1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của tính bền vững doanh nghiệp đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp du lịch vùng Duyên hải Nam Trung Bộ tại Việt Nam

258 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 258
Dung lượng 3,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU (12)
    • 1.1 Lý do chọn đề tài (12)
      • 1.1.1 Bối cảnh lý thuyết (12)
      • 1.1.2 Bối cảnh thực tiễn (16)
      • 1.1.3 Khoảng trống nghiên cứu (19)
    • 1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài (19)
      • 1.2.1 Mục tiêu tổng quát (19)
      • 1.2.2 Mục tiêu cụ thể (19)
    • 1.3 Câu hỏi nghiên cứu của đề tài (20)
    • 1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (20)
      • 1.4.1 Đối tượng nghiên cứu (20)
      • 1.4.2 Phạm vi nghiên cứu (20)
    • 1.5 Phương pháp nghiên cứu (20)
      • 1.5.1 Nghiên cứu định tính (20)
      • 1.5.2 Nghiên cứu định lượng (21)
    • 1.6 Những điểm mới của luận án (21)
    • 1.7 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu (22)
      • 1.7.1 Về mặt khoa học (22)
      • 1.7.2 Về mặt thực tiễn (22)
    • 1.8 Kết cấu của đề tài (23)
  • CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU (23)
    • 2.1 Các khái niệm (24)
      • 2.1.1 Bền vững doanh nghiệp (24)
      • 2.1.2 Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (33)
      • 2.1.3 Mối quan hệ giữa CS và HQHĐ (38)
      • 2.1.4 Sự gắn bó của nhân viên (39)
      • 2.1.5 Sự cam kết của nhà đầu tư (43)
      • 2.1.6 Sự tham gia của cộng đồng địa phương (45)
    • 2.2 Tổng quan về các lý thuyết liên quan (48)
      • 2.2.1 Lý thuyết tính chính đáng (Legitimacy Theory) (48)
      • 2.2.2 Lý thuyết thể chế (Institutional Theory) (50)
      • 2.2.3 Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory) (52)
      • 2.2.4 Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực (Resource Dependence Theory) (55)
    • 2.3 Lược khảo các nghiên cứu có liên quan (57)
      • 2.3.1 Các nghiên cứu về tác động của CS đến HQHĐ (57)
      • 2.3.2 Các nghiên cứu liên quan đến sự tham gia của cộng đồng (60)
      • 2.3.3 Các nghiên cứu liên quan đến SGBNV (62)
      • 2.3.4 Các nghiên cứu liên quan đến sự cam kết của nhà đầu tư (64)
    • 2.4 Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu (69)
      • 2.4.1 Cơ sở xây dựng mô hình (69)
      • 2.4.2 Phát triển giả thuyết nghiên cứu (71)
      • 2.4.3 Mô hình nghiên cứu đề xuất (76)
  • CHƯƠNG 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (23)
    • 3.1 Phương pháp luận và quy trình nghiên cứu (79)
      • 3.1.1 Phương pháp luận (79)
      • 3.1.2 Quy trình nghiên cứu (81)
    • 3.2 Nghiên cứu định tính (82)
      • 3.2.1 Thiết kế thang đo ban đầu (82)
      • 3.2.2 Cơ sở để chọn biến nhâu khẩu học (90)
      • 3.2.3 Thực hiện phương pháp thảo luận nhóm (92)
      • 3.2.4 Kết quả nghiên cứu định tính (92)
      • 3.2.5 Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát (99)
    • 3.3 Nghiên cứu định lượng sơ bộ (100)
      • 3.3.1 Phương pháp chọn mẫu (100)
      • 3.3.2 Thu thập dữ liệu nghiên cứu sơ bộ (100)
      • 3.3.3 Phương pháp phân tích dữ liệu nghiên cứu sơ bộ (101)
      • 3.3.4 Kết quả nghiên cứu định lượng sơ bộ (101)
    • 3.4 Nghiên cứu định lượng chính thức (108)
      • 3.4.1 Thiết kế bảng câu hỏi (108)
      • 3.4.2 Thiết kế mẫu (109)
      • 3.4.3 Thu thập dữ liệu nghiên cứu (110)
      • 3.4.4 Phương pháp phân tích dữ liệu (111)
  • CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (23)
    • 4.1 Tổng quan về các doanh nghiệp du lịch tại vùng DHNTB tại Việt Nam (115)
    • 4.2 Đặc điểm mẫu nghiên cứu chính thức (118)
    • 4.3 Đánh giá mô hình đo lường (119)
      • 4.3.1 Kiểm tra độ tin cậy của thang đo (119)
      • 4.3.2 Đánh giá giá trị hội tụ (119)
      • 4.3.3 Đánh giá độ phân biệt (120)
    • 4.4 Đánh giá mô hình cấu trúc (SEM) (121)
      • 4.4.1 Đánh giá hiện tượng đa cộng tuyến (121)
      • 4.4.2 Đánh giá hệ số xác định có điều chỉnh R 2 (122)
      • 4.4.3 Kiểm định bootstrapping (123)
      • 4.4.4 Kiểm định giả thuyết (125)
    • 4.5 Mức độ tác động giữa các khái niệm nghiên cứu (125)
      • 4.5.1 Mức độ tác động trực tiếp (125)
      • 4.5.2 Mức độ tác động gián tiếp (126)
    • 4.6 Kiểm định sự khác biệt (129)
      • 4.6.1 Kiểm định sự khác biệt theo loại hình doanh nghiệp (129)
      • 4.6.2 Kiểm định sự khác biệt theo lĩnh vực hoạt động (130)
      • 4.6.3 Kiểm định sự khác biệt theo quy mô doanh nghiệp (131)
      • 4.6.4 Kiểm định sự khác biệt theo khu vực hoạt động (132)
    • 4.7 Thảo luận kết quả nghiên cứu (133)
      • 4.7.1 Thảo luận về mô hình nghiên cứu (133)
      • 4.7.2 Thảo luận về thang đo và giả thuyết nghiên cứu (134)
      • 4.7.3 Thảo luận về sự khác biệt giữa các nhóm (141)
  • CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ (23)
    • 5.1 Kết luận (144)
    • 5.2 Hàm ý quản trị (145)
      • 5.2.1 Hàm ý về bền vững doanh nghiệp (146)
      • 5.2.2 Hàm ý về sự gắn bó của nhân viên (152)
      • 5.2.3 Hàm ý về sự tham gia của cộng đồng địa phương (154)
      • 5.2.4 Hàm ý về sự cam kết của nhà đầu tư (156)
      • 5.2.5 Hàm ý về sự khác biệt (0)
    • 5.3 Hạn chế của luận án và hướng nghiên cứu tiếp theo (160)

