1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giao thương ngầm giữa Quảng Châu và Huế một thương vụ bí ẩn về chiếc chuông đúc năm 1693

18 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 6,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết nghiên cứu giao thương ngầm giữa Quảng Châu và Huế một thương vụ bí ẩn về chiếc chuông đúc năm 1693 thông qua: Chiếc chuông [1693] dưới góc nhìn kỹ thuật; bài văn khắc; nhà sư Đại Sán và mối quan hệ thế tục; luận giải những lý do về chiếc chuông không được đưa ra khỏi Quảng Châu.

Trang 1

GIAO THƯƠNG NGẦM GIỮA QUẢNG CHÂU VÀ HUẾ MỘT THƯƠNG VỤ BÍ ẨN VỀ CHIẾC CHUÔNG

ĐÚC NĂM 1693(*)

Nguyên tác: Claudine Lombard-Salmon (**)

Người dịch: Phan Đăng Nữ (***)

Trong chuyến tham quan Bảo tàng Lịch sử tỉnh Quảng Đông ở thành phố Quảng Châu vào năm 2003, chúng tôi đã bị cuốn hút bởi hai chiếc chuông bằng đồng lớn, đặt tại sảnh của bảo tàng trên một bệ đúc xi-măng, không có lời chú thích nhưng trên thân chuông có văn khắc

– viên quan thanh tra vùng vào thời kỳ đó tặng cho am Trường Thọ (Changshou

các xưởng đúc của đội bảo vệ hàng hải thành phố đúc và có trọng lượng trên 1200

hình minh họa 2 và 3)

Chiếc chuông thứ hai nhẹ và nhỏ hơn, đặc biệt khiến chúng tôi băn khoăn

triều đại và niên hiệu ấy cũng không tồn tại ở đế chế Trung Hoa Tuy nhiên nội

(xem hình 4 và 5)

* Nguyên chú: Ở đây, chúng tôi muốn cảm ơn những chú thích của Mme Michèle Pirazzoli-t’Serstevens, Quý ông Nguyễn Thế Anh và Emmanuel Poison, nhằm giải thích những thắc mắc khi đọc bài báo này.

** Nguồn: “Opacité du commerce entre Canton et Hue Une mystérieuse affaire de cloche (1693)” Đăng

trong Bulletin de l’École française d’Extrême-Orient, Tome 92, 2005, pp 321-338 https://www.persee fr/doc/befeo0336-1519_2005_num_92_1_5988.

*** Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển.

**** Hầu hết các địa danh, nhân danh, sự kiện… trong bài đều được tác giả chua thêm chữ Hán và bính âm, chúng tôi thêm phần phiên âm Hán Việt để bạn đọc tiện theo dõi BBT.

TƯ LIỆU

Trang 2

Những người quản lý bảo tàng mà chúng tôi có thể hỏi đều không biết về lịch sử chiếc chuông thứ hai này Trong bài này chúng tôi cố gắng chứng minh rằng chiếc chuông thứ hai được mang đến am Trường Thọ, hoàn toàn giống chiếc chuông [thứ nhất] đúc năm 1607, chắc chắn vào thời điểm mà am đã bị phá hỏng Chúng tôi chưa tìm thấy những chỉ dẫn chính xác về vấn đề này Người ta không

màng nhắc đến am Trường Thọ nơi mà sư Thạch Liêm Đại Sán (Shilian Dashan

Huế, nơi ông dựa vào mối quan hệ [với nhà chúa] để tiến hành việc giao thương

Để làm sáng tỏ sự bí ẩn xung quanh chiếc chuông 1693, mặc dù được đúc theo yêu cầu của chúa Nguyễn nhưng dường như không bao giờ được đưa ra khỏi lãnh thổ Trung Hoa, chúng tôi sẽ nghiên cứu phần văn khắc, cố gắng xác định chủ nhân của nó và xem xét chiếc chuông thứ hai này có mối quan hệ thế nào với nhà

sư Thích Đại Sán Cuối cùng, chúng tôi muốn gợi lại bối cảnh chính trị, kinh tế cũng như ngoại thương ở Quảng Châu tại thời điểm đó để hiểu tại sao chiếc chuông này không thể đưa ra khỏi đất Trung Hoa Quá trình này buộc chúng tôi phải khảo cứu phân tích nguồn tư liệu văn khắc và thư tịch Việt Nam, vốn rời rạc hoặc mâu thuẫn với nguồn tư liệu Trung Hoa

