TRẦN THANH HUYỀN ĐẶC ĐIỂM CÂU ĐƠN TRONG TRUYỆN NGUYỄN NHẬT ÁNH NHÌN TỪ BÌNH DIỆN CẤU TRÚC ĐỀ - THUYẾT, CẤU TRÚC NGHĨA BIỂU HIỆN, CẤU TRÚC THÔNG TIN LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC ĐÀ NẴN
Trang 1TRẦN THANH HUYỀN
ĐẶC ĐIỂM CÂU ĐƠN TRONG TRUYỆN NGUYỄN NHẬT ÁNH NHÌN TỪ BÌNH DIỆN CẤU TRÚC ĐỀ - THUYẾT, CẤU TRÚC NGHĨA BIỂU HIỆN, CẤU TRÚC THÔNG TIN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
ĐÀ NẴNG, NĂM 2017
Trang 2TRẦN THANH HUYỀN
ĐẶC ĐIỂM CÂU ĐƠN TRONG TRUYỆN NGUYỄN NHẬT ÁNH NHÌN TỪ BÌNH DIỆN CẤU TRÚC ĐỀ - THUYẾT, CẤU TRÚC NGHĨA BIỂU HIỆN, CẤU TRÚC THÔNG TIN
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã ngành: 60.22.02.40
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN VĂN SÁNG
ĐÀ NẴNG, NĂM 2017
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp của đề tài 8
7 Cấu trúc luận văn 9
NỘI DUNG 10
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 10
1.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN: CÂU, CÚ, PHÁT NGÔN 10
1.1.1 Khái niệm câu 10
1.1.2 Khái niệm cú (tiểu cú) 11
1.1.3 Khái niệm phát ngôn 12
1.2 GIỚI THUYẾT VỀ LÍ THUYẾT BA BÌNH DIỆN TRONG NGHIÊN CỨU CÂU TIẾNG VIỆT 13
1.2.1 Bối cảnh ra đời 13
1.2.2 Các quan điểm cụ thể 17
1.2.3 Câu tiếng Việt nhìn từ bình diện kết học 21
1.2.4 Câu tiếng Việt nhìn từ bình diện nghĩa học 26
1.2.5 Câu tiếng Việt nhìn từ bình diện dụng pháp 30
1.3 QUAN NIỆM VỀ CẤU TRÚC CÚ PHÁP VÀ CÂU ĐƠN TRONG TIẾNG VIỆT 32
1.3.1 Quan niệm về cấu trúc cú pháp 32
1.3.2 Quan niệm câu đơn theo ngữ pháp truyền thống 33
Trang 41.3.3 Quan niệm câu đơn theo ngữ pháp chức năng 34
1.4 NGUYỄN NHẬT ÁNH VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC 36
1.4.1 Về tác giả 36
1.4.2 Sự nghiệp sáng tác 37
1.5 TIỂU KẾT 38
CHƯƠNG 2.CÁC KIỂU CÂU ĐƠN TRONG TRUYỆN NGUYỄN NHẬT ÁNH NHÌN TỪ CẤU TRÚC ĐỀ - THUYẾT,CẤU TRÚC NGHĨA BIỂU HIỆN VÀ CẤU TRÚC THÔNG TIN 40
2.1 ĐẶC ĐIỂM CÂU ĐƠN TRONG TRUYỆN NGUYỄN NHẬT ÁNH NHÌN TỪ BÌNH DIỆN CẤU TRÚC ĐỀ - THUYẾT 40
2.1.1 Các loại đề trong cấu trúc đề - thuyết 40
2.1.2 Các kiểu câu đơn trong truyện Nguyễn Nhật Ánh xét theo cấu trúc đề - thuyết 41
2.1.3 Tiêu chí nhận diện cấu trúc đề - thuyết trong câu đơn truyện Nguyễn Nhật Ánh 50
2.2 ĐẶC ĐIỂM CÂU ĐƠN TRONG TRUYỆN NGUYỄN NHẬT ÁNH NHÌN TỪ CẤU TRÚC NGHĨA BIỂU HIỆN 52
2.2.1 Về khái niệm vị từ - tham thể và vai nghĩa 52
2.2.2 Các kiểu câu đơn trong truyện Nguyễn Nhật Ánh xét theo cấu trúc nghĩa biểu hiện 56
2.3 ĐẶC ĐIỂM CÂU ĐƠN TRONG TRUYỆN NGUYỄN NHẬT ÁNH XÉT THEO CẤU TRÚC THÔNG TIN 65
2.3.1 Các thành tố trong cấu trúc thông tin 65
2.3.2 Các kiểu câu đơn trong truyện Nguyễn Nhật Ánh xét theo cấu trúc thông tin 68
2.3.3 Các phương tiện đánh dấu tiêu điểm thông tin trong câu đơn truyện Nguyễn Nhật Ánh 72
2.4 TIỂU KẾT 80
CHƯƠNG 3 MỐI QUAN HỆ GIỮA CẤU TRÚC ĐỀ - THUYẾTVỚI CẤU TRÚC NGHĨA BIỂU HIỆN, CẤU TRÚC THÔNG TIN VÀ TẦM TÁC ĐỘNG CỦA CÂU ĐƠNTRONG TRUYỆN NGUYỄN NHẬT ÁNH 82
Trang 53.1 MỐI QUAN HỆ GIỮA CẤU TRÚC ĐỀ - THUYẾT VỚI CẤU TRÚC THÔNG TIN VÀ CẤU TRÚC NGHĨA BIỂU HIỆN TRONG CÂU ĐƠN TRUYỆN
NGUYỄN NHẬT ÁNH 82
3.1.1 Mối quan hệ giữa cấu trúc đề - thuyết với cấu trúc thông tin 82
3.1.2 Mối quan hệ giữa cấu trúc đề - thuyết với cấu trúc nghĩa biểu hiện 87
3.1.3 Mối tương ứng giữa ba bình diện cấu trúc đề - thuyết, cấu trúc thông tin và cấu trúc nghĩa biểu hiện trong vấn đề phân tích câu đơn truyện Nguyễn Nhật Ánh 96 3.2 TẦM TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC ĐỀ - THUYẾT, CẤU TRÚC NGHĨA BIỂU HIỆN VÀ CẤU TRÚC THÔNG TIN TRONG CÂU ĐƠN TRUYỆN NGUYỄN NHẬT ÁNH 106
3.2.1 Vai trò của ngữ cảnh trong việc phân tích câu đơn truyện Nguyễn Nhật Ánh 106
3.2.2 Tầm tác động của cấu trúc đề - thuyết, cấu trúc thông tin và cấu trúc nghĩa biểu hiện trong việc tiếp nhận và giải mã câu văn Nguyễn Nhật Ánh 110
3.3 TIỂU KẾT 115
KẾT LUẬN 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO 118 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)
PHỤ LỤC
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Phòng Đào tạo, quý thầy cô khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm - ĐH Đà Nẵng đã hướng dẫn tôi trong thời gian qua và cung cấp cho tôi nhiều kiến thức quý báu, giúp tôi có nền tảng kiến thức để thực hiện luận văn này
Tôi muốn gửi lời tri ân sâu sắc đến thầy hướng dẫn - TS Trần Văn Sáng vì
sự giúp đỡ tận tình của thầy trong suốt quá trình tôi tiến hành nghiên cứu
Lời cảm ơn cuối cùng, tôi xin gửi đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp – là nguồn động viên và chỗ dựa tinh thần giúp tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin gửi đến tất cả lời cảm ơn chân thành và sâu sắc
Tác giả luận văn
Trang 7LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kì hình thức nào Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, đánh giá nhận xét được chính tác giả thống kê thu thập
Nếu phát hiện có bất kì sự gian lận nào, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nội dung luận văn của mình
Đà Nẵng, ngày 5 tháng 10 năm 2017
Người viết luận văn
Trần Thanh Huyền
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CT C-V: Cấu trúc chủ - vị CTCP: Cấu trúc cú pháp
CT Đ-T: Cấu trúc đề - thuyết
CT NBH: Cấu trúc nghĩa biểu hiện CTTT : Cấu trúc thông tin
KĐ: Khung đề NPCN: Ngữ pháp chức năng QHSS: Quan hệ so sánh QHTT: Quan hệ tồn tại
TĐ : Tiêu điểm TĐTT : Tiêu điểm thông tin Tr.N: Trạng ngữ
TTBB: Tham thể bắt buộc TTC : Thông tin cũ TTM : Thông tin mới TTMR: Tham thể mở rộng
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1 Các kiểu cấu trúc Đ-T trong câu đơn truyện
Trang 10Vấn đề nghiên cứu phân tích cú pháp câu đơn ở nước ta từ trước đến nay chủ yếu theo hướng phân tích kết cấu chủ - vị Phương pháp này xuất phát từ cấu trúc hình thức, căn cứ vào hình thức biểu hiện và vai trò cú pháp của các bộ phận trong câu để phân biệt các thành phần câu Tuy nhiên, hướng phân tích câu theo CT C-V
đã bộc lộ những hạn chế nhất định khi chuyển câu từ chức năng biểu thị sự tình sang chức năng truyền tải thông điệp, chủ ngữ không trùng với chủ thể tâm lí Để tránh những bất cập này, trong sự phát triển của ngữ pháp học hiện đại, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học đã thấy rõ yêu cầu cần phải phân tích câu tiếng Việt cả về cấu trúc hình thức lẫn nghĩa biểu hiện và nghĩa dụng học Các tác giả Lưu Vân Lăng
và Cao Xuân Hạo, và về sau là Nguyễn Văn Hiệp, Diệp Quang Ban, Bùi Minh Toán, đã trở thành những người mở đầu trong lĩnh vực nghiên cứu cú pháp tiếng Việt theo khuynh hướng ngữ pháp chức năng (NPCN) và ngữ pháp ngữ nghĩa Theo
đó, cách tiếp cận chức năng rất thích hợp để miêu tả ngữ pháp tiếng Việt, dựa trên
ba bình diện nghiên cứu câu là kết học, nghĩa học và dụng học Song, người nghiên cứu cần tách bạch ba bình diện trên, không được lẫn lộn những sự kiện của bình diện này sang bình diện khác
Từ thực tiễn của việc nghiên cứu cú pháp câu đơn tiếng Việt, chúng tôi thấy rằng chưa có một công trình nào đi sâu tìm hiểu đặc điểm câu đơn tiếng Việt dựa trên các bình diện cấu trúc đề - thuyết (CT Đ-T), cấu trúc nghĩa biểu hiện (CT NBH), cấu trúc thông tin (CTTT), trừ một số khảo cứu ở mức độ sơ lược hoặc chỉ
đề cập một bình diện cụ thể Bên cạnh đó vẫn tồn tại các ý kiến khác nhau về các phương pháp nghiên cứu câu đơn tiếng Việt, tức là theo quan điểm ngữ pháp truyền
Trang 11thống hay hướng ngữ pháp chức năng Do đó, đề tài này sẽ góp phần bổ khuyết bức tranh về phương pháp nghiên cứu câu đơn trong tiếng Việt hiện nay nhìn từ lí thuyết
ba bình diện
1.2 Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh xuất hiện vào những năm 80 của thế kỉ XX, khi nền văn học nước nhà đang trên đà đổi mới cả về tư duy sáng tác cũng như phương thức thể hiện Văn học từ cảm hứng sử thi dần chuyển sang cảm hứng thế
sự - đời tư Đó cũng là thách thức đối với Nguyễn Nhật Ánh và nhiều nhà văn viết cho thiếu nhi khác Song, Nguyễn Nhật Ánh đã tìm cho mình được lối viết riêng và trở thành “hoàng tử bé trong thế giới tuổi thơ”
Truyện của Nguyễn Nhật Ánh hầu hết viết về lứa tuổi học trò với những kỉ niệm và kí ức đẹp đẽ, hồn nhiên của tuổi mới lớn Văn phong nổi bật của nhà văn là tính dí dỏm, hài hước và lạc quan Điều này thể hiện rõ trong việc sử dụng ngôn ngữ của tác giả Nhà văn đã vận dụng linh hoạt vốn từ sẵn có để tạo nên những câu văn hay và thú vị Vì vậy, nghiên cứu về ngôn ngữ trong truyện Nguyễn Nhật Ánh thông qua hệ thống câu đơn sẽ cho chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về đặc điểm câu đơn trên các bình diện kết học, nghĩa học và dụng học
Dựa trên những vấn đề lí thuyết về phân tích cú pháp câu đơn dưới góc nhìn
của NPCN, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Đặc điểm câu đơn trong truyện Nguyễn Nhật Ánh nhìn từ bình diện cấu trúc đề - thuyết, cấu trúc nghĩa biểu hiện, cấu trúc thông tin
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Việc tìm hiểu về cú pháp tiếng Việt đã được nhiều nhà nghiên cứu trong nước và nước ngoài quan tâm từ những năm đầu của thập niên 60 của thế kỉ XX Các tác giả Lekomtsev và Thompson đã dùng phương pháp phân tích thành tố trực tiếp để nghiên cứu cấu trúc câu đơn tiếng Việt Theo đó, lối phân tích câu theo các thành tố trực tiếp là kiểu phân tích tỏ ra có lợi nhất theo quan niệm cấu trúc đối với phát ngôn Thompson cho rằng, cấu trúc câu tiếng Việt là kết cấu tiêu điểm: “Kết cấu tiêu điểm tạo ra những ngữ hạn định với vị từ là đỉnh hay tâm Các loại thể từ, ngữ thể từ và thậm chí vị từ xuất hiện như là các bổ ngữ tiêu điểm” (Dẫn theo [25, tr.24]) Cũng chính Thompson là người thấy được vai trò của tiểu từ “thì” trong cấu trúc tiêu điểm của câu tiếng Việt Quan sát vai trò của tiểu từ này, ông đã đi đến một
