1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Giáo trình Dẫn luận thi pháp học: Phần 2 - Trần Đình Sử

73 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo trình Dẫn luận thi pháp học - Phần 2 trình bày về: các kiểu tác giả, tính quan niệm và cấu trúc thể loại, cấu trúc và tính quan niệm của truyện, cấu trúc văn bản trần thuật, ngôn từ nghệ thuật được tóm lược trong những chương còn lại sẽ giúp người học nắm bắt nội dung một cách dễ dàng.

Trang 1

Chương VI TáC GIả Và KIểU TáC GIả

I - KHáI NIệm TáC giả NHƯ MộT PHạM TRù CủA thi pháp

1 "Tác giả" cũng như "tác phẩm" là những khái niệm cơ bản, được sử dụng nhiều nhất

trong lịch sử văn học và phê bình văn học, tiếc thay, lại ít được nghiên cứu Có thể nói lý luận về tác phẩm và tác giả đang trong giai đoạn xây dựng và cho đến nay chưa có một lý luận có đầy đủ cơ sở về hai khái niệm này

Tác giả là người làm ra tác phẩm Tác phẩm không tự nó xuất hiện tất phải do tác giả làm

ra Thông thường ta nói tới hai dạng tác giả : khi nói "tác giả dân gian", "tác giả cổ tích, " thực chất là nói tập thể tác giả trong dân gian đã kế tiếp nhau sáng tác và lưu truyền các tác phẩm dân gian mà ta không thể quy về cho riêng ai Thông thường hơn là nói tới tác giả văn học viết, có tên họ, quê quán, hành trạng Ví như nói Khuất Nguyên, Khổng Tử, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du Tác giả này xuất hiện vào giai đoạn mà các sáng tạo về tư tưởng, văn học, triết học, khoa học, có xu hướng cá thể hoá Hiện tượng này xuất hiện khi có văn tự, một thời điểm của lịch trình tiến hoá văn học,

Tuy nhiên, kể từ khi gắn tác giả với khái niệm thiên tài, kẻ sáng tạo ra quy tắc của cái đẹp thì khái niệm tác giả nhiều khi được thần thánh hoá, xem như một nhà tiên tri, một vị thần toàn năng sáng thế, một siêu nhân, một kẻ đặc quyền được Thượng đế gửi gắm, là ông thầy của cuộc đời ! Đó là cội nguồn của tác giả độc thoại Sự hiện diện của sáng tác dân gian cho phép xác nhận không cần phải quá đề cao tác giả Bakhtin với quan niệm tiểu thuyết đa thanh đã đưa tác giả xuống vị trí người đối thoại Chủ nghĩa hậu hiện đại lại đang hoài nghi

vị thế của tác giả Theo tác giả Mỹ W Spanos thì tác giả cũng chỉ là một người bình thường, phổ thông mà thôi

Sự phát triển của ký hiệu học và mặt khác là sự gia tăng vai trò sáng tạo của người đọc trong đời sống văn hoá đã dẫn đến hiện tượng mà một số người tuyên bố tác giả đã chết, tác phẩm chỉ còn là cái cớ để người đọc tự do giải mã, tự do rót vào đó cái nội dung của mình, tựa như một bản ký âm mà nhạc công có thể diễn tấu theo hứng thú của mình Umbertô Eco

trong tác phẩm Lời nói thêm về "Tên của hoa hồng" nói : "Khi hoàn thành tác phẩm thì tác

giả nên chết đi để khỏi làm nghẽn đường đến với văn bản" Roland Barthes lại nói : "Sự nảy sinh của người đọc phải dựa trên tiền đề cái chết của tác giả" Jacque Derrida thì khẳng định : "Văn bản là tất cả, ngoài văn bản ra thì không có gì hết" Michel Foucault trong tiểu luận

Tác giả là gì ? cho rằng cần phải xoá bỏ vai trò sáng tạo chủ đề của nhà văn Chỉ nên phân

tích anh ta từ phía chức năng của một diễn ngôn phức tạp và nhiều biến hoá mà thôi Ông tiên đoán : "Song song với sự biến hoá không ngừng của xã hội, chức năng tác giả vốn được

Trang 2

ngoại hiện vào một khoảnh khắc của quá trình ấy sẽ biến mất"( )1 Theo ông, tác giả chẳng qua là "một biện pháp dùng để ngăn trở sự tự do hư cấu, tự do chi phối và cấu tạo lại tác phẩm mà thôi" Một khi các quy ước ấy thay đổi thì tác giả cũng như một người đọc

Thực ra sự đọc sáng tạo của người đọc có thể mở ra những cách giải thích ý nghĩa khác nhau, nhưng không làm biến mất văn bản và khách thể thẩm mỹ ở trong ấy, và do đó không xoá bỏ được yếu tố tác giả như là người tham gia sự kiện nghệ thuật qua tác phẩm Tác giả

là trung tâm tổ chức nội dung và hình thức cái nhìn nghệ thuật trong tác phẩm, là người mang cảm quan thế giới đặc thù và là trung tâm tổ chức lại ngôn từ theo nguyên tắc nghệ thuật( )2 Do vậy, hình tượng tác giả, kiểu tác giả là những phạm trù của thi pháp học hiện

đại

Khi nói tới hình tượng tác giả cũng cần phân biệt với nhân vật và người kể chuyện tác phẩm Các nhà lý luận hiện đại đã khẳng định, người phát ngôn trong tác phẩm văn học không được đánh đồng với tác giả Tác giả không được đứng ra trực tiếp kể chuyện mà cần phải có người kể hộ Do đó, hình tượng tác giả không phải là hình tượng người kể chuyện,

mà là một con người do bạn đọc quy nạp, suy ra từ trong tác phẩm

2 Từ xa xưa người ta đã biết đến nguyên tắc "Văn như con người" (Văn như kỳ nhân) từ

đời Tùy, Đường, Tống (từ thế kỷ VII ở Trung Quốc), và "Phong cách, ấy là con người" (thế

kỷ XVIII ở phương Tây, Buffon) Tuy nhiên, tác giả như là một phạm trù thi pháp thì người

ta biết rất muộn

Cần phân biệt tác giả tiểu sử như một khái niệm ngoài thi pháp Đó là tác giả có tên họ,

quê quán, thời gian sống và hành trạng, góp phần soi sáng cho các khía cạnh tư tưởng, tâm

lý trong tác phẩm, là người nắm tác quyền về mặt pháp lý Tuy nhiên, tác giả tiểu sử là khái niệm nhiều khi rất khó xác định Như ai là dịch giả Chinh phụ ngâm hiện hành, ai là tác giả

thực của một số thơ Hồ Xuân Hương ? Trường hợp khuyết danh rõ ràng là không xác định

được tác giả tiểu sử Tác giả ư nhà tư tưởng xã hội và thẩm mỹ cũng là một phạm trù ngoài

thi pháp Đây là tác giả mà lịch sử văn học thường quan tâm đánh giá Chẳng hạn, nói :

"Tônxtôi lánh xa phong trào tư tưởng tiên tiến của thời đại, bởi ông mang nặng các định kiến quý tộc gia trưởng Nga" (B Buốcxốp) hoặc : "Nguyễn Du một mặt vẫn kế thừa truyền thống, mặt khác lại phá vỡ truyền thống để đi đến chủ nghĩa hiện thực, nhưng rốt cuộc Nguyễn Du vẫn dừng lại trước ngưỡng cửa của chủ nghĩa hiện thực chứ chưa đi được vào quỹ đạo của nó" (Nguyễn Lộc)

Hình tượng tác giả hiện hình trong tác phẩm mới là phạm trù của thi pháp học

Hình tượng tác giả cũng là một hình tượng được sáng tạo ra trong tác phẩm, như hình tượng nhân vật, nhưng theo một nguyên tắc khác Nếu hình tượng nhân vật xây dựng theo nguyên tắc hư cấu, được miêu tả theo một quan niệm nghệ thuật về con người và theo tính cách nhân vật, thì hình tượng tác giả được thể hiện theo nguyên tắc tự biểu hiện sự cảm nhận

(1) M Foucault, Tác giả là gì trong sách Văn hoá và mỹ học của chủ nghĩa hậu hiện đại, Bắc Kinh, 1993 (2) M Bakhtin, Vấn đề tác giả trong sách Mỹ học của sáng tạo ngôn từ, Mátxcơva, 1979, tr 162 Xem thêm :

A Chichêrin, Hình tượng tác giả trong "Chiến tranh và hòa bình" trong sách Nhịp điệu của hình tượng,

Mátxcơva, 1980

Trang 3

và thái độ thẩm mỹ đối với thế giới xung quanh Trong giao tiếp người ta có nhu cầu tự biểu hiện mình với người đối thoại như là người uyên bác, hào phóng, hiếu khách, giàu lòng đồng cảm, v.v theo những yêu cầu tiến bộ của xã hội Cũng vậy, trong văn học các nhà văn thường biểu hiện mình như người phát hiện, người khám phá cái mới, người có nhãn quan cấp tiến, có cá tính nghệ sĩ, v.v Điều đó đã trở thành yêu cầu quy ước đối với người đọc L.Tônxtôi từng nói, nếu trước mắt ta là một tác giả mới, thì câu hỏi tự nhiên đặt ra là liệu anh ta có thể nói điều gì mới đối với người đọc ? L.Tônxtôi còn nói khi đọc tác phẩm văn học, hứng thú chủ yếu chính là tính cách của tác giả thể hiện trong đó Nếu một nhà văn không có gì mới, không có gì riêng thì có thể nói anh ta không phải là một tác giả đáng để chú ý

Hình tượng tác giả là cái được biểu hiện ra trong tác phẩm một cách đặc biệt Nhà thơ Đức I.W Goethe nhận xét : mỗi nhà văn, bất kể muốn hay không, đều miêu tả chính mình trong tác phẩm của mình một cách đặc biệt Có nghĩa là cái tôi nghệ sĩ của nhà văn biểu hiện cảm nhận của mình về thế giới, cách suy nghĩ và ngôn ngữ, cách diễn đạt của mình Cảm nhận đó trở thành trung tâm tổ chức tác phẩm, tạo thành sự thống nhất nội tại của tác phẩm, và đó cũng

là sự thống nhất của tác phẩm về mặt phong cách học

Viện sĩ Nga V.Vinôgrađốp trong rất nhiều công trình khẳng định hình tượng tác giả là cơ

sở, là trung tâm của phong cách ngôn ngữ( )1 A Chichêrin cũng cho rằng hình tượng tác giả

được sáng tạo ra như hình tượng nhân vật Đây là sự chân thật nghệ thuật, không phải là chân lý của sự kiện, mà là chân lý của ý nghĩa, tư duy, như chân lý của thi ca( )2

Vấn đề hình tượng tác giả không chỉ là sự phản ánh cái tôi tác giả vào tác phẩm, thể hiện tương quan giữa người sáng tạo ra văn học và bản thân văn học, mà còn là vấn đề của cấu trúc nghệ thuật, sự thể hiện của chủ thể ở đây Vinôgrađốp hiểu vấn đề có phần hạn hẹp : hình tượng tác giả trong hình tượng chủ thể của ngôn từ, là hình thức tổ chức ngôn từ Ông tách lớp ngôn từ "tác giả" khỏi ngôn từ "nhân vật" M Bakhtin hiểu vấn đề có hơi khác hơn

Ông không tán thành gọi sự biểu hiện tác giả là hình tượng tác giả vì sợ lẫn lộn Nhân vật thuộc một không ư thời gian, còn tác giả thuộc một không ư thời gian khác, bao quát và cảm thụ không ư thời gian nhân vật Tác giả nhập vào rồi thoát ra khỏi không ư thời gian nhân vật Tác giả nằm ngoài thế giới nhân vật, đúng hơn là tiếp giáp với mặt ngoài của biểu hiện nhân vật Tác giả nên ở trên đường ranh giới của thế giới do anh ta sáng tạo, lập trường của tác giả có thể xác định qua cách mà anh ta miêu tả bề ngoài của thế giới đó( )3 Như vậy, tác giả hiện diện tại hình thức tác phẩm như là một nguyên tắc thẩm mỹ tạo hình cho thế giới nghệ thuật Chỗ khác ông khẳng định tác giả hiện diện như một điểm nhìn, cái nhìn( )4 Toàn

bộ công trình Những vấn đề thi pháp Đốtxtôiépxki của Bakhtin dành để nghiên cứu

Đốtxtôiépxki với tư cách là nhà nghệ sĩ, nghiên cứu hình thức cái nhìn của nhà văn( )5

(1) V.Vinôgrađốp, Vấn đề tác giả và lý thuyết phong cách, Mátxcơva, 1961 Về lý thuyết ngôn từ nghệ thuật, Mátxcơva, 1971 M Brandes, Phân tích phong cách học, Mátxcơva, 1971

(2) A Chichêrin, Nhịp điệu của hình tượng, Mátxcơva, 1980, tr 281

(1) M Bakhtin, Mỹ học của sáng tạo ngôn từ, Sđd, tr 14 - 15, 166

(2) M Bakhtin, Những vấn đề văn học và mỹ học, Sđd, tr 311

(3) M Bakhtin, Những vấn đề thi pháp Đốtxtôiépxki, Sđd, 1998

Trang 4

L Ghindơbua nghiên cứu tác giả trong thơ trữ tình và nhìn thấy nhà thơ thường xuyên hình dung về mình, tự giới thiệu về mình Chichêrin, Bonexkaia thấy tác giả còn biểu hiện qua nhân vật, do đó vẫn có thể gọi là hình tượng tác giả Nhà lý luận văn học Mỹ

W Booth thì gọi là "tác giả hàm ẩn( )1" xem đó là cái tôi thứ hai của tác giả hiện diện trong tác phẩm Nhiều nhà lý luận hiện đại hiểu đó là tác giả được suy ra (deduced author), là sản phẩm do người đọc phát hiện

Như vậy là vấn đề hình tượng tác giả được khẳng định từ nhiều góc độ trong lý luận văn học

3 Sự biểu hiện của hình tượng tác giả trong sáng tác là một vấn đề đang được nghiên cứu

Có người xem hình tượng tác giả biểu hiện ở phương diện ngôn ngữ, có người xem hình tượng tác giả biểu hiện trên tất cả các yếu tố và cấp độ tác phẩm : từ cách quan sát, cách suy nghĩ, thích cái gì, ghét cái gì trong lập trường đời sống, đến giọng điệu lời văn Trong giọng

điệu thì không chỉ giọng điệu người trần thuật mà cả trong giọng điệu của nhân vật Có người tập trung biểu hiện tác giả vào mấy điểm : cái nhìn nghệ thuật của tác giả, sức bao quát không gian thời ư gian, cấu trúc, cốt truyện, nhân vật và giọng điệu Theo một cách nhìn hợp lý thì hình tượng tác giả biểu hiện chủ yếu ở cái nhìn riêng, độc đáo, nhất quán có

ý nghĩa tư tưởng, đạo đức, thẩm mỹ ; giọng điệu của tác giả thâm nhập vào cả giọng điệu nhân vật ; và ở sự miêu tả, có sự hình dung của tác giả đối với chính mình

a) Cái nhìn nghệ thuật : cái nhìn là một năng lực tinh thần đặc biệt của con người, nó có

thể thậm nhập vào sự vật, phát hiện đặc điểm của nó mà vẫn ở ngoài sự vật, bảo lưu sự toàn vẹn thẩm mỹ của sự vật, do đó cái nhìn được vận dụng muôn vẻ trong nghệ thuật Nghệ thuật không thể thiếu cái nhìn Khrápchencô nhận xét : "Chân lý cuộc sống trong sáng tác nghệ thuật không tồn tại bên ngoài cái nhìn nghệ thuật có tính cá nhân đối với thế giới, vốn

có ở từng nghệ sĩ thực thụ"( )2 Dù đối với nghệ thuật dân gian, thần thoại, tính cá nhân có

đổi thay nhất định, thì cái nhìn là một điều kiện quyết định Nhà văn Pháp M Proust có nói :

"Đối với nhà văn cũng như đối với nhà hoạ sĩ, phong cách không phải là vấn đề kỹ thuật mà

là vấn đề cái nhìn" Do vậy, cái nhìn là một biểu hiện của tác giả Cái nhìn thể hiện trong tri giác, cảm giác, quan sát, do đó nó có thể phát hiện cái đẹp, cái xấu, cái hài, cái bi, Cái nhìn bao quát không gian, bắt đầu từ điểm nhìn trong không gian và thời gian và bị không gian, thời gian chi phối Cái nhìn xuất phát từ một cá thể, mang thị hiếu và tình cảm yêu, ghét Cái nhìn gắn với liên tưởng, tưởng tượng, cảm giác nội tâm, biểu hiện trong ví von, ẩn

dụ, đối sánh, Cái nhìn có thể đem các thuộc tính xa nhau đặt bên nhau, hoặc đem tách rời thuộc tính khỏi sự vật một cách trừu tượng

