Nhưng một hệ thống lý thuyết cần thiết về năng lực ngôn ngữ của người dẫn chương trình, những nghiên cứu định tính và định lượng về nó chưa được nghiên cứu thỏa đáng, chưa có câu trả lời
Trang 1NGUYỄN THỊ NGỌC YẾN
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA NGƯỜI DẪN CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH NGHIÊN CỨU QUA TRƯỜNG HỢP MC PHAN ANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Đà Nẵng – Năm 2017
Trang 2NGUYỄN THỊ NGỌC YẾN
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA NGƯỜI DẪN CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH NGHIÊN CỨU QUA TRƯỜNG HỢP MC PHAN ANH
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã ngành: 60.22.02.40
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS BÙI TRỌNG NGOÃN
Đà Nẵng – Năm 2017
Trang 3Tôi xin gởi lời cảm ơn đến Phòng Đạo tạo Sau Đại học, quý thầy cô khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng đã hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong thời gian qua và cung cấp cho tôi nhiều kiến thức quý báu giúp tôi có nền tảng thực hiện luận văn này
Tôi muốn gởi lời tri ân sâu sắc đến thầy hướng dẫn TS Bùi Trọng Ngoãn vì
sự giúp đỡ, tận tình chỉ bảo của thầy trong suốt quá trình tôi tiến hành nghiên cứu
Lời cảm ơn sau cùng, tôi xin gởi đến gia đình, bạn bè…nguồn động viên, chỗ dựa tinh thần giúp tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin gởi đến tất cả lời cảm ơn chân thành và sâu sắc
Đà Nẵng, ngày 10 tháng 8 năm 2017
Người viết luận văn
Nguyễn Thị Ngọc Yến
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kì hình thức nào Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, đánh giá nhận xét được chính tác giả thống kê, thu thập
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
về nội dung luận văn của mình
Đà Nẵng, ngày 10 tháng 8 năm 2017
Người viết luận văn
Nguyễn Thị Ngọc Yến
Trang 5MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 1
3 Mục tiêu nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Dự kiến đóng góp của đề tài 5
7 Cấu trúc luận văn 5
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 6
1.1 CÁC LOẠI HÌNH BÁO CHÍ VÀ ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ BÁO CHÍ 6
1.1.1 Các loại hình báo chí 6
1.1.2 Đặc điểm ngôn ngữ báo chí 11
1.2 NGƯỜI DẪN CHƯƠNG TRÌNH TRONG TRUYỀN HÌNH HIỆN ĐẠI 16
1.2.1 Người dẫn chương trình truyền hình 16
1.2.2 Ngôn ngữ của người dẫn chương trình trong mối quan hệ với các yếu tố khác 17
1.3 MC PHAN ANH VÀ CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH DO PHAN ANH DẪN 26
1.3.1 MC Phan Anh 26
1.3.2 Các chương trình truyền hình do MC Phan Anh dẫn 27
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM NGỮ ÂM, TỪ VỰNG – NGỮ NGHĨA 28
2.1 ĐẶC ĐIỂM NGỮ ÂM 28
2.1.1 Chính âm trong lời dẫn của MC Phan Anh 28
2.1.2 Ngữ điệu trong lời dẫn của MC Phan Anh 33
2.2 ĐẶC ĐIỂM TỪ VỰNG – NGỮ NGHĨA 38
2.2.1 Trường nghĩa biểu vật và phạm vi biểu vật trong hệ thống từ vựng của MC Phan Anh 38
Trang 62.2.3 Từ mới, từ vay mượn và tiếng lóng trong ngôn ngữ MC Phan Anh 44
2.2.4 Từ vựng văn hóa và từ vựng khẩu ngữ trong ngôn ngữ MC Phan Anh 49
2.2.5 Các phương tiện tu từ từ vựng – ngữ nghĩa trong ngôn ngữ MC Phan Anh 54
2.3 TIỂU KẾT 59
CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP VÀ ĐẶC ĐIỂM NGỮ DỤNG 60
3.1 ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP TRONG NGÔN NGỮ MC PHAN ANH 60
3.1.1 Các kiểu câu phân chia theo mục đích phát ngôn 60
3.1.2 Các kiểu câu phân chia theo cấu trúc 65
3.2 ĐẶC ĐIỂM NGỮ DỤNG TRONG NGÔN NGỮ MC PHAN ANH 71
3.2.1 Hàm ý hội thoại trong ngôn ngữ MC Phan Anh 71
3.2.2 Một số hành vi ngôn ngữ của MC Phan Anh 75
3.3 TIỂU KẾT 79
KẾT LUẬN 81 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)
PHỤ LỤC
Trang 7↑ : Câu/ từ có âm sắc cao
↓ : Câu/ từ có âm sắc thấp
↕ : Câu/ từ có âm sắc trung bình : Câu/ từ đƣợc kéo dài
Trang 82.2 Thống kê từ vựng toàn dân và từ vựng địa phương trong
phát ngôn của MC Phan Anh 42
2.3 Thống kê từ mới, từ vay mượn và tiếng lóng trong phát ngôn
2.4 Thống kê từ vựng văn hóa và từ vựng khẩu ngữ trong phát
3.1 Thống kê các kiểu câu chia theo mục đích phát ngôn của
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin và mạng xã hội, khoa học truyền thông đã có sự phát triển vượt bậc Ở các khoa báo chí, truyền thông, quan hệ công chúng (PR) trong các cơ sở giáo dục đại học đã có sự nghiên cứu về khả năng nói, diễn xuất của người dẫn chương trình Nhưng một hệ thống lý thuyết cần thiết về năng lực ngôn ngữ của người dẫn chương trình, những nghiên cứu định tính và định lượng về nó chưa được nghiên cứu thỏa đáng, chưa có câu trả lời tin cậy về đặc điểm ngôn ngữ của người dẫn chương trình trong các chương trình truyền hình trực tiếp
Trong thực tế, quan hệ giao tiếp của người dẫn chương trình là một dạng giao tiếp đặc thù, đó là giao tiếp giữa MC với khách mời, giữa MC với khán giả tại chỗ trong trường quay và MC với người xem truyền hình Dạng giao tiếp đặc thù đó đòi hỏi người dẫn chương trình phải sử dụng ngôn ngữ như thế nào hoặc ở những nhân vật dẫn chương trình thành công thì yếu tố ngôn ngữ đóng vai trò gì, có tác động như thế nào đến sự thành công đó lại chưa có câu trả lời
Vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài Đặc điểm ngôn ngữ của người
dẫn chương trình truyền hình nghiên cứu qua trường hợp MC Phan Anh
2 Tổng quan nghiên cứu
Các công trình phong cách học đã trình bày về các đặc trưng của phong cách chức năng ngôn ngữ báo chí – công luận và miêu tả về đặc điểm ngôn ngữ của chúng
- Trong giáo trình Phong cách học tiếng Việt (1982), Võ Bình, Lê Anh Hiền,
Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hòa đã có cái nhìn mới về phong cách báo chí –tin tức Các tác giả đã phân tích và làm rõ các chức năng, cách sử dụng và tầm tác động của ngôn ngữ đối với từng thể loại báo chí để đạt hiệu quả cao nhất [5]
- Trong giáo trình Phong cách học tiếng Việt (1993), Đinh Trọng Lạc và
Nguyễn Thái Hòa đã phân tích cụ thể về chức năng của ngôn ngữ trong phong cách
Trang 10báo chí – công luận và đặc trưng chung của phong cách này [39]
- Trong Phong cách học tiếng Việt hiện đại (1999), Hữu Đạt đã đi sâu làm rõ
những đặc điểm ngôn ngữ của phong cách báo chí một cáchcụ thể nhất [22]
Trong các chương trình báo chí học, công trình nghiên cứu về ngôn ngữ
truyền hình đầu tiên có thể kể đến cuốn sách Ngôn ngữ báo chí những vấn đề cơ
bản của Nguyễn Đức Dân (2007) Cuốn sách này đã đề cập đến ngôn ngữ truyền
hình trong sự đối sánh với ngôn ngữ báo in [19] Giáo trình Báo chí truyền hình
của tác giả Dương Xuân Sơn (2013) đã đưa ra những vấn đề cơ bản của loại hình báo truyền hình, từ, khái niệm báo truyền hình, đặc trưng báo truyền hình đến kỹ năng thực hiện một số thể loại báo chí truyền hình [52] Ngoài ra, các bài báo khoa
học cũng đề cập đến ngôn ngữ báo chí truyền hình như: Đặc trưng giao tiếp lời nói
truyền hình của Phạm Văn Thấu (Tạp chí Báo chí và tuyên truyền, số 5, tháng
9+10/2013) [57], Ngôn ngữ truyền hình của Khiếu Quang Bảo (Tạp chí Người làm
báo, số 12/2007) [2],…
Các đề tài nghiên cứu, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và khóa luận tốt nghiệp cũng đã có nhiều tài liệu nghiên cứu về ngôn ngữ báo chí Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có công trình đi sâu nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ của người dẫn chương trình truyền hình Có thể kể đến các đề tài:
- Luận án tiến sĩ Dạng thức nói trên truyền hình của Nguyễn Bá Kỷ (2005,
Viện Ngôn ngữ học, Hà Nội) đã làm rõ về mặt ngữ nghĩa, ngữ dụng, các diễn ngôn của người nói trên truyền hình thông qua việc khảo sát một số tình huống giao tiếp
cụ thể Tuy nhiên, tác giảchưa đi sâu tìm hiểu về cách sử dụng ngôn ngữ của người dẫn chương trình truyền hình, chỉ mới dừng lại ở việc phân biệt ngôn ngữ nói, dạng thức đọc hay các hình thức giao tiếp của các phương tiện truyền thông [37]
- Luận văn thạc sĩ khoa học báo chí Lỗi ngôn ngữ và giao tiếp của người dẫn
