Tính cấp thiết của đề tài
Ngành sản xuất nấm ăn và nấm dược liệu đã phát triển mạnh mẽ trên thế giới hàng trăm năm qua, với nhu cầu ngày càng tăng trong sản xuất và tiêu thụ do giá trị dinh dưỡng và dược liệu cao của nấm Nấm là thực phẩm giàu protein, vitamin, axit amin thiết yếu, chất béo và khoáng chất, đồng thời còn có nhiều công dụng dược liệu như tăng cường miễn dịch, kháng ung thư, kháng virus, và hỗ trợ điều trị các bệnh tim mạch Ngoài ra, nấm còn giúp hạ đường huyết, chống phóng xạ, chống oxy hóa, giải độc, bảo vệ tế bào gan và có lợi cho hệ thần kinh trung ương Vì vậy, nấm ăn và nấm dược liệu đóng vai trò quan trọng trong khoa học và đời sống.
Trên toàn cầu có khoảng 2.000 loài nấm ăn được, nhưng chỉ có 80 loại được nuôi trồng nhân tạo Tại Việt Nam, nghề trồng nấm đang được đầu tư và phát triển mạnh mẽ, với các loại nấm phổ biến như mộc nhĩ, nấm rơm, nấm mỡ, nấm bào ngư và nhiều loại nấm linh chi khác.
Ô nhiễm môi trường và thực phẩm bẩn đang gia tăng tỉ lệ mắc ung thư ở người trẻ Việc nghiên cứu các phương pháp phòng ngừa và điều trị bệnh hiểm nghèo ngày càng trở nên quan trọng Mặc dù thuốc và hóa chất trị liệu có thể hiệu quả trong một số trường hợp, nhưng chúng thường có chi phí cao và gây ra nhiều biến chứng Ngược lại, nấm dược liệu không chỉ hỗ trợ điều trị mà còn giúp phòng ngừa các bệnh như ung thư, bệnh tim mạch và nâng cao sức đề kháng.
Nấm vân chi (Trametes versicolor) là một loại nấm dược liệu quý giá, phổ biến ở các vùng ôn đới như Bắc Mỹ, châu Á và châu Âu Nấm này chứa các hợp chất polysaccharides kết hợp với protein, chủ yếu là PSP (polysaccharide peptide) và PSK (polysaccharide krestin) PSK được chiết xuất lần đầu tiên tại Nhật Bản vào cuối thập kỷ 60, trong khi PSP được phân lập tại Trung Quốc.
PSP và PSK từ nấm vân chi có tác dụng kích thích và bảo vệ tế bào miễn dịch Trong Y học cổ truyền Trung Quốc, nấm này giúp giảm đờm, chữa rối loạn phổi, và tăng cường thể lực, đặc biệt có lợi cho bệnh mãn tính Các bác sĩ Trung Quốc coi nấm vân chi là phương thuốc hiệu quả cho nhiễm trùng và viêm đường hô hấp, tiết niệu, và đường ruột Tại Nhật Bản, PSP từ nấm vân chi đã chứng minh khả năng kéo dài tuổi thọ cho bệnh nhân ung thư, bao gồm ung thư dạ dày, đại tràng, vòm họng, phổi, và vú Ở Anh, nghiên cứu trên hơn 30 bệnh nhân ung thư cho thấy bột nấm vân chi làm giảm hoạt tính enzyme telomerase và tăng cường phản ứng miễn dịch chống lại khối u.
Gần đây, Chính phủ Việt Nam đã đưa cây nấm vào danh mục sản phẩm quốc gia, tạo điều kiện cho sản lượng nấm tăng trưởng Việt Nam có tiềm năng lớn để trở thành cường quốc nấm nhờ vào nguồn phụ phẩm nông nghiệp phong phú như rơm, rạ, bã mía và vỏ cà phê, cùng với khí hậu thuận lợi cho cả nấm ưa nhiệt độ cao và thấp Nguồn lao động dồi dào và giá cả hợp lý, cùng với nhu cầu tiêu thụ nấm cao trong và ngoài nước, càng khẳng định tiềm năng này Việc tìm kiếm phương pháp và môi trường nuôi trồng phù hợp cho từng loại nấm là rất cần thiết Ngoài ra, việc sử dụng giống nấm vân chi dạng dịch thể để nuôi trồng quả thể sẽ giúp rút ngắn thời gian, nâng cao độ thuần và chất lượng, đồng thời giảm tỷ lệ nhiễm, phù hợp cho sản xuất nấm quy mô công nghiệp.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn và thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu quy trình nhân giống và nuôi trồng nấm vân chi (Trametes versicolor (L.) Pilat) trên môi trường tổng hợp”
Mục tiêu của đề tài
Đề tài: “Nghiên cứu quy trình nhân giống và nuôi trồng nấm vân chi (Trametes versicolor (L.) Pilat) trên môi trường tổng hợp” có hai mục tiêu chính:
- Xác định được các điều kiện, môi trường thích hợp để nhân giống và nuôi trồng nấm vân chi
- Bước đầu thử nghiệm nuôi trồng quả thể nấm vân chi từ giống dịch thể.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu này cung cấp dữ liệu khoa học quan trọng về các chỉ tiêu sinh trưởng cơ bản, nhu cầu dinh dưỡng và điều kiện tối ưu cho nấm vân chi trong quá trình nhân giống và nuôi trồng.
Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu đã phát triển quy trình nhân giống và nuôi trồng nấm vân chi, giúp cải thiện khả năng sinh trưởng, rút ngắn thời gian nuôi cấy và tăng năng suất nấm thương phẩm Công nghệ này có tính khả thi cao, phù hợp cho sản xuất nấm quy mô công nghiệp, đồng thời tạo ra chế phẩm có giá trị dược tính cao, đáp ứng nhu cầu của con người.
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Chủng giống nấm vân chi được lấy từ Trung tâm ứng dụng khoa học và công nghệ tỉnh Lâm Đồng.
Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Nghiên cứu nhân giống nấm vân chi
- Phân lập nấm vân chi từ quả thể
- Nhân giống cấp 1 nấm vân chi
- Nhân giống cấp 2 nấm vân chi trên môi trường xốp và môi trường lỏng
2.2.2 Nghiên cứu nuôi trồng quả thể nấm vân chi
- Nghiên cứu ảnh hưởng của nguồn nguyên liệu đến sinh trưởng của nấm vân chi
- Nghiên cứu ảnh hưởng của nguồn giống đến sinh trưởng của nấm vân chi
2.2.3 Khảo sát hoạt tính sinh học của nấm vân chi
Phương pháp nghiên c ứu
2.3.1 Quan sát hình thái giải phẫu quả thể nấm vân chi a Hình thái cấu tạo quả thể
Quan sát hình dạng và cấu tạo của quả thể nấm, bao gồm thân nấm, lớp bào tầng và cấu trúc cắt ngang, đồng thời chụp hình để ghi lại đặc điểm Sử dụng kính hiển vi với vật kính X40 để quan sát hệ sợi trên quả thể và thực hiện chụp hình Ngoài ra, cần chú ý đến hệ tơ sợi thứ cấp trong quá trình nghiên cứu.
