Văn mẫu lớp 12: Phân tích cảnh vượt thác trong Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân gồm 2 dàn ý chi tiết kèm theo 4 bài văn mẫu hay, giúp các bạn có thêm nhiều tài liệu tham khảo, có nhiều ý tưởng mới khi viết văn. Người lái đò sông Đà là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Tuân. Đây cũng là một trong những tác phẩm trọng tâm trong chương trình Ngữ Văn lớp 12 chuẩn bị cho kỳ thi THPT Quốc gia sắp tới. Chúc các bạn học tốt.
Trang 1Dàn ý cảnh vượt thác trong Người lái đò sông Đà
Dàn ý số 1
I Mở bài
- Giới thiệu đôi nét về nhà văn Nguyễn Tuân và tác phẩm Người lái đò sông Đà
- Nguyễn Tuân đã khắc họa nên một cảnh tượng có một không hai - cảnh vượt thác của người lái đò sông Đà
II Thân bài
1 Khái quát về tác phẩm và cảnh vượt thác
* Về tác phẩm:
- “Người lái đò sông Đà” là kết quả của chuyến đi thực tế của nhà văn đến Tây Bắc trong kháng chiến chống Pháp, đặc biệt là chuyến đi thực tế năm 1958
- Nguyễn Tuân đến với nhiều vùng đất khác nhau, sống với bộ đội, công nhân và đồng bào các dân tộc Thực tiễn xây dựng cuộc sống mới ở vùng cao đã đem đến cho nhà văn nguồn cảm hứng sáng tạo
- Tác phẩm được in trong tập tùy bút sông Đà (1960)
- Bố cục gồm ba phần:
Phần 1 (từ đầu đến gậy đánh phèn): Sự dữ dội, hung bạo của sông Đà
Phần 2 (tiếp đến dòng nước sông Đà): Cuộc sống con người trên sông Đà, hình tượng người lái đò
Phần 3 (còn lại): Vẻ hiền hòa, trữ tình của sông Đà
Trang 2- Cảnh vượt thác của ông lái đò nằm ở phần thứ hai: Cuộc sống của con người trên sông Đà và hình tượng ông lái đò
- “Cảnh vượt thác” là cảnh tượng người lái đò vượt qua ba trùng vi thạch trận với bao tướng dữ quân tợn
- Được Nguyễn Tuân gọi là cảnh tượng có một không hai, “xưa nay chưa từng có”
2 Phân tích cảnh vượt thác
* Ở trùng vi thứ nhất:
- Con sông Đà:
Thạch trận với bốn cửa sinh và một cửa tử
Nước thác reo hò làm thanh viện cho đá
Sóng thác đã đánh miếng đòn hiểm độc nhất bóp chặt lấy hạ bộ
=> Không khí trận chiến nóng bỏng gay cấn hồi hộp
- Ông lái đò:
Thạch trận dàn bày vừa xong thì con thuyền vut tới
Mặt ông lái đò méo xệch đi
Ông đò hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng
=> Con thuyền thoát khỏi nguy hiểm
* Ở trùng vi thứ hai:
- Con sông Đà:
Tăng thêm nhiều cửa tử, cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn
Trang 3=> Con sông Đà trở nên khôn ngoan hơn.
- Ông lái đò:
Nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá, ông đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá
Ông đò ghì cương lái, băm chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh
=> Vượt qua hết cửa tử
* Ở trùng vi cuối cùng:
Ít cửa hơn mà bên trái bên phải đều là luồng chết cả, luồng sống thì lại nằm ngay giữa bọn đá hậu vệ
Bốn năm bọn thuỷ quân cửa ải nước bên bờ trái liên xô ra cảnh níu thuyền lôi vào tập đoàn cửa tử
=> Con sông ngày càng mưu mẹo muốn dồn người lái đò vào chỗ chết
- Ông lái đò:
Cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa đó
Thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vào từ động lái được lượn được
=> Ông lái đò đã chiến thắng con sông hung dữ
* Nhận xét:
- Cảnh vượt thác đã thể hiện tài hoa của ông lái đò: Ông chính là hình tượng con
người lao động là biểu tượng cho trí dũng song toàn trong hành trình đi tìm cái đẹp của nhà văn
Trang 4- Đây chính là một cảnh tượng có một không hai.
