Trong những năm qua Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Đà Nẵng đã quan tâm sâu sát hơn đối với công tác giáo dục thể chất cho học sinh ở các hệ thống trường học nhằm phục vụ tốt cho công t
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
- -
LÊ VĂN CHIẾN
Nghiên cứu tính hiệu quả của trò chơi vận động trong học tập môn giáo dục thể chất cho học sinh khối 11 trường THPT Ngũ Hành Sơn –
thành phố Đà Nẵng
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
SƯ PHẠM GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Thể dục thể thao là bộ phận của nền văn hóa xã hội, là một hoạt động rèn luyện thân thể con người nhằm nâng cao và hoàn thiện thể chất, nâng cao thành tích thể thao, góp phần làm phong phú sinh hoạt văn hóa và giáo dục con người phát triển cân đối hợp lý
Giáo dục thể chất là một bộ phận của thể dục thể thao, là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học động tác và phát triển có chủ định các tố chất vận động Giáo dục thể chất nhằm tăng cường sức khỏe, phát triển thể chất con người, phát triển con người toàn diện Trong hệ thống giáo dục, nội dung đặc trưng của giáo dục thể chất gắn liền đức – trí – thể – mĩ Trong hệ thống ấy thì giáo dục thể chất là một trong những nhân tố giáo dục toàn diện nhân cách Mục đích của giáo dục thể chất của nước ta là: bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành con người phát triển toàn diện, có sức khỏe dồi dào, thể chất cường tráng,
có dũng khí kiên cường để kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng một cách đắc lực và sống một cuộc sống vui tươi, lành mạnh, ấm no, hạnh phúc Vì vậy giáo dục thể chất cho thế hệ trẻ là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu trong chiến lược con người của Đảng và Nhà nước ta Giáo dục thể chất không chỉ là nhiệm vụ riêng của ngành giáo dục và thể dục thể thao mà nó trở thành mối quan tâm của toàn xã hội
Trong chiến lược phát triển thể dục thể thao Việt Nam đến năm 2020 của
Thủ tướng chính phủ đã đặt ra mục tiêu: “ Đẩy mạnh công tác giáo dục thể chất và thể thao trường học, bảo đảm yêu cầu phát triển con người toàn diện, làm nền tảng phát triển thể thao thành tích cao và góp phần xây dựng lối sống lành mạnh trong tầng lớp thanh – thiếu niên” [15]
Trang 3Giáo dục thể chất là một môn học bắt buộc trong trường học từ giáo dục mầm non cho đến đại học và được đặt ngang hàng hàng với các môn học khác, là một bộ phận không thể thiếu trong nền giáo dục Việt Nam Giáo dục thể chất trong trường học trước hết là chuẩn bị cho học sinh sức khỏe dồi dào, các tố chất thể lực phát triển toàn diện, nâng cao các hoạt động của các cơ quan trong cơ thể, hoàn thiện các kỹ năng kỹ xảo vận động Thông qua các hoạt động giáo dục thể chất hướng các em tới tình yêu hoạt động thể dục thể thao và lựa chọn các môn thể thao phù hợp với năng khiếu của mình
Trong những năm qua Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Đà Nẵng đã quan tâm sâu sát hơn đối với công tác giáo dục thể chất cho học sinh ở các hệ thống trường học nhằm phục vụ tốt cho công tác giảng dạy, hoạt động ngoại khóa và các phong trào thể dục thể thao của học sinh; trong chương trình đào tạo của các trường trung học phổ thông, công tác giáo dục thể chất được quan tâm, thường xuyên đầu tư đổi mới về trang thiết bị, cơ sở vật chất, sân bãi, dụng cụ và cả đội ngũ giáo viên, nhiều trường đã đầu tư cải tạo và xây dựng nhiều công trình thể dục thể thao như: nhà tập đa năng, sân bóng đá qua đó đã có những bước chuyển biến tích cực đối với công tác giáo dục thể chất trong trường học
Trường THPT Ngũ Hành Sơn một trong những ngôi trường mới trong hệ thống các trường THPT ở thành phố Đà Nẵng, được thành lập vào ngày 03 tháng
07 năm 1998, bước đầu còn gặp rất nhiều khó khăn, tuy nhiên nhờ sự quan tâmcủa lãnh đạo thành phố Đà Nẵng, quận Ngũ Hành Sơn, Sở GD&ĐT, hội phụ huynh học sinh cùng với sự nỗ lực phấn đấu của thầy và trò, vừa dạy học vừa xây dựng, ngôi trường đã từng bước hoàn chỉnh về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên ngày càng lớn mạnh, chất lượng ngày càng được cải thiện Cơ sở vật chất phục vụ cho công tác giáo dục thể chất đã được trang bị nhiều hơn, trường có nhà tập đa năng, có sân tập bóng đá, sân tập luyện TDTT… tuy nhiên việc giảng
Trang 4dạy và học tập đang còn nhiều khó khăn và hạn chế Để công tác giáo dục thể chất trong nhà trường ngày càng đi vào chiều sâu và đạt được những mục tiêu quan trọng hơn nữa trong việc phát triển thể chất cho đại bộ phận học sinh cần
có những biện pháp để cho các em thích thú hơn trong học tập, các em có niềm đam mê và hăng hái tham gia vào các hoạt động thể dục thể thao qua đó bồi dưỡng cho các em trở thành con người phát triển toàn diện Trò chơi vận động chính là một biện pháp cần thiết đối với công tác giáo dục thể chất trong nhà trường, đây vừa là nội dung học tập, vừa là một phương pháp giảng dạy hiệu quả; trò chơi vận động gồm những hình thức hoạt động phong phú, sinh động và hấp dẫn với tâm sinh lý lứa tuổi, được đông đảo các học sinh ưa thích để các em hứng thú hơn với việc học tập giáo dục thể chất trong nhà trường Ở lứa tuổi này các bài tập, bài học nếu được giảng dạy dưới dạng trò chơi sẽ lôi cuốn học sinh, các em sẽ hứng thú hơn trong học tập, tạo tính tích cực, tự giác, qua đó việc truyền thụ kiến thức đạt kết quả cao
Thực tế việc sử dụng trò chơi vận động vào trong giảng dạy và học tập giáo dục thể chất hiện nay ở các trường phổ thông chưa tận dụng được những tác dụng của nó để hoàn thành nhiệm vụ giảng dạy và học tập GDTC một cách hiệu quả; giáo viên, học sinh chưa thực sự hiểu sâu về hiệu quả của trò chơi vận động trong giảng dạy môn giáo dục thể chất: thời lượng để sắp xếp, tổ chức trò chơi vận động trong giáo án giảng dạy khó khăn, không đảm bảo được thời gian giảng dạy Vì vậy không phát huy được tính hiệu quả của trò chơi vận động đối với việc học tập môn giáo dục thể chất cho các em học sinh
Hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về trò chơi vận động trong học tập môn giáo dục thể chất ở nhiều địa phương với những khía cạnh khác nhau nhưng cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt nào về tính
Trang 5hiệu quả của trò chơi vận động trong học tập môn giáo dục thể chất cho học sinh trường THPT Ngũ Hành Sơn – thành phố Đà Nẵng
Để góp phần vào việc nâng cao chất lượng công tác Giáo dục thể chất và hiểu biết thêm về tầm quan trọng và tính hiệu quả của trò chơi vận động trong học tập môn giáo dục thể chất tại các trường THPT ở thành phố Đà Nẵng nói chung và trường THPT Ngũ Hành Sơn - thành phố Đà Nẵng nói riêng Chúng tôi
mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu tính hiệu quả của trò chơi vận động trong học tập môn giáo dục thể chất cho học sinh khối 11 trường THPT Ngũ Hành Sơn – thành phố Đà Nẵng”
Trang 6Chương 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Quan điểm, Đường lối của Đảng và Nhà nước về GDTC trong trường học
Lênin sau cách mạng Tháng mười Nga từng nói: “Để hoàn thành và hoàn thành sự nghiệp Chủ nghĩa Cộng sản cần phải bồi dưỡng thế hệ thanh niên có một cơ thể khỏe mạnh, cường tráng, một ý chí cứng như gang, rắn như thép ”[10] Tiếp thu quan điểm đó của Lênin, Hồ Chí Minh đã từng nói với thanh niên: “Phải rèn luyện thân thể để cho khỏe mạnh Khỏe mạnh thì mới có
đủ sức tham gia một cách dẻo dai, bền bỉ những công việc ích nước, lợi dân”[10] Những quan điểm đó của các nhà lãnh đạo là tư tưởng chỉ đạo cách
mạng đồng thời cũng chỉ rõ vị trí, ý nghĩa quan trọng của thể dục thể thao trong giáo dục toàn diện cũng như mối quan hệ biện chứng giữa thể dục, đức dục, trí dục và mỹ dục
Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định rõ vị trí quan trọng của TDTT trong chính sách kinh tế - xã hội nhằm bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, tạo ra sức mạnh và động lực phát triển đất nước Giáo dục thể chất là một trong mục tiêu giáo dục toàn diện của Đảng và Nhà nước ta, và nằm trong hệ thống giáo
dục quốc dân Giáo dục thể chất được hiểu là: “Quá trình sư phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ, hoàn thiện về thể chất và nhân cách, nâng cao khả năng làm việc, và kéo dài tuổi thọ của con người”[10]
Những quan điểm đó được xuất phát từ những cơ sở lý luận của học thuyết Mác – Lênin về con người và phát triển con người toàn diện, những nguyên lý thể chất của Macxit, tư tưởng quan điểm của Hồ Chí Minh về TDTT nói chung
Trang 7và GDTC cho thế hệ trẻ nói riêng Những cơ sở lý luận đó đều được Đảng quán triệt trong đường lối phát triển TDTT trong suốt thời kỳ lãnh đạo của mình
Chỉ thị 106/CT/TW ngày 02/10/1958 của Ban bí thư TW Đảng về công tác TDTT đã đề cập đến những vấn đề quan trọng như: vai trò tác dụng của công tác GDTC về thể thao quốc phòng và phát triển phong trào TDTT quần chúng, nhất là trường học
Chỉ thị 131/CT/TW ngày 13/01/1960 của Ban bí thư TW Đảng về công tác TDTT và chỉ thị 108/CT/TW của Ban bí thư TW về tăng cường TDTT trong những năm tới, đã xác định được vị trí và tầm quan trọng của TDTT, coi TDTT trở thành yêu cầu của quần chúng và là một mặt của sự nghiệp xây dựng CNXH
và chủ trương trên được cụ thể hóa tới sự phát triển phong trào TDTT trong học sinh
Đại hội Đảng lao động lần thứ III tháng 9/1960 đã định hướng công tác giáo dục và rèn luyện thể chất đối với tuổi trẻ học đường và chủ trương này được hội nghị TW lần thứ VIII tháng 4/1963 phát triển lên một bước mới Đến nghị quyết VIII BCH TW Đảng khoá VIII đã khẳng định bắt đầu đưa việc giảng dạy thể dục và một số môn thể thao cần thiết vào chương trình học tập của trường phổ thông
Nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản lần thứ VII tháng 6/1991 khẳng định về công tác TDTT cần coi trọng và nâng cao chất lượng GDTC trong trường học Chương III điều 35, 36, 41 hiến pháp Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã ghi:
“GDTC là một môn bắt buộc trong các trường học”
Nghị quyết Hội nghị TW Đảng lần thứ V khóa VII về giáo dục đào tạo đã
khẳng định mục tiêu: “Xây dựng con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng
về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức.”
