Nhận thức được tầm quan trọng của việc đào tạo nguồn nhân lực, trong Nghị quyết của Hội nghị lần thứ Hai của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã nêu rõ: định hướng phát triển giáo
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
- -
LÊ THỊ HẢI LÝ
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tình yêu thương con người vào việc giáo dục đạo đức cho học sinh THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng hiện nay
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
SƯ PHẠM GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 21 Lý do chọn đề tài
Hội nhập và hợp tác đang là xu thế phát triển tất yếu của tất cả các quốc gia trên thế giới và Việt Nam cũng không nằm ngoài dòng chảy đó Để đưa đất nước tiến nhanh, tiến mạnh và tiến vững chắc trên con đường phát triển, Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước Hai mươi sáu năm qua, với sự nỗ lực phấn đấu hết mình của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, công cuộc đổi mới đã thu được những thành to lớn và có ý nghĩa vô cùng quan trọng trên nhiều lĩnh vực trong đó tiêu biểu nhất là lĩnh vực kinh tế Đất nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, kinh tế tăng trưởng khá nhanh và ổn định, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đang được đẩy mạnh và thu được nhiều thành tựu to lớn và rất đáng tự hào
Những thành tựu đó là kết quả tổng hợp của nhiều nguồn lực khác nhau trong đó nguồn lực con người đóng vai trò hết sức quan trọng Phát triển nguồn nhân lực vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển Giáo dục đóng vai trò quyết định trong việc đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực
Nhận thức được tầm quan trọng của việc đào tạo nguồn nhân lực, trong Nghị quyết của Hội nghị lần thứ Hai của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã nêu rõ: định hướng phát triển giáo dục của nước ta đó là “nhằm xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức và khoa học công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có tính tổ chức và kỷ luật, có sức khỏe, là những người kế thừa và xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên” như lời căn dặn của Bác Hồ”
(Đảng Cộng sản Việt Nam (24/12/1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ II Ban chấp hành Trung Ương Đảng khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.)
Trang 3Với những định hướng nêu trên, việc đào tạo nguồn nhân lực được đặt lên hàng đầu Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trước hết phải đào tạo từ nhiều khâu, nhiều yếu tố trong đó, việc giáo dục đạo đức cho các thế hệ sau là một yêu cầu đăc biệt quan trọng và cấp thiết Bởi vì Hồ Chí Minh trong một lần nói chuyện với học sinh, sinh viên, đã khẳng định người: “Có tài mà không có đức là người vô
dụng, có đức mà không có tài làm việc gì cũng khó” Người coi trọng cả đức và tài
nhưng đức là “gốc”, tài phải lấy đức làm nền tảng, nếu không có đức thì dù tài giỏi mấy cũng không thể trở thành người có ích cho xã hội Hồ Chí Minh đã dành cả cuộc đời mình để nêu một tấm gương sáng nhất cho nhân dân học tập và noi theo Trong những cống hiến của Người đối với sự phát triển của nhân loại và của dân tộc ta, cống hiến về đạo đức là một trong những cống hiến nổi bật Hồ Chí Minh không chỉ nói nhiều về đạo đức, bổ sung thêm những chuẩn mực đạo đức cho phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước, mà Người còn gương mẫu thực hiện trước nhất, nhiều nhất những chuẩn mực đạo đức do Người nêu lên và đây chính là điểm đặc sắc nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đặc biệt coi trọng việc kế thừa, phát triển và làm theo Những chuẩn mực đạo đức do Hồ Chí Minh chỉ dạy và đặc biệt là tấm gương đạo đức của Người, hiện nay được coi như một phương pháp, phương pháp nêu gương, trong giáo dục đạo đức ở các trường phổ thông, trong xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp ở nước ta
Trong hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức thì tư tưởng về tình yêu thương con người chiếm giữ một vị trí vô cùng quan trọng Tình yêu thương con người của Bác không chung chung, trừu tượng mà rất thiết thực, cụ thể, Người khẳng định: “tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, nhân dân ta được
hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”
[22, 4, 161 – 162] Trong toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác Hồ là lo
Trang 4cho dân, cho nước, đó là tư tưởng xuyên suốt, là đạo đức cách mạng của Bác Hồ
Vì vậy nghiên cứu và học tập những tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh, trong đó
có tư tưởng về tình yêu thương con người là một việc làm rất cần thiết trong bất cứ hoàn cảnh nào
Trong điều kiện ngày nay, khi chúng ta thực hiện kinh tế “mở” thì mặt trái của cơ chế kinh tế thị trường và của internet đã có nhiều tác động tiêu cực đối với việc xây dựng đời sống đạo đức, tư tưởng của xã hội, con người sống vội vã hơn,
lo làm giàu nhiều hơn,…nhưng dường như sự quan tâm giữa con người với con người lại ít hơn, đời sống đạo đức xã hội có xu hướng suy giảm Đây là điều mà cả
xã hội chúng ta đều rất lo lắng
Một trong những vấn đề đáng lo ngại hiện nay, đó là đạo đức học đường của một bộ phận học sinh, trong đó có học sinh THPT ở trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng đang bị xuống cấp, công tác giáo dục đạo đức cho học sinh chưa được chú trọng dẫn đến tình trạng bạo lực học đường xảy ra ngày càng phổ biến, quan hệ thầy trò, bạn bè bị đảo lộn…Điều này không những gây hoang mang cho dư luận
xã hội mà còn gióng lên hồi chuông cảnh báo về lối sống đạo đức của giới trẻ ngày nay Đấy cũng là một trong những hạn chế lớn nhất của việc tuyên truyền học tập
và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Với những lý do khách quan và chủ quan nêu trên, tôi quyết định chọn:
“Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tình yêu thương con người vào việc giáo dục đạo đức cho học sinh THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng hiện nay” làm đề tài
khóa luận của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Yêu thương con người là tư tưởng xuyên suốt trong toàn bộ hệ thống các quan điểm về đạo đức của Hồ Chí Minh Đây cũng là tư tưởng xuyên suốt trong quá trình hoạt động cách mạng của Người, là yếu tố cần thiết để hoàn thiện đạo đức, nhân cách của con người, đáp ứng được yêu cầu của tình hình mới
Trang 5Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, việc nghiên cứu tư tưởng
Hồ Chí Minh về đạo đức, đặc biệt là tư tưởng về tình yêu thương con người đã có nhiều tác phẩm, nhiều bài viết được công bố
Đề cập đến tình yêu thương con người của Bác có tác phẩm “Trái tim quả
đất” của Sơn Tùng Tác giả đã khắc họa được một cách chân thực hình tượng bậc
danh nhân văn hóa kiệt xuất với một tâm hồn tỏa khắp quả đất của thế kỷ XX
Trong cuốn “Trí tuệ và bản lĩnh văn hóa Hồ Chí Minh” của Nxb Công an
nhân dân đã khắc họa được mục tiêu của Chủ tịch Hồ Chí Minh là vì hạnh phúc, tự
do của nhân dân Tác giả cũng đã phân tích xen kẽ những hoạt động và cống hiến khác nhau của Người về tổ chức phong trào thi đua yêu nước, chăm lo đời sống dân sinh và quyền con người…
Các công trình nghiên cứu thể hiện tính đa dạng đã phản ánh một cách khái quát tư tưởng đạo đức nhân văn của Hồ Chí Minh Song cũng đặt ra một yêu cầu là phải nhìn nhận một cách có hệ thống hơn, phải đi sâu tìm hiểu, phân tích cụ thể hơn để thấy rõ được tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, trong đó có tư tưởng về tình yêu thương con người
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích: Mục đích nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu và trình bày một
cách tương đối có hệ thống về tình cảm yêu thương con người và vận dụng tư tưởng của Người vào việc giáo dục đạo đức cho học sinh THPT trên địa bàn Thành
phố Đà Nẵng hiện nay
Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích trên đề tài có những nhiệm vụ sau:
- Chỉ rõ nguồn gốc và nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về yêu thương con
người
- Khái quát được thực trạng về công tác giáo dục tình yêu thương con người
cho học sinh THPT trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng
Trang 6- Đề xuất được một số biện pháp để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức nói chung, chất lượng giáo dục tình yêu thương con người nói riêng cho học sinh
THPT trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng hiện nay
4 Cơ sở lý luận
Đề tài dựa trên cơ sở những quan điểm lý luận cơ bản của chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt
Nam
5 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về tình yêu thương con người
- Nghiên cứu thực tế công tác giáo dục tình yêu thương con người cho học sinh của một số trường THPT trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng
Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài được thực hiện bởi phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử, phương pháp kết hợp cái logic với cái lịch sử, phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp điều tra xã hội học và các phương pháp có liên quan
