1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chuyên đề văn xuôi lãng mạn 1930 1945 với hai tác giả tiêu biểu trong chương trình THPT thạch lam và nguyễn tuân

26 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 83,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự vận động của văn học theo tiến trình hiện đại hoá: Riêng trong lĩnh vực văn học, hiện thực nóng bỏng chính là mảnh đất để văn họcphát triển phong phú, trong đó diễn ra cuộc đấu tranh,

Trang 1

1 Lý do chọn đề tài:

- Đối với giáo viên: Lòng yêu thích đối với hai tác giả văn học: Thạch Lam,Nguyễn Tuân và các tác phẩm của ông; Mong muốn rèn luyện khả năng nghiêncứu khoa học và bồi dưỡng HS giỏi

- Đối với học sinh: Sự cần thiết phải trang bị, mở rộng sự hiểu biết đối với hai tácgiả quan trọng trong chương trình THPT; Rèn luyện kĩ năng phân tích, làm bài vớinhững đề bài, chuyên đề liên quan

2 Cơ sở lí luận:

- Kiến thức văn học sử về văn học Việt Nam hiện đại, tác gia trong nhà trườngTHPT

- Trào lưu văn học, khuynh hướng sáng tác

- Đặc trưng thể loại truyện ngắn, nghệ thuật truyện ngắn

- Phong cách và cá tính sáng tạo của nhà văn

3 Cơ sở thực tiễn:

Thạch Lam và Nguyễn Tuân là hai gương mặt khá tiêu biểu, có phong cách riêngđộc đáo trào lưu văn học lãng mạn 1930 - 1945 Tác phẩm của hai ông có vị tríquan trọng trong tiến trình văn học dân tộc và đã được đưa vào chương trình sách

giáo khoa Ngữ văn THPT: Hai đứa trẻ (Thạch Lam), Chữ người tử tù (Nguyễn

PHẦN NỘI DUNG

Trang 2

A Khái quát văn xuôi lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 :

I Bối cảnh lịch sử xã hội và văn hoá:

Nằm trong giai đoạn thực dân Pháp xâm lược nước ta (1858- 1945), tức là giaiđoạn hình thành và tồn tại của chế độ thực dân nửa phong kiến, lịch sử xã hội vàvăn hoá Việt Nam có sự biến đổi sâu sắc Đây là thời kỳ đấu tranh dân tộc và đấutranh giai cấp hết sức gay gắt, đế quốc Pháp và phát xít Nhật ráo riết thực hiện cácchính sách đàn áp về chính trị, bóc lột về kinh tế, đầu độc về văn hoá Năm 1930cũng là thời điểm ra đời của Đảng cộng sản Đông Dương và những chặng đườngphát triển của cách mạng dân tộc dân chủ cũng có tác động nhiều mặt tới đời sốngchính trị xã hội lúc bấy giờ Từ đó dẫn đến những cuộc tranh đấu trên lĩnh vực tưtưởng và ý thức hệ, những tác động qua lại vô cùng phức tạp của các khuynhhướng và phương pháp sáng tác khác nhau Hệ tư tưởng tư sản cấu kết với hệ tưtưởng phong kiến lỗi thời, đối lập với chúng là hệ tư tưởng vô sản cùng những khátvọng dân tộc dân chủ của các tầng lớp nông dân, tiểu tư sản thành thị yêu nước Vềvăn hóa, những luồng văn hóa phương Tây ngày càng tác động một cách toàn diệnsâu sắc đến đời sống xã hội Việt Nam, chế độ học hành thi cử bằng chữ Hán bị xoá

bỏ, chữ Hán và Nho giáo dần mất đi địa vị độc tôn Trong giai đoạn này, báo chí vàhoạt động xuất bản ngày càng rầm rộ, chữ quốc ngữ khẳng định được vị thế củamình, đó chính là những điều kiện quan trọng để hiện đại hoá văn học

II Sự vận động của văn học theo tiến trình hiện đại hoá:

Riêng trong lĩnh vực văn học, hiện thực nóng bỏng chính là mảnh đất để văn họcphát triển phong phú, trong đó diễn ra cuộc đấu tranh, đồng thời cũng là sự tácđộng qua lại giữa các nền văn học cách mạng, văn học hiện thực phê phán, văn họclãng mạn tiến bộ (không phát triển thành một dòng chảy liên tục) và văn học lãngmạn tiêu cực, bảo thủ, trộn lẫn với các khuynh hướng văn học suy đồi khác

Hiện đại hoá là quá trình văn học thoát ra khỏi những quan điểm thẩm mĩ và hệthống thi pháp của văn học trung đại tồn tại suốt lịch sử xã hội phong kiến để ngàycàng hoà nhập vào quỹ đạo phát triển chung của văn học thế giới Hiện đại hoá làquy luật tất yếu, là sự vận động tự thân của nền văn học, là sự nhảy vọt về chất chứkhông chỉ đơn thuần là sự biến đổi về lượng

