phĩng được nâng cao, các mặt văn hĩa, xã hội, giáo dục, y tế bước đầu phát triển, đời sống tinh thần của nhân dân lành mạnh Thực tế, những vùng giải phĩng đã trở thành hậu phương vững chắc của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân miền Nam Trong điều kiện chiến tranh ác liệt, địch càn quét bắn phá liên miên, mà trong vùng giải phĩng, phát triển văn hĩa, giáo dục, y tế, văn nghệ, thơng tin… rõ ràng là một thành cơng lớn, đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống của đồng bào trong vùng giải phĩng, đáp ứng cho cơng cuộc giải phĩng miền Nam
hịa miền Nam Việt Nam (CPCMLTCHMNVN)
Sự ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phĩng miền Nam Việt Nam đã đáp ứng yêu cầu của cách mạng miền Nam trong bước ngoặt chuyển sang giai đoạn mới ðồn kết xung quanh một chương trình hành động cụ thể, đáp ứng đúng nguyện vọng của đại đa số các tầng lớp nhân dân miền Nam, phong trào cách mạng đã cĩ một tổ chức cơng khai để tập hợp rộng rãi các lực lượng và cá nhân yêu nước trên tồn miền Nam dưới một ngọn cờ giải phĩng
Mặt trận dân tộc giải phĩng miền Nam Việt Nam cĩ hình thức tổ chức
là nơi đồn kết thống nhất các đồn thể quần chúng thành viên, nhưng nội dung hoạt động đã thực hiện chức năng của một chính quyền cách mạng do ðảng lãnh đạo Cơ cấu cấp trung ương vừa cĩ tính chất mặt trận, vừa giống như một chính phủ lâm thời Các đại hội mặt trận cĩ ý nghĩa như các kỳ họp quốc hội Mặt trận đã hoạt động theo chức năng của một chính quyền cách mạng là: từng bước làm nhiệm vụ chuyên chính với kẻ thù, thực hiện dân chủ với nhân dân, tiến hành tổ chức đời sống xã hội của nhân dân trong vùng giải phĩng và thi hành chính sách đối nội đối ngoại hợp tình hợp lý, phục vụ cho nhiệm vụ chiến lược và sách lược cách mạng của ðảng
Về đối ngoại, chỉ thời gian ngắn sau khi ra đời, Mặt trận đã cĩ đại diện trong Ban chấp hành của 11 tổ chức quốc tế, cĩ quan hệ ngoại giao với 18 nước trên thế giới, cĩ 26 tổ chức quốc tế, các chính đảng và tổ chức quần
Trang 3572
chúng ở nhiều nước công nhận1 đường lối ngoại giao hòa bình trung lập của Mặt trận ựã thu hút sự chú ý của dư luận trong và ngoài nước, ựem lại cho Mặt trận vị trắ chắnh trị ngày càng cao trên trường quốc tế Lá cờ giải phóng (nửa xanh nửa ựỏ) của Mặt trận trở thành biểu tượng của một số tổ chức và liên hoan quốc tế có xu hướng ựấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, ựòi tự do ựộc lậpẦ
Về ựối nội, Mặt trận thi hành những chắnh sách dân tộc, dân chủ khá triệt ựể và hợp lòng dân Trước hết là Mặt trận tham gia tắch cực vào việc tổ chức cuộc chiến ựấu chống chiến tranh xâm lược thực dân mới thông qua các chỉ thị mệnh lệnh và các lực lượng chắnh trị, lực lượng vũ trang thành viên ựẩy mạnh hoạt ựộng kháng chiến Dưới sự lãnh ựạo của Mặt trận, phong trào nhân dân du kắch chiến tranh ựã ngày càng lan rộng, những hoạt ựộng quân
sự, chắnh trị, binh vận ựem lại thắng lợi ngày càng to lớn cho quân dân miền Nam ựánh bại các chiến lược chiến tranh của Mỹ và tay sai