Lấy mẫu hệ sợi lan từ môi trường thạch và đặt lên mặt lam kính mà không nhuộm màu Sử dụng lamelle để đè nhẹ mẫu và quan sát dưới kính hiển vi với vật kính X40 Ghi nhận hình dạng hệ sợi, vách ngăn ngang và mấu liên kết, sau đó tiến hành chụp hình.
2.3.2 Nghiên cứu nhân giống nấm vân chi a Phân lập nấm vân chi từ quả thể [15]
Tiến hành khảo sát trên 5 loại môi trường: PGA, PGA cải tiến, agaricus, raper, czapek bằng cách cho môi trường vào 1/5 ống nghiệm và làm nút bông bao miệng ống Hấp khử trùng môi trường ở 121 oC trong 30 phút, sau đó đặt ống nghiệm nghiêng 15 độ để tạo thạch nghiêng Sau 24 giờ, tiến hành phân lập bằng cách chọn tai nấm tươi, không bị sâu bệnh Lau nấm và tay bằng cồn 70 o, gọt sạch gốc nấm và khử trùng dụng cụ cấy Xẻ đôi tai nấm, cắt một miếng ở giữa tai nấm cho vào ống nghiệm trong điều kiện vô trùng với đèn cồn Sau khi tách lấy thịt nấm, mở nút bông ống nghiệm, đặt vào giữa và đè nhẹ để cố định Ủ ở nhiệt độ 30 ± 1 oC, theo dõi sự tạp nhiễm và tốc độ lan tơ của nấm mỗi 24 giờ.
Khảo sát được thực hiện trên 5 loại môi trường nuôi cấy nấm, bao gồm PGA, PGA cải tiến, agaricus, raper và czapek, tất cả đều được đựng trong ống nghiệm và hấp khử trùng Sau 24 giờ, mẫu giống được cấy từ các ống nghiệm, mỗi ống cấy một miếng thạch có kích thước 0,5 cm² được cắt từ ống nghiệm chứa giống gốc Quá trình ủ được thực hiện ở nhiệt độ phòng (30 ± 1 oC) cho đến khi tơ nấm phát triển đồng đều trên bề mặt thạch.
Có thể bảo quản giống bằng cách gói ống nghiệm trong giấy báo và giữ ở 4 0 C c Nhân giống cấp 2 nấm vân chi trên môi trường xốp và môi trường lỏng
Tiến hành thí nghiệm trên môi trường xốp và môi trường lỏng như sau:
Môi trường xốp bao gồm 99% lúa và 1% CaCO3, được cho vào 2/3 chai thủy tinh Sau đó, môi trường này được hấp khử trùng ở nhiệt độ 121°C trong 30 phút và để nguội trong một ngày Tiếp theo, cấy giống từ môi trường thạch bằng cách cắt một miếng thạch 0,5 cm² từ ống nghiệm giống cấp 1 và đặt vào mỗi chai Cuối cùng, ủ ở nhiệt độ phòng cho đến khi sợi tơ lan kín chai.
Để tiến hành thí nghiệm, cho 50 ml môi trường PG cải tiến (không có agar) vào các bình tam giác 250ml Hấp khử trùng bằng hơi nước nóng ở 121°C trong 30 phút, sau đó để nguội trong một ngày Cấy lượng tơ nấm như nhau vào mỗi chai từ ống nghiệm giống cấp 1 và đặt các chai vào máy lắc với tốc độ 120 vòng/phút ở nhiệt độ phòng.
2.3.3 Nghiên cứu nuôi trồng quả thể nấm vân chi a Nghiên cứu ảnh hưởng của nguồn nguyên liệu đến sinh trưởng của nấm vân chi
Các môi trường được dùng để tiến hành thí nghiệm bao gồm:
- MT 1: 88% mùn cưa + 5% cám gạo + 5% cám bắp + 1% saccharose + 1% CaCO3
- MT 2: 88% mùn cưa + 10% cám gạo + 1% saccharose + 1% CaCO3
- MT 3: 88% mùn cưa + 10% cám bắp + 1% saccharose + 1% CaCO3
- MT 4: 78% mùn cưa + 10% cám gạo + 10% cám bắp + 1% saccharose + 1% CaCO3
- MT 5: 83% mùn cưa + 15% cám gạo + 1% saccharose + 1% CaCO3
- MT 6: 83% mùn cưa + 15% cám bắp + 1% saccharose + 1% CaCO3
- MT 7: 78% mùn cưa + 20% cám gạo + 1% saccharose + 1% CaCO3
- MT 8: 68% mùn cưa + 15% cám gạo + 15% cám bắp + 1% saccharose + 1% CaCO3
- MT 9: 78% mùn cưa + 20% cám bắp + 1% saccharose + 1% CaCO3
- MT 10: 73% mùn cưa + 25% cám gạo + 1% saccharose + 1% CaCO3
- MT 11: 73% mùn cưa + 25% cám bắp + 1% saccharose + 1% CaCO3
Công thức môi trường nuôi trồng nấm vân chi bao gồm 58% mùn cưa, 20% cám gạo, 20% cám bắp, 1% saccharose và 1% CaCO3 Mùn cưa cao su được làm ẩm bằng nước vôi 1% và ủ trong 3 – 5 ngày, sau đó đảo đều và ủ tiếp 3 – 5 ngày nữa để đạt độ ẩm 65 – 67% Sau khi xử lý, mùn cưa được phối trộn với phụ gia theo công thức, đóng gói trong túi 17 x 35 cm với trọng lượng 1 kg mỗi túi, và mỗi môi trường bố trí 10 túi Quá trình khử trùng được thực hiện bằng nồi hấp áp lực trong 24 giờ Sau khi hấp, để túi nguội 1 ngày trước khi cấy giống nấm ở thể rắn với lượng bằng nhau vào mỗi túi Các túi nấm sau khi cấy giống được nuôi trong điều kiện tối với nhiệt độ 20 ± 1 °C, và sự phát triển của tơ nấm và quả thể được theo dõi ở mỗi nghiệm thức để nghiên cứu ảnh hưởng của nguồn giống đến sinh trưởng của nấm vân chi.
Giống nấm vân chi được sử dụng trong thí nghiệm gồm có:
- Nguồn giống 1: giống nấm ở thể rắn
- Nguồn giống 2: giống nấm dạng dịch thể
Môi trường nuôi cấy nấm cần có nguồn nguyên liệu tối ưu để phát triển quả thể Sau khi cấy giống, bịch nấm sẽ được đặt trong phòng tối với điều kiện nhiệt độ thích hợp để đảm bảo sự phát triển tốt nhất.