Nội dung

1.1 Lý do chọn đề tài 1.1.1 Bối cảnh lý thuyết Hiệu quả hoạt động (HQHĐ) là chủ đề nhận được sự quan tâm rộng rãi trong các nghiên cứu chiến lược (Vankatranan và Rananujam, 1986; Glunk và Wilderom, 1996; Hernaus và cộng sự, 2012; Rodrigues và Franco, 2019). Trong một thời gian dài, việc đo lường HQHĐ của doanh nghiệp gần như được đồng nhất với việc đo lường các chỉ tiêu tài chính (Glunk và Wilderom, 1996). Tuy nhiên, các khái niệm rộng hơn về HQHĐ đã được thảo luận (Kaplan và Norton, 2005; Hernaus và cộng sự, 2012). Theo đó, HQHĐ đã được tiếp cận theo quan điểm của lý thuyết các bên liên quan (Kanter và Brinkerhoff, 1981; Chakravarthy, 1986; Brown và Laverick, 1994). Theo lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder theory), một doanh nghiệp chỉ có thể tồn tại nếu doanh nghiệp có khả năng đáp ứng tốt nhu cầu của các bên liên quan (Freeman, 2015). Nói cách khác, một doanh nghiệp thành công hay hoạt động hiệu quả là một doanh nghiệp quản lý và đáp ứng tốt nhu cầu của các bên liên quan. Điều này ngụ ý rằng nếu doanh nghiệp không giải quyết tốt nhu cầu của các bên liên quan, nguy cơ xung đột có thể xảy ra và ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến HQHĐ. Như vậy, lý thuyết các bên liên quan đã ảnh hưởng đến các quyết định chiến lược của doanh nghiệp. Với sự xuất hiện của khái niệm phát triển bền vững (PTBV) cho thấy sự thay đổi trong quan điểm chiến lược của các doanh nghiệp. Quan điểm này khiến các doanh nghiệp phải xem xét lại mô hình chiến lược kinh doanh của mình. Theo đó, khái niệm bền vững doanh nghiệp (Corporate Sustainability – CS) được sử dụng rộng rãi để đề cập đến cách tiếp cận của một doanh nghiệp nhằm tạo ra giá trị lâu dài cho các bên liên quan (Stakeholders) thông qua việc thực hiện các chiến lược kinh doanh tập trung vào các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường (Triple bottom line) (Dyllick và Hockerts, 2002; Hahn và cộng sự, 2017; Ashrafi và cộng sự, 2019). Đồng thời, theo lý thuyết phụ thuộc nguồn lực, CS được xem là một chiến lược kinh doanh và đầu tư nhằm tìm cách sử dụng các nguồn lực kinh doanh tốt nhất để đáp ứng và cân bằng nhu cầu của các bên liên quan hiện tại và tương lai (WCED, 1987). Trên cơ sở đó, các doanh nghiệp sẽ quản lý và thực hiện các hoạt động phù hợp với nhu cầu của các bên liên quan, nhằm giảm nguy cơ, rủi ro từ sự phản ứng của các nhóm xã hội bên ngoài. Ngoài ra, việc áp dụng các chiến lược CS cho phép doanh nghiệp vượt trội hơn so với các doanh nghiệp khác không thực hiện các chiến lược bền vững (Adams và Zutshi, 2004). Theo Adams (2002), những thực hành bền vững mà các doanh nghiệp sẽ tạo điều kiện cho việc thiết lập các hệ thống kiểm soát nội bộ, ra quyết định và tiết kiệm chi phí tốt hơn. Thông qua việc quản lý nguồn lực hiệu quả, các doanh nghiệp có thể đạt được lợi thế cạnh tranh bền vững lâu dài. Điều này củng cố thêm nhận thức rằng việc áp dụng các thực tiễn về CS đã trở thành một điểm cốt yếu trong chương trình quản trị định hướng hiệu quả của nhiều tổ chức (Sy, 2016). Hơn nữa, ý nghĩa mà CS mang lại cho doanh nghiệp là tăng cường khả năng tuân thủ luật và các qui định. Với những thảo luận về biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên năng lượng và tác động môi trường, không có gì ngạc nhiên khi các cơ quan chính phủ và nhà nước ban hành ngày càng nhiều quy định về bảo vệ môi trường. Tích hợp PTBV với ba thành tố then chốt (Triple bottom line) vào hoạt động kinh doanh sẽ giúp doanh nghiệp kịp thời tuân thủ những quy định không ngừng thay đổi hiện nay (Tomšič và cộng sự, 2015). Do đó, nhiều doanh nghiệp đã nhận thức được tầm quan trọng của CS đối với doanh nghiệp (Dyllick và Hockerts, 2002) và các học giả đã bắt đầu thảo luận rộng rãi về chủ đề này (Hahn và cộng sự, 2017; Ashrafi và cộng sự, 2018; Rodrigues và Franco, 2019). Bên cạnh đó, các nghiên cứu thực nghiệm gần đầy đã cho thấy tác động tích cực của CS đến HQHĐ của doanh nghiệp (Eccles và cộng sự, 2014; Tomšič và cộng sự, 2015; Sy, 2016; El-Khalil và El-Kassar, 2018). Tuy nhiên, các nghiên cứu về tác động của CS đến HQHĐ lấy bối cảnh từ các nước phát triển và tập trung vào các tập đoàn lớn. Do đó, nghiên cứu về tác động của CS đến HQHĐ của doanh nghiệp trong bối cảnh mới không chỉ góp phần nhận diện tầm quan trọng của các khái niệm này một cách toàn diện hơn, mà còn bổ sung kiến thức về việc đo lường các khái niệm nghiên cứu, từ đó góp phần đem lại ý nghĩa về mặt lý thuyết và thực tiễn. Đồng thời, Baumgartner (2014) đã kết luận rằng việc tìm kiếm tài liệu ngày càng tăng về chủ đề CS cũng như sự thiếu vắng các nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm trong lĩnh vực này. Theo đó, Baumgartner (2014) đã khuyến khích cần thiết phải có những nghiên cứu chuyên sâu hơn về chủ đề này. Lý thuyết các bên liên quan chỉ ra rằng doanh nghiệp không chỉ chịu trách nhiệm trước các cổ đông của mình mà còn phải xem xét lợi ích của các bên liên quan khác (Freeman, 2015). Đồng thời, các hoạt động vì mục tiêu phát triển CS sẽ thúc đẩy sự tin tưởng, cam kết và hợp tác của các bên liên quan đối với doanh nghiệp (Gao và cộng sự, 2016). Điều này ngụ ý rằng các hoạt động CS sẽ ảnh hưởng đến thái độ và hành vi như sự cam kết, sự gắn bó và sự tham gia của các bên liên quan chủ yếu của doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, nhân viên luôn được nhìn nhận là một trong những bên liên quan bên trong quan trọng đối với doanh nghiệp. Theo nghiên cứu của Choi và Yu (2014), hai tác giả đã cho thấy nhận thức của người lao động về thực hành các hoạt động bền vững có tác động tích cực đến sự gắn bó của nhân viên (SGBNV) đối với doanh nghiệp. Đồng thời, SGBNV là một trong những yếu tố nền tảng ảnh hưởng đến HQHĐ (Jung và Yoon, 2012; Ghazzawi, 2008; Tuna và cộng sự, 2016). Những nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự gắn kết của người lao động với tổ chức đã được thực hiện ở nhiều quốc gia, trong nhiều ngành và tập trung chủ yếu vào các yếu tố động viên tài chính và phi tài chính. Các nghiên cứu về những yếu tố tác động thuộc phương diện nhận thức về trách nhiệm công dân doanh nghiệp, về đạo đức đối với môi trường gần như ít được chú trọng. Điều này đã tạo cơ hội cho các nghiên cứu về sự tác động của CS đến nhận thức, thái độ và hành vi của nhân viên và vai trò trung gian của sự gắn nhân viên của nhân viên trong sự ảnh hưởng của CS đến HQHĐ.

GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Lý do chọn đề tài

Hiệu quả hoạt động (HQHĐ) là chủ đề nhận được sự quan tâm rộng rãi trong các nghiên cứu chiến lược (Vankatranan và Rananujam, 1986; Glunk và Wilderom, 1996; Hernaus và cộng sự, 2012; Rodrigues và Franco, 2019) Trong một thời gian dài, việc đo lường HQHĐ của doanh nghiệp gần như được đồng nhất với việc đo lường các chỉ tiêu tài chính (Glunk và Wilderom, 1996) Tuy nhiên, các khái niệm rộng hơn về HQHĐ đã được thảo luận (Kaplan và Norton, 2005; Hernaus và cộng sự, 2012) Theo đó, HQHĐ đã được tiếp cận theo quan điểm của lý thuyết các bên liên quan (Kanter và Brinkerhoff, 1981; Chakravarthy, 1986; Brown và Laverick, 1994) Theo lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder theory), một doanh nghiệp chỉ có thể tồn tại nếu doanh nghiệp có khả năng đáp ứng tốt nhu cầu của các bên liên quan (Freeman, 2015) Nói cách khác, một doanh nghiệp thành công hay hoạt động hiệu quả là một doanh nghiệp quản lý và đáp ứng tốt nhu cầu của các bên liên quan Điều này ngụ ý rằng nếu doanh nghiệp không giải quyết tốt nhu cầu của các bên liên quan, nguy cơ xung đột có thể xảy ra và ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến HQHĐ Như vậy, lý thuyết các bên liên quan đã ảnh hưởng đến các quyết định chiến lược của doanh nghiệp

Với sự xuất hiện của khái niệm phát triển bền vững (PTBV) cho thấy sự thay đổi trong quan điểm chiến lược của các doanh nghiệp Quan điểm này khiến các doanh nghiệp phải xem xét lại mô hình chiến lược kinh doanh của mình Theo đó, khái niệm bền vững doanh nghiệp (Corporate Sustainability – CS) được sử dụng rộng rãi để đề cập đến cách tiếp cận của một doanh nghiệp nhằm tạo ra giá trị lâu dài cho các bên liên quan (Stakeholders) thông qua việc thực hiện các chiến lược kinh doanh tập trung vào các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường (Triple bottom line) (Dyllick và Hockerts, 2002; Hahn và cộng sự, 2017; Ashrafi và cộng sự, 2019) Đồng thời, theo lý thuyết phụ thuộc nguồn lực, CS được xem là một chiến lược kinh doanh và đầu tư nhằm tìm cách sử dụng các nguồn lực kinh doanh tốt nhất để đáp ứng và cân bằng nhu cầu của các bên liên quan hiện tại và tương lai (WCED, 1987) Trên cơ sở đó, các doanh nghiệp sẽ quản lý và thực hiện các hoạt động phù hợp với nhu cầu của các bên liên quan, nhằm giảm nguy cơ, rủi ro từ sự phản ứng của các nhóm xã hội bên ngoài Ngoài ra, việc áp dụng các chiến lược CS cho phép doanh nghiệp vượt trội hơn so với các doanh nghiệp khác không thực hiện các chiến lược bền vững (Adams và Zutshi, 2004) Theo Adams (2002), những thực hành bền vững mà các doanh nghiệp sẽ tạo điều kiện cho việc thiết lập các hệ thống kiểm soát nội bộ, ra quyết định và tiết kiệm chi phí tốt hơn Thông qua việc quản lý nguồn lực hiệu quả, các doanh nghiệp có thể đạt được lợi thế cạnh tranh bền vững lâu dài Điều này củng cố thêm nhận thức rằng việc áp dụng các thực tiễn về CS đã trở thành một điểm cốt yếu trong chương trình quản trị định hướng hiệu quả của nhiều tổ chức (Sy, 2016)

Hơn nữa, ý nghĩa mà CS mang lại cho doanh nghiệp là tăng cường khả năng tuân thủ luật và các qui định Với những thảo luận về biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên năng lượng và tác động môi trường, không có gì ngạc nhiên khi các cơ quan chính phủ và nhà nước ban hành ngày càng nhiều quy định về bảo vệ môi trường Tích hợp PTBV với ba thành tố then chốt (Triple bottom line) vào hoạt động kinh doanh sẽ giúp doanh nghiệp kịp thời tuân thủ những quy định không ngừng thay đổi hiện nay (Tomšič và cộng sự, 2015) Do đó, nhiều doanh nghiệp đã nhận thức được tầm quan trọng của CS đối với doanh nghiệp (Dyllick và Hockerts, 2002) và các học giả đã bắt đầu thảo luận rộng rãi về chủ đề này (Hahn và cộng sự, 2017; Ashrafi và cộng sự, 2018; Rodrigues và Franco, 2019)