Cái nhìn có thể xét ở hai phương diện Một là điểm nhìn của người trần thuật và nhân vật,

và hai là cái nhìn thể hiện trong khách thể Cái nhìn như là điểm nhìn sẽ nói ở chương IX ở

đây chỉ nói về hệ thống chi tiết Cái nhìn thể hiện trong chi tiết nghệ thuật, bởi chi tiết là

điểm rơi của cái nhìn Khi nhà văn trình bày cái họ nhìn thấy cho ta cùng nhìn thấy thì ta đã tiếp thu cái nhìn của họ, tức là đã bước vào phạm vi ý thức của họ, chú ý cái mà họ chú ý

(4) Wayne Booth, Tu từ học tiểu thuyết (phần thứ ba), Đại học Bắc Kinh, 1989

(1) M Khrápchencô, Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học, Mátxcơva, 1974, tr 66

Trang 5

Khi ta nhận thấy nhà văn này chú ý cái này, nhà văn kia chú ý cái kia, tức là ta đã nhận ra con người nghệ sĩ của tác giả Cái nhìn của nhà văn có thể biểu hiện trong các loại đồ vật mà

họ am hiểu và quan tâm Ví dụ, trong Hồng lâu mộng phần do Tào Tuyết Cần viết, đã thể

hiện một sự am hiểu về các thứ tơ lụa, vải vóc, các kiểu và bộ phận của trang phục, một lĩnh vực mà người thường không sao hiểu hết Cái nhìn có thể thiên về âm thanh, mùi vị, màu sắc, cảm giác Sự thống kê các từ về màu sắc được sử dụng trong văn của các tác giả cho thấy

cái nhìn của tác giả khác nhau rất nhiều Thanh Tâm Tài Nhân trong Kim Vân Kiều truyện

miêu tả phụ nữ hoàn toàn không có cảm giác mùi hương Trái lại, các nhân vật nữ như Kiều,

Đạm Tiên trong Truyện Kiều thường đi tới đâu là mang theo mùi hương đến đó Đến phần do

Cao Ngạc viết các chi tiết ấy hầu như biến mất Cái nhìn tác giả còn thể hiện trong hệ thống ngôn từ Từ ngữ có thể ví như những xúc tu, nó nói lên cảm giác của tác giả đối với đời sống Như thế cái nhìn tác giả tuy trừu tượng nhưng vẫn có dấu tích để phân tích, cảm nhận

B Uxpenxki nhận xét : "Đặc điểm của người trần thuật ngôi thứ ba trong Chiến tranh và hoà bình là một người thông minh, nhạy cảm, có tình cảm yêu ghét riêng, có kinh lịch riêng,

đồng thời như mọi người, nó cũng bị hạn chế của năng lực nhận thức nội tại"( )1 Khi miêu tả nhân vật, L Tônxtôi phân biệt rạch ròi cái tốt và cái xấu Ví dụ Êlen quyến rũ nhưng biết kìm chế, trang nhã và khó lòng chê trách, nhưng ông ghét sự khéo léo, ghét cái vẻ đẹp như làm bằng sáp của cô Tác giả kể thành thực như tin rằng mọi người đọc đều nhất trí với ông

Trong trần thuật ông dùng cách nói : "Mọi người trong nhà dường như nhận ra chàng",

"nàng dường như giật mình vì lời của chàng", làm cho ngôi thứ ba của ông có xu thế nhập

vào ngôi thứ nhất, ngôi thứ nhất hiện diện trong đó, chứng tỏ tác giả nhìn vào bên trong nhân vật

Tình cảm yêu ghét làm L Tônxtôi đối lập Anna với khách khứa của bà ; đối lập Pie và Curaghin, đối lập Curaghin với lão công tước, đối lập Natasa với Xônhia, Vêra ; đối lập Natasa với Êlen, đó là đối lập giữa chân thực và giả dối, tự nhiên và kiểu cách, đầy đặn

và trống rỗng, cao thượng và đê tiện Sự đối lập trên thể hiện khuynh hướng đạo đức thẩm

Tìm tác giả trong cái nhìn của tác giả, chúng tôi cũng lưu ý cái cách mà Nguyễn Du, để cho

các nhân vật tự xưng với nhau : "Trách lòng hờ hững với lòng ", "Lấy lòng gọi chút sang đây

(1) B Uxpenxki, Thi pháp học kết cấu, Mátxcơva, 1971, tr 109 - 110

Trang 6

tạ lòng" Đó là cách xưng hô kiểu nhân vật của Nguyễn Du Ông cũng nhìn thấy qua chữ "ai" những con người cá thể bình thường, bình đẳng đầy nhân tính ("Đêm xuân ai dễ cầm lòng cho

đang - Tấm lòng ân ái ai ai cũng lòng") Ông nhìn con người như những giá trị mong manh dễ hư nát qua từ "chút" : "Thưa rằng chút phận ngây thơ", "Được rày nhờ chút thơm rơi", "Rằng tôi bèo bọt chút thân " Có thể nói Nguyễn Du hiện diện qua những từ ngữ độc đáo chỉ riêng

ông sử dụng một cách có hệ thống( )1

b) Giọng điệu : giọng điệu là một yếu tố đặc trưng của hình tượng tác giả trong tác phẩm

Nếu như trong đời sống ta thường chỉ nghe giọng nói là nhận ra con người, thì trong văn học cũng vậy Giọng điệu giúp nhận ra tác giả Có điều giọng điệu ở đây không giản đơn là một tín hiệu âm thanh có âm sắc đặc thù để nhận ra người nói, mà là một giọng điệu mang nội dung tình cảm, thái độ, ứng xử trước các hiện tượng đời sống "Hệ số tình cảm của lời văn,

được biểu hiện trước hết ở trong giọng điệu cơ bản"( )2 Theo B Brecht có thể hiểu giọng

điệu trong kịch như một tư thế biểu cảm Ông đã nói về các cử chỉ biểu cảm như cúi đầu, ngẩng đầu, khoát tay, ngoảnh mặt, đều có ý nghĩa biểu cảm Do đó, giọng điệu trong văn học không chỉ biểu hiện bằng cách xưng hô, trường từ vựng, mà còn bằng cả hệ thống tư thế,

cử chỉ biểu cảm trong tác phẩm

Giọng điệu có cấu trúc của nó Xét lời văn trong quan hệ với các chủ đề của anh ta thì ta

có giọng điệu cơ bản Xét lời văn trong quan hệ với người đọc ngoài văn bản thì ta có ngữ

điệu Sự thống nhất của hai yếu tố này tạo ra giọng điệu

Nền tảng của giọng điệu là cảm hứng chủ đạo của nhà văn V Biêlinxki từng nói : Cảm hứng

là một sức mạnh hùng hậu Trong cảm hứng nhà thơ là người yêu say tư tưởng, như yêu cái

đẹp, yêu một sinh thể, đắm đuối vào trong đó và anh ta ngắm nó không phải bằng lý trí, lý tính, không phải bằng tình cảm hay một năng lực nào đó của tâm hồn, mà là bằng tất cả sự tràn đầy và toàn vẹn của tâm hồn mình, và do đó tư tưởng xuất hiện trong tác phẩm không phải là những suy nghĩ trừu tượng, không phải là hình thức chết cứng, mà là một sáng tạo sống động"( )3

Cảm hứng xuất hiện khi tác giả nói đến một cái gì cao cả, có ý nghĩa đối với tồn tại con người, nói đến niềm vui, nỗi đau, lòng căm giận có ý nghĩa sâu rộng Nếu cảm hứng là cao cả thì giọng điệu là cao cả, nhà văn sẽ sử dụng các từ cao cả, to lớn, những từ ngữ cổ kính có

âm hưởng biểu hiện thống thiết, về cú pháp sẽ sử dụng các câu hỏi, câu cảm thán, câu mệnh lệnh, câu kêu gọi, Tác phẩm sử thi, thơ tụng ca, hành khúc thường có giọng điệu như vậy Các hình thức đó thể hiện niềm tin, khát vọng, ý chí của tác giả

Vị thế của nhà văn cũng tạo ra giọng điệu Nhà văn tự coi mình là nhà tiên tri, nhà truyền

đạo, vị quan toà, người tố cáo, kẻ kêu oan, người oán hận, thì sẽ có giọng điệu thích hợp với vị thế đó

Nếu nhà văn có cảm hứng chính luận, phê phán, bất mãn với thực tại thì anh ta sẽ có giọng điệu lên án, tố cáo, lúc đó anh ta sẽ sử dụng các biện pháp mỉa mai, châm biếm, nhại

(1) Chân dung Nguyễn Du qua ngôn ngữ "Truyện Kiều" trong sách Những thế giới nghệ thuật thơ, Sđd (2) M Khrápchencô, Cá tính sáng tạo , Sđd, tr 128

(1) G Bêlinxki, Tác phẩm chọn lọc, Mátxcơva, 1975, tr 111

Trang 7

Yếu tố tình thái, biểu hiện sự đánh giá của tác giả đối với phát ngôn của mình, cũng là yếu

tố quan trọng của hình tượng tác giả Truyện đau thương đòi hỏi giọng buồn, ngậm ngùi, truyện hài hước thì giọng đùa vui, giễu cợt,

Bên trong cảm hứng là thái độ của nghệ sĩ đối với đối tượng miêu tả và đối với người đối thoại ở trong hay ngoài tác phẩm là chất giọng bắt nguồn từ bản chất đạo đức của tác giả

Các nhà nghiên cứu đã nói đến giọng điệu của Tônxtôi trong Chiến tranh và hoà bình,

một giọng điệu mềm mại, tỉnh táo, đôn hậu của một người vững tin vào đạo đức và chân lý

Giọng điệu của L.Tônxtôi vang lên khắp nơi trong tác phẩm của ông từ Thời thơ ấu, Thời niên thiếu, đến Phục sinh và các tác phẩm sau đó Người ta nhận ra giọng của ông trong cậu

Nicôlenca, trong Anđrây, trong Lêvin, trong Nêkhliuđốp Ngôn ngữ giản dị, mặn mà, dễ thương của đại úy Tusin, giọng điệu vui vẻ, âm vang của Natasa đều thể hiện những tình cảm trong sáng, chân thành, là những tình cảm mà tác giả yêu mến, bảo vệ

Khác với giọng điệu của L.Tônxtôi, một giọng điệu tự tin, độc thoại, trong tiểu thuyết của Đốtxtôiépxki thể hiện một giọng điệu đầy biến động, bất an, gấp gáp, truyền đạt một cảm nhận về kịch tính của cuộc đời Trong hàng loạt tiểu thuyết của ông có thể bắt gặp các câu như : "Tôi không kịp ", "Tôi lao đi, hầu như là chạy ", "bỗng nhiên nhảy vọt khỏi chỗ ", "Sự việc hết sức gấp, gấp lắm " Nhiều nhà nghiên cứu đã nhận xét trong văn

Đốtxtôiépxki có thể bắt gặp nhiều từ "bỗng nhiên", chẳng hạn trong Thằng ngốc : "Nhưng

bỗng nhiên có một cái gì bất ngờ ư Tôi phải lưu ý cho ngài Gavrin Anđaliônôvích, công

tước bỗng nhiên nói, rằng tôi trước đây quả thực đã ốm yếu lắm, thực tế là tôi đã là thằng ngốc ; nhưng giờ đây tôi đã lành" ; hoặc trong Tội ác và trừng phạt : "Bằng toàn bộ cơ thể chàng bỗng nhiên cảm thấy rằng chàng sẽ không còn được tự do để suy nghĩ, không có tự

do ý chí, rằng bỗng nhiên tất cả đã được quyết định hoàn toàn"

Tất nhiên đó không phải là giọng điệu duy nhất Đốtxtôiépxki có lúc chọn cho người trần thuật của ông một giọng điệu bình tĩnh, khoan thai kiểu sử thi, khô khan cặn kẽ như sử biên niên Nhưng trong giọng ấy lại xen pha vào giọng điệu của tác giả, không phải là giọng điệu duy nhất đúng, mà chỉ là một giọng khác có tính chất đối thoại Có người nhận xét là nhà văn trần thuật trong một giọng điệu hoàn toàn xa lạ với ông, và cái giọng thật của ông luôn luôn tìm cách xâm nhập vào giọng xa lạ ấy với tinh thần đối thoại Đó là nét chân dung nghệ thuật về nhà văn trong văn của ông

Trong Truyện Kiều, gắn với cảm hứng cảm thương, hình tượng tác giả có giọng điệu cảm

thương, ai oán, đẫm nước mắt Tố Hữu đã viết rất đúng : "Tố Như ơi, lệ chảy quanh thân Kiều"

c) Sự thể hiện của tác giả thành hình tượng : nhiều trường hợp tác giả tự hình dung hình

tượng của mình trong tác phẩm Khi Thế Lữ viết :

Tôi là kẻ bộ hành phiêu lãng

Đường trần gian xuôi ngược để vui chơi

Hoặc khi Xuân Diệu viết :

Tôi là con chim đến từ núi lạ, Ngứa cổ hót chơi

Trang 8

Hoặc :

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều ;

Và non nước, và cây, và cỏ rạng

thì hình tượng nhà thơ hiện ra trong tác phẩm

Các tác giả tùy bút, bút ký, ký sự hoặc tiểu thuyết cũng không ít trường hợp miêu tả mình trong tác phẩm Ví dụ, Nguyễn Tuân viết : "Tôi muốn mỗi ngày cho tôi cái say của rượu tối tân hôn", "Rồi tôi vẫn vênh váo đi giữa cuộc đời như một viễn khách không có quê hương nhất định " Điều đáng chú ý là không được đồng nhất hình tượng tác giả với bản thân tác giả ngoài đời

Tóm lại, cái nhìn, giọng điệu và sự tự thể hiện là ba yếu tố cơ bản tạo thành hình tượng tác giả trong thế giới nghệ thuật của họ mà người đọc luôn luôn bắt gặp trong quá trình giao tiếp, thưởng thức

II - Kiểu tác giả như một phạm trù của thi pháp học lịch sử

Hình tượng tác giả không cứ là phải có cá tính Đó là sản phẩm của thời kỳ phát triển cao của văn học Trong suốt tiến trình văn học, hình tượng tác giả đổi thay theo những mô hình khác nhau với những khả năng nhận thức, biểu hiện khác nhau Văn học phát triển bằng cách đổi thay các vai trò tác giả trong sáng tác

1 Trong thần thoại chưa xuất hiện tác giả, nhưng có thể nhận thấy một kiểu tác giả là chủ

thể sáng tạo ra thần thoại thể hiện qua cái nhìn, kiểu tư duy Các học giả đã nói đến kiểu tư duy thần thoại như một hoạt động tư duy dùng tượng trưng, chứ chưa có khái niệm Lô gích của thần thoại là so sánh bề ngoài, liên tưởng tương đồng (chưa phải đối sánh khoa học) Thần thoại chưa phân biệt chủ và khách quan, nhìn thế giới theo mục đích luận, tự coi con

người là trung tâm Thiên Thuyết quái trong Chu dịch nói càn là trời, là cha, là ngựa hay, khôn là đất, là mẹ, là bò cái Trong thần thoại Hy Lạp, mẹ Caia đẻ ra bầu trời, núi và biển,

rồi bầu trời lại giao phối với đất để sinh ra các khổng lồ Trời mang đêm theo mình để giao phối với đất, Đó là tư duy, theo nhà tâm lý học Thụy Sĩ Piaget, tương tự như tư duy trẻ thơ,

và do đó, tự thân có tính chất thơ

2 Sử thi với tư cách là trường ca về quá khứ dân tộc, là trường ca về cội nguồn, do đó tác

giả của nó, những ca sĩ sáng tác và hát sử thi, là những người nói tới cái quá khứ tuyệt đối, không với tới được, với một tình cảm ngợi ca, thành kính, một "khoảng cách sử thi" Lời của tác giả là lời nói về cha ông, về các anh linh, về những người đã mất mà bài vị đang được thờ

ở chốn linh thiêng, những người mà giá trị đã được xếp hạng rõ ràng Do đó, nội dung sử thi không cho phép có cách nhìn và đánh giá mang tính cá nhân, cá thể Tác giả không được phép có tính chủ động cá nhân về nhận thức, kiến giải, đánh giá mới Anh ta chỉ có cách là

kể cho hay, cho xúc động một cái đã biết( )1 Đây là những nét loại hình của kiểu tác giả sử