Trang 8Trong Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992 có ghi: “Thanh niên được gia đình, Nhà nước và xã hội tạo điều kiện học tập, lao động và giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ, bồi dưỡng về đạo đức, truyền thống dân tộc, ý thức công dân và lý tưởng xã hội chủ nghĩa, đi đầu trong công cuộc lao động sáng tạo và bảo vệ Tổ quốc”
Chỉ thị số 113 - TTG, ngày 7 tháng 3 năm 1995 của Thủ tướng Chính phủ
về việc xây dựng quy hoạch phát triển ngành TDTT, Thủ tướng Chính phủ yêu
cầu: “Bộ Giáo dục và Đào tạo cần đặc biệt coi trọng việc giáo dục thể chất trong nhà trường, cải tiến nội dung giảng dạy thể dục thể thao nội khoá, ngoại khoá, quy định tiêu chuẩn rèn luyện thân thể cho học sinh ở các cấp học; có quy chế bắt buộc các trường, nhất là các trường đại học phải có sân bãi, phòng tập thể dục thể thao; có biện pháp hợp lý và có kế hoạch tích cực đào tạo đội ngũ giáo viên thể dục thể thao, đáp ứng nhu cầu ở tất cả các cấp học Bộ Giáo dục
và Đào tạo cần có một thứ trưởng chuyên trách chỉ đạo công tác thể dục thể thao trong trường học”
Nghị quyết số 08-NQ/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước
phát triển mạnh mẽ về thể dục, thể thao đến năm 2020 nhằm mục tiêu: “Tiếp tục hoàn thiện bộ máy tổ chức, đổi mới quản lý, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thể dục, thể thao; tăng cường cơ sở vật chất, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, công nghệ làm nền tảng phát triển mạnh mẽ và vững chắc sự nghiệp thể dục thể thao; đến năm 2020, phấn đấu 90% học sinh, sinh viên đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể; các trường học, xã, phường, thị trấn, khu công nghiệp có đủ cơ sở vật chất thể dục, thể thao phục vụ việc tập luyện của nhân dân; trình độ một số môn thể thao trọng điểm được nâng cao ngang tầm Châu Á và thế giới; bảo đảm các điều kiện để sẵn sàng đăng cai tổ chức thành công các sự kiện thể thao lớn của Châu Á và thế giới”
Trang 9Từ các dẫn liệu nói trên, có thể nói rằng những quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về GDTC và thể thao trường học được thể hiện rõ và nhất quán trong Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh, Chỉ thị, Nghị quyết, Thông tư của Đảng, Chính phủ, Quốc hội và các Bộ, ngành, đoàn thể chính trị xã hội có liên quan
Đó là quan điểm coi GDTC là một bộ phận quan trọng của giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, nhằm giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ, hoàn thiện về thể chất và nhân cách, có trí tuệ phát triển cao để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN
1.2 Vai trò của GDTC trong trường học
1.2.1 GDTC là một bộ phận cấu thành của giáo dục phát triển toàn diện
Vị trí của GDTC là do nhu cầu của xã hội đối với giáo dục quyết định Từ lịch sử phát triển của GDTC có thể nhận ra rằng GDTC là một bộ phận cấu thành quan trọng của giáo dục phát triển toàn diện Nó là yêu cầu của xã hội và là yêu cầu tất nhiên của lịch sử
Mục tiêu của GDTC của nước ta là “nhằm tăng cường sức khỏe, phát triển thể chất, góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách, đáp ứng yêu cầu giáo dục toàn diện cho người học” Đó là phương hướng chiến lược của GDTC,
trong đó đòi hỏi tất cả các mặt giáo dục phải hướng tới phát triển học sinh toàn diện tất cả các mặt đức, trí, thể, mỹ và kỹ, để họ trở thành những người chủ tương lai của đất nước
Đức dục và trí tuệ rất quan trọng, thể dục cũng rất quan trọng Văn kiện
Đại hội Đảng lần thứ VIII đã chỉ rõ “cơ thể cường tráng là cơ sở vật chất của đời sống vật chất và tinh thần của xã hội” Không có thể chất cường tráng, học
sinh khó hoàn thành nhiệm vụ học tập và khó phát huy tác dụng của mình trong
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Thời kỳ mới – thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, càng có yêu cầu càng mới, càng cao đối với việc nâng cao thể chất cho học sinh; yêu cầu con
Trang 10người phát triển mạnh khỏe, hài hòa để có thể công tác trong những điều kiện lao động với tốc độ cao, cường độ lớn và thần kinh căng thẳng Do đó cần phát huy hơn nữa GDTC để giáo dục phát triển con người toàn diện
1.2.2 GDTC là cơ sở của TDTT toàn dân
Bác Hồ đã từng nói “dân cường thì nước thịnh”, “non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không,chính là nhờ một phần lớn vào công học tập của các cháu"[3]
Tuổi học sinh là giai đoạn sinh trưởng của cơ thể, là giai đoạn hưng thịnh trong sự phát triển của cơ thể, giai đoạn nhạy cảm của hầu hết các tố chất thể lực của cơ thể Tăng cường rèn luyện ở tuổi học sinh làm xúc tiến cơ thể học sinh phát triển bình thường, đặt nền móng cho một cơ thể cường tráng
GDTC có ý nghĩa quan trọng đối với việc phát hiện và bồi dưỡng nhân tài, nâng cao trình độ thể thao GDTC nâng cao sức khỏe, bảo đảm sự phát triển bình thường của cơ thể học sinh Phát triển thể lực, hình thành các thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh và giáo dục các phẩm chất đạo đức cho học sinh
GDTC có tác dụng quan trọng đối với việc đẩy mạnh phong trào TDTT quần chúng phát triển Thông qua các hoạt động GDTC ngoài giờ học, các em học sinh có nhu cầu tập luyện TDTT tại các điểm tập luyện khác ngoài trường nhằm mục đích tăng cường sức khỏe, phát triển các tố chất thể lực, phát triển các năng khiếu thể thao Từ đó thúc đẩy các em học sinh tham gia các hoạt động TDTT trong và ngoài trường, qua đó đẩy mạnh phong trào TDTT quần chúng cùng phát triển
Tóm lại, GDTC có ý nghĩa chiến lược quan trọng đối với việc phát triển TDTT nước nhà, có tác dụng toàn diện, lâu dài và cơ bản
1.2.3 GDTC là yếu tố tích cực trong đời sống văn hóa tinh thần
Trang 11GDTC có tác dụng to lớn trong việc xây dựng nền văn hóa mới và con người mới TDTT là một phần trọng yếu của văn hóa, đồng thời cũng là biện pháp quan trọng để xây dựng những phẩm chất cao quý của con người, là cơ sở vật chất của sự phát triển trí lực
TDTT có tác quan trọng đối với trí lực Cơ thể cường tráng, đặc biệt là hệ thống thần kinh khỏe mạnh Thông qua tập luyện TDTT có thể bồi dưỡng năng lực cảm nhận, sức tư duy linh hoạt, trí tưởng tượng phong phú, sức chú ý và năng lực ghi nhớ Các hoạt động thể dục giữa giờ lại có thể tiêu trừ mệt mỏi, làm cho đầu óc minh mẫn, tinh thần thoải mái, nâng cao hiệu quả học tập
TDTT còn có tác dụng rất tốt đối với mỹ dục Luyện tập TDTT làm cơ thể học sinh cân xứng thể hình, tư thế ngay ngắn, động tác kiều diễm Như vậy GDTC với nội dung phong phú là hình thức độc đáo có vai trò to lớn trong việc bồi dưỡng hình thể đẹp, động tác đẹp, tư thế đẹp, cử chỉ và tâm hồn đẹp, từ đó xây dựng óc mỹ quan chính xác, nâng cao năng lực cảm thụ và diễn đạt thẩm
mỹ, yêu mến và sáng tạo cái đẹp
TDTT còn là phương thức giải trí hứng thú, lành mạnh có tinh thần quần chúng Tham gia tập luyện TDTT, tiến hành các cuộc giao lưu, biểu diễn, thi đấu sau học tập tạo nên sự hưởng thụ văn hóa cao sang, làm cho hoạt động văn hóa nghiệp dư càng thêm phong phú, đồng thời đó cũng là biện pháp quan trọng để chiếm lĩnh trận địa tư tưởng văn hóa ngoài giờ, phòng ngừa và khắc phục các hành vi tiêu cực
