Mục đích sáng kiến“Mục tiêu của các lớp chuyên Văn là trên cơ sở học vấn phổ thông, bồi dưỡng sâu thêm những năng lực về Ngữ văn, tạo cho học sinh có được những điều kiện thuận lợi để họ
Trang 1MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lí do chọn sáng kiến kinh nghiệm………1
2 Mục đích sáng kiến ……… 2
TỔNG QUAN SÁNG KIẾN 1 Thông tin khái quát về những vấn đề nghiên cứu……….2
2 Phạm vi đối tượng của sáng kiến kinh nghiệm……….2
3 Phương pháp nghiên cứu……… 3
4 Cấu trúc của sáng kiến kinh nghiệm……….3
PHẦN NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1 Khái niệm……… 3
2 Nội dung, tính chất của lí luận văn học……….3
2.1 Lí luận văn học là một bộ phận của nghiên cứu văn học……… 3
2.2 Nội dung của lí luận văn học……… 4
2.3 Tính chất của lí luận văn học……… 5
3 Lí luận văn học ở trường THPT………6
Chương 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN 1 Trang bị những kiến thức về một số vấn đề lí luận văn học……… 7
1.1 Dạy lí luận VH theo chuyên đề………7
1.2 Ôn tập hệ thống hóa kiến thức lí luận VH……… 8
2 Kĩ năng làm kiểu bài lí luận văn học………8
2.1 Xác định yêu cầu cần có……….8
Trang 22.2 Phương pháp làm bài………10
2.2.1 Phân tích đề……… 10
2.2.2 Giải quyết vấn đề……….11
2.3 Giới thiệu một số đề tham khảo……….17
Chương 3: VIẾT, CHẤM CHỮA BÀI VÀ GIỚI THIỆU BÀI VIẾT THAM KHẢO 3.1 Luyện viết bài……… 25
3.2 Chấm, chữa bài viết……… 27
3.3 Bài viết tham khảo………28
KẾT LUẬN………47
TÀI LIỆU THAM KHẢO……….49
Trang 31 ĐẶT VẤN ĐỀ
1 1 Lí do chọn sáng kiến kinh nghiệm
Bồi dưỡng học sinh giỏi văn là một công việc khó, bồi dưỡng học sinh giỏivới kiểu bài Lí luận Văn học lại càng khó khăn và gian nan hơn gấp bội phần Như
Nguyễn Du đã từng nói: “ đã mang lấy nghiệp vào thân” Chúng tôi và các đồng
chí đều có chung một nghề gian nan, một nghiệp đầy thử thách Dạy môn Ngữ văn
ở trường chuyên, cũng có nghĩa là thêm một trọng trách nữa là bồi dưỡng học sinhgiỏi và kiểu bài Lí luận văn học không thể thiếu trong bồi dưỡng đội tuyển Và nhưvậy, chúng ta không thể từ chối, không thể không trăn trở đi tìm con đường vànhững phương pháp, kỹ năng để dạy và bồi dưỡng với mong muốn đạt kết quả caonhất
Lý luận văn học là một bộ môn chính trong khoa nghiên cứu văn học Nắm chắc kiến thức Lí luận văn học chính là chìa khóa để chúng ta đi khámphá vẻ đẹp của văn chương nghệ thuật Với học sinh năng khiếu thì không thểkhông biết đến Lí luận Văn học Vì đây là môn cơ sở giúp các em phát triển năngkhiếu học văn của mình
Lý luận văn học đối với học sinh phổ thông là những kiến thức mới mẻ và rấtkhó, song vận dụng những kiến thức ấy để làm một bài văn còn khó khăn, nan giảihơn nhiều Nhưng công việc của người giáo viên dạy học sinh giỏi theo chúng tôi
là phải biết cách hướng dẫn học sinh có kỹ năng làm bài thuộc dạng này
Trang 41.2 Mục đích sáng kiến
“Mục tiêu của các lớp chuyên Văn là trên cơ sở học vấn phổ thông, bồi dưỡng sâu thêm những năng lực về Ngữ văn, tạo cho học sinh có được những điều kiện thuận lợi để học lên và làm việc một cách sáng tạo, có hiệu quả trong các lĩnh vực Khoa học xã hội và nhân văn” (Báo cáo trong Hội nghị tập huấn giáo viên dạy giỏi môn Văn THPT-HN 09/2002).
Từ việc xác định rõ mục tiêu của các lớp chuyên Văn, chúng tôi đã xây dựng chomình một hệ thống, quy mô đào tạo học sinh giỏi, nhất là kiểu bài Lí luận văn họcnhằm mục đích nâng cao thành tích trong các kì thi học sinh giỏi Văn
Riêng với học sinh giỏi đội tuyển Quốc gia, giáo viên chúng tôi lại chuẩn bị mộtchương trình tập huấn đặc biệt chặt chẽ Chúng tôi chia lượng kiến thức thànhnhiều phân môn nhỏ: phần lí luận văn học; phần văn học sử; phần văn bản, tácphẩm cụ thể; phần rèn luyện ngôn ngữ và kĩ năng làm văn… Nhưng trong đó,chúng tôi đặc biệt chú ý rèn luyện kỹ năng viết văn nghị luận với kiểu bài Lí luậnvăn học Vì đây là kiểu bài thường xuất hiện trong các kỳ thi học sinh giỏi
2 TỔNG QUAN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 Những vấn đề cần nghiên cứu
Kiến thức lí thuyết về Lí luận VH
Kỹ năng làm kiểu bài Lí luận VH
Viết văn và sửa lỗi
2.2 Phạm vi và đối tượng của sáng kiến kinh nghiệm
Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề này là học sinh chuyên văn THPT Học sinh năng khiếu các trường THPT trên toàn tỉnh
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu được sử dụng là thống kê, phân tích, tổnghợp, so sánh
Trang 5Phương pháp tổng kết kinh nghiệm GD
Phương pháp thực nghiệm cũng được áp dụng để xây dựng chuyên đề.Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu áp dụng thử nghiệm và kiểm tra kết quả ở lớp10,11,12 chuyên văn của nhà trường để đi đến kết luận và để ra những giải phápđược đề cập trong chuyên đề
2.4 Kết cấu của sáng kiến: Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo,
chuyên đề được chia làm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Cơ sở thực tiễn – Kĩ năng bồi dưỡng học sinh giỏi với kiểu bài
1.2 Nội dung, tính chất của lí luận văn học
1.2.1 Lí luận văn học là một bộ phận của nghiên cứu văn học
Lí luận khoa học về văn học lấy các hiện tượng văn học như tác phẩm, thể loại,nhà văn, quá trình sáng tác, sự tiếp nhận, quá trình pát triển của văn học,…làm đốitượng nghiên cứu Mục đích của lí luận văn học là rút ra các khái niệm, các quyluật có tính phổ biến về văn học nhằm trả lời câu hỏi văn học là gì, tác phẩm cócấu tạo như thế nào, thế nào là tác phẩm hay,… từ đó giúp Người đọc thưởng thức,nghiên cứu văn học là một cách tự giác Lí luận văn học nghiên cứu văn học nhưmột hoạt động sáng tạo tinh thần thẩm mỹ của con người, bao gồm các mặt hoạtđộng của các yếu tố, quan hệ tạo thành hoạt động đó Nó nghiên cứu các hiệntượng văn học cụ thể để rút ra các khái niệm phổ biến về bản chất, tính chất, quyluật của văn học Chính vì vậy, nội dung của lí luận văn học là khái niệm, phạm trùvăn học
1.2.2 Nội dung của lí luận văn học
Trang 6Lí luận văn học là lí luận khoa học về văn học, lấy văn học làm đối tượng nghiêncứu Lí luận văn học có nhiệm vụ khái quát về bản chất, đặc trưng, cấu tạo, quyluật tồn tại và phát triển của văn học, giúp con người hiêu được mọi hiện tượng vănhọc từ tác phẩm, tác giả, thể loại, trào lưu, phong cách,… Lí luận văn học có nhiệm
vụ cung cấp một hệ thống các khái niệm, phạm trù khoa học chặt chẽ với tư cách lànhững công cụ để người đọc và các nhà phê bình, các nhà văn học sử có thể vậndụng và nghiên cứu văn học một cách hữu hiệu
Đối tượng của lí luận văn học không phải là một vài tác phẩm, tác giả cụ thể, mà làtoàn bộ văn học như một lĩnh vực nghệ thuật, một hình thái ý thức xã hội Đó làmột đối tượng rộng, vừa thống nhất, vừa đa dạng, lại luôn đổi thay trong lịch sử,
do đó lí luận văn học không dễ trả lời câu hỏi “ Văn học là gì?” nếu không xem xétmột cách toàn diện
Lí luận văn học tất nhiên không thể không phân tích một số tác phẩm, tác giả cụthể, nhưng nó nghiên cứu các hiện tượng đó như là những ví dụ Nói cách khác,nghiên cứu tác phẩm, tác giả cụ thể, lí luận văn học không nghiên cứu như nhà phêbình văn học và lịch sử văn học nhằm đánh giá ý nghĩa, vị trí từng tác phẩm, tácgiả đó, mà là nhằm xem xét một trào lưu văn học, cuộc vận động của văn học Líluận văn học vận dụng phương pháp luận triết học, từ tầm cao lí luận mà trình bày
và phân tích tính chất, đặc điểm, quy luật của văn học, xây dựng nên các kháiniệm, phạm trù Phạm vi của lí luận văn học ngày nay bao gồm các bộ phận sau:Một là bản chất, đặc trưng của văn học, hai là cấu tạo của tác phẩm và thể loại, ba
là quá trình sáng tác, bốn là tiến trình phát triển văn học, năm là sự tiếp nhận củavăn học Năm bộ phận này bao quát hết các mặt quy luật của văn học Một bộ líluận văn học đầy đủ phải bao gồm ngần ấy bộ phận Mỗi bộ phận có những quyluật, phạm trù riêng Nhưng các bộ phận đều liên hệ mật thiết với nhau trong quátrình lịch sử Theo nhà lí luận Mỹ là M.H.Abrams thì có bốn yếu tố tạo thành đờisống văn học Đó là tác phẩm, nhà văn, thế giới, người đọc được sắp xếp theo môhình dưới đây:
Trang 7Nhà văn
Người đọc
1.2.3 Tính chất của lí luận văn học
Lý luận văn học là một bộ môn khoa học, là thành quả đúc kết, khái quát kinhnghiệm của văn học nhân loại Văn học càng phát triển phong phú thì khái niệm về
lí luận văn học càng sâu sắc Lí luận văn học là sản phẩm của lịch sử, nó khôngngừng phong phú thêm, và đổi thay cho sâu sắc hơn Là sự khái quát, đúc kết kinhnghiệm về văn học, lí luận văn học chịu sự chi phối của trình độ phát triển của vănhọc và trình độ nhận thức của con người Chẳng hạn Aristote khi bàn đến bản chấtcủa văn học chủ yếu chỉ nói đến bản chất “ bắt chước” của nó, còn bàn đến thể loạithì hầu như chưa nói gì đến thể loại trữ tình Ở phương Đông, lí luận Nho giáo nóiđến văn học chủ yếu đề cập đến chức năng giáo hóa và không đánh giá cao các tácphẩm hư cấu… do đó lí luận văn học hôm nay là sự tổng kết thành quả của mộtquá trình nhận thức lâu dài về văn học của nhân loại Nhưng lí luận văn học khôngphải là số cộng giản đơn các kiến thức về văn học Từ kinh nghiệm nâng lên lí luậnphải trải qua một quá trình kiểm nghiệm, sàng lọc, khái quát, hệ thống hóa Quátrình xây dựng lí luận văn học phải chịu sự chỉ đạo của một hệ thống thế giới khácquan và các phương pháp khoa học Bởi vì văn học là một hoạt động tinh thần củacon người thông qua hình thức thẩm mĩ, hình thức đánh giá nhằm chiếm lĩnh thếgiới, cho nên lí luận văn học không giản đơn là hệ thống kiến thức về văn học màcòn là hệ thống giá trị về văn học Lí luận văn học không chỉ giải thích văn học là
gì mà còn phải cho biết văn học thế nào là hay, là tiến bộ Lí luận văn học là bộmôn khoa học nhân văn, mang đậm bản chất nhân văn, nó nói lên mối quan hệkhăng khít giữa văn học và con người, thể hiện bản tính người của văn học Triếthọc Marx- Lenin là cơ sở khoa học vững chắc để xây dựng và phát triển lí luận vănhọc hiện đại Tất nhiên lí luận văn học mác- xít không hề gạt bỏ các thành quả líluận văn học phong phú thuộc các trào lưu tư tưởng khác, mà hấp thụ chúng, pháttriển chúng, làm cho lí luận văn học ngày càng sâu sắc và toàn diện Lí luận vănhọc mác- xít là một hệ thống mở
1.3 Lí luận văn học ở trường THPT
- Lí luận văn học là một bộ phận của phân môn Văn học, nhưng lại có tầm quan
trọng rất lớn đối với cả bộ môn và có quan hệ mật thiết với phân môn Văn học.Những kiến thức Lí luận văn học sẽ giúp giáo viên trang bị cho học sinh nhữngcông cụ và phương tiện cơ bản để từng bước hình thành năng lực văn
- Qua Lí luận văn học, học sinh có thể cảm thụ thẩm mỹ một cách có ý thức từ cácphương diện của tác phẩm văn học như: ngôn từ, hình ảnh, nhịp điệu,… Đó cũng
là con đường khắc phục có hiệu quả hội chứng “ xã hội học dung tục” trong dạy
học văn Lí luận văn học cũng giúp học sinh nâng cao năng lực tư duy Đó là khảnăng phát hiện vấn đề, đặt vấn đề trước một đối tượng, một hiện tượng nào đó của
Trang 8đời sống hiện thực hay đời sống văn học, khoa học Đặc biệt với học sinh giỏi Văn,kiến thức lí luận văn học là chìa khóa giúp học sinh chủ động hơn trong việc tiếpnhận văn học, thể hiện năng lực hiểu và lí giải các vấn đề thuộc về bản chất, quyluật của văn học.
Chương 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.1 Trang bị những kiến thức về một số vấn đề lí luận văn học
2.1.1 Dạy lí luận văn học theo chuyên đề
- Chuyên đề 1: Văn học – nhà văn và quá trình sáng tác
- Chuyên đề 2: Đọc hiểu văn bản văn học
- Chuyên đề 3: Thể loại văn học – thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch
- Chuyên đề 4: Tiếp nhận văn học
- Chuyên đề 5: Các mối quan hệ văn học
- Chuyên đề 6: Một số vấn đề về quá trình văn học ,…
Theo chúng tôi, đây là những chuyên đề cực kì quan trọng, vừa cung cấp
kiến thức lí luận văn học, vừa hệ thống hoá, khắc sâu kiến thức về tác giả, tácphẩm, vừa rèn kĩ năng… cho học sinh Bởi vậy, giáo viên không được chủ quan bỏbất kì một chuyên đề nào Hơn nữa, cần phải có sự bố trí, sắp xếp một cách hợp lí
vị trí của các chuyên đề này trong chương trình Theo chúng tôi, không nên dạytoàn bộ các chuyên đề của từng khối lớp vào đầu hoặc cuối năm học, mà nên dạyvào cuối mỗi phần, mỗi giai đoạn, thời kì văn học, mỗi tác gia … mà chuyên đề đó
có liên quan Có như vậy thì việc dạy các chuyên đề mới thực sự có tác dụng Nếudạy vào đầu năm học, học sinh chưa được đọc – hiểu các tác giả, tác phẩm cụ thể,chưa có cái nhìn toàn diện về văn học của từng thời kì, giai đoạn, trào lưu, thểloại… thì chẳng khác nào đánh đố học sinh, bắt học sinh phải công nhận Còn nếudạy vào cuối năm, sau khi đã học xong toàn bộ chương trình, thì chắc chắn tácdụng, hiệu quả cũng không cao Vì, giữa các chuyên đề (có tính tổng hợp, kháiquát) và phần kiến thức cụ thể về tác giả, tác phẩm … có liên quan là cả mộtkhoảng cách khá xa
Song, theo chúng tôi, ở từng chuyên đề, dù rất quan trọng, giáo viên cũng không nhất thiết phải tung ra một lượng kiến thức quá rộng, quá sâu, quá hàn lâm, mà nên cung cấp và chốt lại những đơn vị kiến thức thật cơ bản, để tránh cho học sinhcảm giác choáng ngợp, tâm lí nặng nề, hoangmang…
Trang 9Ngay trong Hướng dẫn nội dung dạy – học các môn chuyên trường THPT chuyên do Bộ ban hành từ năm học 2001-2002 cũng đã nêu rõ : Phần lí luận văn học mới chỉ yêu cầu học sinh nắm được những kiến thức sơ đẳng Ngoài ra, khi dạy những bài văn học sử hay giảng văn, giáo viên nên có ý thức cung cấp cho học sinh một số khái niệm, thuật ngữ lí luận văn học cơ bản, đặc biệt là khắc sâu thêm những kiến thức lí luận đã được học, biến lí luận trở thành một bộ phận hữu cơ của môn Văn học.
2.1.2 Ôn tập hệ thống hóa kiến thức Lí luận VH
Chúng tôi là yêu cầu học sinh đọc thật kĩ sách giáo khoa Khi tập huấn thi tỉnh,nhất là tập huấn thi Quốc gia, học sinh phải đọc đi, đọc lại, giáo viên giảng giải vàchốt lại những đơn vị kiến thức cơ bản nhất, then chốt nhất ở từng bài
(GV hệ thống theo sơ đồ tư duy để học sinh dễ theo dõi)
2.2 Kĩ năng làm kiểu bài lí luận văn học
2.2.1 Hướng dẫn học sinh kỹ năng viết bài thuộc dạng lý luận văn học
2.2.1.1 Xác định yêu cầu cần có
1 Học sinh phải có vốn nhất định về tác phẩm, tác giả , về lí luận văn học…Những kiến thức lí luận cần trang bị cho học sinh là: đặc trưng, chức năng, thểloại, nhà văn và quá trình sáng tạo, phong cách nghệ thuật, tiếp nhận văn học…
2 Học sinh phải có khả năng suy nghĩ trừu tượng, khái quát để hiểu được luậnđiểm khoa học được đề cập đến trong bài, bởi các vấn đề lí luận thường được nhàvăn, nhà nghiên cứu nói một cách hình ảnh, thậm chí là rất trừu tượng và khôngthật dễ hiểu với học sinh
Ví dụ:
- Câu nói của Biêlixki “Như một hạt giống vô hình, tư tưởng gieo vào tâm hồn nghệ sĩ và từ mảnh đất màu mỡ ấy, nó triển khai và phát triển thành một hình thức xác định, thành các hình tượng tràn đầy vẻ đẹp và sức sống, cuối cùng nó là một thế giới hoàn toàn đặc thù, nhất quán” (Sự hình thành tác phẩm văn học).
- Câu nói của Ngô Thì Nhậm “Thơ không phải là toà lâu đài mà là cái bóng của toàn lâu đài dưới nước” (Cái đẹp độc đáo của thơ, cách phản ánh hiện thực của
thơ)
- Chế Lan Viên:
“Có nên chăng
Ta nói mãi cái hồn nhiên, cái truyền thống, cái nghìn năm
Để nỗi bó tay chả làm gì được nữa”
Lần khác ông lại viết:
“Cuộc đời đẻ ra nhiều hình thức
Trang 10D ù là ngọc thì cũng nhiều viên ngọc
Cứ đâu phải cứ xanh xanh vĩnh viễn một màu trời”
(Tiếp thu tinh hoa của văn học truyền thống và sự sáng tạo không ngừng, văn họcluôn đòi hỏi sự đa dạng)
3 Có khả năng trình bày lại và vận dụng các kiến thức lí luận văn học để giải quyếtcác vấn đề đặt ra
4 Có kĩ năng viết, trình bày các luận điểm rõ ràng và vận dụng các kiến thức vềtác giả, tác phẩm để làm rõ luận điểm chính
- Tiếp đó phải biết đẩy từ ngữ, hình ảnh đó lên tầm khái quát Ví dụ Về thơ, Xuân
Diệu cho rằng “Thơ hay là hay cả hồn lẫn xác”, Tố Hữu lại quan niệm “Thơ hay là không thấy câu thơ chỉ thấy tình người” Suy nghĩ của em?
+ Câu của Xuân Diệu: Những từ ngữ và hình ảnh cần tập trung: hồn, xác, câu thơ, tình người; hình ảnh hay cả hồn lẫn xác, không thấy câu thơ chỉ thấy tình người Hồn: cái bên trong, còn phong kín (cảm xúc, ý tưởng nhà thơ gửi gắm- nội dung
của thơ), hồn được thể hiện qua xác
Xác: là cái diện mạo bên ngoài của thơ (ngôn ngữ, nhịp điệu, hình ảnh…- hình
Tố Hữu một bài thơ, câu thơ được coi là hay khi người đọc không thấy dụng côngnghệ thuật của tác giả chỉ còn lại tình người, cảm xúc tác động đến trái tim ngườiđọc Tố Hữu đề cao nội dung nhưng không tách khỏi nghệ thuật
+ Nâng cao: Quan niệm của hai ông không chỉ đúng với thơ mà với mọi tác phẩm
nghệ thuật nói chung Một tác phẩm là hay phải là “một phát minh về hình thức và một khám phá về nội dung”
Như vậy, phạm trù đưa ra để lí giải cho quan niệm này là: Mối quan hệ giữa nộidung và hình thức trong tác phẩm văn học
Ví dụ 2: Trong tác phẩm Việt Hán văn khảo, Phan Kế Bính viết “Ngồi trong xó nhà mà lịch lãm suốt các nơi danh lam thắng cảnh của thiên hạ, xem trêm mảnh
Trang 11giấy mà tinh tường được hết các việc hay dơ của thế gian; sinh ra sau mấy nghìn năm mà tựa hồ như đối diện và nghe được tiếng bàn bạc của người sinh về trước mấy nghìn năm, cũng là nhờ có văn chương cả”
+ Các từ cần lưu ý: xó nhà, lịch lãm, danh thắng, thiên hạ, xem mảnh giấy, tinh tường, đối diện và được nghe…
+ Bản chất của câu nói: vai trò, tác dụng to lớn của văn chương đối với con ngườiPhạm trù lí luận cần có: chức năng của văn học (nhận thức), đặc trưng văn học(ngôn ngữ phi vật thể)
(2) Xây dựng giải quyết vấn đề
Theo tôi, với bất kì đề ra thuộc kiểu bài lí luận văn học, người làm đều phải sửdụng các thao tác: giải thích, chứng minh, bình luận Giải thích để hiểu được thựcchất nội dung vấn đề ở đây là gì? Chứng minh là làm rõ hơn cho vấn đề cả về mặt
lí luạn văn học và thực tế văn học Bình luận là nhìn vấn đề đó dưới nhiều góc độkhác nhau để bàn luận sự đúng, sai, để tìm hiểu ý nghĩa của quan điểm lí luận vănhọc đó với đời sống văn học, với người cẩm bút và họ phải làm gì để trở thành một nhà văn có chỗ đứng trong lòng độc giả
a Giải thích
- Giải thích khái niệm: từ ngữ, hình ảnh của nhận định (nghĩa đen, nghĩa chuyểnđặc biệt là nghĩa hàm ẩn được thể hiện trong cái vỏ bọc từ ngữ, hình ảnh, các nóitrừu tượng của nhà văn
- Giải thích ý nghĩa: xem bản chất của câu nói ấy là gì? (Xem phần hướng dẫnphân tích đề)
- Mở rộng tới các câu nói tương tự của các tác giả khác…
b Đề xuất nhận định, đánh giá, mở rộng
- Tất nhiên các vẫn đề lí luận đưa cho học sinh làm bài thường là đúng, học sinh ítkhi phải nghĩ ra một cái gì thật mới mẻ mà thường là khẳng định vấn đề đúng vàđúng đến đâu, và dựa vào sự hiểu biết về lí luận văn học mà giải thích rõ rồi dùngthực tế văn học mà mình đã học, đã biết để chứng minh cho sự đúng đắn của nhậnđịnh
- Ví dụ ở đề văn trên (Ví dụ 1)
+ Cách hiểu của hai nhà thơ tưởng như mâu thuẫn nhưng thực ra lại hoàn toànthống nhất bởi hai ông đều có nét tương đồng trong quan niệm thơ hay: Thơ là mộtchỉnh thể nghệ thuật được kết hợp bởi hai yếu tố: nội dung và hình thức nghệ thuật
Vì vậy, thơ hay phải đạt đến sự hài hoà đến mức như là máu thịt, như là thể xác vàlinh hồn
+ Đây là một quan niệm đúng đắn Quan niệm này có cơ sở cả về mặt lí luận vàthực tế văn học:
Cơ sở triết học: cặp phạm trù nội dung và hình thức của mọi hiện tượng trong đời
sống
Trang 12Cơ sở lí luận văn học: nội dung và hình thức trong tác phẩm văn học Tác phẩm
văn học là một hiện tượng xã hội nên những tác phẩm có giá trị, nội dung và hìnhthức phải luôn thống nhất chặt chẽ Sự thống nhất giữa nội dung và hình thức tạonên sức mạnh tư tưởng, nghệ thuật của chỉnh thể tác phẩm văn học
Thực tế văn học cho thấy: nếu chỉ coi trọng nội dung thì thơ chỉ có nội dung tư
tưởng cao, chỉ đứng được một thời (Những bài thơ của phong trào Xô Viết Nghệ
Tĩnh: Bài ca cách mạng,…) Ngược lại, nếu chỉ quan tâm tạo dựng cho một cái
xác đẹp đẽ với những sáo ngữ ồn ào, mà không chú ý đến phần hồn thì câu thơ chỉlàm cho người đọc sướng tai, vui mắt trong một khoảnh khắc nhất định, không lưulại trong lòng một cái gì, đọc câu thơ như ngắm một bông hoa có sắc mà không cóhương Nhiều bài thơ hay để đời là những bài thơ hay cả hồn lẫn xác không thấy
câu thơ, chỉ thấy tình người: Hoàng hạc lâu, Tôi yêu em, Đây thôn Vĩ Dạ…
c Ý nghĩa tác dụng và mở rộng vấn đề
- Đóng góp vào kho tàng lí luận phong phú của văn chương
- Bài học cho người cầm bút và người tiếp nhận
( ? ý nghĩa của hai câu nói là gì ? )
- Lê Quý Đôn (1726-1874) và Ngô Thì Nhậm (? – 1803) đều là những nhân sĩ Bắc
Hà học rộng tài cao có nhiều đóng góp sắc sảo về thơ
- Lê Quý Đôn cho rằng: Thơ phát khởi từ trong lòng người ta “Lòng” là thế giới
nội tâm, là tâm hồn, tình cảm, cảm xúc của người làm thơ, khởi phát là từ xuấtphát, là khởi đầu Theo Lê Quý Đôn thì thơ được ra đời, nảy mầm từ tâm hồn, tìnhcảm của con người Tình cảm, tâm hồn là cái gốc của thơ
- Ngô Thì Nhậm: Hãy xúc động hồn thơ cho ngòi bút có thần Xúc động hồn thơ là
cảm xúc, tình cảm của người làm thơ đạt đến độ rung động cao, ngọn bút có thần làngọn bút tài hoa, tinh tế Ngô Thì Nhậm muốn nói: sự rung động mãnh liệt củangười nghệ sĩ là tác nhân quan trọng cho bút lực họ sung mãn, thể hiện được cáithần, cái hồn của đối tượng trữ tình, khiến quỷ thần phải sợ
- Cả hai câu nói có tính chất bổ sung cho nhau nhằm khẳng định vai trò tình cảm trongsáng tác thơ: tình cảm là nơi bắt đầu của thơ và rung động mãn liệt là khởi điểm của sựsáng tạo nghệ thuật, là phút xuất thần của ngọn bút thi nhân
2 Phát biểu suy nghĩ về vai trò tình cảm trong thơ
Trang 13- Tình cảm, cảm xúc là đặc trưng cơ bản của thơ Thơ không phải văn xuôi, thơthuộc phạm trù trữ tình, thơ lấy điểm tựa ở sự bộc lộ thế giới nội cảm của nhà thơ
trước cuộc đời “Ta nói trời xanh hôm nay nên thơ nhưng chính ra lòng chúng ta mang nỗi niềm vui buồn mà muốn làm thơ hoặc đọc thơ về trời xanh Mưa phùn buổi chiều gợi những câu thơ nào nhớ nhung, nhưng chính nỗi nhớ nhung ấy gặp trời mưa mà muốn thì thầm những câu thơ chưa thành hình rõ” (Nguyễn Đình Thi) Bạch Cư Dị cũng đã cho rằng: đối với thơ, tình là gốc, lời là cành, thanh là hoa, nghĩa là quả” Không có tình, thơ như cây không gốc, thơ không thể là thơ vì
lời, thanh nghĩa của thơ không thể nảy mầm Tình là nơi nuôi dưỡng thơ mãi mãixanh tươi như cây đời
- Tình cảm trong thơ không thể là tình cảm giả tạo gượng gạo, hời hợt, mờ nhạt.Tình cảm nhạt nhoà, giả dối chỉ tạo nên những con chữ vô hồn, sự gào rú hỗn độncủa âm thanh và sự rỗng tuếch của nghĩa lí; Tình cảm trong thơ phải chân thành tự
nhiên: “Thơ là tiếng nói hồn nhiên nhất của tình cảm con người” (Tố Hữu), phải
mãnh liệt và sâu sắc Nhà thơ phải yêu, ghét, vui buồn đến tận độ, phải mang nghìn
trái tim trong một trái tim “Thơ muốn làm người ta khóc trước tiên mình phải khóc, muốn làm người ta cười trước tiên mình phải cười” (Chế Lan Viên) Có lẽ vậy mà Platôn gọi thơ là Thần hứng, Đecgavin lại cho thơ là ngọn lửa thần.
- Nhà thơ làm thơ là để giãi bày lòng mình với mọi người, để tìm sự đồng cảm
“Thơ là chuyện đồng điệu Nó là tiếng nói của người nào đó đối với người nào đó
có sự cảm thông chung dựa trên cơ sở đồng ý, đồng tình, đồng chí” (Tố Hữu) Thơ
dựa trên cơ sở tri âm; Thơ đi từ trái tim đến với trái tim Vì vậy tình cảm trong thơkhông thể là tình cảm chung của cá nhân nhà thơ là tình cảm có tính chất xã hội
Từ nhịp đập của trái tim mình, nhà thơ phải vẽ lên nhịp đập của trái tim quầnchúng
- Có cảm xúc, tình cảm chưa đủ để có thơ, nghĩ ra thơ là tâm hồn làm ra thơ là tay Dovậy người nghệ sĩ phải có tay nghề thơ, có khả năng biến cảm xúc ý tưởng thành lời,nghĩa là phải có tài làm thơ Tài dù khéo đến đâu mà không có tình nuôi dưỡng thì nhàthơ chỉ tạo được những xác con chữ nằm bất động trên trang giấy Thi hào Gơt nổi
tiếng thế giới đã từng khuyên các nhà văn trẻ “Hãy đập vào tin anh thiên tài là ở đó” Chỉ khi nào con tim thi nhân “rẩy tựa dây đần” thì ngòi bút họ mới thăng hoa, xuất thần đến không ngờ, thơ sẽ như lửa gặp gió sẽ bốc cao Người đọc lúc ấy “không thấy câu thơ chỉ thấy tình người” (Tố Hữu) và câu thơ sẽ neo trụ mãi trong họ.
Thực tế văn học cho ta thấy rõ điều đó Thi thánh Đỗ Phủ đời nhà đường chưng cất
từ nỗi đau rỉ máu của mình – của một ông quan do chiến tranh phong kiến bị đẩytới chân trời tây nam của huyện Quỳ Châu xa xôi, nếm cuộc sống bần cùng củamuôn dân - để tạo nên những vần thơ khắc khoải nỗi nhớ quê ám ảnh người đọcbao thế kỷ:
“Nước mắt tuôn theo dòng lệ cũ Con thuyền buộc chặt mối tình nhà”
Bạch Cư Dị với “Lệ ai chan chứa hơn người” trước thân phận bọt bèo của một tài
nữ đánh đần trên bến Tầm Dương mà có một Tỳ bà hành lưu trước nhân gian bạn
Trang 14cùng trăng sáng; Nguyễn Du tạo nên tuyệt tác truyện Kiều- và hình tượng Vương
Thuý Kiều bất hủ bởi tấm lòng Đau đớn thay phận đàn bà đến tê buốt của ông.
Hoàng Cầm viết Bên kia sông Đuống, một tác phẩm để đời của ông chỉ trong có
một đêm bởi cảm xúc thơ xuất thần từ “tâm tư chồng chất nhớ thương với cảnh với người quê hương bị giặc tàn phá giết hại”.
3 Ý nghĩa tác dụng và mở rộng vấn đề
- Những ý kiến về vai trò tình cảm trong thơ của Lê Quý Đôn và Ngô Thì Nhậm đãđóng góp vào kho tàng lí luận phong phú của thơ ca và là định hướng, lời khuyênrất quý giá với người cầm bút
- Người cầm bút muốn có những đứa con tinh thần khoẻ mạnh có sức sống dẻo daitrong lòng người đọc và vượt qua được sự băng hoại của thời gian thì cần phải nuôidưỡng cảm xúc, tâm hồn, tình cảm mình ngày một phong phú và tinh tế, phải tạocho mình một phong cách riêng độc đáo Muốn vậy phải sống hết mình với cuộc
đời, phải tu tâm và dưỡng tài “Phải chịu đau đớn thì vẫn đốt cháy mình và đốt cháy những người khác” (Lep xtôn).
- Người tiếp nhận văn học cũng phải có một tâm hồn rộng mở, giàu tình cảm, cảmxúc,
Nói tóm lại: Trong các tiết làm văn, học sinh bước đầu đã có những hiểu biết nhấtđịnh về kiểu bài nghị luận để xác định được nghị luận nghĩa là phải bàn bạc, đánhgiá, nhận xét, đưa ra ý kiến riêng của mình trên cơ sở giải thich, cắt nghĩa, lí giải,bỡnh luận những vấn đề chung
Để giải quyết vấn đề, cần lưu ý học sinh cách xem xét nó từ nhiều góc độ Cáchđơn giản nhất là tập đặt ra và trả lời những câu hỏi Sau đây là một số dạng câu hỏichính:
- Nó là gì?
- Nó như thế nào?
- Vì sao nó lại như thế?
- Như thế thì có ý nghĩa gì với cuộc sống, với con người?
Từ việc đặt ra và trả lời các câu hỏi, có thể hình dung một bài văn nghị luận vănhọc về kiểu bài Lí luận văn học cần được triển khai theo ba bước cơ bản sau:
1 Giải thích, cắt nghĩa
2 Bình luận, lý giải, chứng minh
3 Đánh giá, mở rộng
Trang 152.2.1.3 Giới thiệu một số đề luyện tập
Đề 1: "Nghệ thuật phải khơi gợi được niềm vui sống, lòng yêu đời Nhưng cũng rất
đúng nếu nói rằng: nghệ thuật bắt con người phải ngẫm nghĩ và xúc động, khơi gợi lên ở con người lòng trắc ẩn, sự phản kháng chống lại cái ác, phải gợi lên cho con người cái cớ để buồn, để thương, để khát khao khôi phục, bảo vệ những cái tốt đẹp trong cuộc sống đang bị chà đạp, lăng nhục" (T Aimatop).
Anh (chị) hãy bình luận quan niệm trên
1 "Nghệ thuật phải khơi gợi niềm vui sống, lòng yêu đời":
- Là gì: nhiệm vụ, sứ mạng của văn học là giúp cho con người hiểu được ý nghĩa,giá trị của cuộc sống Chỉ khi con người hiểu ra ý nghĩa, giá trị của cuộc sống mớithấy cuộc sống là đáng sống Chỉ khi con người nhận ra những điều tốt đẹp trongcuộc đời con người mới có thể yêu đời
- Vì sao: vì văn học là một hoạt động tinh thần của con người, nó xuất phát từnhững nhu cầu tinh thần của con người trong cuộc sống, cũng có nghĩa là nó hướngtới giải quyết những nhu cầu ấy Bản chất con người là luôn có khát vọng hướngtới những cái hoàn thiện, tới cuộc sống đích thực của con người (căn tính thiện vốn
có trong con người) Văn chương chân chính đương nhiên phải hướng vào khátvọng đó
+ Lý tưởng hóa những vẻ đẹp, những giá trị của đời sống
+Ý nghĩa: tạo nên giá trị nhân đạo, nhân văn, có tác dụng to lớn trong việc bồi đắptâm hồn con người
2 "Nghệ thuật bắt con người phải ngẫm nghĩ và xúc động đang bị chà đạp, lăngnhục":
Trang 16- Là gì: nhiệm vụ của văn học không chỉ là giúp con người biết đến những điều tốtđẹp, bởi nếu chỉ có thế văn học sẽ trở nên giản đơn trong sự đơn giản hóa conngười và cuộc sống Văn học cần giúp con người hiểu biết sâu sắc về cuộc sống:tốt - xấu, đúng - sai, thật - giả, thiện - ác để có thể nhìn thấy và nhìn thấu, đểkhông chỉ biết phân biệt mà còn biết lựa chọn, không chỉ đi theo mà còn biết hànhđộng.
- Vì sao: vì sứ mạng rất quan trọng của văn học là giúp con người hiểu biết Biếtmới chỉ là nấc đơn giản nhất của kiến thức, hiểu mới là cái đích cần vươn tới củacon người để có thể sống với đúng nghĩa của từ này Sứ mạng rất quan trọng
- Bằng cách nào:
+ Tạo ra những cuộc đối thoại của lương tri Xây dựng những tấm gương để conngười tự soi mình, tự đối chiếu và phán xét người khác cũng như chính bản thânmình
+ Cụ thể: phóng to cái tốt để nó trở nên lộng lẫy, cường điệu cái xấu để nó trở nênđáng ghê tởm, không chỉ phát hiện và lý giải những hiện tượng đời sống mà cònđặt ra những câu hỏi để gợi mở những băn khoăn và kích thích ý thức tìm kiếm câutrả lời cho những câu hỏi ấy
+ Ý nghĩa: giúp con người hiểu biết đầy đủ hơn để sống tốt hơn, nhân ái hơn, đẹphơn lên
3 Bình luận:
- Tác giả của nhận định đã chỉ ra thiên chức thiêng liêng và con đường để vănchương chân chính thực hiện thiên chức ấy:
+ Thiên chức: nhân đạo hóa con người
+ Con đường: tác động vào nhận thức, song quan trọng hơn là tác động vào tìnhcảm bởi tình cảm là mục đích và cũng là con đường riêng của văn chương
- Từ nhận định này, người đọc có cơ sở để đánh giá và thưởng thức văn chươngchân chính, nhà văn thấy được cái đích cần hướng tới để tạo nên những giá trị vănchương
Đề 2: Nhà văn L Tônxtôi đã viết: "Chỉ có những tác phẩm nghệ thuật nào truyền
đạt được cho mọi người những tình cảm mới mà họ chưa từng được thể nghiệm thì mới là tác phẩm nghệ thuật đích thực"
Anh/chị hiểu thế nào về ý kiến trên? Hãy chứng minh rằng "Vội vàng" của XD là
một tác phẩm nghệ thuật đích thực
Trang 17Gợi ý:
1 Nội dung ý kiến:
- Tình cảm: là sự rung động trong lòng trước một đối tượng nào đó
Văn học thuộc lĩnh vực tinh thần tình cảm - tác động bằng tình cảm và tác độngđến tình cảm Văn học còn là lĩnh vực của sự sáng tạo Do đó, việc tác động, khơidậy những tình cảm mới ở người đọc để bồi đắp và làm phong phú thêm cho đờisống tinh thần tâm hồn của con người là điều cần thiết
- Chưa từng được thể nghiệm: là điều hoàn toàn mới mẻ - sản phẩm của sự khámphá, sáng tạo ở nghệ sĩ
Văn chương rất cần đến cái mới, cái đẹp của hình thức song điều cốt yếu cuối cùnglàm nên sức rung động mãnh liệt của văn chương chính là cái lõi tình cảm của nó.Cái mới của tình cảm ở đây không nhất thiết là những tình cảm mới mà là nhữngkhía cạnh mới, chiều sâu mới của tình cảm hoặc những tình cảm mới hơn, khác điđối với những đối tượng quen thuộc
- Tác phẩm nghệ thuật đích thực: tác phẩm nghệ thuật hoàn thành được sứ mạnhcủa văn chương chân chính, có giá trị thực sự đối với cu ộc sống của con người.Một tác phẩm nghệ thuật đích thực phải truyền đạt cho người đọc những tư tưởngmới, tình cảm mới, cách nhìn mới về cuộc đời và con người; cảm nhận mới vềnhân sinh, về lẽ yêu - ghét; bồi dưỡng tình cảm, nâng cao sự hiểu biết và cũngnâng cao phẩm chất người của con người; phải truyền đạt một cách có nghệ thuật
để gợi hứng thú mới mẻ cho người đọc
2 Phân tích bài thơ "Vội vàng":
- Bài thơ đã được khẳng định và thử thách qua thời gian, đáp ứng đầy đủ nhữngtiêu chuẩn theo quan niệm của Tônxtôi
- XD đã nêu ra một quan niệm về cuộc sống trần thế - hấp dẫn vô cùng, vô tậntrong khi đời người ngắn ngủi, con người không thể thờ ơ, lãng phí thời gian Sống
là niềm vui vô tận nên phải tận hưởng nó Thể hiện điều này, cảm xúc của nhà thơ
đã đi đến giới hạn tận cùng của khao khát, ham muốn
- Bút pháp lãng mạn với giọng thơ sôi nổi, lời thơ táo bạo, tinh tế, một nghệ thuậtthơ với nhiều cách tân mạnh mẽ tạo ra những câu thơ rất trẻ, rất sống, rất đẹp.Nhiều từ ngữ có tính hình tượng cao, có khả năng biểu đạt cảm giác mạnh mẽ,nhiều điệp từ được sử dụng tài tình để diễn tả mọi cung bậc của cảm xúc
-> Đọc "Vội vàng" thấy cái tươi trẻ của một hồn thơ, đồng thời cũng thấy yêuhơn sự sống, yêu hơn tuổi trẻ của con người "Vội vàng" khơi dậy cái khát vọng
Trang 18sống khiến nó rộn rực, trào dâng trong mỗi người để tâm hồn con người đượcthanh xuân và tươi trẻ.
Đề bài: Phong cách đối với nhà văn cũng như sắc màu với người họa sĩ, không
phải là vấn đề kĩ thuật mà là cách nhìn (Marcel Proust)
Suy nghĩ của Anh/ Chị về ý kiến trên?
1 Giải thích:
- Phong cách: Là nét riêng, nét độc đáo có sự thống nhất và vận động trong quá
trình sáng tác của nhà văn Biểu hiện tài nghệ của người nghệ sĩ ngôn từ trong việcđem đén cho người đọc 1 cái nhìn mới mẻ chưa từng có về cuộc sống, con người,thông qua hình tượng nghệ thuật độc đáo và những phương thức, phương tiện thểhiện đặc thù in đậm dấu ấn cá nhân của chủ thể sáng tạo Phong cách khi đã địnhhình thường có tính bền vững
- Phong cách đối với nhà văn cũng giống như sắc màu đối với người họa sĩ: Marcel Proust đã so sánh nét riêng nét đọc đáo của nhà văn với người họa sĩ –
những người nghệ sĩ trên con đường sáng tạo nghệ thuật
- Không phải là vấn đề kỹ thuật mà là cách nhìn: phong cách tác giả không đơn
thuần là một vấn đề kỹ thuật hay chỉ là lớp vỏ ngoài trang trí cho tác phẩm vănchương mà nó là cách nhìn rất riêng của mỗi người về thế giới, phân biệt với cáchnhìn của những người khác
=> Như vậy, ý kiến của Marcel Proust đã khẳng định vai trò của cách nhìn trongviệc hình thành, duy trì và phát triển nét riêng nét độc đáo trong quá trình sáng táccủa người nghệ sĩ dù hoạt động ở bất kì lĩnh vực nghệ thuật nào, trong đó có vănhọc
2 Bình luận
* Khẳng định: Ý kiến hoàn toàn chính xác
* Lý giải
- Bản chất của lao động nghệ thuật là sáng tạo Nghệ thuật rất tối kỵ sự trừng lặp,
“lúc 1 người không có cái gì là riêng của mình thì phải thấy ở người đó chẳng có gìhết” Bất cứ lĩnh vực lao động nào cũng ccần tính sáng tạo nhưng sự sáng tạo tronglao động nghệ thuật mang bản sắc riêng và trở thành 1 thuộc tính Bởi lẽ sản phẩmcủa lao động là tác phẩm nghệ thuật, nó đáp ứng nhu cầu thưởng thức và nhu cầuthẩm mĩ cho con người, nó là đối tượng thẩm mĩ tác động trực tiếp vào đời sống tưtưởng của con người Vì vậy tác phẩm nghệ thuật sẽ chết nếu nó là bản sao của