(1) M Bakhtin, Sử thi và tiểu thuyết trong sách Những vấn đề văn học và mỹ học, Sđd, tr 158 - 460

Trang 9

thi, trên thực tế sẽ phức tạp và đa dạng hơn Chẳng hạn, trong Bài ca về binh đoàn Igor có

hình tượng người kể chuyện dân gian Boian Tác giả hồi tưởng lại Boian, cần Boian để chứng tỏ tính chân thật, nhưng đồng thời tự mình lại không đi theo truyền thống ca ngợi của Boian( )1

3 Vấn đề kiểu tác giả văn học trung đại rất đáng được xem xét Văn học trung đại với tư

cách là một loại hình có những thủ pháp sáng tác đặc thù khác với văn học cổ đại và văn học cận hiện đại Theo nhà nghiên cứu Ríptin, tác giả trung đại (dù là ở phương Đông hay phương Tây) chủ yếu xây dựng tác phẩm của mình bằng những cốt truyện có sẵn và các công thức tu từ có sẵn Tác giả trung đại ít có xu hướng hư cấu ra cốt truyện mới, mà thường chỉ là truyền đạt một cách mới các cốt truyện đã có Biết bao người ở các nước Đông Nam á

đã kể lại tích truyện Mahabharata và Ramayana Sở dĩ như vậy là do họ chưa biết hư cấu,

hoặc những điều họ hư cấu họ đều tin là thật (Likhachép)

Tác giả trung đại có cách nhìn khác về cá tính sáng tạo của nhà văn, họ tự do sử dụng văn liệu của người đi trước Các tác giả đi sau sử dụng nguyên câu của nhà thơ đi trước đưa vào thơ mình Hiện tượng này có cả trong thi ca, kịch, truyện cả phương Tây và phương Đông Quy luật này giải thích vì sao các tác giả trung đại Việt Nam thích "diễn Nôm" cốt truyện Trung Quốc hơn là sáng tác cốt truyện mới( )2

Tuy vậy, tác giả trung đại cũng có mức độ thể hiện cá tính của mình trong nội dung, cái nhìn, cảm hứng, giọng điệu Cá tính của các tác giả như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Đào Uyên Minh ở Trung Quốc, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ ở Việt Nam là

điều không thể phủ nhận

Theo Likhachép, tác giả văn học trung đại Nga còn có một đặc điểm nữa, là mỗi thể loại văn học có kiểu tác giả đặc thù của nó, tức là một vai trò thích hợp đối với thể loại đó, chẳng hạn kiểu tác giả của tác phẩm truyền đạo, tác giả của truyện các thánh, tác giả của sử biên niên, tác giả của truyện lịch sử Đó là "hình tượng thể loại về tác giả", do chỗ mỗi thể loại có

một loại phong cách riêng Chẳng hạn, hình tượng người hát rong trong truyện Lời nguyện cầu của Đanin Datốtnhích Cảm giác về tác giả cũng khác nhau theo thể loại Trong các thể

loại biên niên, thư từ, tác giả cá nhân có hiện diện và nhiều khi ký tên mình vào tác phẩm,

có khi người ta ghi tên người có uy tín Các truyện kể thường ít ghi tên tác giả hơn( )3 Thực

tế chứng tỏ tên tác giả thơ được ghi nhận cụ thể, còn tác giả truyện thì mơ hồ hơn, có khi ghi

biệt danh mà không rõ người thực là ai Ví dụ, Lan Lăng tiếu tiếu sinh - tác giả Kim Bình Mai, Thanh Tâm Tài Nhân - tác giả Kim Vân Kiều truyện, đến nay vẫn chưa biết rõ tên họ,

quê quán

4 Khác với tác giả trung đại, tác giả cận, hiện đại có ý thức về cá tính của mình, có nhu

cầu sáng tạo cái riêng của mình trong văn học ý thức về cái riêng là ý thức về hư cấu như một phương tiện thể hiện đầy đủ nhất những điều muốn nói của nghệ sĩ ; là ý thức về cách

(2) Đ Likhachép, Bài ca vàng của văn học Nga, Mátxcơva, 1980, tr 28 - 29

(1) B L Ríptin, Loại hình học và mối quan hệ qua lại của các nền văn học trung đại trong sách Loại hình

học và các mối quan hệ qua lại của các nền văn học trung đại phương Đông và phương Tây, Mátxcơva, 1974

(2) Đ Likhachép, Thi pháp văn học Nga cổ, Sđd, tr 69 - 70

Trang 10

đánh giá, cảm thụ riêng đối với truyền thống và hiện tại Likhachép nói : "Sự phát triển của văn học, là cuộc đấu tranh cho văn học có được cái quyền nói "cái bịa" nghệ thuật"

Cá tính làm đổi thay cấu trúc thể loại, đổi thay khoảng cách giữa chủ thể và khách thể, nhà văn có thể dùng kinh nghiệm của mình làm sâu sắc cho hình tượng và chủ đề Hiện tượng mà M Bakhtin gọi là "tiểu thuyết hoá" tất cả các thể loại, chính là hệ quả của kiểu tác giả văn học mới Nếu tác giả văn học cổ trung đại luôn mang tính cao cả, sử dụng các thể loại cao cả, miêu tả những con người thường là quan phương, thì kiểu tác giả mới là những con người phi quan phương, hướng tới đời thường, mang ngôn ngữ hằng ngày, suồng sã, thân mật Họ nói về những người quá cố theo một phong cách khác( )1

Nhưng tác giả cận, hiện đại lại phân hoá theo vai trò văn học và vai trò xã hội mà họ ý

thức qua trào lưu Nhà văn chủ nghĩa cổ điển đề cao lý trí, đem lý trí mà giải quyết các vấn

đề tình cảm Nhà văn lãng mạn lại giải phóng tình cảm và tưởng tượng, mở rộng chân trời cho sáng tác V Hugo đưa ra nguyên tắc mới : "Cái xấu bên cái tốt, cái dị dạng bên cái đẹp, cái tầm thường bên cạnh cái cao cả, cái ác bên cái thiện Chúng dính liền với nhau" Theo

ông, nhà lãng mạn dành ưu tiên cho việc miêu tả cái xấu xí và buồn cười, bởi tác dụng của

nó sâu rộng hơn Theo ông, nhà lãng mạn phải miêu tả cái đặc trưng chứ không phải cái đẹp,

bởi đẹp chính là lý tưởng (Xem Tựa vở kịch Cromwell) Tác giả hiện thực chú ý tới hiện thực

"như nó vốn có", không tô vẽ, che đậy Họ vừa muốn chống lại chủ nghĩa lý tính, vừa chống lại tưởng tượng viển vông Balzac nhìn thấy bản thân hiện thực là nhà tiểu thuyết vĩ đại nhất,

do đó nhà văn là người thư ký của thời đại, ghi lại cái "tiểu thuyết" ư "tấn trò đời" Kiểu nhà văn thư ký thời đại gắn liền với một phạm vi thẩm mỹ mới Tônxtôi nhấn mạnh tới việc xé toạc các mặt nạ giả dối Đốtxtôiépxki khai thác cái hỗn loạn, khủng hoảng E Zola muốn biến đổi nghệ thuật theo hướng khoa học Ông cho phẩm chất của tiểu thuyết không phải là tưởng tượng, mà là quan sát, ông muốn đem từ tiểu thuyết thay thế cho từ thầy thuốc, để lưu

ý tới chức năng phơi bày ung nhọt, phát hiện các quy luật tự nhiên trong đời sống con người Lâu nay chúng ta vẫn hiểu lầm chủ nghĩa tự nhiên Thực ra chủ nghĩa tự nhiên có cách lựa chọn và khái quát riêng của họ và họ đã mở rộng phạm vi đề tài cho văn học

Tác giả tượng trưng, siêu thực lại hướng tới khám phá cái thực tại bí ẩn mà giác quan người ta không thể quan sát trực tiếp ý thức về vai trò tác giả trong văn học hiện đại rất khác nhau N Sarrot cho rằng nhà văn chỉ có quyền nói về bản thân mình T S Eliot thì chủ trương ; "Sự tiến bộ của nghệ sĩ là sự từ bỏ không ngừng bản thân mình, là sự giảm thiểu không ngừng yếu tố cá nhân" Trong khi đó tác giả hiện thực xã hội chủ nghĩa hướng tới mục đích cách mạng, dùng văn học làm phương tiện cải tạo xã hội, nhìn cuộc sống theo lý tưởng cách mạng Đối với họ, cái quan trọng là sứ mệnh chiến đấu cho lý tưởng, xây dựng xã hội mới

Trong văn học cách mạng và kháng chiến vai trò nhà văn ư chiến sĩ đã được thực hiện hiệu quả Song bước sang thời kỳ đổi mới, vai trò sáng tạo văn hoá, thoả mãn nhu cầu thẩm

mỹ đa dạng đang đòi hỏi họ xác định lại vai trò tác giả của mình Cuộc tìm kiếm này hiện vẫn chưa kết thúc

(1) Xem thêm : M Bakhtin, Sử thi và tiểu thuyết, qua bản dịch của Phạm Vĩnh Cư : Tiểu thuyết như một thể

loại văn học trong sách Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, H., 1992

Trang 11

Tác giả hiện đại chủ nghĩa muốn tạo ra nghệ thuật mới ngoài vòng chỉ dẫn của truyền thống mô phỏng hiện thực, tái hiện hiện thực Họ thực hiện vai trò miêu tả cái phi lý, "suy

đồi", những giấc mơ với nỗi chán chường vô hạn Họ muốn vượt qua đời sống vật chất để thực hiện những giá trị tinh thần siêu hình Tác giả hậu hiện đại chủ nghĩa lại muốn trở lại với hình thức vật chất của đời sống bằng một thái độ bỡn cợt nhân sinh Họ đã đi đến chỗ không còn coi cái gì là thiêng liêng và quan trọng cả

Tác giả hiện đại thể hiện tính năng động sáng tạo nhiều hướng của nghệ thuật Quan niệm phi tác giả của văn học không hề xoá bỏ được tác giả, bởi nghệ thuật không xoá bỏ được cái nhìn, giọng điệu, không xoá bỏ được sự tự ý thức về thực tại và chính bản thân con người

Và bất cứ lúc nào hình tượng tác giả cũng vẫn là yếu tố tạo thành tính thống nhất nội tại của tác phẩm

Câu hỏi hướng dẫn ôn tập

1 Thế nào là hình tượng tác giả ? Nó khác hình tượng nhân vật, khác tác giả tiểu sử và tác

giả tư tưởng như thế nào ?

2 Sự biểu hiện của phạm trù tác giả trong sáng tác như thế nào ? Cái nhìn nghệ thuật là gì ?

Những thể hiện của nó Giọng điệu là gì ? Phân tích giọng điệu qua những biểu hiện nào

? Tác giả tự biểu hiện mình như thế nào ? Nêu ví dụ

3 Thế nào là kiểu tác giả ?

4 Đặc điểm của tác giả sử thi ?

5 Phân biệt tác giả trung đại và hiện đại Nêu ví dụ

6 Tìm hiểu hình tượng tác giả Xuân Diệu trong Thơ thơ và Gửi hương cho gió (hoặc hình

tượng tác giả trong truyện ngắn Đồng hào có ma)

Trang 12

Chương VII tính quan niệm Và CấU TRúC

CủA THể LOạI

I - KHáI NIệM THể LOạI, Từ PHÂN LOạI ĐếN nghiên Cứu LOại HìNH và tính quan niệm của thể loại

1 Khái niệm thể loại

Trở lên chúng ta đã xem xét các nguyên tắc đặc thù tạo thành thế giới nghệ thuật Khi cụ thể hoá, chúng ta không thể không xem xét qua lăng kính thể loại và các thời kỳ lịch sử của văn học Điều đó chứng tỏ hệ thống thi pháp không thể nằm ngoài các phạm trù thể loại và tính cụ thể lịch sử Bây giờ đến lúc trình bày nội hàm một số phạm trù về thể loại Sở dĩ thể loại trình bày sau các phạm trù có tính nhân loại học như con người, không gian, thời gian, tác giả (chủ thể) là vì trong thực tiễn nghệ thuật, các phạm trù thể loại phụ thuộc vào các phạm trù này nhằm khám phá đời sống trong quá trình phát triển, không phải là ngược lại Thể loại là phạm trù về chỉnh thể tác phẩm Bất cứ tác phẩm nào được sáng tác đều có một

"cơ thể", đều thuộc về một thể loại nhất định Không có tác phẩm "siêu thể loại" Bởi mỗi thể loại thể hiện một kiểu quan hệ đối với cuộc sống và đối với người đọc, tức là một kiểu quan hệ giao tiếp Một kiểu giao tiếp kép : vừa giao tiếp với người đọc lại vừa giao tiếp với đời Qua giao tiếp với cuộc sống trong tác phẩm, tác giả và người đọc hiểu nhau

"Thể loại là hình thức điển hình của toàn bộ tác phẩm, của toàn bộ sự biểu hiện nghệ thuật"( )1 Thể loại văn học phản ánh những khuynh hướng lâu dài và hết sức bền vững trong

sự phát triển văn học Thể loại thể hiện ký ức sáng tạo trong quá trình phát triển"( )2 Do đó,

thi pháp học phải xuất phát từ thể loại Xuất phát từ ngôn từ hoặc từ văn bản nói chung, không phải là cách xuất phát của thi pháp học nghệ thuật của văn học

Chức năng của thể loại là xây dựng các mô hình về thế giới, trong đó những gì tồn tại đều

có mục đích, có trật tự, hoà trộn thành một bức tranh đã xong xuôi về tồn tại, phù hợp với một số quy luật chung của đời sống Mô hình đó là hạt nhân của thể loại, nó được lưu giữ qua nhiều thế kỷ trong đời sống của thể loại bên dưới các lớp cấu tạo mới khác nhau Mô hình đó là cấu trúc bao quát thế giới, giải thích và đánh giá thế giới Nó được lặp đi lặp lại

ổn định và trở thành "ký ức" của thể loại

Nhưng mặt khác không nên quên rằng thể loại văn học là một phạm trù lịch sử "Các thể loại văn học chỉ xuất hiện ở những giai đoạn phát triển nhất định của văn học, sau đó thường xuyên biến đổi và thay thế nhau Vấn đề không chỉ là một số thể loại này đến thay thế cho

(1) M Bakhtin (P Métvêđép), Phương pháp hình thức trong nghiên cứu văn học (1928), Bắc Kinh, NXB Văn

Liên, 1992, tr 189

(1) M Bakhtin, Những vấn đề thi pháp Đốtxtôiépxki, Sđd, tr 101

Trang 13

một số thể loại khác và không có một thể loại nào là "vĩnh viễn", mà còn là ở chỗ bản thân các nguyên tắc phân chia thể loại cũng đổi thay, loại hình, tính chất, chức năng của các thể loại cũng đổi thay qua các thời đại"( )1

Đúng là trong quá trình sáng tác thể loại có "ký ức" của nó Nhưng không một thể loại cụ thể nào tuân thủ răm rắp các đặc điểm thể loại đã có trước Nó thế nào cũng nới rộng chỗ này, thu hẹp chỗ kia, làm cho diện mạo thể loại xê dịch Cho nên H R Jauss nói có lý : "Thể loại

là không thể diễn dịch, không thể định nghĩa, mà chỉ có thể là xác định, miêu tả về lý thuyết một cách lịch sử Về mặt này thể loại và ngôn ngữ lịch sử tương tự nhau Chẳng hạn, người ta không thể định nghĩa tiếng Đức hay tiếng Pháp, mà chỉ có thể tiến hành miêu tả chúng về mặt

đồng đại và lịch đại"( )2

Trong văn học hiện đại quan niệm về ranh giới thể loại đã thay đổi Các thể loại chẳng những có thể xâm nhập vào nhau, mà còn có xu thế muốn giải phóng văn học khỏi thể loại Nhà văn Pháp Maurice Blanchot viết : "Điều quan trọng là sách, tức là một cuốn sách như thế Nó xa rời thể loại, xa rời các loại thơ, văn xuôi, tiểu thuyết, cự tuyệt tham gia vào trong

đó Không thừa nhận nó có quyền lợi được hưởng những hình thức và vị trí được định sẵn ở trong đó Một quyển sách không còn thuộc vào một thể loại nào nữa, mà chỉ thuộc vào văn học, giống như văn học đã có sẵn các bí quyết và cách thức chung đem phú cho cái viết ra thành một cuốn sách thực tế"

Như thế thì có nghĩa là thể loại văn học càng gắn bó với khuynh hướng sáng tác chung và cá tính sáng tạo của nhà văn ; không thể nghiên cứu thể loại văn học mà bỏ qua được hai nhân tố đó