6 Đóng góp của đề tài
- Đề tài góp phần làm rõ hơn tư tưởng về tình yêu thương con người của Hồ
Chí Minh
- Đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên và
những người quan tâm đến vấn đề này
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 2 chương:
Chương 1: Tư tưởng Hồ Chí Minh về tình yêu thương con người
Trang 7Chương 2: Vận dụng tư tưởng của Hồ Chí Minh về tình yêu thương con người vào việc giáo dục đạo đức cho học sinh THPT trên địa bàn Thành phố
Đà Nẵng hiện nay
Chương 1
Trang 8TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TÌNH YÊU THƯƠNG CON NGƯỜI 1.1 Những nhân tố cơ bản góp phần hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về tình yêu thương con người
1.1.1 Truyền thống đoàn kết, nhân nghĩa của dân tộc, quê hương và gia đình của Hồ Chí Minh
1.1.1.1 Truyền thống đoàn kết, nhân nghĩa của nhân dân Việt Nam
Dân tộc nào trong quá trình sống cũng hình thành nên những truyền thống riêng của mình Truyền thống dân tộc là một trong những thành tố cơ bản góp phần hình thành nên nền văn hóa mang bản sắc riêng, độc đáo của mỗi dân tộc
Ở nước ta, do hoàn cảnh đặc biệt phải chống giặc ngoại xâm và thiên tai khắc nghiệt trong suốt chiều dài lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc Chính trong quá trình đó, các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam sớm hình thành tư tưởng nhân nghĩa và phát triển thành truyền thống nhân văn mang sắc thái riêng của một nền văn hóa độc đáo và lâu đời, đa dạng mà thống nhất như văn hóa Việt Nam
Truyền thống văn hóa “thương người như thể thương thân” là biểu thị của
một tình thương bao la không phân biệt giàu nghèo, giai cấp, dân tộc hay tôn giáo Tình thương ấy phản ánh mối quan hệ tự nhiên và bình đẳng giữa người với người, tức là tình thương đồng loại bao la và sâu sắc Nó khác với quan niệm về chữ
“Nhân” của Khổng Tử chỉ nói “cái gì mình không muốn thì đừng làm với người” Với truyền thống nhân nghĩa Việt Nam, thì không phải là vấn đề muốn hay không muốn mà là coi mình như mọi người, mình nhập thân vào mọi người, cảm thông
sâu sắc trên tinh thần “một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ”
Truyền thống văn hóa “thương người như thể thương thân” ngày càng được
củng cố và phát triển, tạo thành một đặc điểm nổi bật trong tư tưởng văn hóa của dân tộc ta và được truyền từ đời này qua đời khác trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc
Trang 9Ngay từ thời đại các vua Hùng dựng nước, Tổ tiên ta đã sáng tạo ra các truyền thuyết về cội nguồn thiêng liêng của dân tộc mình Người Việt là “con Rồng”, “cháu Tiên”, cùng sinh ra từ “bọc trứng” của mẹ Âu Cơ, nên gọi nhau thân thiết là “đồng bào” Từ lễ “hiếu thảo” của Lang Liêu dâng lên vua cha bánh chưng
và bánh dày, tượng trưng cho trời tròn và đất vuông, lâu dần đã trở thành tục lệ muôn đời của nhân dân ta trong dịp lễ tết Hàng năm, cứ đến ngày giổ Tổ mùng mười tháng ba – ngày nay đã trở thành ngày lễ Quốc Tổ, con cháu bốn phương lại trở về đất Tổ, dâng hương tưởng nhớ các vua Hùng, rước bánh dầy, bánh chưng, rước hạt lúa thần, để “nước non vẫn nước non nhà ngàn năm” Đó là cội nguồn nuôi dưỡng tình yêu xứ sở và khát vọng nhân ái, tự cường của người Việt Nam ta Tiếp theo các vua Hùng, An Dương Vương dựng nước Âu Lạc, xây thành
Cổ Loa từ thế kỷ III trước Công nguyên, đã dựng cột đá thề trên đền Thượng ở đền Hùng Câu chuyện xây dựng Loa Thành, với nỏ thần, mũi tên đồng, cùng mối tình
Mỵ Châu - Trọng Thủy - “trái tim nhầm chổ để trên đầu” - là bài học lịch sử về dựng nước và giữ nước Đến đầu Công nguyên, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa với lời thề: một xin rửa sạch quốc thù, hai xin khôi phục nghiệp xưa họ Hùng Đây
là cuộc khởi nghĩa giải phóng dân tộc vào loại sớm nhất của lịch sử loài người Thế rồi hàng ngàn năm Bắc thuộc, với sự cai trị và đồng hóa tàn bạo, cũng không xóa được sức sống mãnh liệt của nền văn hóa dân tộc Việt Nước mất nhưng làng xã vẫn còn, vẫn giữ được các phong tục truyền thống cộng đồng của cha ông ta từ ngàn xưa Đến chiến thắng Bạch Đằng năm 938, đã chấm dứt ách đô hộ hơn ngàn năm của phương Bắc, tạo điều kiện xây dựng một quốc gia độc lập hoàn toàn Ngô Quyền chọn Cổ Loa làm kinh đô nước Việt, tỏ ý nối tiếp truyền thống các vua Hùng, vua Thục
Các triều đại nhà nước từ: Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Hậu Lê, Tây Sơn,… tuy
có lúc thịnh lúc suy, thời gian dài ngắn khác nhau, nhưng đều có công xây dựng một quốc gia độc lập tự chủ của nền văn minh Đại Việt với những mốc son lịch sử
Trang 10chói lọi Lý Công Uẩn sáng lập triều đại nhà Lý, với tư tưởng thân dân và thương dân đã mở đầu xây dựng nền văn minh Đại Việt và văn hóa Thăng Long Bài thơ
“Nam quốc sơn hà nam đế cư” của Lý Thường Kiệt đã vang lên trên phòng tuyến
sông Cầu chống quân Tống, được coi là bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước
ta Đến cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên - Mông thế kỷ XIII, đế quốc Mông Cổ đã kéo thế giới vào cuộc chiến tranh khủng khiếp suốt từ bờ đông Thái Bình Dương tới biển Hắc Hải, nhưng đã phải ba lần thất bại trước quân dân nhà Trần Trước thế giặc mạnh, cả ba lần nhà Trần phải rút khỏi Kinh đô, khắp nơi làm vườn không nhà trống; lúc có việc thì toàn dân là lính, khi không việc thì trở về nhà làm ruộng Chính sự đoàn kết, nhân ái, kiên quyết chống kẻ thù xâm lược trên tinh thần “vua tôi đồng lòng”, quân - dân cùng gắng sức của quân dân nhà Trần là nguyên nhân giúp nhân dân ta làm nên những chiến công lẫy lừng, ba lần đánh tan giặc Nguyên - Mông
Vậy là trong dòng chảy lịch sử liên tục bốn ngàn năm của dân tộc ta, trang
sử nào cũng thầm đượm tinh thần đoàn kết, nhân nghĩa và khát vọng độc lập tự chủ bền vững, vốn là những truyền thống quý báu đã được dân tộc ta dầy công xây dựng bằng chính lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc mình
Tiếp thu truyền thống đoàn kết, nhân nghĩa của nhân dân Việt Nam, đồng thời nâng cao truyền thống đoàn kết nhân nghĩa ấy, Hồ Chí Minh đã tạo ra một triết lý văn hóa phù hợp với thời đại lấy dân tộc làm cốt lõi, lấy nhân nghĩa làm rường cột, lấy đoàn kết và tinh thần đồng loại làm phương châm hành động, hình thành nên tư tưởng của mình
1.1.1.2 Quê hương và gia đình
Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ngày 19 tháng 05 năm 1890 (năm Canh Dần) tại quê ngoại làng Hoàng Trù, xã Chung Cự (nay là xã Kim Liên), huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An Thuở nhỏ (từ 1 đến 10 tuổi) Hồ Chí Minh có tên gọi là Nguyễn Sinh Cung, sau đó đổi tên là Nguyễn Tất Thành
Trang 11Quê hương của Người là một vùng đất nghèo của huyện Nam Đàn - Nghệ
An Người dân ở đây luôn phải sống trong cảnh nghèo khổ, thường xuyên phải chèo chống với thiên tai khắc nghiệt, quanh năm ruộng đất khô cằn, mới nắng đã hạn, mới mưa đã lũ, mất mùa thường xuyên, cuộc sống vất vả, lam lũ đã in đậm trong tiềm thức của người dân Nam Đàn nói riêng, xứ Nghệ nói chung Những khó khăn vất vả ấy đọng lại trong câu ca dao:
“Làng sen đóng khố thay quần
Ít cơm, nhiều cháo tảo tần quanh năm”
Mặc dù điều kiện tự nhiên hết sức khắc nghiệt nhưng người dân xứ Nghệ rất giàu truyền thống văn hoá và đánh giặc, giữ nước Nơi đây hội tụ nhiều di tích lịch
sử - văn hoá gắn với tên tuổi chiến công của các bậc anh hùng dân tộc như Vương Thúc Mẫu, Nguyễn Sinh Quyến…đã nêu cao được chí khí chống ngoại xâm từ bao đời nay
Hai làng Kim Liên và Hoàng Trù là một miền quê giàu cảnh sắc, với một nền văn hoá dân gian đa dạng và phong phú Biết bao làn điệu dân ca nơi đây đã đi vào lòng người, đậm đà bản sắc dân tộc như: hát ví dặm, đò đưa, hát phường vải Trải qua biết bao biến động, thăng trầm của lịch sử, truyền thống văn hoá đặc sắc của miền quê Kim Liên vẫn không ngừng toả sáng, tự hào
Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước Thân phụ của Người là ông Nguyễn Sinh Sắc, lúc sinh thời Cụ thường nói “Quan trường thị nô lệ trung chi nô lệ, hựu nô lệ” (nghĩa là: Quan trường là nô lệ trong những người nô lệ, lại càng nô lệ hơn) Vốn có lòng yêu nước, khẳng khái, cụ thường tỏ thái độ chống đối bọn quan trường và thực dân Pháp xâm lược Vì vậy, sau một thời gian làm quan rất ngắn, cụ bị chúng cách chức Cụ vào Nam Bộ làm thầy thuốc giúp dân nghèo, sống cuộc đời thanh bạch cho đến lúc qua đời (1929) Đối với các con, cụ Nguyễn Sinh Huy quan tâm tới việc giáo dục lòng trung thực,
Trang 12thẳng thắn, ý thức lao động, lòng yêu nước và những truyền thống tốt đẹp của ông cha
Thân mẫu của Chủ tịch Hồ Chí Minh là bà Hoàng Thị Loan (1868 - 1901), một người phụ nữ hiền hậu, đảm đang, yêu chồng thương con hết mực, chịu khó lao động, bà làm ruộng và dệt vải để nuôi dạy con cái Bằng lao động, bằng cả tấm lòng yêu chồng, thương con, bà Hoàng Thị Loan đã hy sinh tất cả vì chồng con và chính bà đã vun đắp nên cuộc đời sự nghiệp đẹp đẽ cho cả gia đình Những tính cách đó của cụ đã có ảnh hưởng không nhỏ đến nhân cách của Hồ Chủ tịch lúc ấu thơ