Hiện đại hoá đem lại những thành tựu to lớn, trước hết thay đổi quan niệm về chứcnăng, đối tượng của văn học, nếu như văn học trung đại chức năng chủ yếu là "văn

dĩ tải đạo", "thi dĩ ngôn chí" thì văn học hiện đại có vai trò khám phá, phản ánh thếgiới khách quan đời sống xã hội đồng thời biểu hiện thế giới tinh thần của cá nhâncon người Đội ngũ nhà văn cũng trở nên chuyên nghiệp với phần đa là các trí thứctây học Hệ thống thể loại trở nên đa dạng phong phú chưa từng có với thơ, truyệnngắn, truyện vừa, truyện dài, tiểu thuyết, phóng sự, bút kí, tuỳ bút, kịch nói, nghiêncứu phê bình lí luận văn học… Đặc biệt, hệ thống thi pháp đã hoàn toàn thay đổi,

Trang 3

cả quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người, không gian nghệ thuật, thời giannghệ thuật, các hình thức biểu hiện…

Thời kỳ văn học 1930 - 1945 là thời kỳ quá trình hiện đại hoá nền văn học dân tộcđược hoàn tất, mọi khuynh hướng văn học đều phát triển, mọi thể loại đều có thànhtựu đỉnh cao, đạt đến sự kết tinh rực rỡ

II Trào lưu văn học lãng mạn 1930 - 1945:

Văn học lãng mạn Việt Nam xuất hiện như một trào lưu trong thời kỳ 1932 - 1945,bắt đầu với nhóm Tự lực văn đoàn và phong trào Thơ mới Cơ sở xã hội hình thànhkhuynh hướng này là sự xuất hiện của các tầng lớp, giai cấp mới, lớp người này cóđời sống tâm lí, tình cảm đa dạng phức tạp, ý thức cá nhân và tự do cá nhân nảy

nở, chống lại những lễ giáo phong kiến để khẳng định quyền sống, quyền hạnhphúc, đây chính là những biểu hiện của hệ tư tưởng dân chủ tư sản

Ở nước ta, các nhà văn lãng mạn ít khi lập thành trường phái và có tuyên ngônnghệ thuật riêng, chúng ta chỉ có thể thấy được những quan niệm thẩm mỹ của họthông qua một số tác phẩm và lời phát biểu trong tranh luận nghệ thuật, ở đó có thể

nhận thấy sự ảnh hưởng rõ nét của tư tưởng văn học lãng mạn phương Tây Đặc trưng thẩm mĩ chủ yếu là sự bất hoà với hiện tại, quay lưng với xã hội đương thời, từ đó nhà văn, nhà thơ lãng mạn đi sâu vào thế giới tinh thần của chính mình, hoặc đi vào đề tài tình yêu tự do, chống lễ giaó phong kiến, hoặc tìm đến thế giới thiên nhiên trong sạch để giải toả tâm hồn, hoặc thoát li đến chốn bồng lai, tìm về quá khứ, say sưa cuộc sống hưởng thụ, truỵ lạc.

Trào lưu văn học này có rất nhiểu tác phẩm lãng mạn tiến bộ, nhiều tác giả ưu tú,song nhìn chung, sự phát triển của nó rốt cuộc ngày càng đi vào con đường bế tắc.Hai dòng chủ đạo của trào lưu này là thơ ca với phong trào Thơ mới và văn xuôivới nhóm Tự lực văn đoàn

Phong trào Thơ mới đã nói lên được những nhu cầu của cá nhân với cái tôi muốn

tự do đòi giải phóng, lần đầu tiên trong văn học Việt Nam có một cái tôi cá thể hoátrong cách cảm thụ thế giới và thiên nhiên Cũng là lần đầu trong một khoảng thờigian ngắn ngủi xuất hiện nhiều phong cách nghệ thuật độc đáo đến như vậy

Cũng như Thơ mới, văn xuôi lãng mạn góp phần đấu tranh đòi giải phóng cá nhân,

tự do hôn nhân, hạnh phúc lứa đôi, phê phán kịch liệt đại gia đình phong kiến

Văn học lãng mạn VN là tiếng nói của tầng lớp tư sản dân tộc và tiểu tư sản tríthức thành thị đã thoát li phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, con đườngvăn chương lúc bấy giờ, đối với một số tiểu tư sản trí thức là một lối thoát li trongsạch, một nơi có thể gửi gắm tâm sự yêu nước thầm kín

Trang 4

Chủ nghĩa lãng mạn VN 1930 - 1945 mang những ảnh hưởng từ nhiều trường pháikhác nhau của phương Tây, đặc biệt là của Pháp Trào lưu này đã góp phần rấtquan trọng trong việc đưa văn học VN tiến thẳng vào thời kì hiện đại với các thểthơ linh hoạt, cách hiệp vần phong phú, nhạc điệu dồi dào, ngôn ngữ giàu hìnhtượng…; các thể văn xuôi, đặc biệt là tiểu thuyết có kết cấu và cốt truyện chặt chẽ,lối kể chuyện hấp dẫn, nghệ thuật mỉêu tả tinh tế nội tâm nhân vật…

III Tự lực văn đoàn (1933-1942):