Bên cạnh đó, các nghiên cứu thực nghiệm gần đầy đã cho thấy tác động tích cực của CS đến HQHĐ của doanh nghiệp (Eccles và cộng sự, 2014; Tomšič và cộng sự, 2015; Sy, 2016; El-Khalil và El-Kassar, 2018) Tuy nhiên, các nghiên cứu về tác động của CS đến HQHĐ lấy bối cảnh từ các nước phát triển và tập trung vào các tập đoàn lớn Do đó, nghiên cứu về tác động của CS đến HQHĐ của doanh nghiệp trong bối cảnh mới không chỉ góp phần nhận diện tầm quan trọng của các khái niệm này một cách toàn diện hơn, mà còn bổ sung kiến thức về việc đo lường các khái niệm nghiên cứu, từ đó góp phần đem lại ý nghĩa về mặt lý thuyết và thực tiễn Đồng thời, Baumgartner (2014) đã kết luận rằng việc tìm kiếm tài liệu ngày càng tăng về chủ đề CS cũng như sự thiếu vắng các nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm trong lĩnh vực này Theo đó,

Baumgartner (2014) đã khuyến khích cần thiết phải có những nghiên cứu chuyên sâu hơn về chủ đề này

Lý thuyết các bên liên quan chỉ ra rằng doanh nghiệp không chỉ chịu trách nhiệm trước các cổ đông của mình mà còn phải xem xét lợi ích của các bên liên quan khác (Freeman, 2015) Đồng thời, các hoạt động vì mục tiêu phát triển CS sẽ thúc đẩy sự tin tưởng, cam kết và hợp tác của các bên liên quan đối với doanh nghiệp (Gao và cộng sự,

2016) Điều này ngụ ý rằng các hoạt động CS sẽ ảnh hưởng đến thái độ và hành vi như sự cam kết, sự gắn bó và sự tham gia của các bên liên quan chủ yếu của doanh nghiệp Trong bối cảnh đó, nhân viên luôn được nhìn nhận là một trong những bên liên quan bên trong quan trọng đối với doanh nghiệp Theo nghiên cứu của Choi và Yu

(2014), hai tác giả đã cho thấy nhận thức của người lao động về thực hành các hoạt động bền vững có tác động tích cực đến sự gắn bó của nhân viên (SGBNV) đối với doanh nghiệp Đồng thời, SGBNV là một trong những yếu tố nền tảng ảnh hưởng đến HQHĐ (Jung và Yoon, 2012; Ghazzawi, 2008; Tuna và cộng sự, 2016) Những nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự gắn kết của người lao động với tổ chức đã được thực hiện ở nhiều quốc gia, trong nhiều ngành và tập trung chủ yếu vào các yếu tố động viên tài chính và phi tài chính Các nghiên cứu về những yếu tố tác động thuộc phương diện nhận thức về trách nhiệm công dân doanh nghiệp, về đạo đức đối với môi trường gần như ít được chú trọng Điều này đã tạo cơ hội cho các nghiên cứu về sự tác động của CS đến nhận thức, thái độ và hành vi của nhân viên và vai trò trung gian của sự gắn nhân viên của nhân viên trong sự ảnh hưởng của CS đến HQHĐ

Ngoài ra, Lo và Sheu đã khẳng định trong nghiên cứu của mình rằng các doanh nghiệp có chiến lược PTBV có nhiều khả năng được các nhà đầu tư khen thưởng với mức định giá doanh nghiệp và cổ phiếu cao hơn trên thị trường tài chính (Lo và Sheu,

2007) Nói cách khác, việc thực hiện các chiến lược bền vững giúp tăng cường sự quan tâm chú ý và dẫn đến sự cam kết của nhà đầu tư (SCKNĐT) đối với doanh nghiệp Hơn nữa, các nghiên cứu về chủ đề này đã chỉ ra rằng sau khi đầu tư vào các công ty, các nhà đầu tư tổ chức luôn đóng một vai trò quan trọng trong việc cải thiện quản trị công ty (Corporate governance) (Hartzell và Starks, 2003; Dong và Ozkan, 2008; Mizuno,

2014) Do đó, cam kết của nhà đầu tư sẽ ảnh hưởng tích cực đến những nguyên tắc quản trị doanh nghiệp tốt (OECD, 2004) (dẫn chiếu OECD Principles of Corporte Governance) và điều này góp phần quan trọng trong việc nâng cao HQHĐ Điều này cho thấy, có mối quan hệ cần được khám phá bằng nghiên cứu thực nghiệm về vai trò trung gian của sự cam kết của các nhà đầu tư trong tác động của CS đến HQHĐ Kiểm định mối quan hệ trung gian này nhằm khẳng định giả định nền tảng lý thuyết các bên liên quan – những thực thể chịu ảnh hưởng và ảnh hưởng bởi các quyết định và hoạt động của doanh nghiệp

Lược khảo tài liệu cho thấy, phần lớn các nghiên cứu về CS được thực hiện trong các ngành công nghiệp (Pedersen và cộng sự, 2018; Annunziata và cộng sự, 2018), nơi thường được xem là nguồn chủ yếu của ô nhiễm môi trường và an toàn lao động Việc nghiên cứu CS trong các ngành dịch vụ là rất hạn chế Kallio (2018) cho rằng ngành du lịch đang ở thời điểm then chốt, nơi mà tiềm năng và các mối đe dọa liên quan đến ngành du lịch đã thu hút được sự chú ý của toàn cầu Mặc dù lĩnh vực này mang lại nhiều cơ hội phát triển vì là một trong những ngành lớn nhất toàn cầu, nhưng ảnh hưởng tiêu cực mà ngành du lịch góp phần đối với môi trường như sự nóng lên của trái đất và biến đổi khí hậu cũng đã được thừa nhận Như một phản ứng, ngành du lịch và giới học thuật đã và đang chuyển hướng sang các diễn thuyết về du lịch bền vững, hay gần đây là du lịch có trách nhiệm, nơi các bên liên quan hướng tới con đường PTBV toàn diện Kallio

(2018) nhấn mạnh giá trị cốt lõi của cuộc tranh luận về du lịch bền vững là khái niệm về trách nhiệm, đặc biệt là khái niệm về trách nhiệm của các bên liên quan đối với tính bền vững trong du lịch

Lược khảo các nghiên cứu về chủ đề bền vững trong du lịch, tác giả tìm thấy các nghiên cứu tập trung vào khoảng cách thái độ - hành vi của khách du lịch (Juvan and Dolnicar, 2014; Fernandez and Sanchez, 2016) hơn là thái độ - hành vi của sự tham gia của cộng đồng địa phương (STGCĐĐP) vào du lịch, trong khi công đồng địa phương được xem là bên liên quan đặc biệt quan trọng để có được sự bền vững một cách toàn diện (Kallio, 2018) Tuy có rất ít khung khái niệm và lý thuyết về thái độ của cộng đồng địa phương (CĐĐP) đối với phát triển du lịch trong việc làm rõ mối quan hệ giữa thái độ và sự hỗ trợ của CĐĐP đối với sự phát triển du lịch được đề xuất trong tài liệu du lịch (Teye và cộng sự, 2002), nhưng các nghiên cứu về lĩnh vực du lịch đều ủng hộ rằng sự tham gia của cộng đồng vào phát triển du lịch góp phần đạt được sự phát triển du lịch bền vững (Tosun và Jenkins, 1996; Tosun, 2000; Boiral và cộng sự, 2019) Trong bối cảnh sự quan tâm ngày càng tăng của các nghiên cứu về yếu tố cộng đồng đối với du lịch, những người ủng hộ sự tham gia của cộng đồng vào du lịch cho rằng sự tham gia của cộng đồng như là một sự phát triển nên được các doanh nghiệp xem xét (Gow và Vansant, 1983; Murphy, 1985; Brohman, 1996; Simmons, 1994) Điều này đã tạo khoảng trống cho các nghiên cứu về tác động của CS đến nhận thức, thái độ và hành vi của CĐĐP và vai trò trung gian của STGCĐĐP đối với tác động của CS đến HQHĐ Ngoài ra, mặc dù trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility – CSR) nói chung và bền vững doanh nghiệp (Corporate Sustainability – CS) nói riêng đã được các nhà nghiên cứu quan tâm, đặc biệt là từ khi xuất hiện khái niệm PTBV (Sustainable Development – SD) nhưng cho đến nay, phần lớn các nghiên cứu về CS được tìm thấy đều tập trung ở các nước phát triển (Font và cộng sự, 2014; Witjes và cộng sự, 2017; Murray, 2017; Ashrafi và cộng sự, 2019) Các nghiên cứu về

CS ở các nước đang phát triển, nơi mà mức sống người dân còn thấp cũng như có nhiều vấn đề còn tồn tại liên quan đến xã hội và môi trường thì còn rất hạn chế Điều này cũng phản ảnh một xu hướng mà các nhà xã hội và môi trường gọi là “triển vọng, lợi ích và quan điểm phương Tây chi phối” (Griseri và Seppala, 2010) Đồng thời, chủ đề CS đối với khía cạnh quản lý hay khía cạnh thực tiễn vẫn cho thấy có sự thiếu vắng kiến thức khoa học về cách hai chiều này (khái niệm và thực nghiệm) có thể được tích hợp trong các hoạt động của các doanh nghiệp, cụ thể là việc xây dựng và thực hiện chiến lược của doanh nghiệp Do đó, vẫn cần nghiên cứu sâu rộng hơn nữa liên quan đến chủ đề này và cần có nhiều nghiên cứu hơn về mặt khái niệm và thực nghiệm (Rodrigues và Franco, 2019) Chính vì vậy, việc nghiên cứu tác động của CS đến HQHĐ và khám phá vai trò trung gian của SGBNV, SCKNĐT và STGCĐĐP trong tác động của CS đến HQHĐ tại các nước đang phát triển là đề tài có tính cấp thiết về mặt khoa học