Chiếc chuông [1693] dưới góc nhìn kỹ thuật

Chiếc chuông có tổng chiều cao khoảng 130cm, có quai (gọi là niu 鈕 hay

“cái núm” trong tiếng Trung Hoa) mang hình dáng con rồng hai đầu đầy uy lực (hình 6), cao hơn 20cm Đường kính miệng chuông tính ở đoạn hơi phình ra khoảng

70cm, ở vòm đỉnh chuông (tiếng Trung gọi là jianbu 肩部 [kiên bộ] “vai” chuông) khoảng 55cm và eo chuông (tiếng Trung gọi yaobu 腰部 [yêu bộ] “hông” chuông)

được chia đều thành bốn ô theo chiều dọc, ô này cách ô kia bằng một dải đường sọc đứng và kết thúc ở phần chân bằng một dải đường sọc ngang Ở những điểm giao nhau của các ô này được trang trí bằng bốn hình tròn đắp nổi, theo cách gọi

của người Trung Quốc là chung nguyệt (zhongyue 鐘月), xung quanh có những

đường viền nhỏ, là nơi để gióng chuông [vú chuông] Thân chuông ở phần đỉnh và phần miệng cũng được trang trí tao nhã với hai hàng hoa lá đắp nổi (hình 5 và 7) Người ta cũng nói đến một vài chỗ hư hỏng trong cái ô có bài văn khắc, mà có thể một phần do sự cố trong những lần vận chuyển, đây là một bằng chứng biểu hiện

sự hư hỏng về pháp khí thời Minh

Mặc dù không có chi tiết nào để xác định được tên tuổi thợ đúc hay là lò đúc nhưng từ phong cách cho đến kỹ thuật chạm khắc của chiếc chuông đang được đề

* Nguyên bản viết chữ Chu (Châu) có bộ thủy bên trái Tiếng Việt trong nguyên bản BBT.

Trang 3

cập khiến chúng tôi nghĩ rằng nó được đúc ở Quảng Châu (Canton) hoặc một nơi

đúc bằng sắt, chúng ít họa tiết trang trí, được chế tác theo phong cách Quảng Đông

Bài văn khắc

Bản văn khắc, gồm 44 ký tự phân bố đều theo năm hàng dọc, chữ viết chân phương, được thể hiện ở phần trên của một trong bốn ô trên thân chuông (hình 4),

lên những nét uốn lượn như để trang điểm cho phần đầu (đỉnh) và phần giữa của bốn ô chuông theo trục đứng, cũng như đỉnh và mép chuông cũng được khắc nổi

Kỹ thuật này được sử dụng phổ biến ở Trung Quốc từ đời nhà Đường (618-907), ít thấy được sử dụng ở Việt Nam – nơi phần lớn các bản khắc trên chuông đồng (chủ yếu xuất xứ từ Bắc Bộ) là các bản khắc lõm vào sau khi đúc

Nội dung bài văn khắc:

正和十四年歲次癸酉十月古旦 傳臨濟正宗等

三十三世孫沙門 元燈贈南皇國師奉

Vào ngày tốt tháng Mười năm thứ 14, Quý Dậu, niên hiệu Chính Hòa.

Bản sư đệ tử đời thứ ba mươi ba dòng Lâm Tế chính tông, [vị truyền thừa] ngọn đuốc khởi nguyên [ở Quảng Nam], (7) đã nhận phẩm vị Nam Hoàng Quốc sư hay “Quốc sư Nam quốc”, được

lệnh đúc [chuông] dưới sự giám sát của bà quốc nhũ Nguyễn Thị Đạo.