Trang 12nhận định rất mới mẻ rằng chẳng nên phân biệt thứ hạng của chủ ngữ và bổ ngữ (theo thuật ngữ truyền thống) trong hệ thống thành phần câu tiếng Việt Phần lớn những gì Thompson gọi là “bổ ngữ chủ đề” và các loại “bổ ngữ khác” (phương thức, thời gian, nơi chốn) về sau được Cao Xuân Hạo và một số nhà nghiên cứu khác theo quan điểm NPCN trong tiếng Việt gọi là phần “đề” trong CT Đ-T, với tư cách là cấu trúc cơ bản của câu đơn tiếng Việt
Trong công trình: Tiếng Việt - Sơ thảo ngữ pháp chức năng [20], Cao Xuân
Hạo đã áp dụng một cách triệt để lí thuyết đề - thuyết vào việc phân tích cấu trúc câu tiếng Việt Công trình này đã mang đến một luồng gió mới cho nền ngôn ngữ học nước ta Cao Xuân Hạo đã chống lại chủ nghĩa “dĩ Âu vi trung” trong nghiên cứu câu tiếng Việt Ông cho rằng, cấu trúc cú pháp (CTCP) cơ bản của tiếng Việt
là CT Đ-T, ranh giới giữa hai phần này là khả năng thêm các tác tử “thì, là, mà” Phân tích câu tiếng Việt theo hướng NPCN tiếp tục được Cao Xuân Hạo cùng các tác giả Hoàng Xuân Tâm, Nguyễn Văn Bằng, Bùi Tất Tươm làm rõ trong cuốn
Ngữ pháp chức năng tiếng Việt, Quyển 1 (Phần Câu trong tiếng Việt) [21] Trong
công trình này, các nhà nghiên cứu đã phân tích, phân loại cấu trúc ngữ pháp của câu tiếng Việt trên ba bình diện: CT Đ-T, nghĩa và công dụng Có thể nói, Cao Xuân Hạo là người khởi đầu cho việc nghiên cứu cú pháp tiếng Việt theo đường hướng chức năng và ngữ nghĩa
Nguyễn Hồng Cổn trong bài viết: CTCP của câu tiếng Việt: chủ - vị hay đề - thuyết? [10] đã đề xuất một cách tiếp cận mới về vấn đề hữu quan, trong đó xác nhận vai trò của CT C-V với tư cách là CTCP của cú nhằm mã hóa nghĩa biểu hiện của nó và vai trò của CT Đ-T với tư cách là CTCP của câu nhằm tổ chức và truyền đạt một thông điệp [10, tr.1]
Trong một định hướng khác, vừa tiếp thu lí luận ngôn ngữ học hiện đại, vừa không bài xích các khái niệm ngôn ngữ đã được dùng để miêu tả ngữ pháp tiếng Việt trước đó, Nguyễn Văn Hiệp và Nguyễn Minh Thuyết đã cố gắng nêu một giải
pháp nhất quán và chặt chẽ về Thành phần câu tiếng Việt [46] Theo giải pháp này,
các thành phần câu tiếng Việt được phân xuất và nhận diện trên cả hai bình diện nội
dung và hình thức Sau này, trong công trình Cú pháp tiếng Việt [25], Nguyễn Văn
Hiệp đã phân tích và miêu tả cú pháp của câu tiếng Việt trên cơ sở ngữ nghĩa Tác
Trang 13giả thảo luận sâu về các thành phần câu tiếng Việt (chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, khởi ngữ, trạng ngữ, định ngữ câu và tình thái ngữ) cùng những biểu hiện phong phú của
nó trong hoạt động giao tiếp Quan điểm nhất quán “đi từ chức năng đến hình thức”
đã được Nguyễn Văn Hiệp khẳng định Công trình này thật sự mang tinh thần của NPCN hiện đại
Nếu Nguyễn Văn Hiệp và Nguyễn Minh Thuyết phân xuất và nhận diện câu tiếng Việt trên cả hai bình diện một cách chung nhất thì Đào Thanh Lan trong công
trình: Phân tích cấu trúc câu đơn tiếng Việt theo cấu trúc đề - thuyết [30] lại chủ
trương vận dụng cùng một lúc năm tiêu chí để xác lập bộ khung cấu trúc của câu đơn tiếng Việt Đó là các tiêu chí về nghĩa tạo lập phát ngôn, nghĩa biểu thị thực tại khách quan, vai trò quan hệ cú pháp, hình thức biểu hiện bằng vị trí và hình thức Kết quả là danh sách các thành tố cấu trúc câu tiếng Việt theo tác giả sẽ gồm có: chu ngữ, minh xác ngữ, đề ngữ, định ngữ, thuyết ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ
Gần đây, Diệp Quang Ban cũng đã thể hiện quan điểm phân tích cú pháp tiếng
Việt theo định hướng NPCN trong công trình: Ngữ pháp Việt Nam [6] Trong công
trình này, Diệp Quang Ban đã áp dụng theo lí thuyết của Halliday để phân tích câu tiếng Việt theo ba siêu chức năng: siêu chức năng kinh nghiệm, siêu chức năng liên nhân và siêu chức năng văn bản Sự phân tích của Diệp Quang Ban về các loại cấu trúc khác nhau của câu tiếng Việt: CTCP, CT NBH (chức năng biểu hiện), cấu trúc thức (chức năng liên nhân), cấu trúc đề (chức năng văn bản) là một nỗ lực đáng ghi nhận, vì đã cho thấy cấu trúc nhiều chiều kích của câu Nguyễn Văn Hiệp trong
công trình Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp [24] đã đề nghị một cách tiếp cận
mới cho việc miêu tả CTCP của câu tiếng Việt Đường hướng này xuất phát từ những kiểu nghĩa có thể được diễn đạt trong câu mà định dạng các phạm trù hình thức tương ứng Đây là cách tiếp cận triệt để đi từ chức năng đến hình thức Xuất phát từ những kiểu nghĩa có thể biểu đạt trong câu nói, xem đó là những cơ sở ngữ nghĩa cho việc miêu tả CTCP của câu tiếng Việt, tác giả đã chủ trương một lối phân tích câu giản dị, dựa trên những kinh nghiệm tri nhận của con người về thế giới và
cách tổ chức, trình bày những kinh nghiệm đó Từ đó, tác giả nhận định rằng: câu nói là một thực thể nhiều chiều kích, các thành tố cấu trúc tuyến tính của câu không đồng chất trong chức năng phản ánh thông tin thuộc những chiều kích khác nhau
Trang 14đó Và hệ quả là, nếu chúng ta từ bỏ cách nhìn đơn tuyến để có một cách nhìn “lập thể” về câu thì chúng ta phải đi đến một lối phân tích mang tính mô-đun về các thành tố cấu trúc của nó [24, tr.11]
NPCN cũng nhấn mạnh chức năng thông tin của câu Có một số nhà Việt ngữ học vẫn chưa phân biệt rạch ròi CT Đ-T và CTTT (nếu không nói là họ đồng nhất
CT Đ-T và CTTT hoặc không nghiên cứu CTTT như một cấu trúc song tồn với CT Đ-T) Song, đa số các nhà nghiên cứu cho rằng: Bình thường, phần thuyết có giá trị thông báo chủ yếu; nó được người nghe chú ý nhiều hơn, so với phần đề; đối với người nói và người nghe, phần thuyết là “mới”, phần đề là “cũ” Nhưng có khi, trong những hoàn cảnh nhất định, giá trị thông báo chủ yếu lại ở phần đề
Nguyễn Hồng Cổn có một loạt bài viết về cấu trúc thông báo của câu, về vấn đề
tiêu điểm thông tin (TĐTT) như: Bàn thêm về cấu trúc thông báo của câu [9], Cấu trúc thông tin và biến thể cú pháp trong câu tiếng Việt [11], Các kiểu cấu trúc thông tin của câu đơn tiếng Việt [12] Trong bài Các kiểu cấu trúc thông tin của câu đơn tiếng Việt, tác giả phân tích CTTT theo mối quan hệ giữa hai phần “cơ sở” và “TĐ” trong cấu trúc Kết quả phân loại gồm: CTTT lưỡng phân cơ sở (CS) và TĐ (gồm CS
- TĐ hoặc TĐ - CS; CTTT có TĐ - CS - TĐ; CTTT chỉ có TĐ (gồm: CTTT có TĐ là thuyết, CTTT có TĐ là CT Đ-T)
Trong [48], Bùi Minh Toán đã trực tiếp bàn luận các vấn đề sau: Sự phụ thuộc của cấu trúc tin vào ngữ cảnh; vị trí phân bố của hai phần tin trong phát ngôn (tin đã biết ở trước tin mới, tin mới ở trước tin đã biết, hai thành phần tin xen
kẽ trong một phát ngôn); các phương tiện để TĐ hóa thông tin trong phát ngôn: các yếu tố báo hiệu tin cũ (lặp từ ngữ, các yếu tố hồi chỉ và chỉ trỏ, tỉnh lược), các yếu tố chỉ dẫn phần tin mới (vị trí đầu tiên trong văn bản, từ ngữ xuất hiện lần đầu tiên trong văn bản, phần phát ngôn không thể tỉnh lược, một số phụ từ đánh dấu
phần tin quan trọng, hư từ nhấn mạnh…) Theo tác giả, trong hoạt động giao tiếp, khi người nói tạo ra phát ngôn thì tùy thuộc ngữ cảnh, anh ta đồng thời cần cấu trúc hóa thông tin mà phát ngôn truyền đạt Quá trình cấu trúc hóa thông tin trong phát ngôn chính là quá trình tiêu điểm hóa: tách biệt phần tin mới trên cơ sở phần tin đã biết, tạo ra sự phân bố: tin đã biết - tin mới [48, tr.131]
Trang 15CTTT cũng được một số tác giả khác quan tâm nghiên cứu, như: Mai Thị Xí
với luận văn thạc sĩ: Cấu trúc thông tin trong câu văn Nguyễn Huy Thiệp [55]
Như vậy, câu tiếng Việt đã được nghiên cứu trên cả ba bình diện và thực sự được nghiên cứu với tư cách là đơn vị cơ bản của hoạt động giao tiếp Một vấn đề cũng cần được đề cập đến trong phần này, đó là mối quan hệ giữa các kiểu cấu trúc câu khi câu tiếng Việt được nghiên cứu trên cả ba bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng Dù
CT Đ-T chưa được nghiên cứu nhiều trong tương quan CT NBH và CTTT (thậm chí
có nhà nghiên cứu còn chưa tách bạch CT Đ-T và CTTT), song, giới Việt ngữ học đã thừa nhận sự tồn tại của ba kiểu cấu trúc này trong tổ chức câu trên những bình diện khác nhau, với những chức năng khác nhau Có thể nói, hầu như tất cả những lí thuyết cú pháp quan trọng của thế giới đều đã có ảnh hưởng đến việc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt ở mức độ nào đó mà các nhà Việt ngữ học, mỗi người một vẻ,
đã góp phần vào công cuộc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt nói chung, câu đơn tiếng Việt nói riêng Các công trình nghiên cứu trên là cơ sở giúp chúng tôi có cái nhìn toàn diện hơn về việc phân tích đặc điểm câu đơn tiếng Việt trên mô hình lí thuyết ba bình diện
2.2 Nguyễn Nhật Ánh đã trở thành “hiện tượng” của nền văn học Việt Nam đương đại, nhiều tác phẩm của ông đã trở thành “Best-seller” và được dịch ra tiếng nước ngoài Ông đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu, lí luận phê bình hiện thời
Tập sách mang tính kỉ yếu: Nguyễn Nhật Ánh – Hiệp sĩ của tuổi thơ [49] – kết