3 Nghệ thuật
- Ngôn ngữ phong phú, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau
- Sử dụng nhiều động từ mạnh
- Lối so sánh liên tưởng độc đáo
III Kết bài
- Nguyễn Tuân thực sự đã xây dựng được một cảnh tượng đặc sắc “xưa nay chưa từng có”
- Người lái đò sông Đà xứng đáng là một tác phẩm kiệt tác viết về người lao động vùng Tây Bắc
Dàn ý số 2
I Tác giả Nguyễn Tuân, tùy bút Người lái đò sông Đà và hình tượng ông lái đò:
Nguyễn Tuân là cây bút xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại, có thể coi ông
là một định nghĩa về người nghệ sĩ Nét nổi bật trong phong cách của ông là ở chỗ luôn nhìn sự vật ở phương diện văn hóa và thẩm mĩ, nhìn con người ở phẩm chất nghệ sĩ và tài hoa Ông thường có cảm hứng mãnh liệt với cái cá biệt, phi thường, dữ dội và tuyệt mĩ
Người lái đò sông Đà là bài tùy bút được in trong tập Sông Đà (1960) của Nguyễn Tuân Sông Đà là thành quả nghệ thuật đẹp đẽ mà Nguyễn Tuân đã thu hoạch được trong chuyến đi gian khổ và hào hứng tới miền Tây Bắc rộng lớn,
xa xôi Người lái đò sông Đà cho ta diện mạo của một Nguyễn Tuân khao khát được hòa nhịp với đất nước và cuộc đời này
Trang 5 Hình tượng người lái đò sông Đà trong quá trình vượt thác là hình tượng trung tâm của tác phẩm…
II Vẻ đẹp hình tượng nhân vật người lái đò sông Đà trong quá trình vượt thác:
* Giới thiệu chân dung, lai lịch:
Tên gọi, lai lịch: được gọi là người lái đò Lai Châu
Chân dung: “tay ông lêu nghêu như cái sào, chân ông lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh gò lại như kẹp lấy một cái cuống lái tưởng tượng, giọng ông ào ào như tiếng nước trước mặt ghềnh sông, nhỡn giới ông vòi vọi như lúc nào cũng mong một cái bến xa nào đó trong sương mù”, “cái đầu bạc quắc thước… đặt lên thân hình gọn quánh chất sừng chất mun”
*Vẻ đẹp của người lái đò sông Đà trong quá trình vượt thác :
– Vẻ đẹp trí dũng: Khắc họa trong tương quan với hình ảnh sông Đà hung bạo, hùng vĩ: Nghệ thuật tương phản đã làm nổi bật một cuộc chiến không cân sức: một bên là thiên nhiên bạo liệt, hung tàn, sức mạnh vô song với sóng nước, với thạch tinh nham hiểm; một bên là con người bé nhỏ trên chiếc thuyền con én đơn độc và vũ khí trong tay chỉ là những chiếc cán chèo
– Cuộc giao tranh với ba trùng vi thạch trận
Cuộc vượt thác lần một: Sông Đà hiện lên như một kẻ thù nham hiểm, xảo quyệt Trước sự hung hãn của bầy thạch tinh và sóng nước, ông lái đò kiên cường bám trụ “hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa phóng thẳng vào mình” Trước đoàn quân liều mạng sóng nước xông vào (…), ông đò
“cố nén vết thương vẫn kẹp chặt lấy cái cuống lái, mặt méo bệch đi” nhưng vẫn kiên cường vượt qua cuộc hỗn chiến, vẫn cầm lái chỉ huy “ngắn gọn mà tỉnh táo” để phá tan trùng vi thạch trận thứ nhất
Trang 6 Cuộc vượt thác lần hai: Dưới cây bút tài hoa, phóng túng, con sông Đà tiếp tục được dựng dậy như “kẻ thù số một” của con người với tâm địa còn độc ác và xảo quyệt hơn Ông lái đò “không một phút nghỉ tay nghỉ mắt, phải phá luôn vòng vây thứ hai và đổi luôn chiến thuật”
⇒Trước dòng thác hùm beo hồng hộc tế mạnh trên sông đá, ông lái đò cùng chiếc thuyền cưỡi trên dòng thác như cưỡi trên lưng hổ Khi bốn năm bọn thủy quân cửa ải nước xô ra, ông đò không hề nao núng mà tỉnh táo, linh hoạt thay đổi chiến thuật, ứng phó kịp thời “đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến” để rồi “những luồng tử đã bỏ hết lại sau thuyền”