Trong thực tế từ khi có vùng giải phóng, Mặt trận kiêm một chức năng ựặc biệt là người quản lý các vùng giải phóng mà nhân dân vừa giành ựược quyền làm chủ (trước ựây gọi là Ủy ban tự quản) Việc xây dựng vùng giải phóng có ý nghĩa ựặc biệt ựối với Mặt trận trong cương vị người tổ chức quản lý xã hội Các ựoàn thể quần chúng như: Hội Thanh niên giải phóng, Hội phụ nữ giải phóng trở thành lực lượng nòng cốt trong phong trào cách mạng các ựịa phương, Hội nông dân giải phóng tham gia tắch cực vào các hoạt ựộng ựộng viên sản xuất nông nghiệp Sau một năm ựồng khởi ở các vùng giải phóng Mặt trận ựã chia gần 50.000 ha ựất cho dân cày2 đến cuối năm 1965 nông dân miền Nam ựã ựược chia tổng cộng 2.100.000 ha ruộng ựất, tức 70% ruộng ựất canh tác toàn miền3 Các hoạt ựộng văn hóa, giáo dục, y tế ở vùng giải phóng ựược chú trọng, nhiều quyền lợi thiết thực và nghĩa vụ của nhân dân ựược chăm lo thực hiện Năm 1962 toàn miền Nam
có 15.000 thanh niên tòng quân Năm 1965 có 18.834 thanh niên gia nhập Quân giải phóng Thanh niên vùng giải phóng tham gia các lực lượng cách mạng ngày càng ựông Vùng giải phóng thực sự trở thành hậu phương trực tiếp của cuộc kháng chiến ở miền Nam
Liên tục chống các chiến lược chiến tranh thực dân mới của Mỹ, cách mạng miền Nam càng có thế và lực ựược củng cố và phát triển vững chắc, càng ựẩy mạnh thế chiến lược tiến công Tết Mậu Thân 1968, quân và dân miền Nam từ Trị Thiên, Khu V, Trung Trung bộ, đông Nam bộ, Trung Nam
bộ, Tây Nam bộ và Sài Gòn ựồng loạt tổng tiến công và nổi dậy, tiến công
1 Sức mạnh chiến thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Viện Sử học KHXH, H.1985 tr.133
2 Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) tập 1 Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, ST, H.1990 tr.104
3 Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) tập 2 Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, ST, H.1991 tr.182
Trang 36bị tấn cơng; hậu phương và hậu cứ chiến tranh của địch bỗng chốc trở thành chiến trường; nĩ cũng làm đảo lộn kế hoạch chiến lược quân sự của địch, đẩy chúng lún sâu vào thế phịng ngự bị động
ðặc biệt là cao trào tiến cơng và nổi dậy đầu Xuân Mậu Thân 1968 đã tạo điều kiện cho một số nhân sĩ, trí thức rời các đơ thị ra vùng giải phĩng, đi theo tiếng gọi của Mặt trận với chính sách đại đồn kết dân tộc và chủ trương hịa bình trung lập
Trên cơ sở đĩ, ngày 20-4-1968 nhĩm trí thức ra vùng giải phĩng đã
cùng một số nhân sĩ yêu nước mở ðại hội thành lập Liên minh các lực
lượng dân tộc dân chủ và hịa bình Việt Nam (Liên minh các LLDT, DC &
HBVN) Liên minh ra Tuyên ngơn cứu nước đã nêu rõ lý do:
“Suốt gần một phần tư thế kỷ qua, trong lúc nhiều nước trên thế giới
sống trong cảnh thanh bình, tự do kiến thiết xứ sở thì nhân dân miền Nam Việt Nam chúng ta liên tiếp chịu thảm họa ngoại xâm, chẳng biết được một ngày yên lành Từ bờ bên kia Thái Bình dương, hơn nửa triệu quân Hoa kỳ
đã ồ ạt đổ sang miền Nam Việt Nam, với các lực lượng đồng minh của họ và