Nội dung bài văn khắc này khác với bài văn khắc của chiếc chuông đúc năm

1607, là khá vắn tắt Tên của chủ nhân cũng như tên của vị chúa đang trị vì, và cả tên thí chủ cũng không được đề cập rõ ràng Trọng lượng của pháp khí càng không được nhắc đến Sự mập mờ này có thể lý giải sự việc rằng chiếc chuông đặc biệt được đưa đến một đất nước mà vị quốc chủ là người không chính thống theo quan điểm nhà Thanh Trung Quốc Trước hết, chúng tôi cố gắng xác định vị tăng đồ nào

đã nhận phẩm hàm này

* Tức kỹ thuật đúc nổi bằng sáp ong trong khuôn đất khép kín BBT.

** Nhà nghiên cứu Trần Đại Vinh phiên âm và dịch nghĩa như sau: “Chính Hòa thập tứ niên tuế thứ Quý Dậu, thập nguyệt cát đán Truyền Lâm Tế chính tông đẳng tam thập tam thế tôn sa môn Nguyên Đăng tặng Nam Hoàng Quốc sư phụng mệnh tạo chú kiêm lý quốc nhũ Nguyễn Thị Đạo” (Chính Hòa năm

thứ 14 Ngày lành tháng Mười năm Quý Dậu (1693) Dòng Lâm Tế chính tông, cháu đời thứ 33, sa môn Nguyên Đăng tặng Nam Hoàng Quốc sư vâng mệnh đúc và coi sóc Quốc nhũ Nguyễn Thị Đạo) BBT.

Trang 4

“Vị Quốc sư nước Nam này” là ai ?

Người ta chỉ biết rằng phái Lâm Tế do một nhà sư Trung Quốc truyền vào

[xứ Đàng Trong] thời các chúa Nguyễn, danh xưng ngài là Tạ Nguyên Thiều (Xie

Yuanshao 謝元韶), tự Hoán Bích (Huanbi 煥碧), pháp hiệu Siêu Bạch (Chaobai

đã hạ bút viết bài văn khắc trên chuông

Từ phía Việt Nam, thông qua ít nhất bốn tư liệu liên quan về cuộc đời của ngài cho chúng ta biết rõ hành trạng của ngài Tài liệu xưa nhất có thể là tấm bia

ngài (xem hình 1) Trong chuyến điền dã vào năm 1914, nhà truyền giáo Cadière cho biết, ngôi mộ này ở Huế, “cách 1,5km về phía tây nam [đàn] Nam Giao, ở bìa

Cadière cũng lưu ý, văn bia đề năm Nhâm Tý tức là có thể vào năm 1732, hoặc

giả thiết, hoặc là ngôi mộ được xây dựng trong khoảng thời gian sau khi ngài viên tịch, hoặc nó đã được trùng tu, điều này có thể giải thích sự mâu thuẫn của bia mộ

mà chúng tôi muốn nói đến

Nội dung của văn bia, khoảng 14 dòng, chỉ đọc được một phần vào năm 1914

bài văn bia tại tháp mộ thành một tấm bia mới, được phát hiện vào thập niên 1960

khảo cứu, thật may mắn là nó tái hiện nội dung văn bia [cũ] Bài văn bia đã đặt ra một vấn đề cần lưu ý, bởi nó xem như được thảo sau khi Tạ Nguyên Thiều viên

1728, nhưng chúa Nguyễn Phúc Châu đã mất năm 1725! Vì vậy, dường như có một

sự nhầm lẫn giữa các chúa; nếu ngài Nguyên Thiều thực sự mất giữa năm 1728

Người ta không thể xác định được liệu bài văn bia ở tháp mộ hay là bản sao chép

* Đúng là Hạnh Đoan Nguyên văn bia mộ như sau: “Sắc tứ Quốc Ân đường thượng Lâm Tế húy Nguyên Thiều Thọ Tôn thụy Hạnh Đoan lão hòa thượng chi tháp - Nhâm Tý niên thập nhị nguyệt cát nhật” Nhà nghiên cứu Lê Nguyễn Lưu suy đoán Nhăm Tý có thể là năm 1792 Xem thêm Tạp chí NC&PT, số

8/2017, chuyên đề Tuyển dịch văn bia chùa Huế, tập 1, tr 92-93 BBT.

