1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

hướng dẫn học sinh tiếp cận các văn bản nghị luận trung đại trong chương tr̀nh ngữ văn 8

33 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hướng dẫn học sinh tiếp cận các văn bản nghị luận trung đại trong chương trình ngữ văn 8
Tác giả Phạm Thị Hồng Lơng
Trường học Trường THCS Minh Tân
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Báo cáo sáng kiến
Năm xuất bản 2018
Thành phố Nam Định
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 6,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tên sáng kiến: HƯỚNG DẪN HỌC SINH TIẾP CẬN CÁC VĂN BẢN NGHỊ LUẬN TRUNG ĐẠI TRONG CHƯƠNG TRèNH NGỮ VĂN 8 2.. HƯỚNG DẪN HỌC SINH TIẾP CẬN CÁC VĂN BẢN NGHỊ LUẬN TRUNG ĐẠI TRONG CHƯƠNG TRÌNH

Trang 1

Phòng giáo dục và đào tạo vụ bản

Nơi công tác: Trờng THCS Minh Tân

Minh tân, ngày 19/3/2018

1. Tên sáng kiến:

HƯỚNG DẪN HỌC SINH TIẾP CẬN CÁC VĂN BẢN NGHỊ LUẬN TRUNG ĐẠI TRONG CHƯƠNG TRèNH NGỮ VĂN 8

2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Trờng THCS Minh Tân

3 Thời gian áp dụng sáng kiến:

Trang 2

Chøc vô c«ng t¸c: Gi¸o viªn

N¬i lµm viÖc: Trêng THCS Minh T©n

Trang 3

HƯỚNG DẪN HỌC SINH TIẾP CẬN CÁC VĂN BẢN NGHỊ LUẬN TRUNG ĐẠI TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 8

I §iÒu kiÖn hoµn c¶nh t¹o ra s¸ng kiÕn

Văn học trung đại Việt Nam là bộ phận văn học gắn liền với một giai đoạn lịch sử

quan trọng của đất nước Giai đoạn lịch sử này đã để lại một di sản văn học vô cùngquý báu, đồ sộ về khối lượng; phong phú, đa dạng về nội dung; đạt tới đỉnh cao vềnghệ thuật Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu di sản này, chúng ta càng thêm gắn bó với

truyền thống cao đẹp của dân tộc Bởi lẽ “Mỗi tác giả với thiên tài của mình và giới

hạn của thời đại, phản ánh một thời kì lịch sử, đánh dấu một bước tiến của văn học, làm giàu thêm cho tư tưởng, tình cảm và tiếng nói Việt Nam”(Phạm Văn Đồng) Chúng ta có thể tìm thấy trong di sản này những hình ảnh tái hiện lại quá

khứ vinh quang nhưng không ít gian khó của dân tộc, để rồi từ đó có thể nhìn lạihiện tại một cách thấu đáo hơn và hướng đến tương lai Đối với nhà trường THCS,

di sản này đóng một vai trò rất quan trọng trong việc giáo dục, bồi dưỡng tư tưởng,tình cảm, đạo đức, quan điểm, lí tưởng thẩm mĩ cho học sinh Vì vậy hướng dẫntiếp cận các văn bản văn học trung đại theo hướng tích cực hóa hoạt động học tậpcủa học sinh là một vấn đề đã và đang được nhiều nhà nghiên cứu cũng như nhiềugiáo viên giảng dạy văn học quan tâm

II M« t¶ gi¶i ph¸p

1 M« t¶ gi¶i ph¸p tríc khi t¹o ra s¸ng kiÕn.

Trang 4

Trong nhiều năm trở lại đây, các phương pháp dạy học theo hướng tích cực đãđược chú trọng (kể cả việc ứng dụng công nghệ thông tin) Việc đổi mới chươngtrình và phương pháp giảng dạy khiến người giáo viên đứng lớp cần đổi mới cáchdạy học, đầu tư nhiều hơn trong quá trình giảng dạy Trên thực tế, việc giảng dạycác tác phẩm văn học Việt Nam trung đại ở trường THCS lại gặp không ít khó khăn,phần nhiều giáo viên e ngại giảng dạy các văn bản này Việc rút ngắn khoảng cách