quả của Hội thảo khoa học mang tên: “Nguyễn Nhật Ánh – Hành trình chinh phục tuổi thơ” do Trung tâm Ngôn ngữ và văn học – nghệ thuật trẻ em (Trường Đại học
Sư phạm Hà Nội) tổ chức đã tập hợp những nghiên cứu bước đầu của giới nghiên cứu, phê bình, giảng dạy văn học và một số nhà văn có chung niềm đam mê viết cho thiếu nhi Những bài viết trong cuốn sách như những phác thảo mang tính nhận diện, đối thoại, gợi dẫn chứ chưa đi sâu vào các vấn đề về ngôn ngữ
Tìm hiểu về Đặc điểm truyện Nguyễn Nhật Ánh (luận văn Thạc sĩ) [45], tác giả
Bùi Thị Thu Thủy đã chỉ ra nội dung chính trong truyện Nguyễn Nhật Ánh Đó là thế giới học đường thu nhỏ với hình ảnh của học trò, thầy cô giáo, của lớp học, mái trường; đó còn là những bài học quý trong cuộc sống cho thiếu nhi và cho cả người
Trang 16lớn Ngôn ngữ trong truyện Nguyễn Nhật Ánh là thứ ngôn ngữ giản dị, trong sáng, gần gũi như đời sống nhưng cũng rất hóm hỉnh, hài hước và giàu hình ảnh Đây cũng
là nhận xét của nhiều độc giả khi đọc truyện của Nguyễn Nhật Ánh Tác giả Thái
Phan Vàng Anh trong bài viết: Nguyễn Nhật Ánh – người kể chuyện của thiếu nhi [1]
cho rằng, cái hấp dẫn, cái “duyên” của truyện Nguyễn Nhật Ánh chủ yếu nhờ vào sự hồn nhiên, tươi tắn ở ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật Gia tăng lời thoại, giảm thiểu
kể, tả, bình luận là một trong những điểm nổi bật ở nhiều tác phẩm của Nguyễn Nhật
Ánh Đi sâu vào tìm hiểu Nghệ thuật trần thuật trong tác phẩm Ngồi khóc trên cây, tác
giả Nguyễn Thị Thuấn [44] đã làm rõ cách trần thuật được nhà văn sử dụng trong tác phẩm qua điểm nhìn trần thuật, ngôn ngữ nhân vật và giọng điệu trong tác phẩm
2.3 Truyện Nguyễn Nhật Ánh vẫn đang được khai thác Tuy nhiên, những nghiên cứu đi sâu vào các vấn đề ngữ pháp trong tác phẩm vẫn đang là vấn đề bỏ ngỏ Do vậy, tìm hiểu câu đơn trong truyện Nguyễn Nhật Ánh dựa vào lí thuyết ba bình diện trong nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt hiện nay là một vấn đề mới mẻ và
có tính khả thi
3 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn tập trung hướng vào những mục tiêu cụ thể sau:
- Hệ thống hóa các kiểu cấu trúc câu đơn trong tiếng Việt: CT Đ-T, CTTT, CT NBH
- Góp phần nhận diện và đề xuất phương pháp phân tích câu đơn từ lí thuyết
ba bình diện
- Chỉ ra nét đặc trưng phong cách trong câu văn truyện Nguyễn Nhật Ánh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đặc điểm câu đơn trong truyện Nguyễn Nhật Ánh trên các bình diện: CT Đ-T, CTTT, CT NBH
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về phương diện nghiên cứu, CT Đ-T, CTTT, CT NBH có thể được nghiên cứu
trên nhiều kiểu câu, dạng câu: câu đơn, câu phức, câu ghép, câu đặc biệt Tuy nhiên,
trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ, chúng tôi chỉ khảo sát trên các câu đơn tường thuật, một dạng cấu trúc câu tiêu biểu trong CTCP của tiếng Việt Nếu xét theo CT
Trang 17C-V của ngữ pháp truyền thống, đó là loại câu đơn song phần; nếu xét theo CT Đ-T của NPCN, đó là loại câu hai phần, một bậc
Về nguồn cứ liệu, chúng tôi khảo sát câu đơn trong hai truyện của Nguyễn
Nhật Ánh:
(1) Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh (2016), NXB Trẻ
(2) Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ (2016), NXB Trẻ
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu đặc thù của luận văn là phương pháp miêu tả ngôn ngữ học với các thao tác, thủ pháp cơ bản sau:
- Thủ pháp thống kê - phân loại: luận văn sử dụng thao tác phân loại để sắp xếp ngữ liệu khảo sát vào các dạng kiểu câu phục vụ cho quá trình nghiên cứu Đó là: phân loại ngữ liệu thành các kiểu câu dựa vào tiêu chí CT Đ-T, CTTT và CT NBH; phân loại các hình thức biểu hiện cụ thể của các kiểu cấu trúc
- Thủ pháp mô hình hóa: thủ pháp này được sử dụng để phân tích các kiểu cấu trúc của từng ví dụ, phục vụ cho việc tìm hiểu và biểu diễn quan hệ giữa chúng
- Phân tích - miêu tả các kiểu cấu trúc câu thông qua cách phân tích thành tố trực tiếp, phân tích vị từ - tham thể, phân tích ngôn cảnh: Sau khi phân loại ngữ liệu, luận văn tiến hành phân tích các kiểu cấu trúc trong từng ngữ liệu được lựa chọn bằng hình thức mô hình (như đã nói ở trên) Từ đó, miêu tả quan hệ giữa các cấu trúc thông qua sự tương ứng giữa các thành tố trong từng cấu trúc khác nhau Phương pháp phân tích - miêu tả được dùng để tường minh hóa các mô hình và quan hệ giữa CT Đ-T với CTTT, CT Đ-T với CT NBH; CTTT với CT NBH
6 Đóng góp của đề tài
6.1 Về phương diện lí thuyết
- Hệ thống hóa lại các quan điểm, các khuynh hướng nghiên cứu câu trong tiếng Việt
- Chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của các phương pháp phân tích câu tiếng Việt hiện nay
6.2 Về phương diện thực tiễn
- Vận dụng lí thuyết ba bình diện về phân tích cú pháp vào việc nghiên cứu và giảng dạy ngữ pháp tiếng Việt trong nhà trường hiện nay
Trang 18- Góp phần chỉ ra những đặc trưng ngôn ngữ văn chương và cách giải mã văn chương từ góc nhìn ngôn ngữ
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương
Chương 1 Cơ sở lí luận và những vấn đề liên quan
Luận văn sẽ làm rõ các vấn đề lí thuyết liên quan đến đề tài: các khái niệm cơ bản về câu, cú, phát ngôn; lí thuyết ba bình diện trong nghiên cứu câu tiếng Việt theo quan niệm của các nhà ngôn ngữ học trong và ngoài nước; khái niệm và cách phân loại câu đơn tiếng Việt và sơ lược về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh
Chương 2 Các kiểu câu đơn trong truyện Nguyễn Nhật Ánh nhìn từ bình diện cấu trúc đề - thuyết, cấu trúc nghĩa biểu hiện và cấu trúc thông tin
Trong chương này, luận văn sẽ trình bày khái niệm đề - thuyết, khái niệm vị từ
- tham thể và các vai nghĩa của CT NBH, khái niệm CTTT; miêu tả các kiểu câu đơn trong truyện Nguyễn Nhật Ánh xét theo CT Đ-T, CT NBH, CTTT
Chương 3 Mối quan hệ giữa cấu trúc đề - thuyết với cấu trúc nghĩa biểu hiện, cấu trúc thông tin và tầm tác động của câu đơn trong truyện Nguyễn Nhật Ánh
Chương 3 miêu tả mối quan hệ giữa CT Đ-T với CT NBH và CTTT; đồng thời nêu lên giá trị biểu đạt của các cấu trúc trong câu đơn truyện Nguyễn Nhật Ánh
Trang 19NỘI DUNG
1.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN: CÂU, CÚ, PHÁT NGÔN
1.1.1 Khái niệm câu
Trong ngôn ngữ học truyền thống, câu được coi là đơn vị lớn nhất trong tổ chức của hệ thống ngôn ngữ Những đơn vị trên câu được coi là thuộc lĩnh vực lời nói và, theo quan niệm do F de Saussure khởi xướng, không phải là đơn vị chân chính của ngôn ngữ học Trong một thời gian dài, ngôn ngữ học chỉ quan tâm đến cấu trúc trừu tượng của câu, đến các mối quan hệ và chức năng ngữ pháp của câu Theo đó, cấu trúc câu nghiêng về hình thức, hay thuần túy hình thức, còn mặt ngữ nghĩa và những vấn đề liên quan đến mặt ngữ dụng thì bị xem nhẹ hoặc bỏ qua
Xét tổ chức nôi bộ của câu thì “câu là một khúc đoạn ngôn ngữ tập trung chung quanh một vị tố và được dùng để diễn đạt một sự thể (hay sự việc)” [6, tr.14]
Vị tố là trung tâm của câu về nghĩa và về cú pháp Về nghĩa, vị tố chi phối các thực thể tham gia vào sự việc (tham thể); về cú pháp, vị tố là cơ sở để xác định các bổ ngữ (các yếu tố diễn đạt các tham thể) Về từ loại, vị tố có thể là động từ, danh từ, tính từ, từ chỉ quan hệ Trong phần vị ngữ của câu (vị ngữ hiểu theo truyền thống, bao gồm cả bổ ngữ), nếu có động từ tình thái thì động từ tình thái là yếu tố chính về
cú pháp cụm từ, vị tố vẫn giữ chức năng trung tâm của câu Kết hợp hai mặt xem
xét trên, tác giả Diệp Quang Ban đã đưa ra định nghĩa về câu như sau: Câu (câu đơn) là đơn vị lớn nhất của mặt cấu trúc trong tổ chức ngữ pháp của một ngôn ngữ, được làm thành từ một khúc đoạn ngôn ngữ tập trung chung quanh một vị tố, và được dùng để diễn đạt một sự thể (hay một sự việc) [6, tr.15] Đơn vị tương đương
câu đơn nằm bên trong câu phức và câu ghép sẽ được gọi là mệnh đề Định nghĩa câu như trên không phân biệt ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, không phân biệt ngôn ngữ thuộc các loại hình khác nhau Định nghĩa này nói đến nghĩa chỉ sự việc, chưa tính đến các kiểu nghĩa khác
Tác giả Cao Xuân Hạo cho rằng, cả ba bình diện kết học, nghĩa học, dụng học đều được thể hiện trong một câu, vì vậy, tác giả khẳng định: Câu là đơn vị cơ bản của lời nói, của ngôn từ, của văn bản Nó là đơn vị nhỏ nhất có thể sử dụng vào việc giao tế Nói cách khác, câu là ngôn bản (văn bản) nhỏ nhất [20, tr.31] Nhiều
Trang 20nhà nghiên cứu tiếng Việt đưa ngữ điệu vào việc định nghĩa câu và coi nó là một tiêu chuẩn để phân giới câu, tuy nhiên theo Cao Xuân Hạo, ngữ điệu chỉ là một hiện tượng ngoài ngôn ngữ thường đi kèm theo ngôn ngữ với tính cách một phương tiện
hỗ trợ Ngữ điệu không phải là một thuộc tính của câu nói mà là một nét đặc trưng
có tính chất cử chỉ đệm theo hành động phát ngôn
Trong công trình gần đây nhất: Từ điển khái niệm ngôn ngữ học [18], tác giả Nguyễn Thiện Giáp cũng định nghĩa: câu là đơn vị cơ bản của lời nói, nó là đơn vị giao tiếp nhỏ nhất, là ngôn bản nhỏ nhất [18, tr.83] Như vậy, Nguyễn Thiện Giáp
và Cao Xuân Hạo đều quan niệm câu là đơn vị cơ bản của lời nói, là sự thể hiện ngôn ngữ học của hành động nhận định được thực hiện ngay khi phát ra nó Cao Xuân Hạo coi CT Đ-T là CTCP cơ bản của câu Chúng tôi sử dụng định nghĩa trên
về câu của Cao Xuân Hạo và Nguyễn Thiện Giáp làm cơ sở lí thuyết khảo sát câu đơn trong truyện Nguyễn Nhật Ánh