** Tức hòa thượng Liễu Chơn Từ Hiếu (1813-1890), trú trì chùa Quốc Ân từ năm 1882 Do sự vận động của sư, hai bà Thái hậu Từ Dũ, Trang Ý và hai công chúa Lại Đức, Quy Đức cúng tiền bạc để mua ruộng, đúc tượng; sư nhân đó sao chép, khắc lại văn bia tháp mộ ngài Nguyên Thiều và dựng tại chùa Quốc Ân Cadière đã khảo sát tấm bia này từ năm 1914 BBT.

*** Nguyên bản ghi tiếng Việt là Chu, chúng tôi chỉnh lại như trên Chúa Nguyễn Phúc Chú nay quen đọc

là Nguyễn Phúc Thụ BBT.

Trang 5

* Đúng là năm Ất Tỵ BBT.

** Nguyên văn chữ Hán (phiên âm): Tịch tịch kính vô ảnh/ Minh minh châu bất dung/ Đường đường vật phi vật/ Liêu liêu không vật không (Lặng lặng gương không bóng/ Ngời ngời ngọc khó trông/ Rành rành vật chẳng vật/ Mịt mịt không nào không) Xem Lê Nguyễn Lưu, Tuyển dịch văn bia chùa Huế, Tạp chí

đã dẫn, tr 95.

ở chùa Quốc Ân đã được dùng làm cơ sở cho các tác giả của Đại Nam liệt truyện

tiền biên 大南列傳前编 (biên soạn từ 1841-1852 và xuất bản 1889), cũng như Đại

Nam nhất thống chí 大南一統志 (địa lý Hoàng triều biên soạn từ 1865-1882) Một điều chắc chắn, những công trình sao chép này có sự nhầm lẫn tương tự nhau, năm khắc văn bia của Minh Vương hoặc là năm mất của nhà sư Tất cả những điều này chứng minh rằng phải rất thận trọng về cách ghi ngày tháng khi chúng ta sử dụng nguồn tư liệu nhà Nguyễn

Gaspardone, có thể là người không biết đến bia ký cũng như bài báo của Cadière, trong nghiên cứu của ông về các nhà sư đời Minh lánh nạn tại An Nam, đã

được đưa vào Liệt truyện như đã nêu ở trên, có chú thích trong bản chữ Hán và

Ở tuổi 19, ngài xuất gia ở Báo Tư tự (Pao-tseu sseu 報咨寺) và trở thành đệ tử của hòa thượng Khoáng Viên (K’ouang-yuan 曠圓) Năm vua Thái-tôn 太宗 thứ 17(16) [1665], kỷ-sửu,(*)

Nguyên Thiều đến xứ Đàng Trong bằng thuyền buôn Trú ở phủ Qui-ninh 歸寜, dựng chùa A Di Đà Thập Tháp 十塔彌坨寺 và truyền đạo(17) rộng khắp Sau đó, ngài đến núi Phú-xuân 富春, ở Thuận-hóa 順化 (phủ Thừa-thiên 承天 ngày nay), lập chùa Quốc Ân 國恩寺 và dựng tháp Phổ-đồng 普

同塔 (18) Sau đó, ngài vâng lệnh vua Anh-tôn 英宗 (19) đến Quảng Châu (Kuang-tong) để thỉnh ngài hòa thượng Thạch Liêm (Che-lien 石濂) và tìm một số linh ảnh và pháp khí thờ cúng Sau khi trở

về, ngài nhận chiếu vua làm trú trì chùa Hà-trung 河中寺.(20) Sau một thời gian lâm bệnh, trước khi mất ngài triệu tập các vị tăng sinh để trao truyền mật pháp, và hạ bút viết bài kệ rằng:(**)

Tĩnh lặng như gương không ảnh, Sáng như ngọc vô hình.