chương trình truyền hình của Lê Thị Quỳnh Như (2011, Đại học KHXH & NV,
ĐHQG TPHCM) đã đưa ra những thực trạng về ngôn ngữ của người dẫn chương trình truyền hình, từ đó đưa ra những cách thức, biện pháp khắc phục lỗi này đề chương trình ngày càng hay hơn, chuẩn mực hơn Tuy nhiên tác giả chưa đưa ra
Trang 11được những nghiên cứu cụ thể về ngôn ngữ của người dẫn chương trình truyền hình [46]
- Luận văn thạc sĩ khoa học báo chí Ngôn ngữ của người dẫn chương trình
truyền hình dựa trên tư liệu các chương trình giao lưu gặp gỡ truyền hình của Lê
Thị Phong Lan (2006, Đại học KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội) đã có những cái nhìn
cụ thể hơn về vấn đề sử dụng ngôn ngữ của người dẫn chương trình truyền hình Tuy nhiên luận văn chỉ mới dừng lại ở khía cạnh nghiên cứu dựa trên các tư liệu là các chương trình giao lưu gặp gỡ [41]
- Luận văn thạc sĩ Ngôn ngữ truyền hình Việt Nam: vấn đề và thảo luận của
Phan Quốc Hải (2010, Đại học KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội) đã so sánh một cách tổng quát về hiện trạng sử dụng các yếu tố ngôn ngữ truyền hình ở Việt Nam Tác giả đã trình bày các phương thức sử dụng các yếu tố ngôn ngữ truyền hình Việt Nam, rút ra một số kết luận về đặc điểm ngôn ngữ truyền hình ở các đài truyền hình từng khu vực trong cả nước và nêu lên những biện pháp xây dựng tin, bài trong tương lai Tiếc rằng, luận văn này chưa đề cập đến kỹ năng sử dụng ngôn ngữ của một MC truyền hình cụ thể [28]
- Luận văn thạc sĩ Ngôn ngữ của người dẫn chương trình trò chơi truyền hình
của Vương Thị Huyền (2012, Đại học KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội) đã đề cập đến ngôn ngữ của người dẫn chương trình truyền hình, những giải pháp trong sử dụng ngôn ngữ của người dẫn chương trình truyền hình ở Việt Nam Luận văn này chỉ dừng lại ở các chương trình trò chơi truyền hình, chưa đưa ra những kết luận thỏa đáng về đặc điểm ngôn ngữ của người dẫn chương trình truyền hình nói chung [34]
Cho đến nay vẫn chưa có đề tài nào nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ của người dẫn chương trình truyền hình trên các bình diện: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng của một người dẫn chương trình truyền hình qua trường hợp
cụ thể là MC Phan Anh như chúng tôi
3 Mục tiêu nghiên cứu
Với đề tài này chúng tôi xác định 2 mục tiêu nghiên cứu chính là:
- Miêu tả các đặc điểm ngôn ngữ của MC Phan Anh, từ đó bước đầu khái
Trang 12quát về đặc điểm của người dẫn chương trình truyền hình trong các chương trình truyền hình và nhất là chương trình truyền hình tương tác trực tiếp
- Hướng tới phân tích vai trò của ngôn ngữ đối với người dẫn chương trình truyền hình Mối quan hệ giữa ngôn ngữ với các yếu tố ngoài ngôn ngữ, góp phần tạo nên thành công của một người dẫn chương trình truyền hình
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu luận văn của chúng tôi tập trung hướng đến là đặc điểm ngôn ngữ MC truyền hình Phan Anh
Trong hoạt động giao tiếp của người dẫn chương trình truyền hình, bao giờ cũng có nhiều yếu tố tác động như: Hình ảnh, nhạc nền, hình tượng, diễn xuất, ngôn ngữ hình thể và ngôn ngữ bằng lời Chính vì vậy trong luận văn chúng tôi đã đặt toàn bộ lời dẫn của MC Phan Anh trong không gian giao tiếp của từng chương trình
cụ thể, nhưng vì khuôn khổ của luận văn chúng tôi chưa tái hiện toàn bộ về các
“cuộc giao tiếp” này
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi sẽ tập trung nghiên cứu các chương trình truyền hình do MC Phan Anh dẫn được sưu tập từ internet và do Phan Anh cung cấp Từ đó dựa vào nền tảng các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ học để phân tích về vấn đề người dẫn chương trình sử dụng ngôn ngữ làm công cụ giao tiếp trên truyền hình
Chúng tôi không đi vào tìm hiểu ngôn ngữ truyền hình nói chung mà là ngôn ngữ của người dẫn chương trình dựa trên các phương tiện ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng và người dẫn đã thể hiện cách ăn nói của mình như thế nào trong các chương trình giao lưu gặp gỡ truyền hình
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thu thập dữ liệu, khảo sát
Chúng tôi sẽ tiến hành thu thập các tài liệu, video clip liên quan đến đề tài
Cụ thể là các chương trình do MC Phan Anh phụ trách dẫn chương trình Từ cách tiếp cận này, chúng tôi có cái nhìn cụ thể cho đề tài
Trang 135.2 Phương pháp thống kê, phân loại
Phương pháp này được chúng tôi vận dụng để thống kê các đặc điểm trên các bình diện: chính âm, từ vựng, ngữ pháp… trong ngôn ngữ của MC Phan Anh
5.3 Phương pháp miêu tả ngôn ngữ
Chúng tôi vận dụng phương pháp này để phân tích, miêu tả đặc điểm ngôn ngữ của MC Phan Anh, từ đó đi đến khái quát và đưa ra những nhận xét, đánh giá
về đặc điểm ngôn ngữ của người dẫn chương trình truyền hình
Bên cạnh đó, chúng tôi dựa vào kinh nghiệm thực tiễn nghề nghiệp và qua quan sát các đồng nghiệp để đưa ra những nhận xét, đánh giá
Trong luận văn của mình, chúng tôi sẽ vận dụng linh hoạt các phương pháp
để đạt được hiệu quả tốt nhất Các phương pháp làm việc nêu trên không tiến hành riêng lẻ mà có sự phối hợp, hỗ trợ cho nhau trên cơ sở sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu , để chúng tôi tiến hành làm luận văn này
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài các phần: mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
Chương 2: Đặc điểm ngữ âm, từ vựng – ngữ nghĩa
Chương 3: Đặc điểm ngữ pháp và đặc điểm ngữ dụng
Trang 14CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 CÁC LOẠI HÌNH BÁO CHÍ VÀ ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ BÁO CHÍ
1.1.1 Các loại hình báo chí
Báo chí là phương tiện thông tin đại chúng nhanh nhất, hiệu quả nhất và có nhiều công chúng nhất Báo chí đã tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống, trở thành một trong những động lực quan trọng cho sự phát triển của xã hội Bàn về loại hình báo chí, cần phân biệt rõ hai khái niệm “loại hình báo chí” và “thể loại báo chí”
So sánh và làm rõ hai khái niệm này phải kể đến ý kiến của A.A
Chertưchơnưi Trong Các thể loại báo chí, nhà nghiên cứu này cho rằng “Quá trình
hình thành thể loại, có nghĩa là sự sở hữu bởi những bài báo tương lại các tính chất cho phép quy chúng về những thể loại đã biết, cần phân biệt quá trình xuất hiện tên gọi của các thể loại” [13,tr.92] Đưa ra quan niệm khác nhau về thể loại báo chí và
phân biệt giữa thể loại và loại hình, Trần Quang đã đề cập trong Các thể loại báo
chí chính luận như sau: “Thể loại là khái quát hóa những đặc điểm của một nhóm
lớn các tác phẩm có cùng thuộc tính về nội dung, hình thức, cách biểu hiện tác phẩm của một thời đại, một giai đoạn, một dân tộc hay một nền nghệ thuật thế giới” [49, tr.11]
Tạ Ngọc Tấn đề xuất cách phân chia như sau: “Trong loại tác phẩm thông tán có các thể loại: tin, tường thuật, phỏng vấn, bài báo, ghi nhanh, điều tra, phóng
sự Loại tác phẩm chính luận bao gồm các thể loại bình luận, xã luận, chuyên luận Loại tác phẩm thông tấn văn nghệ báo gồm các thể loại bút ký, ký sự, nhật ký phóng viên, tiểu phẩm” [53, tr.32] Tác giả Đinh Hường định nghĩa: “Thể loại báo chí là hình thức biểu hiện cơ bản, thống nhất và tương đối ổn định của các bài báo, được phân chia theo phương thức phản ánh hiện thực, sử dụng ngôn ngữ và các công cụ khác để chuyển tải nội dung mang tính chính trị - tư tưởng nhất định” [32,tr.404] Đức Dũng cho rằng: “Hệ thống các thể loại báo chí nước ta được hình thành trên cơ sở của ba loại thể: loại thể thông tấn báo chí, loại thể chính luận báo
Trang 15chí, loại thể ký báo chí” [Dẫn theo 41, tr.24]
Có thể thấy, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những phân tích nhận định đúng đắn để phân biệt giữa thể loại và loại hình báo chí Trong đề tài này, chúng tôi theo quan điểm phân chia báo chí bao gồm những loại hình khác nhau như: Báo in (còn gọi là báo viết), báo nói (phát thanh), báo hình (truyền hình), thông tấn, báo ảnh và báo điện tử (báo trên mạng internet) Mỗi loại hình báo chí đều có những phương thức riêng, hướng tới các đối tượng, tầng lớp xã hội với những mối quan tâm, sở thích và nhu cầu khác nhau Chúng đều có mục đích chung là đề cập đến nhiều mặt của đời sống xã hội theo nhiều chiều hướng khác nhau với mục đích hướng đến các chức năng quan trọng như: thông tin, tuyên truyền, giáo dục, dự báo, giải trí, giao tiếp Tuy đã có những quan điểm rất gần nhau về thể loại báo chí, nhưng lại thiếu