Ra đời năm 1933 với tôn chỉ giải phong tự do cá nhân, không khoan nhượng với

lễ giaó phong kiến, dùng một lối văn dễ hiểu, gần gũi, bình dân; Tự lực văn đoàn có sự góp mặt của rất nhiều tên tuổi trên văn đàn thời bấy giờ: Nhất Linh, Hoàng Đạo, Khái Hưng, Thạch Lam… mỗi nhà văn này đều có những nét phong

cách riêng, đặc biệt là Thạch Lam đi theo một hướng khu biệt hẳn với những văn sĩkhác

Trong phạm trù ý thức hệ tư sản, Tự lực văn đoàn đã nói lên những khát vọng dântộc dân chủ của đông đảo quần chúng, chủ yếu là của các tầng lớp tiểu tư sản tríthức và viên chức thành thị Tự lực văn đoàn không đặt vấn đề giải phóng xã hộinhưng đã đấu tranh giải phóng cá nhân, bản ngã, tự do hôn nhân, quyền sống ngườiphụ nữ, chống lại sự ràng buộc khắt khe của lễ giáo phong kiến Về mặt đổi mớinghệ thuật, TLVĐ đã kết hợp được khá nhuần nhị truyền thống với hiện đại,Đông và Tây, ngôn ngữ văn học trở nên giản dị, trong sáng, giàu khả năng diễn đạthơn và rất gần gũi với tâm hồn dân tộc

Các tác phẩm tiêu biểu: Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Đoạn tuyệt, Lạnh lùng, Thoát ly, Con đường sáng, Gió đầu mùa…

Nửa chừng xuân (Khái Hưng) tấn công vào đại gia đình phong kiến, tố cáo bọn

quan lại trọc phú ở nông thôn, tố cáo tính chất ích kỷ, tàn nhẫn, chà đạp lên hạnhphúc con người của lễ giáo phong kiến

Đoạn tuyệt (Nhất Linh) cũng viết về cuộc đấu tranh giữa cá nhân và đại gia đình phong kiến song tính chất quyết liệt hơn Nửa chừng xuân Tiểu thuyết này thành

công nhất ở những chương miêu tả cuộc xung đột giữa cái cũ và cái mới, giữa mẹchồng và nàng dâu, những chương tố cáo mạnh mẽ các tập quán cổ hủ trong giađình bà Phán, cách đối xử tàn nhẫn, chà đạp lên con người của những kẻ đại diệncho lễ giáo cũ

………

Trang 6

chính trị, văn hoá; ông là em ruột của Nhất Linh và Hoàng Đạo - hai cây bút có vị

trí của Tự lực văn đoàn Như vậy, truyền thống gia đình là một trong những yếu

tố ảnh hưởng đến nhân cách, văn chương TL Thuở nhỏ, ông sống ở quê ngoại Cẩm Giàng, một thị trấn nhỏ với không gian phố huyện đặc trưng đã ăn sâu vào tiềm thức nhà văn và sau này trở thành không gian chủ đạo bao trùm toàn bộ tác phẩm Thạch Lam Gia đình sớm sa sút, ông và bố TL mất, người mẹ

vốn dòng dõi đài các phải lăn lộn làm hàng xáo kiếm sống, nuôi các con; khi đóanh trai Nhất Linh đang du học Pháp, TL phải bỏ học gần một năm cùng chị Thếtrông hàng cho mẹ Năm 1929, Nhất Linh về nước, TL lại tiếp tục đi học NhấtLinh cùng Khái Hưng thành lập ra Tự lực văn đoàn, kéo hai em Hoàng Đạo, TLcùng tham gia, TL sau khi đỗ Tú tài lần thứ nhất thì bỏ học và chuyển sang làm

báo kiêm quản lí NXB Đời nay, biên tập cho các tờ tuần báo Phong hoá , Ngày

nay; ông là người rất mực chịu khó, ham học và uyên bác Sáng tác của TL hầu

hết là truyện ngắn, bút kí, tiểu thuyết, tiểu luận…Thời gian đó ông làm việc ởQuán Thánh, có mua một ngôi nhà ở trước Hồ Tây, trước nhà có một cây liễu xanh

rủ bóng Nhà văn đặc biệt yêu quý cây liễu này và chăm sóc nó rất chu đáo, người

ta cho rằng liễu chính là biểu tượng cho khí chất, tâm tính TL, giữa tâm hồn TL và

thứ cây "kì hoa dị thảo " này có một sự tương giao nào đó: cùng mềm mại, đằm thắm, tinh tế, dịu dàng.

" T©y hå cã danh süNhµ th× cã nhµ tranhCöa tróc cµi phªn giãTríc thÒm bãng liÔu xanh"

Trong văn TL có rất nhiều bóng cây, có lẽ đều là những biến thể khác nhau của câyliễu yểu điệu nhẹ nhàng thâm u

Đưòng tình ái của TL không có gì đặc biệt, ông thuộc kiểu con người đạo đức, tiếtchế bản thân, sống chừng mực, âm thầm Từ năm 1940 ông bị bệnh lao và mấtngày 28 tháng 6 năm 1942 tại nhà riêng như đã nói ở trên trong cảnh đơn sơ, thanhbạch Tóm lại, cuộc đời TL là một chứng minh cho thuyết định mệnh của nhữngngười tài hoa Có một mẩu hồi ức kể rằng sinh thời TL thích ngồi hàng giờ lặngngắm cây liễu rủ trước nhà Tiếc thay, cõi đời ngắn ngủi lại không dành cho ôngnhiều thời gian để thụ cảm và chiêm nghiệm, số phận quả thật đắng cay

Nhưng trước khi sinh mệnh đời người quay trọn vòng quay của nó, con người tài hoa ấy đã kịp hoàn tất chân dung văn học của mình, và bằng cách đó ông đã

ở lại với thời gian.