2 Từ phân loại đến nghiên cứu loại hình

Bản thân thể loại có chức năng phân loại Khi nhà văn ghi tên thể loại vào trang đầu tác phẩm của mình là anh ta muốn phân biệt với các thể loại khác và đánh dấu cái truyền thống

mà anh ta theo Trong khi đó trong bản thân tác phẩm thì đã có những đổi thay, pha trộn, v.v Do đó, yêu cầu phân loại là xác lập các tiêu chí để phân biệt loại này với loại kia, hệ thống hoá các thể loại văn học đa dạng hiện có Theo ý kiến đã thành thông lệ : Aristote có thể lần đầu tiên đã nêu ra các tiêu chí phân loại tự sự, trữ tình, kịch một cách chính xác và cho đến nay vẫn còn hiệu lực( )3 Theo M Bakhtin, thì cho đến nay người ta vẫn chưa có gì thêm về thực chất trên cơ sở lý luận của Aristote Theo Tôđôrốp, truyền thống phân loại của Aristote đã có từ thời Platon Platon đã chia làm ba loại : tác phẩm trữ tình chỉ có một mình tác giả nói ; tác phẩm kịch chỉ có nhân vật nói ; tác phẩm sử thi thì tác giả và nhân vật đều

có quyền nói Tuy nhiên, so với thời cổ đại phương Tây, hệ thống thể loại thời trung đại đã khác rất nhiều Sự phục tùng các chức năng ngoài văn học làm cho thể loại phải được nhìn nhận khác( )4 Sự cải tạo hệ thống thể loại vào thời kỳ văn học lãng mạn và hiện thực trong văn học đã đòi hỏi những cách phân loại mới, bởi vì các khác biệt thể loại từ dấu hiệu bề ngoài đã được thay thế bằng dấu hiệu bên trong (chủ quan, khách quan, xung đột, cảm

(2) Đ Likhachép, Thi pháp văn học Nga cổ, Sđd, tr 55

(3) N R Jauss, Thể loại và văn học trung đại trong sách Đi tới mỹ học tiếp nhận, Thẩm Dương, 1987, tr 101 (1) Aristote, Nghệ thuật thơ ca, Tạp chí Văn học nước ngoài, số 1, 1997

(2) Đ Likhachép, Thi pháp văn học Nga cổ, Sđd

Trang 14

hứng, ) Hegel và Biêlinxki đã đổi mới cách phân loại với những tiêu chí mà nay vẫn còn ý nghĩa

Nhưng sự vận động của thể loại đòi hỏi một cách tiếp cận mới ư loại hình hoá, tức là nhìn các thể loại văn học khác nhau và đa dạng theo tính loại hình, tính tương đồng trên các cấp

độ Một trong các nhiệm vụ quan trọng của loại hình hoá thể loại là xác lập mối liên hệ giữa các hệ thống thể loại thuộc các thời đại văn học khác nhau, chỉ ra các dấu hiệu thể loại bền vững trong quá trình văn học Ví dụ, Bakhtin đã chỉ ra tuyến phát triển của các thể loại đối thoại và cười cợt nghiêm túc, các đặc điểm cácnavan trong văn học phương Tây đã làm nền tảng cho thể loại tiểu thuyết của Đốtxtôiépxki( )1.A N Vêxêlốpxki là người đầu tiên nêu ra việc loại hình hoá thể loại theo tiến trình lịch sử Theo sự phát triển lịch sử của nhân cách con người, thể loại cũng có sự phát triển tương ứng : a) Sử thi ư giai đoạn đạo đức, lý trí cộng đồng ; b) Trữ tình, truyền kỳ hiệp sĩ ư sự tiến bộ của cá nhân trong các nhóm người, cá thể hoá trong các đẳng cấp ; c) Truyện kể và tiểu thuyết ư sự thừa nhận phổ biến về con người, tính người, đẳng cấp tan vỡ, nguyên tắc cá nhân thắng thế( )2, Quan điểm của

A.Vêxêlốpxki có ảnh hưởng rất lớn đến các hệ thống loại hình thể loại về sau của các nhà thi pháp học Nga

Những cách tiếp cận loại hình như trên đã mở ra các viễn cảnh mới cho việc nghiên cứu thể loại theo quỹ đạo thi pháp học lịch sử, trong đó nổi lên những hình thức mang quan niệm, mang nội dung thế giới quan

II - TíNH NộI DUNG LOạI HìNH CủA THể LOạI VăN HọC

Sự xâm nhập của xã hội học vào thi pháp học đã đi tới khẳng định tính nội dung của hình thức thể loại Công lao của Bakhtin là chứng minh một cách khoa học cho cách tiếp cận đó Theo ông, thể loại là "một thứ hình thức cứng rắn để đúc kết các kinh nghiệm nghệ thuật" Thể loại là sự tổ hợp các thủ pháp hình thức, nhưng đó là "hình thức của cái nhìn và suy nghĩ

về một số phương diện của thế giới"( )3

Quan niệm của Bakhtin về đặc trưng tiểu thuyết gồm : 1) Tính ba chiều của ngôn ngữ (lời tác giả, lời người khác, quan hệ đối thoại) ; 2) Một toạ độ thời gian mới ; 3) Phạm vi mới trong

việc tiếp xúc tối đa với thời hiện tại trong tính chưa hoàn thành ư cũng thể hiện hình thức mang tính nội dung

Nhà nghiên cứu G Gachép trong sách Tính nội dung của hình thức (1968) cho rằng trong

mỗi thể loại tự sự, kịch, trữ tình đều có một thế giới quan đã ngưng kết lại, là nội dung phản

ảnh đời sống được lặp đi lặp lại nhiều lần, kết tụ lại thành các quan điểm thể loại, làm thành tính nội dung của nó

Nội dung của hình thức thể loại theo G Pôxpêlốp (1972) bao gồm hai mặt : mặt hoạt

động chức năng cụ thể lịch sử của hình thức và mặt nội dung loại hình của nó Cơ sở loại hình học nội dung thể loại của Pôxpêlốp là phương diện chủ đề của các tác phẩm được lặp đi

(1) M Bakhtin, Những vấn đề thi pháp Đốtxtôiépxki, Sđd

(2) A Vêxêlốpxki, Thi pháp học lịch sử, Mátxcơva, 1987

(3) M Bakhtin, Mỹ học sáng tạo ngôn từ, Sđd, tr 332

Trang 15

lặp lại về mặt loại hình và lịch sử( )1 Nhờ phương diện đó mà có thể theo dõi được "tính kế thừa trong phát triển thể loại" Pôxpêlốp chia làm bốn nhóm thể loại như sau : nhóm thần thoại, nhóm lịch sử dân tộc (sử thi), nhóm đạo đức thế sự (tính cách học), nhóm tiểu thuyết (đời tư) Ngoại trừ nhóm thần thoại thuộc vào thời tiền sử nghệ thuật, còn lại ba nhóm với nội dung loại hình có thể diễn giải như sau :

1 Thể loại lịch sử dân tộc (sử thi)

Là thể loại tập trung miêu tả sự hình thành dân tộc, các cuộc chiến tranh nhằm khẳng

định chủ quyền, danh dự, tôn nghiêm dân tộc, bộ tộc, quốc gia ư những cộng đồng người hình thành trong lịch sử Các cuộc xung đột xã hội rộng lớn, như các cuộc cách mạng cũng

có tính sử thi Điều đặc biệt của thể loại này là sự đánh giá toàn bộ theo quan điểm quốc gia, dân tộc Nó chia các lực lượng xung đột thành hai phe "ta" và "nó" và đánh giá theo lập trường của "ta" Sử thi Homère có thể không đánh giá thấp một bên nào, nhưng phần lớn sử thi khác thì sự phân biệt khá rõ rệt

Trong sử thi, con người xuất hiện chủ yếu dưới bộ mặt các anh hùng đại diện dân tộc Mọi đặc điểm về vật chất, tinh thần, tài năng của họ đều là tiêu biểu và niềm tự hào của cộng

đồng

Mô típ chủ yếu của sử thi thường là trên dưới một lòng, muôn người như một (một anh hùng được khen ngợi thì mọi người trong tác phẩm đều khen ngợi anh ta) ; lời thề ; sống chết vì danh dự (chỉ có một lựa chọn : Tổ quốc hay là chết) ; trả thù ; lòng trung thành ; sự phản bội ; cá nhân chỉ được đánh giá cao khi nó có ý nghĩa đối với sự nghiệp của cộng đồng Giọng điệu trần thuật sử thi thường là thành kính, ca ngợi

2 Thể loại đạo đức thế sự

Là thể loại xuất hiện kế tiếp sau thể loại lịch sử dân tộc ; khi dân tộc thống nhất phân hoá thành các tầng lớp người khác biệt nhau hoặc đối lập nhau về quyền lợi, lối sống : người thống trị, người bị trị ; người giàu, kẻ nghèo, v.v

Xung đột trong thể loại này là xung đột của các loại người đó : mẹ ghẻ, con chồng ; điền

chủ, người làm ; lái buôn, nông dân, quan lại và người dân, v.v

Con người của thể loại này thường là tiêu biểu cho loại của nó, tiêu biểu cho tính cách, phẩm chất của loại ấy

Người ta thường gọi đó là hình tượng điển hình ư điển hình cho đạo đức, phong tục, lối sống của loại Mô típ thường gặp của loại này thường là keo kiệt, tham lam, giả dối, tham vàng bỏ nghĩa, lật lọng, cướp công, cậy thế, nịnh bợ

Giá trị của nhân vật nằm ở sự khái quát về loại của nó, trên cơ sở quan sát, phân tích các thuộc tính, biểu hiện lặp đi lặp lại một cách sinh động

Giọng điệu trong loại này thường là tố cáo, cảm thán, châm biếm, chế giễu kín đáo hay lộ liễu

(1) G N Pôxpêlốp, Loại hình học về thể loại văn học, Thông báo khoa học, Đại học Tổng hợp Mátxcơva,

Xêri Ngữ văn học, tập 4, 1978, tr 15

Trang 16

3 Thể loại đời tư

Là nhóm thể loại các tác phẩm thể hiện sự hình thành và phát triển của nhân cách, cá tính con người Con người ở đây được đánh giá theo giá trị tự thân của nó : sắc đẹp, cá tính, tình yêu, hạnh phúc, tâm hồn, nhân cách Đời tư là thể loại tiêu biểu cho ý thức về cá nhân Các mô típ thường gặp ở đây là tình yêu, sự đợi chờ, lòng chung thuỷ, sự bội bạc, lầm lỡ, hối hận, tình bạn, sự đam mê, tài năng, lòng đố kỵ,

Giá trị của tác phẩm loại này là khắc hoạ được những cá tính, bản sắc cá nhân khác thường, không lặp lại của nhân vật cũng như những số phận khác biệt kỳ lạ của họ

Giọng điệu của tác phẩm loại này thường là giãi bày, đồng cảm, tự trào, cảm thán, thương cảm,

Theo chúng tôi, dễ dàng nhận thấy ba nội dung trên chính là ba hệ quan điểm thể loại trong việc lựa chọn và đánh giá con người Cái có giá trị trong loại này có thể không có giá trị gì đối với loại kia

Ba loại nội dung thể loại trên đây có thể được biểu hiện vào trong các hình thức thể loại

khác nhau nhất Chẳng hạn, loại nội dung sử thi có thể thể hiện trong thể loại anh hùng ca

(sử thi) cổ điển, nhưng cũng có thể thể hiện trong các bài thơ ngắn như Nam quốc sơn hà tương truyền của Lý Thường Kiệt, trong thơ ca cách mạng như Người con gái Việt Nam, Ta

đi tới, Việt Bắc, v.v của Tố Hữu, trong truyện ngắn Rừng xà nu, tiểu thuyết Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc Nó cũng thể hiện trong truyện cổ như Phù Đổng Thiên Vương Bút ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường như Ai đã đặt tên cho dòng sông là bút ký sử thi Thơ Tố Hữu là

thơ trữ tình chính trị sử thi Ta có thể gọi chúng là thơ sử thi, tiểu thuyết sử thi, kịch sử thi, truyện ngắn sử thi

Nội dung thể loại đạo đức thế sự cũng có thể được biểu hiện qua các hình thức thể loại

khác nhau : truyện cổ tích thế sự như Tấm Cám, Thạch Sanh, Sọ Dừa, Cây khế, thơ thế sự

như thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương, Tú Xương, Nguyễn Khuyến,

Tú Mỡ, truyện ngắn thế sự như của Nguyễn Công Hoan, tiểu thuyết thế sự như Tắt đèn của Ngô Tất Tố Phóng sự Việc làng của Ngô Tất Tố cũng thuộc loại thế sự như kịch Chén thuốc

Xét một mặt khác nội dung thể loại trong thực tế không phải lúc nào cũng tách biệt, thuần

tuý, mà thường kết hợp với nhau Ví dụ Truyện Kiều có tuyến Kim - Kiều thuộc thể loại đời

tư, tuyến Mã Giám Sinh, Tú Bà, Hoạn Thư, Thúc Sinh, Hồ Tôn Hiến thuộc thể loại thế sự

Trong tiểu thuyết Chiến tranh và hoà bình của L Tônxtôi, tuyến Natasa, Anđrây Bôncônxki thuộc thể loại đời tư, tuyến công tước Vaxili Curaghin, Êlen, Vêra, thuộc thể loại thế sự, tuyến Cutudốp, Napoléon, đại úy Tusin, thuộc thể loại sử thi Tuy vậy, ở tiểu thuyết này

Trang 17

tính sử thi là chủ yếu Theo các nhà nghiên cứu lịch sử sáng tác cho biết, thì ban đầu tiểu thuyết mang cảm hứng tố cáo, phê phán mặt đen tối là chính, sau khi chuyển hướng thể hiện chủ đề sử thi, nhà văn đã bỏ bớt các chi tiết thế sự Chẳng hạn, nhà văn bỏ bớt các tình tiết xung đột giữa địa chủ và nông nô, sĩ quan và binh lính Nhà văn bỏ bớt các chi tiết như : công tước Bôncônxki sau khi góa vợ đã tư thông với cô hầu phòng Alếchxanđra, lần lượt đẻ

ra năm đứa con, mỗi lần đẻ xong đều gửi vào trại mồ côi, và ngoài mặt làm ra như không có quan hệ gì cả Hay như tình tiết bá tước Bêdukhốp bắt cô nông nô về làm tỳ thiếp, cô chạy trốn và bị bắt lại Hoặc những cảnh ngược đãi binh lính, binh lính nổi loạn chống lại sĩ quan, như cảnh Đơrôn chống lại Nicôlai, Ông xoá bớt các chi tiết như trên để nhấn mạnh sự phục sinh tinh thần của nhân dân Nga đưa tới chiến công cứu nước Như vậy, nếu thiên về nội dung sử thi sẽ làm yếu nội dung thế sự, ngược lại nếu xoáy sâu vào nội dung thế sự thì sẽ làm yếu yếu tố nội dung sử thi Về nội dung đời tư cũng có thể nói như thế khi đề cập tới hai tuyến nội dung kia

Việc vận dụng yếu tố loại hình nội dung có ý nghĩa để nghiên cứu tiến trình vận động thể loại trong lịch sử văn học Chẳng hạn, khi Bakhtin đem đối lập tiểu thuyết với sử thi,

ông không đơn giản là đối lập hai thể loại mà là đối lập hai hệ thống thể loại : nhóm thể loại sử thi và các thể loại tương tự như sử thi, và một nhóm khác là tiểu thuyết và các thể loại tiểu thuyết hoá

Vận dụng loại hình thể loại vào tiến trình văn học Việt Nam ta có thể nhận thấy văn học

đầu thế kỷ XX các thể loại có nội dung sử thi thắng thế Đến giai đoạn 1930 - 1945 về cơ bản sáng tác theo các thể loại thế sự và đời tư Cách mạng tháng Tám cho đến trước năm

1986 về cơ bản văn học đi theo các thể loại sử thi : thơ ca, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch đều thống nhất trong tính sử thi Từ sau năm 1975, nhất là sau năm 1986, bắt đầu thời kỳ đổi mới, tính sử thi nhạt dần, nội dung thể loại thế sự và đời tư dần dần nổi lên, có xu thế lấn át Tác phẩm mang nội dung thể loại sử thi vẫn còn, song không còn gây được chú ý như trước, hoặc nếu viết về đề tài chiến tranh, thì góc độ đời tư và thế sự lại nổi lên, làm thay đổi diện mạo văn học Như vậy, sự đổi thay nội dung thể loại là một hiện tượng có quy luật

Nội dung thể loại làm thay đổi toạ độ không gian, thời gian, đổi thay xung đột và giọng