1.1.2 Tinh hoa văn hóa nhân loại
1.1.2.1 Tư tưởng và văn hóa phương Đông
Trước khi ra đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã được trang bị và hấp thụ nền văn hóa Quốc học và Hán học khá vững vàng, chắc chắn Khi nói đến tư tưởng và văn hóa phương Đông, trước hết phải nói đến Trung Quốc Dân tộc Trung Hoa có truyền thống văn hóa lâu đời và trở thành một bộ phận tiêu biểu của nền văn minh thế giới Đời sống chính trị Trung Quốc và một số nước Đông Á chịu ảnh hưởng lớn bởi các dòng tư tưởng chính trị: Nho gia, Đạo gia, Pháp gia Tuy còn mang tính sơ khai nhưng các trường phái tư tưởng chính trị Trung Quốc
cổ đại đã đặt nền móng cho sự phát triển các luồng tư tưởng sau này
Từ đầu đời Hán đến cuối đời Thanh, Khổng giáo có ảnh hưởng tới các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa để lại dấu ấn sâu sắc về phương pháp tư duy, quy phạm hành vi đạo đức quốc dân…Học thuyết Nho giáo của Khổng Tử có một ảnh hưởng sâu rộng trong suốt chiều dài lịch sử Trung Quốc và một số nước Châu Á Học thuyết của Khổng Tử chứa đựng những giá trị to lớn, nhất là trên lĩnh vực giáo dục, đạo đức, văn hóa, phát huy yếu tố con người, tư tưởng chính trị lấy dân làm gốc Khổng Tử nêu ra tư tưởng cai trị là một nghề chuyên nghiệp, trong đó “nhân” vừa
là nguyên tắc cơ bản của hành động quản lý, vừa là đạo đức và hành vi của các chủ
Trang 13thể quản lý Cũng như Platon, Khổng Tử đã có quan niệm cao đẹp về chính trị, ông
đã phát hiện ra sức mạnh của lòng nhân ái và đạo đức Điều đáng ca ngợi là Khổng
Tử đã chủ trương không tách rời chính trị và đạo đức Ông đã nâng phạm trù Nhân lên thành Đạo - tức là nguyên tắc sống chung cho xã hội
Kế thừa xuất sắc học thuyết của Khổng Tử, Mạnh Tử chủ trương thiết lập nền chính trị dựa trên nguyên tắc phục tùng đạo đức, được lòng dân và trọng hiền tài nhằm xây dựng một xã hội theo “vương đạo nhân chính”, tức là chế độ phong kiến mà ông đã lý tưởng hóa Những chủ trương đề cao hiền tài và nhìn thấy sức mạnh của dân của Mạnh Tử là yếu tố rất tiến bộ không thể phủ nhận Học thuyết
“vương chính” của ông lấy sự thi hành nhân chính làm nền tảng của vương đạo hàm chứa nhiều yếu tố nhân văn sâu sắc, nhất là tư tưởng chính trị được lòng dân, tính cách mạng, nhân đạo, nhân văn của học thuyết này đã thực sự tiến bộ vượt bậc của tư tưởng phương Đông so với phương Tây cổ đại
Nhìn chung, trong lịch sử dân tộc Trung Hoa, các dòng tư tưởng tuy mang những khuynh hướng trái ngược nhau nhưng chúng không tách biệt và loại trừ nhau mà trái lại luôn bổ sung, hấp thụ để làm giàu lẫn nhau Các tư tưởng, học thuyết của Trung Quốc nói chung, Nho giáo nói riêng đã đề cập đến đạo đức, con người, việc dùng người trong chính trị…Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa có chọn lọc một cách xuất sắc những thành tựu của Trung Quốc nói chung, Nho giáo nói riêng và hình thành nên những phẩm chất, tư tưởng của mình, phục vụ cho cách mạng Việt Nam
Tiếp theo tư tưởng Nho giáo là tư tưởng vị tha ở Phật giáo, Hồ Chí Minh là hiện thân của lòng nhân ái, độ lượng, khoan dung - những nét đặc trưng của giáo lý Phật giáo được Hồ Chí Minh kế thừa gồm:
Thứ nhất là, tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ, cứu nạn, thương người
như thể thương thân
Trang 14Trên bình diện tư tưởng, Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhiều mặt gần gũi, gặp
gỡ với giáo lý Phật giáo Cốt tủy của Phật giáo là Từ bi hỷ xả, Vô ngã vị tha, Cứu khổ cứu nạn Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Tôn chỉ mục đích của đạo Phật nhằm
xây dựng cuộc đời thuần mỹ, chí thiện, bình đẳng, yên vui và no ấm” [32, 4, 39]
Mang khát vọng giải phóng nhân quần ra khỏi cảnh khổ đau, Thái tử Tất Đạt
Đa đã rời bỏ cảnh sống vương giả, xuất gia tìm đạo: “Ta không muốn sống trong cung vàng điện ngọc, Ta không muốn sống trong cảnh vương giả trị vì thiên hạ, hưởng cuộc đời sung sướng cao sang trên mồ hôi nước mắt của lê dân Ta không muốn sống trong xã hội bất công mà Ta đã chứng kiến Ta quyết định ra đi, dù phải xông pha trên gió bụi lao lung, Ta cố tìm ra mối đạo giải thoát cho nhân loại muôn loài” [33, 33] Cùng với hạnh nguyện trên đây của Thái tử Tất Đạt Đa, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan, đã sớm nhận ra cảnh:
“Trên đời nghìn vạn điều cay đắng Cay đắng chi bằng mất tự do”
Điều đó đã thôi thúc Nguyễn Tất Thành bất chấp mọi gian khổ hiểm nguy, bôn ba khắp năm châu bốn biển để tìm đường cứu nước, cứu dân “Tôi muốn đi ra nước ngoài xem nước Pháp và các nước khác Sau khi xem xét họ làm như thế nào
tôi sẽ về gúp đồng bào ta [39, 11]
Cách đây trên 2500 năm, khát vọng công bằng xã hội đã được Đức Thế Tôn nêu lên như một quy luật xã hội, cô đọng lại trong lời dạy nổi tiếng, mang tính vượt thời gian: “Không có đẳng cấp trong dòng máu cùng đỏ, không có đẳng cấp trong dòng máu cùng mặn Mỗi người khi mới sanh không phải có sẵn dấu tin – ca
(tilca) trên trán, không đeo sẵn dây chuyền trên cổ” [6, 92-93] Phật dạy các đệ tử:
“Này các Tỳ kheo! Xưa và nay ta chỉ nói lên sự khổ và diệt khổ”.(Trung Bộ Kinh) Phật giáo chủ trương: “Dĩ chúng tâm kỷ tâm” Đối với Phật giáo, con người là cao hơn tất cả: “Nhân thị tối thắng” Các vị bồ tát xem nỗi đau khổ của chúng sinh
Trang 15là nỗi đau khổ của mình, bao giờ nỗi đau khổ của chúng sinh chưa dứt thì thề chưa thành Phật, ngài Địa Tạng Bồ tát thề nguyện:
“Chúng sanh độ tận phương chứng bồ đề, Địa ngục vị không thệ bất thành Phật”
(Chúng sinh độ hết mới chứng đạo Bồ đề, Địa ngục nếu còn thề không thành Phật) Nhận rõ những giá trị cao đẹp của Phật giáo, có sự gần gũi, gặp nhau với những tư tưởng của Phật giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh bao giờ cũng nhìn Phật giáo trên những nét lớn, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhìn Phật giáo với một thái độ trân trọng: “Nền tảng và truyền thống của triết học Ấn Độ là lý tưởng hòa bình, bác ái Liên tiếp trong nhiều thế kỷ, tư tưởng của Phật giáo, nghệ thuật khoa học Ấn Độ đã
lan khắp thế giới” [31, 201] Năm 1958, khi sang thăm Ấn Độ, Chủ tịch Hồ Chí
Minh nói: “Chúng tôi rất sung sướng được thăm quê hương Đức Phật, quê hương
của một trong những nền văn minh lâu đời nhất thế giới [31, 208] Nhà thơ Huy
Cận viết: “Khi bình sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn có một tấm lòng kính
mộ sâu sắc và cảm động đối với Đức Phật Thích Ca – người sáng lập ra Đạo Phật, cũng như đối với các vị sáng lập những tôn giáo lớn Người đã cảm nhận ở các vị giáo chủ này trước hết là lòng thương cảm sâu sắc đối với bộ phận của những chúng sinh và ý muốn thiết tha làm sao giảm nhẹ hoặc xóa bỏ những nỗi đau khổ
của con người trên trái đất” [5]
Thứ hai, nếp sống có đạo đức, trong sạch, giản dị, chăm lo làm điều thiện… Thứ ba, tinh thần bình đẳng, tinh thần dân chủ chất phác chống lại mọi phân
biệt đẳng cấp
Thứ tư, đề cao lao động, chống lười biếng
Cuối cùng Phật giáo vào Việt Nam, gặp chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đấu tranh bất khuất chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta đã hình thành nên Thiền phái Trúc lâm Việt Nam, chủ trương sống không xa rời, lẫn tránh mà gắn bó với đời
Trang 16sống của nhân dân, đất nước, tham gia vào cộng đồng, vào cuộc đấu tranh của nhân dân, chống kẻ thù dân tộc
Như thế, có thể nói, những mặt tích cực của Phật giáo Việt Nam đã đi sâu vào đời sống tinh thần dân tộc và nhân dân lao động Gia đình Bác Hồ là gia đình nhà Nho nghèo, gần gũi với nhân dân, cũng thấm nhuần tinh thần đó và để lại dấu
ấn trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Ngoài ra, Hồ Chí Minh còn tìm hiểu chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn
và tìm thấy ở đó những điều kiện thích hợp với điều kiện nước ta Các tiêu chí của chủ nghĩa Tam dân là độc lập – dân tộc, dân quyền – tự do, dân sinh – hạnh phúc
đã được Hồ Chí Minh rút gọn lại thành “độc lập – tự do – hạnh phúc” Là người Mác xít tỉnh táo và sáng suốt, Hồ Chí Minh đã biết khai thác những yểu tố tích cực của tư tưởng và văn hóa phương Đông để hình thành nên những tư tưởng của mình, trong đó có tư tưởng về tình yêu thương con người và phục vụ cho sự nghiệp cách mạng ở nước ta
1.1.1.3 Tư tưởng và văn hóa phương Tây
Trong ba mươi năm hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Hồ Chí Minh sống chủ yếu ở châu Âu nên cũng chịu ảnh hưởng rất sâu rộng của nền văn hóa dân chủ
và cách mạng của các nước phương Tây
Khi xuất dương, Người đã từng sang Mỹ, đến sống ở Niu Oóc làm thuê và thường đến thăm khu ở của người da đen Trong các bài viết sau này, Người thường nhắc đến ý chí đấu tranh cho tự do, độc lập, cho quyền sống của con người
được ghi lại trong Tuyên ngôn độc lập 1776 của nước Mỹ Người đã tiếp thu giá trị
của tư tưởng nhân quyền với nội dung là quyền tự do cá nhân thiêng liêng trong bản tuyên ngôn này Sau này, Người đã phát triển nó thành quyền sống, quyền độc lập, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của tất cả các dân tộc Nội dung nhân
quyền được Người nâng lên một tầm cao mới trong Tuyên ngôn độc lập nước Việt
Nam năm 1945