2 Con người:

Trang 7

Sinh cùng năm với Nguyễn Tuân, nhưng hai số phận, hai con người tài hoa ấy lại hoàn toàn khác biệt, TL chết yểu, NT sống khá thọ, TL khiêm cung, NT ngông nghênh kiêu bạc, TL ưa vẻ mong manh, tinh tế, NT thích cái góc cạnh,

dữ dội, văn TL mượt mà, đằm sâu, văn NT cồng kềnh, sắc sảo.

Con ngưòi TL vốn khiêm cung, ít nói, thường sống thiên về nội tâm, thâm giao(không quảng giao) Ông sống duy lí, thường tư duy không mệt mỏi về những vấn

đề trừu tượng, có thiên hướng triết học sâu sắc Nhưng ông cũng là kẻ duy cảmđiển hình khi lắng nghe, theo đuổi, nắm bắt những cảm giác, cảm xúc bên trongcủa chính mình, đây lại là biểu hiện của thiên hướng nghệ sĩ đa sầu đa cảm

Ở TL còn có lòng nhân ái kỳ lạ tới mức bệnh hoạn Hồi ký Vũ Bằng kể lại rằng

tiếng khóc có tác động cực mạnh tới hệ thần kinh người nghệ sĩ, ông có một tìnhthương kỳ lạ, một tâm hồn kì lạ, như thể được kết từ những sợ tơ rất mong manh,

có thể cảm nhận được nét rung rinh của tạo vật, nắm bắt được cái mơ hổ, hưthoảng của làn hương, của ánh sáng, nhạy cảm vô cùng trước những nỗi nỗi buồn

vu vơ hay nỗi sầu nhân thế…

II Quan điểm, tư tưởng sáng tác và phong cách sáng tác Thạch Lam:

1 Quan điểm, tư tưởng sáng tác:

"Đối với tôi, văn chương không phải một cách đem đến sự thoát li hay sự quên, trái lại, văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có để vừa thay đổi cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn." Lời phát biểu đó trong tiểu luận Theo giòng có thể

coi là quan điểm sáng tác của nhà nghệ sĩ TL Ông vừa phản bác lại khuynh hưóngthoát li, quên đời phổ biến trong văn học cùng thời, vừa khẳng định vai trò cải tạo

xã hội, vai trò thanh lọc tâm hồn con người của văn chương Theo đó, văn chươngchính là thứ vũ khí chân chính để người nghệ sĩ tác động vào thế giới

Là một trong số những nhà văn chủ chốt của Tự lực văn đoàn, song sáng tác TLmang đậm quan điểm nghệ thuật vị nhân sinh Đối với người nghệ sĩ cái đích cầnkhám phá là bí mật của tâm hồn con người, tâm hồn chính là đích đến cuối cùngcủa ngòi bút TL

Trang 8

Về tư tưởng sáng tác của TL, trước hết đó là niềm trắc ẩn mênh mông, thấm thía

dành cho những con người bất hạnh mà thanh cao trên mảnh đất nhọc nhằn này

Trắc ẩn (Trắc: cảm thương, ẩn: sâu kín) là niềm cảm thương chân thành sâu xa

nhất của con người dành cho đồng loại, là nhân tính đầu tiên và cuối cùng của conngười thuộc phạm trù chủ nghĩa nhân đạo So với rất nhiều nhà văn cùng thời, TL

đã vượt lên trên những thiên kiến của giai cấp và dân tộc để hướng tới tâm hồn và

số phận con người với tấm lòng nhân hậu thiết tha Ông là nhà văn của chủ nghĩanhân đạo, viết về nỗi khổ của những kiếp người bé mọn, bất hạnh, những nạn nhâncủa cuộc đời, bị cuộc đời đầy ải, nạn nhân của số phận, nạn nhân của chính mình

Âm vang những sáng tác của TL là tiếng nói bênh vực con người, khẳng định giátrị con người Hình tượng tác giả (thông qua nhân vật xưng tôi hay nhân vật người

kể chuyện đằng sau các câu chuyện) trong truyện ngắn TL luôn hiện lên là con người có cái nhìn đầy trân trọng, trìu mến xót xa.

2 Phong cách Thạch Lam:

Phong cách được hiểu là những sắc thái riêng đặc sắc của cá nhân được thể hiệntrong sáng tạo của nhà văn Những sắc thái riêng đó phải được lặp lại ổn định, cótính hệ thống Tạo nên phong cách nhà văn bao gồm nhiều yếu tố có mối quan hệvới nhau, trong đó có yếu tố hạt nhân Phong cách có sự vận động theo thời gian

Phong cách nghệ thuật của TL là sự hoà giải giữa hiện thực và lãng mạn, giữa thơ và văn xuôi, kết tinh thành truyện ngắn trữ tình: tự sự nhưng đầy chất thơ.