điệu

Những đổi thay đó là có tính quy luật, do đó việc xác định và vận dụng nội dung loại hình thể loại là một yêu cầu không thể thiếu của thi pháp học hiện đại

III - cấu trúc thể loại văn học

Việc nghiên cứu loại hình thể loại chỉ nhằm hai mục đích : một là xác lập quy luật thể loại, làm cơ sở phân tích tiến trình văn học Hai là, phân tích đặc trưng thể loại của các tác phẩm cụ thể, nhận ra tính độc đáo về mặt thể loại của các tác phẩm ấy Những vấn đề như nguyên tắc phân loại, kết quả chia làm ba loại (tự sự, trữ tình, kịch) hay bốn loại (tản văn, thơ, kịch, tiểu thuyết) và đặc điểm của mỗi loại đã thành kiến thức phổ thông, ở đây không trình bày lại Chúng ta quan tâm tới cái cấu trúc mang đặc trưng thể loại của tác phẩm để từ

đó tiến hành miêu tả đặc trưng thể loại cụ thể và loại hình hoá chúng

Quan niệm của chúng tôi là xem thể loại văn học như một mô hình thế giới, có cấu trúc Người đầu tiên nêu lên cấu trúc thể loại văn học lại chính là Aristote Ông đã nêu lên ba

Trang 18

phương thức mô phỏng, mà sau này thường được giải thích là một kiểu quan hệ giữa con người và thực tại Kỳ thực các phương thức mô phỏng của Aristote không nói về đối tượng phản ánh và mối quan hệ của con người với thực tại, mà nói lên các nguyên tắc cấu trúc nội tại của tác phẩm do các mối quan hệ giữa chủ thể (người mô phỏng, chủ thể lời nói) và khách thể (sự kiện, nhân vật được mô phỏng, các tư tưởng, ý nghĩ) trong tác phẩm Ba phương thức mô phỏng của Aristote nói lên đặc điểm của ba kiểu quan hệ giữa chủ thể và

khách thể trong tác phẩm Có thể xem đó là các yếu tố cấu trúc thể loại Từ đó, ta thấy chủ

thể, các quan hệ khác nhau của chủ thể đối với tác phẩm là yếu tố mang tính đặc trưng thể loại, hợp thành cấu trúc thể loại

1 Chủ thể thể loại của thế giới nghệ thuật

Đây là yếu tố đầu tiên của thể loại Mặc dù trong lý thuyết của mình, Aristote chỉ nói tới

ba điểm mang đặc điểm thể loại là phương tiện, đối tượng, phương thức, song khi trình bày thì

ông cho thấy có yếu tố chủ thể : người kể, người tự nói về mình, người thể hiện trong hành

động nhân vật Lúc đầu chủ thể đây được hiểu là tác giả Nhưng lý luận văn học ngày nay phân biệt tác giả với chủ thể lời nói, là kẻ phát ngôn do tác giả sáng tạo ra trong từng trường hợp cụ thể, nó có quan điểm của tác giả nhưng không đồng nhất với tác giả Chủ thể đây là chủ thể lời nói, chủ thể của ý thức được thể hiện trong văn bản Về quan hệ giữa chủ thể đối với văn bản, thì trong sử thi, chủ thể là người hát rong đối với văn bản được sáng tác bằng miệng Về khoảng cách, họ kể chuyện sử thi như một chuyện quá khứ xa xăm mà họ tuyên

bố là sự thật, họ coi tự có vai trò không chỉ là ngợi ca, mà còn phải giải thích cho người nghe hiểu về các sự tích Trong thơ trữ tình, chủ thể là người tự thể hiện cảm xúc, ý nghĩ của mình, văn bản là lời của chủ thể đó Chủ thể trữ tình khác nhau tạo thành các tiểu loại : thơ

bi ca, thơ tình nói về những đau đớn trong tình yêu ; ở thơ điền viên, chủ thể là một người thoả mãn, ru mình trong các lạc thú đồng quê ngọt ngào, thơ ngôn chí có chủ thể là người ca ngợi lý tưởng của mình ; thơ trào phúng có chủ thể là người có nụ cười phê phán hoặc tự trào Như vậy là qua đặc điểm về quan hệ, thái độ, khoảng cách của chủ thể đối với văn bản, với hiện trạng được miêu tả, ta có thể xác định được đặc điểm thể loại

2 Hình thức ngôn ngữ biểu hiện

Là một phương diện quan trọng của thể loại : truyền miệng hay viết ; để nói, để đọc ; văn vần hay văn xuôi, hoặc văn biền ngẫu Văn kể miệng thì có yếu tố sáng tác dân gian, thường dựa vào công thức, mô típ có sẵn Văn viết thì cũng viết theo truyền thống văn bản viết (tiếng Hán và tiếng Nôm có truyền thống khác nhau) Tiểu thuyết dù là phương Tây hay phương Đông đều có truyền thống truyền miệng Về văn, thơ sử thi gieo vần tự do, nhiều chỗ dễ dãi, do là sáng tác tức hứng dân gian, có chỗ không vần Nhưng phong cách lại cao nhã, trang trọng Ngôn ngữ tiểu thuyết là văn xuôi, khẩu ngữ, ngữ điệu đàm thoại, tự nhiên, bàn luận về thực tại hạ đẳng Truyện hiệp sĩ thì lời lẽ trang nhã, ngọt ngào, có nhịp điệu Có thể nói mỗi thể loại văn học có một hệ thống phong cách học đặc trưng của nó Tiếc rằng về mặt này hiện nay ở Việt Nam vẫn chưa được chú ý đầy đủ

Trang 19

3 Về cấu tạo hình tượng nhân vật và sự kiện

Về hành động trong tác phẩm thì trong sử thi thường bắt đầu bằng các chuyện nhỏ mà gây ra tai hoạ lớn, thể hiện một vấn đề có tính thống nhất về trật tự khách quan hoặc thế giới Các nhân vật sử thi có những nhân vật thuộc tầng lớp thống trị, quý tộc, độc đoán chuyên hành ; nhân vật tối cao được thần hoá, vây quanh là vệ sĩ, kỵ sĩ phần nhiều vô danh Hoạt động nhân vật mang nhiều nghi thức, tượng trưng Ăn mặc, động tác, huy chương,

danh hiệu, là các dấu hiệu phân biệt các loại người

Tiểu thuyết trung đại thường kể những chuyện bất ngờ, nêu ra vấn đề đạo đức, Nhân vật thường bao gồm những người thuộc tầng lớp quý tộc, tư sản và các giai cấp khác, tiêu chuẩn

đã khác với các nhân vật anh hùng Loại này nghiêng về tái hiện thế giới bên ngoài, tập quán sinh hoạt, lời ăn tiếng nói hằng ngày, lấy đó mà phân biệt các loại người

Truyện truyền kỳ hiệp sĩ trung đại (phương Tây) có đối lập tầng lớp thống trị với người nghèo, có hình tượng bọn du thủ du thực, nhưng nổi bật với tầng lớp hiệp sĩ thiện chiến,

tham gia các cuộc mạo hiểm, trung thành với tình yêu mỹ nữ, Cách giao tiếp của họ trong giới thượng lưu, hiệp sĩ thường khách khí, trang nhã, khiêm nhường Ví dụ, truyện Iven của

Chrétiens de Troyes kể về những cuộc phiêu lưu của các hiệp sĩ, của vua Arthua Sự việc xảy

ra như trong truyện cổ tích Những điều này đã nói đến ở phần quan niệm nghệ thuật về con người, ở đây chỉ là tóm lược

4 Chức năng xã hội và phương thức tiếp nhận

Truyện sử thi thể hiện ký ức của lịch sử thiên về lý tưởng Truyện truyền kỳ, hiệp sĩ thuần túy hư cấu, nhằm thể hiện tư tưởng về đạo đức chốn cung đình Tiểu thuyết thì chỉ nhằm kể những trường hợp ngẫu nhiên của cuộc đời Nó nêu các vấn đề đạo đức đời thường cho người

đọc suy nghĩ Nếu sử thi thiên về giáo dục thì truyện hiệp sĩ nặng về giải trí, biểu hiện khát vọng về tình yêu, hạnh phúc, trang nhã Tiểu thuyết thì khêu gợi năng khiếu quan sát đối với

đời sống thế tục, suy nghĩ về các quy phạm xã hội

Trên đây chỉ là mô tả sơ lược vài ba thể loại văn học trung đại phương Tây, song nó cho thấy bốn yếu tố trên là yếu tố mang đặc trưng loại hình của thể loại

Kết hợp loại hình nội dung thể loại với việc miêu tả các đặc điểm thể hiện của bốn yếu tố trên có thể giúp ta khám phá thi pháp thể loại của tác phẩm

IV - Về một số thể loại văn học

Để làm sáng tỏ quan niệm thể loại văn học là một mô hình thế giới tương ứng với một quan niệm nhất định về thế giới và con người, chúng ta hãy điểm qua một vài thể loại văn học

1 Tiểu thuyết "tài tử - giai nhân"

Là một "dòng tiểu thuyết", nhưng cũng là một thể loại, vì có một mô hình thế giới, một quan niệm về nhân sinh Mô hình tiểu thuyết nói chung có thể xác định từ cặp nhân vật nam nữ trong tác phẩm Anh hùng - mỹ nhân, đế vương - hậu phi, thư sinh - hồ ly tinh, thư sinh -

kỹ nữ, trai phàm - nữ tiên, hoà thượng - ni cô, hiệp khách - mỹ nhân, mỗi cặp nhân vật

Trang 20

chính như vậy đã cho ta hình dung một mô hình truyện Thể loại tài tử - giai nhân bắt buộc phải có mấy yếu tố sau :

Một là phải có tài tử - giai nhân, mà đặc biệt là giai nhân Người giai nhân phải có mười phần nhan sắc, mười phần tài trí, lại mười phần phong lưu Ba điều ấy mà thiếu đi một là không thành giai nhân được Nói cách khác giai nhân phải có đủ dung nhan đẹp, tài trí đẹp, tình yêu đẹp Mức độ của ba điều đó đều sánh ngang các bậc danh tiếng trong lịch sử

Hai là tình yêu của họ trải qua nhiều thử thách, trắc trở để cuối cùng đoàn viên

Ba là quan niệm hôn nhân tuy mang màu sắc tự do mà cuối cùng phù hợp với quan niệm trung hiếu, tiết nghĩa, môn đăng hộ đối

Bốn là quan niệm một chồng nhiều vợ, chị em thuận hoà

Năm là đánh dấu sự nhượng bộ của người đàn ông lý tưởng đối với người phụ nữ lý tưởng Tư tưởng phong kiến xem "nữ nhân nan hoá", cho nữ "tập văn tắc dâm", "nữ nhân bất tài tiện thị đức" đều là các quan điểm khinh thường phụ nữ Chu Quang Tiềm so sánh hình

ảnh phụ nữ trong văn học trung đại phương Tây và Trung Quốc, đưa ra nhận xét : trong các tiểu thuyết hiệp sĩ phương Tây phụ nữ là đối tượng của sự hâm mộ, còn trong tiểu thuyết Trung Quốc phụ nữ là một hình ảnh ai oán Tiểu thuyết tài tử - giai nhân đi ngược lại truyền thống "nữ oán", mở ra truyền thống sùng bái nữ giới đa tài đa tình

Thể loại văn học này đánh dấu một bước tiến trong quan niệm dân chủ, giải phóng cá

tính, nhưng chưa thoát khỏi công thức, giáo điều, rập khuôn Đọc Truyện Song Tinh, Bình Sơn Lãnh Yến thì rõ

2 Siêu tiểu thuyết

Một hình thức của tiểu thuyết hậu hiện đại, cùng xuất hiện với "tiểu thuyết mới", "tiểu thuyết hoang tưởng", "tiểu thuyết hài hước đen" Nhiều ý kiến xác định "siêu tiểu thuyết" là thể loại tiểu thuyết bàn về lý luận tiểu thuyết, trình bày nội dung tiểu thuyết cùng với quá trình sáng tạo tiểu thuyết, nhà viết tiểu thuyết cùng xuất hiện trong tác phẩm như một nhân vật Đó là loại tiểu thuyết hàm chứa hai tiểu thuyết : tiểu thuyết về nhân vật và tiểu thuyết về người viết tiểu thuyết Nó không đơn giản là truyện trong truyện, mà là truyện về việc làm truyện

Siêu tiểu thuyết thể hiện quan niệm hoài nghi về chân lý thực tại cũng như khả năng phản

ánh thực tại, hoài nghi ngôn ngữ có khả năng biểu hiện đầy đủ chân lý thực tại

Theo một số nhà nghiên cứu, siêu tiểu thuyết có ba đặc điểm chủ yếu :

a) Tăng cường yếu tố bỡn cợt văn tự Tác giả thường nhấn mạnh với người đọc rằng tiểu thuyết là một trò đùa ngôn từ Họ công khai sử dụng các thủ pháp phát ngôn mâu thuẫn, sắp xếp các kiểu lựa chọn, dừng nửa chừng, tuỳ ý thay đổi, nói quá, nói tắt

b) Đưa tác giả vào văn bản để nhấn mạnh tính chất hư cấu của câu chuyện, cho người đọc thấy toàn tác phẩm đều là bịa, làm cho ảo giác về tính có thật của câu chuyện mất đi

c) Điểm thứ ba là nhấn mạnh vai trò tự ý thức của nhà văn, biến tiểu thuyết thành sự tự biểu hiện, tự khoe, tự thưởng thức của tác giả

Trang 21

Siêu tiểu thuyết là mô hình về thế giới của người sáng tạo tiểu thuyết, thể hiện sự hoài nghi về thực tại và bản thân nghệ thuật

3 Về bi kịch xưa và nay

Bi kịch là thể hiện của những xung đột không lối thoát trong đời sống và kết thúc bằng cái chết hoặc sự hy sinh của nhân vật chính Từ xưa đến nay thể loại bi kịch biến động do mô hình và tính quan niệm ở bên trong

Bi kịch cổ đại (Prométhée bị xiềng, Oedipe làm vua) là xung đột giữa con người và thần Prométhée bị xiềng là tác phẩm còn lại trong bộ ba bị thất truyền (mất hai tác phẩm) của

Eschyle ca ngợi Prométhée vì lấy lửa cho con người mà bị thần Zeus trừng phạt Trong bi kịch của Sophocles, Oedipe không sao thoát khỏi lời tiên tri của Apôlông về số phận là giết cha

và lấy mẹ, kết quả là tự trừng phạt mình bằng cách chọc hai mắt cho mù Con người không thoát khỏi số phận do thần định đoạt và mang đậm màu sắc luân lý

Bi kịch của Shakespeare là xung đột của nhân tính và lịch sử Nhà văn đã đưa xung đột kịch từ con người và thần của bi kịch cổ đại xuống trần gian và lịch sử Othello, Hamlet, Vua Lia, Macbeth, Romeo và Juliet đều là bi kịch của nhân tính và những thù hận trung cổ

Bi kịch tư sản thế kỷ XVIII là bi kịch cá nhân, hay đúng hơn là bi kịch tư nhân Trong vở

kịch Người lái buôn Luân Đôn, nhân vật chính là nhân viên Gioocgiơ Banvin của một nhà

buôn Luân Đôn, bị rơi vào bẫy của một kỹ nữ, người kỹ nữ này lại là kẻ hận đàn ông và muốn trả thù, bắt Banvin phạm tội ác Cuối cùng cả kỹ nữ lẫn Banvin đều lên giá treo cổ

Với thế kỷ XVIII, bi kịch của Lessing (Emilia Galotti) và của Schiller (Âm mưu và tình yêu) là bi kịch gia đình và xã hội, xung đột cá nhân và xã hội làm nổi bật lên xung đột giữa

thị dân và tầng lớp phong kiến quý tộc

ở phương Tây hiện đại xuất hiện ba loại bi kịch : bi kịch xã hội, bi kịch tâm thần và bi

kịch bản thể Bi kịch xã hội như Cái chết của người chào hàng của Arthur Miller (1949),

nhân vật chính cùng quẫn, bị đánh mất giá trị người, đã gây tai nạn ôtô để tự sát với hy vọng

cho con trai được hưởng khoản tiền bảo hiểm nhân thọ Bi kịch tâm thần như tác phẩm Sự thức tỉnh của giới tính của tác giả Đức Frank Wedekind kể về bi kịch của đám học sinh do phát dục và sự thiếu giáo dục giới tính tạo nên Bi kịch bản thể như kịch phi lý – Nữ ca sĩ hói đầu của E Ionesco và Chờ đợi Godot của S Beckett – bi kịch của hư vô, bi kịch của

ngôn ngữ, của giao tiếp

Tình hình phát triển thể loại bi kịch ở phương Tây thể hiện con đường ý thức về nhân sinh, từ trong cái chết mà tìm ra ý nghĩa của sự sống, khẳng định tiến trình tư tưởng : Thượng đế đã chết, còn con người đang sống, đang tìm tòi

Câu hỏi hướng dẫn ôn tập

1 Phạm trù thể loại văn học có những ý nghĩa gì ?

2 Loại hình hoá thể loại khác với phân loại văn học như thế nào ? Vì sao phải tiến hành loại

hình hoá thể loại văn học ?