1.1.2 Khái niệm cú (tiểu cú)
Thuật ngữ “cú” trong tiếng Việt được dịch từ thuật ngữ “clause” trong tiếng Anh Cú được hiểu khác câu theo hai cách sau đây:
- Theo cách giải thích của Halliday trong ngữ pháp chức năng – hệ thống, “cú”
là tên gọi tương đương “câu đơn” và dùng chung cho cả ngôn ngữ nói và viết; câu
là tên gọi thuộc ngôn ngữ viết với dấu hiệu là dấu chấm kết thúc câu (Dẫn theo [6, tr.19]) Mỗi cú được hiểu theo siêu chức năng mà nó diễn đạt: là một thông điệp, một lời trao đổi, sự biểu hiện (kinh nghiệm) Với mỗi chức năng như vậy, cú có một cấu trúc đặc thù
- Theo Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê, “cú” là mệnh đề trong ngôn ngữ, phân biệt với mệnh đề trong logic học Về sau xuất hiện thêm một tên gọi tương tự, gọi là “tiểu cú” (Cao Xuân Hạo)
Trong ngữ pháp hiện đại, có khi “cú” được coi là một đơn vị lớn hơn một ngữ (phrase) mà nhỏ hơn một câu và không nằm trọn trong khuôn hình truyền thống
“chủ ngữ - vị ngữ” Cho đến nay, cú được dùng thay cho câu đơn vì câu đơn gắn với chữ viết, với dấu chấm câu và cần có một tên gọi đơn vị trong ngôn ngữ (clause) phân biệt với mệnh đề (proposition) của logic học Ngoài ra, cũng cần nhớ rằng không phải nền ngữ pháp nào cũng có thuật ngữ tương đương với cú, thuật ngữ
Trang 21thịnh hành hơn là “mệnh đề” ngầm hiều là “mệnh đề trong ngôn ngữ”
Khác với câu, cú là đơn vị được tạo lập không phải để thông báo mà là để biểu hiện các sự tình, gần với chức năng biểu hiện của ngôn ngữ Xét về mặt chức
năng, có thể nói cú giống với ngữ hơn là với câu: câu có chức năng thông báo còn
cú và ngữ chỉ có chức năng biểu hiện Điểm khác biệt giữa cú và ngữ chỉ là ở chỗ:
cú biểu hiện các sự tình của thế giới ngoại ngôn và cấu trúc hóa nó trong câu trúc nghĩa biểu hiện với vị tố trung tâm và các tham thể theo cách tri nhận của người bản ngữ, còn ngữ chỉ biểu hiện các phân đoạn của sự tình với tư cách là thành tố (vị tố
và các tham thể) của CT NBH Đó chính là lí do vì sao một số tác giả (như Lưu Vân Lăng, Cao Xuân Hạo) cho rằng cú không có được chức năng thông báo hay phản ánh một nhận định đầy đủ như câu Trong luận văn, chúng tôi sử dụng thuật ngữ
“cú” (của một số tác giả khác) là “tiểu cú” (của Cao Xuân Hạo) Theo đó, tiểu cú có cấu trúc như của câu nhưng lại chỉ là một ngữ đoạn Tiểu cú khác câu chính là ở chỗ nó không phản ánh một hành động nhận định (statement), được thực hiện ngay khi phát ngôn để đưa ra một mệnh đề, mà biểu thị một cái gì được coi như “có sẵn”
[20, tr.45], mỗi tiểu cú ứng với một bậc đề - thuyết của CT Đ-T
1.1.3 Khái niệm phát ngôn
Hiện nay, theo lí thuyết ba bình diện của tín hiệu ngôn ngữ nói chung và của câu nói riêng, ngôn ngữ học quan tâm đến cả bình diện nghĩa và bình diện ngữ dụng
Từ đó xuất hiện mối tương quan giữa một đơn vị trừu tượng, ở trạng thái tĩnh, trạng thái chưa hành chức, chưa tham gia vào hoạt động giao tiếp, với sản phẩm của sự hiện thực hóa chính nó trong hoạt động giao tiếp Mối tương quan đó như là tương
quan giữa một hằng thể và một biến thể Từ đó xuất hiện thuật ngữ phát ngôn
Theo Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học [56], phát ngôn trong ngôn ngữ học là
một khúc đoạn lời nói (hay viết) do một người nói đơn nhất tạo ra và có chỗ lặng ở cuối phần lời của người đó, cụ thể là một trường hợp thực hiện việc nói (hay viết) trải dài trong thời gian và thường được dùng làm tài liệu của phân tích diễn ngôn, phân tích việc sử dụng ngôn ngữ, không dùng để phân tích hệ thống ngôn ngữ Phát ngôn trong ngôn ngữ tự nhiên không chỉ là chuỗi dạng thức của từ Chồng lên cái thành tố ngôn từ của bất kỳ phát ngôn nói nào (chuỗi các từ tạo nên nó), bao giờ và tất yếu cũng có thành tố cận ngôn ngữ như: các yếu tố xen ngôn
Trang 22thanh: Hắng giọng, ậm ừ, à….; các loại thanh lưu Đó là chưa kể các yếu tố ngoài
ngôn ngữ như: ngôn ngữ thân thể (cử chỉ, tư thế, hành vi động chạm…); ngôn ngữ vật thể (trang phục, đồ trang sức, phụ kiện, hoa, quà tặng…); ngôn ngữ môi trường
(địa điểm, thời gian, khoảng cách, màu sắc…) cũng ảnh hưởng đến việc lĩnh hội phát ngôn Trong việc xác định nghĩa của phát ngôn, những đặc trưng phi ngôn từ này cũng quan yếu như nghĩa của các từ được dùng trong phát ngôn và ngữ pháp của nó, cả hai đều được mã hóa trong thành tố ngôn từ của phát ngôn
Mối tương quan giữa câu và phát ngôn được xác định qua các phương diện sau:
- Câu thuộc hệ thống cấu trúc của ngôn ngữ, còn phát ngôn thuộc hoạt động hành chức của ngôn ngữ, chủ yếu là hoạt động giao tiếp
- Câu là đơn vị thiên về hình thức cấu trúc nên mang đặc tính trừu tượng, khái quát, có thể tồn tại ở hoạt động giao tiếp Còn phát ngôn là sự hiện thực hóa cụ thể của câu nên ngoài phần cấu trúc trừu tượng còn có: hình thức cụ thể (trật tự từ ngữ; ngữ điệu…); nội dung ý nghĩa cụ thể (nghĩa biểu hiện, nghĩa tình thái); mục đích giao tiếp… Câu được mô hình hóa theo một số kiểu loại nhất định, do đó số lượng kiểu câu trong một ngôn ngữ là hữu hạn, trong khi số lượng phát ngôn là vô hạn
Như vậy, câu và phát ngôn vừa có mối liên hệ mật thiết, vừa có sự khác biệt
Câu chính là cơ sở để tạo nên phát ngôn, phát ngôn là sự hiện thực hóa, tình thái hóa của câu
1.2 GIỚI THUYẾT VỀ LÍ THUYẾT BA BÌNH DIỆN TRONG NGHIÊN CỨU CÂU TIẾNG VIỆT
1.2.1 Bối cảnh ra đời
a Thành tựu và hạn chế của ngữ pháp hình thức, cấu trúc
Về thành tựu, đối với người Việt, chủ ngữ và vị ngữ là những khái niệm hết sức quen thuộc Đây lại là phương pháp ra đời sớm, được nghiên cứu nhiều, nên hệ thống lí thuyết tương đối sáng rõ Các thành tố cấu tạo nên câu được phân tích hết sức tỉ mỉ và cạn kiệt Không có bất kỳ một từ nào trong câu không được làm rõ, dù
đó là thực từ hay hư từ Quan hệ giữa các từ trong cụm từ, quan hệ giữa các cụm từ với nhau luôn được thể hiện rõ ràng Chức năng của các thành phần câu được phản ánh một cách rất cụ thể Nếu dạy cho học sinh phân tích câu theo cách này, người học dễ dàng xây dựng những câu đúng ngữ pháp, chuẩn mực
Trang 23Về hạn chế, ngữ pháp hình thức, cấu trúc không quan tâm đến nghĩa và càng không quan tâm đến tác dụng giao tiếp Đối với nó, nghĩa chỉ là một chỗ dựa bất đắc
dĩ để miêu tả hình thức, để phân đoạn ngữ lưu ra thành những chiết đoạn được coi như là những thực thể tự tại có thể được lắp ghép thành những chiết đoạn lớn hơn theo những quy tắc “phân bố” (độc lập hay ràng buộc, đứng trước ngữ đoạn nào, đứng sau ngữ đoạn nào) không liên quan gì đến nghĩa và chức năng cú pháp Các chiết đoạn lớn hơn này thường là những từ, những cụm từ hay có thể là những câu Trong nhiều thế kỉ, các sách ngôn ngữ học đại cương khái quát hóa những đặc trưng hình thức của ngữ pháp các ngôn ngữ châu Âu, coi đó là những thuộc tính chung của ngôn ngữ toàn nhân loại, và trong khi miêu tả các ngôn ngữ thuộc những loại hình khác, người ta cố gò cấu trúc của ngôn ngữ này vào cái khuôn châu Âu, nhiều khi bất chấp những sự thật hiển nhiên Chẳng hạn như sự tồn tại bắt buộc của
một số phạm trù ngừ pháp: ngôi, số, thì, thể và các đặc trưng khác của ngôn ngữ
châu Âu đều được gán cho tất cả các ngôn ngữ khác Đặc biệt, kết cấu chủ - vị, mà nội dung thực chất là mối quan hệ hình thái học, không biểu hiện một quan hệ nhất định nào về nghĩa và về logic, giữa một ngữ danh từ và một động từ “đã chia” tự dưng được coi là tiêu chí để xác định câu và phân loại câu trong mọi ngôn ngữ Khi nói một câu, cái quan trọng là ta truyền đi một thông tin Phân tích câu theo CT C-V chỉ quan tâm đến bình diện hình thức của câu mà không làm nổi rõ vấn đề trọng tâm thông báo của câu Các thành phần câu được gọi tên thuần tuý theo kiểu ngữ pháp, không rõ chức năng ngữ nghĩa Cách phân tích này quá tỉ mỉ, nên không phải lúc nào cũng có thể ứng dụng được cho mọi câu tiếng Việt, đặc biệt là những câu trong giao tiếp sinh hoạt hàng ngày
Tóm lại, ngữ pháp cổ điển, ngữ pháp cấu trúc, ngữ pháp sản sinh chú ý đến cơ chế hình thức tách khỏi hoạt động ngôn ngữ Đó là cơ chế hình thức tĩnh hoặc tương đối tĩnh diễn đạt mặt nội dung ý nghĩa Mối quan hệ giữa hình thức và nội dung được hiểu là mối quan hệ giữa hai bình diện: kết học – cái biểu đạt và nghĩa học – cái được biểu đạt Do đó, tất cả những gì không phải là hình thức, thuộc về cái được biểu đạt đều để trong một bình diện nghĩa trừu tượng và có khi được gọi là bình diện ý nghĩa – chức năng
Trang 24b Ngữ pháp chức năng, ngữ pháp ngữ nghĩa và sự cần thiết của việc phân tích câu từ lí thuyết ba bình diện
Trào lưu NPCN ra đời và phát triển mạnh trên khắp thế giới trong những năm cuối thế kỉ XX sau khi ngữ pháp miêu tả và ngữ pháp sản sinh đã bộc lộ rõ tất cả sự bất lực của nó Trào lưu NPCN đã tận dụng và khai triển những thành tựu cơ bản của các khuynh hướng chức năng luận như tín hiệu học Ch.S Pierce, lí thuyết hành động ngôn từ J.L.Austin, đã nhờ ý thức triệt để chức năng giao tiếp và nội dung logic của ngôn ngữ mà xây dựng được cơ sở cho một lí thuyết ngôn ngữ học có sức phát hiện và giải thích được những cơ chế hoạt động chung của nhân loại, và do đó
mà có năng lực miêu tả một cách chính xác các ngôn ngữ thuộc đủ các loại hình NPCN là một khuynh hướng, hay một trường phái nghiên cứu ngôn ngữ giai đoạn hậu cấu trúc với những tên tuổi lớn của ngôn ngữ học trên thế giới: Ch.N Li và S.A.Thompson (1976), Dyvik (1984), Tesnière, Ch Fillmore (1968), S.Dik (1989), M.A.Halliay (1985), Martin (2006), v.v