GDTC còn có ý nghĩa quan trọng đối với việc giáo dục tư tưởng, đạo đức cho học sinh, có tác dụng tốt để bồi dưỡng phẩm chất, ý chí, tác phong, cũng như xây dựng lối sống cao thượng cho các em học sinh Nội dung GDTC đa dạng và phong phú, phù hợp với tính hiếu động của thanh thiếu niên và nhi đồng nên có thể thu hút các em tích cực tham gia, đồng thời qua đó các em được sự giáo dục
Trang 12nhiều mặt Tính chất của các bài tập GDTC rất khác nhau là điều kiện hữu ích để bồi dưỡng lòng dũng cảm, ý chí kiên cường, tinh thần hợp tác, ý chí tập thể v.v cho các em Tính đua tranh cao độ trong thi đấu và tập luyện TDTT cũng tạo điều kiện để bồi dưỡng các em tinh thần sáng tạo, chí tiến thủ, phấn đấu gian khổ, tinh thần trách nhiệm và trọng danh dự Giải thưởng qua thi đấu giúp các
em khoan khoái về tinh thần và tăng thêm lòng tự tin Thông qua tập luyện và thi đấu thể thao các em nhận thức được sự giáo dục về chủ nghĩa yêu nước, về lý tưởng, đạo đức và ý thức tổ chức kỷ luật
1.2.4 GDTC là yếu tố cơ bản để xây dựng một đội ngũ lao động và những chiến sĩ tương lai của Tổ quốc
GDTC trước hết chuẩn bị cho học sinh có một trạng thái sức khỏe dồi dào, các tố chất thể lực phát triển toàn diện, nâng cao hoạt động của các cơ quan hệ thống cơ thể, phát triển và hoàn thiện các kỹ năng kỹ xảo vận động, nhất là các
kỹ năng vận động thực dụng như đi, chạy, nhảy, mang vác, leo trèo, bơi lội
GDTC giáo dục học sinh phẩm chất ý chí cần thiết, tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, ý chí dũng cảm, kiên cường là những đức tính cần có trong lao động và phục vụ quân ngũ
1.2.5 GDTC làm phong phú đời sống xã hội hiện đại
Ở thời kỳ học sinh các em được bồi dưỡng GDTC, hiểu được chính xác bản chất và giá trị của GDTC, được thử nghiệm trong các hoạt động thực tiễn của sự vận động, thưởng thức được sự hứng thú vận động, do đó các em sẽ trở thành những người làm chủ các hoạt động GDTC, đặt cơ sở vững chắc cho thói quen vận động trong suốt cuộc đời của mình, làm cho sinh hoạt của con người càng thêm văn minh, hạnh phúc và mạnh khỏe
Trang 13Thông qua các hoạt động TDTT, đặc biệt là các cuộc giao lưu và thi đấu thể thao mối quan hệ giữa trò và trò, trò và thầy, thầy và thầy, cũng như gia đình, phụ huynh với nhà trường càng thêm tăng cường gắn bó
GDTC ngày càng có tác dụng to lớn cả về chiều sâu lẫn chiều rộng, có ý nghĩa chiến lược quan trọng, vượt ra ngoài phạm vi giáo dục của nhà trường và
có giá trị xã hội rộng lớn, không những chỉ dừng lại ở chức năng tăng cường thể chất mà còn tác dụng toàn diện đến việc phát triển tâm thế hài hòa, góp phần xây dựng văn minh vật chất – tinh thần cho con người
1.3 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh THPT
Bản chất của tâm sinh lý con người là một quá trình biến đổi các chức năng tâm sinh lý Là sự thay đổi về lượng của các chức năng tâm sinh lý dẫn đến thay đổi về chất và đưa đến hình thành cái mới một cách nhảy vọt Sự phát triển tâm sinh lý của con người là một quá trình lĩnh hội nền văn hóa xã hội của loài người
Sự phát triển tâm sinh lý của mỗi người dựa trên cơ sở vật chất riêng Sự khác nhau này có thể ảnh hưởng tới tốc độ, đỉnh cao của các thành tựu của con người cụ thể trong một lĩnh vực nào đó, có thể ảnh hưởng tới con đường và phương thức khác nhau của sự phát triển các thuộc tính tâm sinh lý Chúng là những tiền đề, điều kiện cần thiết để phát triển tâm sinh lý, ngoài ra sự phát triển tâm sinh lý đó có thành hiện thực hay không còn phụ thuộc vào một tổ hợp những yếu tố khác nữa
Lứa tuổi học sinh THPT là thời kỳ đạt được sự trưởng thành về thể lực, nhưng sự phát triển cơ thể còn kém so với sự phát triển cơ thể của người lớn Nhịp độ tăng trưởng về chiều cao và trọng lượng đã chậm lại, sự phát triển của
hệ thần kinh có những thay đổi quan trọng do cấu trúc bên trong của não phức tạp và các chức năng của não phát triển Hoạt động của các em ngày càng phong
Trang 14phú và phức tạp, nên vai trò và hứng thú xã hội của thanh niên không chỉ mở rộng về số lượng và phạm vi mà còn biến đổi cả về chất lượng
Ở độ tuổi này tập luyện thể dục thể thao là một phương pháp hữu hiệu để tăng cường thể chất, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức và ý chí cho học sinh để trở thành những người phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ, kỹ và là những chủ nhân tương lai của đất nước
lý, phẩm chất nhân cách và năng lực riêng
Ở lứa tuổi học sinh THPT các em tỏ ra mình là người lớn, muốn mọi người xung quanh phải tôn trọng mình, thích thể hiện cá tính và cái tôi cá nhân của mình Đã có một trình độ hiểu biết nhất định, có khả năng phân tích tổng hợp, luôn tò mò, ham học hỏi và có những ước mơ hoài bão cho mình Ở tuổi này mang tính chất tập thể, điều quan trọng đối với các em là được sinh hoạt với các bạn cùng lứa tuổi, cảm thấy mình cần cho nhóm, có uy tín, có vị trí nhất định trong nhóm Các em quan hệ với bạn bè chiếm vị trí lớn hơn hẳn so với quan hệ với người lớn tuổi hoặc ít tuổi hơn Quan hệ dựa dẫm, phụ thuộc vào cha mẹ dần dần cũng được thay thế bằng quan hệ bình đẳng, tự lập Vì vậy, ngoài gia đình, nhà trường thì các giáo viên giảng dạy GDTC cần có những biện pháp để phát huy những cá tính mạnh mẽ, những mặt tích cực của học sinh, đồng thời để sữa chữa những khuyết điểm bộc lộ trong quá trình hoạt động GDTC của học sinh
Trang 15Lứa tuổi học sinh THPT có quá trình hưng phấn chiếm ưu thế hơn nên các
em tiếp cận cái mới rất nhanh, nhưng cũng nhanh nhàm chán khi bị môi trường bên ngoài tác động tạo nên sự đánh giá cao về mình, trái lại chỉ thất bại một lần
là tạm thời tự ti, rụt rè và dễ bỏ cuộc Hưng phấn của các em xuất hiện thêm nhiều mệt mỏi và đã được xác định rõ ràng hơn, mang tính chất bền vững, sâu sắc và phong phú hơn Các em thể hiện tính năng động, sẵn sàng đi vào các lĩnh vực tri thức mà các em ưa thích và coi thường những thứ mà các em không thích
Vì vậy, khi tiến hành công tác GDTC cho lứa tuổi này chúng ta cần tạo điều kiện để các em thỏa mãn tính tích cực, độc lập trong hoạt động, tạo điều kiện để nâng cao tinh thần trách nhiệm của các em Bên cạnh đó chúng ta cần phải uốn nắn, nhắc nhở, chỉ bảo, động viên các em, giúp đỡ các em hoàn thành tốt bài tập trong điều kiện các em tiếp thu chậm Từ đó các em không chán nản,
có định hướng đúng đắn và hiệu quả của bài tập được nâng cao, giúp các em tự tin trong học tập
1.3.2 Về mặt sinh lý
Lứa tuổi học sinh THPT là thời kỳ phát triển tương đối êm ả về mặt sinh
lý Nhịp độ tăng trưởng về chiều cao và trọng lượng đã chậm lại Sự phát triển của hệ thần kinh có những thay đổi quan trọng do cấu trúc bên của não phức tạp
và các chức năng của não phát triển
* Hệ thần kinh:
Sự phát triển của hệ thần kinh có những thay đổi quan trọng, cấu trúc của