để học sinh dễ dàng tiếp nhận nội dung văn bản là điều không đơn giản ( nhất là vớithế hệ giáo viên trẻ khi vốn kiến thức, hiểu biết văn hóa thời trung đại còn hạn chế).Bản thân giáo viên cũng còn nhiều lúng túng khi khai thác các tác phẩm văn học cổnhất là về mặt từ ngữ Các tác phẩm giai đoạn này hay dùng điển tích, điển cố và đểcho học sinh hiểu thấu đáo được phải giải thích thành một câu chuyện dài Cũng cókhi giáo viên chưa hiểu hết ý nghĩa của các điển cố đó vì chưa có điều kiện nghiêncứu, tìm hiểu kĩ càng vì vậy việc giải thích không thể giải thích cho học sinh hiểuthấu đáo được Trong quá trình giảng dạy văn học trung đại, giáo viên thường chỉchú ý khai thác nội dung làm toát lên những quan điểm tư tưởng của tác giả đề cập

mà ít chú ý đến vẻ đẹp về hình thức nghệ thuật của tác phẩm cũng như các vấn đề cóliên quan khác, vì thế việc dạy các tác phẩm nghị luận thường khô, không hấp dẫn.Hơn nữa có một thực tế phổ biến là học sinh không có hứng thú khi học văn họcViệt Nam trung đại, tình trạng ngại đọc sách, nghiên cứu tài liệu và không say mêvới việc tìm hiểu những vấn đề thuộc lĩnh vực trừu tượng này trở nên không cònhiếm ở các lớp Bên cạnh đó cái hay mỗi thời mỗi khác, có những cái mà quan niệmxưa cho là hay là đẹp thì nay đã trở nên xa lạ, nếu không có vốn tri thức nhất định về

Trang 5

văn hóa, văn học thì không thể hiểu được, vì thế các em không dễ có tâm thế sẵnsàng tiếp nhận văn bản đã ra đời cách nay nhiều thế kỉ.

Do đặc thù lịch sử nước ta và tính chất của văn nghị luận trung đại được coi

trọng Việc dạy - học văn nghị luận thật khó, dạy - học văn nghị luận ở cấp trunghọc cơ sở, cụ thể là ở lớp 8, lại càng khó hơn Từ tình hình thực tế, bản thân tôi saunhiều năm lên lớp, luôn băn khoăn, trăn trở làm thế nào để có thể giảng dạy các tácphẩm văn học Việt Nam trung đại đạt hiệu quả? Làm thế nào để học sinh tiếp cậntác phẩm văn học Việt Nam trung đại đễ dàng hơn? Từ việc tìm tòi, đúc kết kinhnghiệm trong thực tế giảng dạy những năm qua của bản thân và đông nghiệp, tôi đã

cố gắng điều chỉnh, vận dụng việc đổi mới phương pháp dạy – học Tôi nhận thấyhọc sinh học văn học Việt Nam trung đại khả quan hơn, hứng thú hơn Vì vậy tôi

mạnh dạn đưa ra một vài kinh nghiệm trong việc “ Hướng dẫn học sinh tiếp cận

các văn bản nghị luận trung đại trong chương trình Ngữ văn 8”

2 M« t¶ gi¶i ph¸p sau khi cã s¸ng kiÕn

A C¬ së lÝ luËn

Lí luận dạy học khẳng định: “ Nhà giáo là người có ảnh hưởng quyết định đối

với tất cả những đổi mới về nội dung và phương pháp dạy học” Theo đó người thầy

đóng vai trò chủ đạo trong việc tổ chức, điều khiển, định hướng, thiết kế quá trìnhdạy học, giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ, kĩnăng cơ bản và năng lực của bản thân Đối với giờ học văn, người thầy khi đứng lớpkhông chỉ dạy đủ kiến thức cơ bản, làm bật lên kiến thức trọng tâm, có sự liên kếtchặt chẽ giữa các phần, nội dung sát với trình độ học sinh mà còn phải làm thế nào