Ở Việt Nam, bước sang những năm 90 của thế kỷ XX, lĩnh vực nghiên cứu cú
pháp học tiếng Việt có được “làn gió mới” với việc công bố cuốn Tiếng Việt - Sơ thảo ngữ pháp chức năng của Cao Xuân Hạo [20] Nét đặc sắc của công trình là
tinh thần chống chủ nghĩa “dĩ Âu vi trung” triệt để trong nghiên cứu câu tiếng Việt Cao Xuân Hạo cho rằng đối với một thứ tiếng đơn lập, không biến đổi hình thái như tiếng Việt, cái CTCP cơ bản phải là một CTCP khác: CT Đ-T Hai thành tố của cấu trúc này tương ứng với hai thành phần của một hành động nhận định hay hành động mệnh đề Về phương diện hình thức, trong tiếng Việt, ranh giới của đề và thuyết
được đánh dấu bằng khả năng chen thêm các tác tử thì, là (đôi khi mà) Cấu trúc của
câu trần thuật được “chia hết” cho hai phần đề, thuyết Câu có thể có một bậc hoặc nhiều bậc đề - thuyết (Về các khuynh hướng nghiên cứu cú pháp, xem thêm:
Nguyễn Văn Hiệp, Cú pháp tiếng Việt [25])
Trong trào lưu áp dụng NPCN - hệ thống của Halliday vào tiếng Việt, Hoàng Văn Vân [51] đã khảo sát bình diện nghĩa kinh nghiệm của cú tiếng Việt, Diệp Quang Ban [6] áp dụng mô hình của Halliday để phân tích câu tiếng Việt một cách toàn diện theo 3 siêu chức năng (siêu chức năng kinh nghiệm, siêu chức năng liên nhân, siêu chức năng văn bản) Việc áp dụng lí thuyết của Halliay để phân tích câu
Trang 25tiếng Việt có nhiều điểm mới mẻ so với ngữ pháp truyền thống
Tóm lại, có thể hiểu NPCN là một lí thuyết và một hệ phương pháp được xây trên quan điểm coi ngôn ngữ như một phương tiện thực hiện sự giao tiếp giữa người với người
Đối với tiếng Việt, sau một số thử nghiệm theo đường hướng của chủ nghĩa cấu trúc (với những thành công nhất định nào đó), hiện nay ngày càng có nhiều ý kiến cho rằng ngữ pháp học phải xây dựng một cách tiếp cận mang tính ngữ nghĩa Theo tác giả Nguyễn Văn Hiệp, nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt nên tiếp cận đi từ chức năng đến hình thức [24] Cách tiếp cận này xuất phát từ những kiểu nghĩa có thể được diễn đạt trong câu mà định dạng các phạm trù hình thức tương ứng, được Jan Nuyts (2001) diễn đạt một cách ngắn gọn như sau: “lấy phạm trù ngữ nghĩa là điểm xuất phát mà xem những biểu hiện ngôn ngữ học của nó” (Dẫn theo [24, tr.328]) Cách nghiên cứu này chỉ giới hạn trong câu đơn, bởi lẽ cấu trúc câu ghép hay câu phức bao giờ cũng được xem là một dạng phái sinh của cấu trúc câu đơn Nguyễn Văn Hiệp đã đưa ra khung miêu tả cú pháp tiếng Việt theo cách tiếp cận
ngữ pháp ngữ nghĩa với 5 cấp độ: cấp độ cốt lõi sự tình của câu; cấp độ khung câu; cấp độ các chỉ báo tình thái của câu; cấp độ các chỉ báo cho lực ngôn trung tiềm tàng của câu; cấp độ cấu trúc thông điệp của câu
Với quan điểm nghiên cứu cơ chế ngôn ngữ gắn với hoạt động giao tiếp,
NPCN có nhiệm vụ nghiên cứu, miêu tả và giải thích các quy tắc chi phối hoạt động của ngôn ngữ trên các bình diện của mặt hình thức và nội dung trong mối liên
hệ có tính chức năng (tức là mối liên hệ giữa phương tiện thể hiện và mục đích thể hiện) thông qua việc quan sát cách sử dụng ngôn ngữ trong những tình huống giao
tế hiện thực, không chỉ nhằm lập danh sách đơn vị, xác định hệ thống và tiểu hệ thống ngôn ngữ mà còn nhằm theo dõi cách hành chức của ngôn ngữ qua những biểu hiện sinh động của nó trong khi được sử dụng [20, tr.18] Mối liên hệ giữa
phương tiện thể hiện và mục đích thể hiện hiểu theo quan điểm NPCN không phải
là mối quan hệ giữa hai bình diện mà là ba bình diện: kết học (syntactics), nghĩa học (semantics), dụng học (pragmatics) theo lí thuyết kí hiệu học của Ch.Moris (1938)
Nhiệm vụ của kết học là nghiên cứu các kí hiệu trong mối quan hệ với các kí hiệu khác Đây là bình diện cấu trúc hình thức Theo quan điểm NPCN, hình thức
Trang 26ngữ pháp tồn tại chính là để thực hiện chức năng của một công cụ giao tiếp nhất định, nhằm đáp ứng những yêu cầu của giao tiếp và truyền đạt nghĩa, cho nên đây là bình diện chức năng của hình thức
Nhiệm vụ của nghĩa học là nghiên cứu các kí hiệu trong mối quan hệ với các
sự vật ở bên ngoài hệ thống kí hiệu Đây là bình diện nghĩa phản ánh thực tại một cách khách quan theo bản chất của kí hiệu, là một mục đích thể hiện của ngôn ngữ Theo quan điểm chức năng, truyền đạt nghĩa chính là nhiệm vụ trung tâm của ngôn ngữ, cho nên đây là bình diện chức năng ngữ nghĩa
Nhiệm vụ của dụng học là nghiên cứu các kí hiệu trong mối quan hệ với người
sử dụng chúng, cụ thể là nghiên cứu nội dung của ngôn từ trong những tác dụng qua lại của nó với tình huống bên ngoài, với ngữ cảnh, với người tham gia giao tiếp bằng ngôn ngữ, tức là nghiên cứu trực tiếp cách sử dụng ngôn ngữ trong sinh hoạt
xã hội Đây là mục đích cuối cùng của ngôn ngữ Vì vậy, bình dện dụng học thực chất là nghiên cứu mặt nội dung, mặt nghĩa trong sử dụng của phương tiện ngôn ngữ Theo quan điểm chức năng, đây là bình diện chức năng giao tiếp (chức năng quan trọng nhất của ngôn ngữ)
Như vậy, NPCN coi cả ba bình diện kết học, nghĩa học, dụng học của ngôn ngữ
là ba bình diện chức năng và thực hiện cách tiếp cận chức năng với cả ba bình diện
Mặt khác, mục đích thể hiện của ngôn ngữ nằm ở cả hai bình diện nghĩa học và dụng học (nội dung) Tất yếu là bình diện kết học (hình thức) phải đồng thời chuyển tải cả
hai bình diện của nội dung Giữa ba bình diện này có mối quan hệ khăng khít Do đó không thể hiểu thấu đáo bất cứ bình diện nào nếu không liên hệ với hai bình diện còn lại, và nhiệm vụ của NPCN là xác minh các mối quan hệ giữa cả ba bình diện Vì thế, việc phân tích câu tiếng Việt từ lí thuyết ba bình diện là rất cần thiết
1.2.2 Các quan điểm cụ thể
a Quan điểm của S.Dik
S Dik đã nêu ra hai mô hình tiếp cận ngôn ngữ, trong đó có những vấn đề thuộc cú pháp:
(1) Ở mô hình hình thức, ngôn ngữ được xem là đối tượng trừu tượng (một tập hợp câu), và ngữ pháp trước hết được hiểu như là một nỗ lực đặc trưng hóa đối tượng này dưới dạng các quy tắc hình thức của cú pháp được áp dụng độc lập với
Trang 27nghĩa và với cách sử dụng của cấu trúc được miêu tả
(2) Ở mô hình chức năng, ngôn ngữ trước hết được hiểu như là một công cụ tương tác xã hội giữa người và người, được dùng vào mục đích chủ yếu là thiết lập quan hệ giao tiếp giữa người nói và người nghe S Dik đã đi theo quan niệm ba bình diện của câu [40] Dik xác nhận cương vị của các yếu tố thuộc mỗi bình diện trong cách tổ chức tam phân này được xác định như sau:
Các chức năng nghĩa học: xác định những vai trò mà các sở chỉ của các danh
ngữ đảm nhận trong cái sự tình do cái khung vị ngữ chứa đựng các danh ngữ đó
biểu hiện; Các chức năng cú pháp: xác định cách trình bày cái sự tình đó theo cách sắp xếp của CTCP; Các chức năng dụng pháp: xác định cương vị thông báo của các
thành tố trong cái khung ngôn từ rộng hơn câu chứa đựng các thành tố đó
Bình diện nghĩa học được hiểu là bình diện của “sự tình” được biểu đạt và những “vai trò” tham gia sự tình ấy gọi là tham tố của sự tình, bao gồm: hoạt tố (diễn tố) và chu tố (những yếu tố đứng xung quanh) Hoạt tố là những vai trò tất yếu
được giả định sẵn trong nghĩa của vị từ Chu tố không được giả định một cách tất nhiên trong khung vị ngữ: đó là những điều kiện thời gian, không gian, cách thức, phương tiện hoặc những nhân vật có liên quan.Ví dụ:
(1) Ông tặng chiếc dây chuyền cho vợ trong dịp kỉ niệm 20 năm ngày cưới
Dik đã tiếp thu quan điểm của C.Fillmore và sử dụng các thuật ngữ như: hành thể, đối thể, tiếp thể để phân biệt các hoạt tố theo chức năng nghĩa học Các chu tố cũng được phân biệt theo chức năng nghĩa học thành: đích, nguồn, vị trí, thời điểm… Ví dụ:
(2) Anh ấy tặng tôi một cuốn sách nhân ngày sinh nhật của tôi
Bình diện dụng học là bình diện của việc sử dụng ngôn từ trong những tình
huống cụ thể, đối thoại cụ thể, trong những ngữ cảnh cụ thể vào những mục đích cụ thể Theo quan niệm của Dik, thuộc bình diện này có CT Đ-T và CTTT Ví dụ:
Trang 28(3) John/ gives a book to Susan
Đề vĩ
Trong câu này, nếu được dùng để trả lời cho câu hỏi: “What’s John doing?” thì
phần vĩ của câu là TĐ thông báo Nếu câu trên được dùng để trả lời cho câu hỏi “Who
John give a book to?” thì “Susan” là TĐ thông báo của câu
Bình diện kết học là bình diện của những khái niệm được xác định bằng những tiêu chuẩn hình thức thuần túy chức năng ngữ pháp như chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, định ngữ được xác định không phải căn cứ vào việc ngữ đoạn đó biểu hiện cái gì,
mà vào mối quan hệ ngữ pháp với các ngữ đoạn khác được biểu đạt bằng những phương tiện hình thức gọi là tác tử cú pháp như hình thái cách hoặc các chuyển tố,
các giới từ, bằng sự phù ứng của vị từ về số, ngôi với một danh từ nhất định Ví dụ: (4) John gives a book to Susan on her birthday
Chủ ngữ vị ngữ bổ ngữ bổ ngữ gián tiếp trạng ngữ Như vậy, theo quan niệm của Dik, các bình diện của câu thực hiện các chức
năng nhất định Bình diện kết học thực hiện chức năng biểu thị mối quan hệ của các
yếu tố ngôn ngữ trong câu (chức năng được xác định dựa vào mối quan hệ ngữ pháp
giữa các ngữ đoạn được biểu đạt bằng các phương tiện hình thức) Bình diện nghĩa học thực hiện chức năng biểu thị vai trò của những yếu tố tham gia vào sự tình phản ánh thực tại khách quan Bình diện dụng học thực hiện chức năng biểu thị cương vị