dựa trên hơn nửa triệu quân của chính phủ tay sai ở Sài Gịn, đang tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo chưa từng cĩ trong lịch sử nước nhà
Chiến tranh kéo dài đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tồn bộ đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào ta, gây nên biết bao cảnh điêu linh thống khổ từ nơng thơn đến thành thị
Bom đạn, chất độc hĩa học đã tàn phá làng mạc, nhà cửa, ruộng vườn, thành phố làm cho biết bao gia đình tan nát, gây ra biết bao chết chĩc
đau thương Nền kinh tế bế tắc, suy sụp : nơng nghiệp giảm sút trầm trọng,
cơng nghiệp đình trệ, tiền tệ liên tiếp mất giá, đời sống mắc mỏ cao độ, nạn thất nghiệp tràn lan… ðồng bào miền Nam Việt Nam chúng ta lâm vào cảnh khốn cùng, cơ cực
Thêm vào đĩ là các tệ nạn xã hội, một nền văn hĩa suy đồi khủng khiếp: mãi dâm, cao bồi, trộm cướp, hãm hiếp… đang hằng ngày hằng giờ
Trang 37Trong khi ựó thì, dưới sự thống trị của các chánh quyền tay sai Sài Gòn và Hoa Kỳ nặn ra, ựời sống chánh trị của các từng lớp ựồng bào ở ựô thị hết sức ngột ngạt Mọi quyền tự do, dân chủ ựều bị tước ựoạt, mọi xu hướng ựối lập ựều bị ựàn áp, mọi tiếng nói của người yêu nước ựều bị bóp nghẹtẦ
Cuộc chiến tranh do chánh phủ Hoa Kỳ gây ra ở nước ta ngày càng trở nên ác liệt Những người Việt Nam tha thiết với ựộc lập, dân chủ và hòa bình không có cách nào khác hơn là phải ựoàn kết ựứng lên chống lại xâm lăng
Trước sự tồn vong của ựất nước, các chánh phủ bù nhìn từ Ngô đình Diệm ựến Nguyễn Văn Thiệu Ờ Nguyễn Cao Kỳ nối tiếp nhau làm tay sai cho giặc ngoại xâm, bán rẻ Tổ quốc, ựẩy nhân dân ta lâm vào cảnh lầm than nô
lệ
Ý thức ựược nguy cơ của tình hình hiện nay và trách nhiệm của mình trước lịch sử, trước những thế hệ ngày nay và mai sau, chúng tôi, những người thiết tha yêu nước mong muốn cho Tổ quốc ựộc lập và hòa bình, tập
hợp trong Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam
không ngại tài sơ trắ thiển, mạnh dạn ựứng ra gánh vác trách nhiệm trước quốc dân ựồng bào
Miền Nam Việt Nam phải ựược ựộc lập
Nhân dân miền Nam Việt Nam phải ựược hưởng quyền tự do dân chủ Miền Nam Việt Nam phải ựược hòa bình
đó là tâm nguyện sắt ựá của chúng tôi
Trung thành với mục ựắch ựó, chúng tôi long trọng tuyên cáo với quốc dân ựồng bào và các quốc gia trên thế giới lập trường của chúng tôi là :
đoàn kết mọi lực lượng và cá nhân yêu nước, kiên quyết chống ngoại xâm, ựánh ựổ toàn bộ chế ựộ bù nhìn Nguyễn Văn Thiệu Ờ Nguyễn Cao
Kỳ, thành lập chắnh phủ liên hiệp dân tộc, giành ựộc lập dân chủ và hòa bình Sau khi giành lại chủ quyền dân tộc, Liên minh các lực lượng dân tộc,
dân chủ và hòa bình Việt Nam sẽ luôn luôn ựoàn kết với các lực lượng và cá
Trang 3875
nhân yêu nước, hàn gắn những vết thương chiến tranh, kiến thiết ñất nước, xây dựng một quốc gia có ñộc lập, chủ quyền, dân chủ, hòa bình, trung lập
và thịnh vượng”
Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam ñưa
ra Chương trình hoạt ñộng gồm 3 ñiểm chính:
1 Chấm dứt chiến tranh, vãn hồi hòa bình, giành lại ñộc lập và chủ quyền dân tộc Liên minh chủ trương giành lại ñộc lập, chủ quyền của Nam