sự thống nhất về những yếu tố chủ đạo trong từng nhóm thể loại
a) Loại hình báo in
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng báo in là loại hình báo chí ra đời sớm nhất Trong quá trình phát triển, báo in đã từng có thời kỳ hoàng kim rực rỡ khi chiếm vị thế độc tôn trong việc đưa thông tin đến với bạn đọc Cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, các loại hình báo chí khác như phát thanh, truyền hình, báo mạng điện
tử ra đời, báo in đã mất dần vị trí, thậm chí có thể nói là đã bước vào giai đoạn suy tàn Điển hình cho quan điểm này là Juan Luis Cebrián, ông cho rằng: “Trong vòng năm năm, báo in chắc chắn vẫn tồn tại Trong mười năm, nếu chúng ta làm mọi chuyện đúng đắn, nó có thể vẫn còn ở đấy, tôi không chắc là nó sẽ tiếp tục tồn tại theo cách như chúng ta biết hiện nay Nó vẫn sẽ ở đấy nếu chúng ta tranh đấu để nó được ở đấy.” [Dẫn theo 32,tr.7]
Bác bỏ lại quan điểm đó, trong Nhà báo hiện đại, The Missouri Group đưa
ra nhận định: “Quan niệm khá phổ biến hiện nay cho là báo in sẽ chết hoàn toàn trái
ngược với thực tế” Bên cạnh đó, các tác giả đưa ra các dẫn chứng: “Theo khảo sát của Chính phủ Mỹ, báo in tiếp tục được xếp vào một trong những ngành công nghiệp sản xuất sử dụng nhiều lao động nhất (…) còn lâu mới có thể tàn lụi” [58, tr.42]
Trang 16Mặc dù đã đưa ra những dẫn chứng cụ thể, tuy nhiên, quan điểm của The Missouri Group vẫn chưa thật sự thỏa đáng trong khi so với các loại hình báo chí như phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử, báo in vẫn có nhiều mặc hạn chế nhất định Trong khi báo mạng điện tử, phát thanh, truyền hình, công chúng có thể tiếp nhận thông tin nhanh chóng hơn, đa dạng hình thức hơn thì báo in lại truyền tải thông tin chậm hơn
Tuy nhiên, thế mạnh của báo in là công chúng có thể chủ động tiếp nhận thông tin, thông tin truyền đạt sâu sắc hơn Và hơn hết là độ an toàn cao, công
chúng nhớ lâu hơn so với các loại hình khác Trong Ngôn ngữ báo chí những vấn đề
cơ bản, Nguyễn Đức Dân cho rằng: “Tin trên báo in là tin viết để đọc, viết cho mắt
Nếu đọc không hiểu không rõ thì có thể đọc đi đọc lại nhiều lần, có thể tra cứu từ điển để hiểu ý nghĩa của một từ chưa hiểu” [19, tr.36]
b) Loại hình truyền hình
Loại hình truyền hình xuất hiện vào những năm 1920 [Dẫn theo 45] Từ khi
ra đời, loại hình báo chí này đã phát triển với tốc độ như vũ bão, tạo ra một kênh thông tin quan trọng trong đời sống xã hội Ngày nay, truyền hình là phương tiện thiết yếu cho mỗi gia đình, mỗi quốc gia, dân tộc Truyền hình trở thành vũ khí, công cụ sắc bén trên mặt trận tư tưởng văn hóa cũng như các lĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng…Với tốc độ phát triển như ngày nay, truyền hình đã góp phần làm cho hệ thống truyền thông đại chúng ngày càng thêm hùng mạnh, không chỉ tăng về số lượng mà còn tăng về chất lượng Thu hút ngày càng nhiều đông đảo công chúng trên khắp hành tinh
Là một trong những loại hình báo chí hiện đại, truyền hình đang thực hiện những chức năng vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội và ngày càng khẳng định vai trò to lớn của mình trong việc phát triển nền văn minh tiến bộ của nhân loại Vai trò của truyền hình được coi là lớn nhất so với các loại hình báo chí hiện đại
Mặc dù sinh sau đẻ muộn, nhưng ngay khi ra đời, nhiều giả thuyết cho rằng thời đại của báo in, phát thanh đã chấm hết, nhường chỗ cho truyền hình Sở dĩ có
Trang 17giả thuyết như vậy là bởi truyền hình đã sử dụng được gần như toàn bộ thế mạnh của điện ảnh, phát thanh và cả báo viết làm công cụ truyền tải thông tin Nếu ở báo
in, đó là ngôn ngữ viết và những hình ảnh tĩnh Phát thanh là ngôn ngữ của âm thanh (bao gồm cả tiếng động và âm nhạc, lời nói) Điện ảnh là những thước phim với hình ảnh động Truyền hình có khả năng chuyển tải thông tin không những bằng phương tiện hình ảnh động (cả hình ảnh tĩnh nếu cần), sử dụng âm thanh và cả chữ viết Tính đa kênh (kênh lời, kênh hình ảnh, kênh chữ) đã tạo cho truyền hình một thế đứng vững vàng trong các phương tiện truyền thông đại chúng khác
Bên cạnh tính đa kênh, truyền hình còn sở hữu tính giao tiếp giữa Nhà Đài và khán giả Người nói trên truyền hình là đang nói chuyện với công chúng của
mình : “Kính thưa quý vị và các bạn, mời quý vị và các bạn theo dõi ….” hay “Mời
quý vị và các đồng chí cùng phóng viên kênh truyền hình QPVN tìm hiểu về đời sống của những người lính ở Trung đoàn 929…” Ngay sau lời chào, lời mời là
những hình ảnh động, tạo cảm giác cho người xem như được chứng kiến, được nghe, được tham gia vào câu chuyện
Ngoài ra, ngôn ngữ truyền hình đã tạo một khả năng tiếp nhận thông tin của khán giả khác hẳn so với các loại hình báo chí khác Truyền hình có thể đạt tới độ tuyệt đối về phạm vi công chúng tiếp nhận khi trong cùng một lúc có thể đưa thông tin đến cho hàng tỷ người trên thế giới Đối tượng công chúng truyền hình không phân biệt ngôn ngữ, quốc gia, trình độ, tuổi tác và cả người khuyết tật Nếu một người không bị khiếm thị lẫn mất thính giác, đều có thể là khán giả của truyền hình Khả năng tiếp nhận thông tin đã tạo nên sức mạnh đặc thù cho truyền hình
mà không phương tiện truyền thông đại chúng nào có thể mang lại hiệu quả hơn
Trong các công trình nghiên cứu về báo chí và ngôn ngữ báo chí, có rất ít những công trình nghiên cứu về loại hình truyền hình Tuy nhiên, vẫn có một số quan điểm của các nhà nghiên cứu về loại hình này như sau:
Nguyễn Đức Dân cho rằng: “Thông tin trên báo hình do hình ảnh, bài đọc và
âm thanh đưa lại Tin trên báo hình (đài truyền hình), báo nói (đài truyền thanh) là
Trang 18tin viết để đọc cho thính giả nghe, viết cho tai Chỉ được nghe một lần, nếu nghe không hiểu, không rõ thì cũng đành chịu Không thể nghe lại cũng không thể dừng lại để đi tra cứu từ điển được” [19, tr.36,37]
Với tác giả Trần Bảo Khánh, ở một số nước phát triển, người ta thường chia truyền hình làm 5 loại tác phẩm cơ bản:
- Loại thuyết trình: Đây là loại sử dụng phát thanh viên hoặc biên tập viên
để trình bày một vấn đề Ưu điểm của nó là dễ sản xuất, được bấm máy ngay tại trường quay hoặc dàn cảnh đơn giản
- Loại phỏng vấn: Sử dụng các dạng câu hỏi để phỏng vấn tìm kiếm thông tin
- Loại thảo luận: Là loại tác phẩm sử dụng phương thức thảo luận giữa nhà báo và các chuyên gia Mục tiêu của cuộc thảo luận là đưa ra các thông tin
về quan điểm, tư tưởng, ý kiến về một vấn đề, nhưng lại đặt trọng tâm vào việc cọ sát các quan điểm, ý kiến đó
- Loại kịch bản: Đây là loại tác phẩm truyền hình có qui trình sản xuất luôn đòi hỏi một cách chuyên nghiệp
- Loại sản xuất trực tiếp: Là loại tác phẩm truyền hình mà khán giả chứng kiến trực tiếp các sự kiện, sự việc đang diễn ra đồng thời với thời gian phát hình [Dẫn theo 41,tr.13-14]
Hay một cách chia khác của TS Trần Đăng Tuấn trong một phát biểu tại Hội thảo “Liên hoan truyền hình toàn quốc năm 2003” tại Thành phố Hồ Chí Minh, dựa trên tiêu chí phương thức sản xuất, có thể chia truyền hình thành hai nhóm chính:
- Loại truyền hình sản xuất theo phương thức trường quay (ghi hình trong studio là chủ yếu): Bao gồm các tác phẩm phỏng vấn, đàm luận, phát biểu…
- Loại truyền hình sản xuất theo phương thức điện ảnh (ghi hình ngoài trời
là chủ yếu): Bao gồm các thể loại như tin tức, phóng sự, tài liệu
Trang 191.1.2 Đặc điểm ngôn ngữ báo chí
a) Đặc điểm ngôn ngữ báo chí
a1) Đặc điểm ngôn ngữ báo chí trong các giáo trình phong cách học
Với tính khái quát của hai loại giáo trình trong các công trình phong cách học, các tác giả đã nêu ra một số đặc điểm của ngôn ngữ báo chí, tin tức như sau:
Trong Phong cách học tiếng Việt, các tác giả Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù
Đình Tú và Nguyễn Thái Hòa cho rằng: “Ngôn ngữ báo chí tin tức có mấy đặc điểm sau đây: Tính chiến đấu, tính thời sự, tính kích thích và tính ngắn gọn của thể loại” [5,tr.81-82]
Hữu Đạt phân chia đặc điểm ngôn ngữ của phong cách báo chí thành 8 đặc trưng cơ bản: Chức năng thông báo, chức năng hướng dẫn dư luận, chức năng tập hợp và tổ chức quần chúng, tính chiến đấu mạnh mẽ, tính thẩm mỹ và giáo dục, tính hấp dẫn và thuyết phục, tính ngắn gọn và biểu cảm, đặc điểm về cách dùng từ, ngữ
[21,tr.186,200]
a2) Đặc điểm ngôn ngữ báo chí trong các công trình ngôn ngữ báo chí
Cùng với sự phát triển của báo chí, các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ báo chí càng được đề cập một cách chi tiết, cụ thể hơn Ngôn ngữ báo chí có các đặc trưng là: tính chính xác khách quan, tính cụ thể, tính phổ cập đại chúng, tính ngắn gọn hàm súc, tính định lượng, tính bình giá, tính biểu cảm, tính khuôn mẫu
(1) Tính chính xác khách quan
Tính chính xác là yêu cầu chung đặt ra đối với ngôn ngữ của bất kỳ phong cách nào Đối với ngôn ngữ báo chí, tính chất này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Hoàng Anh nhấn mạnh: “Chỉ cần một sơ suất nhỏ nhất về ngôn từ, cũng có thể làm cho độc giả khó hiểu hoặc hiểu sai thông tin, nghĩa là có thể gây ra những hậu quả
xã hội nghiêm trọng không lường trước được.” [1,tr.9] Trong Nhà báo hiện đại,
The Missouri Group trình bày: “Sự chính xác là yếu tố quan trọng nhất đối với bất
kỳ bài báo nào, lớn hay nhỏ, dài hay ngắn Phải chính xác trong từng chi tiết (…) Bạn sẽ không bao giờ có “phiên bản tốt nhất của sự thật” nếu không tường thuật chính xác các chi tiết và bối cảnh” [58, tr.31]
Trang 20Michael Schudson nhận định: “Các nhà báo đặt niềm tin vào tính khách quan, tới mức họ tin bởi vì họ muốn tin, cần phải tin, do bị thúc bách bởi khao khát của một con người bình thường muốn tìm kiếm lối thoát cho lòng hoài nghi và thái
độ thụ động đã hằn sâu trong nhận thức” [Dẫn theo 58, tr.33]; “Tính khách quan được các nhà báo, sinh viên, giảng viên ngành báo chí ở Mỹ xem như một nguyên tắc nghề nghiệp” [58, tr.32]
“Muốn sử sụng ngôn ngữ một cách chính xác, nhà báo phải tuân thủ các yêu cầu sau:
- Thứ nhất là phải hiểu tiếng mẹ đẻ, tức là phải nắm vững ngữ pháp, có vốn từ vựng rộng chắc và không ngừng được trau dồi, thành thạo về ngữ âm, hiểu biết về phong cách
- Thứ hai là phải bám sát các sự kiện có thực và nguyên dạng để phản ánh, không tưởng tượng, thêm bớt Giỏi ngôn ngữ mà xa rời hiện thực thì ngôn ngữ có thể “kêu” những rỗng tuếch, thiếu hơi thở ấm nóng của cuộc sống vốn là thứ có sức chinh phục mạnh mẽ đối với độc giả Ngược lại, biết rõ hiện thực nhưng kém về ngôn ngữ thì cũng không thể chuyển tải thông tin một cách hiệu quả như mong muốn, thậm chí đôi khi còn mắc lỗi tới mức gây hại cho người khác hoặc xã hội” [1, tr.9]
Bên cạnh đó, Hoàng Anh cũng cho rằng: “Việc sử dụng ngôn ngữ trong tác phẩm báo chí một cách chính xác không chỉ đạt hiệu quả giao tiếp cao mà còn góp phần không nhỏ vào việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt Vì số lượng tiếp nhận các sản phẩm báo chí đông tới mức không xác định được việc độc giả luôn xem cơ quan báo chí là “ngọn đèn chỉ dẫn” trong việc sử dụng ngôn ngữ, cho nên ngôn ngữ báo chí càng hoàn thiện thì tiếng Việt càng có điều kiện phát triển”
[1,tr.9]
(2) Tính cụ thể
Trong Một số vấn đề về sử dụng ngôn từ trên báo chí, Hoàng Anh cho rằng:
“Tính cụ thể được thể hiện ở chỗ cái mảng hiện thực được nhà báo miêu tả, tường thuật phải cụ thể, phải cặn kẽ tới từng chi tiết nhỏ Có như vậy người đọc, người
Trang 21nghe mới có cảm giác mình là người trong cuộc, đang trực tiếp được chứng kiến những sự kiện xảy ra mà nhà báo mô tả trong tác phẩm của mình.” [1,tr.10]
Hoàng Anh nhận định: “Tính cụ thể của ngôn ngữ báo chí còn nằm ở việc tạo ra sự xác định cho đối tượng được phản ánh Như thực tế cho thấy, mỗi sự kiện trong tác phẩm báo chí đều phải gắn liền với một không gian, thời gian xác định (tên, tuổi, nghề nghiệp, chức vụ, giới tính…) Nhờ những yếu tố này, người đọc có thể kiểm chứng thông tin một cách dễ dàng Trong báo chí, không cho phép cấu trúc không xác định hay có ý nghĩa mơ hồ kiểu như : “Việc gì đó”, “một người nào đó”,
“một nơi nào đó”, “vào khoảng”, “hình như”…”[1,tr.10]
(3) Tính phổ cập đại chúng
“Báo chí là phương tiện thông tin đại chúng Tất cả mọi người trong xã hội, không phân biệt nghề nghiệp, trình độ, nhận thức, địa vị xã hội, lứa tuổi, giới tính… đều là đối tượng phục vụ của báo chí Bởi báo chí vừa là nơi họ tiếp nhận thông tin, vừa là nơi họ có thể bày tỏ ý kiến của mình Chính vì thế, ngôn ngữ báo chí phải là thứ ngôn ngữ dành cho tất cả mọi người, tức là có tính phổ cập rộng rãi” [1,tr.11]
Tính phổ cập đại chúng đòi hỏi ngôn ngữ báo chí phải cụ thể, dễ hiểu, đúng phong cách chức năng, mang tính quy phạm khuôn mẫu và phổ quát quốc gia, quốc
tế
G.Kostomarov nhận định: “Ngôn ngữ báo chí phải thích ứng với mọi tầng lớp công chúng sao cho một nhà bác học với kiến thức uyên thâm nhất cũng không cảm thấy chán và một em bé có trình độ non nớt cũng không thấy khó hiểu” [36,tr.62]
(4) Tính ngắn gọn, hàm súc
Trong Phong cách học tiếng Việt hiện đại, Hữu Đạt khẳng định: “Báo chí là
thông tin nhanh Muốn thông tin được nhanh, được nhiều, làm cho báo phong phú,
đa dạng, người viết buộc phải lựa chọn con đường ngắn nhất bằng cách loại bỏ tất
cả những cách diễn đạt dài dòng mang tính hoa mỹ” [21,tr.199]
Đồng tình với quan điểm của Hữu Đạt, trong Một số vấn đề về sử dụng ngôn
từ trên báo chí, Hoàng Anh cho rằng: “Ngôn ngữ báo chí cần ngắn gọn, súc tích Sự
Trang 22dài dòng có thể làm loãng thông tin, khiến thông tin trở nên lòng vòng, không tập trung, ảnh hưởng đến hiệu quả tiếp nhận của người đọc và người nghe Thêm vào
đó nó còn làm tốn thời gian vô ích cho cả hai bên: cho người viết vì anh ta sẽ không đáp ứng được yêu cầu tin nhanh chóng, kịp thời; cho người đọc (người nghe), vì trong thời đại bùng nổ thông tin người ta luôn cố gắng thu được càng nhiều thông tin trong một đơn vị thời gian càng tốt” [1,tr 11-12]
(5) Tính định lượng
Trong Một số vấn đề về sử dụng ngôn từ trên báo chí, Hoàng Anh cho rằng:
“Các tác phẩm báo chí có tính định lượng về ngôn từ vì chúng thường bị giới hạn trong một khoảng thời gian hay trong một diện tích, số lượng từ ngữ nhất định Vì thế, việc lực chọn và sắp xếp các thành tố ngôn ngữ cần kỹ lưỡng, hợp lý để phản ánh được đầy đủ lượng sự kiện mà không vượt quá khung cho phép về không gian
và thời gian” [1,tr.12]
Lê Thị Phong Lan lại có ý kiến: “Hiện nay, không ít cơ quan thông tấn báo chí yêu cầu phóng viên, cộng tác viên viết bài không được vượt quá một lượng chữ nhất định Tính định lượng của ngôn ngữ báo chí giúp cho nhà báo rèn luyện được thói quen chủ động trong việc sáng tạo tác phẩm Nhờ đó, họ có thể dễ dàng thích nghi với mọi điều kiện thời gian cũng như không gian được dành cho việc công bố
tác phẩm” [Dẫn theo 41,tr.14]
(6) Tính bình giá
Ngoài việc thông tin các sự kiện đến công chúng, các tác phẩm báo chí còn công khai thể hiện rõ quan điểm, thái độ của tác giả đối với sự kiện thông qua sự bình giá Hoàng Anh đưa ra nhận định: “Sự bình giá này có thể là tích cực, có thể là tiêu cực, song trong bất kỳ tình huống nào nó cũng có được biểu đạt trực tiếp thông qua ngôn từ” [1,tr.13]
(7) Tính biểu cảm
“Tính biểu cảm trong ngôn ngữ báo chí gắn liền với việc sử dụng các từ ngữ, lối nói mới lạ, giàu hình ảnh, in đậm dấu ấn cá nhân tạo được sự sinh động hấp dẫn hoặc gây được ấn tượng đối với độc giả Nguồn gốc của sự biểu cảm trong ngôn
Trang 23ngữ báo chí là vô cùng phong phú và đa dạng Đó có thể là việc dùng các thành ngữ, tục ngữ, ca dao… là sự vay mượn các hình ảnh, từ ngữ, cách diễn đạt từ các tác phẩm văn học nghệ thuật, là lối nói chơi chữ, nói lái, dùng ẩn dụ… hay chỉ đơn giản là việc thể hiện sự bình giá có tính chất cá nhân” [1,tr.13]