Uy nghiêm là thể tính vô dạng, Tịch mịch là khoảng không hư vô.

Sau khi viết xong, không khí ảm đạm và u buồn, ngài thị tịch, hưởng thọ 81 tuổi(…) (21)

Sau đây, chúng tôi đề cập ba vấn đề đáng quan tâm nhất Trước hết, mốc thời gian 1665 là thời điểm Tạ Nguyên Thiều rời Trung Quốc, cho phép Gaspardone

của Tạ đến Quảng Đông, để mời sư Đại Sán, trong chuyện này đã gợi cho chúng

ta những chi tiết bên dưới Cuối cùng, khảo cứu về linh ảnh và pháp khí thờ cúng Ngoài ra, chúng tôi không có những chỉ dẫn khác chính xác hơn liên quan đến công

Trang 6

tác sưu tầm này, liệu có tồn tại chính xác điều bí ẩn về chiếc chuông ? Nó không bao giờ được gởi đi và thời gian đề trên chuông hoàn toàn không trùng khớp với

Vấn đề vai trò của Tạ Nguyên Thiều khi đi mời sư trú trì am Trường Thọ còn những điều rất tế nhị Sư Đại Sán không hề đề cập gì trong bài viết của mình về tên của Tạ Nguyên Thiều; nhưng cần xác định ở đây là, một cách chung, vẫn còn nhiều cẩn trọng giữa những người liên quan đến các nhà sư đời Minh tỵ nạn ở An Nam, những người theo sư Đại Sán đến truyền đạo ở An Nam, khoảng một trăm vị đến

chế theo ảnh chụp kèm theo bảng phụ lục bằng tiếng Việt trong Haiwai Jishi [Hải

ngoại kỷ sự], mà trong bảng này không xác định nội dung sao chép, người ta chỉ đề

cập đến chuyến du hành của Tạ đến Quảng Châu, bản dịch đã nêu:

Thiền sư Hoán Bích, ngài Nguyên Thiều ở chùa Hà Trung, vâng lệnh Nghĩa Vương 義王

(Nguyễn Phúc Trăn) đến Quảng Đông để thỉnh hòa thượng Đại Sán.(25)

Tiểu sử tiếng Việt của Đại Sán trong Đại Nam liệt truyện cũng do Gaspardone

dịch nghĩa, ghi chép nhiều hơn về hai nhà sư cùng du hành đến Đàng Trong và nhận định rằng Đại Sán đã lưu trú ở Quảng Nam (Guangnan) vừa là dưới triều đại

Trong khi đó vua Anh-tôn đã nhờ Tạ Nguyên Thiều đến phương Đông để tìm các vị cao tăng, [nhà vua] nghe Thạch Liêm am hiểu sâu sắc về thiền.(27) Ngài [Nguyên Thiều] đã đi mời

sư [Thạch Liêm], Thạch Liêm thuận lòng, và cùng ngài vượt biển đến Đàng Trong Sư lưu trú ở Thiên-mẫu tự 天姥寺, Hiển-tôn 顯宗 thường mời sư vào trao đổi về thiền (…).

Những khẳng định này bất đồng với nguồn tư liệu Trung Quốc Theo trần

nữa, sư Đại Sán xác nhận lá thư thứ ba do những người gốc Phúc Kiến (Minren

của họ Do vậy, người ta chỉ đề cập các thương gia đến từ Quảng Nam sang Nhật

Bản mà trong đó Trần Kinh Hòa (Chen Chinghe) đã tìm thấy danh tính họ trong

những mật sứ này, cũng có thể do sư cẩn thận đề phòng Sư cũng không nói gì thêm về phương cách lá thư thứ hai được chuyển đến Niên đại (1693) được khắc trên chuông như gợi cho chúng ta nghĩ đến Tạ Nguyên Thiều đã mang theo bức thư đầu tiên, một trong hai bức thư của Nguyễn Phúc Châu, sau thư của Nguyễn Phúc Trăn, mời sư [Đại Sán] đến theo phong tục người Việt Nam Giả thiết này có một ưu điểm là có thể thiết lập mối tương quan giữa việc đề nghị đúc chuông, ban phát pháp khí và tượng Phật Tuy nhiên chúng ta vẫn còn mù mờ thời gian mà ngài Nguyên Thiều quay trở lại triều đình chúa Nguyễn [ở Đàng Trong]