Hòa giải được xem là một dạng đặc biệt của trung gian, hoà giải tức là có ý thứcdung hoà các đối tượng khác nhau, thường là đối lập, chẳng hạn kịch thơ là dạngtrung gian hoà giải giữa thơ và kịch, truyện thơ là dấu nối giữa thơ và truyện… TLvốn là một thành viên của Tự lực văn đoàn, một nhóm nghệ sĩ chủ trương khuynhhướng lãng mạn, trên bề mặt, tác phẩm TL thuộc chủ nghĩa tình cảm, một nhánhcủa văn học lãng mạn, song ở bề sâu, truyện ngắn của ông lại rất giàu tính hiện

thực (Nhà mẹ Lê, Gió lạnh đầu mùa, Hai đứa trẻ, Đói, Tối ba mươi…) Có thể

khẳng định TL là cây bút lãng mạn giàu chất hiện thực, thực tại trong truyện

ngắn TL đã được tâm trạng hoá, thực taị được mô tả theo ý muốn chủ quan của tácgiả TL đã được coi như là một trường hợp điển hình và hiếm hoi cho chủ nghĩatình cảm trong văn học

Truyện ngắn TL chủ yếu là truyện ngắn trữ tình, ở đó có sự hoà kết giữa yếu tố

tự sự và chất thơ sâu lắng Trong tác phẩm của mình, TL thường đặt nhân vật vào

những tình huống tâm trạng (không phải tình huống hành động, tình huống nhậnthức), tức là những sự kiện đặc biệt của đời sống gây nên những biến đổi trong thế

giới tình cảm của con người (Đêm ba mươi, Người đàm, Đứa con đầu lòng…) Thế

giới nhân vật trong truyện ngắn TL là những con người bình thường, có ngoại hình

mờ nhạt, số phận không sắc nét (bởi nhân vật chỉ xuất hiện trong thời gian ngắn,không gian hẹp, như một lát cắt của đời sống thu vào muôn vàn xúc cảm trạng tháibên trong), tính cách cũng có phần hư ảo; chỉ có đời sống duy cảm, nội tâm là sinh

Trang 9

động với những cung bậc của cảm giác, cảm xúc, biến thái tâm trạng…Hành độngchủ yếu của nhân vật là nghe, lắng nghe sự tác động của ngoại giới, lắng nghenhững vận động hết sức mong manh mơ hồ trong tinh thần; nhân vật của TL dườngnhư đều có cốt cách nghệ sĩ, đều đắm chìm vào cảm xúc, còn TL thì trút tâm hồn

mình vào nhân vật (Gió lạnh đầu mùa, Dưới bóng hoàng lan, Hai đứa trẻ…).

Giọng điệu chủ yếu trong tác phẩm TL là giọng cảm thương với hai sắc thái: Trìumến, trân trọng và xót xa Ngôn ngữ TL đầy chất thơ với bảng từ vựng nghiêng vềtình cảm, cảm xúc, động từ ít hơn tính từ và động từ gồm nhiều từ chỉ những độngthái mơ hồ, mong manh Lời văn có sự đắp đổi nhịp nhàng về thanh điệu, thanhbằng lấn át thanh trắc, các vế câu có sự hô ứng về thanh điệu Văn TL lại giàu nhịpđiệu, có sức truyền tải cảm xúc thấm thía

3 Thế giới nhân vật trong truyện ngắn TL:

Thế giới nhân vật trong truyện ngắn TL chủ yếu là những người trí thức tiểu tư sảnnghèo và những người dân nghèo

Thạch Lam không thi vị hoá hình tượng người tri thức tiểu tư sản như các nhà vănlãng mạn cùng thời, nhân vật của ông chân thực và gần gũi, thường được đặt trong

những khó khăn, trở ngại, thậm chí cực cùng tuyệt vọng: Đói, Người bạn trẻ, Cái chân què…Ông không miêu tả nhân vật của mình trong quá trình tâm lí mà chỉ đặt

nhân vật vào một cảnh ngộ, một tình thế để bộc lộ một nét tâm lí, một khoảnh khắctâm trạng Thông thường, đó là những kiểu nhân vật bị tổn thương trước cuộc sống

và giải quyết bằng bế tắc

Thạch Lam viết về những người lao động nghèo khổ với lòng cảm thương sâu sắc,

đó là người nông dân lam lũ nơi đồng ruộng, người phải sống kiếp làm than củaphố thị, bà mẹ nghèo ở xóm chợ, gia đình người phu xe cùng khổ chốn ngoại ô…Ngòi bút Thạch Lam đầy tinh tế và nâng niu khi viết về những vẻ đẹp, nhữngmong ước khát khao của người lao động nghèo Đặc biệt, hình tượng người phụ nữđược ngòi bút TL rất mực trân trọng, yếu quý

III Một số tác phẩm tiêu biểu của Thạch Lam:

1 Truyện ngắn " Hai đứa trẻ" :

Tác phẩm rút từ tập Nắng trong vườn, đây là một trong những truyện ngắn hay và tiêu biểu nhất thể hiện rõ nét tư tưởng và phong cách TL Có người yêu Cô hàng xén, có người mê Dưới bóng hoàng lan, người khác lại cho Sợi tóc là tuyệt tác của