Việt Nam, ñòi chính phủ Hoa Kỳ chấm dứt chiến tranh, rút quân ñội Hoa Kỳ
và quân ñội ñồng minh của họ ra khỏi miền Nam Việt Nam, phá bỏ các căn
cứ quân sự Hoa Kỳ, tôn trọng ñộc lập, chủ quyền của Việt Nam, như Hiệp ñịnh Genève năm 1954 về Việt Nam ñã quy ñịnh; ñồng thời chủ trương tiếp xúc bàn bạc với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ñể cùng nhau giành lại ñộc lập dân tộc, lập lại hòa bình và kiến thiết ñất nước ñem lại ñời sống tự do và hạnh phúc cho toàn dân
2 Kiến tạo Nam Việt Nam thành một quốc gia ñộc lập, tự do, hòa bình, trung lập và thịnh vượng Liên minh chủ trương xây dựng chế ñộ chính
trị ở miền Nam Việt Nam theo thể chế Cộng hòa, nhân dân có quyền tự do dân chủ thật sự, nền kinh tế ñộc lập, tự chủ và thịnh vượng; thực hiện ñường lối ngoại giao không liên kết, giao hảo với tất cả các quốc gia không phân biệt chế ñộ chánh trị, miễn là các quốc gia ấy thực sự tôn trọng ñộc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam
3 ðối với vấn ñề thống nhất nước nhà, Liên minh khẳng ñịnh thống
nhất nước nhà là nguyện vọng tha thiết và là nghĩa vụ thiêng liêng của toàn dân ta… Trong khi chưa ñạt ñược sự thống nhứt, cần phải có sự quan hệ giữa hai miền về mặt kinh tế, văn hóa, thư tín, ñi lại v.v…
Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam thiết
tha kêu gọi: “Toàn thể ñồng bào trong nước và ngoài nước hãy siết chặt
hàng ngũ, phát huy lực lượng hùng mạnh, cùng ñứng lên nỗ lực chiến thắng ngoại xâm, giành lại ñộc lập, chủ quyền dân tộc, tự do dân chủ và hòa bình chân chính
Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam chân thành cảm tạ các vị ñứng ñầu các nước, các nhân sĩ trí thức, các nhà hoạt
ñộng chính trị tôn giáo và nhân dân yêu chuộng hòa trên thế giới, kể cả ở
Hoa Kỳ, ñã hằng quan tâm và ủng hộ cuộc ñấu tranh chánh nghĩa của nhân dân Việt Nam, và thiết tha mong ước rằng sự ủng hộ sẽ ngày càng tích cực
và mạnh mẽ hơn nữa
Trang 39khẳng ựịnh: ỘSự ra ựời và những hoạt ựộng tắch cực của Liên minh các lực
lượng dân tộc dân chủ và hòa bình Việt Nam là một thắng lợi rực rỡ của
đại hội thành lập Liên minh ựã bầu Luật sư Trịnh đình Thảo làm Chủ tịch, Hòa thượng Thắch đôn Hậu và Kỹ sư Lâm Văn Tết ựồng Phó Chủ tịch
Liên minh ựã thông qua các giới sinh viên, học sinh, trắ thức, ựồng bào tôn giáo, công thương gia, nhân sĩ dân chủ tại các thành thị miền Nam, ựẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận ựộng, tổ chức ựấu tranh ở trong nước và nước ngoài, góp phần ựộng viên, thúc ựẩy hoạt ựộng yêu nước, chống Mỹ và tay sai, tăng cường khối ựại ựoàn kết toàn dân tộc
Cùng lúc ựó, hàng loạt các Ủy ban nhân dân cách mạng ở các ựịa phương thông qua hoạt ựộng bầu cử do Mặt trận giải phóng tổ chức Tắnh ựến tháng 6/1969 ựã có 34 Ủy ban nhân dân cách mạng cấp ủy, 4 Ủy ban nhân dân cách mạng cấp thành, 1.300 Ủy ban nhân dân cách mạng cấp xã ựã ựược thành lập, nhiều ủy ban nhân dân cách mạng thị xã, thị trấn cũng lần lượt ra ựời3 Mặc dù chương trình bình ựịnh xây dựng và phát triển của ựịch