+ Cuộc vượt thác lần ba: Bị thua ông đò ở hai lần giao tranh trước, trong trùng vi thứ
ba, dòng thác càng trở nên điên cuồng, dữ dội Chính giữa ranh giới của sự sống và cái chết, người đọc càng thấy tài nghệ chèo đò vượt thác của ông lái thật tuyệt vời Ông
cứ “phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa… vút qua cổng đá”, “vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được lượn được”… để rồi chiến thắng vinh quang Câu văn
“thế là hết thác” như một tiếng thở phào nhẹ nhõm khi ông lái đã bỏ lại hết những thác ghềnh ở phía sau lưng
– Nguyên nhân chiến thắng:
Thứ nhất, đó là chiến thắng của sự ngoan cường, lòng dũng cảm, ý chí quyết tâm vượt qua những thử thách khốc liệt của cuộc sống
Thứ hai, đây là chiến thắng của tài trí con người, của sự am hiểu đến tường tận tính nết của sông Đà
Cảnh vượt thác trong Người lái đò sông Đà - Mẫu 1
Trang 7Có quan điểm cho rằng: “Nguyễn Tuân là cái định nghĩa về người nghệ sĩ” Khi đọc tùy bút “Người lái đò sông Đà” chắc hẳn người đọc sẽ cảm thấy ấn tượng với cảnh vượt thác được nhà văn gọi là “cảnh tượng xưa nay chưa từng có”
Tùy bút “Người lái đò Sông Đà” là kết quả của hành trình bền bỉ và sáng tạo về vẻ đẹp kì diệu của thiên nhiên và con người Tây Bắc Nguyễn Tuân đến với nhiều vùng đất khác nhau, sống với bộ đội, công nhân và đồng bào các dân tộc Thực tiễn xây dựng cuộc sống mới ở vùng cao đã đem đến cho nhà văn nguồn cảm hứng sáng tạo Tác phẩm được in trong tập tùy bút sông Đà (1960) Truyện gồm ba phần chính: Phần một (từ đầu đến gậy đánh phèn) miêu tả sự dữ dội, hung bạo của sông Đà Phần hai (tiếp đến dòng nước sông Đà) là cuộc sống con người trên sông Đà, hình tượng người lái đò Phần cuối cùng là vẻ hiền hòa, trữ tình của sông Đà
Bằng sự tài hoa và uyên bác, Nguyễn Tuân đã khắc hoạ một dấu ấn không thể mờ phai
về con sông miền Tây Bắc vừa hung bạo vừa trữ tình Và nổi lên trên thác dữ là vẻ đẹp của một chiến binh miền sông nước với “tay lái ra hoa” đã vượt bao trùng vi thạch trận như một người nghệ sĩ trên mặt trận vượt thác leo ghềnh Cảnh vượt thác của ông lái đò nằm ở phần thứ hai trong “Người lái đò sông Đà” Cảnh vượt thác là cảnh tượng người lái đò vượt qua ba trùng vi thạch trận với bao tướng dữ quân tợn được Nguyễn Tuân khắc họa một cách sáng tạo và đầy hấp dẫn
Bằng ngòi bút tài hoa và quan niệm duy mỹ về cái đẹp - Nguyễn Tuân đã xây dựng thành công hình tượng người lái đò sông Đà - một hình tượng nghệ thuật độc đáo hấp dẫn Ông lái đò năm nay, tuổi ngoài 70 nhưng thân hình rắn chắc như một bức tượng cẩm thạch: ngực ông đầy những củ nâu - thương tích của những lần vượt thác mà Nguyễn Tuân gọi đó là “huân chương lao động siêu hạng” Tay ông lêu nghêu như cái sào, chân ông khuỳnh khuỳnh; nhỡn giới ông cao vời vợi, giọng ông ồ ồ như tiếng thác trước ghềnh Ông lái đò không chỉ được khắc họa qua ngoại hình mà còn qua tài năng, tính cách Ông xem sông Đà như một thiên anh hùng ca và thuộc lòng sông Đà, thuộc tất cả luồng lạch; nắm được binh pháp của thần sông thần đá