Trang 17Cuối năm 1917, Người từ Anh sang Pháp, quyết định sống và hoạt động ở Thủ
đô nước Pháp có ý nghĩa lịch sử rất lớn, mở ra một thời kỳ mới trong cuộc đời mình
Là Thủ đô nước Pháp, Pari cũng đồng thời là trung tâm văn hóa – nghệ thuật của châu Âu Các trào lưu triết học và các trường phái nghệ thuật nổi tiếng thế giới phần lớn đều được hình thành và ra mắt tại đây Sống ở giữa nơi hợp lưu của các dòng văn hóa thế giới, Người đã có điều kiện thuận lợi để nhanh chống chiếm lĩnh vốn tri thức của thời đại, đặc biệt là truyền thống văn hóa dân chủ và tiến bộ của nước Pháp
Đến với quê hương của lý tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, Hồ Chí Minh được tiếp xúc trực tiếp với tác phẩm của các nhà tư tưởng khai sáng: Vonte, Rút xô, Mông-tét-xki-ơ,…những lý luận gia của đại cách mạng Pháp 1789 như tinh thần pháp luật của Mông-tét-xki-ơ, Khế ước xã hội của Rút xô,…tư tưởng dân chủ của các nhà khai sáng đã có ảnh hưởng tới tư tưởng của Người Ngoài ra, Người còn hấp thụ được tư tưởng dân chủ và hình thành được phong cách dân chủ của mình
từ trong cuộc sống thực tiễn Rõ ràng là, ở Pháp, Người đã có thể hoạt động và đấu tranh cách mạng một cách tương đối tự do, thuận lợi hơn trên đất nước mình, dưới chế độ thuộc địa
Nhờ được rèn luyện trong phong trào công nhân Pháp và sự cổ vũ, dìu dắt trực tiếp của nhiều nhà cách mạng và trí tuệ tiến bộ Pháp như M.Ca-sanh, P.V.Cu-tuya-ri-ê, G.Mông-mút-xô…mà Hồ Chí Minh đã từng bước trưởng thành Con người ấy, trên hành trình cứu nước, đã làm giàu trí tuệ của mình bằng vốn trí tuệ của thời đại, Đông và Tây, vừa thâu thái, vừa gạn lọc để có thể từ tầm cao của trí thức nhân loại mà suy nghĩ và lựa chọn, kế thừa và đổi mới, vận dụng và phát triển
Kế thừa lòng nhân ái, đức hy sinh của đức Chúa trời, Hồ Chí Minh đã cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân lao động
Trang 18ra khỏi ách áp bức, bóc lột đã là hiện thân của lòng nhân ái và đức hy sinh cao cả Sau này, Người luôn luôn giáo dục cán bộ, đảng viên về lòng thương người, thương dân, thương các chiến sỹ ngoài mặt trận - đó là những tư tưởng thấm đậm những giá trị cao cả mang tính nhân loại mà Thiên chúa giáo đã khởi xướng và răn dạy
Người lên án gay gắt những kẻ giả danh Chúa để thực hiện những hành vi ác quỷ Người coi những hành động đó là sự đi ngược lại và phản bội lòng nhân ái cao cả của Chúa, làm hoen ố tư tưởng lớn của Ngài là muốn mưu cầu phúc lợi cho
xã hội Người viết: “Nếu Chúa bất hạnh đã chịu đóng đanh trên cây thánh giá trở
về cõi thế này, thì chắc Ngài sẽ vô cùng ngao ngán khi thấy “các môn đồ trung thành” của mình thực hiện đức khổ hạnh như thế nào”
Người lên án những giáo sĩ đại diện cho chủ nghĩa tư bản phương Tây, những
kẻ nhân danh Chúa để quan hệ mật thiết với thế lực thực dân, tham gia vào guồng máy của chủ nghĩa thực dân, thâm nhập về kinh tế và quân sự, áp đặt nền văn hóa thực dân, làm xuất hiện nguy cơ bá quyền văn hóa…
Tóm lại, Hồ Chí Minh tiếp thu các tinh hoa văn hóa nhân loại một cách có chọn lọc rồi vận dụng tinh hoa đó một cách phù hợp vào những điều kiện cụ thể của đất nước, của dân tộc vì mục đích cho sự nghiệp giải phóng dân tộc mình mà còn góp phần tích cực nhất vào sự nghiệp của các dân tộc khác trên thế giới
ra con đường để đi đến xóa bỏ mọi áp bức, bóc lột, bất công trên trái đất để xây
Trang 19dựng một chế độ xã hội tốt đẹp hơn theo những quy luật phát triển khách quan của
xã hội
Hồ Chí Minh đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, bổ sung thêm vào kho tàng kiến thức của mình, hình thành nên những tư tưởng quý báu, trong đó có tư tưởng về tình yêu thương con người Tiếp thu những học thuyết của chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh đã không tiếp thu một cách máy móc những quan điểm cụ thể mà là tiếp nhận những luận điểm chung bao quát nhất, quy
tụ thành thế giới quan và nhân sinh quan, biểu hiện ở chủ nghĩa nhân văn và phương pháp cách mạng của học thuyết Từ đó có thể nói, chủ nghĩa nhân văn mác xít và phương pháp làm việc biện chứng của Mác mới là biểu hiện tận cùng, cơ bản nhất, thể hiện bản chất khoa học và cách mạng của học thuyết Mác Có thể khẳng định, đó là hai lĩnh vực Hồ Chí Minh quan tâm bậc nhất và Người đã tiếp nhận một cách trung thành, triệt để và trọn vẹn Hai lĩnh vực quan trọng ấy không hiện diện thành các câu chữ trong các sách kinh điển, nhưng nó lại tỏa sáng trên từng hành vi cách mạng, từng lời nói và việc làm, từng nhân cách cụ thể của các vĩ nhân mà Mác, Ănghen, Lênin, Hồ Chí Minh…được xem là những đại diện tiêu biểu nhất của tư tưởng nhân văn mới trong thời đại cách mạng vô sản
Từ cái cốt lõi của học thuyết Mác là chủ nghĩa nhân văn mácxít, Hồ Chí Minh khẳng định: “Nhân dân ta từ lâu đã sống với nhau có tình có nghĩa…Từ khi có Đảng lãnh đạo và giáo dục, tình nghĩa ấy càng cao đẹp hơn, trở thành tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà Hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin là phải sống với nhau có tình, có nghĩa Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống với nhau không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin được” [29, 12, 554] Trong thực tế, Hồ Chí Minh đã sống và hoạt động cách mạng như chính Người nói, thể hiện nhất quán tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà Đồng thời, Người cũng luôn có ý thức truyền cảm đến cán bộ, đảng viên và nhân dân ta một cách sống có tình có nghĩa mang tính sâu sắc ấy
Trang 20Chủ nghĩa Mác – Lênin đã chỉ ra được nguồn gốc của niềm đau, nỗi khổ của người nô lệ, mất nước và của người cùng khổ Mác đã nghiên cứu lịch sử phát triển của loài người và phát hiện ra rằng, thông qua nhiều hình thái phát triển kinh tế -
xã hội của lịch sử nhân loại, con người bị phân hóa mà nguyên nhân của sự phân hóa ấy là do chính sản phẩm do lao động con người tạo ra thành lao động bị làm cho trở thành xa lạ, bị tha hóa, có thể gọi đó là điều bí ẩn Mác viết: “Chỉ đến giai
đoạn phát triển cuối cùng, cao nhất của sở hữu tư nhân thì điều bí ẩn ấy mới lại bộc
lộ ra: một mặt sở hữu tư nhân là sản phẩm của lao động bị tha hóa, mặt khác, nó là phương tiện làm cho lao động bị tha hóa,là sự thực hiện sự tha hóa ấy [18, 42, 142]
Khi đọc Sơ thảo lần thứ nhất các luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa
của Lênin, Hồ Chí Minh tìm thấy con đường cứu nước, đồng thời thấy rõ sự nghiệp
cách mạng Việt Nam gắn với thời đại cách mạng vô sản Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh được tiếp thêm nguồn lực mới, hình thành chủ nghĩa nhân văn mang nội dung cách mạng vô sản
Tiếp thu tích cực và vận dụng sáng tạo tư tưởng yêu nước truyền thống cũng như tiếp thu và vận dụng sáng tạo đồng thời phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đặt nền móng cho việc chống chủ nghĩa giáo điều và ý thức độc lập tự chủ về phương pháp cách mạng Trung thành với lí tưởng yêu nước truyền thống, Hồ Chí Minh không đồng tình với phương pháp cách mạng của các bậc tiền bối Người đã tìm ra con đường riêng của mình, chống chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc, song Người vẫn tiếp cận với nền văn hóa, văn minh và đặc biệt là chủ nghĩa nhân văn ra đời trong thời đại phát triển chủ nghĩa tư bản Vì thế, Người đã tiếp thu được những giá trị nhân văn của văn hóa tư sản, đặc biệt là ý thức dân chủ, vấn đề dân quyền và dân sinh
Tóm lại, có thể khẳng định rằng, thời kì phát triển chủ nghĩa tư bản và văn hóa
tư sản là thời kì đặt nền móng cho sự ra đời những tư tưởng mới với ý nghĩa góp
Trang 21phần giải phóng con người, đưa con người lên vị thế làm chủ Chính vì thế, nó là một cội nguồn quan trọng trong việc hình thành những tư tưởng của Hồ Chí Minh, trong đó có tư tưởng về tình yêu thương con người Hồ Chí Minh đã nâng cấp tình yêu thương con người lên một tầm cao mới, yêu thương con người trên lập trường giai câp vô sản
1.2 Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về tình yêu thương con người
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một bước phát triển mới của chủ nghĩa Mác - Lênin, được vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Điều cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với giải quyết xã hội và giải phóng con người Trong
đó, vấn đề con người là vấn đề lớn, được đặt lên hàng đầu và là vấn đề trung tâm, xuyên suốt trong toàn bộ nội dung tư tưởng của Người Tin ở dân, dựa vào dân, tổ chức và phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân, bồi dưỡng, đào tạo và phát huy mọi năng lực của dân (ở từng cá nhân riêng lẻ và của cả cộng đồng),
đó là tư tưởng được Hồ Chí Minh vận dụng và phát triển trong toàn bộ sự nghiệp đấu tranh cách mạng giành độc lập dân tộc cũng như xây dựng đất nước
Tư tưởng đó cũng chính là nội dung cơ bản của toàn bộ tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh
Đối với Hồ Chí Minh, con người vừa tồn tại với tư cách cá nhân, vừa là thành viên của gia đình và của cộng đồng, có cuộc sống tập thể và cuộc sống cá nhân hài hòa, phong phú Người đã nêu một định nghĩa về con người: "Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn Nghĩa rộng là đồng bào