thông báo của các yếu tố trong tình huống giao tiếp cụ thể nhằm những mục đích cụ thể Cả ba bình diện chức năng này đều tham gia vào việc xác lập cả hai mặt hình thức và nội dung của các biểu thức ngôn ngữ Ví dụ:
(5) John gives a book to Susan on her birthday
b Quan điểm của Halliday
Mô hình tam phân của Halliday khác với mô hình tam phân của Dik ở chỗ cả
Trang 29ba bình diện của câu đều thuộc mặt nghĩa Ông coi câu là sản phẩm của ba quá trình biểu nghĩa diễn ra đồng thời Nó vừa là một sự biểu hiện của kinh nghiệm vừa là một sự trao đổi có tính chất tác động lẫn nhau, vừa là một thông điệp Ba bình diện nghĩa này được gọi là nghĩa ý niệm, nghĩa liên nhân và nghĩa văn bản
Nghĩa ý niệm là sự biểu hiện của những kinh nghiệm về thế giới quanh ta,
trong ta, tưởng tượng của ta Chức năng ý niệm của câu là biểu hiện của những sự
tình: hành động, biến cố, quá trình tâm lí, quan hệ Nghĩa liên nhân là nghĩa có hình
thức như một sự tác động Chức năng liên nhân của câu là sự luân phiên thay đổi vai trò trong những cách tác động lẫn nhau bằng ngôn từ: những nhận định, câu hỏi, những đề nghị, mệnh lệnh kèm theo những tình thái nhất định CT C-V thuộc bình
diện này Nghĩa văn bản là tính quan yếu đối với ngữ cảnh: chức năng văn bản của
câu là xây dựng một thông điệp CT Đ-T là hình thức cơ bản của tổ chức câu như một thông điệp Đề là cái mà người nói chọn làm điểm xuất phát, là phương tiện khai triển câu Nhưng trong toàn bộ kết cấu của đề, những yếu tố của cả ba chức năng đều có thể góp phần vào đó
Như vậy, cả ba bình diện của mô hình tam phân này đều thuộc mặt nghĩa Halliday đưa CT C-V (mà các tác giả khác đặt vào bình diện cú pháp được quan niệm như một bình diện thuần túy hình thức) vào bình diện nghĩa liên nhân Quan
hệ giữa chủ ngữ và vị ngữ, theo ông, có tác dụng đổi ngôi trong đối thoại và có tác dụng “biểu thức”
c Quan điểm của Cao Xuân Hạo
Với quan niệm CT C-V chỉ thích hợp cho việc miêu tả các thứ tiếng châu Âu, Cao Xuân Hạo cho rằng CTCP cơ bản của tiếng Việt phải là CT Đ-T Hai thành tố của cấu trúc này tương ứng với hai thành phần của một hành động nhận định hay hành động mệnh đề Trong tiếng Việt, ranh giới của đề và thuyết được đánh dấu bằng khả năng thêm các tác tử “thì, là, mà” Cấu trúc câu trần thuật “chia hết” cho hai thành phần đề, thuyết và câu có thể có một hoặc hai bậc đề thuyết trở lên
Theo Cao Xuân Hạo, cách tiếp cận chức năng là thích hợp nhất để miêu tả ngữ pháp tiếng Việt Cách tiếp cận chức năng đã nhìn thấy sự thống nhất của ba bình diện
nghiên cứu câu là kết học, nghĩa học và dụng học Song, chính tác giả cũng băn
khoăn: lĩnh vực còn nhiều chỗ mơ hồ nhất là nội dung của bình diện dụng học, vì các
Trang 30tác giả đi trước cũng chưa ai vạch được một biên giới rạch ròi giữa những hiện tượng ngôn ngữ học thực sự và hiện tượng phi ngôn ngữ học Ngoài ra, khái niệm đề - thuyết mà mọi người đều nhất trí thừa nhận là trọng yếu đối với lí luận ngôn ngữ và
có tính cách phổ quát tuyệt đối nhưng lại được quan niệm theo nhiều cách khác nhau
và được xếp vào các bình diện khác nhau của ngôn ngữ Cao Xuân Hạo không thực
sự đồng tình với việc xếp CT Đ-T vào bình diện dụng học
Có thể khẳng định chắc chắn rằng, Cao Xuân Hạo là người đã thúc đẩy việc nghiên cứu cú pháp tiếng Việt chuyển sang một bước phát triển mới theo đường hướng chức năng và ngữ nghĩa Sự cân đối và giản dị trong giải pháp dùng CT Đ-T
để miêu tả câu tiếng Việt là một trong những ưu điểm nổi bật của tác giả
1.2.3 Câu tiếng Việt nhìn từ bình diện kết học
a Phân tích câu theo cấu trúc chủ - vị
Ở Việt ngữ học, cho đến nay, đây là hướng phân tích CTCP câu tiếng Việt phổ biến nhất, hiện vẫn được sử dụng trong ngữ pháp nhà trường Hướng phân tích này chịu ảnh hưởng cách tích phân tích cấu trúc câu theo quan hệ chủ - vị của ngữ pháp truyền thống châu Âu, đặc biệt là ngữ pháp tiếng Pháp
Trong các công trình nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt đầu tiên đi theo hướng này (Trần Trọng Kim [34], Phan Khôi [32], Bùi Đức Tịnh [47]), CTCP của câu thường được mô tả qua khái niệm mệnh đề với nòng cốt là CT C-V Theo Trần
Trọng Kim thì phép đặt câu là phép đặt các tiếng thành mệnh đề và đặt các mệnh
đề để lập thành câu Mệnh đề bao gồm hai thành phần chính là chủ từ (tiếng đứng làm chủ) và động từ hay tính từ (chỉ cái dụng hay cái thể của chủ từ); ngoài ra còn
có túc từ phụ thêm cho chủ từ, động từ, tính từ [34, tr.21-29]
Để mô tả CTCP của câu đơn, Phan Khôi đã xác định một danh sách thành phần câu đầy đủ hơn (gồm 6 thành phần: chủ ngữ, vị ngữ, tân ngữ, bổ túc ngữ, hình dung phụ gia ngữ và phó từ phụ gia ngữ), trong đó chủ ngữ và vị ngữ được coi là hai thành phần chủ yếu của câu [32] Điều đáng lưu ý là Phan Khôi đã thay thế các thuật ngữ chủ từ/động từ bằng các thuật ngữ chủ ngữ/vị ngữ, phản ánh đúng hơn bản chất ngữ pháp (chức năng chứ không phải từ loại) và tính cấp độ (ngữ chứ không phải là từ) của các thành phần câu hữu quan Quan điểm cho rằng CTCP của câu (câu đơn) tương ứng với CT C-V của mệnh đề ngữ pháp (cú) được các nhà Việt
Trang 31ngữ học kế thừa và phát triển theo những hướng khác nhau Hầu hết các nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục hướng lưỡng phân CTCP của mệnh đề/câu đơn theo quan hệ chủ -
vị và dùng các thuật ngữ cụm từ chủ - vị (Nguyễn Kim Thản), kết cấu chủ - vị (Hoàng Trọng Phiến), cụm chủ - vị (Diệp Quang Ban) hay câu chủ - vị (Lê Xuân
Thại) để chỉ kiểu cấu trúc này Tuy nhiên, một số tác giả khác lại cho rằng CTCP
của câu không phải là một kết cấu chủ - vị mà là một kết cấu TĐ (focal construction) có vị ngữ làm trung tâm và các bổ ngữ TĐ (focal complement), trong
đó chủ ngữ cũng chỉ là một loại bổ ngữ (Thompson 1965), hoặc là một cấu trúc nòng cốt tối giản gồm vị ngữ cùng các tham tố của nó là chủ ngữ và bổ ngữ bắt buộc (Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp)
Mặc dù thống nhất chủ ngữ và vị ngữ là hai thành phần chính của câu đơn/mệnh đề nhưng các tác giả theo hướng phân tích này chưa thống nhất với nhau
về chức năng của chủ ngữ và vị ngữ Một số tác giả cho rằng CT C-V biểu hiện một sự tình, trong đó chủ ngữ thường biểu thị chủ thể của hành động (quá trình hay trạng thái) còn vị ngữ biểu thị hành động (quá trình, trạng thái của chủ thể) Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê quan niệm câu đơn là câu diễn tả một sự tình, trong đó chủ từ biểu thị các chủ thể hay là “chủ sự” của sự tình Tương tự, Diệp Quang Ban coi chủ ngữ là thành phần chính “chỉ ra cái đối tượng mà câu nói
đề cập đến và hàm chứa hoặc có thể chấp nhận cái đặc trưng (hành động, trạng thái, tính chất, v.v…) sẽ được nói ở vị ngữ” [2, tr.119), còn vị ngữ là thành phần chính “nói lên cái đặc trưng vốn có ở vật hoặc có thể áp đặt hợp lý cho vật nói ở chủ ngữ” [2, tr.142] Nói tóm lại, theo cách tiếp cận này, CT C-V có chủ ngữ trùng với chủ thể logic của sự tình
Theo một số tác giả khác thì CT C-V không chỉ có chức năng biểu hiện sự tình
mà còn có chức năng truyền tải một thông điệp (hay biểu hiện một phán đoán) Khi nói về câu, Bùi Đức Tịnh [47] cho rằng câu cho biết người hay vật được nói đến và trình bày một việc xảy ra cho người ấy hay vật ấy Trên cơ sở đó, tác giả đã định nghĩa chủ ngữ và vị ngữ bằng chức năng của chúng trong việc tổ chức thông điệp chứ không phải bằng chức năng biểu hiện sự tình Theo cách hiểu này thì kết cấu chủ - vị có chủ ngữ không chỉ trùng với chủ thể logic mà cả với chủ thể tâm lý (“cái được nói tới”) của phán đoán Sau Bùi Đức Tịnh, nhiều tác giả khác như Nguyễn
Trang 32Kim Thản, Lê Xuân Thại cũng nhấn mạnh đến chức năng tổ chức thông điệp của
CT C-V khi cho rằng chủ ngữ biểu hiện “sở đề” hay “cái nói đến” còn vị ngữ biểu thị “sở thuyết” hay “thuyết minh cho chủ ngữ” Với cách nhìn này, hướng phân tích theo CT C-V tiến gần đến hướng phân tích câu theo CT Đ-T Tuy nhiên ngay cả khi thay đổi cách nhìn về chức năng của CT C-V, mở rộng hơn ngoại diên của chủ ngữ và bổ sung thêm các chức năng khác như chủ đề, hay khởi ngữ… thì cách phân tích câu theo quan hệ chủ - vị cũng chỉ bao quát được một phạm vi rất hạn hẹp các kiểu câu của tiếng Việt mà thôi
Dù vậy, thành tựu của việc phân tích câu tiếng Việt theo CT C-V là đã nêu được ý nghĩa logic của chủ ngữ và vị ngữ; đồng thời nhận diện và miêu tả vị ngữ thông qua cấu tạo của đoản ngữ động từ, tình từ
b Phân tích câu theo CT Đ-T
Hướng phân tích câu theo CT Đ-T xuất hiện trong Việt ngữ học trước hết do sự bất cập của hướng phân tích theo CT C-V Khi chuyển từ việc coi kết cấu chủ - vị có chức năng biểu thị sự tình sang chức năng truyền tải thông điệp (biểu thị một phán đoán hay nhận định), nhiều nhà nghiên cứu theo quan điểm chủ - vị đã thấy rằng các kết cấu chủ - vị có chủ ngữ trùng với chủ thể tâm lí Ví dụ [10, tr.3]:
(6) Giáp biết chuyện ấy
(7) Họ giỏi lắm
cũng có những trường hợp, chủ ngữ không trùng với chủ thể tâm lí Ví dụ:
(8) Cái gì Giáp cũng biết
(9) Bộ đội họ giỏi lắm
Để phân biệt các chủ thể tâm lí không trùng với chủ ngữ, các nhà nghiên cứu
đã đề xuất thêm một thành phần câu mới là chủ đề (Trương Văn Chình - Nguyễn Hiến Lê), khởi ngữ (Nguyễn Kim Thản), đề ngữ (Diệp Quang Ban) Như vậy, thực chất việc đưa thêm các khái niệm chủ đề, đề ngữ hay khởi ngữ… chỉ là một giải