20 ± 1 0 C Theo dõi sự phát triển của tơ nấm và quả thể ở mỗi nghiệm thức
2.3.4 Khảo sát hoạt tính sinh học của nấm vân chi
Chuẩn bị mẫu nấm vân chi bằng cách thu hái quả thể, loại bỏ bụi bẩn, sau đó sấy khô ở 60°C đến khi khối lượng ổn định và xay thành bột Mẫu khô được chiết xuất bằng ethanol 70% trong 24 giờ, sau đó cô quay chân không để thu được dịch chiết nấm Phương pháp định tính alkaloid được thực hiện theo nguyên tắc thử của Webb, bao gồm hai phần thí nghiệm.
Bột nấm xay nhuyễn (10 – 20g) được hòa cùng dung dịch H2SO4 1% trong erlen và đun nhẹ trong 1 giờ Sau đó, lọc lấy dịch để thử nghiệm với thuốc thử Mayer và Dragendorff Nếu quan sát thấy kết tủa màu vàng, kết quả là dương tính; tuy nhiên, nếu không có kết tủa, cần tiếp tục thử nghiệm phần 2 để xác định sự hiện diện của alkaloid.
Bột xay nhuyễn (10 – 20g) được ngâm trong dung dịch prollius (gồm chloroform, ethanol 95% và NH4OH đậm đặc theo tỉ lệ 8:8:1) trong 24 giờ ở nhiệt độ phòng, thỉnh thoảng lắc trộn Sau khi lọc và đun dung môi đến cạn, thu được cặn, hòa tan cặn trong dung dịch HCl 1% và đun ấm để dễ tan Tiếp theo, lọc và lấy dịch lọc để thử nghiệm với hai loại thuốc thử Mayer và Dragendorff Khi nhỏ vài giọt thuốc thử Dragendorff vào dung dịch acid loãng có chứa alkaloid, nếu có alkaloid sẽ xuất hiện kết tủa màu cam – nâu.
Thuốc thử định tính alkaloid
Thuốc thử Mayer được chuẩn bị bằng cách hòa tan 1,36g HgCl2 trong 60 ml nước cất và 5g KI trong 10 ml nước cất, sau đó trộn hai dung dịch này lại và thêm nước cất cho đủ 100 ml Khi nhỏ vài giọt thuốc thử Mayer vào dung dịch acid loãng có chứa alkaloid, nếu có alkaloid, sẽ xuất hiện kết tủa màu trắng hoặc vàng nhạt Cần lưu ý rằng kết tủa này có thể hòa tan trở lại trong lượng thuốc thử hoặc bị hòa tan bởi ethanol có trong dung dịch thử.
Thuốc thử Dragendorff được chuẩn bị bằng cách hòa tan 8g Nitrat bismuth (Bi(NO3)3) trong 25 ml HNO3 30% và hòa tan 28g KI cùng 1 ml HCl 6N trong 5 ml nước cất Khi kết hợp hai dung dịch này và để trong tủ lạnh ở 5°C, sẽ xuất hiện tủa màu sậm rồi tan trở lại Sau khi lọc, thêm nước để đạt 100 ml, ta thu được dung dịch màu cam – đỏ, được bảo quản trong chai màu nâu để tránh ánh sáng và có thể giữ lâu vài tuần Phương pháp này cũng được áp dụng để định tính hợp chất saponin.
- Saponin có tính tạo bọt, nên đây là một trong những phương pháp chính xác để định tính sự hiện diện của saponin
Để tiến hành thí nghiệm, cho 5 ml dịch nấm vào ống nghiệm và lắc mạnh theo chiều dọc trong 1 phút Sau đó, để ống nghiệm yên và quan sát lớp bọt để đánh giá kết quả.
- Cho vào mỗi ống nghiệm 5 ml dịch nấm Sau đó cho các hóa chất sau vào mỗi ống nghiệm:
+ Ống 1: thêm 2 ml HCl 0,1N (pH = 1)
+ Ống 2: thêm 2 ml NaOH 0,1N (pH = 13)
- Lắc mạnh dọc theo chiều ống nghiệm trong 1 phút và để yên, quan sát các cột bọt trong cả 2 ống nghiệm
+ Nếu cột bọt trong cả 2 ống cao ngang nhau và bền như nhau, thì sơ bộ xác định là có saponin triterpenoid
+ Nếu pH = 13 có cột bọt cao hơn nhiều so với ống pH = 1, sơ bộ xác định là có saponon steroid c Phương pháp định tính acid hữu cơ [36]
Lấy 2 ml dịch chiết cồn cho vào một ống nghiệm Thêm vào dung dịch một ít tinh thể Na2CO3, hơ nhẹ qua ngọn lửa đèn cồn
Nếu quan sát thấy bọt khí nổi lên từ tinh thể Na2CO3, điều này cho thấy sự hiện diện của acid hữu cơ Để xác định hoạt tính kháng khuẩn của dịch chiết từ hệ sợi nấm vân chi, phương pháp đo đường kính vòng kháng khuẩn sẽ được áp dụng.
Phương pháp xử lý số liệu
Mỗi thí nghiệm được bố trí lặp lại 3 lần Số liệu được xử lí thống kê theo chương trình EXCEL ANOVA, với α = 0.05.
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Quan sát hình thái quả thể
3.1.1 Hình thái cấu tạo quả thể
Quả thể nấm vân chi được thu hái, tiến hành quan sát hình thái mặt trên, mặt dưới và mặt cắt dọc Kết quả quan sát ở hình 3.1
Hình 3.1 Hình thái quả thể nấm vân chi
A Mặt trên của quả thể
B Mặt dưới của quả thể
C Mặt cắt dọc của quả thể
Quả thể nấm vân chi không có cuống và được phủ lông tơ, có màu sắc biến đổi đa dạng Khi còn non, quả thể có hình dạng u lồi tròn, sau đó phân hóa thành dạng bán cầu và khi già, chuyển sang hình dạng bán cầu giống như quạt, có thể thót dần ở gốc hoặc trải sát với nguyên liệu Nấm thường mọc thành đám, giống như ngói lợp Mặt mũ nấm thay đổi màu sắc với các vòng đồng tâm từ trắng đến vàng nhạt, nâu nhạt, nâu rỉ, và có thể có sắc xanh đến đen Mép mũ nhẵn, sáng hơn và lượn sóng, trong khi mặt mũ có lớp lông mịn, dày khoảng 0,3 – 0,5mm Mặt dưới mũ là lớp bào tầng màu trắng hoặc trắng kem với nhiều lỗ nhỏ gần tròn hoặc oval, và thịt nấm thì mỏng, chất bì dai và dày.
3.1.2 Hình thái hệ sợi nấm vân chi
Dưới kính hiển vi, hệ sợi nấm vân chi hiện ra với những sợi dài, mảnh và phân nhánh, tạo thành một mạng lưới chằng chịt, đan xen và liên kết chặt chẽ với nhau.
Nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường đến quá trình nhân giống nấm vân chi 21 1 Ảnh hưởng của môi trường dinh dưỡng đến sự sinh trưởng của giống gốc21 2 Ảnh hưởng của môi trường dinh dưỡng đến sự sinh trưởng và phát triển của giống cấp 1
3.2.1 Ảnh hưởng của môi trường dinh dưỡng đến sự sinh trưởng của giống gốc
Tiến hành tách phần thịt nấm giữa tai nấm và đưa vào các ống nghiệm với môi trường khác nhau, chúng tôi đã theo dõi sự phát triển trong những ngày tiếp theo Kết quả cho thấy khả năng sinh trưởng và phát triển của hệ sợi nấm vân chi thay đổi tùy thuộc vào loại môi trường Kết quả phân lập sau 7 ngày được trình bày trong bảng 3.1 và hình 3.3.
Bảng 3.1 Ảnh hưởng của môi trường dinh dưỡng đến quá trình phân l ập
Môi trường Thời gian bung tơ (ngày)
Thời gian sợi tơ lan kín bề mặt thạch (ngày) Độ dài tơ sau 7 ngày (cm)
Chú thích: Các chữ cái khác nhau trong cùng một cột chỉ sự sai khác có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy 95%
Trong môi trường thạch, hệ sợi nấm vân chi phát triển nhanh chóng, đặc biệt là ở giai đoạn hình rễ Sau 2 ngày, sợi nấm bắt đầu bung tơ, và đến ngày thứ 3, tốc độ lan tơ tăng lên đáng kể Tốc độ phát triển của tơ nấm phụ thuộc vào thành phần dinh dưỡng trong từng loại môi trường.
Hệ sợi nấm phát triển chậm trên môi trường raper và czapek, mất 10 ngày để lan hết bề mặt thạch, với sợi nấm mỏng và phát triển không đồng đều Ngược lại, trên môi trường PGA, hệ sợi nấm phát triển nhanh chóng, với tơ nấm dày và đều hơn so với các môi trường khác.
Hình 3.3 Sự phát triển của hệ sợi nấm trên các môi trường sau khi phân lập 7 ngày
Kết quả thí nghiệm cho thấy dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của tơ nấm, và môi trường PGA là điều kiện tối ưu nhất cho sự phát triển của giống gốc.
3.2.2 Ảnh hưởng của môi trường dinh dưỡng đến sự sinh trưởng và phát triển của giống cấp 1 Để nghiên cứu sự ảnh hưởng của môi trường đến nhân giống cấp I, giống gốc được nuôi cấy trên 5 môi trường khác nhau (PGA cải tiến, PGA, raper, agaricus, czapek) trên đĩa petri Kết quả được đánh giá bằng phương pháp đo chiều dài hệ sợi, sau khi cấy cần tiến hành đo chiều dài hệ sợi mỗi ngày, kết quả được trình bày qua bảng 3.2 và hình 3.4
Bảng 3.2 Sự sinh trưởng của giống cấp 1 trên các môi trường
Môi trường Thời gian bung tơ (ngày)
Thời gian sợi tơ lan kín bề mặt thạch (ngày) Độ dài tơ sau 7 ngày (cm)
Chú thích: Các chữ cái khác nhau trong cùng một cột chỉ sự sai khác có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy 95%
Nghiên cứu của Bolla và cộng sự (2010) chỉ ra rằng trong môi trường nuôi cấy sinh khối sợi nấm vân chi, casein và CNM là những nguồn đạm mang lại hiệu quả cao sau 7 ngày nuôi cấy Kết quả cho thấy rằng với hàm lượng nhất định, CNM và peptone có khả năng thúc đẩy sự tăng trưởng đáng kể của sinh khối sợi nấm, bên cạnh đó, các nguồn dinh dưỡng tự nhiên từ khoai tây cũng rất phù hợp cho sự phát triển của hệ sợi nấm.
Kết quả thực tế cho thấy môi trường PGA cải tiến là nơi giúp sợi nấm phát triển nhanh và mạnh nhất nhờ chứa nguồn đạm (peptone, CNM) và dinh dưỡng tự nhiên Trong khi đó, sợi nấm trên môi trường PGA phát triển chậm hơn do thiếu nguồn đạm bổ sung Tại môi trường raper và czapek, tốc độ lan tơ cũng tương đối chậm do chủ yếu sử dụng nguồn dinh dưỡng tổng hợp.
Hình 3.4 Sự phát triển của hệ sợi nấm trên các môi trường nhân giống cấp 1 sau 7 ngày
Nghiên cứu về ảnh hưởng của môi trường trong quá trình nhân giống cấp 1 cho thấy hệ sợi nấm vân chi phát triển nhanh và mạnh nhất trên môi trường PGA cải tiến.
3.2.3 Nghiên cứu nhân giống cấp 2 trên môi trường xốp
Sau khi cấy chuyển giống nấm cấp 1 vào môi trường hạt lúa, trong 3 ngày đầu, tơ nấm phát triển chậm, chỉ lan ra phần thạch và bám vào một số hạt lúa xung quanh Tuy nhiên, từ ngày thứ tư trở đi, tơ nấm phát triển nhanh chóng và lan rộng đều về mọi phía, dẫn đến sự gia tăng mật độ hệ sợi theo thời gian.
Sự tăng trưởng của hệ sợi nấm được biểu diễn như hình 3.5
Hình 3.5 Thời gian nhân giống cấp 2 trên môi trường xốp
Trên môi trường nhân giống cấp 2 có chứa 99% lúa và 1% CaCO3, tơ nấm sẽ lan kín bề mặt chai sau 9 ngày và hệ sợi có độ dài là 12 cm
3.2.4 Nghiên cứu nhân giống cấp 2 trên môi trường lỏng
Giống cấp 1 được cấy vào môi trường PG cải tiến (không có agar) và nuôi ở điều kiện lắc 120 vòng/phút, trong những ngày đầu, sợi nấm phát triển thành hạt nhỏ li ti màu trắng đục Sau 7 ngày, hệ sợi bắt đầu to ra với kích thước lớn hơn Đến ngày thứ 9, xuất hiện tua nhỏ xung quanh và hệ sợi tăng kích thước nhanh chóng Đến ngày thứ 12, hệ sợi có nhiều tua dài mọc xung quanh và kích thước hệ sợi tiếp tục tăng.
Sau 15 ngày nuôi cấy, các tua bắt đầu đứt gãy do môi trường trong và gần như cạn kiệt dinh dưỡng Hệ sợi ngừng tăng về kích thước và khối lượng, dẫn đến sự giảm sút trong sinh khối nấm vân chi trong môi trường lỏng.
Để tạo nguồn giống vân chi cấp 2 trong môi trường dịch thể, cần sử dụng môi trường PG cải tiến, lắc với tốc độ 120 vòng/phút và thu sinh khối sau 15 ngày nuôi cấy.
Nghiên cứu ảnh hưởng của cơ chất và nguồn giống trong quá trình nuôi trồng nấm vân chi
3.3.1 Kết quả nuôi trồng nấm vân chi trên các cơ chất khác nhau
Nấm vân chi là một trong 25 loài nấm dược liệu hàng đầu thế giới Việc nghiên cứu và nuôi trồng nấm vân chi trong các môi trường khác nhau giúp xác định khả năng thích ứng và sự phát triển của loại nấm này.
Thời gian hệ sợi phủ kín bịch nguyên liệu, thời gian quả thể trưởng thành và tỉ lệ nhiễm được trình bày cụ thể ở bảng 3.3
Bảng 3.3 Sự sinh trưởng và phát triển của nấm vân chi trên các công thức khác nhau Môi trường
Thời gian hệ sợi phủ kín bịch nguyên liệu (ngày)
Thời gian hình thành quả thể (ngày) Tỉ lệ nhiễm (%)
Ghi chú: X: sợi nấm dừng phát triển
Kết quả từ bảng 3.3 cho thấy, trong môi trường chỉ bổ sung cám bắp, thời gian lan tơ kéo dài hơn với sợi tơ mỏng Ngược lại, khi bổ sung cám gạo với tỷ lệ 10%, 15%, và 20%, hệ sợi của nấm trở nên dày và đồng đều hơn, đồng thời tốc độ lan tơ cũng nhanh hơn Tuy nhiên, việc bổ sung quá nhiều cám, đặc biệt ở môi trường MT 11 và MT 12, dẫn đến tình trạng tơ nấm không lan hết bề mặt bịch nguyên liệu, với tơ dày và màu trắng hơi ngả vàng tập trung ở phần miệng bịch Điều này xảy ra do lượng mùn cưa giảm, làm giảm độ tơi xốp của môi trường, từ đó ảnh hưởng đến sự lan tơ và không hình thành quả thể.
Theo nghiên cứu của Theo Jozsef và cộng sự (2011), sự tăng trưởng của sợi nấm phụ thuộc vào nguyên liệu, chất dinh dưỡng và điều kiện phát triển Kết quả cho thấy, khi bổ sung 5% cám lúa mì, không có sự tăng trưởng rõ rệt của sợi nấm Tuy nhiên, với 10%, 15% và 20% cám, tốc độ tăng trưởng sợi nấm tăng nhanh Đáng chú ý, ở mức 30% và 35% cám, tốc độ tăng trưởng lại không đáng kể Ngoài ra, tỷ lệ nhiễm cũng tăng dần theo lượng cám bổ sung.
Khả năng hình thành quả thể là yếu tố quan trọng quyết định năng suất của nấm Kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của nguồn nguyên liệu đến sự sinh trưởng của hệ sợi và khả năng hình thành, phát triển quả thể nấm vân chi được trình bày trong bảng 3.4.
Bảng 3.4 Ảnh hưởng của cơ chất đến năng suất nấm vân chi
Môi trường Khối lượng của quả thể
Khối lượng tươi (g/bịch) Khối lượng khô (g/bịch)
Chú thích: Các chữ cái khác nhau trong cùng một cột chỉ sự sai khác có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy 95%
Kết quả từ bảng cho thấy, khi bổ sung 15% cám gạo, lượng quả thể thu được lớn hơn so với khi chỉ bổ sung 10% cám gạo Tuy nhiên, khi tăng hàm lượng cám lên 20% và 25%, lượng quả thể bắt đầu giảm Đối với các môi trường chỉ bổ sung cám bắp, lượng quả thể thu được rất ít và kích thước quả thể nhỏ hơn nhiều so với các môi trường có cám gạo.
Mùn cưa, với hàm lượng cacbon cao, thường được sử dụng làm môi trường giá thể cho việc nuôi trồng nấm Tuy nhiên, do mùn cưa nghèo dinh dưỡng, cần bổ sung thêm các nguồn dinh dưỡng khác như cám gạo và cám bắp Đặc biệt, cám gạo mang lại hiệu quả cao hơn cho nấm vân chi nhờ hàm lượng protein thô (10 - 14%) vượt trội so với cám bắp (8 - 10%) Ngoài ra, cám gạo còn chứa nhiều khoáng chất thiết yếu như Ca, P, K, Zn, Fe và vitamin B1, B6, rất phù hợp cho sự phát triển của nấm.
Nghiên cứu của Guerrero (2011) cho thấy nấm vân chi nuôi trồng trên mùn cưa gỗ sồi ở Mexico có năng suất sinh học và kích thước quả thể nhỏ hơn khi không bổ sung dinh dưỡng Torng và cộng sự (2010) chỉ ra rằng việc bổ sung cám gạo vào nguyên liệu nuôi trồng nấm sò vua làm tăng đáng kể hiệu quả sản xuất, với năng suất cao nhất đạt 38,08% khi bổ sung cám gạo, nhưng lại giảm khi lượng cám tăng lên 47,95% Trịnh Tam Kiệt (2012) nhấn mạnh rằng nhu cầu vitamin trong giai đoạn sinh trưởng quả thể cao hơn so với giai đoạn sợi nấm, với các vitamin như B1, B2, B6, B12 và K đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển và hình thành quả thể.
Kết quả thí nghiệm cho thấy, môi trường MT 5 (bao gồm 83% mùn cưa, 15% cám gạo, 1% saccharose và 1% CaCO3) là lựa chọn tối ưu cho việc nuôi trồng quả thể nấm vân chi Trên môi trường này, thời gian để hệ sợi phủ kín bịch nguyên liệu là 37 ngày, thời gian nuôi tơ đến khi thu hoạch quả thể là 50 ngày, với khối lượng quả thể tươi đạt 15.03 g/bịch và khối lượng khô là 13.35 g/bịch.
3.3.2 Ảnh hưởng của nguồn giống trong quá trình nuôi trồng nấm vân chi
Tốc độ lan tơ của hệ sợi nấm vân chi được khảo sát dựa trên ba công thức MT 2, MT 5 và MT 7, sử dụng hai nguồn giống khác nhau, như thể hiện trong bảng 3.5.
Bảng 3.5 Ảnh hưởng của nguồn giống đến thời gian lan tơ nấm vân chi Nguồn giống Môi trường
Thời gian hệ sợi phủ kín bịch nguyên liệu (ngày) Tỉ lệ nhiễm (%)
Kết quả nghiên cứu cho thấy, giống nấm dạng dịch thể có tốc độ lan tơ nhanh hơn và đồng đều hơn so với giống dạng hạt, với tỉ lệ nhiễm thấp hơn Thời gian lan tơ của giống dịch thể có thể rút ngắn từ 5 đến 14 ngày so với giống hạt Nghiên cứu của Kawai và cộng sự cũng chỉ ra rằng việc sử dụng giống nấm dạng dịch thể giúp giảm thời gian nuôi trồng nấm hương từ 120 ngày xuống còn 90 ngày.
Quy trình nhân giống và nuôi trồng nấm vân chi
Quy trình nhân giống và nuôi trồng nấm vân chi được trình bày như sơ đồ hình 3.7
Hình 3.7 Sơ đồ quy trình nhân giống và nuôi trồng nấm vân chi
Nhân giống cấp II
Nhân giống cấp III
Bảo quản Môi trường cấp III
3.4.2 Thuyết minh quy trình a Thuyết minh quy trình nhân giống
Giống nấm gốc được phân lập từ mô quả thể nấm trên môi trường thạch nghiêng PGA, cần ổn định về tính di truyền để đảm bảo năng suất và hiệu quả kinh tế Sau khi cấy chuyền sang môi trường thạch PGA, hệ sợi nấm sẽ tạo thành ống giống cấp 1, có thể bảo quản bằng nito lỏng hoặc ở nhiệt độ 4°C, nhưng cần cấy chuyển mỗi tháng một lần Môi trường nhân giống cấp 2 có thể là môi trường xốp (99% lúa + 1% CaCO3) hoặc môi trường lỏng (PG cải tiến) Khi cấy chuyền giống cấp 1 sang môi trường cấp 2, hệ sợi sinh trưởng trong môi trường xốp sẽ lan rộng đến khi kín đáy chai, hình thành chai giống cấp 2 Đối với môi trường lỏng, cần lắc ở tốc độ 120 vòng/phút để đạt sinh khối tối ưu Cuối cùng, lựa chọn các chai giống đạt tiêu chuẩn để nhân giống cấp 3 hoặc bảo quản chai giống trong môi trường xốp để tạo nguồn giống.
Môi trường cấp 3 có thành phần giống hệt môi trường cấp 2, nhưng được đóng trong túi nilong, trong khi môi trường lỏng sử dụng hệ thống lên men Cấy chuyền giống từ cấp 2 sang cấp 3 diễn ra trên môi trường xốp, nơi hệ sợi sinh trưởng và lan rộng cho đến khi lấp đầy đáy túi, tạo thành các túi giống cấp 3 Đối với nuôi cấy lỏng, cần theo dõi pH, nhiệt độ, tốc độ khuấy và sự tạo bọt để đảm bảo sinh khối nấm phát triển tối ưu Mục tiêu của nhân giống cấp 3 là tăng số lượng giống nấm.
Nguyên liệu nuôi trồng nấm vân chi chủ yếu là mùn cưa cao su, được làm ẩm với nước vôi 1% và ủ trong 5-7 ngày, trong đó cần đảo đống ủ mỗi 3 ngày để kiểm tra độ ẩm đạt 65-70% Sau khi xử lý, mùn cưa được phối trộn với cám gạo, saccharose và CaCO3 theo tỉ lệ 83% mùn cưa + 15% cám gạo + 1% saccharose + 1% CaCO3, rồi đóng vào bịch nilong 1 kg và khử trùng bằng nội hấp áp lực trong 24 giờ Sau khi cấy giống vào mỗi bịch với 20 ml dịch nấm, bịch được nuôi trong điều kiện tối, nhiệt độ 20 ± 1 °C và độ ẩm 55-60% Khi hệ sợi nấm phát triển kín đáy bịch, chuyển sang nhà trồng, tháo nút bông và rạch bịch phôi ở 4 vị trí, sau đó tưới phun sương để duy trì độ ẩm 80-90% Nhiệt độ thích hợp để nấm ra quả thể là từ 17-20 °C với ánh sáng tán xạ Quá trình thu hái nấm diễn ra bằng cách nhổ nhẹ nhàng tai nấm, và nấm sau thu hoạch có thể được sấy khô ở 50-60 °C để bảo quản Trong suốt quá trình nuôi tơ và ra quả thể, cần theo dõi thường xuyên các bịch phôi để phát hiện và loại bỏ bịch nhiễm, đồng thời ngăn chặn các tác nhân gây hại như côn trùng và sâu bọ.
Đánh giá chất lượng quả thể nấm vân chi
Nấm vân chi chứa nhiều hợp chất thứ cấp có giá trị Để xác định sự hiện diện của các hợp chất này trong quả thể, chúng tôi đã thực hiện các phản ứng định tính hóa sinh.
Nấm sau khi ngâm trong axit tạo kết tủa màu vàng nhạt khi phản ứng với thuốc thử Mayer, cho thấy sự hiện diện của alkaloid Alkaloid, là những hợp chất có tính bazo yếu do chứa nito, sẽ tạo thành muối khi tiếp xúc với axit Sự xuất hiện của kết tủa màu vàng nhạt từ dịch chiết nấm xác nhận rằng quả thể nấm vân chi chứa alkaloid.
Hình 3.8 Định tính alkaloid bằng thuốc thử Mayer
3.5.2 Định tính saponin a Thử nghiệm tính tạo bọt
Khi lắc ống nghiệm chứa dịch chiết nấm thì xuất hiện lớp bọt trên bề mặt dịch chiết Sau 60 phút, lớp bọt vẫn tồn tại như hình
3.9 Saponin trong dịch chiết khi lắc mạnh sẽ làm giảm sức căng bề mặt của dung dịch và tạo bọt Vì vậy, qua thí nghiệm có thể kết luận trong quả thể nấm vân chi có sự hiện diện của saponin
Hình 3.9 Phản ứng tạo bọt của saponin b Thử nghiệm Fontan – Kaudel
Khi axit và bazo được thêm vào ống nghiệm chứa dịch nấm, bọt vẫn xuất hiện sau khi lắc Sau 60 phút, độ dày của lớp bọt còn lại được ghi nhận như trong hình 3.10.
Hình 3.10 Phản ứng tạo bọt của saponin với axit và bazo
A Dịch chiết nấm khi cho axit vào
B Dịch chiết nấm khi cho bazo vào
Ta thấy cột bọt trong ống chứa bazo cao hơn so với ống chứa axit nên sơ bộ có thể xác định đó là saponin steroid
3.5.3 Định tính axit hữu cơ
Sau khi cho NaCO3 vào dịch chiết rồi hơ nóng trên ngọn lửa đèn cồn thì từ các phân tử NaCO3 có bọt khí sủi lên như hình 3.11
Hình 3.11 Phản ứng định tính axit hữu cơ
Phân tử CO3 2- trong muối có khả năng phản ứng với ion H+ trong dịch chiết, dẫn đến sự hình thành bọt khí CO2 Điều này chứng tỏ rằng axit hữu cơ tồn tại trong quả thể nấm vân chi.
3.5.4 Đánh giá khả năng kháng oxy hóa của nấm vân chi
Các chất kháng oxy hóa tự nhiên thường có cấu trúc hóa học đa dạng và hoạt động theo nhiều cơ chế khác nhau, do đó, việc đánh giá khả năng kháng oxy hóa chỉ thông qua một phương pháp sẽ không phản ánh đầy đủ Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã áp dụng phương pháp Reducing power để xác định khả năng chống oxy hóa của dịch vân chi Kết quả cho thấy mật độ quang của mẫu thí nghiệm cao hơn mật độ quang của mẫu kiểm chứng, chứng minh rằng dịch vân chi có khả năng chống oxy hóa mạnh mẽ Mật độ quang của từng lượng dịch chiết được trình bày chi tiết trong bảng dưới đây.
Bảng 3.6 Khả năng kháng oxy hóa của dịch chiết quả thể nấm vân chi
Mật độ quang của thí nghiệm tăng theo lượng dịch chiết, với mẫu thí nghiệm có mật độ quang cao hơn mẫu đối chứng, cho thấy dịch chiết nấm vân chi có khả năng khử Fe 3+ thành Fe 2+ Chỉ số AAI chỉ ra rằng hệ sợi nấm vân chi có khả năng chống oxy hóa Nghiên cứu của Kamiyama M và cộng sự (2013) cho thấy trong dung môi cồn, nấm vân chi có khả năng chống oxy hóa cao hơn nhiều (50,9%) so với các dung môi khác như chloroform (15,2%).
3.5.5 Khảo sát khả năng kháng khuẩn của dịch chiết nấm vân chi
Khả năng kháng khuẩn của quả thể nấm vân chi được đánh giá thông qua khả năng ức chế sự phát triển của vi khuẩn, thể hiện qua đường kính vòng vô khuẩn trên đĩa petri Kết quả thí nghiệm này được trình bày trong bảng 3.7.
Bảng 3.7 Khả năng kháng khuẩn của dịch chiết quả thể nấm vân chi
Vi khuẩn Đường kính vòng vô khuẩn – D (mm) Đường kính lỗ khoan - d (mm) Đường kính vô khuẩn D-d (mm)
Dịch chiết nấm vân chi cho thấy khả năng ức chế sự phát triển của chủng E.Coli, đồng thời cũng xác nhận hoạt tính kháng khuẩn mạnh mẽ của nấm vân chi đối với các vi khuẩn Gram dương.
Saccharomyces cerevisae, Bacillus pumilus,… và loài vi khuẩn Gram (-) khác [28]
Hình 3.12 Khả năng kháng khuẩn của dịch chiết quả thể nấm vân chi
Hình ảnh cho thấy dịch chiết từ hệ sợi nấm vân chi tạo ra vòng vô khuẩn 18mm, trong khi mẫu nước cất đối chứng không có vòng vô khuẩn Điều này chứng tỏ nấm vân chi có khả năng kháng vi khuẩn E.Coli.
Khảo sát thành phần hóa học của quả thể nấm vân chi
Sau khi thực hiện các phản ứng định lượng, chúng tôi đã xác định được hàm lượng của một số thành phần hóa học trong quả thể nấm vân chi, như được trình bày chi tiết trong bảng 3.8.
Bảng 3.8 Thành phần hóa học cơ bản của quả thể nấm vân chi
Theo bảng 3.8, quả thể nấm vân chi chứa 9.56% protein, thấp hơn so với nấm rơm (21.1%) và nấm bào ngư (27.4%) Tuy nhiên, nấm vân chi lại có hàm lượng polysaccharides cao (6.59%), vượt trội so với nấm linh chi (1 – 1.2%) Ngoài ra, nấm vân chi còn cung cấp vitamin B1 và nhiều khoáng chất thiết yếu như sắt, đồng, natri, selen, và photpho, điều này làm cho nấm vân chi trở thành nguyên liệu quý giá trong sản xuất thuốc và thực phẩm chức năng.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết luận
Từ các kết quả nghiên cứu, chúng tôi rút ra các kết luận sau:
Môi trường phân lập tối ưu cho vi sinh vật là PGA, bao gồm 200g khoai tây, 20g glucozo và 20g agar Đối với môi trường nhân giống cấp 1, PGA cải tiến với công thức 200g khoai tây, 20g glucozo, 2g peptone, 2g CNM và 20g agar là lựa chọn tốt nhất Bên cạnh đó, việc bổ sung 15% cám gạo vào môi trường này giúp đạt được khối lượng quả thể lớn nhất, lên tới 13.35g sinh khối khô (15.03g sinh khối tươi).
- Sử dụng giống dịch thể thay cho giống truyền thống sẽ giúp rút ngắn thời gian ươm tơ và tỉ lệ nhiễm cũng giảm rõ rệt
Nấm vân chi chứa một số hợp chất quan trọng như alkaloid, saponin và các axit hữu cơ, đồng thời có khả năng kháng khuẩn và chống oxy hóa hiệu quả.
Nấm vân chi chứa 6.59% polysaccharides, với 4.43% là PSP Ngoài ra, nấm này còn có 9.56% protein, 4.12% khoáng tổng số, 1.3mg/kg vitamin B1 và hoàn toàn không có lipid.
Kiến nghị
Công nghệ nhân giống và nuôi trồng quả thể nấm vân chi mang lại giá trị kinh tế cao, do đó cần tiếp tục nghiên cứu các hướng phát triển mới để tối ưu hóa quy trình này.
- Hoàn thiện quy trình nuôi trồng quả thể nấm vân chi từ sinh khối lỏng
- Xác định đầy đủ các hợp chất chứa trong nấm
- Tách chiết các hợp chất thứ cấp có trong nấm để ứng dụng trong y học
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Tiếng Việt
Nguyễn Thị Chính (2011) đã nghiên cứu và hoàn thiện công nghệ sản xuất nấm dược liệu theo hướng công nghiệp nhằm tạo ra thực phẩm chức năng hỗ trợ điều trị bệnh viêm gan, tiểu đường và khối u ung thư, đồng thời nâng cao sức khỏe Báo cáo tổng kết dự án khoa học công nghệ này được thực hiện dưới sự tài trợ của Quỹ phát triển khoa học công nghệ.
[2] Nguyễn Lân Dũng (2002), Công nghệ nuôi trồng nấm, tập 2, tái bản lần thứ nhất, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội
[3] Nguyễn Hữu Đống, Đinh Xuân Linh, Nguyễn Thị Sơn, Zan Fderico (2000),
Nấm ăn – cơ sở khoa học và công nghệ nuôi trồng, Nhà xuất bản Nông nghiệp
[4] Trần Hùng (2004), Phương pháp nghiên cứu dược liệu, Đại học Y dược
Trịnh Tam Kiệt, Võ Văn Chi, Trần Đình Nghĩa, và Đặng Thị Sy (1982) đã biên soạn cuốn sách "Thực tập phân loại học thực vật – thực vật bật thấp", xuất bản bởi NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp tại Hà Nội.
[6] Trịnh Tam Kiệt (2012), Nấm lớn ở Việt Nam, tập 2, Nhà xuất bản Khoa học tự nhiên và Công nghệ
[7] Lê Thị Lệ Quyên (2016), “Môi trường ô nhiễm, thực phẩm bẩn: Thủ phạm hàng đầu khiến số ca ung thư trẻ hóa”, Báo Hà Nội mới Điện tử, 31/3/2016
Lê Xuân Thám (1996) đã thực hiện nghiên cứu về đặc điểm sinh học và khả năng hấp thu khoáng của nấm linh chi Ganoderma lucidum thông qua phân tích hạt nhân, đánh dấu đồng vị và kỹ thuật liên hợp Luận án phó tiến sĩ khoa học sinh học của ông được bảo vệ tại Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, Việt Nam.
Nghiên cứu của Lê Xuân Thám, Trần Hữu Độ và Tamikazu Kume (1999) đã bổ sung thông tin về nhóm nấm chống ung thư tại Việt Nam, đặc biệt là nấm vân chi (Trametes versicolor) Bài viết được công bố trong Tạp chí Dược học, số 2, trang 13-15.
Lê Xuân Thám, Nguyễn Giang và Nguyễn Thị Diệu Hạnh (2009) đã thực hiện nghiên cứu về sự tích tụ Selenium trong nấm vân chi Trametes versicolor thông qua phương pháp phân tích kích hoạt neutron Nghiên cứu này được công bố trong Tạp chí khoa học và công nghệ, tập 47, số 1, trang 73 – 79.
Nguyễn Thị Bích Thùy (2014) đã thực hiện nghiên cứu về đặc điểm sinh học và công nghệ nhân giống, nuôi trồng nấm sò vua (Pleurotus eryngii) và nấm vân chi (Trametes versicolor) tại Việt Nam trong luận án tiến sĩ nông nghiệp của mình tại Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam Nghiên cứu này đóng góp quan trọng vào việc phát triển công nghệ nuôi trồng nấm ở nước ta.
[12] Dương Đức Tiến, Võ Văn Chi (1978), Phân loại học thực vật – Thực vật bậc thấp, NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội
[13] Hồ Sĩ Tráng (2004), Cơ sở hóa học gỗ và cellulose, tập 2, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội
[14] Cổ Đức Trọng (2002), “Nấm vân chi một vị thuốc quý cần chú ý”, Tạp chí thuốc và Sức khoẻ, Nhà xuất bản Khoa học TP Hồ Chí Minh, số 214: 14-15
[15] Trương Quốc Tùng (2009), Kĩ thuật trồng nấm ở hộ gia đình, Nxb Khoa học
Tự nhiên và Công nghệ
[16] Bùi Thị Kim Tuyền (2010), Nghiên cứu so sánh sự phát triển sinh khối và hàm lượng β-glucan ở một số chủng nấm hương nuôi cấy trong môi trường lỏng,
Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Nông nghiệp Hà Nội
[17] Adebayo-Tayo B.C, Ugwu E.E (2011), “Influence of Different Nutrient Sources on Exopolysaccharide Production and Biomass Yield by Submerged Culture of Trametes versicolor and Coprinussp”, Australian Journal of Biotechnology, 15(2): 63-69
[18] Bilal Ahmad Wani, R H Bodha và A H Wani (2010), “Nutritional and medicinal importance of mushrooms”, Journal of Medicinal Plants Research, Vol 4(24), pp 2598-2604, 18 December, 2010
[19] Bolla K., Gopinath B.V., Shaheen S.Z and Charya M.A.S (2010),
“Optimization of carbon and nitrogen sources ofsubmerged culture process for the production ofmycelial biomass and exopolysaccharides by Trametes versicolor”, International Journal for Biotechnology a nd Molecular Biology Research, 1(2), pp.15-21
[20] Diamantopoulou P., Papanikolaou S., Katsarou E., Komaitis M., Aggelis G and Philippoussis A (2012), “Mushroom Polysaccharides and Lipids Synthesized in Liquid agitated and static cultures”, Appl Biochem Biotechnol, 167(7): 890-906
[21] Fang Q H., Tang Y J., Zhong J J (2002), “Significance of inoculation density control in production of polusaccharides and ganoderic acid by submerged culture of Gamoderma lucidum”, Process Biochem, (37): 1375-1379
[22] Friel M.T and McLoughlin A J (2000), “Production of a liquid inoculum spawn of Agaricus bisporus”, Biotechnology Letters, (22): 351 -354
[23] Guerrero D.G., Martínez V.E and Almaráz R.D.L.T (2011), “Cultivation of
Trametes versicolor in Mexico”, Micological Aplication International, 23(2), pp 55-58
[24] Hamedi A., Vahid H and Ghanati F (2007), “Optimization of themedium composition for production of mycelial biomass and exopolysaccaride by Agaricus blazeiMurillDPPh 131 using response surface methodology”,
[25] Jonathan S.G., Bawo D.D.S., Adejoye D.O and Briyai O.F (2009), “Studies on Biomass Production in Auricularia polytricha Collected from Wilberforce Island, Bayelsa State, Nigeria”, American Journal of Applied Sciences, 6(1):
[26] Jozsef S., Karoly P., Andras G and Julia G (2011), “Comparative studies on the cultivation and phylogeneti of King Oyster Mushroom (Pleurotus eryngii DC.: Fr.) Quél) strains”, Acta Universitatis Sapientiae Agriculture and Environment, (3), pp.18-34
[27] Kawai G., Kobayashi H., Fukushima Y., Ohsaki K (1995), “Liquid culture induces early fruiting in Shiitake (Lentinula edodes)”, Mushroom Science,
[28] Kidd P.M (2000), “The Use of Mushroom Glucans and Proteoglycans in
Cancer Treatment”, Alternative Medicine Review, 5(1), pp 4-27
[29] Liu P., Li G and Wen S (2010), “Study for the liquid culture conditions of laccase production in Flammulina velutipes LP03”, Food Science: 31 -36
[30] Oba K., Teramukai S., Kobayashi M., Matsui T., Kodera Y (2007), Efficacy of adjuvant immunochemotherapy with polysaccharide K for patients with curative resections of gastric cancer, Cancer Immunology, Immunotherapy
[31] Sandrina A Heleno et al (2013), “Antimicrobial and demelanizing activity of Ganoderma lucidum extract, p-hydroxybenzoic and cinnamic acids and their synthetic acetylated glucuronide methyl esters”, International Journal of Recent Scientific Research, (4): 501 – 505
[32] Shu-Ting Chang, John A Buswell, Philip S Miles (1993), Genetics and Breeding of Edible Mushroom, Gordon and Breach Science Pushlishers
[33] Shin K.S., Yu K.W., Lee H.K., Lee H., Cho W.D (2007), “Production of anti- complementary exopolysaccharides from submergedculture of Flammulina velutipes”, Food Technol Biotechnol., 45(3): 319-326
[34] Torng P.J., Ming L.C and Fung T.Y (2000), “Effect of rice bran on the production of different king oyster mushroom strains during bottle cultivation”, Journal of Agricultural Research of China, 49(3), pp 60-67
[35] Yao Zhi và Ana Maria Rebelo Barreto Xavier (2007), “Trametes versicolor growth and laccase induction with by-products of pulp and paper industry”, 10( July 15), tr 445-451
[36] Yihuai Gao, Guoliang Chen, Jin Lan, He Gao and Shufeng Gou (2001),
Extraction of Ganoderma polysaccharides at relatively low temperature, Froc
Int Symposium Ganoderma Sci, Auckland
[37] Yihuai Gao, Jin Lan and Zhifang Liu (2001), “Extraction and determination of
Ganoderma polysaccharides”, Int Med Complement Med, Vol 1
Hình 1 Tơ nấm vân chi trên môi trường
PGA sau 2 ngày phân lập