tế bào bán cầu đại não có những đặc điểm như trong cấu trúc tế bào não người lớn Số lượng dây thần kinh liên hợp tăng lên, liên kết các phần khác nhau của
vỏ não lại Điều đó cần thiết cho sự phức tạp hóa các hoạt động phân tích, tổng hợp của bán cầu đại não trong quá trình học tập
Trang 16Hệ thần kinh tiếp tục phát triển đi đến khả năng hoàn thiện tư duy, khả năng phân tích tổng hợp và trừu tượng hóa được phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành nhanh chóng phản xạ có điều kiện Đây là đặc điểm thuận lợi để các em nhanh chóng tiếp thu và hoàn thiện kỹ thuật động tác Tuy nhiên đối với một số bài tập mang tính đơn điệu, không hấp dẫn cũng làm cho các em chóng mệt mỏi Cần thay đổi hình thức tập luyện phong phú, vận dụng các hình thức thi đấu, trò chơi để hoàn thành tốt các bài tập
Ngoài ra, ở lứa tuổi này do sự hoạt động mạnh của các tuyến giáp, tuyến sinh dục, tuyến yên làm cho tính hưng phấn của hệ thần kinh chiếm ưu thế, giữa hưng phấn và ức chế không cân bằng, làm ảnh hưởng đến hoạt động thể dục Vì vậy giáo viên GDTC cần bố trí các bài tập thích hợp, chú ý quan sát các phản ứng của cơ thể học sinh để có biện pháp giải quyết kịp thời
* Hệ tuần hoàn:
Ở lứa tuổi học sinh THPT hệ tuần hoàn đang phát triển và đang dần đi đến hoàn thiện, trọng lượng và sức chứa của tim phát triển tương đối hoàn chỉnh Tim của nam mỗi phút đập 70 – 80 lần, của nữ 75 – 85 lần Mỗi phút cung cấp
số lượng máu gần tương đương với lứa tuổi trưởng thành
Phản ứng của hệ tuần hoàn trong vận động tương đối rõ rệt, nhưng sau vận động mạch đập và huyết áp hồi phục tương đối nhanh chóng Cho nên lứa tuổi này có thể tập những bài tập chạy dài sức và những bài tập có cường độ và khối lượng vận động tương đối lớn hơn lứa tuổi trung học cơ sở
Bên cạnh đó, tuyến sinh dục, tuyến giáp và tuyến yên hoạt động mạnh, các chất nội tiết tiết ra nhiều sẽ làm rối loạn sự chi phối của hệ thần kinh đối với hệ tuần hoàn, dẫn đến hiện tượng cao huyết áp tạm thời của tuổi dậy thì Vì vậy trong khi bố trí các bài tập có khối lượng cường độ vận động lớn, hoặc các bài
Trang 17tập phát triển sức bền cần phải hết sức thận trọng, nếu không sẽ có hại đến sức khỏe
* Hệ hô hấp:
Vòng ngực lứa tuổi 15 – 17, nam trung bình từ 67,30 đến 72,22 cm, nữ từ 69,50 đến 74,84cm Diện tích tiếp xúc không khí của phổi khoảng 100 – 120m2gần bằng lứa tuổi trưởng thành Dung lượng phổi tăng lên nhanh chóng, lúc 15 tuổi dung lượng phổi khoảng 2 – 2,5 lít, từ 16 – 18 tuổi khoảng 3 – 4 lít, khả năng hoạt động của phổi tăng lên rõ rệt Lứa tuổi học sinh THPT khả năng hấp thụ O2 và thải các khí CO2 cao hơn Từ 12 – 14 tuổi thành phần khí thở ra gồm 17,6% O2, 3,3% khí CO2 , từ 16 – 18 tuổi thành phần khí thở ra có nhiều thay đổi gồm 16% O2, 4% khí CO2 Tần số thở của lứa tuổi học sinh THPT cơ bản giống người lớn khoảng 10 – 20 lần/phút
Tuy nhiên các cơ thở vẫn còn yếu nên sức co giãn của lồng ngực thấp, học sinh chủ yếu thở bằng bụng Trong tập luyện cần chú ý thở bằng ngực, thở sâu, chậm để tăng cường cơ năng cơ quan hô hấp Luyện tập các động tác phát triển
cơ ngực, cơ lườn, cơ mình, tập các môn: bơi lội, chạy cự ly trung bình, chạy việt
dã để có tác dụng tốt đến cơ quan hô hấp
* Hệ cơ xương:
Giai đoạn này chiều cao của cơ thể phát triển chậm lại, đồng thời bề ngang phát triển vì lúc này chiều dài của xương đã bị cốt hóa, điều đó chấm dứt sự phát triển của chiều dài, sự cốt hóa này đã phá hủy và tiêu hao sụn dự trữ Mặt khác, được xây dựng lại thành các tổ chức xương do các tế bào xương
Mỗi năm: nữ cao thêm 0,5 – 1cm, nam từ 1 – 3cm, nếu không rèn luyện thân thể, luyện tập TDTT nữ sau 20 tuổi, nam sau 25 tuổi hầu như không cao lên nữa Tập luyện TDTT sẽ làm cho xương phát triển thêm về chiều dài và nhất là
về chiều ngang Cột sống đã ổn định hình dáng nhưng vẫn chưa được củng cố,
Trang 18vẫn dễ bị cong vẹo Cho nên việc tiếp tục bồi dưỡng tư thế chính xác trong đi, chạy, nhảy, ngồi cho các em vẫn rất cần thiết và không thể xem nhẹ
Hệ thống cơ phát triển mạnh mẽ nhưng vẫn còn tương đối yếu Các cơ bắp lướn phát triển tương đối nhanh như cơ đùi, cơ cánh tay, còn các cơ nhỏ như cơ bàn tay, ngón tay phát triển chậm hơn Các cơ co phát triển sớm hơn các cơ duỗi, nhất là cơ duỗi của nữ lại càng tương đối yếu
Do những đặc điểm trên nên ở lứa tuổi này cần tập những bài tập phát triển sức mạnh, để góp phần đẩy mạnh sự phát triển của các cơ Các bài tập phải
có tác dụng phát triển toàn diện các cơ, phải có mức độ phù hợp với sức chịu đựng của cơ thể Bảo đảm cho các cơ từ lớn đến nhỏ đều được phát triển Vì vậy trong quá trình học tập và tập luyện giáo viên cần chú ý đến đặc điểm này để lựa chọn bài tập cho phù hợp
1.4 Thực trạng công tác GDTC trong các trường phổ thông ở Việt Nam và tại trường THPT Ngũ Hành Sơn – thành phố Đà Nẵng
1.4.1 Thực trạng công tác GDTC trong các trường phổ thông
Công tác GDTC trong các trường phổ thông có một vị trí và ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc đào tạo đội ngũ tri thức mới đáp ứng được những yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa nước nhà để thực hiện mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Giai đoạn học tập tại các trường phổ thông của học sinh là giai đoạn quan trọng chuẩn bị cho học sinh những kiến thức cơ bản để bước vào đời
Trong những năm qua công tác GDTC trong các trường phổ thông đã đạt được những thành tựu đáng kể về nhiều mặt:
- Bộ Giáo dục và Đào tạo, các ban ngành địa phương đã tích cực đầu tư và nâng cấp cơ sở vật chất phục cho giảng dạy và học tập
Trang 19- Thời lượng chương trình giảng dạy GDTC trong trường phổ thông cũng
đã được tăng lên
- Đội ngũ giáo viên được bổ sung và nâng cấp về trình độ chuyên môn
- Công tác kiểm tra, đánh giá đã được thực hiện cụ thể hơn và có nhiều hình thức đổi mới
- Chương trình sách giáo khóa đã đưa vào cải cách và đổi mới, đồng thời chuyển biến một cách cơ bản phù hợp với mục tiêu đào tạo
Mặc dù đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ nói trên, tuy nhiên chất lượng và hiệu quả GDTC trường học vẫn còn nhiều hạn chế:
- Thể dục không thuộc các môn văn hóa và không là môn thi tốt nghiệp, vì vậy nó còn chưa được sự quan tâm đúng mực của các bậc phụ huynh, các em học sinh và các ban ngành liên quan, nhiều người không hiểu được tác dụng vô cùng
to lớn của GDTC trong trường học Trong quá trình học tập và rèn luyện GDTC
có thể bồi dưỡng cho học sinh năng lực cảm nhận, tư duy linh hoạt, trí tưởng tượng phong phú, tăng sức chú ý và năng lực ghi nhớ, làm giảm mệt mỏi và căng thẳng, giúp cho đầu óc minh mẫn, thoải mái và nâng cao hiệu quả học tập Học tập và rèn luyện GDTC là điều kiện hữu ích bồi dưỡng những đức tính như: tinh thần đoàn kết, hy sinh, dũng cảm, tạo dựng niềm tin vào cuộc sống cho học sinh
- Điều kiện cơ sở vật chất tuy đã được đầu tư nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu học tập và giảng dạy ở các trường phổ thông