Trang 8Ở đoạn văn thứ nhất, Nguyễn Tuân dồn hết bút lực vào miêu tả trùng vi thạch trận đầu tiên Ở trùng vi thạch trận này - thác đá sông Đà đã chuẩn bị dàn trận địa sẵn, đó là
“trận địa với bốn cửa tử, một cửa sinh” Ở đây nước phối hợp với đá reo hò làm thanh viện; những hòn đá bệ vệ, oai phong lẫm liệt; một hòn ấy trông như đang hất hàm hỏi cái thuyền phải xưng tên tuổi trước khi giao chiến và thách thức cái thuyền có giỏi thì tiến gần vào Bằng các từ ngữ: reo hò, bệ vệ, oai phong lẫm liệt, hất hàm hỏi, thách thức… người đọc cảm nhận được không khí trận chiến nóng bỏng gay cấn hồi hộp, kịch tính Đó chính là tài năng của bậc thầy phù thuỷ ngôn ngữ như Nguyễn Tuân Thác đá sông Đà rất khôn ngoan Chúng không chỉ đánh trên mặt trận giáp lá cà mà còn đánh bằng cả nghệ thuật tâm lý chiến Trước đó chúng đã dùng âm thanh của thác khiêu khích “giọng gằn mà chế nhạo” Còn giờ đây chúng lại nhờ “nước thác làm thanh viện cho đá” Với bản tính hung hãn như một loài thủy quái, sông Đà đã đánh phủ đầu người lái đò với những đòn thế vô cùng hiểm hóc Sông Đà cậy thế quân đông tướng mạnh nên đã “ùa vào mà bẻ gãy cán chèo”, “liều mạng vào sát nách mà đá trái”, “thúc gối vào bụng và hông thuyền”, có lúc chúng “đội cả thuyền lên” Một loạt động từ được Nguyễn Tuấn huy động để miêu tả cách đánh của sông Đà làm người đọc không khỏi rùng mình trước sự hung bạo của thiên nhiên: ùa vào, bẻ gãy, đá trái, thúc gối, đội,…
Bị tấn công bất ngờ nhưng người lái đò vẫn bình tĩnh Với chiến thuật phòng ngự để dưỡng sức cho những trùng vi sắp tới, “ông đò hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng”; lúc này sông Đà lại chuyển thế bám lấy thuyền và sử dụng đòn vật “túm lấy thắt lưng ông lái đò đòi lật ngửa mình ra” Không để cho ông đò có cơ hội xoay xở, sông Đà lại chuyển thể đánh miếng đòn hiểm độc nhất “cả cái luồng nước vô sở bất chí ấy bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò” Dính miếng đòn hiểm, mắt ông hoa lên, tưởng như “một cửa bể đom đóm rừng ùa xuống châm lửa lên đầu sóng” Đòn đau khiến ông
đò “mặt méo bệch đi” Đó là cái méo bệch vốn do cái lạnh của nước làm nhăn nheo lại thêm miếng đòn đau làm ông khách sông Đà mặt như tím tái, ngây dại Phép điệp động từ “đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chỗ hiểm” gợi lên cơn đau dồn
Trang 9dập, hành hạ người lái đò Nhưng ông đò nén đau, giọng ông vẫn bình tĩnh, tỉnh táo, sắc lạnh chỉ huy sáu bơi chèo còn lại vượt cửa tử vào cửa sinh
Nếu đoạn văn thứ nhất, Nguyễn Tuân tập trung miêu tả thế trận một chiều từ sông Đà thì ở đoạn văn tiếp theo nhà văn tập trung miêu tả thế trận của ông khách sông Đà ở sự thông minh, linh hoạt và tài nghệ vượt thác dũng mãnh, phi thường Chuyển từ thế trận phòng ngự, ông lái đò chuyển thế chủ động tấn công Ở trùng vi thạch trận thứ hai này, sông Đà tăng cường một “tập đoàn cửa tử” và cửa sinh bố trí lệch qua bờ hữu ngạn
So với trùng vi một thì trùng vi này khó khăn hơn Nhưng không vì thế mà ông đò nao núng Với kinh nghiệm nhiều năm chinh chiến trên chiến trường sông nước, người lái