TL… nhưng cùngvới thời gian, càng ngày người ta càng thấy ngôi vị ấy xứng đáng

với Hai đứa trẻ hơn Tác phẩm này bình dị như đời sống mà cũng sâu xa như đời

Trang 10

sống! Đề tài truyện viết về cuộc sống người lao động nơi phố huyện nghèo, tậptrung vào cảm xúc tâm trạng của nhân vật Liên, một cô gái mới lớn, thông qua đóbộc lộ một cách nhẹ nhàng mà thấm thía xót thương đối với những con người sống

cơ cực, quẩn quanh, bế tắc nơi phố huyện, đồng thời là niềm đồng cảm, trân trọngvới những ước mong khiêm nhường mơ hồ mà tha thiết của họ

Phố huyện trong Hai đứa trẻ có nguyên mẫu từ phố huyện Cẩm Giàng, nơi tuổi thơ

TL đã từng trải, nghĩa là một hình ảnh mang vốn sống rất riêng tư Câu chuyện nhàvăn kể với chúng ta cũng chẳng có gì đặc biệt, chỉ là những sinh hoạt thường ngày

về một chiều tới khuya của một chị một em theo lời mẹ dặn trông coi một gianhàng tạp hoá bé xíu, lãi lời chẳng bao nhiêu, nhưng ngày nào hai đứa trẻ cũng ngồiđợi chuyến tàu đêm từ Hà Nội vụt qua phố huyện rồi mới đóng cửa hàng đi ngủ.Trong lúc chờ tàu, hai chị em (chủ yếu là Liên) ngồi ngắm nhìn, lắng nghe khungcảnh nhịp điệu phố huyện diễn ra trước mắt từ lúc chiều tối cho tới tận khuya Chỉbấy nhiêu mà tác giả gợi bao xúc cảm trắc ẩn xót xa trong lòng người đọc

Sức lay động chủ yếu của Hai đứa trẻ chủ yếu xuất phát từ bức tranh phố huyện và

bức tranh tâm trạng, những rung động sâu xa tinh tế trong tâm hồn nhân vật Liên,nhân vật trữ tình hoá thân của tác giả

Bước vào thế giới Hai đứa trẻ, ta bắt gặp đầu tiên không gian phố huyện nghèo

nàn, nhỏ hẹp, văn học 1930 - 1945 hay nói đến những không gian hẹp, chật chội,lãng quên, những tỉnh nhỏ, tỉnh lẻ, phố huyện, ngõ hẻp, ga xép… nhưng ít có miềnđất nào thấm thía như cái phố huyện này Từ bức tranh thiên nhiên từ lúc chiều tàcho tới đêm khuya đến thước phim về đời sống con người diễn ra trong nhịp thờigian ấy, tất cả đều gợi ra vẻ tiêu điều, xơ xác, u sầu, tù đọng Mở đầu truyện ngắn

là khung cảnh chiều tà trong khoảnh khắc hoàng hôn "phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn", khung cảnh bình dị, đẹp

đẽ quen thuộc ấy vẫn khiến cô gái mới lớn phải ngậm ngùi thảng thốt: "Chiều, chiều rồi Một buổi chiều êm ả như ru…" Và bỗng dưng cái buồn của cảnh ngày tàn như thấm thía vào tâm hồn chị: "Liên ngồi yên lặng bên mấy quả thuốc sơn đen, đôi mắt chị bóng tối ngập dần và cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của chị Liên không hiểu sao, nhưng chị thây lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn" Ngày tàn gợi ra tâm trạng u hoài, man mác.

Còn chợ tàn gợi sự hiu hắt, xơ xác, tiêu điều TL chọn ngày chợ phiên, sự chọn lựa

đó càng làm rõ nét sự nghèo nàn của chốn quê này Trên bãi chợ và sân ga hiện rahình ảnh những cư dân phố huyện, những cư dân kiếm sống ban ngày là nhữngngười đi chợ, những đứa trẻ bới rác và chị em Liên Những người gánh gồng, bánmua sau phiên chợ để lại những rác rưởi toàn những bã mía, vỏ nhãn, vỏ bưởi, vỏthị… những phế thải thảm hại chứng tỏ cuộc sống nghèo nàn Họ đi khỏi, lũ trẻ bớirác ùa tới, nhặt nhạnh bòn mót trên đống phế thải tồi tàn, người nọ trông vào kẻ kia

mà sống, nhưng chỉ là trông vào vô vọng Khi những cư dân kiếm sống ban ngàyvừa ngập vào bóng tối thì những cư dân ban đêm quanh sân ga từ bóng tối kéo ra

Mẹ con chị Tí có lẽ là những nhân vật điển hình nhất cho cuộc sống lay lắt nơi phốhuyện Ngày thì mò cua bắt tép, cứ đêm đến lại đội cái chõng tre tàn ra sân ga bày

Trang 11

hàng nước bán dù biết hầu như chẳng có thể bán được gì Cuộc sống là một chuỗi ngày cầm cự, cầm chừng trong vô hi vọng Bác phỏ Siêu lưng vốn có vẻ khá hơn, nhưng nguy cơ cũng đáng sợ hơn, bởi món hàng của bác là một thứ quà xa xỉ ở chốn này Vợ chồng bác xẩm với tiếng đàn ế ẩm, não nề Dễ sợ nhất là bà Thi

điên… "Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hàng ngày của họ." Bao quanh họ là những đồ vật tàn, càng khắc đậm

thêm gương mặt âm u của phố huyện Không chỉ miêu tả hiện thực, TL còn thể hiện vòng tuần hoàn tù đọng của hiện thực, tương lai dường như chỉ là sự kéo dài của hiện tại ngán ngẩm Hai đứa trẻ trong một thế giới già nua, tăm tối, nhọc nhằn!