Trang 6

để thu hút được học sinh, khiến học sinh có thể tiếp cận, thâm nhập được tác phẩmvới sự chủ động, tích cực là một điều không hề đơn giản và càng khó hơn khi dạycác văn bản nghị luận trung đại Bởi lẽ, các văn bản nghị luận trung đại là nhữngvăn bản xuôi hoặc văn biền ngẫu trực tiếp viết về những vấn đề liên quan đến đờisống chính trị của quốc gia, dân tộc nên một trong những yếu tố quan trọng tạothành giá trị văn bản là tính chất của thể chế chính trị đương thời ( khác với hìnhtượng nghệ thuật do nhà văn hư cấu như ở văn chương thẩm mĩ) Cụ thể ở chương

trình lớp 8 có các thể như: Chiếu, hịch, cáo, tấu Chức năng của từng loại văn bản

được quy định chặt chẽ

Trong xu thế hội nhập hiện nay, việc tiếp cận các văn bản nghị luận trung đạigóp phần không nhỏ trong việc hình thành hệ thống quan điểm, tư tưởng cho thế hệtrẻ trong việc xử lí các vấn đề đặt ra trong cuộc sống một cách đúng đắn vừa phùhợp với tinh thần thời đại mới vừa đảm bảo tính quốc gia, dân tộc Trong khi đónhững văn bản nghị luận lại được giảng dạy và tiếp nhận với tư cách là một tácphẩm văn học vì thế cái khó của người dạy là vừa đảm bảo cho học sinh tiếp cậntính khách quan của tác phẩm vừa truyền lại những rung cảm của tác phẩm với tưcách là một sáng tạo nghệ thuật thực sự

B C¬ së thùc tiÔn

Trên thực tế, qua chương trình Ngữ văn lớp 7 các em đã được làm quen với các

văn bản nghị luận trung đại nhưng đều là các văn bản thơ và phần lớn các bài thơnày chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi phong các thơ Đường ( Trung Quốc) Đến chươngtrình Ngữ văn 8 các em sẽ được tiếp nhận bốn văn bản chính luận Việt nam trung

Trang 7

đại: Chiếu dời đô ( Thiên đô chiếu) của Lí công Uẩn, Hịch tướng sĩ của Trần

Quốc Tuấn, Nước Đại Viết ta ( trích Bình Ngô Đại Cáo) của Nguyễn Trãi, Bàn

luận về phép học ( Luận học pháp) của Nguyễn Thiếp Đây là những văn bản đặc

sắc viết về những vấn đề trọng đại của quốc gia Vì vậy với học sinh lớp 8, bốn vănbản với bốn thể loại khác nhau là những kiến thức vừa mới lại vừa khó mặc dù trongquá trình giảng dạy giáo viên luôn có ý thức trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm

vụ dạy học song những “ rào cản” về thời đại, tình trạng ngại đọc sách, đọc tài liệu

và không say mê với việc tìm hiểu những vấn đề thuộc lĩnh vực trừu tượng, khôkhan này đã và đang làm cho quá trình tiếp nhận các văn bản trung đại trở nên khókhăn, giờ học chỉ mang tính một chiều, không còn hứng thú

C Néi dung thùc hiÖn

1 Chuẩn bị cho tiết dạy – học

Việc chuẩn bị cho tiết dạy là một bước rất quan trọng Đối với một giờ dạy vănbản văn học trung đại:

- Giáo viên cần đọc kĩ văn bản, nghiên cứu tài liệu về lịch sử có liên quan đếntác giả, tác phẩm; nắm vững các chú thích, các điển tích, điển cố có trong bài; tìmtranh ảnh có liên quan để hỗ trợ tiết dạy; lưu ý hệ thống kiến thức cần truyền đạt đểxây dựng hệ thống câu hỏi hợp lý Giáo viên cần chú trọng vào việc tạo tâm lý, gâyhứng thú cho học sinh ngay từ đầu văn bản để học sinh có nhu cầu tiếp nhận nộidung; sau mỗi văn bản giáo viên cần lập sơ đồ tư duy, hệ thống hóa kiến thức để học

sinh nhớ bài học Chẳng hạn khi dạy bài Chiếu dời đô, giáo viên cần xem lại đặc

điểm địa lý của cố đô Hoa Lư, xã hội thời Lý, tiểu sử, công trạng của Lý Công Uẩn,

Trang 8

nền văn hóa thời Lý…; đối với Hịch tướng sĩ, giáo viên phải nhận rõ vai trò của

Trần Quốc Tuấn trong cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên, tội ác củagiặc Mông – Nguyên, tình hình triều Trần và quân sĩ lúc bấy giờ…

- Giáo viên phải hướng dẫn học sinh đọc kĩ văn bản, đọc kĩ chú thích; nắm rõcác từ khó, điển cố, điển tích; ghi ngắn gọn phần trả lời vào vở soạn; tìm hiểu cáccâu chuyện có liên quan đến sự kiện được đề cập đến trong văn bản Nếu học sinhkhông đọc hoặc đọc qua loa thì các em không thể hiểu được nội dung văn bản

2 Định hướng tiếp cận văn bản.

2.1 Tạo tâm thế, gây hứng thú cho học sinh.

Ở mỗi tiết dạy, mỗi giáo viên thường chú trọng phần giới thiệu bài Đây là

bước tạo tâm thế cho học sinh tiếp cận văn bản Với văn bản trung đại giáo viên cầngiới thiệu ngắn gọn, súc tích, liên quan trức tiếp đến sự kiện trong văn bản Giáoviên có thể sử dụng các câu hỏi gợi mở hoặc dùng tranh ảnh

Cách 1: Giáo viên sử dụng hệ thống câu hỏi:

Ví dụ: */ Đối với văn bản Hịch tướng sĩ có thể gợi mở như sau:

- Tiếp nối thắng lợi của triều Lí, nhà Trần đã để lại dấu ấn trong lịch sử bằng

sự kiện vẻ vang nào?

- Nói đến dấu ấn lịch sử vĩ đại ấy phải kể đến công của người anh hùng nào?

- Vậy Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã làm gì để có thể huy động đượcsức mạnh toàn quân làm nên chiến thắng vang dội đến như vậy?

Từ đó giới thiệu bài học

*/ Hay văn bản Nước Đại Việt ta

Trang 9

- Nước ta từ xưa đến nay có mấy văn bản được xem là Tuyên ngôn độc lậpcủa đất nước? Đó là những văn bản nào?

- Các em đã được học bản tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất ở lớp nào?

Từ đó giới thiệu bài học

Cách 2: Giáo viên sử dụng tranh ảnh:

*/ Với bài Chiếu dời đô

- GV cho học sinh quan sát tranh, nhận biết các sự kiện có liên quan rồi giớithiệu vào bài mới

Hình ảnh về cố đô Hoa Lư – Tràng An

Trang 10

Thăng Long xưa Hà Nội ngày nay

Thăng Long – Hà Nội 1000 năm tuổi

*/ Với văn bản Hịch tướng sĩ

Trang 11

Tín ngưỡng thờ đức thánh Trần trên mọi miền quê.

Từ việc giới thiệu tín ngưỡng thờ đức thánh Trần – Trần quốc Tuấn để vào bài

*/ Với bài Nước Đại Việt ta

Trang 12

Từ sự kiện giàn khoan 981, giáo viên gợi mở đến chủ quyền và các bản tuyênngôn độc lập rồi vào bài mới.