Đồng tình với quan điểm trên, Hữu Đạt cho rằng: “Báo chí cuối cùng phải tác động vào lòng người, tạo nên niềm tin và hy vọng ở bạn đọc” [21,tr.200]
Theo đó, Hoàng Anh cũng nhấn mạnh: “Nếu ngôn ngữ báo chí không có tính biểu cảm, những thông tin khô khan mà nó chuyển tải khó có thể được công chúng tiếp nhận như mong muốn, vì chúng mới chỉ tác động vào lý trí của họ Chính tính biểu cảm mới là nhân tố tác động mạnh mẽ tới tâm hồn người đọc, người nghe, làm cho họ đạt tới một trạng thái tâm lý cảm xúc nhất định, từ đó thực hiện những hành
động mà người viết mong muốn đạt được” [1,tr.13]
(8) Tính khuôn mẫu
Hoàng Anh định nghĩa: “Tính khuôn mẫu là những công thức ngôn từ có sẵn, được sử dụng lặp đi, lặp lại nhằm tự động hoá quy trình thông tin, làm cho nó trở nên nhanh chóng, thuận tiện hơn Khuôn mẫu bao giờ cũng đơn nghĩa và mang sắc thái biểu cảm trung tính Chúng bao gồm nhiều loại và có mặt trong nhiều phong cách, chức năng của ngôn ngữ Giao tiếp báo chí không thể thiếu tính khuôn mẫu vì
nó tiết kiệm thời gian và công sức cho chủ thể sáng tạo, thích ứng với việc đưa tin cập nhật, tức thời” [1,tr.14]
Tuy nhiên, tính khuôn mẫu báo chí không cứng nhắc, mà ngược lại rất linh hoạt, uyển chuyển
b) Đặc điểm ngôn ngữ truyền hình
Truyền hình là một pương tiện truyền thông đại chúng hiện đại có khả năng thông tin nhanh chóng, kịp thời hơn so với các loại phương tiện khác Với truyền hình, sự kiện được phản ánh ngay lập tức khi nó vừa mới diễn ra, thậm chí nó đang diễn ra, người xem có thể quan sát một cách chi tiết, tường tận qua truyền hình trực tiếp và cầu truyền hình Truyền hình luôn mang đến cho người xem những thông tin nóng hổi nhất về các sự kiện diễn ra, cập nhật những tin tức mới nhất Đây là ưu thế
Trang 24đặc biệt của truyền hình so với các loại hình báo chí khác
Nhờ các thiết bị kỹ thuật hiện đại, ngôn ngữ truyền hình không chỉ là chữ viết, âm thanh như loại hình báo in và phát thanh, ngôn ngữ truyền hình là những hình ảnh và âm thanh được truyền cùng lúc, song song tương hỗ cho nhau về cùng một sự kiện, sự việc
Để ngôn ngữ truyền hình đạt hiệu quả cao nhất, giữa hình ảnh, âm thanh và lời bình luôn có mối quan hệ tương hỗ cho nhau Thế nhưng, vì một vài lý do chủ quan hoặc khách quan, các chương trình truyền hình thường tạo nên sự không đồng nhất trong việc xuất hiện giữa lời và hình, cụ thể có 3 dạng:
- Hình thay cho lời: Chỉ có hình và tiếng động hiện trường theo chủ ý của biên tập viên Đây được xem là tác phẩm truyền hình không lời bình, dùng hình ảnh để gây ấn tượng mạnh mẽ về vấn đề được nhắc đến
- Lời thay cho hình: Chỉ có lời do phát thanh viên đọc, không có hình hoặc chỉ có hình phát thanh viên hoặc phóng viên đứng hiện dẫn
- Lời thuyết minh cho hình: Dạng truyền hình truyền thống, hình và lời song
song xuất hiện, hình đi đến đâu thì lời đề cập đến đó
1.2 NGƯỜI DẪN CHƯƠNG TRÌNH TRONG TRUYỀN HÌNH HIỆN ĐẠI
1.2.1 Người dẫn chương trình truyền hình
Theo quan điểm của Lê Thị Phong Lan “Người dẫn chương trình (hay MC)
là thuật ngữ viết tắt của chữ Master of Ceremonies (…) Thuật ngữ Master of Ceremonies xuất phát đầu tiên từ nhà thờ công giáo Lebanese Ở một nhà thờ công giáo lớn hoặc một thánh đường thì MC là người tổ chức và sắp xếp quá trình diễn biến của buổi lễ Đây cũng là người chịu trách nhiệm điều phối an ninh trong khi buổi cầu nguyện diễn ra Ở những cuộc lễ lớn như lễ giáng sinh hay lễ phục sinh với thời gian diễn ra dài và phức tạp, người MC này đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm mọi thứ để các cuộc lễ diễn ra suôn sẻ.” [41, tr.24-25]
Bên cạnh đó, tác giả này cũng cho rằng: “Vào thập niên 70, 80 của thế kỷ thứ 20, thì thuật ngữ MC gắn liền với dòng nhạc hip-hop Cách gọi truyền thống này dành cho người mà ngày nay được coi là người điều chỉnh nhịp điệu bài nhạc
Trang 25Trong dòng nhạc này, thuật ngữ MC còn có nghĩa là người kiểm soát mic, người cầm mic để nói chuyện, có thể hiểu như người điều phối cho bản nhạc đó” [41,tr.25] Lê Thị Phong Lan cũng đưa ra nhận định: “Một số tài liệu nước ngoài định nghĩa MC là người dẫn tổ chức một sự kiện hoặc một buổi họp nào đó Trách nhiệm chủ yếu của MC là người dẫn, là người chủ của buổi họp, hội nghị MC lý tưởng là người biết cách cổ vũ, truyền tải và làm cho khán giả quan tâm đến cuộc hộp, hội nghị đó” [41,tr.25]
Letitia Baldrige trong tài liệu Complete Guide to Executive Manners cho rằng: “MC đóng một vai trò rất quan trọng MC là người cần có khiếu hài hước, biết điều chỉnh giọng nói và điều khiển khán giả MC luôn đòi hỏi phải là người có khả năng suy nghĩ, có tầm nhìn xa để có thể xử lý trong một tình huống cấp thời, khẩn cấp.” [6,tr.26]
Đồng nhất với những quan điểm nêu trên, chúng tôi cũng cho rằng: “MC là người chịu trách nhiệm để bảo đảm chắc chắn sự kiện, chương trình đó sẽ xảy ra suông sẻ, đúng giờ, đúng mục đích yêu cầu đề ra Để một chương trình thành công thì yêu cầu MC phải có sự chuẩn bị chu đáo về cả nội dung lẫn hình thức, có khả năng điều chỉnh ngôn ngữ và điệu bộ cần thiết”
Qua nghiên cứu của mình, chúng tôi cũng đưa ra quan niệm:
Xét theo tính chất của chương trình truyền hình, ta có thể phân chia MC thành 2 loại: MC đơn thoại và MC đối thoại
- MC đơn thoại hay còn gọi là phát thanh viên, những người nói trên truyền hình chỉ có tác động một chiều, tức là MC nói với khán giả truyền hình
- MC đối thoại: Người dẫn chương trình tạo nên sự tương tác đa chiều, là người kết nối giữa các đối tượng tham gia chương trình với nhau Yêu cầu
MC phải nhạy bén về ngôn ngữ, khả năng ứng biến tốt thì mới tạo nên được
sự tương tác, bảo đảm tính sinh động của chương trình
1.2.2 Ngôn ngữ của người dẫn chương trình trong mối quan hệ với các yếu tố khác
Cho đến thời điểm này chúng tôi chưa có được những tư liệu phân tích chi
Trang 26tiết về mối quan hệ giữa ngôn ngữ của người dẫn chương trình với các yếu tố khác Tuy nhiên, nếu dựa vào những phân tích của Vũ Quang Hào, Hoàng Anh về ngôn ngữ phát thanh thì có thể xác định ngôn ngữ của người dẫn chương trình trong một chương trình truyền hình, trong một “show” truyền hình Có thể hình dung đó là mối quan hệ giữa lời của người dẫn chương trình với: kịch bản chương trình truyền hình, thời lượng chương trình, các nhân vật tham gia vào chương trình và tương tác giữa người dẫn với người tham gia vào chương trình đó và với khán giả tiềm năng
Tư liệu quá ít hoặc không có, vì vậy trong phần này chủ yếu chúng tôi phân tích bằng kiến thức trải nghiệm của bản thân trong hoạt động nghề nghiệp của mình
a) Ngôn ngữ của người dẫn chương trình truyền hình trong mối quan hệ với kịch bản chương trình truyền hình
Kịch bản truyền hình được hiểu là một văn bản miêu tả trình tự diễn ra của một chương trình truyền hình Vai trò cốt lõi là người dẫn chương trình phải cố gắng dẫn dắt để chương trình đi theo đúng mục đích, yêu cầu, mong muốn mà kịch bản đưa ra
Kịch bản truyền hình có thể coi như khung xương sống của một chương trình truyền hình Kịch bản truyền hình chính là sợi dây xuyên suốt để liên kết các khâu
từ xác định đề tài, phác thảo nội dung, lựa chọn góc quay sao cho phù hợp với nội dung đã chuẩn bị trước, cách sắp xếp các cảnh quay để tạo thành những câu bình nối nhau liên tiếp, và dựa trên ý nghĩa đề tài của các cảnh để viết lời bình sao cho hợp lý Kịch bản truyền hình cũng sẽ tạo sự thống nhất giữa các thành viên như quay phim, đạo diễn, biên tập dựng phim để từ đó tạo ra tác phẩm truyền hình - một sản phẩm sáng tạo của tập thể
Kịch bản của một chương trình truyền hình là "kim chỉ nam" cho hoạt động của toàn bộ ekip chương trình Kịch bản giúp cho các tác phẩm truyền hình có chủ
đề, có tư tưởng, xác định rõ đối tượng phục vụ, giúp cho cách thể hiện tác phẩm được rõ ràng, rành mạch, Kịch bản truyền hình sẽ giúp sắp xếp các chương trình truyền hình, chương trình này nối tiếp chương trình kia một cách logic và dựng hình hiệu quả cho các chương trình truyền hình Tóm lại kịch bản truyền hình có ý nghĩa
Trang 27vô cùng quan trọng