cả nước Rộng nữa là cả loài người" Quan điểm đó thể hiện ở chỗ Người chưa bao giờ nhìn nhận con người một cách chung chung, trừu tượng Khi bàn về chính sách xã hội, cũng như ở mọi nơi, mọi lúc, trong mọi hoàn cảnh, Người luôn quan tâm đến nhu cầu, lợi ích của con người với tư cách nhu cầu chính đáng Đem lại lợi ích cho con người chính là tạo ra động lực vô cùng lớn lao
Trang 22cho sự nghiệp chung, vì nếu như những nhu cầu, lợi ích của mỗi cá nhân không được quan tâm thỏa đáng thì tính tích cực của họ sẽ không thể phát huy được Trong khi phê phán một cách nghiêm khắc chủ nghĩa cá nhân, Người viết: "Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là "giày xéo lên lợi ích cá nhân" Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình" Trong quan điểm về thực hiện một nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, theo Người, phải là một nền dân chủ chân chính, không hình thức, không cực đoan, trong đó mỗi con người cụ thể phải được đảm bảo những quyền lợi và nghĩa vụ của mình theo hiến pháp và pháp luật Con người, với tư cách là những
cá nhân, không tồn tại biệt lập mà tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với
cộng đồng dân tộc và với các cộng đồng người khác trên toàn thế giới
Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh không tồn tại như một phạm trù bản thể luận có tính trừu tượng hóa và khái quát hóa, mà được đề cập đến một cách
cụ thể, đó là nhân dân Việt Nam, những con người lao động nghèo khổ bị áp bức cùng cực dưới ách thống trị của phong kiến, đế quốc; là dân tộc Việt Nam đang bị đô hộ bởi chủ nghĩa thực dân; và mở rộng hơn nữa là những "người nô
lệ mất nước" và "người cùng khổ" Lôgíc phát triển tư tưởng của Người là xuất phát từ chủ nghĩa yêu nước để đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đến với chủ nghĩa quốc tế chân chính Theo lôgíc phát triển tư tưởng ấy, khái niệm "con người" của Hồ Chí Minh tiếp cận với khái niệm "giai cấp vô sản cách mạng" Người đề cập đến giai cấp vô sản cách mạng và sự thống nhất về lợi ích căn bản của giai cấp đó với các tầng lớp nhân dân lao động khác (đặc biệt là nông dân) Người nhận thức một cách sâu sắc rằng, chỉ có cuộc cách mạng duy nhất và tất yếu đạt tới được mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và toàn thể nhân loại khỏi mọi sự nô dịch, áp bức Toàn bộ các tư tưởng, lý luận (chiếm một khối lượng lớn trong các tác phẩm của Người) bàn về cách mạng (chiến lược giải pháp; bàn về người cách mạng và đạo đức cách mạng, về hoạch định và
Trang 23thực hiện các chính sách xã hội; về rèn luyện và giáo dục con người v.v ) về thực chất chỉ là sự cụ thể hóa bằng thực tiễn tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người vừa là mục tiêu của sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, vừa là động lực của chính sự nghiệp đó Tư tưởng đó được thể hiện rất triệt để và cụ thể trong lý luận chỉ đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Trong lý luận về xây dựng chế độ mới, Hồ Chủ tịch đã khẳng định xây dựng chế độ dân chủ nhân dân gắn liền với việc thực hiện bước tiến lên chủ nghĩa xã hội Trong kháng chiến giải phóng dân tộc cần xây dựng chế độ dân chủ nhân dân để đẩy mạnh công cuộc kháng chiến, đồng thời tạo ra những tiền
đề cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội; trong xây dựng chủ nghĩa xã hội cần phải thực hiện chế độ dân chủ nhân dân, vì như Người nói: "Đây là cuộc chiến đấu khổng lồ chống lại những cái gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới
mẻ, tốt tươi" Cuộc chiến đấu ấy sẽ không đi đến thắng lợi, nếu không "dựa vào lực lượng của toàn dân" Về chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh không bao giờ quan niệm hình thái xã hội đó như một mô hình hoàn chỉnh, một công thức bất biến Bao giờ Người cũng coi trọng những điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa khách quan Người chỉ đề ra những mục tiêu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội với những bước đi thiết thực và những nội dung cơ bản nhất Theo Người: "Nói một cách tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã hội trước hết là làm cho nhân dân lao động thoát khỏi bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và được sống đời hạnh phúc"; "Chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân" xây dựng chủ nghĩa xã hội tức là làm cho nhân dân ta có một đời sống thật sung sướng, tốt đẹp Người dạy xây dựng chủ nghĩa xã hội phải thiết thực, phù hợp với điều kiện khách quan, phải nắm được quy luật và phải biết vận dụng quy luật một cách sáng tạo trên cơ sở
Trang 24nắm vững tính đặc thù, tránh giáo điều, rập khuôn máy móc Sự sáng tạo đó gần gũi, tương đồng, nhất quán với luận điểm của Ăngghen: "Đối với chúng ta, chủ nghĩa cộng sản không phải là trạng thái cần phải sáng tạo ra, không phải là một
lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thực, nó xóa bỏ trạng thái hiện nay" Vì vậy, không chỉ trong lý luận về đấu tranh giành độc lập dân tộc mà cả trong lý luận xây dựng chủ nghĩa
xã hội khi định ra những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, trước hết, "cần có con người xã hội chủ nghĩa", Hồ Chí Minh đã thể hiện nhất quán quan điểm về con người: con người là mục tiêu, đồng thời vừa là động lực của sự nghiệp giải phóng xã hội và giải phóng chính bản thân con người
Tấm lòng Hồ Chí Minh luôn hướng về con người Người yêu thương con người, tin tưởng con người, tin và thương yêu nhân dân, trước hết là người lao động, nhân dân mình và nhân dân các nước Với Hồ Chí Minh, "lòng thương yêu nhân dân, thương yêu nhân loại" là "không bao giờ thay đổi" Người có một niềm tin lớn ở sức mạnh sáng tạo của con người Lòng tin mãnh liệt và vô tận của Hồ Chí Minh vào nhân dân, vào những con người bình thường đã được hình thành rất sớm Bắt nguồn từ gia đình, quê hương, dân tộc giàu truyền thống yêu nước thương dân cùng với sự giáo dục thấm đượm tính nhân văn sâu sắc và từ những năm tháng Người bôn ba tìm đường cứu nước, thâm nhập, lăn lộn, tìm hiểu thực tế cuộc sống và tâm tư của những người dân lao động trong nước và nước ngoài Người đã khẳng định: "Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương ẩn giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét, và sẽ bùng nổ một cách
ghê gớm khi thời cơ đến".[19, 1] Chưa có trang
Tin vào quần chúng, theo quan điểm của Hồ Chí Minh, đó là một trong những phẩm chất cơ bản của người cộng sản Và đây cũng chính là chỗ khác căn bản, khác về chất, giữa quan điểm của Hồ Chí Minh với quan điểm của các nhà Nho yêu nước xưa kia (kể cả các bậc sĩ phu tiền bối gần thời với Hồ Chí Minh)
Trang 25về con người Nếu như quan điểm của Hồ Chí Minh: "Trong bầu trời không có
gì quý bằng nhân dân Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết toàn dân", thì các nhà Nho phong kiến xưa kia mặc dù có những tư tưởng tích cực "lấy dân làm gốc", mặc dù cũng chủ trương khoan thư sức dân", nhưng quan điểm của họ mới chỉ dừng lại ở chỗ coi việc dựa vào dân cũng như một "kế sách", một phương tiện để thực hiện mục đích "trị nước", "bình thiên hạ" Ngay
cả những bậc sĩ phu tiền bối của Hồ Chí Minh, tuy là những người yêu nước một cách nhiệt thành, nhưng họ chưa có một quan điểm đúng đắn và đầy đủ về nhân dân, chưa có đủ niềm tin vào sức mạnh của quần chúng nhân dân Quan điểm tin vào dân, vào nhân tố con người của Người thống nhất với quan điểm của Mác, Ăngghen, Lênin: "Quần chúng nhân dân là người sáng tạo chân chính
ra lịch sử"
Kế thừa truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, kết hợp với chủ nghĩa nhân đạo cộng sản, tiếp thu tinh thần nhân văn của nhân loại qua nhiều thế kỷ, cùng với việc thể nghiệm của chính bản thân qua hoạt động cách mạng thực tiễn, Hồ Chí Minh
đã xác định tình yêu thương con người là một trong những phẩm chất cao đẹp nhất Quan niệm về tình yêu thương, coi con người là một thực thể thống nhất của "cái cá nhân" và "cái xã hội", con người tồn tại trong mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân với cộng đồng, dân tộc, giai cấp, nhân loại; yêu thương con người, tin tưởng tuyệt đối ở con người, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp giải phóng xã hội và giải phóng chính bản thân con người, đó chính là những luận điểm cơ bản trong tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh Xuất phát từ những luận điểm đúng đắn đó, trong khi lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước,
Hồ Chí Minh luôn tin ở dân, hết lòng thương yêu, quý trọng nhân dân, biết tổ chức và phát huy sức mạnh của nhân dân Tư tưởng về con người của Người thông qua thực tiễn cách mạng đã trở thành một sức mạnh vật chất to lớn và là
Trang 26nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng chính là nhờ lòng yêu thương con người của Bác Biết dựa vào dân, tin yêu nhân dân lao động cần lao khổ cực