pháp tình thế nhằm khắc phục sự chênh nhau giữa chủ ngữ (ngữ pháp) và chủ thể tâm lí, và điều đó cũng cho thấy sự hạn chế của kết cấu chủ - vị nói chung và khái niệm chủ ngữ nói riêng Để tránh những bất cập này của cách tiếp cận chủ - vị, với quan niệm coi câu là một ngữ đoạn kết thúc, mang một thông báo hoàn chỉnh, tác giả Lưu Vân Lăng đã đề xuất cách phân tích câu theo CT Đ-T thay cho cấu trúc
Trang 33chủ - vị, trong đó khái niệm đề được mở rộng, bao gồm không chỉ các chủ ngữ ngữ pháp điển mẫu (trùng với chủ thể logic và chủ thể tâm lí) mà cả một số trường hợp
được các tác giả khác coi là khởi ngữ hay đề ngữ (Cái gì, anh Giáp cũng biết) thậm chí là trạng ngữ (Xã bên, lúa tốt) CT Đ-T được Lưu Vân Lăng phân biệt với cấu trúc thông tin cũ – mới của lí thuyết phân đoạn thực tại và được áp dụng không chỉ
cho câu mà cho cả cú [31, tr.17]
Tác giả Cao Xuân Hạo là người đầu tiên áp dụng một cách triệt để quan hệ
đề - thuyết vào việc phân tích CTCP câu tiếng Việt Theo đó, câu với tư cách là đơn vị “thông báo một mệnh đề” hay “phản ánh một nhận định” được cấu trúc hóa thành hai phần đề và thuyết, trong đó “đề là điểm xuất phát, là cái cơ sở, cái điểm tựa làm bàn đạp cho đà triển khai của câu” ở phần thuyết [20 tr.154] Với cách
hiểu này, trong CT Đ-T của Cao Xuân Hạo, phần đề không chỉ bao gồm các chủ ngữ điển mẫu (Tôi xem phim này rồi), chủ đề hay khởi ngữ (Tôi tên là Nam, Phim này tôi xem rồi) mà cả những trường hợp các tác giả khác coi là trạng ngữ (Ở đây mọi người đều làm việc), tình thái ngữ (Theo tôi, Nam thế nào cũng trúng cử), thành phần câu ghép (Cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy) hoặc bị gạt sang một bên như những trường hợp ngoại lệ (Chó treo, mèo đậy; Cần tái, cải nhừ) Cách phân tích
theo quan hệ đề - thuyết như vậy được Cao Xuân Hạo không chỉ áp dụng cho câu
mà cả ngữ đoạn dưới câu là tiểu cú Mặc dù còn nhiều tranh cãi nhưng không thể không thừa nhận rằng cách phân tích cấu trúc câu theo quan hệ đề - thuyết của Cao Xuân Hạo đã giải quyết được hàng loạt các trường hợp bế tắc nếu phân tích theo quan hệ chủ - vị và mở ra khả năng ứng dụng vào việc dạy viết và chữa lỗi câu tiếng Việt cho người Việt và người nước ngoài theo một cách tiếp cận mới
Trật tự đề trước thuyết sau là trật tự bình thường trong hầu hết các câu tiếng
Việt Những trường hợp có trật tự ngược lại rất hiếm hoi, vì đề biểu thị sở biểu của mệnh đề, là cái điểm xuất phát của một nhận định trong tư duy, và do đó không đồng nghĩa với nhau Chẳng hạn, có hai người đi trên đường, kẻ trước người sau, ta
có thể có hai nhận định khác nhau:
(10) Tôi đi trước Nam
(11) Nam đi sau tôi
Cùng một sự kiện nhưng câu (10) nhận định về tôi, lấy tôi làm đề, còn câu
Trang 34(11) nhận định về Nam, lấy Nam làm đề Cả hai câu trên không đồng nghĩa với nhau
mặc dù chúng cùng chỉ một hiện tượng, một sự tình
Theo Cao Xuân Hạo, CT Đ-T của câu tiếng Việt có thể nhận ra rất dễ dàng
nhờ hai công cụ: thì và là (đôi khi mà) Ranh giới đề - thuyết của một câu là chỗ nào
có thì hay là, hoặc có thể thêm thì hay là mà nghĩa nguyên văn của câu được giữ nguyên Tuy nhiên, có khi từ thì trong câu lại không phải là dấu hiệu phân giới đề -
thuyết của câu mà là một CT Đ-T nhỏ hơn câu Ví dụ:
(12) Con tôi đứa thì đi học, đứa thì đi làm
(13) Món này ăn thì ngon nhưng làm thì mất công
(14) Việc này không chống thì chầy cũng sẽ đưa đến kết quả xấu
(15) Anh em ở đây không ít thì nhiều đều có đóng góp
Trong câu (12) và (13), thì đánh dấu biên giới đề - thuyết của hai tiểu cú làm thuyết ghép của câu Ở câu (14) và (15), thì đánh dấu đề - thuyết trong vế câu phụ
chú Xét một ví dụ khác, chẳng hạn:
(16) Hình như anh hài lòng lắm thì phải
Trong câu này, anh hài lòng lắm là nội dung của mệnh đề Phần thuyết thì phải không ứng với nội dung của sở thuyết của mệnh đề, chỉ là một yếu tố tình thái
Ranh giới đề - thuyết ở đây chỉ là hình thức Thuyết của câu chỉ là thuyết tình thái -
“thuyết giả” Nếu mệnh đề “anh hài lòng lắm” được rút gọn lại bằng một đại từ hồi chỉ “thế” hay “vậy” thì phần thuyết có vẻ đỡ hình thức hơn:
(17) Hình như thế thì phải
Nếu lại có một sự so sánh trong phần thuyết ấy (với một phần thuyết của một câu nào đó phía trước), ta có câu:
(18) Hình như thế thì phải hơn
Lúc này phần thuyết của câu không còn là thuyết tình thái nữa mà là một phần thuyết thật sự, biểu thị sở thuyết của một nhận định Cũng cần lưu ý rằng, bên trong các ngữ là đề hoặc thuyết có thể có những tiểu cú làm định ngữ hay bổ ngữ Những cấu trúc tiểu cú này không làm thành một bậc thấp hơn, vì chúng không trực tiếp cấu tạo thành đề hay thuyết của bậc trực tiếp trên
(19) a Điều ta không muốn thì không nên làm cho người khác
b Bằng lòng hay không thì cũng nói cho người ta biết
Trang 35Ở câu (19)a, tiểu cú ta không muốn làm định ngữ cho điều, trong câu (19)b, người ta biết làm bổ ngữ cho nói Các tiểu cú này không làm cho câu có thêm bậc
mà chỉ làm cho cấu tạo của đề và thuyết thêm phức tạp hơn mà thôi [21, tr.73] Theo quan niệm của Cao Xuân Hạo thì CT Đ-T thuộc tổ chức cú pháp của
câu, cấu trúc nêu - báo thuộc tổ chức thông báo của câu Vì vậy, CT Đ-T có tính ổn
định, không lệ thuộc ngữ cảnh, còn cấu trúc nêu - báo có tính không ổn định vì hoàn toàn lệ thuộc ngữ cảnh hoặc tình huống phát ngôn Do đó, CT Đ-T thuộc bình diện kết học chứ không thuộc bình diện dụng học
1.2.4 Câu tiếng Việt nhìn từ bình diện nghĩa học
a Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu
Con người bình thường ai cũng có những hiểu biết nhất định, đó là những kinh nghiệm của người đó Kinh nghiệm là phần làm nên ý nghĩa của từ ngữ nên được gọi là nghĩa kinh nghiệm Nghĩa kinh nghiệm được thể hiện trong những điều người nói trình bày, diễn đạt những hiểu biết của mình về những thứ trong thế giới vật chất và tinh thần nên được gọi là nghĩa biểu hiện (nghĩa miêu tả, nghĩa kinh nghiệm, nghĩa mệnh đề) Các yếu tố ngôn ngữ diễn đạt nghĩa biểu hiện trong một câu kết hợp với nhau làm thành CT NBH CT NBH được phân tích theo kiểu sự việc nêu ở từ làm
vị tố (như động, tĩnh hay quan hệ trừu tượng) và các thực thể góp phần vào việc tạo nghĩa sự việc trong câu Các thực thể này, về mặt nghĩa được phân biệt thành hai loại:
- Thực thể tham gia vào sự việc, gọi là tham thể
- Thực thể chỉ hoàn cảnh như không gian, thời gian, trong đó sự việc diễn ra
gọi là cảnh huống
Tham thể và cảnh huống trong nghĩa vừa nêu thường được gọi dưới tên
chung là vai nghĩa
Như đã biết, nghĩa biểu hiện là kiểu nghĩa phản ánh vật, việc, hiện tượng vào trong câu Sự phản ánh này không phải theo kiểu hình chiếu qua gương soi, mà phản ánh nhận thức của con người Việc phân tích nghĩa biểu hiện trong câu tập trung chủ
yếu ở các hiện tượng: cấu trúc vị tố – tham thể, tham thể và cảnh huống, loại hình sự thể Đây là những mặt cụ thể trong CT NBH của câu Mỗi sự việc thường là một sự
việc động, hay sự việc tĩnh, hay sự việc là quan hệ trừu tượng cùng với các thực thể tham gia vào sự việc đó Tính chất động, tĩnh, quan hệ trừu tượng là thể trạng của sự
Trang 36việc, gọi là sự thể (hay sự tình) Tính chất này tập trung ở vị tố Vị tố là động từ, tính
từ, danh từ làm trung tâm của câu Khi câu chỉ có một từ, trừ thán từ, thì từ đó là vị
tố của câu như trong câu: “Cháy!” Nếu hiểu câu gồm hai bộ phận chính là chủ ngữ
và vị ngữ thì vị ngữ gồm vị tố - tham thể nêu ở bổ ngữ Trong các ví dụ sau đây, vị tố được in đậm
(20) Con mèo cắn con chuột (Sự thể động, động từ)
(21) Nó ngủ (Sự thể tĩnh, động từ)
(22) Nàng rất đáng yêu (Sự thể tĩnh, tính từ)
(23) Ngày mai chủ nhật (Sự thể quan hệ, danh từ)
(24) Nam là học sinh lớp tôi (Sự thể quan hệ, trợ động từ)
Ở các ví dụ trên, ngoài vị tố còn có các từ chỉ các thực thể tham dự vào sự việc
như: con mèo, nó, nàng, ngày mai, Nam, học sinh lớp tôi Đó là các tham thể Các
sự việc phản ánh vào trong câu làm thành mặt nghĩa sự việc của câu, đó chính là nghĩa biểu hiện của câu Cùng một sự việc có thể diễn đạt theo những cách khác nhau trong những câu khác nhau Cách tổ chức phần nghĩa sự việc trong mỗi câu làm thành CT NBH của câu Vị tố và tham thể là hai thành phần chính của CT NBH Vị tố là phần trung tâm (hạt nhân) làm cơ sở cho sự việc được phản ánh trong câu, cùng với các tham thể nêu ở chủ ngữ, bổ ngữ… diễn đạt sự việc đó Vị tố không bao gồm bổ ngữ Nếu phần vị ngữ của câu có chứa động từ tình thái thì động
từ tình thái là chính tố (đầu tố) về mặt cú pháp cụm từ, động từ thực đứng sau là vị
tố làm trung tâm nghĩa của câu Ví dụ:
(25) Cháu tôi thích/ vẽ/ ngôi nhà
ĐTTT Vị tố Các vị tố diễn đạt một trong hai kiểu nghĩa khái quát là nêu đặc trưng (động và
tĩnh) và nêu quan hệ Mối quan hệ giữa vị tố và tham thể tạo thành cấu trúc vị tố - tham thể trong nghĩa biểu hiện, tương ứng về cú pháp với cấu trúc cơ sở của câu
Tham thể xuất hiện do nghĩa của vị tố đòi hỏi, trên cơ sở đó, có thể phân biệt các cấu trúc vị tố - tham thể theo số lượng các thực thể có thể tham dự
- Cấu trúc vị tố - một tham thể Ví dụ:
(26) Nó ngủ (Tĩnh)
(27) Còn tiền (Tĩnh)
Trang 37- Cấu trúc vị tố - hai tham thể Ví dụ:
(28) Nhà tôi xa trường học (Tĩnh)
- Cấu trúc vị tố - ba tham thể Ví dụ:
(29) Nam gửi cho An/ một lá thư (Động)
- Cấu trúc vị tố - zero tham thể Trường hợp này chỉ thuộc về kiểu câu danh từ không có chủ ngữ Ví dụ: “Chuột!”; “Chạy!”