- Hoạt động đào tạo chỉ diễn ra trong giờ học, việc học sinh tự học, tự rèn luyện hầu như ít diễn ra, chất lượng giờ học, tiết học chưa phải là chỉ tiêu đánh giá kết quả đào tạo
- Hoạt động của giáo viên trong trường học mang tính chất tổ chức giờ tập luyện cho học sinh, thông qua 90 phút/tuần để phát triển thể chất cho học sinh
Trang 201.4.2 Thực trạng công tác GDTC tại trường THPT Ngũ Hành Sơn – thành phố
Đà Nẵng
Công tác GDTC của trường THPT Ngũ Hành Sơn – thành phố Đà Nẵng được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, Ban giám hiệu nhà trường cùng các ban ngành đoàn thể nên ngày càng được đầu tư và phát triển nhằm phục vụ tốt cho việc học tập và rèn luyện GDTC cho học sinh, thúc đẩy các phong trào thể dục thể thao trong nhà trường ngày càng phát triển Cơ sở vật chất phục vụ cho công tác giáo dục thể chất đã được trang bị nhiều hơn, trường có nhà tập đa năng, có sân tập bóng đá, tập luyện TDTT… Tuy nhiên để đáp ứng cho việc giảng dạy và học tập GDTC tại trường vẫn là một vấn đề lớn Với hơn 1500 học sinh và đội ngũ giáo viên giảng dạy GDTC có 4 giáo viên thì vấn đề học tập đang còn gặp nhiều khó khăn Diện tích của nhà trường cũng tương đối hẹp, chỉ đủ xây dựng phòng học và các phòng ban khác Diện tích sân tập chỉ đáp ứng được khoảng 25% nên việc phục vụ cho học tập và rèn luyện ngoại khóa cho học sinh hầu như
là không có Điều kiện sân bãi, dụng cụ phục vụ cho quá trình học tập GDTC đang còn sơ sài, sử dụng chưa hợp lý dẫn đến việc giảng dạy và học tập trở nên khó khăn hơn
Qua điều tra thực trạng cho thấy cần phải đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất và tăng cường thêm cán bộ giảng dạy của trường rất cần thiết cho việc giảng dạy và học tập GDTC Đồng thời phải đổi mới phương pháp giảng dạy, từ phương pháp truyền đạt kiến thức như trước thành những phương pháp giúp học sinh chủ động học tập dựa trên cơ sở vật chất nhà trường hiện có, mặt khác phải
bổ tu và sử dụng triệt để nhà tập đa năng để khắc phục những hạn chế trong học tập và nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập GDTC cho học sinh
1.5 Đặc điểm của trò chơi vận động
Trang 21Trong lịch sử xã hội loài người, đã có một thời kỳ dài con người phải sống bằng săn bắt và hái lượm Có thể nói, chính cuộc sống lao động và đấu tranh để sinh tồn và phát triển ấy đã là một sự thi đấu, một cuộc đọ sức về sức mạnh, sức nhanh, sức bền, sự khéo léo linh hoạt, tài trí và sự dũng cảm giữa con người với thiên nhiên, với động vật Chính trong cuộc sống lao động đó và nhờ có tư duy mà con người thấy cần thiết phải sự chuẩn bị trước về sức khỏe, về công cụ lao động cho từng hoạt động lao động của mình Những kinh nghiệm được lặp
đi, lặp lại nhiều lần trong thực tế đã giúp cho con người nhận biết được hiện tượng tập luyện Con người cũng dần dần nhận thấy rằng kết quả lao động phụ thuộc khá nhiều vào sự chuẩn bị trước bằng những động tác tương tự những thao tác lao động Sau một ngày lao động và đấu tranh vất vả, người ta tụ tập nhau lại
và vui mừng với những thành quả lao động của mình Trong những cuộc vui như vậy, người ta nhắc lại những thao tác quyết định mà nhờ đó con người đã thắng thiên nhiên để đem lại những thành quả Con người vui chơi mà tập luyện, tập luyện mà vui chơi Trong quá trình đó, người này thêm một chút, người kia bớt một chút, dần dần những thao tác lao động được hình tượng hóa mang tính chất tượng trưng Cộng vào đó, khi khả năng tư duy, khả năng trừu tượng với ngôn ngữ cũng như những kinh nghiệm tích lũy trong lao động phát triển cao, người ta thấy rằng không nhất thiết phải tập luyện những động tác y như những thao tác lao động mà chỉ tập luyện mang tính chất tượng trưng và trò chơi đã ra đời Trò chơi bắt nguồn từ lao động
Ngay từ những ngày đầu, trò chơi đã mang tính chất giáo dục rõ rệt Người ta dùng trò chơi để dạy con cái, dạy lớp người trẻ, chuẩn bị cho họ tiếp bước cha anh tham gia vào công cuộc lao động, đấu tranh để sinh tồn và phát triển Trong xã hội nguyên thủy, những trò chơi có ý nghĩa nhất là những trò chơi bắt chước thao tác lao động
Trang 22Sau này, cùng với giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội loài người, trường học được hình thành và mở rộng Trường học trở thành trung tâm tập trung những mầm non của xã hội Ở đó người ta sử dụng những phương pháp, nội dung giáo dục tinh hoa nhất để giáo dục lớp người trẻ, trong đó có trò chơi Trò chơi được coi là một trong những nội dung, đồng thời cũng là một phương
tiện giáo dục lớp trẻ nhanh nhất, có hiệu quả nhất, dễ tiếp thu nhất Ngày nay hầu
hết các nước trên thế giới rất coi trọng trò chơi, trò chơi được khai thác và sử dụng một cách triệt để trong giáo dục nói chung đặc biệt là trong giáo dục thể chất ở nhà trường phổ thông
Trong chương trình GDTC ở trường phổ thông, trò chơi vận động được sử dụng vừa là một nội dung học tập vừa là một phương tiện huấn luyện Các em chơi mà học, học mà chơi một cách nhẹ nhàng nhưng thấm mạnh, thấm sâu, chất lượng giáo dục cao Vì vậy tìm hiểu những đặc điểm cơ bản của của trò chơi để
sử dụng tác dụng tích cực của nó là điều cận thiết
Hầu hết những trò chơi vận động được sử dụng trong quá trình giáo dục thể chất ở nhà trường phổ thông đã mang tính mục đích rõ ràng Trong quá trình chơi, các em tiếp xúc, quan hệ với nhau, cá nhân phải hoàn thành nghĩa vụ của mình trước tập thể với một trách nhiệm cao, tập thể có trách nhiệm giúp cá nhân hoàn thành trách nhiệm của mình, vì vậy tình bạn, tình đồng chí, tinh thần tập thể, trách nhiệm của cá nhân trước tập thể được hình thành Cũng trong quá trình chơi, đã xây dựng cho các em tác phong khẩn trương, kỷ luật, sáng tạo để hoàn thành nhiệm vụ với năng suất cao góp phần vào sự hình thành nhân cách cho học sinh Vì vậy có thể nói trò chơi mang tính tư tưởng rất cao
Chơi là một nhu cầu trong đời sống của tuổi trẻ, đặc biệt là ở lứa tuổi học sinh cấp cơ sở và phổ thông Có thể nói yêu cầu vui chơi đối với các em cần thiết
và quan trọng như yêu cầu ăn, ngủ, học tập trong sinh hoạt hàng ngày Chính vì
Trang 23vậy dù được hướng dẫn hay không hướng dẫn, các em vẫn tìm mọi cách để chơi Các em tự tổ chức trò chơi trong mọi lúc, mọi nơi nếu có thể Do chơi là một yêu cầu của các em, nên khi được chơi các em đã tham gia một cách hoàn toàn có tự giác và chủ động Tự giác tham gia luyện tập là một yếu tố quan trọng trong học tập giáo dục thể chất Trò chơi đáp ứng rất tích cực các yếu tố đó, nên đặc tính tự giác là một trong những nguyên nhân làm cho trò chơi được coi trọng, được sử dụng một cách triệt để, tích cực trong giáo dục thể chất ở trường phổ thông
Trong quá trình chơi các em biểu lộ tình cảm rất rõ ràng: niềm vui khi thắng lợi, nỗi buồn khi thất bại, vui mừng khi đồng đội của mình hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc, bản thân thấy có lỗi khi không hoàn thành nhiệm vụ