Vì vậy, trong bất kỳ chương trình truyền hình nào cũng đều yêu cầu có kịch bản rõ ràng, chí ít phải có kịch bản sơ bộ về chương trình Đối với người dẫn chương trình, một trong những nhiệm vụ khó nhất là đọc văn bản do người khác viết một cách gây ấn tượng và phải làm chủ được câu chuyện và dẫn dắt câu chuyện
đó đi theo đúng ý định mà đạo diễn đưa ra Theo đó, người dẫn chương trình truyền hình phải tuân thủ đúng kịch bản đưa ra Đồng thời tự biến mình thành chất liệu sống động và chủ động nhất để làm sao phải trình bày ý tưởng một cách xác thực nhất trong tâm trí người nghe
Trong truyền hình, việc tuân thủ kịch bản ở đây lại không đơn giản là đọc nối
để chuyển từ phần này sang phần khác, từ chủ đề này sang chủ đề kia mà bao hàm
cả việc tạo ra không khí và kích thích hưng phấn của khán giả Lúc này, sự có mặt của người dẫn chương trình là cực kỳ quan trọng, góp phần quyết định sự thành công của một chương trình trên sóng truyền hình
Mặc dù phải nói theo kịch bản do người khác viết ra nhưng một người dẫn chương trình truyền hình tốt là người phải gắn cá tính riêng của mình vào từng kịch bản, phải tạo nên phong cách riêng khi truyền đạt thông tin Những người dẫn chương trình có kinh nghiệm luôn nhắc nhở rằng: khi nói trên sóng, bạn đang nói với từng cá nhân chứ không phải nói với một đám đông
Người dẫn chương trình tài năng là người không chỉ hoàn thành nhiệm vụ làm cầu nối chuyển tải thông điệp mà một chương trình muốn mang đến cho khán giả, mà còn phải là người tạo ra sự cuốn hút, thôi thúc khán giả đến với những chương trình do mình dẫn Bằng tất cả kỹ năng và kinh nghiệm của mình, người dẫn phải làm chủ được mọi tình huống có thể xảy ra, đặc biệt với những chương trình được thực hiện với phương thức truyền hình trực tiếp, thì vai trò của người dẫn
là cực kỳ quan trọng
Với các chương trình truyền hình mang tính chất giao lưu, game show hoặc truyền hình thực tế, người dẫn chương trình không chỉ giữ vai trò đơn thuần là người dẫn dắt, kết nối mà hơn thế, họ còn là những người trực tiếp tạo nên nội dung
Trang 28của chương trình Nội dung của chương trình hay hoặc dở phụ thuộc rất nhiều vào khả năng làm chủ nội dung, xác định mục tiêu của chương trình mà mỗi MC có được
Để cuộc trao đổi luôn đi đúng hướng, người dẫn chương trình phải biết cách kiểm soát nội dung, không để cho một thành viên nào đi quá xa chủ đề Nếu họ đã
đi xa chủ đề thì người dẫn phải khéo léo dẫn dắt họ lại với chủ đề chính của chương trình
Một chương trình truyền hình sẽ hấp dẫn hơn nhiều nếu người dẫn tạo ra được kịch tính Thông thường, phong cách và tiết tấu của tác phẩm truyền hình phụ thuộc rất nhiều vào phong cách và tiết tấu lên hình cuả người dẫn chương trình Có thể nói chính người dẫn chương trình mới là yếu tố sống động nhất trong chương trình truyền hình Sự trẻ trung, cách ăn mặc, lối dẫn chuyện của người dẫn sẽ tạo sinh khí cho chương trình
b) Ngôn ngữ của người dẫn chương trình truyền hình trong mối quan hệ với thời lượng chương trình
Thời lượng chương trình là yếu tố tác động và gây khó khăn nhất đối với người dẫn chương trình truyền hình Bất kỳ chương trình truyền hình nào cũng yêu cầu người dẫn chương trình tuân thủ theo đúng thời lượng đưa ra
Trong các chương trình truyền hình thường xảy ra những vấn đề nảy sinh giữa người dẫn chương trình với nhân vật, hoặc giữa người dẫn chương trình với các khán giả trong trường quay, hoặc giữa nhân vật với khán giả trong trường quay Các vấn đề thường xảy ra như: câu chuyện của nhân vật đi quá xa ý tưởng ban đầu, hoặc nhân vật nói quá nhiều… trong khi thời lượng chương trình không cho phép Những lúc này, người dẫn chương trình phải linh hoạt, khéo léo tìm cách ngắt lời người nói một cách khôn ngoan, không gây mất hứng thú cũng như mất thiện cảm đối với nhân vật hoặc khán giả Có những trường hợp thời lượng chương trình (đặc biệt là các chương trình trực tiếp) sắp hết mà MC vẫn chưa truyền tải hết nội dung kịch bản đề ra, buộc MC phải linh hoạt xử lý tình huống dẫn dắt câu chuyện vào ngõ kết một cách nhanh chóng, tránh để chương trình kết ngang, thiếu ấn tượng
Trang 29Người dẫn phải luôn ý thức được thời lượng chương trình, phải biết tương đối chính xác thời gian dành cho từng câu hỏi, từng người tham gia, từng vấn đề Nếu không chú ý đến thời gian sẽ dẫn đến tình trạng người nói ít người nói nhiều, cái quan trọng không nói, lại mất nhiều thời gian cho cái không cần nói đến Người dẫn phải có cảm giác về thời gian, những điểm nội dung quan trọng nhất cần được dành thời gian thỏa đáng Một trong những thách thức đối với người dẫn chương trình trao đổi trực tiếp là càng về cuối chương trình, việc giải quyết thời gian càng cần phải chính xác hơn
Bình tĩnh để cảm nhận và xử lý thời gian trong chương trình là một nhiệm vụ của người dẫn chương trình truyền hình Người dẫn cần phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, xác định lượng thời gian cho từng phần nội dung và thực hiện chúng với một một khả năng cảm giác tinh tế
Chẳng hạn, với chương trình tọa đàm, khi gặp phải một nhân vật đã cao tuổi, lại nói rất nhiều, thật khó cho một người dẫn thiếu kinh nghiệm Người dẫn chương trình sẽ không biết phải ngắt lời của vị khách mời đó như thế nào Hoặc khi thời gian cho chương trình sắp hết, nhưng những nội dung mà khách mời muốn trao đổi thì còn rất nhiều và rất hấp dẫn Lúc đó, người dẫn chương trình giỏi phải là người biết can thiệp một cách lịch sự và không khiến cho khách mời cũng như khán giả cảm thấy khó chịu
Chính vì vậy mà thời lượng chương trình tác động mạnh mẽ đến ngôn ngữ của người dẫn chương trình Thời lượng chương trình tạo sức ép cho người dẫn chương trình trong việc lựa chọn câu nói, cách nói
Cụ thể là khi nghe những đoạn người dẫn chương trình hay nói một cách chậm rãi, rề rà, cách nói chuyện lòng vòng thì thường đoạn đầu đi quá nhanh so với thời lượng chương trình
Hoặc có đoạn người dẫn với tốc độ nhanh, thường sử dụng những câu ngắn,
ít nhấn nhá thì có thể do thời lượng chương trình sắp hết, buộc người dẫn phải linh hoạt trong sử dụng ngôn ngữ như vậy để bảo đảm thời lượng mà chương trình quy định
Trang 30c) Ngôn ngữ của người dẫn chương trình trong mối quan hệ với các nhân vật tham gia vào chương trình
Đối với một chương trình truyền hình, ngoài yếu tố người dẫn thì nhân vật tham gia vào chương trình cũng tác động mạnh mẽ đến kết quả của chương trình đó Đặc biệt, những người tham gia vào chương trình truyền hình tạo nên những tác động đối với người dẫn chương trình
Mỗi chương trình truyền hình luôn hướng đến một đối tượng nhất định Vì vậy, việc lựa chọn một MC có tính cách, lối dẫn chuyện, phong cách phù hợp với chương trình là điều không tránh khỏi
Ví dụ:
- Chương trình “Thách thức danh hài” là một chương trình có tính hài hước, tiêu chí đặt ra là mang lại tiếng cười cho khán giả, nên người dẫn được lựa chọn cho chương trình này là MC – ca sĩ Ngô Kiến Huy, cùng với 2 giám khảo hỗ trợ MC là danh hài Trường Giang và Trấn Thành
- Chương trình “The Voice Kid” là một chương trình dành cho thiếu nhi, vui tươi hóm hỉnh, mang phong cách trẻ thơ nên người dẫn được lựa chọn là MC Chi Pu – một ca sĩ trẻ với khuôn mặt trẻ trung, đáng yêu
- Hay Chương trình “Vui – Khỏe – Có ích” là một chương trình dành cho người lớn tuổi nên người dẫn được lựa chọn là MC Thảo Vân – một MC với nhiều kinh nghiệm trong nghề, am hiểu sâu về kiến thức xã hội và có tuổi đời tương đối lớn
Cũng có MC tham gia dẫn khá nhiều chương trình, nhưng tùy chương trình, tùy đối tượng mà MC đó lựa chọn cách nói, phong cách ngôn ngữ cho phù hợp
- Các chương trình dành cho trẻ em thường sử dụng các ngôn ngữ gần gũi, trong sáng, đáng yêu, phù hợp với lứa tuổi các em, thường sử dụng từ thuần Việt, dễ hiểu Câu nói ngắn, ý câu nói thường rõ ràng, không chứa hàm ý Thường khi dẫn các chương trình dành cho thiếu nhi, MC phải nói rất nhiều, phải đặt những câu hỏi vui tươi tếu táo và đôi khi phải linh hoạt xử lý các tình huống hoặc trả lời các câu hỏi rất ngây ngô của các em