Trang 22

3 Tính nội dung của thể loại biểu hiện như thế nào ? Có các loại nội dung thể loại cơ bản

nào ? Sự tương quan giữa nội dung thể loại và loại văn học như thế nào ? Nêu ví dụ

4 Đặc điểm cấu trúc thể loại thể hiện ở những yếu tố nào ? Nêu ví dụ Thử phân tích đặc

điểm thể loại của một tác phẩm tự chọn (ví dụ : truyện Thánh Gióng)

5 Nêu đặc điểm thi pháp thể loại thế sự trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan

6 Nêu đặc điểm thi pháp thể loại đời tư trong truyện ngắn Thạch Lam

7 Thi pháp sử thi trong truyện ngắn Rừng xà nu, Mảnh trăng cuối rừng, bai thơ Người con

gái Việt Nam hoặc thi pháp thể loại của các bài thơ Vội vàng, Nhớ rừng

Trang 23

Chương VIII Cấu trúc và tính quan niệm

của truyện

I - Khái niệm truyện trong thi pháp học hiện đại

1 Cốt truyện và truyện

a) Khái niệm truyền thống

Không biết ai là người đầu tiên đặt ra hai chữ cốt truyện trong tiếng Việt, nhưng cứ theo nghĩa mặt chữ của nó thì cốt truyện là từ chỉ cái phần lõi cốt của truyện, cái phần có thể tóm tắt, thuật lại hay vay mượn để sáng tạo ra tác phẩm khác Từ đó, trong các từ điển, giáo trình

lý luận văn học, cốt truyện thường được hiểu là hệ thống các sự kiện chính, cơ bản dùng để biểu hiện tính cách nhân vật và phản ánh mâu thuẫn, xung đột xã hội Cách hiểu cốt truyện

đó không bao gồm tất cả các chi tiết cụ thể, sinh động, nhiều khi không cơ bản, nhưng tạo nên sự đầy đặn nghệ thuật cho truyện Khái niệm cốt truyện đó cũng không tính đến quan hệ với lời văn trần thuật, sự miêu tả và các yếu tố khác Nhiều người đã nói việc tóm tắt cốt truyện nói chung là một việc làm không có nhiều ý nghĩa, vì nó không cho thấy nội dung, cũng không cho thấy cái hay của tác phẩm Do đó, ngày nay thiết nghĩ phải sử dụng khái niệm

cốt truyện để chỉ hai phương diện, một là hệ thống sự kiện có tính nhân quả, cốt lõi và hai là

cấu trúc của truyện

Cách hiểu khái niệm cốt truyện có truyền thống lâu đời Nó bắt nguồn từ Aristote và được các nhà lý luận chủ nghĩa cổ điển minh định rõ Theo đó cốt truyện, tức là cấu trúc sự kiện của truyện, là tiến trình các sự kiện xảy ra theo quy tắc nhân quả dẫn đến một kết cục Truyện nào cũng có tính thống nhất, bắt đầu từ một trạng thái ổn định, thăng bằng, sau đó xảy ra hỗn loạn, mâu thuẫn xung đột, cuối cùng trở lại trạng thái thăng bằng Người ta biểu diễn cốt truyện đó bằng sơ đồ chữ "V" ngược như sau :

Trang 24

b) Khái niệm hiện đại

Các nhà hình thức Nga ở đầu thế kỷ XX là những người đầu tiên đem đối lập cái chuỗi các biến cố liên tục tự nhiên trong truyện, coi như là chất liệu, mà gọi là "fabula" (tức cốt truyện tự nhiên, còn gọi là tích truyện, truyện gốc), và cái trật tự nghệ thuật mà tác giả dùng

để kể lại các biến cố ấy cho người đọc là "siuzhét" (có thể dịch là tình tiết, truyện kể hay cấu trúc của truyện) Cấu trúc của truyện là hệ thống các biến cố trong trật tự nghệ thuật đã đựơc lựa chọn, sắp xếp Điểm mở đầu và kết thúc của truyện nghệ thuật rõ ràng là không phải lúc nào cũng trùng khít với điểm mở đầu và kết thúc của truyện tự nhiên Sự phân biệt này đã phơi bày cấu trúc nội tại của truyện Truyện nghệ thuật là thực tại nghệ thuật, là các biến cố trong sự miêu tả Tác phẩm nghệ thuật hay không chỉ do cốt truyện mà chủ yếu là do cách

kể, do các yếu tố ngoại đề, xa đề Vì vậy, cần phải đổi mới căn bản lý thuyết tự sự Với lý thuyết tự sự học hiện đại, kiến giải của các nhà hình thức Nga tuy vẫn có cơ sở khoa học, nhưng tỏ ra rất sơ lược Lý thuyết tự sự ngày nay chia làm hai hướng Một hướng đi sâu nghiên cứu cấu trúc của truyện, đi tìm các đơn vị mang nghĩa bắt đầu từ B.Tômasépxki, V Prốpp, R Barthes, Greimas, Tz.Tôđôrốp, C Brémond Hướng thứ hai nghiên cứu cấu trúc trần thuật với người kể, lời kể, điểm nhìn, không gian, thời gian, Hướng này bắt đầu với H James, P Lubbock, W Booth, L Dolegel, G Genette, M Bal Cũng có người nghiên cứu kết hợp cả hai hướng trên, vì chúng thực tế không thể tách rời

2 Cấu trúc sự kiện của truyện

Khái niệm cấu trúc sự kiện của truyện bắt đầu từ nhận thức cho rằng, các sự kiện trong thực tế đời sống, tự nó không có sự mở đầu, phát triển và kết thúc nào rõ rệt cả, không có việc nào thực sự "kết thúc", bởi mọi sự "kết thúc" cái này có nghĩa là mở đầu của cái kia ! Nói cách khác tự thân thực tế đời sống không có cái gọi là truyện Mọi câu chuyện đều do con người thêu dệt ra, tìm điểm khởi đầu, nối kết các vụ việc thành chuỗi liên hệ, rồi cho nó phát triển và dẫn tới kết thúc Lịch sử cũng không có truyện, chính con người do phát hiện ra hay do quy cho hiện tượng một nguyên nhân, vạch ra cái kết quả thì mới tạo thành truyện Người ta thường nói : "Không có lửa sao lại có khói", nghĩa là người ta thấy khói, từ đó suy

ra lửa và làm ra truyện Như vậy, truyện là một chuỗi sự việc xảy ra được kể ra do phát hiện thấy một ý nghĩa nào bên trong Và kể chuyện là một hình thức để phát hiện các mối liên hệ bên trong của các sự việc (sự kiện) bề ngoài có vẻ như không có liên hệ, là một hình thức nhận thức, cắt nghĩa và giải thích các hiện tượng xung quanh ta Do đó, nó cũng là một công

cụ nhận thức và giao tiếp, do quan niệm, ý tưởng của người kể quy định, chứ không phải do quan hệ nhân quả tự thân của sự việc khách quan quy định Do đó, dù cuộc sống không có

mở màn, hạ màn, người kể cũng tìm cách mở màn, hạ màn một cách ngoạn mục Mở đầu là giới thiệu sự việc còn kết thúc là phán đoán sự việc về mặt ý nghĩa và giá trị

Các truyện cổ được xây dựng theo nguyên tắc nhân quả chặt chẽ Tiểu thuyết hiện đại cố gắng thoát khỏi mối liên hệ nhân quả áp đặt thô thiển, nhưng truyện vẫn có cấu trúc ư đó là mối liên hệ ý nghĩa của các sự kiện Và để gần với thực tại hơn, người ta thường phá vỡ "sự kết thúc" Cái gọi là "kết cấu mở", "có nhiều kết cục", tức là muốn thủ tiêu kết cục, không muốn đem kết cục để dạy đời

Trang 25

Nếu ta hiểu truyện là chuỗi sự kiện có mối liên hệ mang ý nghĩa thì truyện nào cũng phải

có truyện Cái gọi là truyện mà không có truyện chỉ là một dạng truyện, trong đó mối liên hệ nhân quả không đóng vai trò chi phối hay đã bị làm cho mờ nhạt

3 Từ lý thuyết mô típ đến đơn vị chức năng của truyện

Để tìm hiểu cơ chế biểu hiện ý nghĩa của truyện mà không cần viện đến quan hệ nhân quả trực tiếp, người ta đã đi tìm các đơn vị nhỏ nhất của truyện, thay vì đi tìm năm thành phần truyền thống : giới thiệu - thắt nút - phát triển - cao trào - mở nút

Do nhu cầu nghiên cứu ảnh hưởng của các thần thoại, truyền thuyết cổ đại đối với sự phát triển văn học về sau, A N Vêxêlốpxki đã tách từ cốt truyện ra các mô típ như các đơn vị nhỏ nhất của cốt truyện Ông định nghĩa : "Mô típ là những công thức trả lời cho các vấn đề

mà giới tự nhiên đặt cho con người từ những thuở nguyên sơ, khắp mọi nơi, hoặc là những

ấn tượng về hiện thực được đúc kết nổi bật, hoặc tỏ ra quan trọng và được lặp đi lặp lại( )1 Ví

dụ như mặt trời bị đánh cắp (nhật thực), chim tha lửa trên trời xuống (chớp), mây không làm mưa, suối khô cạn, người lấy thú, biến hình, mụ già ác hãm hại cô gái đẹp, cô gái bị bắt cóc, sự kết hợp các mô típ như thế lại với nhau tạo thành cốt truyện Khi sử dụng lại các mô típ để sáng tác, chúng được biến đổi hình hài

Các mô típ là các đơn vị cố định, thể hiện một nội dung nào đó, được sử dụng nhiều lần,

là một hiện tượng phổ biến không chỉ trong văn học dân gian, mà cả trong văn học viết Ví

dụ như : bán mình chuộc cha, tham vàng bỏ nghĩa, vua ép gả công chúa, cống người đẹp cho ngoại bang, v.v Do đó, vận dụng khái niệm mô típ là một phương pháp hữu hiệu, bởi mô típ vừa có quan hệ vừa có ý nghĩa

Tiểu thuyết hiện đại vẫn sử dụng các mô típ huyền thoại và làm cho tác phẩm có chiều

sâu Tiểu thuyết Âm thanh và cuồng nộ của W Faulkner có bốn chương, thời gian phát sinh

tình tiết trong mỗi chương là 2 - 6 - 1910 và các ngày 6, 7, 8 - 4 - 1928 Ba ngày đầu là ngày trong cuộc đời Giêsu từ thọ nạn đến phục sinh, chương cuối là ngày thứ tám của lễ Mình Thánh năm ấy Nhà văn xây dựng mối liên hệ bốn ngày trong lịch sử gia đình Compson với bốn ngày chịu nạn của Chúa, tạo thành một ẩn dụ W Faulkner cho biết trước khi viết tiểu thuyết này ông đã có một hình ảnh : một cô gái bé bỏng, không cha mẹ, không ai thương cô, chăm sóc cô, đồng cảm cô, thế là cô bò theo ống xả nước mà chạy trốn khỏi "nhà" của mình

Ông xem đó là bức tranh tượng trưng Ngày Quentin bỏ trốn là ngày Giêsu phục sinh,

Lý thuyết Hình thái học truyện cổ tích thần kỳ Nga của V Prốpp thực chất là cuộc đi tìm

các mô típ và ý nghĩa của các đơn vị mô típ Cái gọi là "chức năng" chính là ý nghĩa, còn cấu trúc là mối liên hệ của chúng Cấu trúc của truyện cổ tích, theo Prốpp là : 1) Chức năng của nhân vật trong truyện là bất biến, dù nhân vật là ai ; 2) Đối với truyện cổ tích thần kỳ số lượng chức năng là hữu hạn ; 3) Thứ tự các chức năng là bất biến ; 4) Mọi truyện cổ tích thần kỳ về cấu trúc đều chung một loại hình Phương pháp của Prốpp là trừu tượng khỏi các nhân vật cụ thể để xác lập hệ thống các chức năng mang nghĩa

(1) A N Vêxêlốpxki, Thi pháp học lịch sử, Mátxcơva, 1989, tr 301

Trang 26

Khái quát hơn 100 truyện cổ tích thần kỳ Nga, ông xác lập một bảng 31 chức năng sau(1):

5 Sự tiết lộ (vô tình hay hữu ý)

6 Sự đánh lừa (lừa hoặc bị đánh lừa)

7 Sự dính líu (vô tình hay hữu ý tiếp tay cho đối thủ)

8 Sự làm hại (cho nhân vật chính)

9 Làm môi giới (loan tin, sai phái, ra lệnh)

10 Hành động chống lại (đồng ý hoặc đối phó)

11 Sự rời khỏi (nhân vật chính ra đi)

12 Chức năng thử thách của người cho

13 Phản ứng của nhân vật chính

14 Nhận được vật thần kỳ

15 Sự di chuyển giữa hai nơi

16 Giao tranh

17 Sự đánh dấu (để sau này nhận ra)

18 Sự chiến thắng (đối thủ thua)

19 Sự thiếu thốn được khắc phục (tìm được vật quý)

20 Sự trở về

21 Sự truy nã

22 Sự thoát thân

23 Chuyến viếng thăm bí mật

24 Sự đòi hỏi vô lý (của nhân vật giả mạo)

25 Việc khó khăn (thử thách, ra điều kiện )

26 Sự giải quyết (đáp ứng xong thử thách)

Các chức năng trên có thể quy về sáu nhóm (đơn vị)

(1) V Prốpp, Hình thái học truyện cổ tích, Mátxcơva, 1969

Trang 27

Một nhân vật có thể đóng hơn một vai trò, một vai trò cũng có thể do hai ba nhân vật

đóng Quan niệm xem nhân vật như những vai trò là một tư tưởng sâu sắc mới mẻ, sau này

được nhiều người nghiên cứu phát triển Trước đây người ta chỉ thấy nhân vật là hình thức để phản ánh một nội dung xã hội nào đó Các khái niệm chức năng, trật tự, kẻ hành động có thể giúp miêu tả cấu trúc của tác phẩm tự sự cụ thể

Ví dụ, truyện Cây khế sử dụng các chức năng sau :

8 Người em nghèo (Thiếu thốn tài sản)

9 Đại bàng ăn khế (Môi giới, khả năng đền bù)

10 Người em đồng ý (Hành động phản ứng)

11 Người em theo chim (Sự rời khỏi)

12 Người em thoả mãn thử thách (Thử thách)

18 Người em giàu có (Sự chiến thắng)

23 Người anh giả thiếu thốn (Chuyến viếng thăm bí mật)

25 Đại bàng ăn khế và ra điều kiện (Thử thách)

26 Người anh theo chim (Đồng ý thử thách)

28 Người anh lộ lòng tham (Sự vạch mặt)

30 Người anh rơi xuống biển chết (Sự trừng trị)

Truyện Cây khế chỉ sử dụng có 11 chức năng, thuộc loại rất đơn giản

Theo chúng tôi, Prốpp chỉ ra các nhóm chức năng cụ thể có tính loại hình, có ý nghĩa như

là các mô típ So sánh các chức năng ấy với các chức năng tương tự trong truyện cổ tích thần

kỳ Việt Nam, có thể nhận thấy đặc điểm của truyện Việt Nam Chẳng hạn, có người đã nhận

Trang 28

xét truyện cổ tích Việt Nam mang đậm không khí sinh hoạt đời thường, ít không khí hư ảo, phi hiện thực của cổ tích Nga Truyện người Việt hầu như không có mụ phù thuỷ, không có gã khổng lồ Việc gây hại trong truyện Việt thường là tranh công, giết người, giết con vật,

vu oan bỏ ngục, cướp chồng, cướp vợ, khá đời thường, khác với việc gây hại trong truyện

cổ tích Nga như kẻ đối thủ làm hỏng hạt giống, đánh cắp ánh sáng ban ngày, phù phép làm cho người hoá đá, mang tính chất thần thoại, thơ mộng Việc thử thách trước khi ban tặng vật thần kỳ trong cổ tích Nga cũng oái oăm, như vắt sữa một con sư tử cái, nhổ sợi lông trên