Bóng tối dày đặc nơi phố huyện làm thành bức phông nền đặc quánh đen kịt, dường như chỉ chực xâm chiếm và nuốt chửng những tia sáng yếu ớt nhỏ nhoi nơi đây Sự tương phản lấn át giữa bóng tối và ánh sáng, lụi tàn và sự sống gieo giắc vào lòng người đọc ám ảnh khôn nguôi Càng bị bóp nghẹt bởi bóng tối và sự lụi tàn, dường như nhân vật trong truyện càng thèm khát sự sống và ánh sáng, từng tia sáng, hột sáng nhỏ nhoi đều được phát hiện bằng đôi mắt nhìn đầy trân trọng nâng niu của hai chị em Liên Hà Nội của quá khứ vời xa cũng là một biến thể của ánh sáng: Hà nội rực rỡ và huyên náo, những cốc nước xanh đỏ… Đoàn tàu cũng là biến thể của ánh sáng và âm thanh vụt qua để lại một vệt sáng rạng rỡ của khát khao hi vọng

Vì thế mà hai đứa trẻ và hết thảy những cư dân ban đêm của phố huyện đều cố đợi chuyến tàu đêm đi qua, một chốc lát thoát khỏi bóng tối và sự tĩnh lặng tịch mịch vây hãm cuộc đời mỏi mòn của họ, một lối thoát trong khoảnh khắc và phần nhiều

là bằng tưởng tượng, mong chờ Bời vì con tàu đi qua đã đem theo nó một thế giới khác hẳn với ao đời bằng phẳng tù đọng nơi phố huyện, một thế giới sáng rực, huyên náo vui vẻ, lấp lánh… Song tuởng tượng, ngắm nhìn, lắng nghe, và cả dư vang… tất cả đều chỉ trong chốc lát, đếm tối và sự im lặng mênh mông lại trở về bao bọc Thông qua bức tranh phố huyện và diễn biến tâm trạng Liên, nhà văn đã gửi tới một tiếng nói đầy xót thương đối với những kiếp người nhỏ bé, cơ cực, sống quẩn quanh, bế tắc, không hạnh phúc, không ngày mai… đồng thời thấu tỏ lòng cảm thông trân trọng đối với những khát vọng mơ hồ âm thầm mà mãnh liệt của những kiếp người tàn ấy muốn vươn lên thoát khỏi thực tại cuôc sống mình

Về nghệ thuật, đây là một truyện không có cốt truyện, như một bài thơ thấm đẫm xót thương, tiêu biểu cho phong cách truyện ngắn trữ tình TL

2 Nhà mẹ Lê:

Mẹ Lê có một đàn con đông đúc tới 11 đứa, sống trong một phố chợ tồi tàn, mỗi đêm, mẹ con quấn vào nhau ngủ trong một cái ổ rơm, không khác gì một cái ổ chó

Trang 12

sương đến tối mịt để nuôi đàn con Năm ấy rét mướt, mất mùa, không ai thuê mướn, đàn con mẹ Lê ôm nhau rét run vì đói và lạnh Mẹ Lê đến nhà ông Bá xin ít gạo, bị chủ xua chó ra cắn, rồi lên cơn sốt, mấy hôm sau thì mất, để lại một đàn con bơ vơ, và

những người nghèo khác cảm thấy lo sợ vì "cái nghèo khổ cứ theo đuổi mãi không biết bao giờ dứt" Đây là truyện ngắn giàu chất hiện thực bậc nhất trong sáng tác

của TL, hiện thực đến quá ư đau đớn, phũ phàng Tác phẩm khiến người đọc thấm thía nỗi xót xa trước thảm cảnh đói nghèo dường như trở thành bi kịch truyền kiếp đầy bế tắc của những kiếp người khốn khổ dưới đáy Cảm xót thay cho mẹ Lê và đàn con nhỏ, cái sống quá đọa đày cùng cực mà cái chết quá chóng vánh dễ dàng!