Yêu thương con người trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là yêu thương những con người cụ thể, con người tồn tại thực chứ không phải là con người trừu tượng, chung chung Điểm nổi bật nhất, tính nhân văn cao cả nhất của lòng yêu thương con người chính là tình cảm rộng lớn của Hồ Chí Minh Người yêu thương tất thảy đồng bào, đồng chí Không phân biệt họ ở miền xuôi hay miền ngược, là trẻ hay già, trai hay gái, không phân biệt giai cấp màu da không phân biệt một ai, không trừ một ai, hễ là người Việt Nam yêu nước thì đều có chỗ trong tấm lòng nhân ái của Người
Nhà thơ Tố Hữu trong dòng thơ khóc thương Hồ Chí Minh đã viết:
“Bác ơi tim Bác mênh mông thế
Ôm cả non sông mọi kiếp người”
Tình yêu thương của Bác quả là bao la rộng lớn Giáo sư Trần Văn Giàu đã từng nói: “ lòng thương của Nguyễn chân thành quá, không có giới hạn tiếng nói hay màu da ” Chúng ta có thể khẳng định tình yêu thương con người của Hồ Chí Minh được thể hiện ở các nội dung cơ bản sau
1.2.1 Yêu thương người lao động, người cùng khổ, người bị áp bức trên toàn thế giới
Yêu nước, thương dân là truyền thống đặc sắc nhất của người Việt Nam Từ xưa đến nay người Việt Nam vốn gắn bó đất với nước, làng với nước, quê hương với đất nước, nước với nhà, nước với dân Cho nên nước mất thì nhà tan, nợ nước gắn với thù nhà Từ ngàn đời nay, người Việt Nam đã khuyên nhau: “thương người như thể thương thân”, “nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng” Trong truyền thống dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm,
Trang 27ông cha ta đã khẳng định, nước lấy dân là gốc, yêu nước gắn liền với thương dân, khoan thư sức dân là giữ nước bền vững nhất
Nhìn lại lịch sử tư tưởng ở nước ta, đặc biệt là khi tìm hiểu quan niệm của các sĩ phu phong kiến về chữ “Nhân”, suy rộng thêm là tinh thần nhân đạo, chúng
ta thấy ở một số sĩ phu tiến bộ lòng thương người của họ hết sức tha thiết Tình thương yêu những người bị chà đạp hay bị đối xử tàn tệ, tinh thần chống đối lễ giáo phong kiến ác nghiệt, là yếu tố quan trọng làm cho họ có một tấm lòng yêu quê hương, đất nước Xác định được nhiệm vụ của mình khi nước nhà bị xâm lăng,
họ đã đứng ra gánh vác trách nhiệm với non song Tuy nhiên, các quan niệm về chữ “Nhân” hay lý tưởng nhân đạo của các bậc sĩ phu, bên cạnh mặt giá trị tiến bộ của nó, vẫn có những thiếu sót căn bản Chịu ảnh hưởng nặng của tư tưởng triết học Khổng giáo, các sĩ phu quan niệm về chữ “Nhân” theo quan niệm phong kiến Lòng thương dân, đồng cảm số phận người nghèo khổ của các cụ, nhìn chung vẫn
ở khía cạnh lòng thương hại của những người đứng trên nhìn xuống Cái thông cảm cảnh ngộ của các cụ chủ yếu là lo lắng cho số phận của những người thuộc tầng lớp phong kiến, quý tộc hơn là quan tâm đến quyền lợi của những người bị đày đọa và bị áp bức nhất
Điểm lại vài nét chủ yếu về lý tưởng nhân đạo, tình yêu thương con người của các bậc sĩ phu tiến bộ ở nước ta trước đây, chúng ta thấy rằng, trước Hồ Chủ tịch, lý tưởng nhân đạo ở Việt Nam vẫn nằm trong ý thức hệ phong kiến hoặc theo quan điểm của chủ nghĩa nhân đạo tư sản Lần đầu tiên trong lịch sử nước ta qua
sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hồ Chủ tịch
đã tỏ ra là một nhà cách mạng vĩ đại, có một lý tưởng rõ rệt về chủ nghĩa nhân đạo cộng sản chủ nghĩa
Bắt đầu từ trái tim yêu nước thương dân, Bác đã vượt qua muôn vàn khó khăn, làm đủ mọi nghề để tự kiếm sống, đi khắp thế giới để tìm hiểu, học tập Trái tim ấy
đã giúp Bác sớm đồng cảm, hòa nhập với đời sống và phong trào đấu tranh của
Trang 28những người lao động nghèo khổ, các màu da, các dân tộc; sự nhảy cảm mách bảo Bác tìm ra chân lý Con đường học tập ấy sau này đã được Bác chân thành kể lại ngày 2 tháng 3 năm 1959 nhân dịp Bác đến thăm và được trao bằng “tiến sĩ danh
dự luật học” của trường Đại học Băng Đung cách (Inđônêxia) Người nói: “Tôi không có điều kiện học tập khi còn trẻ, nhưng đã học tập trong xã hội, trong cuộc sống và đã học tập để biết yêu nhân dân, yêu Tổ quốc, yêu hòa bình và gét chủ
nghĩa đế quốc, gét áp bức và chủ nghĩa vị kỷ” [25, 7, 245] Chính những điều kiện
học tập đó đã tạo nên cho Người một tấm lòng yêu thương nhân dân sâu sắc Lòng yêu thương con người, yêu thương nhân dân của Bác đã đặt đúng vào những người cùng khổ nhất, xấu số nhất trong xã hội, tức là những người công nhân, người nông dân, những người dân thuộc địa bị bóc lột đến tận xương tủy Trong các bài báo viết từ năm 1919 đến 1930, Hồ Chủ tịch đã nói đến những hoạt động của giai cấp công nhân, như phong trào công nhân ở Viễn đông, ở Thổ Nhĩ Kỳ…Người ca ngợi giai cấp vô sản và nhân dân Thổ Nhĩ Kỳ trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, đánh bại được bọn đế quốc, lật đổ ngai vàng của bọn vua chúa Người nói đến tình cảnh khổ sở, bị bóc lột thậm tệ của người công nhân Ô-da-ca, một trong những trung tâm công nghiệp lớn của người Nhật Bác xót xa trước cảnh công nhân:
“Làm ra của cải cho thiên hạ nhờ
Mà mình quần rách áo xơ, Tiền công thì bớt mà giờ thì thêm, Lại còn đánh chửi tần phiền Cúp lương tháng trước, phạt tiền hôm qua”
[37, 11]
Đối với vấn đề nông dân ở Việt Nam, Hồ Chủ tịch là người đầu tiên đã có những nhận định đặc sắc Người phát hiện hoàn cảnh bị bóc lột nặng nề của họ, những người “bị ăn cắp mọi phía, bằng mọi cách, do Nhà nước, do bọn phong kiến tân thời, do nhà thờ”[19, 1, 3] Trong khi vạch trần bộ mặt gian ác của bọn thực
Trang 29dân cướp nước ta, Người cảm thông tình cảnh đau khổ của những người nông dân
ở miền Tây Nam Bộ đã bị bọn đế quốc và địa chủ cướp ruộng đất, bị thuế má của chính quyền thực dân Bác đau khổ thốt lên:
“Thân người chẳng khác thân trâu, Cái phần no ấm có đâu đến mình”
[37, 13] Khi tỏ lòng thương tiếc tới những gia đình có con em bị bọn thực dân giết hại tại Khám lớn Sài gòn năm 1916, Người viết: “Máu của những người Việt Nam ấy nhuộm thắm đồng Mả - ngụy, dù có phai đi với thời gian, nhưng vết thương lòng của những bà mẹ già, những người vợ góa, những em bé mồ côi, thì
không bao giờ hàn gắn lại được” [35, 58]
Người đã từng lên tiếng vạch trần những hành động dã man của bọn thống trị đối với phụ nữ ở các nước thuộc địa nói chung và phụ nữ Việt Nam nói riêng:
“Không một chổ nào người phụ nữ thoát khỏi những hành động bạo ngược của bọn người xâm lược: ngoài phố, trong nhà, giữa chợ…” [35, 109] Người không ngừng
tố cáo hành vi vô nhân đạo, dâm đãng của bọn quan lại Pháp ở Việt Nam và kêu gọi nhân dân Pháp: “Hỡi những người mẹ, hỡi những người vợ, hỡi những chị em phụ nữ Pháp, chị em nghĩ làm sao? Và các bạn, những người con, những người chồng, những anh em người Pháp các bạn thấy thế nào? Phải chăng đó là phép lịch
sử của người Pháp đã bị thực dân hóa đi” [35, 117]
Bác bất bình trước nỗi khổ nhục của tất cả các tầng lớp nhân dân lao động, ông già bà cả và đặc biệt là phụ nữ, thiếu niên, nhi đồng:
“Sức còn yếu, tuổi còn thơ
Mà đã khó nhọc cũng như người già
Có khi lìa mẹ, lìa cha,
Để làm tôi tớ người ta bên ngoài”
[37, 19]
Trang 30Tại Đại hội toàn quốc lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp, ở thành phố Tua tháng
12 năm 1920, Bác đã nói: “Với một nỗi buồn sâu sắc, tôi đến đây với tư cách đảng viên xã hội, để phản kháng những tội ác ghê tởm trên quê hương tôi…Chúng tôi không những bị áp bức, bóc lột một cách nhục nhã mà còn bị hành hạ và đầu độc
một cách thê thảm” [19, 1, 22]
Kết thúc lời phát biểu Bác kêu gọi “Nhân danh toàn thể loài người, nhân danh tất cả đảng viên xã hội, cả phái hữu lẫn phái tả, chúng tôi kêu gọi: các đồng chí hãy
cứu lấy chúng tôi” [19, 1, 22, 23]
Trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù hoạt động ở trong nước hay ngoài nước, Người vẫn luôn luôn lưu ý đến đời sống của nhân dân lao động Tư tưởng “vì dân,
do dân, bởi dân” được quán triệt trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người Trong giai đoạn trước cách mạng tháng Tám năm 1945, Người vạch cho giai cấp vô sản và giai cấp nông dân ở Việt Nam và các nước thuộc địa một hướng
đi đúng đắn, giáo dục cho họ lập trường giai cấp vững vàng, gây cho họ niềm tin tưởng mãnh liệt vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng giai cấp vô sản toàn thế giới Vào những ngày đầu của Cách mạng tháng Tám, do hậu quả của chính sách bóc lột của bọn phát xít Nhật, Pháp mà hơn hai triệu đồng bào ta chết đói Từ đáy lòng chân thành của một lãnh tụ cách mạng suốt đời vì nước, vì dân, từ quả tim giàu tình nhân đạo cao cả, bằng những lời lẽ hết sức cảm động, Người viết thư gửi đồng bào toàn quốc ra sức cứu đói: “Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hành trước: Cứ mười ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ăn ba bữa Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo Như vậy thì những người nghèo
sẽ có bữa rau, bữa cháo để chờ mùa lúa năm sau, khỏi đến nỗi chết đói” [22, 4, 21] .Đối với chiến sĩ Bác dành cho anh em sự chăm sóc, săn sóc ân tình, chu đáo nhất Mùa đông, thương anh em chiến sĩ rét mướt ở rừng núi hay vùng biển, Bác đem tấm áo lụa của mình được đồng bào tặng đem bán đấu giá để lấy tiền mua áo
Trang 31ấm gửi cho các chiến sĩ Bác thường nói “Chiến sĩ còn đói khổ, tôi ăn ngon sao được” “Chiến sĩ còn rách rưới, mình mặc thế này là đầy đủ lắm rồi!”