ở miền Nam ựang bành trướng, ựịch ựang ra sức chiếm ựất giành dân, xây dựng cho ựược hệ thống chắnh quyền ở cơ sở, nhất là bộ máy tề xã ấp Song
hệ thống chắnh quyền cách mạng các cấp vẫn ra ựời, tồn tại và củng cố, ựó là minh chứng hùng hồn cho sức sống của trạng thái hai chắnh quyền ở miền Nam Việt Nam
Như vậy, nếu trước ựó Mặt trận có lực lượng chủ yếu là ở vùng rừng núi và nông thôn ựồng bằng, thì từ tháng 4/1968 với sự ra ựời của Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hòa bình, Mặt trận có thêm người ựồng hành ở các ựô thị, ựặc biệt là các ựô thị lớn Mặt trận có thêm những thành viên mới và liên minh mới, cũng tạo ra cơ sở thực tế cho sự ra ựời của chắnh quyền cách mạng cấp cao nhất ở miền Nam
Chắnh quyền cách mạng cấp cao nhất Ờ cấp trung ương, Chắnh phủ là người ựại diện cho các tổ chức và lực lượng chắnh trị của một quốc gia hay vùng lãnh thổ trong cuộc chiến ựấu chống lại và lật ựổ chắnh quyền phản
1
Chung một bóng cờ Ầ
2 Hồ Chắ Minh - Về Mặt trận dân tộc thống nhất, trang 121
3 Sức mạnh chiến thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Viện Sử học KHXH, H.1985 tr.132
Trang 4077
cách mạng do ựế quốc thực dân dựng lên phục vụ cho chắnh sách xâm lược của ngoại bang Trên cơ sở thế và lực của cách mạng ựã ựược xây dựng và phát triển, hệ thống chắnh quyền cách mạng ở cơ sở ựã ra ựời xác lập trên thực tế tình thế 2 chắnh quyền song song tồn tại, từ ựó tất yếu ựưa ựến sự ra ựời một Chắnh phủ trung ương làm ựối trọng ựầy ựủ với hệ thống chắnh quyền phản cách mạng lúc nó ựang có vai trò tác dụng to lớn ựối với nền thống trị của thực dân ngoại bang
Từ ngày 6 ựến ngày 8/6/1969 đại hội ựại biểu quốc dân ở miền Nam
ựã ựược triệu tập tại vùng Căn cứ Bắc Tây Ninh (rừng Tà Nốt huyện Tân Biên tỉnh Tây Ninh) Nhóm ký giả Anh và Pháp ựã từ Paris ựi Phnôm Pênh, sau ựó vào vùng giải phóng ựể chứng kiến đại hội ựã tường thuật về đại hội với hình ảnh nhạc sĩ Lưu Hữu Phước ựọc diễn văn, trình bày về việc thành lập một Chắnh phủ và thiết lập chế ựộ cộng hòa ở miền Nam Việt Nam1
đại hội nhất trắ thành lập Chắnh phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, gồm các thành viên:
1 Chủ tịch: Huỳnh Tấn Phát
2 Các Phó Chủ tịch: Phùng Văn Cung, Nguyễn Văn Kiết, Nguyễn đóa
3 Bộ trưởng Phủ Chủ tịch: Trần Bửu Kiếm
4 Bộ trưởng Bộ Quốc phòng: Trần Nam Trung
5 Bộ trưởng Bộ Ngoại giao: Nguyễn Thị Bình
6 Bộ trưởng Bộ Nội vụ: Phùng Văn Cung (Phó Chủ tịch kiêm chức)
7 Bộ trưởng Bộ Kinh tế Tài chắnh: Cao Văn Bổn
8 Bộ trưởng Bộ Thông tin Văn hoá: Lưu Hữu Phước
9 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Thanh niên: Nguyễn Văn Kiết (Phó Chủ tịch kiêm chức)
10 Bộ trưởng Bộ Thương binh và Xã hội: Dương Quỳnh Hoa
đại hội cũng bầu lên Hội ựồng cố vấn chắnh phủ ựược thành lập gồm:
− Chủ tịch: Nguyễn Hữu Thọ
− Phó Chủ tịch: Trịnh đình Thảo
− Các Ủy viên: Ybih Alêô, Thượng tọa Thắch đôn Hậu, Huỳnh Cương, Sư thúc Hòa Hảo Huỳnh Văn Trắ, Nguyễn Công Phương, Lâm Văn Tết, Võ Oanh, Giáo sư Lê Văn Giáp, Thiếu tá Huỳnh
1 Báo Cấp Tiến, Sài Gòn ngày 20-6-1969