đầu con quỷ dữ một mắt, lấy bông hoa màu nhiệm do tên khổng lồ canh giữ Truyện cổ tích người Việt không có các chi tiết loại đó Các vật thần kỳ mà nhân vật cổ tích Việt có được thường là do gặp may, do người ban tặng rủ lòng thương, hoặc do người xin có làm việc tốt, việc thiện từ trước, được cho để trả ơn vì đức độ Như vậy là phép màu và đồ vật thần kỳ mà nhân vật cổ tích Việt có được là do tình nghĩa, đức độ là chủ yếu, chứ không do tài năng, khôn khéo Nhân vật truyện Việt Nam ít phiêu lưu, ít có cuộc ra đi qua những vương quốc khác, ít đánh nhau, ít truy nã và thoát thân, biến hình Truyện Việt ngoài kết thúc bằng kết hôn, còn nhiều trường hợp kết thúc bằng bi kịch, nhân vật chết hoặc hoá đá, hoá cây, hoá chim, ( )1

Các học giả phương Tây đánh giá : V Prốpp đã xác lập ngữ pháp và cú pháp cho một thể loại tự sự( )2 Một số tác giả như A Greimas, C Bremond, Tz Tôđôrốp phát triển cách làm của Prốpp Nhưng Iu Lốtman nhận xét : "Mọi ý đồ mở rộng mô hình của Prốpp để vận dụng vào tác phẩm folkhore đều không thành công"

5 Mô típ và chức năng nghệ thuật của sự kiện

Nhằm nghiên cứu truyện như một hiện tượng nghệ thuật, các nhà nghiên cứu Nga đương

đại không đi theo hướng đơn tuyến, mà xem xét cốt truyện trong quan hệ nhiều chiều - với kết cấu, với thể loại, với tác giả, với sự phát triển lịch sử, tức là trong toàn bộ sự đầy đặn nghệ thuật Tư tưởng lý luận ở đây là xem xét đơn vị của truyện và chức năng biểu đạt của

Như vậy, có thể hiểu mô típ là các đơn vị nhỏ có ý nghĩa đối với cốt truyện B.Tômasépxki (1925) chia ra mô típ động, gắn với hành động, có tác dụng thúc đẩy truyện tiến tới và mô típ tĩnh (ví dụ, chi tiết chân dung, ngoại hình) Nhưng chi tiết tĩnh cũng có hai loại : có loại thuần tuý miêu tả (ví dụ "anh ta cao to"), có chi tiết báo hiệu (ví dụ "mặt thường bầm tím") đã hàm chứa truyện ở bên trong Tômasépxki còn phân biệt mô típ tự do,

(1) Xem thêm : Tăng Kim Ngân, Cổ tích thần kỳ người Việt - đặc điểm cấu tạo cốt truyện, NXB Khoa học xã

hội, H., 1994

(2) Robert Scholes, Chủ nghĩa cấu trúc trong văn học, Đại học Yale, 1974

Trang 29

là loại mô típ nếu lược đi thì không ảnh hưởng tới cốt truyện và mô típ bắt buộc, không thể thiếu

R Barthes trong sách Dẫn luận phân tích cấu trúc tự sự (1977) đề xuất thêm ý mới Ông

chia cấu trúc tự sự làm ba lớp : 1) Chức năng ; 2) Hành động ; 3) Trần thuật Chức năng có hai loại : chức năng hạt nhân (cơ bản) có hai loại, một dùng để nêu và giải quyết vấn đề Ví

dụ, trong truyện Chí Phèo : cứ bao giờ cũng vậy, cứ rượu xong là hắn chửi là nêu vấn đề

Nếu về sau truyện không làm sáng tỏ được nguyên nhân tiếng chửi thì nó trở thành vô nghĩa Một chức năng khác là thúc đẩy (ví dụ : "thoạt đầu hắn chửi trời, chửi đứa chết mẹ đã đẻ ra hắn", ) là thúc đẩy, làm cho tiếng chửi tuy vô lý, nhưng không vô nghĩa Loại chức năng thứ hai là đánh dấu, chỉ các mô típ bắt buộc nhưng tĩnh tại, như đặc điểm tính cách Ngoài ra

có mô típ thông tin, là các mô típ tự do, cung cấp thêm thông tin, không bắt buộc Theo Triệu Nghị Hành (1998), cách phân chia của Barthes có tác dụng phân tích cấu trúc truyện

và căn cứ vào sự có mặt hay vắng mặt các loại mô típ mà xác nhận phong cách của truyện : truyện dân gian có nhiều mô típ hạt nhân Sử thi, tiểu thuyết có nhiều mô típ thúc đẩy Tiểu thuyết nhiều mô típ đánh dấu, tiểu thuyết hiện đại nhiều mô típ thông tin

Tác giả B Egôrốp đưa ra khái niệm "bước" trên cơ sở hiểu tự sự như một hành động có mục đích, có mở đầu, có kết thúc, có từng bước dẫn dắt người đọc Mỗi bước có mở đầu với

dự đoán, chờ đợi và kết thúc với một kết quả phù hợp hay không phù hợp dự đoán "Bước"

được hiểu theo tinh thần lý thuyết thông tin : một kết quả trong khi chưa biết đến đoạn cuối của con đường dẫn đến kết quả

Nhà nghiên cứu phương Đông học Nga B Ríptin cũng nêu khái niệm "bước" trong khi

nghiên cứu truyện Tam quốc diễn nghĩa Theo ông, tình tiết Vương Tư Đồ lập kế liên hoàn

trừ diệt Đổng Trác có thể chia làm mười bước (Hồi thứ 9), thể hiện cảm hứng về mưu kế trong truyện Trung Hoa :

(1) Kể tội Đổng Trác : Nghe tin Tôn Kiên chết, Đổng thêm kiêu căng, xây thành Mi ổlộng lẫy xa hoa, giết người tuỳ tiện

(2) Tư Đồ đặt kế, gồm bốn bước nhỏ :

ư Ra vườn sau ngửa mặt khóc lớn, gặp Điêu Thuyền

ư Bức Điêu Thuyền nói thật

ư Kích Điêu Thuyền lên hàng cứu tinh

ư Bày đặt kế mỹ nhân

(3) Hứa gả Điêu Thuyền cho Lã Bố gồm bốn bước nhỏ : ư Mời tiệc Bố ; ư Tâng bốc Bố ;

ư Cho Điêu Thuyền ra mời rượu ; ư Hứa gả Điêu Thuyền cho Lã Bố

(4) Đem Điêu Thuyền cho Đổng Trác cũng có bốn bước nhỏ : ư Mời Trác dự tiệc tại nhà ;

ư Tâng bốc Trác lên bậc Đế ; ư Cho Điêu Thuyền ra múa ; ư Đem Điêu Thuyền cho Trác (5) Bố và Trác nghi kỵ và đánh nhau : ư Tư Đồ bảo Bố là Trác đón con dâu ; ư Bố thấy

Điêu Thuyền trong buồng Trác ; ư Bố gặp Điêu Thuyền khi Trác ngủ, bị Trác đuổi ; ư Bố thừa cơ gặp Điêu Thuyền tại Phụng Nghi Đình ; ư Bố bị Trác phát hiện, bố con đánh nhau

Trang 30

(6) Tạm hoà hoãn : ư Trác muốn đem Điêu Thuyền cho Bố, Điêu Thuyền đòi chết, lại thôi ;

ư Lý Nho khuyên trả Điêu Thuyền, Trác cự tuyệt

(7) Tư Đồ khích Bố giết Trác : ư Trác đem Điêu Thuyền về Mi ổ, Bố trông thấy Tư Đồ khích : ư Thiên hạ cười tướng quân đó ; ư Bố muốn đánh ; ư Tư Đồ giả khuyên can ; ư Lại tâng bốc Bố lên hàng trung thần nhà Hán

(8) Tư Đồ bày mưu giết Trác : ư Nhân Trác đem Điêu Thuyền về Tràng An

(9) Hoà hoãn : ư Xe Trác gãy một bánh xe, chuyển sang ngựa ; Trác hỏi điềm gì, Túc bịp Trác ; ư Hôm sau có gió bão, Trác hỏi điềm gì, Túc lại bịp ; ư Đêm ngủ nghe trẻ con hát bài

bi thảm, Trác hỏi điềm, Túc bảo nhà Hán sắp đổ ; ư Hôm sau gặp người vác gậy có buộc mảnh vải có vẽ chữ Lã, Trác hỏi điềm, Túc lại bịp, Trác tin

(10) Giết Trác : Trác vào triều, mọi người đeo gươm, Trác gọi Bố, Bố vào giết Trác Các bước khi tiến, khi thoái, khi căng, khi chùng, như từng làn sóng, từng bước đẩy hành

động tới đích Quan niệm này thích hợp để phân tích truyện cổ của Trung Quốc Đúng như Kim Thánh Thán đã nói, tiểu thuyết hay là tả từ xa tả lại, khi gần đến nơi thì dừng lại, lại từ

xa tả lại, Đó thực chất là nghệ thuật tạo đợi chờ gây hấp dẫn

Ngoài vấn đề đơn vị truyện và chức năng biểu đạt nghệ thuật còn có quan hệ truyện và truyện kể, kết cấu, truyện và thể loại, truyện và tác giả, người đọc

Nhìn chung, trần thuật được nhìn nhận như một hành động nghệ thuật, mà cấu trúc sự kiện của truyện là một yếu tố Quan niệm chỉnh thể cho thấy được giá trị của truyện( )1

II - Tính quan niệm của truyện văn học

Trái với quan niệm truyền thống chỉ xem truyện như một yếu tố nhằm biểu hiện tính cách, còn tự nó không có ý nghĩa, nhà nghiên cứu Nga Ephim Đôbin đã đưa ra một nhận

định được chú ý : "Truyện là một quan niệm về hiện thực"( )2 Nhà lý luận M B Khrápchencô phê bình rằng truyện chỉ thực hiện chức năng hẹp của nó và không thể mang quan niệm của nhà văn Truyện không phải là yếu tố duy nhất mang quan niệm, nhưng rõ ràng nó có nội dung quan niệm của nó Nhà nghiên cứu Nga, bà O.M Freidenberg trong

sách Thi pháp truyện cũng khẳng định các truyện hàm chứa một hệ thống thế giới quan, một

quan niệm về cuộc đời, tức thể hiện một tính quan niệm nhất định Ngày nay các nhà lý luận phương Tây như Frank Lentriechia, Jane P Tompkins, Hayden White xác nhận tự sự là một hình thái ý thức thì tính quan niệm của truyện có thể coi như là một định luận Vì vậy, thi pháp học không phải chỉ xác lập cấu trúc của truyện mà còn phải nghiên cứu quan niệm của truyện nghệ thuật của tác giả, tác phẩm, thể loại

1 Sự kiện và quan niệm nghệ thuật

Sự kiện là cơ sở của mọi truyện kể Đó là khái niệm và thuật ngữ mà B Tômasépxki đã sử

dụng một cách cổ điển trong sách Lý luận văn học ư Thi pháp học (1925) : "Cốt truyện

fabula là tên gọi chỉ tổng thể các sự kiện liên quan nhau được thông báo trong tác phẩm ( )

(1) S Vaiman, Xung quanh cốt truyện trong tạp chí Những vấn đề văn học, N 2, o 1980

(2) E Đôbin, Nhân vật, cốt truyện, chi tiết, Mátxcơva, 1963, tái bản với tên Cốt truyện và hiện thực,

Mátxcơva, 1981

Trang 31

Đối lập với cốt truyện là truyện kể (siuzhet), vẫn là các sự kiện ấy, nhưng ở trong sự trình bày, với trật tự mà chúng được thông báo trong tác phẩm, với mối liên hệ mà chúng được

cung cấp trong thông báo về chúng ở tác phẩm"( )1

Sự kiện trong tác phẩm là những đổi thay, hành động, việc làm của nhân vật Sự kiện với tư cách là đơn vị truyện kể là sự thực đánh dấu việc nhân vật vượt qua giới hạn ý nghĩa( )2 Không phải mọi sự thực đều là sự kiện Nó chỉ là sự kiện đối với một trường nghĩa nào đó

Ví dụ, học sinh nói tục là sự kiện đối với nhà giáo dục, nhưng cảnh sát thì có thể bỏ qua, trái lại người vượt qua đường khi có đèn đỏ lại là sự kiện đối với người cảnh sát giao thông Do vậy, sự kiện gắn với môi trường văn hoá xung quanh Cảnh sát chỉ quan tâm tới sự vi phạm luật đi đường, nếu không có ai vi phạm thì họ coi là "không có gì xảy ra", tức là không có sự kiện Cũng vậy, nếu ngày nay ta bắt gặp một quái thai, hay con rắn hai đầu thì chỉ là một trường hợp bệnh lý, còn ở thời trung đại, đó là cả một sự kiện đòi hỏi các nhà thông thái giải thích Cũng vậy, tình yêu của anh A, chị B trong tiểu thuyết là sự kiện, còn trong sử biên niên, chỉ chuyên ghi các việc trọng đại quốc gia, thì chẳng là gì cả, không đáng ghi chép Như vậy, sự kiện là việc xảy ra có giá trị thông tin trong một phạm vi quan niệm nhất định

Sự kiện đồng thời là sự kiện phá vỡ một thông lệ, điều cấm vốn là điều kiện của sự yên ổn, thăng bằng Nó xảy ra tại nơi nó không được, không nên xảy ra thì tính chất sự kiện càng nổi bật

Từ sự kiện mà xây dựng truyện thì phải có quan niệm nguyên nhân và kết quả, kết cục Lại phải có ý niệm thời gian để xếp thứ tự trước sau (chuỗi), nếu không thì không bao giờ thành truyện

Trong truyện Cây tre trăm đốt, thế giới chia làm hai tiểu thế giới : giàu (phú nông) và

nghèo (cố nông, như anh Khoai), nhân vật của thế giới này nói chung không thể vượt qua để vào thế giới kia Nếu vượt qua là thành sự kiện Do đó, việc phú ông hứa gả con gái cho anh Khoai chỉ có thể là một việc lừa dối Trong điều kiện đó, sự thật thà cả tin của anh Khoai là một sự kiện Người ta thấy anh Khoai có vẻ như ngu dại tự đâm đầu vào bẫy của phú ông, không tìm được cây tre trăm đốt Cuối cùng nhờ sức mạnh thần linh, anh Khoai đã thắng : Thật thà thắng lừa dối Sự kiện này chứng tỏ cổ tích là thế giới của quan niệm chính nghĩa tất thắng

Sự kiện văn học là sự kiện biểu hiện giá trị tinh thần Nó phá vỡ thông lệ để đưa nhận thức đến giới hạn mới Kim - Kiều là hai tiểu thế giới tách biệt do quan niệm "nam nữ thụ thụ bất thân", nhưng Kiều chủ động vượt qua, "đánh đường tìm hoa", thể hiện khát vọng luyến ái tự do Do đó, bước chân thoăn thoắt của cô là cả một sự kiện Romeo và Juliet thuộc hai thế giới thù địch truyền kiếp Tình yêu của họ là sự phá vỡ ranh giới của hai thế giới hận thù, khẳng định tinh thần nhân văn

Nếu tình huống đổi thay mà nhân vật không đổi thay thì đó cũng là sự kiện Chẳng hạn, Quan Công được Tào Tháo hậu đãi mà khi nhận áo mới Tào Tháo ban vẫn mặc vào trong, mặc áo cũ của Lưu Bị ra ngoài, chứng tỏ lòng luôn nhớ về chúa cũ

(1) B Tômasépxki, Lý luận văn học, Thi pháp học, Lêningrát, 1925, tr 137

(2) Iu Lốtman, Cấu trúc văn bản nghệ thuật, Mátxcơva, 1970, tr 285

Trang 32

Tuỳ theo ngữ cảnh văn hoá và cá tính sáng tạo mà sự kiện văn học khác nhau về tính chất

và loại hình Chương về nội dung thể loại văn học trên đây đã cho phép ta phân biệt sự kiện thần thoại vối sự kiện sử thi, sự kiện sử thi với sự kiện tiểu thuyết ở đây sẽ nói đến sự kiện mang quan niệm nghệ thuật của nhà văn Một sự việc trở thành sự kiện đối với nhà văn này

nhưng không phải là sự kiện đối với nhà văn kia M Bakhtin trong cuốn Những vấn đề thi pháp Đốtxtôiépxki nhận xét rằng cái chết trở thành sự kiện có ý nghĩa đối với L.Tônxtôi (ví như trong truyện Ba cái chết, Cái chết của Ivan Ilích), nhưng không trở thành sự kiện

đối với Đốtxtôiépxki theo ý nghĩa đó Phân tích so sánh hai tác giả này, Bakhtin nhận thấy

trong phạm vi ý thức độc thoại, Tônxtôi một mình nhận thấy ý nghĩa của các cái chết (cái chết của người đánh xe, của cây bạch dương, của bà quý tộc), còn ba cái chết ấy tự chúng

chẳng ai nhận ra ý nghĩa cái chết của mình Đốtxtôiépxki quan tâm tới ý thức nhân vật, do

