1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu quá trình xử lý ô nhiễm sắt trong nước cấp sinh hoạt vùng nông thôn đà nẵng bằng vật liệu hấp phụ laterite (đá ong)

73 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một học thuyết về đạo đức, chính trị, xã hội từ khi ra đời cho đến nay trải qua hơn 2500 năm tồn tại và phát triển với bao nhiêu thăng trầm biến cố, lúc thịnh lúc suy nhưng tư tưởng c

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

- -

NGUYỄN THỊ HÀ

NGHIÊN CỨU QUÁ TRÌNH XỬ LÝ Ô NHIỄM SẮT TRONG NƯỚC CẤP SINH HOẠT VÙNG NÔNG THÔN ĐÀ NẴNG BẰNG VẬT LIỆU HẤP PHỤ LATERITE (ĐÁ ONG)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

SƯ PHẠM GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Là một học thuyết về đạo đức, chính trị, xã hội từ khi ra đời cho đến nay trải qua hơn 2500 năm tồn tại và phát triển với bao nhiêu thăng trầm biến cố, lúc thịnh lúc suy nhưng tư tưởng của Nho giáo vẫn luôn sống mãi cùng năm tháng trở thành nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng về văn hóa – chính trị - xã hội không chỉ đối với Trung Quốc mà còn nhiều nước khác trên thế giới trong đó

có Việt Nam

Nho giáo xuất hiện ở Trung Quốc thời cổ đại do Khổng Tử sáng lập, những tư tưởng, nguyên lý cơ bản của Nho giáo đã nằm rải rác ở các bộ Thư, Thi, Lễ, Dịch

Chính Khổng Tử đã san định những bộ kinh này với tinh thần “Thuật nhi bất tắc”

nhưng chủ yếu là tiếp thu hệ thống và khẳng định những tư tưởng, nguyên lý của Nho giáo, những bài học kinh nghiệm của đạo trị nước ở các triều đại trước đây Văn hóa Nho giáo chủ yếu ở sự thiên lý mà lưu hành, cốt giữ tình cảm cho hậu trọng những điều đạo đức nhân nghĩa, ưa cái tính chất phát và những việc giản

dị Đối với con người phải biết tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức nhân cách Việt Nam là một trong những nước chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc đặc biệt là Nho giáo và Nho giáo từ xưa đã ăn sâu vào tâm thức của mỗi người dân Việt Từ luân lý, phong tục, chính trị… bất cứ việc gì cũng lấy Nho giáo làm cốt Sỡ dĩ Nho giáo có vị thế như vậy từ khi vào nước ta là bởi vì tư tưởng của nó phù hợp với một nước thuần nông, người dân chỉ lấy hòa bình, trong nhà cha hiền con thảo, anh nhường em kính, giao thiệp với mọi người hòa nhã lấy lễ nghĩa làm trọng điều này phù hợp với tư tưởng tinh thần Nho giáo muốn hướng đến Và những tư tưởng của Nho giáo góp phần xây dựng văn hóa Việt Nam mang đậm bản sắc văn hóa Phương Đông

Trang 3

Ngày nay khi văn hóa Phương Tây đang xâm nhập sâu vào nước ta, bên cạnh những tác động tích cực của nó cũng gây ra không ít những tiêu cực, những giá trị văn hóa đạo đức truyền thống của dân tộc bị mai một Trong xu thế toàn câu hóa hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, con người bị cuốn theo vòng xoáy của đồng tiền, dường như quan hệ giao tiếp ứng xử chỉ dừng lại ở mức xã giao, con người ngày càng bị vô cảm hóa Một bộ phận giới trẻ hiện nay đang bị cuốn theo lối sống hưởng thụ, sa đọa đua đòi, mất văn hóa, mất phẩm chất, đặc biệt ứng xử, giao tiếp với mọi người xung quanh đang dần bị thiếu văn hóa không phù hợp với tư tưởng truyền thống của người Việt Nam ta

Vì vậy hơn lúc nào hết chúng ta cần phải quan tâm đến thế hệ trẻ, giáo dục cho các em ứng xử như thế nào cho có văn hóa và phù hợp Với ý nghĩa đó tôi

muốn đi sâu tìm hiểu “Quan điểm của Nho giáo về Nhân, Lễ và vận dụng trong việc giáo dục văn hóa ứng xử cho thế hệ trẻ hiện nay” Cố gắng tìm những nhân

tố hợp lý trong tư tưởng đó của Nho giáo nhằm góp phần tích cực vào việc giáo dục đạo đúc lối sống cho thế hệ trẻ nước ta hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Tư tưởng Nho giáo về Nhân, Lễ là một vấn đề rộng lớn, phong phú và sâu sắc thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Trong đó phải kể đến các công trình nghiên cứu như:

+ Nho giáo của Trần trọng Kim (NXB Văn hóa – thông tin, 2008)

+ Quan niệm Nho giáo về giáo dục con người của TS Nguyễn Thị Nga và TS

Hồ Trọng Hoài (NXB Chính trị quốc gia Hà Nội, 2003)

+ Nhân – Nhân Nghĩa – Nhân Chính trong Luận ngữ và Mạnh Tử của Hoàng

Thị Bình

+ Nho giáo và đạo đức của Vũ Khiêu (NXB Khoa học xã hội, 1995)

+ Một số bài viết như: Suy nghĩ về cách dùng khẩu hiệu “Tiên học Lễ hậu học

Văn” của giáo sư Lê Đình Hy, (Tạp chí giáo dục thời đại, 1998)

Trang 4

+ Báo cáo khoa học “Góp phần tìm hiểu phạm trù Nhân trong thang giá trị

đạo đức Nho giáo” của Ths Nguyễn Sinh Kế

Trên cơ sở kế thừa những công trình nghiên cứu, những bài viết của các tác giả tôi mạnh dạn chọn đề tài này Tuy nhiên trong khuôn khổ một đề tài khóa luận tốt nghiệp tôi chưa thể bao quát hết tất cả các vấn đề liên quan Từ việc nghiên cứu những tư tưởng của Nho giáo về Nhân, Lễ để từ đó tìm ra giải pháp giáo dục hình thành nhân cách, nhất là vấn đề giáo dục văn hóa ứng xử cho thế hệ trẻ hiện nay

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích của đề tài

Đề tài đi sâu phân tích và làm rõ quan điểm, tư tưởng của Nho giáo về Nhân

và Lễ Trên cơ sở đó phát huy những giá trị tích cực của quan điểm này để rèn luyện, giáo dục văn hóa ứng xử cho thế hệ trẻ hiện nay

3.2 Nhiệm vụ của đề tài

- Làm rõ tư tưởng của Nho giáo về Nhân và Lễ

- Xác định và khai thác những giá trị tích cực trong tư tưởng của Nho giáo về Nhân và Lễ để vận dụng vào việc giáo dục văn hóa ứng xử cho thế hệ trẻ hiện nay

4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Quan điểm của Nho giáo về Nhân, Lễ có nội dung rộng lớn Mặc dù nghiên cứu vấn đề một cách toàn diện, song trong khuôn khổ một khóa luận tốt nghiệp tôi chỉ có thể nêu được những nét cơ bản nhất có tính hệ thống tư tưởng Nhân và Lễ của Nho giáo và vấn đề vận dụng những giá trị tích cực của quan điểm đó trong việc giáo dục văn hóa ứng xử cho thế hệ trẻ hiện nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận: Đề tài được thực hiện chủ yếu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, triết học Mác – Lênin

Trang 5

Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như logic – lịch sử, phân tích – tổng hợp, quy nạp – diễn dịch, đối chiếu – so sánh… Nhưng phương pháp xuyên suốt của đề tài vẫn là phương pháp duy vật biện chứng

6 Cái mới của đề tài

- Nêu ra một cách có tính hệ thống quan điểm của Nho giáo về Nhân và Lễ

- Kế thừa những giá trị tích cực của Nho giáo về Nhân và Lễ trong việc giáo dục văn hóa ứng xử cho thế hệ trẻ hiện nay

7 Ý nghĩa của đề tài

Đề tài góp phần tìm hiểu, kề thừa một cách có tính hệ thống các quan điểm Nhân và Lễ của Nho giáo

Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo, học tập nghiên cứu môn lịch sử triết học, chuyên đề triết học và cho những ai quan tâm vấn đề này

8 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận đề tài gồm có 2 chương, 6 tiết

Trang 6

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 QUAN NIỆM CỦA NHO GIÁO VỀ NHÂN VÀ LỄ

1.1 Cơ sở kinh tế - xã hội và tiền đề tư tương đối với sự hình thành Nho giáo

1.1.1 Cơ sở kinh tế - xã hội của sự hình thành Nho giáo

Văn minh Trung Hoa là một trong những nền văn minh xuất hiện sớm nhất trên thế giới với hơn 4000 năm phát triển liên tục và có thể nói văn minh Trung Hoa là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại Bên cạnh những phát minh, phát kiến khoa học nền văn minh Trung Hoa còn là nơi sản sinh ra nhiều học thuyết triết học lớn có ảnh hưởng đến nền văn minh Châu Á cũng như nền văn minh trên toàn thế giới Trong số các học thuyết đó phải kể đến trường phái triết học Nho gia

Nho giáo ra đời trong hoàn cảnh xã hội Trung Quốc bước vào thời kỳ đặc biệt đó là thời Xuân Thu – Chiến Quốc, thời kỳ tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ

và chế độ phong kiến sơ kỳ đang lên

Về kinh tế Đến thời Xuân Thu là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của nền nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp Vào khoảng thế kỷ XI – V trước công nguyên, ở Trung Quốc đã xuất hiện những trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa lớn Nền kinh tế chuyển từ thời đại đồ đồng sang thời đại đồ sắt Việc dùng bò kéo trở nên phổ biến Phát minh mới về kỷ thuật khai thác và sử dụng đồ sắt đã đem lại những tiến bộ mới trong việc cải tiến công cụ và kỷ thuật sản xuất nông nghiệp Công xã giao hẳn đất công cho từng gia đình nông nô cày cấy trong thời hạn lâu dài Vì vậy nông dân có thể dùng phương pháp lưu canh hay luân canh để tăng năng suất cây trồng Mặt khác nhờ công cụ sản xuất bằng sắt và phát triển thủy lợi

mở mang ruộng đất do nông nô vỡ hoang biến thành ruộng tư ngày càng nhiều Bọn quý tộc có quyền thế cũng chiếm dần ruộng đát công xã làm ruộng tư Chế độ

“tĩnh điền” dần tan rã, sau đó chế độ tư hữu ruộng đất còn được pháp luật nhà nước thừa nhận và bảo vệ

Trang 7

Do việc sử dụng công cụ bằng sắt trở nên phổ biến cùng với việc mở rộng quan hệ trao đổi sản phẩm lao động, sự phân công sản xuất trong sản xuất thủ công ngiệp đạt đến mức chuyên nghiệp cao hơn thúc đẩy một loạt các ngành nghề thủ công nghiệp phát triển như: luyện sắt, nghề rèn, nghề đúc, nghề mộc, nghề làm gốm… Thợ thuyền tuy nhiều nhưng vì trình độ còn thấp nên họ chưa có ảnh hưởng lớn trong xã hội

Trên cơ sở phát triển sản xuất thủ công nghiệp, thương nghiệp cũng phát triển hơn trước Tiền tệ xuất hiện Trong xã hội hình thành một tầng lớp thương nhân giàu có và ngày càng có thế lực Tuy nhiên do tình trạng xã hội đang rối ren, phương tiện giao thông thô sơ, lãnh thổ chia năm xẻ bảy do nạn cát cứ, đi lại khó khăn nên việc kinh doanh đòi hỏi phải do những người có đầu óc tháo vát và lòng quả cảm đảm đương Hơn thế nữa nghề buôn bán ở Trung Quốc thời bấy giờ bị coi

là nghề rẻ mạt nên cũng chưa thực sự phát triển Nhưng sự hình thành của thương nghiệp, buôn bán đã tạo ra trong cơ cấu giai cấp xã hội một tầng lớp mới Từ tầng lớp này dần dần xuất hiện một loại quý tộc mới với thế lực ngày càng mạnh tìm cách tranh giành quyền lực với tầng lớp quý tộc cũ Đây là nguyên nhân trực tiếp

và sâu xa dẫn đến hỗn loạn trong đời sống chính trị xã hội

Về chính trị - xã hội Nếu như thời Tây Chu chế độ tông pháp “phong hầu kiến địa” vừa có ý nghĩa ràng buộc về huyết thống có tác dụng tích cực làm cho nhà Chu giữ được thời gian dài hưng thịnh, thì đến thời Xuân Thu chế độ tông pháp nhà Chu không còn được tôn trọng, đầu mối về các quan hệ kinh tế, chính trị, quan sự giữa thiên tử và các nước chư hầu ngày càng lỏng lẻo, trật tự lễ nghĩa nhà Chu không còn được tôn trọng như trước Nhiều nước chư hầu mượn tiếng khôi phục lại địa vị tông chủ của nhà Chu đề ra khẩu hiệu “tôn vương bài di” đua nhau động binh để mở rộng thế lực và đất đai, thôn tính các nước nhỏ, tranh giành địa vị

bá chủ thiên hạ Thời Xuân Thu có khoảng 242 năm đã xảy ra 483 cuộc chiến tranh lớn nhỏ Đầu thời Tây Chu có hàng ngàn nước đến cuối thời Xuân Thu chỉ còn hơn

Trang 8

100 nước Trong đó có những nước hùng mạnh nhất thời bấy giờ thay nhau làm bá thiên hạ là Tề, Tấn, Sở, Tống, Ngô, Việt, Tần Thời Xuân Thu các lãnh chúa càng tăng cường bốc lột nhân dân lao động, người dân ngoài việc phải đi chiến trận thực hiện các cuộc chinh phạt của các tập đoàn quý tộc còn phải chịu sưu thuế, phu phen, lao dịch nặng nề Thiên tai thường xuyên xảy ra, nạn cướp bốc nổi lên khắp nơi làm cho đời sống nhân dân càng thêm khốn khổ Việc các nước gây chiến tranh thôn tính lẫn nhau cũng như các lãnh chúa bóc lột tàn khóc dân chúng không chỉ dẫn tới sự diệt vong của hàng loạt nước chư hầu nhỏ mà còn phá hoại lễ, nghĩa nhà Chu, phá hoại trật tự triều cống, triều hội, chinh phạt giữa các nước chư hầu làm cho mâu thuẩn trong giai cấp thống trị ngày càng trở nên gay gắt và sự rối loạn trong xã hội ngày càng tăng Việc tranh bá giữa các nước chư hầu, ở nội bộ các nước liên tục xãy ra các cuộc tranh quyền, đoạt lợi Cuộc đại biến hơn 200 năm khiến chế độ lễ pháp cũ mất đi Bối cảnh xã hội loạn lạc, rối ren là cơ sở để nảy sinh hàng loạt các học thuyết chính trị khác nhau: Mặc gia, Đạo gia, Pháp gia… Các học thuyết này ra đời đều nhằm một mục đích chung đó là cải biến một xã hội

từ “loạn” thành “trị” mong thiết lập lại xã hội, đem lại sự yên bình cho muôn dân

và sự phồn vinh cho đất nước Nho giáo ra đời cũng vì mục đích đó Khổng Tử đã

hệ thống hóa những tư tưởng và tri thức trước đây thành học thuyết Nho giáo Về sau hai môn đệ của của Khổng Tử là Mạnh Tử và Tuân Tử kế thừa và phát triển những tư tưởng và tri thức của khổng Tử Từ đó về sau Nho giáo trở thành một học thuyết bề thế, chặt chẽ hơn

1.1.2 Tiền đề tư tưởng của sự hình thành Nho giáo

Sự ra đời của Nho giáo còn bắt nguồn từ đời sống tư tưởng của Trung Quốc

từ trước đến bây giờ, đặc biệt dướn thời nhà Chu

Về tôn giáo Nhà Chu đề cao tư tưởng “kính trời”, “hợp mệnh trời”, “thờ

thượng đế”, “trời và người hợp nhất” Nhà Chu cho rằng, Trời (còn gọi là thượng đế) là lực lượng có nhân cách, có ý chí và có quyền lực tuyệt đối Chính vì vậy mà

Trang 9

nhà Chu cho rằng, vì nhà Ân không biết mệnh trời, hành động không hợp với mệnh trời do vậy thượng đế đã trừng phạt và để cho nhà Chu thay thế nhà Ân cai trị dân

Về chính trị Những nhà tư tưởng của tầng lớp quý tộc nhà Chu khẳng định

rằng vì nhà Chu biết và làm theo mệnh trời mà được “nhận dân” từ tay nhà Ân để

“hưởng dân” và “trị nước” suốt đời Nếu kẻ nào chống lại “mệnh trời” đó thì nhà Chu vâng mệnh trời và thay trời trừng phạt, chém giết Vua nhà Chu là chủ sở hữu tối cao về ruộng đất và mọi người trong xã hội đều là thần dân của nhà vua; vua là thiên tử (con trời) được thay trời thống trị thiên hạ, cai trị dân Rõ ràng tư tưởng chính trị dưới thời vua Chu là hết sức phản động và được phủ lên một lớp son tôn giáo về “ý trời” “mệnh trời”

Về đạo đức Tư tưởng đạo đức của Nho giáo lấy hai chữ “Đức” và “Hiếu”

làm nòng cốt Từ quan niệm chính trị, tôn giáo “trời và người hợp nhất” nhà Chu khẳng định rằng vì các bậc tiên vương nhà Chu có đức mà được sánh cùng thượng

đế được thượng đế cho hưởng nước, hưởng dân… cho nên các vua đời sau phải biết kính cái đức đó, phải biết bồi dưỡng nó để cho con cháu được hưởng nước, hưởng dân lâu dài Hiếu là thờ phụng tổ tiên, phải nhờ công lao của tổ tiên mà giữ gìn phép tắc của tổ tiên để lại Có cái đức Hiếu như vậy mới nhận được mệnh trời

mà hưởng nước hưởng dân mãi mãi Đây là một quan niệm đạo đức nhằm củng cố

và tuyên truyền sự tồn tại vĩnh viễn địa vị thống trị của tầng lớp quý tộc nhà Chu

và nhà nước quý tộc nhà Chu

Nho giáo tiếp nhận vào hệ thống của mình những tư tưởng tôn giáo chính trị, đạo đức trên đây của nhà Chu về thực chất cũng là sự tiếp nhận một phương thức chính trị mà giai cấp thống trị của triều đại trước đây đã thực hiện là sử dụng thần quyền để củng cố và thực hiện vương quyền trong việc cai trị

Đến thời Khổng Tử, Nho giáo với tư cách là một hình thái ý thức xã hội nó không thể không liên hệ mật thiết với đời sống kinh tế và phản ánh đời sống kinh

tế của xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ Do vậy để khắc phục tình trạng rối loạn xã

Trang 10

hội nhằm đưa xã hội vào trạng thái ổn định và pháp triển Ở phương diện nào đó Nho giáo một mặt vẫn thừa nhận và sử dụng sức mạnh của thần quyền nhưng mặt khác, mặt cơ bản, tư tưởng Nho giáo phải khẳng định ví trí, vai trò của con người trong những diễn biến của lịch sử

Như vậy dưới triều đại nhà Chu, địa vị và uy quyền của trời, mệnh trời đã được vận dụng vào việc chống lại nhà Ân, vào việc luận giải để biện hộ cho sự tồn tại vĩnh viễn của nhà Chu Tuy nhiên đến đầu thời Xuân Thu sự suy yếu về mọi mặt của nhà Chu cho thấy sự linh thiêng và bất khả xâm phạm của thần quyền đã

bị xâm phạm, nó báo hiệu sự thắng lợi của quyền lực trần thế trước quyền lực thần thánh Cho đến cuối Xuân Thu sự suy đồi của tầng lớp thống trị, trật tự, kỷ cương

xã hội theo mô hình nhà Chu ngày them rối loạn, sự khốn cùng của đời sống nhân dân đã làm lay chuyển gốc rễ địa vị thống trị của thần quyền Bởi vậy một vấn đề thực tiễn đặt ra cho các nhà tư tưởng, các học phái, các tầng lớp thống trị là phải tìm ra và luận giải những công cụ, những phương thức cai trị mới Sự xuất hiện Nho giáo cũng nhằm giải đáp nhu cầu mà thực tiễn của xã hội đặt ra lúc bấy giờ Tuy nhiên khác với các học thuyết giáo phái khác, Nho giáo đặc biệt đề cao đạo đức, coi đạo đức là công cụ, là phương tiện cai trị quản lý xã hội có hiệu quả nhất cũng như trong việc đưa xã hội từ “loạn” thành “trị”

Bên cạnh những yếu tố đó thì sự ra đời của Nho giáo cũng ảnh hưởng bởi những thành tựu về văn hóa và bản chất văn hóa đặc trưng của nền văn hóa Trung Hoa lúc bấy giờ Đặc biệt là sự nuôi dưỡng của hai dòng văn hóa văn hóa du mục phương Bắc và chất dân chủ nông nghiệp phương Nam Việc đồng thời dựa vào hai nền văn minh đối lập nhau như vậy trong một xã hội đầy rẫy những biến động như thời Xuân Thu đã khiến cho tư tưởng của Khổng Tử không thể tránh khỏi các giằng co dẫn đến sự đụng dầu của hai nền văn hóa trong Nho giáo vì thế Nho giáo nguyên thủy chứa đựng đầy mâu thuẩn

Trang 11

Trên đây là toàn bộ điều kiện, tiền đề cho sự ra đời của Nho giáo Sau khi xuất hiện Nho giáo đã có quá trình tồn tại, phát triển gắn liền với chế độ phong kiến Trung Quốc Do bị chi phối bởi những điều kiện kinh tế, xã hội do phải đáp ứng nhu cầu cai trị của giai cấp phong kiến trong mổi giai đoạn phát triển của chế

độ phong kiến và do được tiếp nhận nhiều tư tưởng ở các học phái khác cho nên những nội dung tư tưởng của Nho giáo đã có những biến đổi, thay đổi

1.1.3 Nội dung tư tưởng cơ bản của Nho giáo

Quan điểm của Nho giáo về vai trò của đức trị

Thứ nhất: Đạo đức là công cụ, phương tiện chủ yếu của giai cấp phong kiến trong việc trị nước và quản lý xã hội

Thứ hai: Đạo đức là tiền đề, điều kiện quan trọng nhất để hình thành và hoàn thiện đạo đức con người góp phần vào việc củng cố, duy trì trật tự kỷ cương, ổn định xã hội

Thứ ba: Đạo đức và việc hình thành đạo đức trong vai trò quyết định đối với việc tạo lập ra mẫu người lý tưởng và góp phần tạo lập xã hội lý tưởng

Một số biện pháp chủ yếu của đường lối đức trị

Trang 12

Lễ cũng là phạm trù đạo đức, một chuẩn mực đạo đức, Lễ là phạm trù chỉ tôn ti, trật tự kỷ cương của xã hội mà mọi người, mọi giai cấp trong xã hội phải học, phải tuân theo Tư tưởng Lễ là những chuẩn mực những quy tắc, những yêu cầu có tính bắt buộc, ràng buộc đối với mọi hành vi, ứng xử của con người trong các mối quan hệ cũng như trong các hoạt động khác của con người

Chính danh là một phạm trù, nội dung cơ bản của tư tưởng đạo đức chính trị,

là một trong những biện pháp chính trị để thi hành đường lối đức trị, lễ trị Chính danh là yêu cầu mỗi người phải có một phẩm chất tương xứng với địa vị xã hội của mình và phải suy nghĩ hành động đúng với địa vị ấy, không được tranh dành địa vị

và bổn phận của người khác, của giai cấp khác

Thứ hai: Vai trò của đạo đức, tu dưỡng đạo đức trong nhà vua, kẻ cầm quyền trong việc thi hành đường lối đức trị

Trong tư tưởng đức trị, các nhà Nho khẳng định rằng để làm tròn trách nhiệm là “cha mẹ của dân” “thay trời trị dân và giáo hóa dân” để làm theo “đạo trời” “mệnh trời” thì điều quan trọng nhất có ý nghĩa quyết định nhất là nhà vua kẻ cầm quyền luôn tu dưỡng đạo đức

Nho giáo cho rằng nhà vua có đạo đức và thi hành cái đạo đức của mình có ý nghĩa quyết định trong việc trị dân, giáo hóa dân, thu phục lòng người Ngoài ra các nhà Nho đều cho rằng nhà vua kẻ cầm quyền có đạo đức và thi hành đường lối nhân đức trong việc cai trị thì không chỉ làm cho nó trị lâu dài mà có thể làm cho những kẻ ác nhân thành thiện nhân

Thứ ba: Về vai trò của dân trong tư tưởng đức trị

Dân là một lực lượng to lớn trong xã hội, họ là những người mà Mạnh Tử gọi là “lao lực” tức là làm việc mệnh nhọc bằng sức lực chân tay để tạo ra của cải vật chất cho chính họ, gia đình họ và cả tầng lớp “lao tâm” cai trị người

Trang 13

Dân là gốc nước, là nền tảng của nền chính trị Bởi dân không chỉ do trời sinh ra

mà điều cơ bản họ là bộ phận to lớn trong xã hội, họ là đối tượng của cai trị không

có họ thì cũng không thể tồn tại mặt đối lập đó là giai cấp thống trị

Học thuyết “Tam Cương”

Trong các mối quan hệ xã hội, triết học Nho gia xác định ba mối quan hệ cơ bản và thông thường của mỗi đời người trong thiên hạ gọi là Tam cương, gồm quan hệ vua - tôi, cha - con, chồng - vợ Mỗi quan hệ lại có từng tiêu chuẩn riêng cho từng đối tượng như vua nhân từ, tôi trung thuận, cha hiền, con thảo, chồng biết tình nghĩa, vợ nghe lẽ phải Vào thời mình, Khổng Tử đã đề cập đến những mối quan hệ và những tiêu chuẩn này, song ông nhấn mạnh nhiều hơn đến quan hệ vua

- tôi và cha - con

Trong xã hội, quan hệ vua - tôi là quan hệ mà Nho giáo chú ý nhiều nhất Vua còn được gọi là thiên tử (con trời) có sứ mệnh to lớn nhất là thay trời để giáo dân, trị dân, do vậy vị trí của vua là cao nhất, quyền uy của vua là tuyệt đối và bao trùm thiên hạ Tôi (bề tôi) có thể là mọi người nói chung dưới quyền thống trị của vua,

là dân đen, lực lượng đối lập với tầng lớp thống trị gồm có vua, quan Hoặc là tầng lớp quan lại, những người giúp vua trong việc cai trị, có vai trò trị nước, trị dân, giáo dân

Trong gia đình, quan hệ cha - con là một trong ba quan hệ cơ bản của con người Để duy trì quan hệ này, Nho giáo đưa ra hai chuẩn mực đạo đức là Từ và Hiếu Đức từ (đối với con) cũng chính là để sai khiến dân chúng Đức hiếu (đối với cha) cũng chính là để thờ vua Nho giáo coi trong đức hiếu, đức từ là nhằm duy trì chế độ tông pháp và địa vị thống trị của nhà vua

Trong mối quan hệ này, các nhà Nho đề cao vị trí của người cha là bề trên của con, sinh ra con nên Nho giáo nhấn mạnh đức hiếu tức là nhấn mạnh trách nhiệm, nghĩa vụ của người con đối với cha Mạnh Tử còn nói, trong các việc phụng sự thì phụng sự cha là trọng đại hơn hết, là gốc vậy Người con có nghĩa vụ chăm sóc,

Trang 14

nuôi dưỡng, kính trọng cha, phải tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh của cha Người con có đạt được đức hiếu đó mới là người có nhân, có lễ, nghĩa, trí Trong quan hệ cha con, người làm cha phải có đức nhân Cha phải có nghĩa vụ yêu thương con mình, nuôi dạy con nên người Khi con còn nhỏ phải lo lắng, chăm sóc cho con khôn lớn Khi con trưởng thành phải dạy dỗ, uốn nắm, làm gương cho con, dạy con biết đạo làm người trong xã hội, biết trung với vua, biết hiếu với cha, biết kính người trên và biết đễ với anh em, biết làm việc nghĩa

Quan hệ chồng - vợ cũng là một trong ba quan hệ cơ bản của con người Để duy trì quan hệ chồng - vợ, Nho giáo đưa ra phạm trù nghĩa Nghĩa là chuẩn mực đạo đức để ràng buộc trách nhiệm và nghĩa vụ giữa chồng - vợ với nhau Chồng vợ phải yêu thương và có trách nhiệm với nhau Tuy nhiên, địa vị xã hội và vai trò của người phụ nữ được nhìn nhận và đánh giá thấp hơn so với người đàn ông Có như vậy, người vợ mới được coi là người có đạo đức, tiết hạnh Nho giáo phản đối sự dân chủ trong gia đình Với Nho giáo, gia đình là một nước nhỏ, người chồng là chúa tể của người vợ Người vợ chỉ là người chịu sự sai khiến, chỉ bảo của chồng

Đó là hạn chế trong quan hệ vợ chồng của Nho giáo Tuy nhiên, theo Nho giáo, trong gia đình thì người chồng phải biết yêu thương vợ con, chăm lo và là chỗ dựa cho vợ con Người vợ phải biết chăm lo, vun vén cho gia đình mình và gia đình chồng Nho giáo đề cao gia đình hòa thuận, coi thuận vợ, thuận chồng là cái gốc của xã hội thái bình Đây là điểm rất tích cực về quan hệ chồng - vợ trong đạo đức Nho giáo

Học thuyết “Ngũ thường”

Nho giáo nói về năm đức chủ yếu (Ngũ thường) là năm tiêu chuẩn đạo đức căn bản nhất thường có ở con người Theo Khổng Tử, muốn hợp lễ thì người quân tử phải có nhân, trí, dũng Mạnh Tử bỏ dũng và nói nhiều về lễ nghĩa thành bốn đức: Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí Đổng Trọng Thư thêm tín thành năm đức (Ngũ thường: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín)

Trang 15

Nhân là đạo làm người, là cách cư xử của mình với người, là yêu người, bác ái Theo Khổng Tử “Nhân” không chỉ là riêng một đức tính nào mà chỉ chung mọi đức tính Người có nhân đồng nghĩa với người hoàn thiện nhất, nên nhân là nghĩa của đạo làm người Kẻ có nhân là người tình cảm chân thật, hết lòng vì nghĩa, cho nên có nhân thì bao giờ cũng hiếu để, lễ nghĩa, trung thực Kẻ bất nhân thì đầy những trí thuật, rất khôn khéo, linh lợi mà tình cảm đơn bạc không thành thực, chỉ

vì lợi mà không có lễ nghĩa, dối trá, gian ác, phản loạn, lừa trên gạt dưới Tuy nhiên, học thuyết nhân của Khổng Tử có nội dung giai cấp rõ ràng Chỉ có người quân tử, tức giai cấp thống trị mới có thể có được đức nhân, còn kẻ tiểu nhân (tức nhân dân lao động) không thể có được đức nhân Nghĩa là đức nhân chỉ là đức của người quân tử, của giai cấp thống trị

Lễ là một phạm trù đạo đức, một chuẩn mực đạo đức dùng để chỉ tôn ti, trật tự,

kỷ cương của xã hội mà mọi người, mọi giai cấp trong xã hội phải học, phải làm theo Nếu nhân là nội dung thì lễ chính là hình thức của nhân Lễ là những chuẩn mực, những quy tắc, những yêu cầu trong các hoạt động của con người và trong các mối quan hệ xã hội Vua phải yêu thương bề tôi, bề tôi phải tận tuy với vua Cha mẹ phải yêu thương con cái, con cái phải hiếu kính đối với cha mẹ Con người thi hành lễ là để rèn luyện, tu tâm dưỡng tính, tạo cho con người có điều kiện thực hiện đức nhân và có những hành vi đúng mực, tốt đẹp

Phạm trù nghĩa trong đạo đức Nho giáo là sự đối nhau với nhân Nếu nhân thể hiện trong các mối quan hệ với người khác thì nghĩa là sự thể hiện trong tự vấn lương tâm mình Lòng hổ thẹn là đầu mối của nghĩa Nghĩa có nghĩa đen là điều nên nói, việc nên làm Ngoài ra, nghĩa còn là cách cư xử với mọi người theo công bằng và lẽ phải Trong thử thách đạo làm người, chữ nghĩa trong đạo đức Nho gia giúp cho con người ta biết phân minh việc phải trái, làm việc tốt, việc thiện ở đời

và hành xử công bằng theo lẽ phải Đến Đổng Trọng Thư thì chữ nghĩa đi liền với lợi Ông cho rằng trời sinh ra người khiến người sống ở cái nghĩa và cái lợi Lợi để

Trang 16

nuôi thân thể, nghĩa để nuôi cái tâm Tâm không có nghĩa, không thể được, thân thể không có lợi, không thể yên được.Trong thời đại ngày nay, lòng hổ thẹn và tinh thần vì nghĩa thường bị nhiều thứ làm cho lung lay, mất đi tính tốt đẹp vốn có như

uy vũ của kẻ quyền thế, địa vị công danh, tiền tài, lợi lộc

Trong học thuyết Nho gia, Trí được hiểu là sự minh mẫn nói chung để phân biệt, đánh giá con người và tình huống, qua đó xác định cho mình cách ứng xử cho phải đạo Nói chung, theo Khổng Tử, phải có trí thì con người mới vươn tới được đức nhân nên không thể là người nhân mà thiếu trí Đề cập tới trí, Khổng Tử một mặt tin vào mệnh trời và cho rằng tri thức bẩm sinh là tri thức thượng thặng, là thượng trí, trời sinh ra đã có sẵn và không biến đổi Mặt khác, ông đã xếp trí vào một trong những tiêu chuẩn quan trọng nhất của con người hoàn thiện Ông cho rằng trí là kết quả của quá trình học hỏi trong đời sống Nếu không học hỏi thì dù

có thiện tâm đến đâu cũng bị cái ngu muội, lầm lạc, phản loạn làm biến chất Chữ trí trong Nho gia giúp con người ta luôn luôn phấn đấu học tập để hoàn thiện bản thân mình Trí là biết người, là dùng người trực, bỏ kẻ gian Như vậy có thể giáo hóa kẻ gian thành người trực.Trí là biết được một cách đúng đắn, rõ ràng, phải trái trong mọi vấn đề xảy ra trong cuộc sống

Chữ Tín theo Nho giáo là lòng thật thà, niềm tin, đức tính giữ lời hứa hẹn, giữ đúng, làm đúng những điều đã nói ra Chữ Tín trong đạo đức Nho giáo hướng con người đến sự ngay thẳng, chân thật trong hành xử, trong đối nhân xử thế Đối với bằng hữu thì phải làm cho người ta tin, có như vậy tình bạn mới bền vững được Đặc biệt, với những người trị nước, trị dân thì đức tín càng quan trọng hơn

Học thuyết “Tứ đức”

Không chỉ nói về đạo đức nam giới, Nho giáo còn đề ra những tiêu chuẩn cho người phụ nữ với học thuyết tứ đức Tứ đức trong quan điểm Nho giáo là bốn đức tính cần thiết mà người phụ nữ phải có, đó là: Công - Dung - Ngôn - Hạnh

Trang 17

Công: Theo Nho giáo đó là khéo léo trong công việc Đạo đức Nho giáo đòi hỏi người phụ nữ thời xưa trong nữ công gia chánh phải khéo léo Đó là những công việc như may, vá, thêu thùa, bếp núc Với người phụ nữ giỏi thì có thêm cầm

kì thi họa Bên canh đó chữ Công trong Nho giáo còn có thêm việc nuôi dạy con cái Đây là những khuôn phép, chuẩn mực mà đạo đức Nho giáo đề ra cho người phụ nữ

Chữ Dung trong đạo đức Nho giáo không chỉ nói về nhan sắc mà chủ yếu nói

về dáng điệu, sắc diện Dung có nghĩa là hòa nhã trong sắc diện, gọn gàng trong dáng đi, điệu bộ Chữ dung đòi hỏi người phụ nữ phải biết tôn trọng hình thức bản thân mình và chăm chút đến nó

Chữ Ngôn trong đạo đức Nho giáo có nghĩa là lời ăn tiếng nói phải khoan thai, dịu dàng, mềm mỏng Nho giáo coi Ngôn cùng là điểm quan trọng trong đạo đức của người phụ nữ Bởi vì tính nết, đức hạnh của người phụ nũ thể hiện khá nhiều qua lời ăn tiếng nói, qua cung cách giao tiếp hàng ngày

Đức Hạnh trong đạo đức Nho gia đòi hỏi sự nhu mì, hiền thảo trong tính nết của người phụ nữ Theo đạo đức Nho giáo thì người phụ nữ ở trong gia đình phải luôn hiền thảo, nết na Đó là phải biết kính trên nhường dưới, trên thì nghe lời chồng và cha mẹ chồng, dưới thì phải thương yêu, chăm sóc con cái và sống tốt với anh em họ nhà chồng Khi ra ngoài xã hội, khi đối nhân xử thế thì Hạnh có nghĩa là

sự nhu mì, chính chắn, không hợm hĩnh, cay nghiệt với người khác

Tư tưởng “Hiếu đễ”

“Hiếu đễ” là một nét đặc sắc trong tư tưởng đạo đức Nho giáo Hiếu ở đây có nghĩa là lòng yêu thương, hiếu kính của con cái đối với cha mẹ, với bậc sinh thành Còn “Đễ” có nghĩa là anh em trong một nhà phải có tình thân mật, anh phải biết bao bọc và che chở cho em và phải biết nhường nhịn em Em phải biết kính trọng anh, nghe lời anh

Trang 18

Cái nền của Hiếu Đễ là ái và kính Dựng lòng kính khởi đầu từ người huynh trưởng, là dạy dân kính thuận vậy, lấy từ mục mà dạy dân thì dân biết quý có cha

mẹ, lấy kính người huynh trưởng mà dạy dân thì dân biết phụng sự theo mệnh lệnh của người trên Hiếu là để thờ cha mẹ, thuận là để vâng mệnh lệnh người trên, đem những điều ấy mà thi thố ra thiên hạ, thì không có điều gì là không làm được Theo đạo đức nho gia, người có hiếu trước hết phải nuôi cha mẹ Nuôi thì phải kính, chứ nếu không kính yêu thì không phải là hiếu Khi cha mẹ còn, không được làm điều gì cho cha mẹ lo buồn Nếu làm cha mẹ đau lòng, lo buồn thì đó là tội nặng, đó là bất hiếu Khổng Tử đề cao việc lấy lễ và thờ cha mẹ nhưng không phải cha mẹ làm gì trái đạo cũng đều nghe theo “Khi cha mẹ có làm điều gì trái đạo thì con phải dùng cách ôn hòa mà can ngăn Nếu cha mẹ không nghe thì lại tỏ lòng cung kính và hiếu thảo, rồi dần lựa cách mà nói cho cha mẹ biết lẽ phải để sửa đổi lại Dẫu có khi cha mẹ giận mà đánh đập, dẫu phải chịu khổ sở, cũng không oán Việc giữ gìn cái danh tiết của cha mẹ được trong sạch là cái bổn phận của người con hiểu đạo hiếu vậy” [12, 149]

Chữ Đễ trong đạo đức Nho giáo gắn liền với quan hệ anh - chị - em Nho giáo đòi hỏi phải có “Đễ”, tức là anh em một nhà phải có tình thân mật với nhau Anh

em một nhà phải biết yêu thương gắn bó với nhau Anh phải biết chỉ bảo, che chở cho em, em phải biết kính trọng và nghe lời anh “Đễ” chính là điều cốt lõi mà anh

em trong một nhà phải ghi nhớ và thực hiện theo Bởi lẽ xã hội Nho giáo là một xã hội quyền huynh, thế phụ, anh là người có quyền thay cha giải quyết mọi công việc trong gia đình Bởi vậy, người anh phải biết uốn nắn, dạy dỗ điều hay lẽ phải cho

em và phải là một tấm gương mẫu mực để em noi theo Khi em sai trái, anh phải nghiêm khắc chỉ bảo, dạy dỗ Khi em khó khăn anh phải giúp đỡ, đùm bọc và quan tâm Cũng chính vì vậy mà em phải luôn kính trọng, nghe lời chỉ bảo của anh, không được có hành động vô phép với anh Dù cho em sau này trưởng thành, thành đạt, giàu có thì đối với anh phải luôn luôn lễ phép, kính cẩn nhất mực Tất cả

Trang 19

những điều trên tạo nên một mối quan hệ anh em thuận hòa, yên ấm mà giá trị giáo dục của nó vẫn được lưu giữ cho đến hôm nay và mai sau

1.2 Những tư tưởng cơ bản của Nho giáo về Nhân và Lễ

1.2.1 Nhân và Lễ theo quan niệm của Khổng Tử

Khổng Tử tên là Khâu tự là Trọng Ni, người làng Xương Bình huyện Khúc Phụ nay thuộc phủ Duyện Châu, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc Ông sinh năm 551TCN, đó là lúc xã hội Trung Hoa cổ đại loạn lạc triền miên các vua chúa chỉ lo hưởng thụ và chém giết lẫn nhau để xưng hùng, xưng bá Đạo lý nhân luân xáo trộn, vinh nhục không rõ ràng, thiện ác khó phân biệt Chính lúc này Khổng Tử lập thành hệ thống học thuyết lấy Nhân; Nghĩa; Lễ; Trí; Tín mà dạy người Lấy đạo lý cương thường mà hạn chế nhân dục để giữ gìn trật tự ở trong xã hội cho bền vững Chính vì vậy Nhân, Lễ là những phạm trù chủ yếu trong học thuyết của ông Chủ trương dùng Nhân, Lễ để giáo hóa dân đưa dân vào khuôn phép và Nhân, Lễ cũng chính là nội dung chủ yếu trong đường lối Đức trị của Khổng Tử

Đối với nội dung Nhân Phạm trù Nhân có nội dung rất rộng lớn và nó thâm

nhập vào tất cả các lĩnh vực của cuộc sống Khổng Tử đề cao vai trò của Nhân và cho rằng đạo Nhân là cái gốc, là cơ sở của sự giáo hóa Ông lý giải cái đức lớn của trới đất là sự sinh thì đạo người phải theo đạo trời mà bồi dưỡng Đạo trời có 4 đức là: Nguyên; Hanh; Lợi; Trinh, đạo người bởi đó mà có 4 đức: Nhân; Nghĩa; Lễ; Trí Khổng Tử cho rằng Nguyên tức là Nhân đứng đầu các điều thiện

Điều nhân là hạt nhân cơ bản trong học thuyết chính trị của Khổng Tử Khái niệm Nhân trong học thuyết của Khổng Tử được đề cập ở rất nhiều tác phẩm nhưng chủ yếu được nhắc đến nhiều nhất trong Luận ngữ Trong Luận ngữ Khổng

Tử đã nhắc đến 104 lần chữ Nhân Tuy nhiên, cần phải thấy rằng, chữ Nhân đó không chỉ riêng cho một đức tính nào mà chỉ chung cho mọi đức tính Người có Nhân là người hoàn thiện nhất, do đó chúng ta có thể hiểu Nhân theo nghĩa rộng nhất là đạo làm người, là cách cư xử với mình và cách cư xử với người Nhân là

Trang 20

mục đích cao nhất của sự tu dưỡng đạo đức Kẽ sĩ không vì sống mà hại điều Nhân, có khi còn lấy cái chết để làm điều Nhân; Phải luôn nuôi dưỡng đức Nhân với tất cả sự hăm hở

Khổng Tử cho rằng: “Tính tương cận tập tương viễn” theo đó bản tính con người khi sinh ra đều giống nhau, nhưng do các tập nhiễm xã hội mà họ trở nên xa nhau hơn và làm cho họ khác nhau; ở con người có một cái gì đó làm nên nhân cách không thể phá bỏ được, điều này có nghĩa là sự thừa nhận nhân cách

cá tính, ý hướng độc lập của con người Mặt khác, thì Khổng Tử khẳng định cái đức lớn của trời đất là sự sinh, thì theo đó đạo người phải theo đạo trời đất mà bồi dưỡng sự sinh ấy Đạo người bao gồm bốn đức: Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí, như vậy chúng ta thấy rằng Nhân là đạo đứng đầu các đức thiện ấy

Theo Khổng Tử người có Nhân trước hết phải làm những việc khó sau đó mới hưởng các thành quả mới có thể gọi là Nhân; người Nhân còn là Người sẵn sàng vui vẻ sống trong bất kỳ hoàn cảnh nào, dù là vinh hoa hay nghèo đói; là người biết tự kiềm chế được mình để tuân theo các quy phạm xã hội, để vững vàng trước mọi thử thách của cuộc đời Có thể nói rằng chữ Nhân của Khổng Tử không được Khổng Tử nói nó bao gồm những nội dung gì Nhưng khi được hỏi

về Nhân thì Khổng Tử tùy thuộc vào hoàn cảnh, vào tư cách và học lực của mỗi người để trả lời cho phù hợp và những lời giải thích đó hoàn toàn khác nhau

Với Nhan Tử, Khổng Tử đã dạy rằng “Khắc kỷ phục lễ vi nhân” [18, 195] phải trị hết cái bệnh tư dục của mình là khắc kỷ, hồi phục cho được cái chân lý của trời là phục lễ thế mới là Nhân Theo Khổng Tử thì đã sữa được mình theo

lễ tức đức Nhân trong mình sẽ được trau dồi và hoàn thiện Và việc chúng ta có thể trở thành có nhân hay không, không phải nhờ cậy vào ai mà lòng Nhân vốn

dĩ đã được trời phú cho mình, đức Nhân sẵn có trong lòng mình do đó việc có trở thành người có Nhân hay không là do mình chứ không do ai khác

Trang 21

Nhân như thế nào thì được gọi là khắc được kỷ, phục được lễ? Theo Khổng Tử thì nhãn, khẩu, nhĩ, thân là kỷ, muốn khắc được kỷ thì phải chính, hễ cái gì không đúng với lẽ trời tức là phi lễ, đã phi lễ thì sẽ rơi vào tư dục Để khắc kỷ, phục lễ thì không chiều theo tư dục Khổng Tử cho dục vọng con người

là tự nhiên, ông không chủ trương diệt dục mà trái lại thừa nhận nó, nhưng phải lấy lễ để quy định nó, tức là thừa nhận nó trong phạm vi của lễ, khi trái lễ phải chống lại Ở đây Khổng Tử đã đem Nhân vào làm nội dung cho Lễ, coi Lễ là biểu hiện của Nhân, Nhân không phải quy định mà phải được quán triệt vào nội dung bên trong của lễ và lấy lễ để ước thúc Nhân Do vậy, Khổng Tử đã khuyên rằng: “Sắc chi không phải lễ thì đừng nhìn; Tiếng chi không hợp lễ thì đừng nghe; Lời chi không hợp lễ thì đừng nói; Việc chi không hợp lễ thì đừng làm” [18, 106]

Qua đó chúng ta thấy rằng việc muốn trở thành người có Nhân là do mình làm lấy, nếu như ta không tận tâm thì dẫu có nhiều thầy hiền, đông bạn tốt đến mấy cũng không thể trở thành người có Nhân được Nhân hay không Nhân phải bàn đến động cơ và công phu tu dưỡng Người làm điều Nhân phải luôn giữ mình trung tín, cung kính, nói năng thận trọng

Đối với Khổng Tử người có Nhân phải là người biết yêu thương người khác Khi Phàn Trì hỏi về Nhân, ngài chỉ nói rằng đó là “Ái nhân” (Yêu người)

Để giải thích cho điều này thì Khổng Tử đã dạy rằng người có Nhân phải là người muốn tự lập lấy mình thì phả lo lập cho người, muốn mình thành đạt thì cũng phải mong cho người thành đạt Chung quy lại, muốn làm điều gì cho mình thì phải nghĩ cho người trước, ứng xử với mình như thế nào thì ứng xử với người như thế đó “Kỷ dục lập nhi lập Nhân; Kỷ dục đạt nhi đạt Nhân” [18, 35]

Theo Khổng Tử đã là người Nhân, trọn đời phải theo chữ “Thứ”, có nghĩa

là “Kỷ sở bất dục vật thi ư Nhân” [18, 56] điều gì mình không muốn người làm

cho mình thì mình đừng làm cho người Ngoài ra khi nói đến Nhân là nói đến

Trang 22

hành động của con người ta, các hành động đó phải hợp với Thiên mệnh và phải

bỏ hết tư tâm tư ý để từ đó khiến cho đối với mình cũng như đối với người lúc nào cũng kính cẩn và thân ái như một vậy

Kẻ có Nhân là người tình cảm chân thực, hết lòng vì nghĩa Vậy nên chữ Nhân của Khổng Tử hàm cả ý của chữ “Ái” Vì có Nhân mới có ái, có ái mới có lòng thương người yêu vật; muốn cho vạn vật lúc nào cũng được vui sướng mà sống ở đời Nhờ có lòng Nhân nên con người ta mới hợp quần với nhau, mới có lòng bác ái, mới coi nhau như anh em một nhà, xem tập thể như một người, xem thiên hạ như một nhất thể Vậy nên đã là Nhân thì yêu người, yêu vật; lòng yêu thương ấy đều xuất phát từ tự nhiên, không có sự miễn cưỡng chút nào và phẩm chất chất phát, tình cảm chân thực là đIều kiện cần thiết để trau dồi đức Nhân

Còn những người thích trau chuốt, hình thức nói năng đưa đẩy, thay đổi sắc mặt, quá khéo léo là những người ít đức Nhân “Xão ngôn lệnh, sắc tiễn hỷ Nhân” [18, 57]

Khổng Tử còn cho rằng nếu tâm của con người luôn hướng về Nhân thì không bao giờ con người nghĩ đến chuyện phản loạn, do vậy sẽ không nói bậy

và không làm việc ác Đối với những người cầm quyền thì đức Nhân là thành trì

để giữ gìn và bảo vệ những gì họ đã đạt được Tuy nhiên do hạn chế của lập trường giai cấp, học thuyết Nhân của Khổng Tử có nội dung rất rõ ràng Ông cho rằng chỉ có người quân tử (tức giai cấp thống trị) mới có thể có được đức Nhân, còn kẻ tiểu Nhân (nhân dân lao động) thì không thể có được đức Nhân ấy

“Quân tử nhi bất Nhân giả hữu hĩ; Vị hữu tiểu nhân, nhi nhân giả dã” [18,52] Như vậy đạo Nhân chỉ là đạo của người quân tử, của giai cấp thống trị Do đó, theo quan niệm của Khổng Tử thì Nhân là đạo cao nhất, rộng nhất của đạo làm người mà trước hết thì bậc quân tử phải hội nhập được Tuy nhiên người có Nhân phải là người có trí, có thể có người trí mà không có Nhân chứ không thể

có người có Nhân mà không có trí Nhưng theo Khổng Tử trí không phải tự

Trang 23

nhiên mà có, mà muốn có trí thì phải qua học tập, tu dưỡng, với Khổng Tử việc học tập, tu dưỡng không phải là một sớm một chiều mà phải lâu dài và bền bỉ

“Hiếu học cận hồ tri: Ham học hỏi bao nhiêu thì gần với tri thức, với hiểu biết bấy nhiêu” [18, 42]

Khi Lượng Tử hỏi về đạo Nhân, Khổng Tử nói: “Làm được 5 điều mới gọi là người Nhân tức là Cung; Khoan; Tín; Mẫn; Huệ” Tức là muốn trở thành người có lòng Nhân thì đối với mọi người phải thực hiện cho được năm điều là Cung (cung kính), Khoan (độ lượng), Tín (giữ lời hứa), Mẫn (siêng năng) và Huệ (làm lợi cho người khác) Sở dĩ phải thực hiện cho được năm điều ấy là vì

“Cung kính thì không bị khinh nhờn, khoan hậu thì được lòng mọi người, thành tín thì được người ta tín nhiệm, cần mẫn thì thành công còn tư huệ thì sử dụng được người” [18.76]

Trong gia đình Nhân là hiếu đễ; đối với ông bà, cha mẹ, anh chị thì phải hiếu; đối với bậc ngang hàng thì phải đễ Hiếu đễ là gốc của đức Nhân, khiến cho người ta bao giờ cũng có đầy những tình cảm rất hậu và thành thực Bởi vì

có lòng yêu kính cha mẹ và mọi người trong gia đình thì mới biết yêu thương người ngoài, mới có lòng từ ái và trung thứ được Nếu ở với cha mẹ mà không hiếu thảo, ở với anh em không kính thuận, tức là tình cảm của ta rất bạc như thế thì làm sao có thể trở thành người Nhân được Còn đối với quốc gia thì Nhân là Trung, nhờ có Trung mà giữ được uy quyền, đất nước thái bình thịnh trị, trên dưới một lòng chung lưng đấu cật, xây dựng giang sơn

Người Nhân còn là người biết yêu ghét một cách sáng suốt Tuy nhiên trong đó thì “ái nhân” là chủ yếu và sự yêu thương này cũng có những mức độ khác nhau Cũng từ quan niệm trên mà Khổng Tử chia những người có đức Nhân ra thành bậc Thánh Nhân và bậc Nhân Bậc thánh là những người thi ân

bố đức cho khách dân gian và trợ giúp cho dân chúng Bậc Nhân là những người tín thiện đầy đủ và có mọi hành vi hợp với ý lành

Trang 24

Khi nói về người Nhân, Khổng Tử còn cho rằng những người có Nhân thì

có trực giác rất sáng suốt, nhìn đâu biết đấy, cái gì cũng thấy, cái gì cũng hay thoáng một cái là đã có thể nắm bắt được chân lý, chứ không phải theo lý trí để lần tìm từng mối một Còn với những người bất Nhân thì trực giác mờ tối, do đó phải nhờ vào lý trí để suy tính, mà sự suy tính này cũng chỉ nhằm vào những điều tư lợi mà thôi

Như vậy Nhân trong triết học của Khổng Tử được xem là sự thăng hoa về triết học của con người Triết học Nhân sinh trong triết học của Khổng Tử bao hàm một nội dung rất rộng Phạm trù Nhân của Khổng Tử nó chi phối đến tất cả các hoạt động của đời sống xã hội Nhân là một thể yên lặng như núi, bao nhiêu đức tín khác điều bởi đó mà sinh ra Trong cái thể yên tĩnh ấy có cái tính sáng suốt, cái đức mạnh mẽ, có điều gì cũng biết rõ ràng ngay, nhờ đó mà việc làm được điều tiết thích hợp với Thiên mệnh tự nhiên Nhân là cái gốc lớn của sự sinh hóa trong trời đất Thế gian nhờ đó mà đứng, vạn vật nhờ đó mà sinh, quốc gia nhờ đó mà còn, lễ nghĩa nhờ đó mà phát hiện ra Vì thế mà Nhân được xem

là tư tưởng cốt lõi trong quan niệm về Triết học con người của Khổng Tử

Đối với nội dung Lễ Khổng Tử từ thuở còn thanh niên ở nước Lỗ đã nổi

tiếng là người học giỏi về Lễ Khi ngài vào kinh đô nhà Chu, đi hỏi Lễ ở Lão Tử,

về sau ngài ra xuất chinh hay là dạy học lúc nào cũng chú ý về Lễ

Theo Khổng Tử thời đại ông là thời đại mà Lễ nhạc hư hỏng, vua không giữ đúng đạo vua, bề tôi không giữ đúng đạo bề tôi, cha không đúng đạo cha, con không đúng đạo con, chồng không đúng đạo chồng, vợ không đúng đạo vợ… vì thế thiên hạ đại loạn và “vô đạo” Chính vì thế để đưa xã hội trở về trật tự cũ có đạo lý thì phải giáo hóa, giáo dục dân theo Lễ Chỉ có như vậy xã hội mới có trật

tự, trên dưới, quan hệ giữa người với người mới trở nên tốt đẹp và “hữu đạo”

Phạm trù Lễ trong học thuyết của Khổng Tử có nội dung rộng lớn nhưng chủ yếu có những nội dung sau:

Trang 25

Lễ dùng để chỉ các nghi lễ, chế độ chính trị và những quy phạm đạo đức, những nghi thức mà ta phải theo tùy theo nơi chốn, tùy theo địa vị, tùy theo tương

quan giữa chúng ta và người ta gặp “Kiến tế thôi giả, tuy hiệp, tất biến Kiến miêm

giả dự có giả, tuy tiết, tất giả mạo Hung phục giả thức chi Thức phụ báo giả Hữu thịnh soạn tất biến sắc nhi táo Tần lôi phòng liệt ất biến” [18, 34] Gặp người có tang tuy là quan hệ thân cận, Khổng Tử vẫn thay đổi thái độ tỏ lòng thương xót Nhìn thấy người mặc triều phục đội mũ miện hoặc người mù tuy là người quen biết, Khổng tử vẫn giữ thái độ lịch sự Đi xe trên đường gặp người mặc tang phục, Khổng Tử cúi người phía trước gật đầu như chia sẽ với họ, tay vịn thành xe Gặp người cầm sổ sách nhà nước cũng cúi đầu chào như tỏ lòng kính trọng Khi làm khách thấy chủ nhà dọn mâm thịnh soạn phải cảm ơn rồi mới cầm đũa

Trong chương Thuật Nhi, Khổng Tử đặc biệt nhấn mạnh tới nghi thức cũng như thái độ phải có khi cúng tế, khi thụ tang, khi gặp thiên tai… chính ngài nhấn mạnh tới nghi thức cũng như thái độ mà đa số nhà nho đã hiểu, Lễ như nghi lễ, nghi thức, hay quy luật ta phải theo khi cúng tế, khi tổ chức hôn lễ, khi tham gia vào việc công (làm quan, yết triều, khi sinh con đẻ cái, khi có tang… ) Như vào kỳ

tế lễ Khổng Tử giữ mình trong sạch mặc đồ vải trắng, thay đổi thức ăn, đổi phòng ngủ (không dung chung phòng với thê thiếp) Những hành động và việc làm của Khổng Tử đều hành sự theo lễ, theo những phong tục nghi lễ thể hiện sự kính trọng tôn trọng của Khổng Tử

Lễ của Khổng Tử thể hiện việc quy định và đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của mọi người Là một phương cách biểu tả tà khí và như vậy nó có thể giúp tề gia,

trị quốc Hữu Tử - một đồ đệ của Khổng Tử nói: “Lễ chi dụng, hòa vi quý, tiên

vương chi đạo, tư vi mỹ, tiểu đại do chi Hữu sở hành Tri hòa nhi hòa, bất dĩ lễ tiết chi, diệc bất khả hành giả” [17, 126] Công năng của Lễ cốt lõi ở thực dụng tạo ra hòa hợp là điều quý nhất Chính vì vậy mà các bậc tiên vương đã coi việc áp dụng

Trang 26

lễ như là một sự cao quý và giải quyết mọi việc lớn bé theo nghi lễ quy định Nếu chỉ có tinh thần hòa hợp mà không có lễ thì khó thành công được

Lễ biểu hiện chính nền đạo đức Theo Khổng tử căn bản của Lễ không có gì khác hơn chính là nền đạo đức Đạo nhân, đạo nghĩa, đạo tín… là những đức tính căn bản của Lễ “Nhân nhi bất nhân, như lễ hà? Nhân nhi bất nhân như nhạc hà?” [18, 56] một con người mà thiếu đạo nhân (ái) thì làm sao mà có lễ? Một người thiếu lòng nhân (từ) thì làm sao mà hiểu được nhạc? Một người thiếu lễ không thể

là người quân tử Trung hiếu thực ra chỉ là những quy tắc tất yếu xây dựng trên nhân, nghĩa và tín, trong khi lễ là một phương thức biểu hiện những đức trên

Ngoài ra Lễ còn biểu hiện mối quan hệ giữa người với người, đối với xã hội, đối với tự nhiên, Lễ nhằm điều chỉnh hành vi con người Lễ giúp con người thấy được trách nhiệm của mình Có thể ngăn cấm được việc chưa xảy ra mà dung pháp luật chỉ có thể trị cái tội đã rồi, bởi vậy thánh nhân chỉ trọng lễ chứ không trọng hình Lễ để cảm hóa lòng người Dùng Lễ để phân rõ phải trái, đúng sai, vua tôi, trên dưới, cha con, anh em, không có Lễ không thể xác định thân phận địa vị Ở quê nhà đối với bậc trên rất kính cẩn chậm chạp Ở triều đình nói chuyện với quan đại phu dưới quyền thì thẳng thắn, với quan cấp trên thì giữ thái độ từ tốn Lễ theo cách nói Khổng Tử là một chuẩn mực quy phạm về cách thức làm người và đối nhân xử thế “Chiếu trải không ngay ngắn thì không ngồi” [18, 88], “Sắc chi không phải lễ thì đừng nhìn; Tiếng chi không hợp lễ thì đừng nghe; Lời chi không hợp lễ thì đừng nói; Việc chi không hợp lễ thì đừng làm” [18, 106] Vì vậy học Lễ chính là học cách làm người

Lễ còn được dùng để nói cách thờ thần cho được phúc, tức là phải có tế lễ: Biết ơn cội nguồn Ngoài ra Lễ còn được dùng với nghĩa rộng hơn là những quy cũ

mà phong tục và tập quán của Nhân Người biết Lễ là người biết tự chủ, biết hòa đồng đúng mức với mọi người Người mà không học Lễ thì không biết lập thân, không có chỗ đứng trong xã hội Như vậy trên thực tế Lễ có ý nghĩa như pháp luật

Trang 27

của quốc gia bao hàm chính trị, quân sự, kinh tế

Như vậy Nhân và Lễ trong quan niệm của Khổng Tử có mối quan hệ mật thiết với nhau, Nhân là nội dung của Lễ, Lễ là hình thức biểu hiện của Nhân, người nhân mà không biết Lễ thì không gọi là người Nhân Ngược lại có Lễ mà không có Nhân cũng không thể coi là người quân tử Lễ là phương tiện để thực hiện chính danh, còn Nhân là nội dung của chính danh đó Cho nên Nhân mà không có Lễ thi không có tác dụng gì

1.2.2 Nhân và Lễ theo quan niệm của Mạnh Tử

Mạnh Tử (372 – 289), tên thật là Mạnh Kha, tự là Tử Du, người nước Lỗ, học trò Tử Tư (cháu nội Khổng Tử) Thuở ông 3 tuổi thì cha mất, nhờ mẹ dạy dỗ sau theo học về phái của thầy Tử Tư, hiểu rõ cái đạo của Khổng Tử Ông có tài hùng biện, thường đi chu du nhiều nước Ông muốn đem cái đạo của thánh nhân để cứu đời, nhưng vì thuở ấy vua các nước chỉ lo chiến tranh không ai để ý việc nhân nghĩa Sau đã gần già ông thấy cái đạo không được thi hành ông về nhà cùng với các môn đệ Ông được tôn xưng là bậc nhị thánh của Nho giáo

Mạnh Tử là người đã phát triển học thuyết của Nho giáo do Khổng Tử sáng

lập lên một tầm cao mới trở thành học thuyết Khổng Mạnh Đặc biệt là quan niệm

về Nhân, Lễ Mạnh Tử cũng đưa ra những quan niệm mới trên nhưng tư tưởng sẵn

có của học thuyết Khổng Tử nhưng có những biến đổi tiến bộ hơn Mạnh Tử cũng

đã kế thừa và phát triển tư tưởng triết học của Khổng Tử trong các học thuyết về

“Nhân”; “Nghĩa”, “Lễ”, “tính tương cận, tập tương viễn”, “sinh nhi tri chi”, “thiên

mệnh chi vi tính” và đi đến luận điểm nổi tiếng “Nhân tính chi thiện giả” (cái bản

tính người ta sinh ra vốn lương thiện) Theo Mạnh Tử tính thiện của con người được biểu hiện ở 4 đức tính lớn là: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, cũng ứng với 4 thịnh đức của trời: Nguyên, Hanh, Lợi, Tinh Nhưng nếu Khổng Tử coi trọng lễ trí như nhân thì Mạnh Tử ít nhắc đến lễ, trí và ông luôn đề cao đức nhân “Đức nhân là cái

lẽ người ta sở dỉ là người, hợp với cái lẽ ấy với bản thân con người mà nói thì tức

Trang 28

là con đường nghĩa lý phải noi theo vậy Nhân dã giả nhân dã, hợp nhi ngôn chi, đạo dã” [22, 142] Ông coi đức nhân nghĩa là cái đức cao cả của người quân tử và của bậc thánh nhân Người quân tử phải biết phân biệt thực giả để hạnh động cho hợp đạo trung “Phi lễ chi lễ, phi nghĩa chi nghĩa, đại nhân phắt vi: Lễ không phải

là lễ, nghĩa không phải là nghĩa, bậc đại nhân không làm” (Ly lâu, hạ) Đạo làm người quý nhất là nhân với nghĩa, dẫu đến bậc vua có quyền thế mà không có nhân nghĩa cũng là khinh, cho nên, người quý tử không thấy giàu sang mà muốn, không thấy mình nghèo hèn mà sợ “Bỉ dĩ kỳ tước, ngã dĩ ngô nghĩa, ngô hà khiểm hồ tai:

Kẻ kia cậy cái giàu của nó, ta đây cậy cái nghĩa của ta, ta có điều gì bất mãn vậy thay” (Công Tôn Sửu, hạ) Người quân tử chuộng cái đạo chức không chuộng cái thế lực

Người ta phải biết thế nào là nhân, thế nào là nghĩa “Nhân giai hữu sở bất nhẫn, đạt chi ư kỳ sở nhẫn, nhân dã: người ta cũng có điều bất nhẫn, đem điều ấy

mà thi ra ở điều mình làm, thế là nhân” (Tận tâm, hạ) Hễ biết rõ nhân, rõ nghĩa, thì

cứ tùy thời, tùy cảnh ngộ mà hành động cho phép đạo chứ không phải cố nhân làm thế nào thì cứ thế mà làm như thế là được “ Quân tử diệc nhân dĩ hỹ, hà tất đồng: người quân tử chỉ có theo đạo nhân mà thôi, hà tất phải giống nhau” Theo Mạnh

Tử nếu đã biết rõ điều nhân hợp với đạo và lẽ phải thì tùy vào điều kiện, cảnh ngộ

và hoàn cảnh lúc đó mà hành xử cho hợp nhân, hợp đạo chứ không cần phải theo người xưa như thế là người biết dùng đức nhân Theo Mạnh Tử người có đức nhân

đi đến đâu cảm hóa đến đó, nghĩ gì thì cảm ứng rất thần diệu, đạo đức cùng với trời đất cũng vận chuyển lưu hành Cho nên các vua đời trước có lòng nhân đem ra mà ứng dụng mà thành nhân chính Đem lòng nhân đem mà thi hành nhân chính dễ như trở bàn tay [22, 166]

Đối với nhân cách con người Mạnh Tử cho tính thiện là bản nguyên của trời phú cho tức là thiên lý chí linh, chí diệu Ông cho rằng người có tính ấy, tất là có tâm ấy Tâm với tính là một Tâm là phần chủ tể trong người ta Hễ hiểu rõ cái tâm

Trang 29

thì ta biết rõ cái tính, biết rõ cái tính thì biết rõ trời đất và vạn vật Ông cho rằng

“Tận kỳ tâm giả, tri kỳ tính dã Tri kỳ tích tác tri thiên kỹ Tồn kỳ tâm, dưỡng kỳ tính, sở dĩ sự thiên dã Yểu thiên bất nhị, tu thân di sĩ chi, sở dĩ lập mệnh dã: biết hết cái tâm của mình là biết cái tính của mình vậy Biết cái tính của mình là biết trời vậy Giữ cho còn cái tâm của mình, nuôi cái tâm của mình là để thờ trời vậy Yểu thì không thay đổi, sửa mình mà đổi là để lập mệnh vậy Cái Tâm của Mạnh

Tử nói ở đây là cái lương tâm của người ta, có lương tâm thì mới biết điều nhân nghĩa, lẽ phải, lẽ trái Có lương tâm là có lương năng và lương tri, tức là biết cái giá, biết cái rất tự nhiên, rất mẫn tiệp “Nhân chi sở bất học nhi năng giả, kỳ lương

tri dã” [22 168] người không học mà giỏi là lương năng, không suy nghĩ mà biết là

lương tri Như đứa con ẵm bồng trên tay không đứa nào là không biết yêu cha mẹ

nó Đến lúc lớn lên không đứa nào không biết kính anh nó Thân yêu cha mẹ là nhân, kính trọng kẻ huynh trưởng là nghĩa Vậy nhân nghĩa là cái có sẵn trong lương tâm của người ta nhưng chỉ vì đắm đuối vào vật dục cho nên cái lương tâm mới mờ tối đi, thành thử ta bỏ mất nhân nghĩa Bởi vậy cho nên người quân tử lấy

sự giữ cái tâm hồn nhiên thuần hậu như cái tâm của đứa trẻ con làm quý Theo đó Mạnh Tử cho rằng đức Nhân của con người là cái sẵn có, trời phú cho con người nhưng do vật dục xui khiến và hoàn cảnh tác động, do người ta không biết giữ gìn, nuôi dưỡng cái phần cao đại, tôn quý trong tâm mình để cho cái thấp hèn nhỏ mọn trong con người lấn át che lấp Đó không phải tài chất, bản chất con người Vì vậy

để giữ cho cái tâm luôn trong sạch, đức nhân trong sáng thì phải “tồn tâm dưỡng tính” phải cần mẫn, siêng năng trong học tập, tu bổ cái đức nhân, đạo lý của mình, đừng để sa vào vòng lầm lạc bởi những ham muốn nhục dục “Nói không phải theo

lễ nghĩa, gọi là tự hại mình Thân ta không ở chỗ nhân, không theo điều nghĩa, gọi

là tự bỏ mình Nhân là cái nhà ta ở yên, nghĩa là con đường chính của ta đi Bỏ vắng cái nhà yên mà không ở, bỏ con đường chính mà không đi, thế có thâm không” (Ly lâu, thượng) Người ta làm điều nhân điều nghĩa cũng như người đi

Trang 30

trên rừng, có đi luôn mới thành được Người học giả cũng thế lúc nào cũng phải để chí mà làm điều nhân, điều nghĩa

Trong lĩnh vực chính trị - xã hội Mạnh Tử đã phát triển quan niệm về nhân của Khổng Tử thành học thuyết Nhân chính tức là chính trị nhân nghĩa Nếu Khổng Tử coi trọng “dân tín” coi đó là điều quan trọng nhất không thể bỏ qua được trong phép trị nước, thì Mạnh Tử nhận thức một cách sâu sắc rằng “Kiệt trụ mất thiên hạ tức mất ngôi thiên tử ấy vì mất lòng dân, hễ được lòng nhân sẽ được thiên hạ… hễ được lòng dân tự nhiên sữ được dân chúng” Ông nói: “Dân vi quý,

xã tắc thứ chi, quân vi khinh” [7, 263] Từ đó Mạnh Tử chủ trương thi hành một chế độ “Bác dân” Như vậy quan niệm Nhân của Mạnh Tử được mở rộng ra và làm một chuẩn mực quan trọng của người cầm quyền, nếu dùng đạo nhân thì sẽ được thiên hạ Và theo học thuyết nhân chính việc trị nước chăm dân của các bậc vương giả là vì nhân nghĩa chứ không phải vì lợi Khi Mạnh Tử sang nước Lương, Huệ Vương hỏi: “Ông có điều gì làm lợi cho nước Lương chăng?” Mạnh Tử đáp: “Vua

hà tất phải nói tới lợi, chỉ có nhân nghĩa mà thôi” Như vậy cái cốt yếu nhất trong đạo trị nước theo tư tưởng “Nhân chính” là lấy nhân nghĩa, xuất phát từ lòng chẳng

nỡ của các bậc vương giả làm cơ sở [22, 144]

Như vậy Mạnh Tử đã phát triển quan niệm của Khổng Tử thành học thuyết

“danh chính” Mạnh Tử cũng đã kế thừa và phát triển tư tưởng của khổng Tử về

“tính tương cận, tập tương viễn” và đi đến luận điểm nổi tiếng “Nhân tính chi thiện giả” Từ đó ông khẳng định sức mạnh vô địch của nhân nghĩa: “Đối với người Nhân dẫu kẻ địch có đông cũng chẳng làm gì được mình, nếu một vị quốc quân thích làm “Nhân chính” thì trong thiên hạ chẳng ai địch nổi” [22, 122] Không ai địch nỗi người nhân đức là ý niệm chính trị mà Mạnh Tử suốt đời theo đuổi Mạnh Tử khuyên con người sử dụng thái độ chân thành, lòng khoan dung độ lượng để đối xử: Đối với người hiểm ác thì nên sợ và tránh xa, đối với người hiền đức thì nên thân mà gần gũi, người đem điều ác đến thì ta nên lấy điều thiện để đáp

Trang 31

lại, người đem lừa dối đến thì ta lấy ngay thẳng để đáp lại Như vậy ai mà oán thù được mà chỉ có người tâm phục mà thôi Lấy oán báo oán, oán thù chập chùng, lấy đức báo oán, oán thù tiêu giải Người Nhân là người vô địch trong thiên hạ, bởi vì

“Điều Nhân thắng điều bất Nhân, cũng như nước thắng lửa” [22, 166]

Đối với nội dung Lễ Mạnh Tử là người đầu tiên đã gắn liền chữ nghĩa với

các đức tính khác của nền đạo đức Nho gia: Nhân nghĩa, Đạo nghĩa, Tín nghĩa… Ông chủ trương lấy nhân nghĩa làm nền tảng cho tất cả nền đạo đức Khi ghép Lễ nghĩa với nhau, Lễ không còn là những phương thế, hay quy tắc, chỉ là một tinh thần như thấy trong tư tưởng của Tuân Tử và Lễ ký sau này Lễ nghĩa của Mạnh

Tử mang tính chất như một cái thước đo lường, cái thước xuất phát từ nội tâm nhưng có thể đo được con người nhờ vào hình thức ở bên ngoài

Lễ chỉ là những hình thức, nghi thức Nhưng nếu nghi thức đó áp dụng sai, hay cho những người không xứng đáng thì một nghi lễ như vậy mất hết cả ý nghĩa của nó, và nó không thể phát huy được tinh thần của lễ là biến một con người thành một con người đạo đức Vậy nên Mạnh Tử mới buộc Lễ luôn đi với Nghĩa

1.2.3 Nhân và Lễ theo quan niệm của Tuân Tử

Cuối thời chiến quốc trong cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa duy tâm tôn giáo đã xuất hiện nhà triết học duy vật kiệt xuất Tuân Huống, còn được gọi là Tuân

Tử ông đã tiếp thu một cách có phê phán tư tưởng duy vật của nhiều môn phái triết học trước đây và phát triển chủ nghĩa duy vật cổ đại lên một trình độ cao hơn

Tuân Tử tên huống, tự là Khanh còn được gọi là Tuân Khanh hay Tôn Khanh, người nước Triệu

Tuân Tử là người theo học thuyết của Khổng Tử đề cao Nhân, Nghĩa, Lễ, Nhạc, chủ trương “chủ nghĩa chính danh” từ đó ông cũng đưa ra những quan niệm

về Nhân, Lễ có nội dung rộng lớn nhắm giáo hóa dân và đưa ra chuẩn mực đạo đức của con người với nhau Tuy nhiên quan niệm của Tuân Tử cũng có những điểm khác với Khổng Tử và Mạnh Tử

Trang 32

Đối với nội dung Nhân Khi quan niệm về bản tính con người Tuân Tử cho

rằng bản tính con là tính ác Sở dĩ ông cho rằng bản tính con người là tính ác vì tính theo ông chính là bản năng sinh lý của con người “Sinh ra mà có sẵn như thế gọi là tính Tính là do cái hòa khí hòa hợp mà sinh ra Tính linh hợp với ngoại vật, cảm ứng lẫn nhau, không làm mà tự nhiên gọi là tính Còn cái yêu, ghét, mừng giận, buồn, vui gọi là tình Theo bản năng sinh lý ấy thì con người ta sinh ra là lòng ham muốn” [21, 121] Nếu phục tùng tính ấy của con người thì tất sẽ xảy ra sự tranh giành, cướp đoạt làm hủy hoại lòng nhân nghĩa, đánh mất sự từ nhượng, không còn phân biệt thị phi Vì thế Tuân Tử khẳng định: “Bản tính con người ta ác, thiện là do người làm ra” [21, 198]

Dựa trên quan điểm đó Tuân Tử đã chứng minh tính hợp lý tất yếu của thể chế nhà nước và các khuôn phép lễ nghĩa của giai cấp quý tộc phong kiến đương thời “Tính ác ắt hưng thánh vương, quý lễ nghĩa Cho nên sinh ra cái khuôn uốn là

vì cái cây có cong queo, bày ra dây mực là vì có sự không thẳng, lập quan thượng sinh, lễ nghĩa là vì có người ác vậy” [21, 96] Như vậy khi quan niệm về bản tính con người là ác nhưng mặt khác ông lại cho rằng bản tính con người có thể cải hóa được thông qua giáo dục lễ nghĩa

Tuân Tử theo tông chỉ của Nho Giáo lấy Nhân nghĩa, Trí dũng, Trung hiếu

mà dạy người ta Song Khổng Tử thì chủ lấy chữ “Nhân” nói gồm cả cái trực giác mẫn nhuệ và lòng tự ái suốt đến vạn vật mà vẫn giữ trật tự phân minh Tuân Tử chỉ hiểu theo nghĩa hẹp Nhân là ái thôi, tức là cái nghĩa thông thường của chữ nhân

Ông nói ở Đại lược: “Nhân, ái dã …nghĩa lý dã” (Nhân là yêu vậy…nghĩa là lý

vậy); nói ở thiên Nghịch Binh: “Nhân dã ái Nhân, nghĩa dã luân lý” (Nhân là yêu người, nghĩa là theo người) [12, 295] Vậy chữ Nhân của Tuân Tử chỉ là một đức tính tốt nói về lòng yêu thương người mà thôi Tuân Tử thường đem chữ nghĩa mà đối với chữ lợi Ông cho nghĩa với lợi thì ai cũng muốn, nhưng người quân tử phải biết phân biệt cái khinh cái trọng cho nên hành sự bao giờ cũng hợp đạo lý Nhưng

Trang 33

nếu ai khiến lòng nghĩa hiếu thắng được lòng dục lợi thì thành ra hay, mà để lòng dục lợi đè được lòng hiếu nghĩa thì thành ra dở Cho nên ông nói: “nghĩa trước mà lợi sau là vinh, lợi trước mà nghĩa sau là nhục” [12, 195]

Như vậy nhân của Tuân Tử chỉ là lòng thương người thôi và ông cũng ít chú trọng đến nhân Nhưng ông cho rằng người nhân là phải biết chế ngự lòng ham của mình và phải nghĩ đến điều nghĩa trước như thế mới là nhân

Đối với nội dung Lễ Tuân Tử cho Lễ là bởi người quân tử đặt ra để điều lý

vạn sự và giữ mọi trị trong thiên hạ, cho nên nói rằng: “Thiên địa giả sinh chi thỉ

dã, quân tử giả lễ nghĩa chi thỉ dã” [12, 299] (Trời đất là cái đầu sự sinh, lễ nghĩa

là cái đầu sự trị, quân tử là cái đầu lễ nghĩa) Chữ Thỉ ở đây tức là gốc Người quân

tử đưa ra lễ nghĩa làm cho xã hội có trật tự, trên có vua có thầy, dưới có cha có con, lập thành cái gốc lớn của thiên hạ Nếu không có cái gốc ấy thì xã hội thành ra loạn

Theo Tuân Tử Lễ có ba cái gốc trời đất là cái góc sự sinh, tiên tổ là cái góc chủng loại, vua và thầy là cái gốc sự trị, không có trời đất thì ở đâu mà sinh, không

có tiên tổ thì ở đâu mà ra, không có vua thầy thì lấy đâu mà trị, ba điều ấy mà thiếu

đi một thì người không yên được Ba cái gốc ấy không thể thiếu được, nếu thiếu đi một gốc thì loạn Cho nên trên thờ trời, dưới thờ đất, tổ tiên, trọng vua và thầy, đó

Trang 34

Tuân Tử cho rằng Lễ là cái cốt yếu phân biệt ra trật tự và định giới hạn cho minh bạch, khiến việc hoạt động của nhân quân không rối loạn Tuân Tử cho rằng con người ai cũng có lòng ham muốn mà lòng ham muốn của con người là vô bờ bến nếu không có lễ thì để chia cái phận cho rõ ràng, tức phân định giới hạn của những ham muốn ấy thì dẫn đến sự tranh giành, chem giết lẫn nhau làm cho xã hội thành ra loạn Vậy nên trong chữ Lễ Tuân Tử đã lấy chữ Phận làm cốt

Tuân Tử còn tin rằng dùng Lễ có hiệu quả rất cao về việc xã hội và quốc gia, trọng lễ nghĩa, dùng lễ nghĩa để điều hành đất nước thì sẽ thịnh, không dùng lễ nghĩa hoặc dùng lễ nghĩa ít, đơn lẽ thì nước loạn Ông cho rằng Lễ có ảnh hưởng đến sự sinh hoạt của con người trong xã hội mà việc trị loạn đều bởi đó mà ra Người không có lễ thì coi như không tồn tại, làm việc mà không có lễ thì không thành được, một quốc gia mà không có lễ thì không yên ổn được

Cái học của Tuân Tử coi trọng Lễ ông cho là bất cứ việc gì hễ không có lễ là hỏng “Lễ là cái cùng cực của sự trị và sự biện biệt, cái gốc của sự làm cho nước mạnh, cái đạo của sự uy hành, cái cốt yếu của công danh” [12, 302] Bậc vương, bậc công theo đó mà được thiên hạ, không theo đó thì làm hỏng xã tắc Cho nên áo giáp bền, ngọn giáo nhọn không đủ để thắng trận thành cao hào sâu không đủ lấy làm bền vững, lệnh nghiêm hình nhiều không đủ lấy làm uy Dùng Lễ thì việc gì cũng thi hành được, không dùng lễ thì việc gì cũng bỏ cả Đối với Tuân Tử Lễ có thế lực rất mạnh mẽ cho nên nói “Lễ gia pháp chi đại phận, quần loại chi cương kỷ

dã Cố học chí hồ lễ nhi chỉ hỹ: Lễ là cái phận sự lớn của điển pháp, cái kỷ cương của quần loại cho nên phải học lễ mới thôi” [12, 303]

Như vậy trong quan niệm của Tuân Tử, ông ít đề cập tới nhân vì ông cho rằng bản tính con người vốn là ác, lòng ham muốn của con người là vô độ nên theo lòng ham muôn đó mà đánh mất đi lòng nhân nghĩa Nhưng theo Tuân Tử nếu biết chế ngự lòng ham muốn của mình thì có thể trở thành Người Nhân Và Nhân theo ông chỉ là lòng thương người mà thôi Còn Lễ theo quan niệm của Tuân Tử có nội

Trang 35

dung rộng lớn và có vai trò rất quan trọng, nó có sức mạnh to lớn trong việc trị nước an dân Nhân và Lễ có quan hệ với nhau, dùng Lễ để chế át cái tính ác của con người chi phối lòng ham, hướng con người đến lòng Nhân

Tiểu kết

Như vậy qua các giai đoạn phát triển, Nho giáo đã có những thời kỳ hưng thịnh cũng như không tránh khỏi những trầm luân Và học thuyết về Nhân, Lễ của Nho giáo cũng đã tồn tại xuyên suốt trong quá trình hình thành và phát triển của Nho giáo Để tồn tại được và có vị thế trong học thuyết tư tưởng của Nho giáo nó cũng có những mặt tích cực mà không ai có thể phủ nhận được và cũng không

tránh khỏi những hạn chế, tiêu cực

Những đóng góp tích cực mà học thuyết Nhân, Lễ đã để lại mà chúng ta không thể phủ nhận được đó chính là những tư tưởng về đạo làm người và quá

trình vận dụng vào quá trình giáo hóa con người của Nho giáo

Nhân nghĩa theo cách hiểu thông thường thì nhân là lòng thương người, nghĩa

là dạ thuỷ chung, mọi đức khác đều từ nhân mà ra cũng như muôn vật muôn loài trên trời, dưới đất đều do âm dương nhu cương mà ra Nhân cao hơn các đức khác,

có phần bao gồm cả các đức mục khác nhưng nhân cũng có những tiêu chí riêng Khổng Tử nói: “ai làm được điều này trong thiên hạ người đó có nhân: cung, khoan, tín, mẫn, huệ” [17, 76] Cung là khiêm tốn, biết tôn trọng người và tôn trọng công việc không tỏ ra coi thường người khác thành ra kiêu ngạo, thành ra không chu đáo Khoan là rộng rãi, không biết rộng, thu nhận của người đến kiệt Tín là nói sao làm vậy Mẫn là nhanh nhẹn không lề mề, ỷ lại, làm được năm điều

đó dân sẽ tin tưởng , dễ sai khiến, đó là đức mục của người cầm quyền trong quan

hệ với dân Nhân như vậy phải đòi hỏi xuất phát từ lòng thương người, từ sụ tôn trọng của con người mà làm việc có hiệu quả

Trang 36

Ngoài ra nhân còn bao gồm các đức là Lễ, Nghĩa, Trí, và Tín Lễ vừa là cách thức thờ cúng vừa là những quy định có tính luật pháp, vừa là những phong tục tập quán vừa là một kỉ luật tinh thần “tự khắc kỷ phục lễ” Suy cho cùng lễ chỉ là sự bổ sung cụ thể hoá cho chính danh nhằm thiết lập trật tự xã hội phong kiến Nghĩa là những việc nên làm nhằm duy trì đạo lí, như ta thường nói “hành hiệp trượng nghĩa” Trí là tri thức, phải có tri thức mới thành nhân được Vậy con người phải tu nhân để tề gia trị quốc và bình thiên hạ Tín là lời nói và việc làm phải thống nhất với nhau Có tín thì mới có tin Như vậy đức nhân trong nho giáo không chỉ là thương người mà thực chất là đạo làm người Nhân bao gồm nhiều tiêu chuẩn đạo đức nên một người có một số tiêu chuẩn khác mà không có nhân thì không gọi là người có đạo đức được

Nho gia chủ trương theo thuyết Lễ trị cho nên quan niệm về Lễ có vai trò quan trọng trong học thuyết, tư tưởng của Nho giáo Lễ hiểu theo nghĩa rộng là những nghi thức, quy chế, kỉ cương, trật tự, tôn ti của cuôc sống chung trong cộng xã hội

và cả lối cư xử hàng ngày Với nghĩa này lễ là cơ sở của xã hội có tổ chức bảo đảm cho phân định trên dưới rõ ràng, không bị xáo trộn, không đồng thời ngăn ngừa những hành vi và tình cảm cai nhân thái quá

Nhờ có Lễ con người mới có thể biết được như thế nào là hiếu với cha mẹ, là kính với người trên, là lễ từ với anh em bạn bè thân thích, là bạn hiền của bằng hữu, là nhân của người xung quanh , là tín với người thân thuộc

Lễ hiểu theo một đức trong ngũ thường thì là sự thực hành đúng những giáo huấn kỷ cương, nghi thức do Nho gia đề ra cho những quan hệ “ tam cương”, “ngũ thường”, thất giáo và cho cả sự thờ cúng thần linh, đã là người thì phải học lễ biết

lễ và có lễ Con người học lễ từ khi còn trẻ thơ Chính vì thế lễ là một nội dung cơ bản của đạo nho Lễ với những cách hiểu trên là cơ sở, là công cụ chính trị, là vũ khí của một phương pháp trị nước, trị dân lâu đời của nho giáo Đó chính là lễ trị

Ngày đăng: 12/05/2021, 12:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Ngọc Anh, Nhân trong luận ngữ của Khổng Tử, Tạp chí triết học số 11 năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân trong luận ngữ của Khổng Tử
2. Lê Thị Tuyết Ba, Vấn đề bảo vệ các giá trị đạo đức truyền thống trong nền kinh tế thị trường, tạp chí triết học số 2/1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề bảo vệ các giá trị đạo đức truyền thống trong nền kinh tế thị trường
3. Nguyễn Thi Kim Bình, Đường lối đức trị của Nho giáo từ Khổng Tử đến Mạnh Tử, tạp chí khoa học công nghệ - ĐHĐN số 4 năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường lối đức trị của Nho giáo từ Khổng Tử đến Mạnh Tử
4. TS. Nguyễn Thanh Bình, Học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo và ảnh hưởng của nó ở Việt Nam, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo và ảnh hưởng của nó ở Việt Nam
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia
5. Doãn Chính, Đại cương lịch sử triết học Phương Đông cổ đại, NXB ĐH và THCN, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử triết học Phương Đông cổ đại
Nhà XB: NXB ĐH và THCN
6. Huyền Cơ, Luận về chữ Nhân, NXB Trẻ, Tp Hồ Chí Minh, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận về chữ Nhân
Nhà XB: NXB Trẻ
7. Đoàn Trung Còn, Tứ Thư, NXB Thuận Hóa, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tứ Thư
Nhà XB: NXB Thuận Hóa
8. Phạm Khắc Chương, Giáo dục gia đình, Nxb giáo dục, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục gia đình
Nhà XB: Nxb giáo dục
9. Quang Đạm, Nho giáo xưa và nay, NXB Văn hóa – Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo xưa và nay
Nhà XB: NXB Văn hóa – Thông tin
10. Trần Văn Đoàn, Lễ Nghĩa trong đạo đức Khổng Mạnh, Tập san triết đạo số tháng 10 năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ Nghĩa trong đạo đức Khổng Mạnh
11. Vũ Ngọc Khanh, Văn hóa gia đình Việt Nam, Nhà xuất bản văn hóa dân tộc, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa gia đình Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản văn hóa dân tộc
12. Trần Trọng Kim, Nho giáo, NXB Văn hóa – Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo
Nhà XB: NXB Văn hóa – Thông tin
13. GS Lê Đình Hy, Suy nghĩ về cách dùng khẩu hiệu: “Tiên học lễ hậu học văn”, Tạp chí Giáo dục thời đại ngày 21/06/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ về cách dùng khẩu hiệu: “Tiên học lễ hậu học văn”
14. Viện Triết học, Nho giáo tại Việt Nam, NXB Khoa học và Xã hội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo tại Việt Nam
Nhà XB: NXB Khoa học và Xã hội
15. TS Nguyễn Thị Nga và TS Hồ Trọng Hoài Quan niệm Nho giáo về giáo dục con người NXB Chính trị quốc gia Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm Nho giáo về giáo dục con người
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia Hà Nội
16. Ths Phan Minh Nhật, Tư tưởng giáo dục của Khổng Tử và ảnh hưởng của nó đối với giáo dục con người ở nước ta hiện nay, Đà Nẵng, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng giáo dục của Khổng Tử và ảnh hưởng của nó đối với giáo dục con người ở nước ta hiện nay
17. Trần Nhu, Từ triết học hướng nội đến chủ nghĩa duy vật biện chứng, Nhà xuất bản trẻ, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ triết học hướng nội đến chủ nghĩa duy vật biện chứng
Nhà XB: Nhà xuất bản trẻ
18. Nguyễn Hiến Lê, Luận ngữ, Nhà xuất bản văn hóa, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận ngữ
Nhà XB: Nhà xuất bản văn hóa
19. Nguyễn Hiến Lê, Khổng Tử, Nxb văn hóa, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khổng Tử
Nhà XB: Nxb văn hóa
21. Nguyễn Hiến Lê, Tuân Tử, Nxb văn hóa, Hà Nội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuân Tử
Nhà XB: Nxb văn hóa

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w