Cho đến nay, ngành du lịch được xem là một trong những ngành kinh tế lớn nhất thế giới Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), lượng khách du lịch quốc tế năm

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Xác định, đo lường mức độ tác động của CS đến HQHĐ của các doanh nghiệp và đưa ra các hàm ý quản trị về tác động của CS đến HQHĐ của các DNDL vùng DHNTB tại Việt Nam

- Xác định và đo lường mức độ tác động của CS đến HQHĐ của các DNDL vùng DHNTB tại Việt Nam;

- Khám phá vai trò trung gian của SGBNV, SCKNĐT và STGCĐĐP trong tác động của CS đến HQHĐ của các DNDL;

- Kiểm định sự khác biệt giữa các nhóm về sự tác động của CS đến HQHĐ của các DNDL vùng DHNTB tại Việt Nam;

- Đưa ra các hàm ý quản trị giúp các DNDL vùng DHNTB tại Việt Nam tăng cường HQHĐ của các DNDL.

Câu hỏi nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu này phải trả lời các câu hỏi sau đây:

- CS ảnh hưởng như thế nào và mức độ tác động của CS đến HQHĐ của các DNDL vùng DHNTB tại Việt Nam?

- Có hay không vai trò trung gian của SGBNV, SCKNĐT, STGCĐĐP đối với tác động của CS đến HQHĐ của các DNDL vùng DHNTB tại Việt Nam?

- Có hay không sự khác biệt giữa các nhóm về sự tác động của CS đến HQHĐ của các DNDL vùng DHNTB tại Việt Nam?

- Những hàm ý quản trị nào cần đưa ra để giúp các DNDL vùng DHNTB tại Việt Nam tăng cường HQHĐ?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tác động của CS đến HQHĐ của các doanh nghiệp và vai trò trung gian của SGBNV, SCKNĐT, STGCĐĐP

- Đối tượng khảo sát: các nhà quản trị từ cấp trưởng, phó phòng, giám đốc kinh doanh trở lên tại các DNDL hoạt động tại vùng DHNTB tại Việt Nam

- Phạm vi không gian: đề tài tập trung nghiên cứu các DNDL hoạt động tại vùng DHNTB của Việt Nam gồm các tỉnh thành phố Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận

- Phạm vi thời gian: đề tài được thực hiện từ tháng 6/2018 đến 11/2020.

Phương pháp nghiên cứu

Từ những khoảng trống nghiên cứu được xác định trong quá trình lược khảo tài liệu Mô hình nghiên cứu và thang đo ban đầu được tác giả đề xuất Sau đó, phương pháp thảo luận nhóm chuyên gia được sử dụng Tác giả thực hiện việc lấy ý kiến của các chuyên gia, gồm 9 người là thành viên ban giám đốc của các DNDL, cán bộ quản lý nhà nước và các giảng viên của các Trường Đại học Phương pháp nghiên cứu định tính này được thực hiện nhằm xây dựng và điều chỉnh các thang đo được rút ra từ các nghiên cứu trước để từ đó thiết kế bảng câu hỏi khảo sát phục vụ cho nghiên cứu định lượng sơ bộ và định lượng chính thức

Nghiên cứu định lượng được thực hiện qua 2 bước gồm nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức

- Nghiên cứu sơ bộ: Nghiên cứu được thực hiện với qui mô mẫu là 100 quan sát Mẫu trong nghiên cứu sơ bộ được thu thập và đánh giá bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA bằng phần mềm SPSS 24 nhằm kiểm định độ hội tụ và giá trị phân biệt của các biến quan sát trong thang đo

- Nghiên cứu chính thức: Đề tài tiến hành khảo sát bằng bảng câu hỏi chính thức Nghiên cứu được thực hiện với qui mô mẫu là 495 quan sát Dữ liệu nghiên cứu được xử lý và làm sạch Tác giả sử dụng phầm mềm hỗ trợ SmartPLS 3.2.8 để phân tích mô hình đo lường và mô hình cấu trúc tuyến tính Luận án sử dụng phương pháp PLS-SEM để kiểm định giả thuyết nghiên cứu.

Những điểm mới của luận án

Kết quả nghiên cứu cho thấy, luận án có một số điểm mới so với các công trình nghiên cứu trước đây ở các nội dung sau:

Thứ nhất, luận án đề cập đến vấn đề chưa được nghiên cứu trên thế giới cũng như tại Việt Nam trước đây là tác động của CS đến HQHĐ của các DNDL

Thứ hai, luận án xây dựng mô hình nghiên cứu thể hiện được mối quan hệ chặt chẽ giữa các khái niệm nghiên cứu gồm CS, SGBNV, SCKNĐT, STGCĐĐP và HQHĐ của doanh nghiệp

Thứ ba, luận án khám phá vai trò trung gian của SGBNV, SCKNĐT và STGCĐĐP trong tác động của CS đến HQHĐ của doanh nghiệp mà các công trình trước đây chưa nghiên cứu

Thứ tư, các yếu tố trung gian là SGBNV, SCKNĐT, STGCĐĐP được phân tích theo tiếp cận đối tượng khảo sát là lãnh đạo các DNDL Đây là sự khác biệt so với các công trình nghiên cứu trước đây đã nghiên cứu theo tiếp cận là nhân viên, cộng đồng địa phương và nhà đầu tư

Thứ năm, luận án điều chỉnh các thang đo gốc phù hợp với đặc thù các DNDL đang hoạt động trong vùng DHNRB tại Việt Nam và bổ sung một số biến quan sát mới vào thang đo các yếu tố trong mô hình nghiên cứu Độ tin cậy của các thang đo mới trong mô hình nghiên cứu cho kết quả khá cao nên các nghiên cứu tiếp theo có thể kế thừa

Cuối cùng, luận án đưa ra các hàm ý quản trị về tác động của CS đến HQHĐ của các DNDL cũng như các hàm ý quản trị về vai trò trung gian của SGBNV, SCKNĐT và STGCĐĐP trong tác động của CS đến HQHĐ của các DNDL mà các công trình nghiên cứu trước đây chưa đề cập đến.

Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu

Thứ nhất, nghiên cứu hệ thống hoá các lý thuyết nền liên quan đến vấn đề nghiên cứu như lý thuyết tính chính đáng, lý thuyết thể chế, lý thuyết các bên liên quan và lý thuyết phụ thuộc nguồn lực Bên cạnh đó, luận án tổng hợp và hệ thống các nghiên cứu liên quan đến vấn đề nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam

Thứ hai, trên cơ sở lý thuyết nền và các nghiên cứu trước, luận án xây dựng mô hình nghiên cứu tác động của CS đến HQHĐ của các DNDL và vai trò trung gian của SGBNV, SCKNĐT, STGCĐĐP và được kiểm định tại vùng DHNTB của Việt Nam Cuối cùng, nghiên cứu bổ sung, điều chỉnh và đánh giá thang đo của các khái niệm nghiên cứu Từ đó, phát triển các khái niệm nghiên cứu phù hợp trong điều kiện của Việt Nam nói chung và vùng DHNTB tại Việt Nam nói riêng Do đó, luận án đảm bảo được tính mới Đồng thời, các nghiên cứu tiếp theo có thể kế thừa và tiếp tục phát triển hơn nữa những vấn đề nghiên cứu của luận án

Khảo sát tình hình thực tế, nghiên cứu đánh giá được thực trạng nhận thức cũng như thực hành CS tại các DNDL vùng DHNTB, Việt Nam

Với mục tiêu nghiên cứu là tìm hiểu tác động của CS đến HQHĐ của các DNDL vùng DHNTB tại Việt Nam và vai trò trung gian của SGBNV, SCKNĐT, STGCĐĐP, nghiên cứu sẽ hỗ trợ các DNDL trong ngành tăng cường sự hiểu biết về các hoạt động

CS để doanh nghiệp hoạt động một cách bền vững và từ đó nâng cao HQHĐ của DNDL Đồng thời, nghiên cứu này sẽ góp phần khuyến khích các DNDL quan tâm hơn nữa đến các bên liên quan trong việc hoạch định chính sách và thực thi các chiến lược kinh doanh

Nghiên cứu này cũng mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới cho các nhà nghiên cứu trong trong tương lai khi tìm hiểu về bền vững doang nghiệp, SGBNV, SCKNĐT, STGCĐĐP và HQHĐ trong các lĩnh vực khác.