Tình thương yêu của Bác với chiến sĩ thật bao la dung dị, Bác dành cho anh
em sự chăm lo, săn sóc ân cần chu đáo nhất Đó là tình yêu thương vững chắc như bức tường thành khích lệ mọi tinh thần chiến đấu, tinh thần bảo vệ Tổ quốc
Tình thương yêu của Bác bao la chan chứa tình người, tình đồng chí Với các anh hùng dân tộc Người thể hiện tinh thần ngưỡng mộ cảm kích và đau xót như thân thể của mình Chúng ta còn nhớ, tháng 1-1947, khi biết con trai của bác sĩ Vũ Đình Tụng hy sinh, Bác Hồ đã gửi thư chia buồn: "Tôi được báo cáo rằng: Con trai ngài đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái Nước Việt Nam là gia đình của tôi Tất cả thanh niên Việt Nam
là con cháu của tôi Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột Nhưng cháu và anh em thanh niên khác dũng cảm hi sinh để giữ gìn đất nước Thế là họ
đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi Họ chết cho Tổ quốc sống mãi; vật chất
họ mất nhưng tinh thần họ vẫn luôn luôn sống với non sông Việt Nam Họ là con thảo của Đức Chúa, họ đã thực hiện cái khẩu hiệu: Thượng đế và Tổ quốc Những thanh niên đó là anh hùng dân tộc Đồng bào và Tổ quốc sẽ không bao giờ quên ơn
họ Ngài đã đem món quà quý báu nhất là con mình, sẵn sàng hiến cho Tổ quốc Từ đây chắc ngài sẽ thêm ra sức giúp việc kháng chiến để bảo vệ nước nhà thì linh hồn các cháu ở trên trời cũng bằng lòng và sung sướng…" [23, 4, 40] Bức thư ngắn mà chứa chan tình yêu thương và sự cảm thông sâu sắc Không riêng gia đình bác sĩ Vũ Đình Tụng, mà bất kỳ ai là thân nhân liệt sĩ khi đọc những dòng thư tâm huyết của Bác cũng cảm thấy nỗi đau được vơi đi, sự mất mát to lớn cũng được an ủi chia sẻ Như vậy, có thể nói tấm lòng nhân ái, tình yêu thương đồng bào của Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức vĩ đại, cao cả Trong những lúc khó khăn, hoạn nạn tình yêu thương đó càng được phát huy rõ nét Lòng yêu thương con người của Bác luôn thể hiện ở chổ, Bác luôn chú ý đến đời sống vật chất và tinh thần ngày càng
Trang 32tăng của nhân dân, vì cuộc sống tự do và hạnh phúc của người lao động Lòng nhân ái đó không phải là lòng thương hại của những người đứng trên nhìn xuống, không phải là tiếng kêu “thương thay cùng một kiếp người” oán than cho thân phận con người bị chà đạp, không phải là lòng từ bi bác ái mơ hồ không vượt qua được, lòng yêu dân, yêu nước chung chung Lòng nhân ái, yêu thương con người của Bác là một niềm thông cảm sâu sắc, “thương người như thể thương thân” trước tình cảnh nước mất nhà tan của người dân thuộc địa, trước cảnh áp bức, bóc lột công nhân, nông dân và nhân dân lao động khắc sâu đến tận xương tủy Lòng yêu thương con người của Bác là tinh thần đấu tranh quyết liệt và lòng căm thù không đội trời chung với giai cấp thống trị và với kẻ xâm lược tàn bạo, dã man hủy diệt cuộc sống, chà đạp lên phẩm giá của con người Yêu thương con người của Bác là niềm tin tưởng sắt đá ở sức mạnh vô địch của quần chúng công nông, của nhân dân lao động đoàn kết lại thành một khối thép dưới sự lãnh đạo của Đảng, của giai cấp công nhân đấu tranh giành quyền sống tự do, độc lập cho dân tộc, cho giai cấp và cho bản thân mình
Lòng nhân ái, yêu thương con người của Bác không chỉ bó hẹp trong tình yêu thương xót xa trước nỗi khổ nhục của đồng bào, của mọi tầng lớp nhân dân lao động bị áp bức ở trong nước Tình yêu thương của Bác còn mở rộng ra cả loài người khắp năm châu bốn biển Ngay từ lúc còn trẻ tuổi ở Pháp, Bác đã lớn tiếng phản đối và kiệt liệt lên án những “Cuộc hành trình kiểu Lyu-xơ ở Mỹ”, những cuộc hành trình hình người da đen kinh khủng nhất, ghê tởm nhất của cái gọi là nền văn minh của đế quốc Mỹ Bác đả kích những khẩu hiệu lừa bịp về cái gọi là nền văn minh Pháp, những thủ đoạn thâm độc của chính sách thực dân Anh
Xuất phát từ tình thương yêu ấy mà Người đã tìm con đường giải phóng cho dân tộc, giải phóng mọi áp bức, bất công, “đi từ giải phóng những người nô lệ bị mất nước, những người lao động cùng khổ đến giải phóng con người” Vì muốn cứu nước, cứu dân mà Bác đi theo con đường của chủ nghĩa Mác - Lê nin, của chủ
Trang 33nghĩa quốc tế vô sản Chủ nghĩa cộng sản đã phát huy và nâng cao đạo lý làm người của dân tộc ta, trong con người Bác Do đó, Bác thấu hiểu nguyện vọng của mọi người, tích cực đấu tranh vì tự do của loài người bị áp bức, vì độc lập của các dân tộc bị xâm lược, vạch ra một con đường để cứu nước, cứu dân Vì lòng yêu thương con người, tin ở con người, Bác đã giáo dục, cảm hóa được mọi người, đoàn kết toàn thể dân tộc, phát huy sức chiến đấu của toàn thể dân tộc nhằm để giải phóng toàn thể dân tộc Việt Nam cũng như dân tộc bị áp bức, bóc lột trên toàn thế giới
1.2.2 Nghiêm khắc với chính mình, rộng lượng với người, tôn trọng, nâng người khác lên chứ không hạ thấp hay vùi dập con người
Trong cuộc sống cũng như trong bất cứ hoàn cảnh nào mỗi cá nhân muốn phát triển thì cần phải học tập, rèn luyện Nghiêm khắc với chính mình cũng là một trong những biện pháp giúp cá nhân phát triển hoàn thiện hơn
Trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh về tình yêu thương con người, nghiêm khắc với chính mình, rộng rãi, độ lượng với người khác là một yếu tố được Hồ Chí Minh coi trọng Người nói với cán bộ rằng: “Tự phê bình rồi lại phê bình người khác nữa Ví dụ: Tôi làm điều xấu, các đồng chí trông thấy, phải phê bình cho tôi sửa chữa ngay Nếu tôi có vết nhọ trên trán, các đồng chí trông thấy, lại lấy cớ “nể Cụ” không nói, là tôi mang nhọ mãi Nhọ ở trên trán thì không quan trọng, nhưng nếu có vết nhọ ở trong óc, trong tinh thân, mà không nói cho người ta nói tức là hại
người” [23, 5, 224]
Bác coi việc phê bình thường xuyên như ta phải rửa mặt hằng ngày Người
khẳng định: “Muốn thành cán bộ tốt phải có tinh thần tự chỉ trích” [22, 4, 2].Trong
bài báo này, Bác viết: “Phải biết rằng tình hình khách quan thay đổi hàng giờ, hàng phút, một chủ trương của ta hôm nay đúng, hôm sau đã không kịp thời, nếu ta không tỉnh táo kiểm điểm những tư tưởng và hành vi của ta để bỏ đi những cái quá thời, sai hỏng, nhất định ta sẽ không theo kịp tình thế, ta sẽ bị bỏ rơi, bị các bạn
Trang 34tỉnh táo, nhanh nhẹn hơn đi trước Muốn được thích hợp với tình thế, muốn cùng tiến hay vượt các bạn khác ta cần phải tự nhận thức và tự giáo dục không ngừng, cần phải có sự thành thực tự vạch ra những khuyết điểm sai lầm, để bồi bổ và sửa đổi đi Sauk hi làm xong một công tác gì, hay sau mỗi ngày làm việc, cần phải tự mình kiểm điểm xem có chổ nào nhầm lẫn, chổ nào chưa đầy đủ, có được ưu điểm nào nên nhờ, được kinh nghiệm gì quý đáng ghi Phải bỏ hẳn thái độ “xong việc thì thôi” Không chịu tự phê bình, tự chỉ trích thì không bao giờ tấn tới được” [22, 4,
26]
Đối với mỗi ngành, mỗi giới, Bác đều có lời dạy phù hợp, thiết thực và sâu sắc Trong bức thư gửi đồng chí Hoàng Mai lúc đó là giám đốc sở công an XII (tháng 3 năm 1948), Bác nhắc nhở anh em rèn luyện tư cách đạo đức Tư cách người công an cách mạng là:
“Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính
Đối với chính phủ, phải tuyệt đối trung thành
Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép
Đối với công việc, phải tận tụy
Đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo”
Nói tóm lại là những đạo đức và tư cách mà người công an cách mệnh phải có, phải giữ cho đúng Những điều đó, chẳng những nên luôn luôn nêu trên báo mà lại nên viết thành ca dao cho mọi người công an học thuộc, nên viết thành khẩu hiệu
dán ở những nơi anh em công an thường đến (nhà ăn, phòng ngủ,…) [23, 5,
406-407] Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn quan tâm đến tự phê bình và phê bình Trong báo cáo chính trị tại Đại hội II của Đảng, Người khẳng định: “Về luật phát triển, Đảng lao động Việt Nam dùng lối tự phê bình và phê bình để giáo dục đảng viên, giáo dục quần chúng” [10, 12, 37]
Người thường căn dặn cán bộ, đảng viên: “Mỗi người mỗi ngày phải thiết thực
tự kiểm điểm và kiểm điểm đồng chí mình Hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự
Trang 35sửa chữa và giúp đồng chí mình tự sửa chữa” [23, 5, 233] Người cho rằng, nếu
không kiên quyết sửa chữa khuyết điểm, thì cũng như giấu giếm bệnh tật trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh ngày càng nặng, nguy đến tính mệnh: “Một đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một đảng hỏng Một đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm, xét
rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính” [23, 5,
261]
Tấm lòng yêu thương con người của Bác Hồ còn được thể hiện rõ trong quan
hệ đồng chí, đồng đội, anh em Nhưng đối với bản thân mình Bác đòi hỏi phải nghiêm khắc, nhưng đối với bạn bè, đồng chí phải rộng rãi, đòi hỏi tất cả mọi người phải có sự tôn trọng con người, tôn trọng lẫn nhau Đối với cán bộ, đảng viên, Bác dạy học chủ nghĩa Mác - Lênin là để thương yêu nhau hơn Bác nói:
“Học chủ nghĩa Mác-Lênin là để sống với nhau cho có nghĩa, có tình” Đối với Bác chỉ có nâng con người lên, chứ không cho phép hạ thấp, vùi dập con người xuống, dù cho họ có khuyết điểm, thiếu sót Vì vậy, phải thực hiện tự phê bình và phê bình nhằm nâng cao điểm tích cực, hạn chế những tiêu cực để mỗi người,ngày càng tốt hơn, có ích hơn cho Đảng, cho đất nước Và Bác khuyên mọi người trong
tự phê bình phải thẳng thắn, chân thành để giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ Bác dạy
“Ở đời ai cũng có chỗ tốt, chỗ xấu Ta phải khéo nâng cao chỗ tốt, khéo sửa chữa
chỗ xấu cho họ”, [23, 5, 252] Đối với Đảng, Bác đòi hỏi “Đảng phải thương yêu
cán bộ, nhưng thương yêu không phải vỗ về, nuông chiều, thả mặc Thương yêu là
giúp cho họ học tập thêm, tiến bộ thêm”
1.2.3 Bao dung với những người có sai lầm, khuyết điểm nhưng đã nhận rõ sai lầm và cố gắng sửa chữa khuyết điểm
Trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, đặc biệt là tư tưởng về tình yêu thương con người thì bao dung là một trong những yếu tố rất quan trọng nhằm cảm hóa