3 Gió lạnh đầu mùa:

Đây là một câu chuyện bình dị, sáng trong và đầy cảm động Trong buổi sớm của những cơn gió đầu mùa, hai chị em Sơn xúng xính trong quần áo ấm thì thấy những bạn bè của chúng lại tím tái trong những bộ quần áo rách sờn Sơn và chị bàn nhau về lấy áo của nhà đem cho bé Hiên là đứa nhỏ nghèo nhất, đang run rẩy trong mảnh áo tả tơi Tình người được thể hiện sâu sắc thông qua tấm lòng nhân hậu vô tư và sự ngây thơ con trẻ

4 Dưới bóng hoàng lan:

Như phần đa các sáng tác của TL, đây là một truyện không có cốt truyện, cũng không chở một ý tưởng nào rõ rệt Chàng trai tên Thanh ra tỉnh làm việc, sau hai năm có dịp trở về ngôi nhà cũ,thăm lại mảnh vườn có cây hoàng lan toả bóng, gặp lại người bà hiền hậu và cô hàng xóm dịu dàng Tất cả vẫn như xưa, trong lành, ấm

áp, thân thuộc Bà chàng mái tóc bạc phơ, còn cô gái xinh xắn trong tà áo trắng,

Trang 13

mái tóc buông lơi trên cổ nhỏ Thanh được ngắm nhìn lại cây hoàng lan thân mộc,

lá cành xoè rủ tán, màu hoa có nắng vàng và hương mát thơm, dịu dàng hư thoảng.Bữa cơm có Nga cùng ăn, ấm cúng, thấm đầy những săn sóc âu yếm Họ dắt nhau

ra vườn hái hoàng lan như những ngày xa xưa nào Sáng hôm sau, Thanh ra đi,

nhắn gửi lại lời từ biệt cô gái và biết rằng "Nga sẽ vẫn đợi chàng, nhớ mong chàng như ngày trước" Tất cả chỉ là những cảm xúc rất thơ, rất ngọt ngào trìu mến êm ả

trong lành: Hạnh phúc là sự yên tĩnh trong tâm hồn, là được sống hài hoà gắn bótrong tình yêu thương, tình người đằm thắm

5 Tối ba mươi:

Tối ba mươi là khoảnh khắc giao thừa tủi buồn của hai cô gái giang hồ tên là Liên

và Huệ Liên đi mua vội vài món đồ về để cúng tất niên, Huệ ngủ vùi để rồi thứcdậy cùng chuẩn bị cho năm mới Hà thành tối tăm, mưa bụi, nhà săm đã hết khách,chỉ còn chơ vơ hai chị em xa cửa xa nhà Họ buồn thương cho nhau, họ nhớ về quêhương, tổ tiên, ông bà, nhớ lại những ngày tết nhà quê đầm ấm khi hai người còn ởtuổi thơ trẻ tươi vui vô tư lự Những thứ nghèo nàn được bày lên ban thờ, và đồđạc tiều tuỵ, ô uế chung quanh gợi nhắc về đời sống nhục nhằn của họ Liên vàHuệ cùng cố quên đi, cùng cố giấu những ý nghĩ xót xa chua chát, nhưng đến khibốn bề tiếng pháo cất lên, phút giao thời đã điểm, những giọt nước mắt mà họ cốnén đã trào ra Truyện ngắn là tấm lòng xót thương của văn sĩ TL hướng tới nhữngphận đời khốn khổ, chẳng tính toan chi đến địa vị thấp hèn và cuộc sống ô nhụccủa họ

6 Cô hàng xén:

Đó là câu chuyện về cuộc đời tảo tần với bao buồn vui của một cô gái bán hàngxén ở chợ quê - cô Tâm Mỗi bận đi chợ về, lòng Tâm thấy ấm lại trong cảnh giađình với bà mẹ già hiền từ cùng lũ em thông minh, ngoan ngoãn và yêu quý chị.Tâm biết mình xinh đẹp, nhiều con trai hay quẩn quanh, chòng ghẹo, nhưng cô ýthức bổn phận mình trước hết phải lo toan cho gia đình Gánh hàng xén của cô, vànhững bước chân của cô trên những con đường khắp chợ này chợ kia chính lànguồn nuôi sống cha mẹ già và lũ em thơ dại Rồi cô lấy chống, lấy cậu giáo Bàinho nhã nhưng nhà nghèo Trên vai cô lại thêm gánh nặng gia đình chồng Cô sinhcon, và không ai còn nhắc cô hàng xén xinh đẹp của ngày xưa nữa, cô vẫn tần tảosớm hôm trên những phiên chợ quê Cảnh nhà túng thiếu khiến cô càng phải thêm

cố gắng Về thăm mẹ, thăm em, thương em thiếu tiền sách vở, cô liền lấy nốt sốtiền đóng học cho chồng đưa cho em rồi quay về với tâm trạng lo lắng, nặng nề

"Tâm buồn rầu nhìn thấu cả cuộc đời nàng, cuộc đời cô hàng xén từ tuổi trẻ đến tuổi già, toàn khó nhọc và lo sợ, ngày nọ dệt ngày kia như tấm vải thô sơ Nàng cúi đầu đi mau vào trong ngõ tối." Chẳng phải nơi phố huyện nghèo nàn như trong Hai đứa trẻ, nhưng ở nơi thôn quê nghèo đói này, nhịp sống con người cũng

quẩn quanh tù đọng với những lo toan, nhọc nhằn, vất vả như thế Nhan sắc, hiếuthuận như Tâm cũng không thoát khỏi vòng quay của bánh xe đời mỏi mòn vô hi

Ngày đăng: 12/05/2021, 10:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w