2.2 Hướng dẫn học sinh đọc văn bản và tìm hiểu chú thích.

Đọc – tìm hiểu chú thích cũng là cách để học sinh tiếp cận văn bản Với các vănbản nghị luận trung đại, bước này rất cần thiết vì ngôn ngữ trong văn bản khôngphải dễ hiểu Học sinh không chỉ đọc ở nhà mà còn đọc và tìm hiểu theo sự hướngdẫn của giáo viên để hiểu đúng theo đặc trưng thể loại và biết được các kiến thức có

Trang 13

liên quan Hướng dẫn học sinh đọc bài, giáo viên cần chú ý cách đọc văn bản vì cácvăn bản thường có kiểu văn biền ngẫu, giọng điệu cũng cần phải chuẩn mực, phùhợp.

Ví dụ:

- Với văn bản Chiếu dời đô, là lời của vua nên giọng điệu chung là trang trọng

nhưng có những câu cần nhấn mạnh sắc thái tình cảm tha thiết hoặc chân tình: “

Trẫm rất đau xót về việc đó”, “ Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để dịnh chỗ ở Các khanh nghĩ thế nào?”

Cho học sinh đọc kĩ chú thích ( * ) và chú thích 8

- Với bài Hịch tướng sĩ cố gắng chuyển đổi giọng điệu cho phù hợp với nội dung

của từng đoạn Cần chú ý tính chất cân xứng, nhịp nhàng của câu văn biền ngẫu Đọc kĩ chú thích ( * ) và các chú thích 17, 18, 22, 23

- Với bài Nước Đại Việt ta, cần đọc trang trọng, hùng hồn, tự hào Chú ý tính chất

câu văn biền ngẫu cân xứng, nhịp nhàng

Đọc kĩ chú thích ( * ) và các chú thích 1, 2, 3, 4

- Với văn bản Bàn luận về phép học lại đọc với giọng điệu chân tình, bày tỏ

thiệt hơn, vừa tự tin, vừa khiêm tốn

Đọc kĩ chú thích ( * ) và các chú thích 2, 3

2.3 Hướng dẫn học sinh hiểu được bối cảnh lịch sử - tác giả - tác phẩm.

Khi dạy các văn bản nghị luận trung đại, giáo viên phải dựng lại được không khívăn hóa văn hóa, lịch sử của thời đại, phải tạo được sự đồng cảm về văn hóa vănhọc Từ điểm xuất phát là hiện tại, giáo viên giúp học sinh trở lại quá khứ để học tập

Trang 14

cách cảm, cách nghĩ của người xưa Tác phẩm văn học trung đại lớp 8 là những tácphẩm có ý nghĩa lịch sử gắn liền với các sự kiện trọng đại của đất nước và tác giả lànhững vị vua, vị tướng, người có vai trò quan trọng gắn cuộc đời mình với vậnmệnh đất nước lúc bấy giờ Vì thế, nắm được bối cảnh lịch sử - tác giả - tác phẩm sẽgợi không khí thời đại góp phần soi sáng nội dung tác phẩm.

Ví dụ: */ Bài Chiếu dời đô cần nắm được:

+ Vương triều Tiền - Lê vào đầu thế kỉ XI lâm vào khủng hoảng cực điểm + Cần có người đứng đầu đất nước hội tụ: Nhân, Đức, Giản và Trí Ở Lý CôngUẩn đã hội tụ những phẩm chất đó

+ Sau khi được tôn lên làm vua, ông nhận thấy Hoa Lư chật hẹp, không thể mởmang làm chỗ đô hội được

+ Việc dời đô không chỉ có ý nghĩa với triều Lý mà còn mở ra kỉ nguyên quốcgia Đại Việt độc lập và thể hiện niềm tự hào dân tộc về đất nước đang trên đà lớnmạnh

*/ Bài Hịch tướng sĩ cần nắm được:

+ Nhấn mạnh thời điểm xuất hiện của nó ( năm 1284) và lí do vì sao TrầnQuốc Tuấn lại viết bài hịch này Cần chú ý vào thế giặc, sự ngông cuồng của kẻ thù

và tư tưởng dao động, cầu hòa của một bộ phận trong hàng ngũ tướng sĩ

+ Công lao của Trần Quốc Tuấn trong hai cuộc kháng chiến chống Nguyên –Mông và sự tận trung, tận lực của ông

+ Hào khí Đông A

2.4 Hướng dẫn học sinh nắm được đặc trưng thể loại.

Trang 15

Trong chương trình văn THPT, học sinh tiếp xúc với nhiều thể loại văn họctrung đại khác nhau như: thơ Đường, cáo, phú, văn tế, truyện thơ, Mỗi thể loại cómột kết cấu riêng mang đặc trưng riêng Ở chương tình Ngữ văn 8, các văn bản

tương ứng với các thể loại như sau: Chiếu dời đô ( thể Chiếu), Hịch tướng sĩ ( thể Hịch), Nước Đại Việt ta ( thể Cáo), Bàn luận về phép học ( thể Tấu) Do đó, trước

khi tiếp xúc với các văn bản, giáo viên cần giới thiệu cho học sinh một cách đầy đủ

và rõ ràng về đặc trưng thể loại đó để học sinh có thể tự mình tiếp cận tác phẩm

* Về thể loại:

- Chiếu: Là thể văn cổ, do vua chúa hay thủ lĩnh dùng để ban bố mệnh lệnh.

- Hịch: Là thể văn nghị luận xưa thường được vua chúa hay tướng lĩnh, thủ

lĩnh một phong trào dùng để cổ động, thuyết phục hoặc kêu gọi đấu tranh chống thùtrong giặc ngoài

- Cáo: Là một thể văn nghị luận cổ, thường được vua chúa, hoặc thủ lĩnh dùng

để trình bày một chủ trương hay công bố kết quả một sự nghiệp để mọi người cùngbiết

- Tấu: Là một văn thư của bề tôi, thần dân gửi lên vua chúa để trình bày sự

việc, ý kiến, đề nghị

Như vậy xét về thể loại cần cho học sinh thấy sự khác nhau:

+ Về mục đích:

- Chiếu: Trình bày một chủ trương, đường lối để mọi người chấp thuận

bằng cách dùng lí lẽ để lập luận hướng tới mục đích

Trang 16

- Hịch: Kêu gọi, cổ vũ động viên bằng cách dùng tình cảm và lập luận để tác

động vào tinh thần

- Cáo: Công bố kết quả của một sự nghiệp bằng cách nêu quan điểm lập

trường của sự nghiệp đó

- Tấu: Nêu ý kiến, đưa đề nghị bằng cách lập luận xác đáng và thuyết phục.

+ Về đối tượng viết và nhận:

- Chiếu, Hịch Cáo: Do vua, chúa hoặc thủ lĩnh viết và thần dân, binh lính

Ví dụ: Hịch tướng sĩ sau khi tố cáo tội ác của kẻ thù để tô đậm nỗi đau

mất nước, khơi dậy lòng căm thù, danh dự làm tướng của các tì tướng Trần Quốc

Tuấn đã trực tiếp bộc lộ cảm xúc “ Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối ruột

đâu như cắt, nước mất đầm đìa, chỉ căm tức sao chưa xả thịt, lột da,nuốt gan uống máu quân thù, dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng”

Với bài Chiếu dời đô để tạo sự đồng cảm giữa mệnh lệnh của vua với thần

dân, Lý Công Uẩn thuyết phục người nghe bằng lí lẽ chặt chẽ và bằng tình cảm chân

Ngày đăng: 12/05/2021, 10:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w