Kết cấu của đề tài

Nghiên cứu được thiết kế theo bố cục 5 chương như sau:

Chương 1 Giới thiệu về đề tài nghiên cứu

Trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu đồng thời trình bày ý nghĩa của nghiên cứu và những điểm mới của luận án.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Các khái niệm

Bền vững doanh nghiệp là một khái niệm có liên quan, kế thừa một số chủ đề và các khái niệm như: Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility); Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory); PTBV (Sustainable Development) và Trách nhiệm thực hiện hoặc giải trình của doanh nghiệp (Corporate Accountability) (Wilson, 2003) Để làm rõ khái niệm bền vững doanh nghiệp, sự tương đồng và khác biệt giữa khái niệm CS các khái niệm có liên quan đến trách nhiệm xã hội, luận án trình bày khái niệm về bền vững doanh nghiệp và về các chủ đề liên quan đến bền vững doanh nghiệp

Khái niệm bền vững doanh nghiệp

Bền vững doanh nghiệp (Corporate Sustainability – CS) là khái niệm được phát triển sau khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility – CSR) CS đang được các nhà khoa học và nhà quản lý giành nhiều sự quan tâm trong giai đoạn hiện nay

Căn nguyên của khái niệm CS được cho là bắt nguồn từ cuối những năm 1980, cùng thời gian khi khái niệm PTBV đã đạt được sức hút (Schwartz và Carroll, 2008; Hahn và cộng sự, 2017) Định nghĩa về CS được áp dụng từ sự PTBV và có thể được xem là sự đáp ứng nhu cầu của các bên liên quan khác nhau của doanh nghiệp mà không làm ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai (Dyllick và Hockerts, 2002) Là một cách tiếp cận kinh doanh đa ngành, mang tính chiến lược, CS tạo ra giá trị lâu dài cho các bên liên quan của doanh nghiệp Sự khác biệt giữa PTBV và CS là PTBV đề cập đến tính bền vững ở cấp độ vĩ mô trong khi CS được liên kết với tính bền vững ở cấp độ vi mô hoặc cấp độ doanh nghiệp (Dyllick và Muff, 2015) Đồng tình với quan điểm này, Bansal (2005) và Sharma (2002) cũng cho rằng CS có tương quan với sự thịnh vượng kinh tế, công bằng xã hội và tính toàn vẹn môi trường

Cụ thể, trong nghiên cứu của mình Bansal và Song (2017) đã một lần nữa khẳng định rằng hai khái niệm CS và CSR cùng liên quan đến một vấn đề nhưng không giống nhau Bansal và Song (2017) cho rằng trách nhiệm doanh nghiệp và sự bền vững cùng giải quyết mối quan hệ giữa doanh nghiệp và xã hội Tuy nhiên, hai lĩnh vực nghiên cứu này đã hội tụ và chính điều này đã gây nên những trở ngại và vướng mắc cho việc nghiên cứu chúng Cũng theo đó, nghiên cứu CSR là những chuẩn mực, đạo đức và chống lại sự bất hợp pháp trong các hoạt động kinh doanh Trong khi đó, nghiên cứu về CS đưa ra một viễn cảnh hệ thống, gióng lên hồi chuông cảnh báo về những thất bại do hoạt động kinh doanh không chú trọng đến các khía cạnh xã hội và môi trường tự nhiên Theo Aras và Crowther (2009), có nhiều giai đoạn trưởng thành khác nhau để phản ánh việc áp dụng CS và CSR Ban đầu, các doanh nghiệp bắt đầu tham gia vào các hoạt động phản ánh CSR mà không có chất lượng Giai đoạn thứ hai được gọi là ngăn chặn chi phí, theo đó các doanh nghiệp tái cấu trúc quy trình kinh doanh để giảm các tiêu thụ nước và năng lượng giúp giảm chi phí và cải thiện hiệu quả tài chính Sự tham gia của các bên liên quan là giai đoạn thứ ba, theo đó các doanh nghiệp đã từng bước quan tâm đến sự thỏa mãn của nhân viên và khách hàng Giai đoạn thứ tư bao gồm việc truyền đạt về các sáng kiến này bằng cách phát triển các báo cáo CSR Giai đoạn thứ năm là sự bền vững (Sustainability), trong đó ngụ ý những thay đổi căn bản đối với thực tiễn kinh doanh và một lượng đáng kể quá trình của doanh nghiệp được tái thiết kế (Reengineering) Trong các bối cảnh này, dường như khái niệm CS có một tương lai tươi sáng, bởi vì cốt lõi của nó là giải quyết và nắm bắt những mối quan tâm quan trọng nhất của công chúng về các mối quan hệ kinh doanh, xã hội và môi trường Đồng thời, nghiên cứu của Kocmanová và Dočekalová (2011) chỉ ra rằng tính bền vững là một chiến lược của doanh nghiệp với mục tiêu tăng trưởng dài hạn, đem lại hiệu quả và làm tăng hiệu suất cũng như khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp bằng cách kết hợp các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường vào quản lý doanh nghiệp Những cải tiến trong lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường có thể giúp tích hợp các khái niệm về PTBV vào thực tiễn kinh doanh và dẫn đến tính bền vững

Do đó, CS thực sự có thể được định nghĩa là ứng dụng PTBV ở cấp độ vi mô, tức là cấp độ doanh nghiệp (Steurer và cộng sự, 2005; Baumgartner và Ebner, 2010; Lozano, 2015; Dyllick và Muff, 2015; Hahn và cộng sự, 2017) Theo đó, có thể xác định ba yếu tố chính cốt lõi của CS bao gồm ba phương diện kinh tế, xã hội và môi trường Điều này cho thấy, việc thực hiện các chiến lược của doanh nghiệp không chỉ xem xét các điều kiện tiên quyết về kinh tế mà còn phải xem xét các điều kiện về xã hội, môi trường và tác động của các hành động của doanh nghiệp cũng như sự phụ thuộc lẫn nhau giữa ba phương diện này Cùng với đó, việc thực hiện các hoạt động CS đòi hỏi một định hướng kinh doanh dài hạn làm cơ sở để đáp ứng nhu cầu của các bên liên quan hiện tại và trong tương lai (Zink, 2008)

Hình 2.1: Mô hình mối quan hệ giữa môi trường, kinh tế và xã hội với thành quả hoạt động của doanh nghiệp của Kocmanová và Dočekalová (2011)

Tóm lại, dựa vào các quan điểm nêu trên, luận án định nghĩa CS là một mô hình chiến lược nhằm phát triển khả năng tạo ra giá trị lâu dài cho doanh nghiệp và các bên liên quan của doanh nghiệp bằng cách đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp và các bên liên quan gắn với các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường hiện tại và tương lại Trong đó, các khía cạnh kinh tế đề cập đến việc quản lý doanh nghiệp nhằm giảm thiểu gánh nặng chi phí về môi trường, tiết giảm tiêu thụ năng lượng và nước, hợp tác tích cực với các bên liên quan, cải thiện quy trình hoạt động để phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của doanh nghiệp và đạt được khả nặng cạnh tranh bền vững trong thời gian dài; các khía cạnh xã hội đề cập đến việc quản lý doanh nghiệp theo cách tiếp cận nhằm giảm thiểu sự bất bình đẳng và chia rẽ xã hội, cải thiện chất lượng cuộc sống và tăng cường mối quan hệ với các bên liên quan khác nhau; cuối cùng, các khía cạnh môi trường đề cập đến nỗ lực của doanh nghiệp để quản lý hoạt động của doanh nghiệp theo cách mà các sản phẩm cuối cùng của doanh nghiệp không gây hại cho môi trường, không gây ô nhiễm, giảm thiểu tiêu thụ tài nguyên và tuân thủ các quy định về môi trường Đồng thời, doanh nghiệp phải có trách nhiệm báo cáo hiệu quả của các hoạt động CS đến các bên liên quan và toàn xã hội

Các chủ đề liên quan đến khái niệm CS a Phát triển bền vững (Sustainable Development)

PTBV (Sustainable Development – SD) là sự phát triển của nhân loại không chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học (IUCN, 1980) Đến năm 1992, có ít nhất 70 định nghĩa khác nhau cho PTBV (Lozano, 2008) và gần 300 định nghĩa về tính bền vững và PTBV vào năm 2007 (Johnston và cộng sự 2007) Với số lượng lớn các định nghĩa được trích dẫn về PTBV trong báo cáo của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED) năm 1987 (còn được gọi là Báo cáo của Ủy ban Brundtland) thì PTBV được định nghĩa là "sự phát triển đáp ứng nhu cầu của các thế hệ hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai" Định nghĩa từ Báo cáo của Ủy ban Brundtland có thể không biểu lộ sự phức tạp và mâu thuẫn cơ bản của khái niệm PTBV nhưng nó nhấn mạnh giá trị cơ bản rằng sự phát triển kinh tế không được làm suy yếu yếu tố xã hội và môi trường mà chúng dựa vào Năm 1992, Hội nghị Liên hiệp quốc về Môi trường và Phát triển (UNCED) được tổ chức tại Rio de Janeiro ở Brazil (Hội nghị thượng đỉnh Trái đất Rio) nhằm xây dựng các mục tiêu của Báo cáo của Ủy ban Brundtland, và tập trung vào phát triển khuôn khổ toàn cầu để giải quyết các thách thức môi trường, chẳng hạn như biến đổi khí hậu và mất đa dạng sinh học thông qua sự PTBV (Redclift, 2005)

Một thập kỷ sau Báo cáo của Ủy ban Brundtland, John Elkington (1998) đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về PTBV, theo đó PTBV thông qua lý thuyết về “ba điểm mấu chốt” (Triple Bottom Line - TBL), tức là theo đuổi đồng thời thịnh vượng kinh tế, chất lượng môi trường và công bằng xã hội (Elkington, 1998) TBL, còn được gọi là 3Ps, nhằm đạt được sự cân bằng giữa các khía cạnh xã hội (con người), môi trường (hành tinh) và kinh tế (lợi nhuận) với sự bền vững như nhau Thật vậy, việc tích hợp và cân bằng các khía cạnh xã hội, môi trường và kinh tế đồng thời cùng với việc tập trung vào bản chất dài hạn của các hoạt động kinh doanh là những yếu tố cốt lõi trong PTBV (Robinson, 2004; Hahn và cộng sự 2015)

Tại Việt Nam, PTBV là một xu thế tất yếu và cấp bách trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội trong thời đại cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và toàn cầu hóa đang diễn ra hiện nay Việt Nam đã cam kết thực hiện “Chương trình nghị sự 2030 vì sự PTBV của Liên hợp quốc”, gồm 17 mục tiêu chung và 115 mục tiêu cụ thể Vào năm

2017, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030, kế hoạch chỉ rõ PTBV là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu Kế hoạch hành động thể hiện nỗ lực và cam kết của Chính phủ Việt Nam trong việc thực hiện các mục tiêu PTBV, bao gồm những mục tiêu tổng quát và cụ thể làm cơ sở pháp lý để các bộ ngành, địa phương, các tổ chức và các cá nhân triển khai thực hiện và phối hợp hành động

Tóm lại, theo tác giả, PTBV là sự phát triển nhằm giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với sự thịnh vượng, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường tự nhiên, bảo đảm một hành tinh bền vững, một thế giới dễ sống, một xã hội công bằng cho thế hệ hôm nay và mai sau b Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility)

CSR là một cách thể hiện mối quan hệ và cam kết của doanh nghiệp đối với xã hội Howard R Bowen, người được Carroll gọi là “Cha đẻ của CSR” (Carroll, 1999), định nghĩa trách nhiệm xã hội là nghĩa vụ của các doanh nhân để theo đuổi các chính sách, để đưa ra các quyết định, hoặc để hành động theo các mong muốn về các mục tiêu và giá trị của xã hội (Bowen, 2013) Nghĩa vụ ở đây được hiểu là việc phải làm, thể hiện sự ràng buộc giữa các bên có liên quan trong những mối quan hệ cụ thể, trước hết là một phạm trù đạo đức học phản ánh trách nhiệm của một cá nhân hoặc một tổ chức đối với những việc phải làm trong những điều kiện xã hội cụ thể, trước một tình hình xã hội nhất định tại một thời điểm nhất định Trong giai đoạn 1960-1970, khái niệm về CSR xoay quanh hai quan điểm tương phản Những người ủng hộ CSR tin rằng các doanh nghiệp là một phần của xã hội và do đó có nghĩa vụ phải phát triển hoạt động xã hội và môi trường của họ ngoài các nghĩa vụ kinh tế và pháp lý (Frederick, 1960; McGuire,

1963) Mặt khác, những người phản đối CSR theo tư tưởng kinh tế cổ điển của thị trường tự do cho rằng, các tập đoàn chỉ có một trách nhiệm và đó là kiếm lợi nhuận theo luật (Levitt, 1958; Friedman, 2007)

Mặc dù có những quan điểm khác nhau về cách CSR có thể mang lại lợi ích (hoặc cản trở) hoạt động của doanh nghiệp, khái niệm về CSR vẫn tiếp tục phát triển và mở rộng qua nhiều năm Từ những năm 1950, một số mô hình CSR được phát triển để xây dựng vai trò và trách nhiệm tương ứng của các tập đoàn đối với các cổ đông và các bên liên quan Những mô hình này đã được xem xét trong tài liệu nghiên cứu (Kanji và Agrawal 2016), một số trong số đó là Mô hình tự do (Friedman, 1970), Mô hình của Ackerman (Ackerman và Bauer, 1976), Mô hình các bên liên quan (Freeman, 2015),

Mô hình kim tự tháp của CSR (Carroll, 1991), Mô hình ba miền của CSR (Schwartz và Carroll, 2003) và Mô hình 3C-SR (Meehan và cộng sự, 2006) Trong nửa thế kỷ qua, nhiều định nghĩa về CSR được đề xuất trong tài liệu nhưng gần như không có định nghĩa chính xác về thuật ngữ này (Matten và Moon, 2008; Nasrullah và Rahim, 2014) Sarkar và Searcy (2016) đã xác định 110 định nghĩa về CSR từ tạp chí, sách và các ấn phẩm phi học thuật được đánh giá từ năm 1953 đến 2014 và phân loại chúng thành ba giai đoạn Ý tưởng về CSR của thời kỳ đầu tiên (1953 - 1982) được xây dựng dựa trên quan niệm rằng “các doanh nghiệp không chỉ có nghĩa vụ kinh tế và pháp lý mà còn có những phản hồi xã hội nhất định mà họ nên đáp ứng một cách tự nguyện Lần thứ hai (1983 -

Tổng quan về các lý thuyết liên quan

2.2.1 Lý thuyết tính chính đáng (Legitimacy Theory)

Khái niệm về tính chính đáng

Lý thuyết tính chính đáng bắt nguồn từ khái niệm tính hợp pháp của tổ chức, được định nghĩa là một điều kiện hoặc trạng thái, tồn tại khi một hệ thống giá trị thực thể phù hợp với hệ thống giá trị của hệ thống xã hội lớn mà thực thể là một phần Theo Parsons

(1960), định nghĩa tính chính đáng là đánh giá hành động theo các giá trị chung trong bối cảnh có sự tham gia của các hành động trong xã hội Lý thuyết tính chính đáng tập trung vào khái niệm hợp đồng xã hội, ngụ ý rằng sự tồn tại của doanh nghiệp phụ thuộc vào mức độ mà doanh nghiệp hoạt động trong giới hạn và chuẩn mực của xã hội (Brown và Deegan, 1998)

Trong lý thuyết tính chính đáng, xã hội được xem xét một cách tổng thể chứ không xem xét các cá nhân riêng biệt (Deegan, 2002; Belal, 2008) Vì vậy, lý thuyết tính chính đáng quan tâm đến mối quan hệ giữa doanh nghiệp và xã hội nói chung Các doanh nghiệp không tồn tại đơn độc mà họ tồn tại trong mối quan hệ với xã hội Các doanh nghiệp có được nguồn nhân lực và vật liệu đến từ xã hội và doanh nghiệp cũng cung cấp các sản phẩm và dịch vụ cho xã hội Trên hết, các sản phẩm hoặc phát thải của doanh nghiệp được xã hội và môi trường tự nhiên hấp thụ, thông thường, doanh nghiệp không mất bất kỳ chi phí nào cho điều này Theo nhiều học giả, các doanh nghiệp vốn không có quyền đối với những lợi ích này nên để cho phép doanh nghiệp tiếp tục tồn tại, xã hội sẽ mong đợi lợi ích vượt xa chi phí doanh nghiệp phải trả cho xã hội (Deegan, 2002; Belal, 2008)

Lý thuyết tính chính đáng cho thấy rằng các kỳ vọng của xã hội nói chung phải được thực hiện bởi doanh nghiệp, không chỉ đơn thuần là yêu cầu của chủ sở hữu hoặc nhà đầu tư như trong các lý thuyết cổ đông Theo lý thuyết tính chính đáng, chỉ khi đáp ứng những kỳ vọng này, xã hội mới cho phép doanh nghiệp tiếp tục hoạt động và đảm bảo sự tồn tại của mình Nói cách khác, lý thuyết tính chính đáng cho rằng các doanh nghiệp chỉ có thể tiếp tục tồn tại nếu xã hội mà họ dựa vào nhận thức được doanh nghiệp đang vận hành một hệ thống có giá trị tương xứng với hệ thống giá trị của xã hội Ứng dụng lý thuyết tính chính đáng của luận án

Lý thuyết tính chính đáng nhấn mạnh rằng các doanh nghiệp liên tục cố gắng đảm bảo rằng họ được đánh giá là hoạt động trong sự ràng buộc và các quy tắc của xã hội nơi họ hoạt động (Deegan, 2002) Theo đó, lý thuyết tính chính đáng ngụ ý rằng một

"hợp đồng xã hội" tồn tại giữa một tổ chức kinh doanh và các xã hội tương ứng (Deegan,

2002) Hợp đồng xã hội này liên quan đến việc một tổ chức hoặc một doanh nghiệp hoạt động trong các giới hạn và chuẩn mực của xã hội hay, đơn giản là, kỳ vọng của xã hội Các điều khoản của hợp đồng này có thể là một phần rõ ràng và một phần ngầm định Các điều khoản rõ ràng bao gồm các yêu cầu pháp lý, trong khi các kỳ vọng của cộng đồng tạo thành các điều khoản ngầm Theo đó, doanh nghiệp cần đảm bảo rằng các điều khoản rõ ràng hay ngầm định này không bị vi phạm để doanh nghiệp có thể duy trì trạng thái hợp pháp mà qua đó xã hội cho phép doanh nghiệp đó tiếp tục tồn tại

Bên cạnh đó, trong lý thuyết tính chính đáng, các doanh nghiệp mong muốn hợp pháp hóa các hoạt động của doanh nghiệp thông qua việc công bố các báo cáo liên quan đến chiến lược bền vững và điều này được xem là động lực để thúc đẩy các quyết định liên quan đến công bố thông tin của doanh nghiệp (Deegan, 2002) Do đó, để phù hợp với lý thuyết tính chính đáng, các doanh nghiệp sẽ tham gia vào các hoạt động vì mục tiêu PTBV và báo cáo về những hoạt động của doanh nghiệp

Nhiều nghiên cứu đồng ý rằng lý thuyết tính chính đáng là quan điểm lý thuyết được sử dụng nhiều nhất trong các nghiên cứu về CS để giải thích lý do tại sao các doanh nghiệp tham gia vào các hoạt động hướng đến việc thực hiện mục tiêu PTBV (Tilling, 2004; De Villiers và van Staden, 2006) Khi doanh nghiệp bị thúc đẩy bởi động lực hoạt động để phù hợp với xã hội, các doanh nghiệp sẽ hành động để giữ gìn hình ảnh của doanh nghiệp vì một doanh nghiệp hợp pháp và thỏa mãn các kỳ vọng của xã hội (De Villiers và van Staden, 2006) Điều này ngụ ý rằng, các doanh nghiệp hành động để thực hiện các hoạt động CS vì những lợi ích mà CS mang lại cho doanh nghiệp như cải thiện hình ảnh doanh nghiệp và theo đó HQHĐ sẽ được tốt hơn

Lý thuyết tính chính đáng giúp tác giả hình thành nên ý tưởng xây dựng và kiểm định mô hình về tác động của CS đến HQHĐ

2.2.2 Lý thuyết thể chế (Institutional Theory)

Khái niệm về thể chế

Theo Veblen (1990), thể chế là tính quy chuẩn của hành vi hoặc các quy định xác định hành vi trong những tình huống cụ thể, được các thành viên của nhóm xã hội chấp nhận Các thể chế không phải ở mọi nơi và dành cho tất cả mọi người, chúng nằm trong các bối cảnh xã hội cụ thể và hành động theo điều kiện trong các bối cảnh đó Do đó, nghiên cứu thể chế thường tập trung vào bối cảnh thể chế - tập hợp các thể chế và các mối quan hệ và tác động của chúng có liên quan trong một tình huống Các bối cảnh thể chế đặt ra các khuôn khổ nhận thức cho các tác nhân xã hội và các khuôn khổ này vừa hạn chế vừa cho phép hành động Bối cảnh thể chế hạn chế hành động bằng cách ban hành các quy tắc thường không nhìn thấy được, có tình trạng được coi là được chấp nhận giữa các tác nhân trong bối cảnh đó Đồng thời, những bối cảnh này cho phép hành động bằng cách làm cho thế giới dễ hiểu và các hành động có ý nghĩa

Lý thuyết thể chế là một khung lý thuyết để phân tích các hiện tượng xã hội (đặc biệt là tổ chức), trong đó xem thế giới xã hội bao gồm đáng kể các thể chế - các quy tắc, thực hành và cấu trúc lâu dài đặt ra các điều kiện hành động Các thiết chế là cơ sở trong việc giải thích thế giới xã hội vì chúng được xây dựng trong trật tự xã hội và định hướng dòng chảy của đời sống xã hội Chúng là những hằng số xác định quy luật biến thiên Các thể chế tạo điều kiện cho hành động bởi vì sự ra đi khỏi chúng tự động bị chống lại bởi các biện pháp kiểm soát xã hội, làm cho việc đi chệch khỏi trật tự xã hội trở nên tốn kém Các biện pháp kiểm soát này liên kết sự không phù hợp với việc tăng chi phí, thông qua việc gia tăng rủi ro, yêu cầu nhận thức cao hơn hoặc giảm tính hợp pháp và các nguồn lực đi kèm với nó

Góc độ tiếp cận lý thuyết thể chế của luận án

Lý thuyết thể chế đã được vận dụng trong nhiều nghiên cứu về CS (Larrinaga, 2007; Brammer và cộng sự, 2012; Gauthier, 2013; Glover và cộng sự, 2014; De Grosbois, 2016) Ứng dụng lý thuyết này đã được chứng minh là rất hữu ích vì nó đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích vì sao các doanh nghiệp đang ngày càng quan tâm và thực hiện các hoạt động hướng đến việc thực hiện mục tiêu PTBV và nhận được sự chấp nhận rộng rãi (Brammer và cộng sự, 2012; Gauthier, 2013; Glover và cộng sự, 2014; De Grosbois, 2016)

Lý thuyết thể chế cung cấp một lăng kính lý thuyết, qua đó các nhà nghiên cứu có thể xác định và kiểm tra các ảnh hưởng thúc đẩy sự tồn tại và tính hợp pháp của thực tiễn tổ chức, bao gồm các yếu tố như văn hóa, môi trường xã hội, quy định và môi trường pháp lý, truyền thống và lịch sử, cũng như khuyến khích kinh tế phát triển (Hirsch,

Các hoạt động của doanh nghiệp bị ràng buộc bởi thể chế Theo North (2001), khuôn khổ chính trị và pháp lý tạo ra những nguyên tắc và luật lệ cơ bản cho hoạt động của cá nhân và doanh nghiệp; các giá trị văn hóa và niền tin có ảnh hưởng đến hành vi kinh tế thông qua sự tác động của chúng đến sự sẵn lòng tham gia và tuân thủ các nguyên tắc, quy luật của thị trường Các yếu tố của thể chế tác động đến hoạt động của doanh nghiệp vì mục tiêu phát triển CS bao gồm:

Thứ nhất, các hành động của chính phủ trong việc xây dựng và duy trì môi trường hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển một cách bền vững Chính phủ có thể đảm bảo thị trường hoạt động hiệu quả bằng cách loại bỏ các rào cản tham gia thị trường, thông tin không hoàn hảo của thị trường và các quy định không cần thiết

Thứ hai, các chuẩn mực xã hội đối với các hoạt động của doanh nghiệp nhằm giảm thiểu sự bất bình đẳng và chia rẽ xã hội, cải thiện chất lượng cuộc sống, quản lý các hoạt động của doanh nghiệp mà không gây hại cho môi trường, giảm ô nhiễm môi trường, giảm tiêu thụ tài nguyên Những chuẩn mực này ảnh hưởng đến các hoạt động của doanh nghiệp

Lược khảo các nghiên cứu có liên quan

2.3.1 Các nghiên cứu về tác động của CS đến HQHĐ

Các nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng đã tìm kiếm tác động của CS đến HQHĐ trong các lĩnh vực khác nhau và tại những quốc gia khác nhau Các nghiên cứu được tìm thấy như sau:

- Shamil và cộng sự (2012) đã đề xuất một khung khái niệm để xem xét mối quan hệ trực tiếp giữa việc áp dụng CS và hiệu quả tài chính doanh nghiệp Nghiên cứu này đã đóng góp vào cuộc thảo luận về việc liệu việc áp dụng các hoạt động CS có cải thiện hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp Tuy nhiên, hạn chế của nghiên cứu của Shamil và cộng sự (2012) là chỉ dừng lại ở nghiên cứu định tính Shamil và cộng sự (2012) chỉ đề xuất phát triển và thử nghiệm các khung phân tích để giải thích các mối quan hệ giữa

CS và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp để từ đó đóng góp vào sự hiểu biết và phát triển các khái niệm nghiên cứu trong tương lai Vì thế, nghiên cứu thực nghiệm để khám phá tác động của CS đến HQHĐ là một thách thức cần được tiếp tục nghiên cứu

(Nguồn: Shamil và cộng sự, 2012)

Hình 2.4: Mô hình nghiên cứu đề xuất của Shamil và cộng sự (2012)

- Eccles và cộng sự (2014) đã nghiên cứu về CS đối với các quy trình và hiệu suất của tổ chức Nghiên cứu sử dụng mẫu tương ứng của 180 công ty Mỹ, trong đó, 90 công ty được phân loại là các công ty PTBV cao và 90 công ty được phân loại là các công ty PTBV thấp Các công ty PTBV thấp phần lớn tương ứng với mô hình tối ưu hóa lợi nhuận doanh nghiệp truyền thống và các vấn đề xã hội và môi trường không được các công ty này quan tâm Các công ty có tính bền vững cao có nhiều khả năng đã thiết lập các quy trình cho sự tham gia của các bên liên quan, định hướng phát triển lâu dài và thể hiện việc đo lường và tiết lộ thông tin phi tài chính cao hơn Kết quả nghiên cứu cho thấy các công ty thực hiện các hoạt động CS cao có kết quả tốt hơn so với các công ty thực hiện các hoạt động CS thấp về cả thị trường chứng khoán và hiệu quả kế toán

- Tomšič và cộng sự (2015) đã phân tích mối quan hệ giữa CS và HQHĐ Nghiên cứu sử dụng đồng thời các biến kiểm soát bao gồm: vốn nhân lực, quá trình đổi mới, lãnh đạo và chính sách của Liên minh Châu Âu đối với các DNNVV Kết quả nghiên cứu cho thấy các DNNVV ở Liên minh Châu Âu cần phải liên tục cân bằng hiệu quả kinh tế với trách nhiệm xã hội và bảo vệ môi trường để duy trì hoạt động bền vững thành công trong thị trường cạnh tranh cao Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy lãnh đạo doanh nghiệp có tác động tích cực đến việc thực hiện CS Ngoài ra, ban lãnh đạo cần tạo ra một môi trường hợp tác và thuận lợi cho quá trình đổi mới Đồng thời, doanh nghiệp cần đầu tư nhiều hơn nữa vào nguồn nhân lực vì vốn con người tạo ra sự đổi mới và điều này có ảnh hưởng tích cực đến CS nên có ảnh hưởng đến HQHĐ Điều này cho thấy kiến thức của các DNNVV về CS, hoạt động của họ đối với tăng trưởng bền vững, trách nhiệm xã hội và bảo vệ môi trường Việc xem CS là một trong những thành phần thiết yếu của văn hóa doanh nghiệp, khai thác các thách thức môi trường và pháp luật để tạo lợi thế cho họ bằng cách phát triển các sản phẩm mới, xanh hơn và bằng cách lấy CS làm lộ trình quan trọng để phát triển lâu dài, ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả kinh tế của các DNNVV

- Font và cộng sự (2016) đã khảo sát với 900 DNDL nhỏ tại Châu Âu Nghiên cứu phân tích hành vi ủng hộ bền vững của các DNNVV Nghiên cứu đã khám phá ra rằng các tổ chức du lịch vừa và nhỏ đã tham gia vào các hoạt động bền vững nhiều hơn là dự kiến Hành vi ủng hộ bền vững đề cập đến việc tự nguyện áp dụng các thực hành để điều hòa bảo toàn môi trường, công bằng xã hội và nhu cầu kinh tế Đồng thời, nghiên cứu cũng cho thấy, các DNNVV không phải là doanh nghiệp lớn nên cần có thêm những nghiên cứu mang tính đặc thù để nghiên cứu về các hoạt động bền vững trong các DNNVV So với các doanh nghiệp lớn, các DNNVV bị CS thách thức và thúc đẩy theo những cách khác nhau Điều này dẫn đến, các DNNVV tham gia vào hoạt động bền vững với một cách thức khác với các doanh nghiệp lớn Theo đó, nghiên cứu chỉ ra rằng các DNNVV rất ngại truyền đạt thông điệp bền vững của họ và sử dụng hạn chế các hành động bền vững của họ để thu hút khách hàng Font và cộng sự (2016) đã đề xuất cần phải có thêm các nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng để đánh giá cao khoảng cách giữa hành vi tự báo cáo và hành vi thực tế về các hoạt động bền vững của doanh nghiệp Đồng thời, nghiên cứu khuyến khích nghiên cứu sâu hơn về cách các DNNVV tham gia vào các hoạt động CS

- Sy (2016) đã kiểm tra ảnh hưởng của các chỉ số bền vững đến các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu cho thấy các công ty hoạt động trong khuôn khổ kinh doanh bao gồm năm khía cạnh vượt trội về hiệu quả kinh tế, trách nhiệm với môi trường, trách nhiệm với xã hội, đạo đức và quản trị Theo từng khía cạnh, các hoạt động khác nhau được các công ty tuân thủ để điều hành kinh doanh một cách đạo đức, quản trị hiệu quả cùng với các hành động có trách nhiệm với xã hội và trách nhiệm với môi trường, điều này đảm bảo doanh nghiệp có được hiệu quả bền vững, tạo ra giá trị lâu dài cho các bên liên quan khác nhau và có được sự tin tưởng của công chúng Hơn nữa, các phát hiện chỉ ra rằng tất cả năm tiền đề về CS có tác động đáng kể đến HQHĐ Tuy nhiên, trong số năm khía cạnh, các hoạt động bền vững liên quan đến khả năng kinh tế được hỗ trợ nhiều nhất và có tác động rất lớn vì nó đặt các doanh nghiệp vào vị trí tốt hơn để thực hiện các trách nhiệm về môi trường, xã hội, đạo đức và quản trị Khả năng kinh tế là nền tảng của sự bền vững trong kinh doanh Có nghĩa là các tổ chức chỉ có thể tồn tại khi họ tiếp tục có lãi, tạo ra giá trị cổ đông Nghiên cứu mô tả này đã được chứng minh là một phương pháp hữu ích trong việc xác định và đánh giá các thực tiễn liên quan đến bền vững hiện có của doanh nghiệp

Hình 2.5: Mô hình khung bền vững của Sy (2016)

- Trần Thị Hoàng Yến (2016) với luận án “Nghiên cứu tác động trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đến kết quả hoạt động tài chính tại các ngân hàng thương mại Việt Nam”, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội Nghiên cứu đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về CSR, các mô hình sử dụng để nghiên cứu CSR và ngân hàng, đề xuất khung phân tích, đánh giá việc thực hiện trách nhiệm xã hội tại các ngân hàng thương mại Việt Nam Kết quả nghiên cứu đã cho thấy có mối quan hệ thuận chiều giữa thực hiện CSR đến kết quả tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam

- El-Khalil và El-Kassar (2018) đã khám phá mức độ mà các tập đoàn khu vực MENA (Trung Đông và Bắc Phi) theo đuổi các khía cạnh khác nhau của CS El-Khalil và El-Kassar (2018) xem xét thực hành CS và kiểm tra mối quan hệ giữa CS với HQHĐ trong khu vực MENA Kết quả của nghiên cứu cho thấy các doanh nghiệp có quy mô lớn có khuynh hướng tham gia nhiều hơn vào các hoạt động CS Nghiên cứu sử dụng sáu tiêu chí để đo tính bền vững bao gồm: giáo dục, y tế, bồi thường, phúc lợi cho nhân viên, quản lý tài nguyên và quản lý năng lượng Ngoài ra, bốn tiêu chí đầu ra của HQHĐ được sử dụng bao gồm: năng suất, hiệu quả, chất lượng và phúc lợi của nhân viên

2.3.2 Các nghiên cứu liên quan đến sự tham gia của cộng đồng

- Tosun (1999) cho rằng, mặc dù khái niệm về sự tham gia của cộng đồng vào du lịch bắt nguồn từ khái niệm chung về sự tham gia của cộng đồng trong các nghiên cứu phát triển, các nghiên cứu trước đây dường như đã phát triển và phổ biến nhưng lại tách biệt với ý nghĩa và phạm vi nguồn gốc của sự tham gia của cộng đồng vào du lịch Nghiên cứu của Tosun (1999) nói lên rằng sự cô lập như vậy đã mở ra một mô hình cứng nhắc và đơn giản về sự tham gia của cộng đồng vào du lịch Nghiên cứu cho thấy, sự tham gia của cộng đồng trong quá trình phát triển có thể có nhiều hình thức tùy theo hoàn cảnh Nghiên cứu đưa ra ba hình thức tham gia chính của cộng đồng vào quá trình phát triển du lịch gồm sự tham gia giả tạo, sự tham gia thụ động và sự tham gia tự phát của cộng đồng vào phát triển du lịch

- Tosun (2000) đã phân tích và giải thích những hạn chế đối với phương pháp phát triển du lịch có sự tham gia trong bối cảnh các nước đang phát triển Nghiên cứu cho rằng sự tham gia của cộng đồng vào phát triển du lịch là khác nhau tại các điểm đến du lịch khác nhau ở các nước đang phát triển Nghiên cứu kết luận rằng việc xây dựng và thực hiện các phương pháp phát triển du lịch có sự tham gia đòi hỏi phải thay đổi hoàn toàn cấu trúc chính trị, pháp lý, hành chính và kinh tế của nhiều nước đang phát triển, trong đó các lựa chọn chính trị và quyết định hợp lý dựa trên sự đánh đổi kinh tế, xã hội và môi trường bên cạnh sự hỗ trợ có chủ ý và hợp tác của các cơ quan tài trợ quốc tế lớn, tổ chức phi chính phủ, nhà điều hành du lịch quốc tế và các công ty đa quốc gia

- Choi và Sirakaya (2005) cho thấy một số nghiên cứu đã phát triển thành công các công cụ để đo lường thái độ của người dân đối với du lịch và các tác động của nó Tuy nhiên, hai tác giả đã nhận thấy không có thước đo được sử dụng rộng rãi về thái độ của cư dân đối với du lịch bền vững Theo đó, Choi và Sirakaya (2005) đã đánh giá thái độ, cảm nhận và nhận thức của cư dân địa phương đối với du lịch bền vững Nghiên cứu cung cấp những hiểu biết có ý nghĩa về cách thức mà CĐĐP đánh giá về du lịch bền vững và tham gia với các nhà hoạch định để góp phần đưa ra các quyết định liên quan đến du lịch tại địa phương Nghiên cứu chỉ ra rằng CĐĐP có vai trò quan trọng trong việc đạt được các mục tiêu tổng thể của phát triển du lịch

- Tosun (2006) đã xem xét bản chất của sự tham gia của cộng đồng mà các nhóm lợi ích khác nhau mong đợi với các tham chiếu đặc biệt đến một điểm đến địa phương ở Thổ Nhĩ Kỳ Một khung khái niệm đã được phát triển bằng cách kiểm tra các kiểu tham gia của cộng đồng Nghiên cứu lập luận rằng sự tham gia của cộng đồng được xem là một thuật ngữ theo đó các nhóm lợi ích khác nhau tham gia vào phát triển du lịch theo nhiều cách khác nhau liên quan đến quyền lực của họ trong một cộng đồng nhất định

Sự tham gia vào du lịch của các nhóm lợi ích khác nhau sẽ thay đổi theo sức mạnh, mục tiêu và kỳ vọng của CĐĐP và những điều này hình thành thái độ của CĐĐP đối với các hình thức tham gia của CĐĐP

- Byrd (2007) cho rằng để phát triển du lịch bền vững thành công, các bên liên quan phải tham gia vào quá trình này Nghiên cứu cho rằng nếu không có sự tham gia của các bên liên quan, thuật ngữ PTBV sẽ chỉ là một khẩu hiệu tiếp thị hoặc là một chủ đề về mặt lý thuyết Dựa trên các định nghĩa được sử dụng cho bền vững và du lịch bền vững, bốn nhóm riêng biệt được xác định bao gồm: du khách hiện tại, du khách trong tương lai, cộng đồng chủ nhà hiện tại và cộng đồng chủ nhà trong tương lai Nghiên cứu dừng lại ở việc xác định các bên tham gia vào quá trình phát triển du lịch bền vững

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Ngày đăng: 12/05/2021, 13:51

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w