đó ông chú trọng miêu tả cơn khủng hoảng của con người trước khi chết, hơn là cái chết, nhưng cơn khủng hoảng trước cái chết cho phép bộc lộ con người rõ hơn, mạnh mẽ hơn

Do đó, sự kiện tiêu biểu của Đốtxtôiépxki là vụ giết người trong trường nhìn của kẻ sát

nhân, vụ tự sát hay điên loạn Đối với ông, cái chết bình thường rất ít có ý nghĩa, ông chỉ thông báo chúng, chứ không coi là sự kiện Cách phân tích đó là một mẫu mực cho việc nhận thức quan niệm sự kiện

Nhà nghiên cứu A Chuđacốp nghiên cứu truyện của A Sêkhốp( )1 và nhận thấy trong truyện ngắn của Sêkhốp sự kiện không ít hơn trong truyện của bất cứ nhà văn nào, song người ta vẫn cho rằng truyện của ông "không có truyện" Đó là vì thông thường sự kiện lớn phải cho kết quả lớn, thay đổi lớn, nhưng các sự kiện trong truyện ngắn Sêkhốp thì tuy có diễn ra nhưng không có kết quả, không làm thay đổi gì cả Ví dụ, sự kiện chủ yếu trong

truyện Hai vợ chồng là người chồng bắt gặp bức điện của người tình của vợ Thế là nhớ lại

bao sự việc xung quanh vụ ngoại tình của vợ, xảy ra ý nghĩ của nhân vật : "Làm sao mà mình, con trai của vị cha cố làng, về đào tạo là học sinh nội trú trường đạo, một con người bình thường, trực tính lại có thể buông tay chịu lép trước con người đê tiện, tầm thường, giả dối này, một kẻ về bản chất là hoàn toàn xa lạ với mình ?" ấy thế nhưng rút cuộc, lúc mười một giờ, khi anh ta mặc áo để đi đến sở thì người hầu vào nhắc anh ta đưa tiền cho vợ, anh ta lại móc ví đưa tiền cho vợ đi chơi Mọi việc lại như cũ Như vậy, sự kiện ở đây là : cái đáng

lẽ phải xảy ra lại không xảy ra

Trong truyện Người đàn bà phù phiếm, sau khi người chồng đã chết bi thảm, Onga lvanốpna vẫn không đổi thay gì, vẫn suy nghĩ y như cũ ! Đôi vợ chồng trong truyện Nỗi sợ hãi sau khi bao chuyện đổ vỡ vẫn sống cùng nhau Nhân vật trong truyện Đời tôi sau bao biến cố vẫn làm những việc như trước đó Truyện Trong thung lũng khi kết thúc bức tranh

chung của đời sống vẫn y nguyên Sêkhốp kể chuyện để đưa ra quan niệm về sự bất biến, không đổi thay của thực tại Như vậy hiện tượng "không có truyện" của Sêkhốp đã nêu ra một sự kiện lớn của đời sống

(1) A P Chuđacốp, Thi pháp Sêkhốp, NXB Khoa học, Mátxcơva, 1971

Trang 33

Truyện ngắn Thạch Lam cũng không có truyện, từ đầu đến cuối truyện không có gì thay

đổi, nếu có cũng không có gì to lớn Đó là truyện để mài sắc thêm cảm giác con người về

cuộc sống Thanh (Dưới bóng hoàng lan) về với bà rồi đi để xác nhận cảm giác hạnh phúc Nhà mẹ Lê xác nhận tương lai đen tối của mười đứa trẻ mồ côi Hai đứa trẻ với chi tiết cố

thức chờ con tàu chạy qua để xác nhận khát vọng ánh sáng và nhận rõ thêm cuộc đời tối tăm chưa có lối thoát

Kết thúc Gió lạnh đầu mùa cũng không có gì thay đổi, song lòng thương người được khẳng định, cũng như kết thúc Đứa con thì một tình cảm mới nảy sinh Sự kiện trong truyện

Thạch Lam là những sự thực khêu gợi cảm giác, tự nhận thức ; cái chết của mẹ Lê chỉ gợi niềm băn khoăn về số phận đàn con

Nguyễn Công Hoan có quan niệm rõ về biến cố trong truyện của mình Ông nêu câu hỏi : Một việc xảy ra ở trên đời, khi nào thì nó thành truyện ? Có hai trường hợp, đó là khi sự việc bình thường sinh ra hậu quả bất thường, hai là khi sự việc bất thường sinh ra hậu quả bất thường( )1.Như vậy, đối với ông truyện phải cho hậu quả bất thường mới có ý nghĩa, mới

đáng viết thành truyện Sự kiện trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan không chỉ bất thường

mà còn ngược đời, ngược đời một cách tồi tệ Trước hết là sự kiện ngược với lẽ phải thông thường, nó làm hiện lên một cuộc sống phi đạo lý, phi lý

2 Tương quan giữa truyện nhân quả và truyện kể

Đây là tương quan giữa hai trật tự của sự kiện trong tự nhiên (xét theo luật nhân quả) và trong trần thuật nghệ thuật Đây cũng là tương quan thường được hiểu như là tương quan giữa "chất liệu" và "hình thức" Truyện kể tức là hệ thống sự kiện đã mang hình thức nghệ

thuật L Vưgốtxki đã phân tích tác phẩm Hơi thở nhẹ để chứng tỏ truyện kể có tác dụng

khắc phục các ý nghĩa vốn có của chất liệu nhằm thể hiện quan niệm tác giả như thế nào Truyện kể về cô học sinh tỉnh nhỏ Olia xinh đẹp, từng quan hệ với người đàn ông là bạn của

bố, rồi quyến rũ một người Côdắc và hứa làm vợ anh ta rồi sau phủ nhận và bị anh ta bắn chết tại sân ga Một bà giáo quen sống ảo tưởng thường ra thăm mộ cô bé Nhưng tác giả không kể từ khi cô bé lớn lên rồi chết, mà bắt đầu từ việc thăm mộ, rồi hình ảnh cô bé hiện dần qua hồi tưởng bà giáo Việc thông báo rải rác các chi tiết về cô nữ sinh đã làm mất đi sự quan tâm về số phận của cô một cuộc đời tầm thường, vô nghĩa và đoạn kết khi bà giáo chủ nhiệm hồi tưởng một lần nghe lỏm cô bé khoe với bạn về người đàn bà lý tưởng phải có hơi thở nhẹ, thế là câu chuyện trở thành chuyện về "hơi thở nhẹ"( )2, một hơi thở nhẹ có tác dụng giải thoát khỏi cái tầm thường của cuộc đời Như vậy, ý nghĩa không nằm ở bản thân cốt truyện mà nằm ở cách kể, cách sử dụng các chi tiết

Nghệ thuật kể chuyện là một nghệ thuật đặc biệt, nó đòi hỏi kể sao cho mỗi lúc hứng thú của người đọc gia tăng Một cốt truyện giản đơn nhất cũng có thể cấu tạo thành các sự kiện nghệ thuật hấp dẫn, ví như truyện của Conan Doyle về những cuộc phiêu lưu của Sherlock

(1) Nguyễn Công Hoan, Đời viết văn của tôi, NXB Văn học, H., 1971

(1) L X.Vưgốtxki, Tâm lý học nghệ thuật, H., 1995

Trang 34

Holmes, hoặc bất ngờ như truyện của O'Henry Nhà văn không thể kể ngay một lúc tất cả truyện, mà buộc phải có thứ tự lần lượt trước sau, và điều đó cho phép nhà văn cấu tạo lại trật tự câu chuyện theo một ý nghĩa nào đó Bảo rằng hình thức tiêu diệt nội dung (chất liệu) như L X Vưgốtxki, thì chỉ mới đúng một phần, và không ổn về thuật ngữ Nhà văn đồng thời với việc tạo lại trật tự hình thức là việc tạo ra nội dung mới, nói đúng hơn là việc khám phá ra nội dung mới quyết định việc tạo lại hình thức ư hình thức mang quan niệm ở đây không

hề chỉ có một việc là "tiêu diệt nội dung" !

Trên kia ở chương thời gian nghệ thuật, chúng tôi đã nêu ví dụ cách mở đầu truyện ngắn

Chí Phèo không trùng khít với sự ra đời của Chí Phèo cũng cho thấy quan niệm của tác giả

Về một mặt nào đó, thừa nhận cốt truyện nghệ thuật là thừa nhận hình thức trần thuật mở, tức là bắt đầu từ giữa hoặc cuối tiến trình sự kiện và kết thúc ở một điểm nửa chừng Hình

thức mở đầu ở giữa đã có từ Iliade và Odyssée, và chính nhà lý luận Horace đã nói "sử thi

nên mở đầu ở giữa" Đến thời tiểu thuyết du đãng, người ta thường kết thúc tuỳ ý và thêm cái vĩ thanh Có tác giả khẳng định : "Tự sự bao giờ cũng mở và kết ở giữa" Sự tái tạo lại

trật tự nghệ thuật cho các sự kiện là đặc trưng của tư duy nghệ thuật thế kỷ XIX Ví dụ Phục sinh của Tônxtôi, Một anh hùng thời đại của Lécmôntốp, Những linh hồn chết của Gôgôn, Làm gì của Sécnưsépxki, v.v

III - Hệ thống mô típ trong văn học nghệ thuật phương

đông

1 Các mô típ mang nội dung tô tem, tôn giáo, kỳ ảo

Theo nghiên cứu của Ngô Quang Chính (Các nguyên mẫu và mô típ trong tiểu thuyết cổ

điển Trung Quốc - 2002 và Ngô Khang (Các mộng ảo của Trung Quốc cổ - 1992) đối chiếu

với văn học Việt Nam, có thể kể các mô típ và nguyên mẫu sau :

a) Cao tăng và mỹ nữ : thử thách sắc giới, như truyện trong Kinh Phật, truyện Hoà thượng Nguyệt Minh độ cô Liễu Thuý của Phùng Mộng Long, các truyện thử thách sắc giới trong Tây du ký, truyện sư Huyền Quang và nàng Điểm Bích, v.v

b) Nhân quả báo ứng : có rất nhiều trong Tam ngôn của Phùng Mộng Long, trong Nhị phách của Lăng Mông Sơ, trong Liêu trai chí dị, các truyện báo oán

c) Trích tiên xuống phàm : như Hàn Tương Tử, Hồng lâu mộng, Lọ nước thần,

d) Ngộ đạo thành tiên : như Giấc mộng hoàng lương, Chử Đồng Tử

e) Thử thách thành tiên : trong truyền kỳ đời Đường

f) Tế thế hàng yêu : như các chuyện đạo sĩ trong Tam ngôn, Nhị phách, trong Truyền kỳ mạn lục

g) Tình người và yêu tinh : như tình hồ ly tinh trong Liêu trai chí dị, tình của hai nàng Liễu, Đào trong Truyền kỳ mạn lục

Trang 35

h) Tình người và ma quỷ : như Ma cây gạo trong Truyền kỳ mạn lục, các truyện trong Liêu trai chí dị

i) Sinh hạ kỳ lạ : dẫm vết chân lạ, đẻ bọc trứng,

k) Các truyện mộng : mộng đế vương, mộng hôn nhân, mộng chết, mộng quan chức, mộng khoa cử, mộng tình dục, mộng hoá thân, mộng xuống địa ngục, mộng lên tiên, Trong Việt

điện u linh có rất nhiều truyện mộng

2 Các mô típ, nguyên mẫu trong sinh hoạt thế tục

a) Phơi bày ung nhọt trong chính sự : truyện âm mưu, mua quan bán tước, truyện xử oan,

truyện xử án, xung đột trung nịnh, hãm hại trung thần, kẻ ác làm quan, phò chính trừ tà, ẩn dật quên đời

b) Các mô típ ngông ngạo : coi thường lề thói, lễ nghĩa phong kiến, thức tỉnh tình người c) Tâm học với nguyên tắc "tâm tức là lý" : chống lại tư tưởng phong kiến của Chu Hy

Từ tư tưởng này xuất hiện các mô típ tự do hưởng lạc, buông thả tình dục, hưởng thụ thiên nhiên

d) Kiếm tiền : cho vay nặng lãi, buôn gian bán lậu, câu kết thế lực

e) Bi kịch phụ nữ : gái si, chồng bạc, từ yêu đến thù (Tần Hương Liên, Xuý Vân giả dại),

trị kẻ bạc tình Một chồng nhiều vợ, đánh ghen, lấy chồng trẻ con, chồng già hầu non, gái dạy chồng, ngoại tình, tình yêu và cái chết, yêu như cho, cười cợt tình yêu

f) Người dốt gặp may : kẻ hạ lưu trở thành vĩ nhân như Trạng Lợn, Số đỏ

3 Các mô típ trong văn học hiện đại

Theo nghiên cứu của Ngô Bội Hiển (2003), Đới Thanh (2002) kết hợp với văn học Việt Nam có thể kể đến các loại mô típ sau :

a) Bỏ nhà đi làm cách mạng : hy sinh vì lý tưởng

b) Nông dân vùng lên : đấu tố địa chủ, đấu tranh hai con đường

c) Ca ngợi cuộc sống mới, con người mới : tập thể hơn cá thể, người già trẻ lại, mọi người

quan tâm nhau, người trẻ vượt ra khỏi gia đình lạc hậu, thanh niên thi nhau đi đầu, hy sinh cá nhân để làm giàu cho tập thể Nông dân, công nhân giàu sáng tạo hơn trí thức Trí thức ngại gian khổ, thích hưởng lạc, xa thực tế Bọn bóc lột cấu kết với kẻ thù âm mưu chống lại cách mạng

d) Chiến đấu anh hùng : xung phong ra trận, cả nhà anh hùng, lấy thân mình lấp lỗ châu

mai (chèn pháo, làm giá súng, ), người mẹ cầm súng Lấy yếu đánh mạnh, lấy thô sơ đánh hiện đại Địch nham hiểm, ta mưu trí Địch vô đạo, ta chính nghĩa Chủ nghĩa lạc quan cách mạng : thất bại là tạm thời, chiến thắng là tất yếu Địch tuy hùng mạnh nhưng đang giãy chết Chỉ huy và chiến sĩ yêu nhau như cha con Gác tình riêng vì thắng lợi chung

Trang 36

e) Đấu tranh thiện ác : Trung thành và bội bạc Thức tỉnh nhân tính : tình yêu bị bỏ quên,

cảm xúc về vẻ đẹp của cơ thể, sự bộc lộ chân thành Tình yêu và vụ lợi, tâm hồn và xác thịt,

sự sùng bái nhục dục Các bí mật của phái nữ Tinh thần thực dụng Quan tham và chống tham nhũng Kẻ cơ hội và chống kẻ cơ hội Các mâu thuẫn thời hậu chiến Các số phận bị bỏ quên Phi thần thoại hoá các anh hùng Hạ bệ thần tượng

f) Những kẻ làm giàu mới : Anh hùng trên thương trường Những kẻ thiêu thân mới Các

cuộc phiêu lưu, vỡ mộng thương trường, vỡ mộng tình trường Những bi hài kịch đời thường

g) Hiệp sĩ và người đẹp : Anh hùng phá án Sự giễu cợt quyền lực

Các mô típ trên đây tuy chưa đầy đủ, song đặt trong tiến trình lịch sử, từ ý thức tôn giáo

đến tác động của ý thức hệ, có thể nhận thấy hệ thống mô típ và ý thức hệ có mối liên hệ hết sức khăng khít, tạo thành tính quan niệm của truyện - quan nhiệm đổi thay làm nảy sinh những mô típ mới, đồng thời cũng khai thác mới các nguyên hình và mô típ cũ Sự phối hợp các loại mô típ và nguyên mẫu chính là cách làm ra các truyện

Câu hỏi hướng dẫn học tập

1 Cốt truyện là gì ? Hai nội dung của khái niệm cốt truyện

2 Trong thi pháp học, cấu trúc cốt truyện được quan niệm như thế nào ? Hãy nêu các cách

tiếp cận và ý nghĩa của chúng

3 Sự kiện trong văn học liên quan với quan niệm như thế nào ? Nêu ví dụ

4 Hai phương diện của cốt truyện tương quan với nhau như thế nào ?

5 Nói cốt truyện là một quan niệm về đời sống có đúng không ?

6 Phân tích cốt truyện nghệ thuật trong tiểu thuyết Tố Tâm ý nghĩa của bố cục truyện

(hoặc của truyện Chiếc lược ngà, Bức tranh)

Ngày đăng: 12/05/2021, 17:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm