1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

chuyên đề môn lịch sử tìm hiểu về các cuộc cải cách trong lịch sử việt nam

143 127 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuyên đề môn lịch sử tìm hiểu về các cuộc cải cách trong lịch sử việt nam
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Chuyên đề
Định dạng
Số trang 143
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 2. Cuộc cải cách của Hồ Quý Ly (9)
  • 3. Cuộc cải cách của Lê Thánh Tông (19)
  • 4. Cuộc cải cách của Quang Trung (33)
  • 5. Cuộc cải cách hành chính của Minh Mệnh (39)
  • 6. Cuộc cải cách duy tân cuối thế khỷ XIX (44)
  • 7. Phong trào cải cách duy tân đầu thế kỷ XX (0)
  • 8. Công cuộc đổi mới (56)
  • PHẦN II. MỘT SỐ PHƯƠNG TIỆN PHƯƠNG PHÁP, KĨ THUẬT DẠY HỌC CHUYÊN ĐỀ (67)
    • 1. Một số phương tiện dạy học (67)
      • 1.1. Infographic (67)
      • 1.2. Video (69)
    • 2. Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học hiện đại (70)
      • 2.1. Dạy học nêu vấn đề (71)
      • 2.2. Dạy học theo nhóm (73)
      • 2.3. Sử dụng hệ thống bài tập (75)
  • PHẦN III. HỆ THỐNG BÀI TẬP (76)
    • 1. Dạng bài tập trình bày (76)
    • 2. Dạng bài tập trình bày, kết hợp nhận xét, phân tích ưu nhược điểm hoặc giải thích (87)
    • 3. Dạng bài tập chứng minh/ giải thích nhận định (111)
    • 4. Dạng bài so sánh (117)
    • 5. Dạng bài liên hệ (128)
    • 6. Dạng bài đánh giá nhân vật lịch sử (139)
    • C. KẾT LUẬN (142)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (143)

Nội dung

Cuộc cải cách của Hồ Quý Ly

Vương triều Trần, đặc biệt từ thời vua Trần Dụ Tông (1341-1369) trở đi, rơi vào tình trạng suy thoái nghiêm trọng Các vua và quan lại say mê hưởng lạc, quên đi trách nhiệm chăm lo đời sống nhân dân Quý tộc và quan lại lạm dụng quyền lực, buộc dân chúng xây dựng dinh thự và chùa chiền, tham gia vào các hoạt động vui chơi phóng túng Những kẻ bất tài nhưng khéo léo nịnh bợ được thăng chức, dẫn đến tình trạng rối loạn trong triều chính Sự kiện Chu Văn An, quan Tư nghiệp Quốc tử giám, dâng sớ xin chém 7 tên nịnh thần nhưng không được chấp thuận, đã chứng minh cho sự tha hóa của triều đình.

Trong bối cảnh nội bộ tầng lớp quý tộc cầm quyền, cuộc chiến tranh giành quyền lực trở nên khốc liệt với sự hình thành các bè phái và mâu thuẫn Một ví dụ điển hình là vụ mưu sát Hồ Quý Ly của một số quý tộc đại thần nhà Trần như Thái bảo Trần Nguyên Hãn và Thượng tướng quân Trần Khát Chân Kết quả là họ không thành công và đã bị Hồ Quý Ly tiêu diệt, cùng với hơn 370 quan lại quý tộc khác.

Vua quan và quý tộc chỉ biết ăn chơi hưởng lạc, không quan tâm đến đời sống nhân dân, lại còn huy động sức người, sức của để phục vụ cho các cuộc chiến tranh xâm lược Ai Lao và Chămpa, khiến đời sống nhân dân thêm khổ cực Trong hoàn cảnh cùng cực, nhiều người phải bán mình làm nông nô, nô tỳ cho tầng lớp quan lại, sống trong cảnh khổ hơn Điều này dẫn đến mâu thuẫn xã hội gay gắt và phong trào khởi nghĩa nông dân vào cuối thế kỷ XIV, với đông đảo lực lượng tham gia là nông dân nghèo và nô tỳ trong các điền trang của quý tộc Trần Sự kiện này chứng tỏ rằng từ nửa cuối thế kỷ XIV, xã hội Việt Nam đã bước vào cuộc khủng hoảng, vương triều Trần đã suy thoái.

Vào nửa cuối thế kỷ XIV, vua Chămpa thường xuyên tấn công vùng biên giới phía Nam Đại Việt và nhiều lần xâm lấn kinh thành Thăng Long, khiến vua Trần phải lánh nạn.

Nhà Minh đã lợi dụng sự suy yếu của nhà Trần để ép buộc nhà Trần chấp nhận nhiều yêu sách Năm 1384, nhà Trần phải cung cấp 5000 thạch lương thực cho quân Minh để hỗ trợ chiến dịch đánh Vân Nam Đến năm 1385, nhà Trần bị buộc phải tuyển 20 nhà sư gửi sang Kim Lăng Năm 1386, nhà Minh tiếp tục yêu cầu dâng nộp 50 thớt voi và chuẩn bị lương thảo dọc đường từ Nghệ An để vận chuyển đến Vân Nam.

Vào năm 1394, nhà Minh yêu cầu nhà Trần nộp 80.000 thạch gạo, trong khi nhà Trần chỉ có thể nộp 10.000 thạch gạo và phải vận chuyển đến Long Châu Đến năm 1395, nhà Trần còn phải cung cấp voi và lương thực Nguy cơ xâm lược từ nhà Minh ngày càng gia tăng, nhưng triều đình Trần không còn đủ sức mạnh để tổ chức và lãnh đạo cuộc kháng chiến như trước đây.

Chế độ quân chủ quý tộc nhà Trần đang trải qua giai đoạn khủng hoảng, cản trở sự phát triển xã hội trong quá trình phong kiến hóa và thiết lập chế độ phong kiến tập quyền chuyên chế.

Dưới thời Lý (1010-1225) và Trần (1226-1400), tầng lớp quý tộc chiếm ưu thế trong bộ máy quan chức nhà nước, với hầu hết quan lại tham chính xuất thân từ quý tộc và quý tộc tôn thất Họ nắm giữ các chức vụ quan trọng tại triều đình và chính quyền địa phương, đồng thời hưởng nhiều đặc quyền, đặc lợi cùng với tài sản lớn và nông nô Điều này tạo nên đặc trưng của chế độ quân chủ quý tộc thời Lý, Trần, dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ của quan hệ bóc lột nông nô và nô tỳ trong xã hội.

Vào nửa cuối thế kỷ XIV, chế độ phong kiến nhà Trần đã trải qua giai đoạn khủng hoảng, khi quan hệ bóc lột nông nô và nô tỳ bộc lộ mặt tiêu cực, dẫn đến đời sống khổ cực của nông dân Sự nông nô hóa khiến mâu thuẫn xã hội gia tăng, kích thích phong trào nông dân khởi nghĩa Chế độ quân chủ quý tộc không chỉ kìm hãm sự tiến hóa của xã hội Đại Việt mà còn tạo ra một nhà nước phong kiến trung ương tập quyền yếu kém, cản trở sự phát triển kinh tế Tầng lớp quý tộc nhà Trần, từ vua đến quan lại, vẫn cố gắng duy trì thiết chế chính trị, bất chấp sự suy yếu và mâu thuẫn ngày càng sâu sắc với các tầng lớp xã hội, bao gồm cả quan liêu nho sĩ.

Để đất nước vượt qua khủng hoảng cuối thế kỷ XIV, cần phải thực hiện cải cách với một nhà nước trung ương tập quyền vững mạnh Điều này đòi hỏi loại bỏ những quý tộc Trần bảo thủ, xóa bỏ kinh tế điền trang và giải phóng sức lao động của nông nô, nô tỳ Cần thiết phải xóa bỏ nền quân chủ quý tộc không còn phù hợp, xây dựng nhà nước quân chủ quan liêu với quan hệ sản xuất địa chủ - tá điền chiếm ưu thế, nhằm lãnh đạo dân tộc đánh thắng ngoại xâm và thúc đẩy sự phát triển của đất nước.

Từ giữa thế kỷ XIV đã xuất hiện tư tưởng cải cách trong một số quan liêu

Nho sĩ đại diện như Lê Quát và Phạm Sư Mạnh đã kêu gọi thay đổi thiết chế chính trị theo mô hình quân chủ quan liêu của Nho giáo Tuy nhiên, những yêu cầu này đã bị vua Trần Dụ Tông (1341-1369) và Nghệ Tông (1370-1372) bác bỏ.

Cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hướng tư tưởng - bảo thủ quân chủ quý tộc của tầng lớp quý tộc Trần và quân chủ tập trung quan liêu do Hồ Quý Ly đại diện - đã diễn ra liên tục và quyết liệt trong suốt 30 năm (1371-1400).

2.2 Nội dung cuộc cải cách của Hồ Quý Ly

Vào tháng 2 năm 1400, sau khi vua Trần nhường ngôi, Hồ Quý Ly đã tự lập làm vua và thành lập triều đại nhà Hồ Ông đã tiến hành nhiều chính sách và biện pháp cải cách nhằm cải thiện các lĩnh vực trong đời sống xã hội.

Năm 1375, Hồ Quý Ly đã đề xuất loại bỏ chế độ bổ nhiệm người tôn thất vào các vị trí chỉ huy quân sự cao cấp, đồng thời xác định lại số lượng quân và đưa lực lượng trẻ vào tham gia.

Năm 1378, trong số 16 chỉ huy các đạo quân ở trung ương, có đến 12 người không phải là tôn thất nhà Trần Đến năm 1379, Hồ Quý Ly đã thiết lập quy chế về hệ thống quan lại địa phương, nhằm thống nhất quản lý từ trung ương đến địa phương Các chức An phủ sứ ở lộ có trách nhiệm quản lý toàn bộ lộ, bao gồm các phủ, huyện, châu, và lộ này trực tiếp chịu trách nhiệm trước nhà nước trung ương.

Cuộc cải cách của Lê Thánh Tông

Sau khi đánh bại quân xâm lược Minh, Lê Lợi, nhà lãnh đạo xuất sắc của cuộc kháng chiến, trở thành vua và sáng lập triều Lê, lấy tên quốc gia là Đại Việt và chọn Thăng Long làm kinh đô.

Dưới các triều vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông và Lê Nhân Tông, nền hành chính chủ yếu vẫn được xây dựng dựa trên mô hình tổ chức chính quyền của các triều đại Lý và Trần.

Hệ thống chính quyền tập trung vào triều đình trung ương, với vua đứng đầu và các chức tả hữu tướng quốc, kiểm hiệu bình chương quân quốc trọng sự, tam tư, tam thái, tam thiếu do các đại công thần và dòng họ Lê Lợi nắm giữ Dưới triều đình có các cơ quan như Thượng thư sảnh, Môn hạ sảnh, Trung thư sảnh, và Khu mật viện, trong khi các bộ chỉ là những ban, phòng thuộc Thượng thư sảnh Tại địa phương, cả nước chia thành 5 đạo: Đông đạo, Bắc đạo, Tây đạo, Nam đạo và Hải Tây đạo, mỗi đạo do một Hành khiển quản lý Dưới mỗi đạo có 24 lộ do An phủ sứ đứng đầu, tiếp theo là huyện, châu, xã với cấp bộ chính quyền tương đương Các vùng núi được tổ chức thành châu, đứng đầu là Tri châu, được bổ nhiệm từ các tù trưởng của dân tộc thiểu số.

Trong các triều đại của vua Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông và Nghi Dân, bộ máy chính quyền đã trải qua nhiều thay đổi nhằm củng cố quyền lực tập trung Để bảo vệ quyền chuyên chế, các vua đầu triều Lê đã thực hiện nhiều thủ đoạn tàn nhẫn, bao gồm việc sát hại những công thần có tài năng và uy tín, như Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo, những người đã có công trong cuộc kháng chiến chống quân Minh và sáng lập nhà Lê Đến thời Lê Thái Tông và Lê Nhân Tông, nhiều nhân vật quan trọng như Lê Khả, Lê Khắc Phục, Nguyễn Trãi, và Lưu Nhân Chú cũng trở thành nạn nhân của các cuộc thanh trừng này.

Đầu thời Lê, đa số quan lại xuất thân từ giai cấp địa chủ, tạo thành một tầng lớp quý tộc quan liêu với nhiều đặc quyền và lợi ích trong xã hội.

Việc cấp ruộng đất ồ ạt cho các địa chủ khi họ trở thành quan lại đã dẫn đến sự hình thành của những địa chủ lớn trong xã hội, gây ra sự phân hóa sâu sắc và lan rộng Những hiện tượng tiêu cực của cuối thời Trần đã tái diễn vào giữa thế kỷ XV.

Mất mùa, đói kém và dịch bệnh, cùng với nạn quan lại nhũng nhiễu, đã khiến người dân khốn khổ và xã hội trở nên bất ổn Bộ máy quan lại cuối triều Lê Nhân Tông mặc dù cồng kềnh nhưng không thực hiện được các nhiệm vụ theo quy định của triều đình.

Tình hình triều chính bất ổn đã dẫn đến cuộc chính biến năm 1460, kết thúc giai đoạn trì trệ của nhà Lê sau hơn 30 năm thống trị Sự xuất hiện của vua Lê Thánh Tông đánh dấu một bước ngoặt quan trọng, giúp chế độ phong kiến vượt qua khủng hoảng và tiến tới thời kỳ phát triển thịnh đạt của phong kiến trung ương tập quyền tại Việt Nam.

Thiết chế chính trị hiện tại chưa chặt chẽ và hoàn chỉnh, thể hiện rõ sự phân tán Nhược điểm này đã xuất hiện từ nửa sau thế kỷ XIV, yêu cầu cải cách là cần thiết Trong bối cảnh đất nước vừa giành độc lập, việc duy trì thiết chế chính trị này không còn phù hợp với yêu cầu phát triển và xu thế thời đại.

Sau khi vua Lê Thái Tổ qua đời, các vua kế vị thì còn ít tuổi (Lê Thái Tông (1432-1442) lên ngôi lúc 10 tuổi, Lê Nhân Tông (1443-1459) lên ngôi lúc

Tình trạng tham nhũng và lộng quyền trong bộ máy quan lại đã dẫn đến sự yếu kém của nhà nước trung ương tập quyền, với nhiều công thần khai quốc bị sát hại Để xây dựng một nhà nước trung ương mạnh mẽ, cần thiết phải chấn chỉnh kỷ cương phép nước và cải cách thiết chế chính trị, bao gồm cả cơ chế vận hành của bộ máy hành chính từ trung ương đến địa phương.

3.2 Nội dung cuộc cải cách của Lê Thánh Tông

- Cải cách hành chính và hệ thống quan lại

Cuộc cải cách của Lê Thánh Tông nhằm khắc phục những hạn chế của bộ máy hành chính và củng cố quyền lực trung ương Ông đã bãi bỏ các quan chức và cơ quan trung gian như Thượng thư sảnh, Trung thư sảnh và Môn hạ sảnh, đồng thời loại bỏ các viên quan cao cấp như Tướng quốc và Đại hành khiển Vua nắm toàn quyền, bao gồm quyền tổng chỉ huy quân đội và trực tiếp chỉ đạo các công việc quan trọng Để hỗ trợ, các đại thần như Thái sư, Thái phó và Thái bảo sẽ tham gia bàn bạc và chỉ đạo khi cần thiết.

Cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương bao gồm 6 Bộ: Lại, Lễ, Bình, Hình, Công, và Hộ, mỗi bộ đảm nhiệm các lĩnh vực hoạt động khác nhau của nhà nước.

Trong hệ thống quản lý của triều đại Lê, 6 Bộ được điều hành bởi các Thượng thư, người chịu trách nhiệm trực tiếp trước vua về hoạt động của Bộ Để nâng cao hiệu quả thanh tra và giám sát, Lê Thánh Tông đã thành lập 6 Khoa tương ứng với mỗi Bộ, nhằm theo dõi và giám sát các quan chức trong Bộ đó, ví dụ như Bộ Binh có Binh Khoa.

Hệ thống hành chính từ cấp trung gian đến cấp xã cũng có những cải cách cơ bản, quan trọng

Năm 1466, Lê Thánh Tông đã bãi bỏ các đơn vị trung gian lớn và chia cả nước thành 12 đạo thừa tuyên, bao gồm Thanh Hóa, Nghệ An, Thuận Hóa, Thiên Trường, Nam Sách, Quốc Oai, Bắc Giang, An Bang, Hưng Hóa, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn và phủ Trung đô Đến năm 1471, đạo thừa tuyên thứ 13 là Quảng Nam được thành lập Dưới mỗi đạo thừa tuyên, hệ thống hành chính được tổ chức thành phủ, châu, huyện, xã, trong khi các đơn vị trấn và lộ bị bãi bỏ, lộ được đổi thành phủ và trấn thành châu.

Cải tổ hệ thống đơn vị hành chính thống nhất trong cả nước bao gồm việc tổ chức lại bộ máy chính quyền các cấp Mỗi đạo thừa tuyên có ba Ty ngang quyền, gồm Đô tổng binh sứ ty phụ trách quân sự, Thừa tuyên sứ ty quản lý công việc dân sự, và Hiến sát sứ ty chịu trách nhiệm thanh tra và giám sát quan lại địa phương, đồng thời thăm nom đời sống nhân dân Các Ty này có trách nhiệm trực tiếp trước triều đình Cấp lãnh đạo bao gồm Tri phủ ở phủ, Tri huyện ở huyện, và xã trưởng thay thế cho xã quan.

MỘT SỐ PHƯƠNG TIỆN PHƯƠNG PHÁP, KĨ THUẬT DẠY HỌC CHUYÊN ĐỀ

HỆ THỐNG BÀI TẬP

Ngày đăng: 12/05/2021, 10:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thùy Chi (Cb), Trần Huy Đoàn, Nguyễn Thị Thanh Nga, Giải quyết những vấn đề khó trong ôn thi học sinh giỏi THPT môn Lịch sử, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2017 Khác
2. Trần Bá Đệ (Cb), Một số chuyên đề lịch sử cổ trung đại Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007 Khác
3. Vũ Quang Hiển (Cb), Hoàng Văn Khánh, Ôn tập môn lịch sử chuẩn bị cho kì thi trung học phổ thông quốc gia, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015 Khác
4. Vũ Quang Hiển (Cb), Trần Huy Đoàn, Nguyễn Thị Hương, Hoàng Văn Khánh, Bộ đề môn lịch sử chuẩn bị cho kì thi trung học phổ thông quốc gia, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016 Khác
5. Dương Thị Huyền, Ôn thi THPT Quốc gia môn lịch sử bài tập so sánh, NXB Đại học Thái Nguyên, 2020 Khác
6. Phan Ngọc Liên (Cb), Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007 Khác
7. Nguyễn Cảnh Minh, Đào Tố Uyên, Một số chuyên đề lịch sử cổ trung đại Việt Nam, NXB Đại học Sư phạm, 2009 Khác
8. Văn Tạo, Mười cuộc cải cách, đổi mới lớn trong lịch sử Việt Nam, NXB Đại học Sư phạm, 2006 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Infographic về Lê Thánh Tông - chuyên đề môn lịch sử tìm hiểu về các cuộc cải cách trong lịch sử việt nam
Hình 1. Infographic về Lê Thánh Tông (Trang 68)
Hình 2. Infographic về quá trình hình thành và phát triển - chuyên đề môn lịch sử tìm hiểu về các cuộc cải cách trong lịch sử việt nam
Hình 2. Infographic về quá trình hình thành và phát triển (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w