đò đã “nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá, ông đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá” Ông đò cũng tự triết lý với mình “cưỡi lên thác sông Đà là cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ”, vì thế “không một phút nghỉ tay nghỉ mắt phải phá luôn vòng vây thứ hai và đổi luôn chiến thuật” Ở trận này ông đò đánh phủ đầu với kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh Như một vận động viên đua ngựa, ông đò “nắm chắc được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái”, ông “phóng nhanh”, “lái miết”… tốc độ di chuyển mau lẹ Nhưng sông Đà cũng không phải dạng vừa Chúng xô ra định níu chiếc thuyền vào tập đoàn cửa tử Ông đò đã cảnh giác sẵn nên “đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo”, “đứa thì đè sấn lên chặt đôi ra để mở đường tiến” Hàng loạt động từ được huy động như một đội quân ngôn ngữ hùng hậu hò reo theo từng nhịp tiến của ông đò: nắm, ghì, phóng, lái, tránh, rảo, đè, chặt… Chính nhờ sự mưu trí và tài năng
ấy ông đò vượt qua hết các cửa tử Một trùng vi với bao cửa tử, cửa sinh mà chỉ vài ngón đòn ông lái đò đã đánh sập vòng vây của lũ đá, đồng thời làm cho bọn đá phải thua cuộc với bộ mặt “tiu nghỉu, xanh lè thất vọng” Qua đó để thấy người khách sông
Đà quả thật là Trí Dũng song toàn
Đến trùng vi cuối cùng, sông Đà còn một cơ hội cuối cùng để chiến thắng được người lái đò Trùng vi này ít cửa hơn nhưng bên trái bên phải đều là luồng chết, luồng sống
Trang 10“trên đe dưới búa” làm cho người lái đò phải đối mặt với thế “tiến thoái lưỡng nan” nhưng vào “cái khó lại ló cái khôn” - ông lái đò đã biến chiếc thuyền sáu bơi chèo thành một mũi tên còn ông giống như một cung thủ đã “phóng thẳng thuyền chọc thủng cửa giữa Thuyền vút qua cửa đá cánh mở, cánh khép, vút vút, cửa ngoài, cửa trong lại cửa trong cùng “Thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được, lượn được Thế là hết thác” Một loạt các động từ lại được Nguyễn Tuân huy động để miêu tả cách đánh của ông đò: Phóng, chọc thủng, xuyên qua, xuyên nhanh, lái được, lượn được… sự thần tốc trong cách đánh và cách đánh nhanh thắng nhanh đã giúp người lái đò vượt trùng vi đầy phi thường
Qua phân tích trên, người đọc như được mở rộng tầm mắt trước tài năng miêu tả tài tình của nhà văn Nguyễn Tuân Cảnh tượng vượt thác vốn bình thường của những người lái đò đã trở thành một cảnh chiến trận “xưa nay chưa từng có”
Cảnh vượt thác trong Người lái đò sông Đà - Mẫu 2
Nguyễn Đình Thi gọi “Nguyễn Tuân là người suốt đời đi tìm cái đẹp và cái thật” Quả vậy, khi đọc “Người lái đò sông Đà”, người đọc sẽ ấn tượng bởi tài hoa của ông lái đò, nhất là khi đọc đến cảnh vượt thác - một cảnh tượng có một không hai
Tác phẩm “Người lái đò sông Đà” là kết quả của chuyến đi thực tế của nhà văn đến Tây Bắc trong kháng chiến chống Pháp, đặc biệt là chuyến đi thực tế năm 1958
Nguyễn Tuân đến với nhiều vùng đất khác nhau, sống với bộ đội, công nhân và đồng bào các dân tộc Thực tiễn xây dựng cuộc sống mới ở vùng cao đã đem đến cho nhà văn nguồn cảm hứng sáng tạo Tác phẩm được in trong tập tùy bút sông Đà (1960) Văn bản trong sách giáo khoa gồm có ba phần Phần một (từ đầu đến gậy đánh phèn) miêu tả sự dữ dội, hung bạo của sông Đà Phần hai (tiếp đến dòng nước sông Đà) là cuộc sống con người trên sông Đà, hình tượng người lái đò Phần cuối cùng là vẻ hiền hòa, trữ tình của sông Đà Và cảnh vượt thác nằm ở phần thứ hai của tác phẩm với ba trùng vi chiến trận nối tiếp nhau làm nổi bật rõ tài năng của ông lái đò