Trang 31- Với các chương trình dành cho người lớn tuổi, MC thường nói chậm, nói ít, đôi khi câu nói thường sử dụng những ngôn ngữ cao siêu, hàm ý MC dẫn những chương trình này phải sử dụng giọng điệu nhẹ nhàng, thái độ tôn trọng Ngoài ra, MC dẫn trong các chương trình này đòi hỏi phải có kiến thức rộng, hiểu được tâm lý, sở thích người lớn tuổi thì mới tạo được sự tương tác giữa MC với nhân vật tham gia chương trình
Bên cạnh đó, cũng có nhiều chương trình truyền hình có đối tượng không thuần nhất Trong những trường hợp này đòi hỏi người dẫn chương trình phải cực
kỳ khéo léo trong ứng xử, giao tiếp và xử lý các tình huống xảy ra Việc sử dụng ngôn ngữ trong trường hợp này cũng cần được cân nhắc, không sử dụng những câu
từ quá trẻ con, hay quá cứng nhắc, ủy mị…
Ngoài việc phải bám sát kịch bản chương trình, người dẫn chương trình truyền hình thường xuyên phải nhanh nhẹn, linh hoạt trong ứng xử các tình huống xảy ra Thế nhưng, việc lựa chọn ngôn ngữ, phong cách nói cũng phụ thuộc rất nhiều vào các nhân vật tham gia vào chương trình Vì vậy, những người tham gia vào chương trình có tác động rất lớn đến người dẫn chương trình truyền hình, chính những người tham gia vào chương trình quyết định đến ngôn ngữ, cử chỉ, hành động cho đến trang phục của người dẫn chương trình truyền hình
Người dẫn chương trình truyền hình biết sử dụng ngôn ngữ một cách hợp lý
sẽ phát huy tích cực vai trò của ngôn ngữ đối với nhân vật tham gia vào chương trình cũng như các khán giả, đồng thời tạo cho họ cảm giác vui vẻ, hòa đồng, thoải mái khi tham gia chương trình Việc sử dụng ngôn ngữ không hợp lý, không phù hợp với các nhân vật đôi khi sẽ tạo nên sự lố lăng, kệch cỡm, có khi lại tạo cho nhân vật và khán giả cảm khác thiếu tôn trọng, tạo sự ức chế trong chương trình hoặc không đạt được mong muốn mà chương trình đưa ra
Ngôn ngữ của người dẫn chương trình truyền hình chịu sự tác động của nhân vật tham gia vào chương trình Đối với mỗi chương trình, MC cần phải xác định rõ đối tượng là ai, cần phải nói gì, nên và không nên nói gì, cách sử dụng ngôn ngữ ra sao, phong cách như thế nào thì mới đem lại được hiệu quả ngôn ngữ cao nhất
Trang 32d) Tương tác giữa người dẫn với người tham gia vào chương trình đó và với khán giả tiềm năng
Trước đây trong một chương trình truyền hình, thường thì MC sẽ bám sát kịch bản, nói suông theo nội dung kịch bản đã viết ra và thường ít có sáng tạo cá nhân Ngôn ngữ của MC sử dụng thường cũng là ngôn ngữ của người viết kịch bản, khi đó MC ít có khả năng phát huy được sự linh hoạt, phong cách, cá tính riêng của bản thân
Ngày nay, các chương trình truyền hình đã có sự thay đổi rõ rệt Hầu như tất
cả các chương trình đều cố gắng tạo nên sự tương tác mạnh từ nhiều phía: từ người dẫn chương trình với người tham gia vào chương trình, từ người dẫn chương trình với khán giả tại trường quay, từ người dẫn chương trình với khán giả tiềm năng
Trong phần này, chúng tôi tập trung làm rõ sự tương tác giữa người dẫn chương trình truyền hình với người tham gia vào chương trình và giữa người dẫn chương trình với khán giả tiềm năng
d1) Tương tác giữa người dẫn chương trình truyền hình với người tham gia vào chương trình
Trong các chương trình truyền hình hiện đại, việc diễn ra tương tác giữa người dẫn chương trình truyền hình và người tham gia vào chương trình là yêu cầu tất yếu nhằm tạo nên tính hấp dẫn, lôi cuốn cho chương trình.Thế nhưng, thường những tương tác giữa người dẫn chương trình và người tham gia vào chương trình
có tính chuẩn bị trước, thường là theo kịch bản Tuy nhiên, trong nhiều chương trình truyền hình hiện nay vẫn không có sự chuẩn bị về kịch bản giữa người dẫn chương trình và người tham gia vào chương trình, mà thường để mọi chuyện xảy ra theo lẽ tự nhiên Tức là giữa người dẫn chương trình và người tham gia chương trình nói chuyện vô tư, sử dụng ngôn từ bình dị, gần gũi với đời sống hằng ngày, phong cách ngôn ngữ sinh hoạt hằng ngày một cách tự nhiên, không gượng ép theo một khuôn khổ hay sự chuẩn bị từ trước
Chẳng hạn, trong chương trình truyền hình “Hãy chọn giá đúng” – MC Trần Ngọc rất nhạy bén trong cách hỏi, ứng biến với người chơi Mặc dù rất nhiều tình
Trang 33tiết xảy ra trong chương trình không có sự chuẩn bị từ trước, nhưng nhờ vốn kiến thức sâu rộng cùng khả năng ăn nói lưu loát, nhanh nhẹn, MC Trần Ngọc đã đem lại nhiều bất ngờ cho khán giả cũng như tạo nên sự hấp dẫn cho chương trình
Hay trong chương trình “Cuộc đua kỳ thú” – MC Huy Khánh gần như không
có sự chuẩn bị tâm thế về nội dung, gần như toàn bộ cuộc nói chuyện trao đổi giữa anh và nhân vật tham gia chương trình đều tự nhiên Thế nhưng trong cách đặt câu hỏi khôn khéo, cách nói chuyện lôi cuốn, MC Huy Khánh đã tạo nên sự tò mò, hiếu
kỳ cho người xem, buộc người xem phải đón xem những tập tiếp theo của chương trình
Đa số những chương trình truyền hình hiện đại đều đặt ra yêu cầu đối với
MC là phải nhạy bén trong sử dụng ngôn ngữ ứng biến với người tham gia chương trình và khán giả Việc MC lúng túng trong nhận xét vấn đề hay trả lời câu hỏi, hoặc
xử lý tình huống tạo nên vẻ kém chuyên nghiệp cho MC
Ngoài ra, có nhiều chương trình truyền hình, ngoài khách mời tham gia chương trình, khán giả trường quay còn có các vị huấn luyện viên hoặc ban giám giảo của chương trình Lúc này, vai trò của MC không chỉ đơn thuần là dẫn dắt chương trình mà còn là nhân vật kết nối giữa người tham gia và ban giám khảo MC còn là người động viên, cổ vũ người tham gia chương trình Mặc khác, MC cũng là người phải nắm được tâm lý của huấn luyện viên, ban giám khảo, quan sát để mời người đưa ra nhận xét hợp lý nhất, sau đó phải hệ thống các ý kiến, các câu trả lời theo một ý thống nhất…
Với sự tác động từ nhiều yếu tố, tâm lý cũng như ngôn ngữ của người dẫn chương trình sẽ bị ảnh hưởng ít nhiều Có thể một MC truyền hình nổi tiếng thường xuyên dẫn theo kịch bản được viết sẵn lại trở nên rất kém cỏi khi tham gia dẫn các chương trình phô diễn kỹ năng phản xạ, ứng biến với nhiều tình huống Ngược lại,
MC dẫn theo kịch bản rất khô cứng lại tỏa sáng và tạo nên được hình ảnh, thương hiệu của bản thân khi tham gia dẫn các chương trình mở, nói năng tự do linh hoạt
Trang 34d2) Tương tác giữa người dẫn chương trình truyền hình với khán giả tiềm năng
Tất cả các chương trình truyền hình luôn có một lượng khán giả lớn xem qua màn ảnh nhỏ, đây là lượng khán giả tiềm năng mà các chương trình truyền hình đều muốn hướng đến chứ không đơn thuần chỉ là lượng khán giả trong trường quay Trong bất kỳ chương trình nào, ngoài giao tiếp với khán giả tại chỗ, MC còn khéo léo giao tiếp với khán giả trường quay một cách gián tiếp, tạo sự tương tác đặc biệt giữa người dẫn chương trình truyền hình với khán giả tiềm năng
Trong khi tương tác với người tham gia chương trình và các khán giả trong trường quay, MC truyền hình luôn ngầm tương tác với các khán giả xem truyền hình, thông qua đó gởi các thông điệp đến người xem Vì các khán giả tiềm năng không có mặt trong trường quay lúc đó, nên quá trình sử dụng ngôn ngữ, người dẫn chương trình thường sử dụng ngôn ngữ đại chúng, có tính bao quát, chứ không chỉ đơn thuần là đang nói với khán giả trong trường quay
Tóm lại, ngôn ngữ của người dẫn chương trình bị tác động, ảnh hưởng nhiều bởi các yếu tố như kịch bản chương trình, thời lượng, nhân vật tham gia chương trình và sự tương tác với khán giả trường quay Những yếu tố này có tác động ít nhiều đến cách sử dụng ngôn ngữ của người dẫn chương trình truyền hình Tuy nhiên, trong từng chương trình truyền hình cụ thể, MC cần phải xác định rõ nhiệm
vụ của mình, khéo léo, tài tình trong xử lý các tình huống bị tác động bởi những yếu
tố trên,bảo đảm tính mục đích, tính đa dạng, sinh động, tạo nên tính hấp dẫn đối cho
chương trình và thu hút được đông đảo người xem
1.3 MC PHAN ANH VÀ CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH DO PHAN ANH DẪN
1.3.1 MC Phan Anh
Phan Anh tên thật là Hoàng Phan Anh, sinh ngày 30 tháng 7 năm 1981 tại Hà Nội, Việt Nam Anh là một MC, diễn viên, người mẫu ảnh và nhà hoạt động xã hội nổi tiếng tại Việt Nam