Trang 7

Hơn nữa, người ta có thể thắc mắc sau khi sư Đại Sán không sang [Đàng Trong], sau lá thư đầu – một trong hai thư mời của Nguyễn Phúc Châu – người

năm 1694 Như vậy khi thư thứ hai của chúa đề năm 1694, Quả Hoằng, một khoảng

Đại Sán cho chúng ta biết rằng trong chuyến đến Huế của sư, sư không chỉ ở chùa Thiên Mẫu, một trong những ngôi chùa cổ nhất (liệu đó có phải là ngôi chùa

cổ nhất kinh đô như ngài đã nói trong Đại Nam liệt truyện ?) mà còn ở chùa Thiền

quay về Quảng Đông, sư đã nhiều lần lưu trú tại chùa Thiên Mẫu nơi mà bài vị

hành trạng của một vị sư Trung Hoa mà chính ngài đã tổ chức một đại giới đàn Vào năm 1710, chúa Nguyễn Phúc Châu cho đúc một chiếc chuông bằng đồng,

trùng tu chùa, Nguyễn Phúc Châu có đề cập đến sự việc mời sư Đại Sán đến truyền giáo tại đây.(38)

Trong thời gian sống ở xứ Đàng Trong, đại sư được giúp đỡ bởi đệ tử Quả

và gây dựng chùa Thiên Mẫu

Cuối cùng, trước khi vĩnh viễn rời An Nam và quay lại Hội An nơi mà sư lên

giữa sông”, nơi mà đã nói ở trên, Tạ Nguyên Thiều đang làm trú trì sau chuyến đi Trung Quốc trở về Điều này chỉ ra rằng sư Đại Sán thật sự có liên quan mật thiết với ngôi chùa sau này Tuy nhiên, sư không hé một lời về cuộc gặp gỡ này Phía khác, sư mô tả sự đón tiếp trang trọng, bằng một hồi chuông trống khi sư đến chùa Tam Thai, tháp tùng chúa Nguyễn Phúc Châu; đầy kinh ngạc với ngôi chùa sau, nằm giữa dòng sông, sư liên tưởng đến khu vườn trên đảo huyền diệu Bồng Lai

Vào cuối đời nhà Minh, nhà Thanh thống trị nước Trung Hoa Ngài khước từ phụng sự nhà Thanh vì đạo nghĩa Ngài lạy mẹ già, rồi xuống tóc, xuất gia Ngài đã từng thăm viếng nhiều cảnh đẹp nổi tiếng (…).

Trang 8

Cố nhiên, ở Trung Quốc đời nhà Thanh sự việc liên quan đến sư Đại Sán được

nhiều tư liệu mô tả Trong những năm 30 của thế kỷ XX, Uông Diêu Dong (Wang

Yaoyong 汪姚鏞), sau khi đọc lại tập thơ Ly lục đường tập (Li liu tang ji 離六堂集)

định rằng tác giả tập thơ này là “một trong những thân binh của triều đại bại vong”

trung nghiên cứu chi tiết mối quan hệ mật thiết giữa sư Đại Sán với những người

Điều này đã kéo Đại Sán lại gần với Tạ Nguyên Thiều Hơn nữa, Jiang Boqin cũng chứng minh rằng Đại Sán đã xây dựng, phía sau Trường Thọ am, một tòa nhà gọi

Bản lược khảo này cho thấy một vài liên hệ giữa Tạ Nguyên Thiều với Đại Sán không có gì phức tạp, không có mâu thuẫn Tuy vậy, Cadière vẫn đặt ra vấn