do tập thể giao cho Vì danh dự của tập thể mà các em luôn luôn phải cố gắng phấn đấu khắc phục khó khăn để mang lại vinh quang cho tập thể trong đó có bản thân mình Do đó trò chơi vận động có tính thi đua rất cao
Mỗi trò chơi thường có những quy tắc, luật lệ, quy định nghiêm, nhưng cách thức đều đa dạng Trong khi đó bản thân trò chơi lại mang sẵn tính thi đua
và tính tự giác Vì vậy, khi đã tham gia chơi, thông thường người chơi vận dụng hết khả năng về sức lực, trí thông minh và óc sáng tạo của mình Chính những cái đó đã hạn chế khả năng điều chỉnh khối lượng vận động cho người chơi Đây
là một đặc điểm quan trọng mà các giáo viên khi tổ chức cho học sinh cần lưu ý, nếu không sẽ dẫn đến hiện tượng quá mệt mỏi, ảnh hưởng đến sức khỏe của các
em Dựa vào những quy tắc, yêu cầu và thời gian đã quy định của trò chơi mà tăng hay giảm phạm vi hoạt động, thời gian, không gian để điều chỉnh lượng vận động của trò chơi cho thích hợp
1.6 Ý nghĩa và tác dụng của trò chơi vận động trong giảng dạy và học tập GDTC
Trang 24Trong nhà trường phổ thông nước ta hiện nay, giáo dục thể chất được coi
là một hoạt động học tập như những hoạt động học tập văn hóa khác, là một bộ phận quan trọng trọng giáo dục và đào tạo thế hệ tương lai của Tổ quốc Trong chương trình giáo dục thể chất ở trường phổ thông, trò chơi chiếm vị trí đặc biệt quan trọng Trò chơi ở đây được sử dụng một cách triệt để, vừa là một nội dung học tập, vừa là một phương pháp giảng dạy Ở lứa tuổi này các bài tập, bài học nếu được giảng dạy dưới dạng trò chơi thì học sinh rất ham thích, các em học tập rất tích cực, tự giác, đạt kết quả cao Trò chơi đã được quy định một tỷ lệ thời gian nhất định trong chương trình giáo dục thể chất ở trường phổ thông, còn những môn khác như điền kinh, thể dục rèn luyện các kỹ năng vận động cơ bản đều được giảng dạy ở mức độ cơ bản đơn giản nhất, đôi khi được giảng dạy như một trò chơi Có thể nói trò chơi vận động và phương pháp giảng dạy trò chơi được đặc biệt chú ý và coi trọng trong những nội dung cũng như trong phương pháp truyền thụ kiến thức giáo dục thể chất cho cấp trung học phổ thông, trong
đó đặc biệt là những lớp đầu cấp
Trò chơi là một hình thức vận động tổng hợp các hoạt động vận động cơ bản của con người như đi, chạy, nhảy, ném, leo trèo, mang vác Trong chương trình giáo dục thể chất ở nhà trường phổ thông, trò chơi được kết hợp chặt chẽ với các môn thể dục, điền kinh, bóng chuyền, cầu lông Thông qua trò chơi, học sinh ôn luyện để củng cố và nâng cao kỹ thuật đã được học ở các môn trong chương trình giáo dục thể chất
Sau một tiết học giáo dục thể chất, việc giao bài tập cho học sinh về học tập và ôn luyện ở nhà trở thành một khâu không thể thiếu được và đang được nhiều giáo viên giáo dục thể chất và học sinh ủng hộ Nội dung học và ôn luyện
ở nhà có nhiều hình thức như học lý thuyết các nguyên lý kỹ thuật động tác, sưu tầm tranh ảnh kỹ thuật, tập các động tác bổ trợ, các bài tập phát triển thể lực và
Trang 25đặc biệt là các bài tập ôn luyện các bài đã học ở dạng trò chơi Vì vậy, trò chơi ở trường phổ thông không chỉ là một nội dung học tập mà còn là phương tiện giảng dạy có hiệu quả, cũng là một phương pháp được các em ưa thích Và trò chơi chính là một phương tiện để rèn luyện thể lực, thể chất và giáo dục nhân cách, phẩm chất đạo đức cho học sinh rất hiệu quả
Trò chơi cũng như những hoạt động giáo dục thể chất khác, nếu được thực hiện đúng phương pháp khoa học thì nhất định có tác dụng nâng cao sức khỏe Đây là mục đích cơ bản, quan trọng nhất trong giáo dục thể chất Trong quá trình chơi, hệ vận động được củng cố và phát triển, hệ hô hấp, tuần hoàn, bài tiết được rèn luyện, thông qua đó các chức năng thần kinh không ngừng được củng
cố, nâng cao và hoàn thiện làm cho học sinh phát triển toàn diện các tố chất nhanh, mạnh, bền, khéo léo cơ thể phát triển nhịp nhàng, cân đối và hài hòa đúng theo quy luật giới tính và lứa tuổi
Với những công trình nghiên cứu, nhiều nhà khoa học đã đi đến kết luận rằng: vận động là một hiện tượng sinh học, là một nhu cầu của cơ thể ở mọi lứa tuổi, đặc biệt với thanh thiếu niên Trong quá trình phát triển của cơ thể, nhu cầu vận động là chức năng sinh học bẩm sinh, là những tín hiệu có điều kiện phức tạp Mối quan hệ giữa các cơ quan cảm thụ đến bộ máy vận động thông qua sự chỉ huy của thần kinh trung ương là một mối liên hệ rất chặt chẽ Nói một cách khác, các phản xạ từ các cơ quan nội tạng có ảnh hưởng tới chức phận của hệ vận động, trước hết là cơ bắp và ngược lại tình trạng chức năng của hệ vận động
sẽ ảnh hưởng tới các cơ quan nội tạng Vì vậy, ít vận động là nguyên nhân gây ra
sự suy yếu toàn bộ cơ thể về chức năng của từng hệ cơ quan trong cơ thể
Tập luyện các bài tập thể chất, đối với học sinh trò chơi là một trong những hình thức tập luyện có hiệu quả nhất nhằm kích thích sự hoạt động của các cơ quan cảm thụ bản thể thông qua sự hoạt động của hệ thần kinh, tim
Trang 26mạch Kết quả sự trao đổi chất tăng lên, quá trình đồng hóa thức ăn trong cơ thể học sinh được đẩy mạnh, quá trình bài tiết được nhanh chóng, khí huyết lưu thông tạo ra một sự hoạt động dễ dàng cho cơ thể
Trò chơi vận động có nhiều hình thức hoạt động phong phú, sinh động và hấp dẫn với tâm sinh lý lứa tuổi, nên được đông đảo các học sinh ưa thích Khi được chơi các em đã phát huy hết khả năng tích cực của mình, đồng thời cũng biểu hiện những khía cạnh tiêu cực, điều đó cần được giáo dục và giúp đỡ sửa chữa Như vậy, trò chơi không những chỉ có tác dụng rèn luyện thể lực, tính thông minh, óc sáng tạo, sự vui tươi lành mạnh hồn nhiên, mà còn giáo dục cho học sinh tình yêu Tổ quốc, yêu lao động, hăng say học tập, giáo dục tính tổ chức
kỷ luật, tinh thần tập thể, tác phong nhanh nhẹn khẩn trương, sự thật thà, trung thực
Trang 27Chương 2 MỤC ĐÍCH – NHIỆM VỤ – PHƯƠNG PHÁP – TỔ CHỨC
NGHIÊN CỨU 2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu, đánh giá thực trạng giảng dạy và học tập của học sinh khối 11 trường THPT Ngũ Hành Sơn về trò chơi vận động trong môn học giáo dục thể chất Từ đó nghiên cứu tính hiệu quả của trò chơi vận động, đưa ra một số trò chơi nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập môn GDTC cho học sinh khối 11 trường THPT Ngũ Hành Sơn – thành phố Đà Nẵng
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
2.1.1 Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng công tác GDTC và thực trạng sử dụng
trò chơi vận động trong giảng dạy môn GDTC ở trường THPT Ngũ Hành Sơn – thành phố Đà Nẵng
2.1.2 Nhiệm vụ 2: Nghiên cứu và lựa chọn một số trò chơi vận động nhằm nâng
cao hiệu quả giảng dạy và học tập môn GDTC cho học sinh khối 11 trường
THPT Ngũ Hành Sơn - thành phố Đà Nẵng
Trang 282.1.3 Nhiệm vụ 3: Đánh giá tính hiệu quả các trò chơi vận động trong giảng dạy
và học tập môn GDTC cho học sinh khối 11 trường THPT Ngũ Hành Sơn – thành phố Đà Nẵng
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ đã đề ra chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