Phan Anh tốt nghiệp Trường Đại học Công đoàn, sau đó sang Mỹ tu nghiệp
Trang 35Anh hiện đang theo học thêm bằng MBA của Mỹ tại Việt Nam Phan Anh thường xuyên tham gia làm MC cho Đài Phát thanh - Truyền hình Hà Nội, VTC và các chương trình thời trang, game show nổi tiếng ở Việt Nam
1.3.2 Các chương trình truyền hình do MC Phan Anh dẫn
MC Phan Anh đã tham gia làm người dẫn chương trình cho các chương trình nổi tiếng như:
- Thần tượng âm nhạc Việt Nam mùa thứ 3
- Thần tượng âm nhạc Việt Nam mùa thứ 5
- Thần tượng âm nhạc Việt Nam mùa thứ 7
- Giọng hát Việt (2012 - 2015)
- Sao Online
- 12 cá tính lên đường xuyên Việt
- Vitamin
- Cặp đôi hoàn hảo (2014)
- The Amazing Race Vietnam: Cuộc đua kỳ thú 2015
- Không giới hạn - Sasuke Việt Nam (2015)
Trang 36CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM NGỮ ÂM, TỪ VỰNG – NGỮ NGHĨA
2.1 ĐẶC ĐIỂM NGỮ ÂM
Ngữ âm được bao gồm bởi hệ thống âm tiết, hay còn gọi là tiếng Trong dạng nói tiếng Việt, âm tiết tiếng Việt bao giờ cũng được thể hiện khá đầy đủ, rõ ràng, được tách và ngắt ra thành từng khúc đoạn riêng biệt Chính nhờ yếu tố này mà âm tiết tiếng Việt thường không bị nhược hóa hay mất đi trong khi nói
Mỗi âm tiết trong tiếng Việt, đ ư ợ c cấu tạo bởi những âm tố - đơn vị ngữ âm nhỏ nhất và âm vị Chính vì vậy mà ngôn ngữ có chính âm, ngữ điệu rất rõ
ràng
2.1.1 Chính âm trong lời dẫn của MC Phan Anh
Thường khi nói đến chính âm là nói đến chuẩn mực của nói và viết Hiện nay, vấn đề lựa chọn một phương ngữ nào đó trong hệ thống phương ngữ tiếng Việt làm chính âm vẫn chưa đi đến kết luận cuối cùng (tiếng Việt không có chính âm)
Do đó, chính âm được quan niệm là nói sao cho thật rõ âm tiết để người nghe có thể nghe được So với các vùng miền khác, các phương ngữ khác thì phương ngữ Hà Nội vẫn được coi là phát âm tương đối “tròn tiếng” Từ quan niệm về chính âm như vậy, chúng tôi khảo sát chính âm trong lời dẫn của MC Phan Anh
Trong chính âm người ta thường nói đến:
- Đơn vị siêu đoạn tính
- Đơn vị đoạn tính
Vì khảo sát các chương trình của Phan Anh qua các clip, nên chúng tôi tập trung vào phân tích chính âm Trong một số trường hợp vụ thể, những phân tích của chúng tôi đều có kèm theo dẫn chứng là một đoạn clip
a) Đơn vị siêu đoạn tính
Trong Phương ngữ học tiếng Việt, Hoàng Thị Châu đã trình bày quan niệm:
“Trong tiếng Việt thanh điệu là một trong những đặc điểm để phân biệt phương ngữ, thổ ngữ Người ta thường dựa vào thanh điệu của người nói, chứ không phải
Trang 37vào những đặc trưng nào khác để nhận diện ra đó là phương ngữ miền nào, thổ ngữ huyện nào, xã nào” [12,tr.205]
Nghiên cứu cách phân chia đơn vị siêu đoạn tính theo từng phương ngữ, đồng thời khảo sát các cứ liệu nghiên cứu của MC Phan Anh, chúng tôi nhận thấy: Được sinh ra và lớn lên tại Hà Nội, nên Phan Anh có thể phát âm chuẩn 6 thanh điệu Trong phát ngôn của MC Phan Anh không có tình trạng lẫn lộn giữa thanh hỏi
với thanh ngã như phương ngữ ở các tỉnh Trung và Nam bộ (“suy nghĩ”/ʂwi1 ŋi3/
được phát âm thành “suy nghỉ” /ʂwi1
ŋi4/, “cũ kĩ” /ku3 ki3/ được phát âm thành “củ
thanh ngã và thanh nặng của phương ngữ vùng Nghệ An – Hà Tĩnh (“Hà Tĩnh”/ha2
Ví dụ: Trong Tập 13A , chương trình Thần tượng Âm nhạc Việt Nam mùa thứ 5,
MC Phan Anh có đoạn dẫn:
“Thấy khán giả cổ vũ giất là nồng nhiệt cho những cái tên vừa xướng lên làm tôi cảm thấy giất là ghen tỵ.” [Dẫn liệu số 24]
Xét các phát ngôn của MC Phan Anh, ngoài các trường hợp anh nhập vai hoặc giả giọng các nhân vật trong các chương trình nhằm tạo sự thích thú, gần gũi đối với nhân vật và khán giả, MC Phan Anh không phát âm sai giữa thanh điệu hỏi
và ngã
Ví dụ: Trong Tập 12A, chương trình Thần tượng Âm nhạc Việt Nam mùa thứ 5,
MC Phan Anh dẫn:
“ Chính vì vậy tôi cũng không ngại ngần mà hỏi thêm 3 vị giám khảo 1 lần
nữa, với Gala thứ tư vừa rồi thì 3 vị giám khảo của chúng ta ngày hôm nay dự đoán rằng những thí sinh nào sẽ rơi vào vòng nguy hiểm, ai là người dũng cảm?” [Dẫn
liệu số 19]
Trang 38Trong đoạn dẫn trên, đường nét từng của từng thanh điệu được MC Phan Anh phát âm rất rõ Tóm lại, về mặt âm sắc, MC Phan Anh có sử dụng đủ 6 thanh điệu ngang, huyền, ngã, hỏi, sắc và nặng
b) Đơn vị đoạn tính
b1) Phụ âm đầu
Theo Hoàng Thị Châu: “Âm đầu là một trong những thành phần chủ yếu của
âm tiết Nó tương đối độc lập với những thành phần chính khác của âm tiết như thanh điệu và vần Nó có thể đứng trước mọi nguyên âm, mọi cách khép âm tiết, và
đi với mọi thanh điệu Tuy nhiên, trong tiếng Việt hiện nay, ở các địa phương khác nhau, cách phát âm một số phụ âm đầu vẫn chưa thống nhất” [12,tr.127]
Dựa trên công trình nghiên cứu của Hoàng Thị Châu, đồng thời qua khảo sát các cứ liệu là những clip các chương trình do MC Phan Anh dẫn, chúng tôi khẳng định Phan Anh cũng mắc phải một số tình trạng mà phương ngữ Bắc đang gặp phải
(1) Không phân biệt /ʂ / và /s /
Trong phương ngữ Bắc, 2 phụ âm đầu /ʂ / và /s / đều được phát âm thành /s/
và dưới đây là một số ví dụ về cách phát âm đó:
- “Sản xuất” được phát âm thành “Xản xuất”
/ʂan4 sw t5/ /san4 sw t5/
- “Sinh sản” được phát âm thành “Xinh xản”
/ʂiŋ1 ʂan4/ / siŋ1 san4/
- “Sau đây” được phát âm thành “Xau đây”
/ ʂău1 d i1/ / său 1
d i1/
- “Thí sinh” được phát âm thành “Thí xinh”
/t’i5 ʂiŋ1/ /t’i5 siŋ1/
Đối với MC Phan Anh, hiện tượng này được biểu hiện khá rõ trong các phát ngôn của mình
Ví dụ: Trong Tập 2, chương trình Thần tượng âm nhạc Việt Nam mùa thứ 5, MC
Phan Anh có phát ngôn:
“Hàng ngàn thí xinh đăng kí thử giọng khu vực phía Nam đang có mặt tại
Trang 39khách xạn Tân Xơn Nhất – Xài Gòn, họ mang chong mình xự tự tin, niềm đam mê
âm nhạc và khát khao thể hiện bản thân, họ xẽ nỗ lực hết mình để biến ước mơ này thành hiện thực, ai chong xố chúng ta xẽ chở thành thần tượng âm nhạc Việt Nam
Hoặc trong Tập 4C, chương trình Cặp đôi hoàn hảo:
“Còn bây giờ, Jennifer Phạm và Đức Tuấn đã xẵn xàng, hãy cùng đến với phần chình giễn giất đặc biệt xau đây thưa quý vị.” [Dẫn liệu số 44]
- xẵn xàng – sẵn sàng: /săn3 saŋ2/ - /ʂăn3 ʂaŋ2/
- xau – sau: /său1/ - /ʂău1/
(2) Không phân biệt /ʑ/ và /z/
Trong tất cả các chương trình do MC Phan Anh dẫn, không hề xuất hiện phụ
âm đầu /ʑ/, mà thay vào đó là /z/
Ví dụ: Trong Tập 3C, chương trình Cặp đôi hoàn hảo, MC Phan Anh đã liên tục
mắc phải những tình trạng mà phương ngữ Bắc đang gặp phải:
“…mỗi lần khi những nghệ thuật chuyền thống được xử giụng chên xân khấu
thì giõ giàng xự ủng hộ là giất lớn từ phía các bạn chẻ.” [Dẫn liệu số 40]
- giõ giàng – rõ ràng: /zɔ4 zaŋ2/ - /ʐɔ4 ʐaŋ2/
- giất – rất: /z t5/ - /ʐ t5/
(3) Không phân biệt /ʈ/ và /c/
Đây là hiện tượng phổ biến của phương ngữ Bắc, phụ âm đầu /ʈ / và /c/ không có sự phân biệt trong phát âm, đa số phụ âm /ʈ / được phát âm thành /c/ và dưới đây là một số lỗi phát âm:
Trang 40- “Trang trí” được phát âm thành “Chang chí”
/ʈaŋ1 ʈi5/ /caŋ1
Ví dụ: Trong Tập 10, chương trình Cuộc đua kỳ thú:
“Chong chiếc vali này có 130 chiệu, và đây là mật thư để các bạn nhận
nhiệm vụ tiếp theo.” [Dẫn liệu số 60]
- Chong – trong: /cɔ ŋ1/ - /ʈɔ ŋ1/
- chiệu – triệu: /ci eu 6/ - /ʈ i eu 6/
Ngoài ra, trong phụ âm đầu của phương ngữ Bắc các khu vực Hải Dương…., vẫn còn lỗi phát âm lẫn lộn giữa 2 phụ âm đầu “l” và “n” Chẳng hạn:
- “Lẫn lộn” được phát âm thành “nẫn nộn”
/l n3 lon6/ /n n3 non6/
- “Nước Lào” được phát âm thành “Lước Nào” hoặc “Lước Lào”
/nɯ k5 lau 2/ /nɯ k5 nau 2/ /lɯ k5 lau 2/
Riêng trường hợp này MC Phan Anh không mắc phải Việc phát âm giữa 2 phụ âm đầu /l/ và /n/ được Phan Anh phân biệt rất rõ ràng
Ví dụ: Tập 10, chương trình Cuộc đua kỳ thú:
“Đội hồng đã tạo một ấn tượng giất là tốt, chúng tôi cảm ơn các bạn đã đến
với cuộc đua kỳ thú, đã mang lại cho khán giả những giây phút thú vị, đã mang lại cho những đội chơi tình bạn và những cuộc đua cạnh chanh giất là lành mạnh.”
[Dẫn liệu số 60]
Hoặc trong tập 10, chương trình Cuộc đua kỳ thú:
“….chúng tôi cảm ơn các bạn đã đến với cuộc đua kỳ thú, đã mang lại cho
khán giả những giây phút thú vị…” [Dẫn liệu số 60]