đề, sau chuyến trở về từ Trung Quốc, Tạ Nguyên Thiều, thay vì trở lại trú trì chùa Quốc Ân, lại bị đưa đi coi sóc một ngôi chùa ở ngoại vi, và Cadière cũng thấy thắc mắc liệu có đơn giản vì bị thất sủng.(48)

Tiếp theo, chúng tôi sẽ cố gắng tìm hiểu xem tại sao chiếc chuông không được gởi đi và cuối cùng sự việc bị rơi vào lãng quên trong khi nó vẫn tồn tại cho đến ngày nay

Tình hình kinh tế và chính trị ở Quảng Châu trong những năm 1680-1690

Năm 1683 nhà Thanh chiếm Đài Loan và năm sau Hoàng đế Khang Hy đã

thực hiện nhiều chính sách để ngăn ngừa quân Trịnh (Zheng 鄭) nổi dậy Năm

1685, nha quan thuế được thành lập ở Quảng Châu Điều này có nghĩa là kể từ nay thương gia Quảng Đông, cũng như thương gia Phúc Kiến có thể trở lại giao thương

và những di dân người Minh đến cảng Nanyang [Nam Dương], nơi đây không còn nguy hiểm, nên họ lại mở ra các hoạt động thương mại dưới sự quản lý của các tỉnh ven biển Trung Quốc Trên thực tế, sự cho phép giao dịch này cũng được áp dụng ở cảng Guangnan [Quảng Nam] do tàu thuyền nhà Thanh ngày càng gia tăng

và phát triển thương mại.(50)

Ngược lại, việc xuất khẩu các sản phẩm “mang tính chiến lược” như vũ khí, sắt, đồng, vàng và đạn dược luôn luôn bị nghiêm cấm Nếu việc khai thác khoáng sản quặng đồng gần như chỉ bán cho những cơ sở sản xuất tư nhân vào năm 1684

và nếu nghề đúc đồ sắt được tự do thì điều đó cũng đã chấm dứt sau thời kỳ của gia

tộc họ Shang 尚 ở Quảng Đông năm 1680, thì việc xuất khẩu kim loại này cũng

Trang 9

như tất cả những đồ dùng bằng chất liệu này theo luật lệ đều bị nhà chức trách kiểm

Tuy nhiên, hàng lậu vẫn tồn tại và nhiều sản phẩm bằng sắt thuộc diện quản

lý đã xuất hiện ngay sau khi triều đình chấm dứt việc bế quan tỏa cảng Người ta ghi nhận rằng, đời Thanh chiếc chuông bằng sắt đầu tiên được đúc tại lò đúc của Phật Sơn [Foshan] được gửi đến Hội An vào năm 1688 và chiếc lư hương đầu tiên

khí đồng thau và đồng đỏ cũng khó thông quan tại các cảng Trung Quốc Chúng hiếm có ở Đông Nam Á cho đến đầu thế kỷ XIX Nói chung người ta quan tâm đến

của chúng tôi, tất cả những chiếc chuông bằng đồng đỏ đều tập trung tại các ngôi

khác hơn bởi dưới thời Tây Sơn (1771-1802), những pháp khí thờ cúng bằng đồng

đỏ, những chiếc chuông được thỉnh để gây quỹ, đó là cái nhìn chủ quan của chúng

có mỏ đồng, mà đồng được nước ngoài cung cấp, nhất là từ Nhật Bản, còn những chiếc chuông và những khẩu đại pháo được đúc tại chỗ

Ở Trung Quốc, một số nước triều cống có thể phải làm đơn tấu trình để xin mua đồng Như trường hợp đặc biệt ở nước Xiêm La [Siam] dưới thời Hoàng đế Càn Long (1736), xin mua đồng để xây dựng một ngôi chùa Do lệnh cấm mua bán loại kim khí này, các nhà chức trách Trung Quốc đã bằng lòng đề tặng “800 livres”

được ân huệ đó, bởi họ bị xem như là kẻ cướp quyền tiếm vị, dưới cái nhìn của nhà