Trang 36con người, hạn chế những mầm ác trong họ Theo Người, mỗi cá nhân cũng như mỗi cộng đồng người đều có ưu điểm, khuyết điểm, mặt tốt, mặt xấu, mặt được, mặt chưa được…hết sức phong phú, như năm ngón tay dài ngắn khác nhau, như mấy mươi triệu con người Việt Nam có thế này thế khác nhưng tấm lòng nhân ái của Người bao dung tất cả Người từng nói rằng, tuy dài ngắn khác nhau, nhưng tất
cả năm ngón tay đều hợp lại nơi bàn tay, tuy người thế này, người thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều cũng là nòi giống Lạc Hồng, ai cũng có ít hay nhiều lòng yêu nước
Trong xã hội và trong mỗi con người ta, thường có hai mặt: thiện và ác, tốt và xấu Thiện – ác, tốt – xấu là hai cái mâu thuẫn luôn luôn đấu tranh gay gắt với nhau trong bản thân và xã hội Ở trong cuộc sống, ai cũng có cái tốt, cái xấu Đối với cái tốt chúng ta cần nêu gương để học tập, phát huy Đối với cái xấu thì ta phải đưa ra biện pháp để giáo dục, đồng thời phải tạo điều kiện cho họ sửa chữa lỗi lầm Đối với những người lầm đường lạc lối, Người dạy phải khoan hồng, “vui mừng
đón rước những đứa con vì cảnh ngộ mà lạc bầy” [12, 9 - 10]
Tháng 10- 1945, trong Thư gửi những người Pháp ở Đông Dương, rất có lý,
có tình, Hồ Chí Minh đã chỉ ra tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến của nhân dân ta, kêu gọi lương tri, lương năng của những người Pháp đang sống ở Đông Dương, trịnh trọng tuyên bố chính sách bảo vệ tính mạng, tài sản của họ và tình thân ái đối với những người lương thiện Nối tiếp truyền thống “Thương người như thể thương thân”, “đánh kẻ chạy đi không đánh kẻ chạy lại”, thấm nhuần lòng nhân
ái bao la của Hồ Chí Minh, dân tộc chúng ta đã không bao giờ hạ mình xuống mức
“trả thù báo oán”, mà bao giờ cũng đứng ở tầm cao của lòng khoan dung vốn gắn liền với bản chất nhân đạo của cách mạng Việt Nam
Trong thư gửi các ngụy binh Người viết: “Các người cũng là máu đỏ da vàng tuy các người đã phạm tội nặng là cầm súng chống lại Tổ Quốc, song Chính phủ kháng chiến độ lượng khoan hồng, thương hại các người như những đứa con
Trang 37lầm đường Cho nên nặng về giáo dục, nhẹ tay xử phạt, để dìu dắt các người bỏ đường tà theo đường chính đối với tất cả ngụy binh, thì Chính phủ sẽ khoan hồng, những người sớm quay về với Tổ quốc sẽ trọng thưởng những người và những nhóm đái tội lập công lớn”
Chính Bác là người đã “thức tỉnh” cái đẹp, cái thiện trong những người con lầm đường lạc lối, bằng lòng yêu thương, độ lượng người đã đỡ dậy những người trượt ngã, nâng họ lên và yêu thương họ nữa, giáo dục họ quay về với dân tộc, với cội nguồn của mình Bởi Người vẫn tin một điều rằng: con người luôn có tình, có thiện Trong Di chúc Người đã từng căn dặn: “Đảng ta phải có tình đồng chí yêu thương lẫn nhau” Chính lời căn dặn đó đã nhắc nhở mỗi cán bộ đảng viên phải luôn chú ý trau dồi phẩm chất yêu thương con người Tình yêu thương ấy phải dựa trên nguyên tắc phê bình và phê bình một cách chân thành, nghiêm túc giữa những người cùng lý tưởng, cùng phấn đấu cho một sự nghiệp chung Nó khác xa với thái
độ “dĩ hòa vi quý” bao che sai lầm khuyết điểm cho nhau, càng xa lạ với thái độ yêu nên tốt, ghét nên xấu, bè cánh có thể đưa đến những tổn thất cho Đảng, cho cách mạng
Đối với Hồ Chí Minh lòng yêu thương con người không chỉ đơn thuần là yêu thương dân tộc mình đó còn phải yêu thương cả nhân loại, đó còn là độ lượng, khoan dung ngay với chính kẻ thù khi họ đã xám hối, Người đã từng thốt lên:
“Than ôi, trước lòng bác ái thì máu Pháp hay máu Việt cũng đều là máu, người Pháp hay người Việt cũng đều là người”
Còn nhớ trong một lần Bác đến thăm trại giam tù binh Pháp, bước vào một phòng giam, Bác thấy tên tù binh lạnh run người, không đắn đo Bác đã cởi chiếc
áo bông mà đồng bào Trung Quốc tặng Người cho tù binh mặc Bước sang phòng giam khác thấy một tù binh bị ho Người lại cởi nốt chiếc khăn quàng cổ đưa cho người tù binh đó Bác đã chỉ thị phải cứu chữa tận tình cho thương binh địch, không được để tù binh thiếu ăn trong lúc thuốc men lương thực ta không hề dư dật
Trang 38Bác chỉ thị cho Bộ chỉ huy chiến dịch thông báo cho phía Pháp rằng ta sẽ trao trả tất cả số tù binh bị thương tại Thất Khê
Đối với cán bộ, đảng viên có lỗi, Hồ Chí Minh bao giờ cũng mong muốn và tạo điều kiện cho họ sửa chữa lỗi lầm Người nâng niu trân trọng, khuyến khích mặt tốt, mặt thiện trong con người, lấy đó làm biện pháp giúp đỡ mọi người có thói
hư tật xấu Người viết: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng Ta phải biết làm cho phần tốt nảy nở hoa mùa xuân để đẩy lùi phần ác chứ không phải dập cho tơi bời”
1.2.4 Yêu thương con người phải gắn liền với của đấu tranh chống cái ác, thực hiện mục tiêu giải phóng con người, mang lại tự do hạnh phúc cho con người
Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên trong lòng một dân tộc có truyền thống nhân
ái, lại tiếp nhận được những tinh hoa văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây, về đạo làm người của Nho giáo, về cứu khổ, cứu nạn, nhân ái, khoan dung của Phật giáo, về lý tưởng nhân văn thời cách mạng tư sản đang lên, chống phong kiến, chống xã hội… Từ khi đến với chủ nghĩa Mác – Lê nin, thấm nhuần học thuyết nhân đạo hiện thực của chủ nghĩa Mác, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh đã
có những chuyển biến bước ngoặt mang tính tổng hợp từ nhiều giá trị tinh hoa của nhân loại Tình yêu thương con người của Hồ Chí Minh đã trở thành lẽ sống của Người, yêu thương con người gắn với lòng tin ở con người, dùng sức của con người để giải phóng con người, trọng nhân tài, vì con người và phục vụ con người Xuất phát từ tình yêu thương ấy mà Người đã đi tìm con đường giải phóng cho dân tộc, giải phóng khỏi mọi áp bức, bất công Mục tiêu của Hồ Chí Minh đã từng nói rõ trong Lời ra mắt của báo Người cùng khổ (Le Paria) năm 1921: “đi từ giải phóng những người nô lệ mất nước, những người lao động cùng khổ đến giải phóng con người”
Trang 39Chính ham muốn mãnh liệt ấy đã tạo cho Người một ý chí, một nghị lực phi thường Ở những thời điểm then chốt của lịch sử, với tầm nhìn xa trông rộng của một "phượng hoàng đại ngàn", Hồ Chí Minh đã sáng suốt và dũng cảm đi tới những phán quyết lịch sử Năm 1945, khi thời cơ cách mạng đã đến, Người chỉ thị:
"Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập" Vào giữa những nǎm 60, lợi dụng khó khăn của ta, khi phong trào cộng sản quốc tế có xung đột và chia rẽ nghiêm trọng, đế quốc Mỹ đã ồ ạt đổ hơn nửa triệu quân vào miền nam Việt Nam và tăng cường cho không quân, hải quân ném bom, bắn phá
dữ dội miền bắc, hòng đưa Việt Nam trở lại thời kỳ đồ đá! Trước tình thế đó, Người vẫn thể hiện quyết tâm và khí phách của toàn Đảng, toàn dân: "Dù nó ném hóa biển cũng phải giải phóng miền nam cho kỳ được!" Thật "hiếm có một nhà lãnh đạo nào, trong những giờ phút thử thách, lại tỏ ra sáng suốt, bình tĩnh, gan dạ,
quên mình, kiên nghị và dũng cảm một cách phi thường như vậy"
Với đường lối đúng đắn mà Người đề ra, tập hợp xung quanh mình những nhân tài trên nhiều lĩnh vực, ở nhiều độ tuổi, đoàn kết toàn dân tộc vào một mặt trận thống nhất và tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của quốc tế, nhân dân ta đã đánh đuổi đế quốc thực dân, giải phóng dân tộc, nước ta hoàn toàn độc lập, thống nhất
và xây dựng cuộc sống mới
Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, Người đã đề ra những nhiệm vụ cấp bách là diệt giặc đói và giết giặc dốt cùng với việc chống giặc ngoại xâm Trước mắt phải xóa đói nghèo, làm cho kinh tế phát triển “làm cho người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu, người khá giàu thì giàu thêm” [23, 5, 65]
Người chăm lo đến việc nâng cao dân trí, chống giặc đói, giặc dốt, xóa nạn
mù chữ, phát triển giáo dục Người từng nói “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” Người yêu cầu Đảng cầm quyền Phải chăm lo nâng cao trình độ học vấn cho nhân dân, chăm lo phát triển mọi mặt của dân tộc ta Người thường nói chế độ thực dân
Trang 40đã dùng mọi thụ đoạn ngu dân để đầu độc dân tộc ta, đê hủ hóa nhân dân ta bằng những thói xấu như lười biếng, tham ô… Cho nên phải làm sao để dân tộc Việt Nam trở thành một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng
đáng với nước Việt Nam độc lập, sánh vai với các cường quốc năm châu
Có thể nói, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, trong đó có tư tưởng về tình yêu thương con người được trình bày ở trên cho thấy sự phong phú, toàn diện, sâu sắc
và thiết thực, truyền thống mà hiện đại từ nội dung đến phương pháp, từ lý luận đạo đức đến thực tiễn và thực hành đạo đức của Người Yêu thương con người trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là sự thống nhất hữu cơ, không thể tách rời giữa tư tưởng đạo đức và thực tiễn đời sống đạo đức của Người, là hiện thân sinh động, chân thực, cảm động về trí tuệ, tình cảm, tâm hồn, lối sống và nhân cách Hồ Chí Minh – con người Việt Nam đẹp nhất, là bản sắc độc đáo của văn hóa đạo đức dân tộc gắn liền với tầm cao tư tưởng đạo đức của thời đại cách mạng và tiếp biến được những tinh hoa văn hóa đạo đức của nhân loại Tình yêu thương con người trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trở thành văn hóa đạo đức bởi Người không chỉ nêu ra triết lý (tư tưởng) đạo đức mà còn thực hành nêu gương theo triết lý đó, bằng việc làm, hành động, lối sống đạo đức, đem đến cho chúng ta một minh chứng cụ thể, sống động đầy sức thuyết phục Đó chẳng những là thước đo trình độ nhân tính trong phát triển mà còn là nhu cầu, là sự thôi thúc nội tâm để hành động
tự giác, thành giá trị bền vững của chủ thể, tạo ra động lực thúc đẩy đối với sự phát triển của con người và xã hội Tình yêu thương con người của Hồ Chí Minh tiêu biểu cho giá trị, sức sống, tác dụng và ảnh hưởng của văn hóa đạo đức cách mạng trong cuộc hành trình lịch sử vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Chủ tịch
Hồ Chí Minh