b Nghĩa tình thái của câu
Tình thái là phần nghĩa rất phức tạp, và được hiểu rất khác nhau Nếu chỉ xem xét phần nghĩa tình thái thì gọi là nghĩa tình thái liên nhân trong phạm vi câu Theo cách hiểu đó, phần nghĩa tình thái được tách ra khỏi phần thuộc nghĩa biểu hiện của câu Nghĩa liên nhân, hiểu khái quát là phần nghĩa phản ánh thái độ của người nói vào trong câu
Trong logic học, khái niệm tình thái gắn với sự phân loại các phán đoán, các
mệnh đề logic dựa trên dựa trên những đặc trưng cơ bản của hai thành phần chủ từ
và vị từ, xét ở mức độ phù hợp của phán đoán trong thực tế Ví dụ câu: Tấm vải này khổ hẹp quá là một phán đoán Phán đoán bao giờ cũng có ba nhóm lớn: khả năng,
tất yếu và hiện thực Phán đoán khả năng phản ánh xác suất có mặt hay vắng mặt của một đặc trưng nào đó ở đối tượng Ví dụ:
(30) Tôi có thể nhấc nổi tảng đá này
Phản ánh tất yếu phản ánh những nội dung nhận thức mà đặc trưng nêu ở vị từ
có ở đối tượng trong mọi điều kiện, mọi thế giới khả năng.Ví dụ:
(31) Cái bàn này làm bằng gỗ
Phản ánh hiện thực xác nhận sự có mặt hay vắng mặt của một đặc trưng ở một đối tượng nào đó Ví dụ:
(32) Cái ví không có trong túi xách này
Cả ba loại phán đoán trên đều là tình thái khách quan, tồn tại trong hiện thực khách quan Loại tình thái này không có môi trường giao tiếp và nhân tố giao tiếp
Tính tình thái trong ngôn ngữ được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu,
tuy nhiên, “hai chữ tình thái vẫn còn đi đôi với nhiều định kiến sai lạc” (Cao Xuân Hạo) Hiểu một cách chung nhất, đưa ra một phát ngôn có nghĩa là thông tin về một
sự tình Trong thông tin sự tình ấy có hai bộ phận: (1) nghĩa sự tình (thông tin về sự
Trang 38thể trong phát ngôn ấy); (2) thông tin tình thái (thuộc về bình diện tâm lí, thể hiện cảm xúc và thái độ của người nói đối với điều được nói ra ấy) Điều này cho ta biết
sự tình được nêu ra trong phát ngôn là tất yếu, là khả năng hay hiện thực, khẳng định hay phủ định, và mức độ cam kết của người nói đối với điều được nói ra Chẳng hạn, một sự tình là “bây giờ 9 giờ”, chúng ta có thể thể hiện những nội dung tình thái khác nhau:
(33) Bây giờ là 9 giờ
(34) Mới có 9 giờ thôi
(35) Bây giờ đã 9 giờ
là hơi muộc so với thời gian ước định, cần phải khẩn trương lên Trong câu (38), nghĩa tình thái là người nói không chắc chắn về câu trả lời của mình, và có thể thời gian là 9 giờ hoặc gần tới 9 giờ Ở câu (39), nghĩa tình thái cũng tương tự câu (38) nhưng người nói muốn nhắc người nghe rằng đã quá thời gian quy định
Nhiều nhà nghiên cứu đã phân biệt tình thái chủ quan và tình thái khách quan
để làm rõ hơn về nghĩa tình thái trong ngôn ngữ Đặc điểm quan trọng nhất để phân biệt tình thái khách quan và tình thái chủ quan là vai trò của người nói hay tính chủ quan của người nói về sự đánh giá, mức độ cam kết của người nói về điều được nói
ra Logic học chỉ quan tâm đến tình thái khách quan với ba tham số là: hiện thực/ phi hiện thực, tất yếu/ không tất yếu, có thể/không thể và trình bày sự việc như nó vốn có, loại trừ vai trò của người nói Trong khi đó, vai trò của người nói trong tình thái chủ quan (trong ngôn ngữ học) được coi trọng đặc biệt
Trang 391.2.5 Câu tiếng Việt nhìn từ bình diện dụng pháp
a Cấu trúc thông tin của câu
Vấn đề CTTT (cấu trúc phân đoạn thực tại, cấu trúc thông báo) của câu được Mathesius, thuộc trường phái ngữ học chức năng Praha nêu ra lần đầu tiên năm
1936 Theo đó, tình huống và ngôn cảnh quy định việc chia cấu trúc của câu làm hai
phần: phần nêu (còn gọi là cái cũ, hay cái đã biết, cái cho sẵn) là phần đã có mặt trong ý thức của người nghe trước khi câu được nói ra, còn phần báo (còn gọi là thông tin mới (TTM)) là phần không có mặt trong ý thức của người nghe Cùng một
câu nói, tùy theo tình huống, có thể có nhiều thông tin khác nhau Ví dụ:
(40) Nam/ đi Đà Nẵng (trả lời câu hỏi: Nam làm gì?)
Để đánh dấu câu nói có phần báo đứng trước, có thể sử dụng ngữ điệu hoặc trợ từ
nhấn mạnh, chẳng hạn trong câu sau, trờ từ chính được dùng đề đánh dấu phần báo
(44) Chính qua tâm hồn ta, ta hiểu được tâm hồn mọi người
Các nhà Việt ngữ học trước đây vẫn hay dùng thuật ngữ “cấu trúc thông báo”
để chỉ sự phân đoạn cấu trúc của câu theo vị thế thông tin của các thành tố với hàm
ý khu biệt nó với CTCP và cấu trúc ngữ nghĩa của câu Theo Cao Xuân Hạo, cấu
Trang 40trúc thông báo của câu chỉ có một trọng tâm thông báo hay là TĐ biểu thị TTM, được đánh dấu bằng trọng âm cường điệu Nguyễn Hồng Cổn đã trình bày quan
điểm cho rằng “Cấu trúc thông báo là cấu trúc có một trọng tâm là tiêu điểm thông báo” [9, tr.23] và khẳng định tiêu điểm thông báo là thành tố quan trọng nhất biểu
thị phần thông tin mà người nói giả định là người nói và người nghe không cùng chia sẻ Tiếp tục phát triển quan điểm này, đồng thời tiếp thu quan niệm của một số
nhà nghiên cứu châu Âu, Nguyễn Hồng Cổn cho rằng: CTTT của câu bao gồm 2 phần: phần thứ nhất có chức năng nổi bật về mặt thông tin là TĐTT (information focus) hay gọi tắt là TĐ, phần còn lại được coi là phần cơ sở (background) của CTTT Phạm vi của phần cơ sở và mối quan hệ giữa phần cơ sở và TĐ trong CTTT
do vị trí và tầm tác động của TĐTT quyết định [11, tr.34]
TĐTT là phân đoạn thông tin mà người nói đặc biệt muốn nhấn mạnh, cho là
có giá trị thông báo cao nhất TĐTT là nơi tập trung chú ý của người nói nhằm làm cho người nghe hiểu đúng điều mà người nói muốn khẳng định, nhấn mạnh Nó có thể rơi vào bất cứ thành phần ngữ pháp nào Tiếng Việt thường dùng trọng âm câu hay các trợ từ để đánh dấu TĐTT Tùy theo sự nhấn mạnh một phân đoạn nào đó
mà mỗi câu sẽ có khả năng có nhiều TĐ khác nhau Bất kể thông tin nào, dù là mới hay cũ nếu quan trọng thì đều mang tính TĐ, một khi mang tính TĐ thì thông tin đó
được coi là mới
b Câu và lực ngôn trung của câu
Trong lí thuyết hành động ngôn từ, các phát ngôn có hai loại nghĩa: (1) Nghĩa mệnh đề (propositional meaning) hay còn được gọi là nghĩa ngôn tạo Đây là nghĩa
đen, cơ bản của phát ngôn, nó được truyền đạt bởi các từ và các cấu trúc trong phát
ngôn này (2) Nghĩa ngôn trung (illocutionary meaning) hay còn được gọi là lực ngôn trung (illocutionary force) Đây là hiệu lực mà phát ngôn hoặc văn bản viết có được đối với người đọc và người nghe Ví dụ: Trong phát ngôn “Con đói!”, nghĩa
mệnh đề là cái mà phát ngôn này nói về trạng thái vật chất của người nói Nghĩa ngôn trung là hiệu lực mà người nói muốn phát ngôn có đối với người nghe Đó có thể là ý định yêu cầu “ăn” cái gì đó Một hành động ngôn từ là một phát ngôn có cả nghĩa mệnh đề lẫn nghĩa ngôn trung
Như vậy, vấn đề lực ngôn trung được xem xét trong khung lí thuyết hành động