Lê cũng như nhà Thanh và do vậy mà chúa không có được mối quan hệ ngoại giao cũng như thương mại chính thức Tuy nhiên, trong văn khố Trung Quốc, chúng tôi cũng sưu tập được tư liệu minh họa của “Guangnanguo’’ [Quảng Nam quốc] để chứng minh rằng triều đình Mãn Châu tán đồng sự đền ơn của nhà Nguyễn Điều này tuy vậy chưa phải là yếu tố cốt lõi của việc phát triển giao thương giữa hai nước vốn bị trở ngại bởi chủ trương hạn chế lĩnh vực tư nhân hóa, mà chính lĩnh vực rộng lớn này lại nằm trong tay người Hoa

Vấn đề mà chúng ta cần rà soát là vai trò của sư Đại Sán trong giao dịch thương mại này

Nhà sư Đại Sán và mối quan hệ thế tục

Đại Sán đã rất cẩn mật trong việc chuẩn bị cho chuyến đi truyền đạo, như mọi người đã biết ngài có hàng trăm môn đồ và có một lượng hành lý rất đáng kể

Trang 10

Tuy nhiên, ngay thời điểm ra đi, sau khi chọn thuyền trưởng, sư quyết định để lại

Sán muốn nói đến những pháp khí được mang đi từ Trung Quốc, một trong những món đồ ấy bao gồm 1 chiếc chuông và khánh mà sau này nó được treo ở chùa

chuyến du hành phương Nam và tập trung tiền bạc mà sư quyên góp được ở Đàng

tin này được chúng tôi trích từ thư buộc tội công khai trong cuốn Cứu cuồng biêm

ngữ (Jiu kuang bianyu 救狂砭語), xuất bản năm 1699 do Phan Lỗi (Pan Lei 潘耒)

tranh chấp tàn bạo Sư thấy hối tiếc chuyến du hành của mình đến một đất nước xa xôi vì Trung Quốc, tầm ảnh hưởng của sư trong đời sống chính trị ở đất nước nhỏ

bé này không còn được trọng thị, và dù công việc giao dịch buôn bán vốn không phải là chức trách của một tu sĩ, sư cũng đã tiếp cận với tín đồ để tạo ra món lợi khổng lồ bằng việc mua tại chỗ những món đồ vật đúng giá và sư đã bán những món đồ mang đi từ Trung Quốc với giá quá đắt, thậm chí cả những hàng hóa cấm

Đại Sán bị xử tội vào năm 1702, chịu một trận đòn roi, trước khi bị trục xuất khỏi

Phúc Châu gởi hai mật sứ đi tàu Xiêm La đến Quảng Châu để diện kiến các quan chức nhà Thanh kèm theo một bức thư mà trong nội dung chúa muốn hỏi đến việc

Luận giải những lý do về chiếc chuông không được đưa ra khỏi Quảng Châu

Từ tình hình nêu trên, thật khó có một ý tưởng rõ ràng về nguyên nhân chiếc chuông không được gởi đến An Nam Chỉ là những giả thiết được đưa ra trước đó Chúng ta có thể hiểu rằng Nguyên Thiều phải rời khỏi Quảng Châu mà không thể mang theo chiếc chuông, hoặc vì nó chưa hoàn thành, hoặc là ngài còn có những hành lý khác quá nặng - chiếc chuông cân nặng khoảng 1000 livres, hoặc là nha quan thuế cấm xuất khẩu, vì vậy ngài Nguyên Thiều đã quyết định tạm thời gởi lại chiếc chuông ở am Trường Thọ, một ngôi chùa ngài từng có quan hệ, với hy vọng các vị tăng sĩ ở đây sẽ tìm cách gởi nó sau đó Sự việc mà ngài Nguyên Thiều không thể thực hiện, cũng như không hoàn thành sứ mệnh gởi thông điệp hoằng pháp đến sư Đại Sán, và cũng không mang theo chiếc chuông, vì những lý do

ấy, theo suy đoán của Cadière, Nguyên Thiều đã không được trọng thị khi trở về [Đàng Trong]

Ngày đăng: 12/05/2021, 19:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w