2.3.1 Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu khoa học
Chúng tôi sử dụng phương pháp này nhằm tổng hợp, thu thập các thông tin từ các nguồn tài liệu làm cơ sở lý luận để thực hiện đề tài, bao gồm:
- Một số văn kiện Nghị quyết của Đảng và Nhà nước về công tác GDTC nói riêng và TDTT nói chung
- Các chỉ thị của ngành TDTT
- Các văn bản của ngành về công tác GDTC trong trường phổ thông
- Tuyển tập nghiên cứu khoa học của sinh viên ngành TDTT
- Các sách giáo khoa, giáo trình lý luận, phương pháp, tâm sinh lý TDTT
- Các tài liệu chuyên môn có liên quan đến đề tài nghiên cứu qua sưu tầm và tìm hiểu từ các bài viết, các tuyển tập hội nghị và lấy từ mạng Internet
2.3.2 Phương pháp phỏng vấn tọa đàm
Chúng tôi sử dụng phương pháp này nhằm mục đích tìm hiểu thực trạng công tác giáo dục thể chất, thực trạng sử dụng trò chơi vận động trong học tập và giảng dạy môn giáo dục thể chất trường THPT Ngũ Hành Sơn, vai trò và ý nghĩa của trò chơi vận động đối với học tập và giảng dạy môn giáo dục thể chất và tính hiệu quả của nó,
cụ thể:
- Phỏng vấn gián tiếp: Phỏng vấn giáo viên về vấn đề sử dụng trò chơi vận động trong giảng dạy môn GDTC hay không Phỏng vấn học sinh khối 11 trường
Trang 29THPT Ngũ Hành Sơn xem các em có hưng phấn, thích thú học GDTC khi có sử dụng trò chơi vận động hay không (thông qua phiếu phỏng vấn)
- Phỏng vấn trực tiếp: Phỏng vấn trực tiếp giáo viên và học sinh khối 11 trường THPT Ngũ Hành Sơn để làm rõ hơn những thắc mắc mà phiếu hỏi chưa làm
rõ
2.3.3 Phương pháp quan sát sư phạm
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để quan sát thái độ học tập lượng vận động học sinh khối 11 trường THPT Ngũ Hành Sơn, phương pháp giảng dạy của giáo viên để xác định được vai trò, tính hiệu quả của trò chơi vận động trong học tập
và giảng dạy môn giáo dục thể chất Và sử dụng phương pháp này để quan sát và thu thập những số liệu, thông tin cần thiết trong quá trình thực nghiệm giúp cho việc rút ra kết luận chính xác hơn
2.3.4 Phương pháp thực nghiệm
Sau khi xây dựng các trò chơi vận động, đề tài đã dùng phương pháp thực nghiệm để kiểm định tính khoa học, tính thực tiễn, tính hiệu quả của trò chơi vận động trong quá trình học tập môn giáo dục thể chất của các em học sinh Tiến hành thực nghiệm cho học sinh ở 4 lớp khối 11 chia làm 2 nhóm, 2 lớp làm nhóm thực nghiệm và 2 lớp làm nhóm đối chứng
- Nhóm đối chứng học tập theo phương pháp thông thường
- Nhóm thực nghiệm học tập với phương pháp giảng dạy có áp dụng trò chơi vận động đã được lựa chọn
2.3.5 Phương pháp kiểm tra sư phạm
- Để kiểm tra và đánh giá tính hưng phấn trong học tập và các tố chất thể lực của các học sinh trước và sau thực nghiệm trò chơi vận động vào trong học tập và giảng dạy thông qua các test:
+ Lực bóp tay thuận (kg)
Trang 30+ Nằm ngửa gập bụng (lần/30 giây)
+ Bật xa tại chỗ (cm)
+ Chạy 30m xuất phát cao (giây)
+ Chạy con thoi 4 x 10m (giây)
+ Chạy tùy sức 5 phút (m)
- Đánh giá kết quả học tập của hai nhóm sau khi thực nghiệm
2.3.6 Phương pháp toán học thống kê
Chúng tôi sử dụng các công thức trong đo lường thể thao để tính toán các giá trị, các số liệu liên quan
B B A
A X
n n
X X X
X
- So sánh 2 số trung bình quan sát:
B A
B A
n n
X X t
Trang 31Từ tháng 11/2011 đến tháng 5/2012, chia ra làm 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1 (từ tháng 11/2011 đến tháng 1/2012): Tìm đề tài, viết đề cương,
cụ thể:
+ Tiến hành thu thập tài liệu về các vấn đề liên quan đến đề tài
+ Trao đổi mạn đàm với các chuyên gia (Giáo viên)
+ Xác định nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
+ Đưa ra những vấn đề cần thiết để làm sáng tỏ quá trình nghiên cứu của đề tài
+ Lập kế hoạch chuẩn bị mọi mặt liên quan đến công trình nghiên cứu
- Giai đoạn 2 (từ tháng 1/2012 đến tháng 3/2012): Tiến hành giải quyết các nhiệm vụ đã đặt ra
- Giai đoạn 3 (từ tháng 3/2012 đến tháng 5/2012): Viết và hoàn thành đề tài, bảo vệ công trình nghiên cứu
2.4.2 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu tính hiệu quả của trò chơi vận động trong học tập môn giáo dục thể chất của học sinh khối 11 trường THPT Ngũ Hành Sơn – thành phố Đà Nẵng
- Đối tượng thực nghiệm: Học sinh nam và nữ của 4 lớp khối 11 và các giáo viên trường THPT Ngũ Hành Sơn – thành phố Đà Nẵng
2.4.3 Nội dung nghiên cứu
Dựa vào quan sát trong quá trình học tập môn giáo dục thể chất của học sinh khối 11 trường THPT Ngũ Hành Sơn, khi có trò chơi vận động và khi không có trò chơi vận động, qua các số liệu thu được, theo kết quả phỏng vấn của học sinh và giáo viên trong trường, qua áp dụng các test Từ đó đánh giá được tính hiệu quả của trò chơi vận động trong học tập môn giáo dục thể chất của học sinh khối 11 trường THPT Ngũ Hành Sơn
Trang 322.4.4 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu ở:
- Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng
- Trường THPT Ngũ Hành Sơn – thành phố Đà Nẵng
2.4.5 Trang thiết bị nghiên cứu
- Sân thể dục, nhà tập đa năng, sân bóng đá trường THPT Ngũ Hành Sơn – thành phố Đà Nẵng
- Thước dây, đồng hồ bấm giây, bóng bay, bóng đá, bóng chuyền, dây dừa, còi, cờ và các dụng cụ hỗ trợ khác
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đánh giá thực trạng công tác GDTC và thực trạng sử dụng trò chơi vận động vào trong giảng dạy môn GDTC trường THPT Ngũ Hành Sơn – thành phố Đà Nẵng
3.1.1 Thực trạng công tác GDTC trường THPT Ngũ Hành Sơn – thành phố Đà Nẵng
3.1.1.1 Nội dung chương trình dạy học GDTC trường THPT Ngũ Hành Sơn
Chương trình dạy học GDTC của nhà trường đảm bảo đầy đủ các nội dung trong phân phối chương trình của Bộ Giáo dục đề ra, bao gồm các môn học bắt buộc và môn học tự chọn Dựa vào phân phối chương trình của Bộ, nhà trường
đã điều chỉnh một số nội dung để phù hợp với thực tiễn cơ sở vật chất của nhà trường và khả năng giảng dạy của giáo viên
Trong chương trình, các môn bắt buộc gồm: thể dục nhịp điệu, điền kinh, đá cầu, cầu lông… Còn các môn học tự chọn gồm: bóng chuyền, bóng rổ… Các nội dung đều được giảng dạy theo phân phối chương trình của Bộ Riêng nội dung chạy bền thì được áp dụng xuyên suốt quá trình học tập của học sinh và thường
Trang 33sử dụng ở phần cuối của một buổi học Mục đích nhằm duy trì, phát triển thể lực cho học sinh, phù hợp với điều kiện giảng dạy và học tập của nhà trường
Đối với môn GDTC, học sinh phải học đầy đủ cả môn bắt buộc cũng như môn tự chọn theo phân phối chương trình của nhà trường Tổng số tiết học môn GDTC mà một học sinh phải hoàn thành trong 3 năm học là 210 tiết (bao gồm lý thuyết, thực hành, ôn tập và kiểm tra) Trung bình mỗi năm học 70 tiết, được phân đều ra 2 kỳ
3.1.1.2 Cơ sở vật chất
Cở sở vật chất, các phương tiện dạy học là những yếu tố quan trọng tác động đến kết quả học tập và giảng dạy môn GDTC Nó là những điều kiện cần thiết, là phương tiện phục vụ cho quá trình học tập và giảng dạy, là điều kiện cho
sự hình thành và phát triển hứng thú trong học tập của các em học sinh Chính vì thế chúng tôi tiến hành điều tra thống kế toàn bộ số lượng dụng cụ, sân bãi để phục vụ cho việc giảng dạy và học tập môn GDTC của trường THPT Ngũ Hành Sơn – thành phố Đà Nẵng
Diện tích trường THPT Ngũ Hành Sơn tương đối rộng rãi, điều kiện cơ sở vật chất ngày càng được trang bị đầy đủ hơn Trường có sân tập luyện thể dục,
có nhà tập đa năng và các trang thiết bị phục vụ cho học tập
- Diện tích toàn trường: 16500m2
- Diện tích sân thể dục: 3000m2
- Diện tích nhà thi đấu: 700m2
Diện tích phục vụ cho công tác GDTC của trường là tương đối lớn tuy nhiên sân bãi học tập và tập luyện của học sinh đang còn thiếu thốn Điều đó gây nên khó khăn cho công tác GDTC của nhà trường
Trang 34Trang thiết bị phục vụ cho công tác GDTC là điều kiện không thể thiếu, là yếu tố vô cùng quan trọng để đảm bảo cho việc giảng dạy và học tập đạt được kết quả cao
Bảng 1: TRANG THIẾT BỊ PHỤC VỤ CHO CÔNG TÁC GDTC TẠI
TRƯỜNG THPT NGŨ HÀNH SƠN
TT Trang thiết bị, sân bãi
Hiện trạng sử dụng
Số lượng Tốt
Trang 35có thể đảm bảo cho việc giảng dạy và học tập bộ môn GDTC đạt kết quả cao
3.1.1.3 Đội ngũ giáo viên
Trong công tác GDTC thì người giáo viên đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc hướng dẫn và giáo dục các em học sinh, là tiền đề để các em học tập và rèn luyện tốt môn GDTC Để biết rõ hơn về đội ngũ giáo viên giảng dạy GDTC của nhà trường chúng tôi tiến hành tìm hiểu và điều tra về trình độ chuyên môn, thời gian công tác để thuận lợi cho quá trình nghiên cứu
Trang 36Bảng 2: THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN THAM GIA GIẢNG DẠY GDTC CỦA TRƯỜNG THPT
NGŨ HÀNH SƠN
TT Họ và tên Thời gian công tác Trình độ chuyên môn
Qua bảng điều tra trên tôi thấy rằng trình độ chuyên môn thể dục thể thao của các giáo viên đều ở trình độ đại học Hầu hết các giáo viên đã giảng dạy nhiều năm, có nhiều kinh nghiệm trong công tác giảng dạy và có năng lực tổ chức các hoạt động TDTT trong và ngoài trường Tuy nhiên với số lượng giáo viên như vậy thì việc giảng dạy cho hơn 1500 học sinh là rất khó khăn và ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả học tập của học sinh
3.1.2 Nhu cầu học tập của học sinh về môn GDTC ở trường THPT Ngũ Hành Sơn
Nhằm tìm hiểu về nhu cầu học tập môn GDTC của học sinh, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn khối 11: số phiếu phát ra là 100, số phiếu thu về là 100
phiếu Với câu hỏi: Bạn có thích học môn GDTC không? Tôi thu được kết quả
Trang 37Không thích 10 10%
Kết quả ở bảng 3 cho thấy ở trường Ngũ Hành Sơn nhu cầu học môn GDTC của các em học sinh chiếm tỷ là (66%) So sánh giữa những học sinh có nhu cầu học tập môn GDTC và những học sinh không có nhu cầu với môn học cho thấy: số học sinh yêu thích môn học GDTC chiếm ưu thế hơn so với không
có nhu cầu, nhưng tỷ lệ có sự chênh lệch chưa thật sự cao (66% so với 24%) Ở lứa tuổi các em cần và muốn được vận động, được tập luyện, thi đấu sẽ làm các
em cảm thấy sảng khoái hơn, vui vẻ hơn Vì vậy cần tạo cho các em học sinh có niềm hứng thú, có nhu cầu được học tập và rèn luyện thể chất của mình
Qua kết điều tra, nhìn chung học sinh trường THPT Ngũ Hành Sơn đa số
có nhu cầu được học môn GDTC Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận không nhỏ học sinh không ưa thích môn học này, do vậy cần đưa ra những biện pháp để kích thích sự hứng thú cho các em, tạo điều kiện để các em muốn được học môn
GDTC có như vậy mới đạt được hiệu quả giáo dục cao
3.1.3 Tìm hiểu thực trạng sử dụng trò chơi vận động trong giảng dạy và học tập môn Giáo dục thể chất trường THPT Ngũ Hành Sơn
Thông qua việc tìm hiểu các tư liệu, trao đổi và phỏng vấn với các giáo viên, các chuyên gia ở trường THPT Ngũ Hành Sơn, về vấn đề sử dụng trò chơi vận động trong quá trình giảng dạy chúng tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 4: KẾT QUẢ PHỎNG VẤN CÁC GIÁO VIÊN VỀ THỰC TRẠNG
SỬ DỤNG TRÒ CHƠI VẬN ĐỘNG VÀO TRONG GIẢNG DẠY MÔN
GDTC Ở TRƯỜNG THPT NGŨ HÀNH SƠN
Thường xuyên Thỉnh thoảng Không
Trang 38xuyên sử dụng trò chơi
vận động vào trong
giảng dạy môn GDTC
cho học sinh không?
Qua kết quả phỏng vấn ở bảng trên chúng tôi thấy rằng việc sử dụng trò chơi vận động vào trong quá trình giảng dạy môn GDTC của các giáo viên trường THPT Ngũ Hành Sơn đang còn rất hạn chế Hầu như tất các giáo viên thỉnh thoảng mới sử dụng trò chơi vận động vào trong giảng dạy
Qua trao đổi với các giáo viên về nguyên nhân trò chơi vận động ít được
sử dụng trong giảng dạy Đại đa số các giáo viên đều cho rằng nội dung giảng dạy quá nhiều, việc sắp xếp trò chơi vận động vào trong một giáo án giảng dạy là rất khó khăn, vì trò chơi vận động sẽ chiếm một thời lượng không nhỏ Mặt khác, tìm được các trò chơi để phù hợp với nội dung của bài học cũng gặp nhiều khó khăn, hơn thế nữa việc tổ chức trò chơi cho học sinh cũng không phải đơn giản Để tổ chức được trò chơi thì người tổ chức phải có kỹ năng tổ chức trò chơi
để tạo nên sự vui vẻ, hưng phấn cho học sinh trong quá trình chơi qua đó tác dụng tích cực đến kết quả học tập của học sinh
Mặc dù có những nguyên nhân chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến việc sử dụng trò chơi vận động vào trong học tập như vậy Nhưng khi phỏng vấn
về tác dụng của trò chơi vận động đối với việc học tập của học sinh, chúng tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 5: KẾT QUẢ PHỎNG VẤN CÁC GIÁO VIÊN VỀ TÁC DỤNG TRÒ CHƠI VẬN ĐỘNG TRONG GIẢNG DẠY VÀ HỌC TẬP MÔN GDTC
Có Không
Trang 3901 Theo thầy cô, trò chơi vận động có giúp cho tính hưng
phấn, tinh thần học tập của học sinh tăng lên không? 100%
02 Trò chơi vận động có phải là một nhân tố để phát triển
các tố chất thể lực của học sinh không? 100%
Qua bảng 5 trên chúng tôi thấy các giáo viên hiểu được tác dụng của trò chơi vận động trong giảng dạy và học tập môn GDTC cho học sinh Trò chơi vận động sẽ làm tăng tính hưng phấn cho học sinh trong quá trình học tập Giúp cho học sinh có nhiều hình thức hoạt động phong phú, sinh động và hấp dẫn Khi được chơi các em sẽ phát huy hết khả năng tích cực của mình, đồng thời cũng biểu hiện những khía cạnh tiêu cực, điều đó cần được giáo dục và giúp đỡ sửa chữa Qua sự hưng phấn, tích cực trong học tập và rèn luyện sẽ tạo điều kiện để phát triển các tố chất thể lực cho các em học sinh
Với những mặt tích cực như vậy, chúng tôi tiếp tục phỏng vấn các giáo viên về việc có nên sử dụng trò chơi vận động vào trong giảng dạy và học tập GDTC cho học sinh hay không, chúng tôi thu được kết quả như sau:
Bảng 6: KẾT QUẢ PHỎNG VẤN CÁC GIÁO VIÊN VỀ VIỆC CÓ NÊN SỬ DỤNG TRÒ CHƠI VẬN ĐỘNG TRONG GIẢNG DẠY VÀ HỌC TẬP MÔN GDTC TẠI TRƯỜNG THPT NGŨ HÀNH SƠN – TP ĐÀ NẴNG
Nên Không
Theo thầy (cô), có nên sử dụng trò chơi vận động trong
giảng dạy và học tập môn GDTC cho học sinh không? 100% 0%
Qua kết quả phỏng vấn ở bảng 6 cho thấy các giáo viên, các nhà chuyên môn đều cho rằng, nên sử dụng trò chơi vận động trong giảng dạy và học tập