1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

các dạng bài tập điển hình giúp học sinh lớp 4 phân biệt được loại từ

21 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 196,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được tầm quan trọng trong của việc dạy Tiếng Việt, qua nhiềunăm nghiên cứu và giảng dạy lớp 4, lại được phân công bồi dưỡng học sinh giỏi, tôi đã tập trung nghiên cứu đề tài: “

Trang 1

Thông tin chung về sáng kiến

1/Tên sáng kiến:

CÁC DẠNG BÀI TẬP ĐIỂN HèNH GIÚP HỌC SINH LỚP 4 PHÂN

BIỆT ĐƯỢC LOẠI TỪ

Nơi làm việc: Trờng Tiểu học A Xuân Hồng

Địa chỉ liên hệ: Trờng Tiểu học A Xuân Hồng

Điện thoại: 0978 720 235

Tỷ lệ đúng gúp tạo ra sỏng kiến: 65%

5/Đơn vị áp dụng sáng kiến:

Tên đơn vị:Trờng Tiểu học A Xuân Hồng

Địa chỉ: Xuân Hồng – Xuân Trờng – Nam Định

Điện thoại:03503 886 984

I ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN:

1 Lý do chọn đề tài

Trang 2

Môn Tiếng Việt ở trường phổ thông có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạtđộng ngôn ngữ cho học sinh Năng lực hoạt động ngôn ngữ được thể hiệntrong bốn dạng hoạt động, tương ứng với chúng là bốn kỹ năng: nghe, đọc,nói, viết Với mục tiêu hình thành và phát triển ở học sinh Tiểu học các kỹnăng sử dụng tiếng Việt( nghe, đọc, nói, viết) và cung cấp những kiến thức sơgiản, gắn trực tiếp với việc học tiếng Việt, nhằm tạo ra ở học sinh năng lựcdùng tiếng Việt để học tập ở cấp Tiểu học và cấp học cao hơn, để giao tiếptrong các môi trường hoạt động lứa tuổi Thông qua việc dạy tiếng Việt, gópphần rèn luyện cho học sinh các thao tác tư duy cơ bản (phân tích, tổng hợp,phán đoán ) đồng thời cung cấp cho các em những hiểu biết sơ giản về xãhội, tự nhiên và con người, về văn hoá, văn học Việt Nam và nước ngoài để

từ đó góp phần bồi dưỡng tình yêu, cái đẹp, cái thiện, lòng trung thực, lòngtốt, lẽ phải và sự công bằng xã hội; góp phần hình thành lòng yêu mến và thóiquen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, hình thành nhân cách con

người Việt Nam hiện đại: có tri thức, biết tiếp thu truyền thống tốt đẹp của dân tộc, biết rèn luyện lối sống lành mạnh, ham thích làm việc và có khả năng thích ứng với cuộc sống xã hội sau này.

Với mục tiêu như trên, môn Tiếng Việt đóng vai trò hết sức quan trọng,giúp học sinh chiếm lĩnh tri thức mới, hình thành và phát triển năng lực sửdụng tiếng Việt trong học tập và trong giao tiếp Vì vậy ngay từ những ngàyđầu đến trường, học sinh đã làm quen với Tiếng Việt qua việc học âm, vần,tiếng, từ ở lớp 1, các kiểu câu đơn giản ở lớp 2, các từ loại cơ bản ở lớp 3, cácbiện pháp tu từ nghệ thuật quen thuộc hoặc cấu trúc về câu, cụm từ, nghĩa củatừ… ở lớp 4,5 Từ đó, các em có hiểu biết về quy tắc cấu tạo từ, nắm chắc quytắc dùng từ đặt câu và tạo văn bản để sử dụng trong giao tiếp Trên cơ sở đó,học sinh nắm được quy tắc chính tả, dấu câu, nắm chuẩn văn hóa lời nói

Trong thực tế giáo viên Tiểu học gặp nhiều khó khăn khi dạy TiếngViệt đặc biệt là giáo viên dạy lớp 4 Những kiến thức về từ và câu được cung

Trang 3

cấp khá nhiều, khá sâu, chương trình lại cấu trúc theo kiểu đồng tâm nên nếukhông nắm được kiến thức ở lớp dưới, các em sẽ khó tiếp thu được kiến thứcmới ở lớp trên Chính vì thế, dạy Tiếng Việt là nhiệm vụ vô cùng quan trọng.Trong chương trình lớp 4, việc phân biệt từ láy và từ ghép là một vấn đềkhông hề đơn giản với học sinh ( nhất là những từ dễ nhầm lẫn) Trong khi đó

tư duy của học sinh Tiểu học chủ yếu thiên về cụ thể chưa phát triển tư duytrừu tượng Điều này đòi hỏi giáo viên cần phải tìm ra được biện pháp dạyhọc thích hợp với tâm lý nhận thức của các em, xây dựng hệ thống bài tậpthực hành sao cho đa dạng, sinh động, thiết thực để các em vận dụng mộtcách hiệu quả

Nhận thức được tầm quan trọng trong của việc dạy Tiếng Việt, qua nhiềunăm nghiên cứu và giảng dạy lớp 4, lại được phân công bồi dưỡng học sinh

giỏi, tôi đã tập trung nghiên cứu đề tài: “ Các dạng bài tập điển hình giúp học sinh lớp 4 phân biệt được loại từ ” với mong muốn góp phần nâng cao chất

lượng dạy Tiếng Việt ở trường Tiểu học nói chung và lớp 4 nói riêng

2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:

2.1 Đối tượng: Học sinh lớp 4A trường Tiểu học A Xuân Hồng

2.2.Phạm vi:

- Nghiên cứu sách giáo khoa, sách giáo viên và các tài liệu có liên quan

- Các câu trả lời, các bài làm của học sinh, phương pháp dạy của giáo viên

để rút kinh nghiệm, tìm ra biện pháp có hiệu quả trong việc rèn kỹ năng chohọc sinh

3 Phương pháp nghiên cứu:

3.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận: Đọc các tài liệu, giáo trình có liên

quan đến vấn đề nghiên cứu

Trang 4

3.2 Phương pháp điều tra quan sát : Thông qua dự giờ, phỏng vấn giáo

viên, học sinh Phương pháp này giúp tôi thấy được những ưu điểm và tồn tạicủa giáo viên, học sinh trong quá trình giải nghĩa từ

3.3 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Việc nghiên cứu phải bám sát

thực tiễn dạy & học Tiếng Việt Mục đích của việc nghiên cứu những kinhnghiệm của GV là để tìm kiếm, khái quát hoá, đánh giá và phổ biến những cáimới và có giá trị Đồng thời việc nghiên cứu này còn có mục đích xác địnhtrình độ của GV và HS mà khoa học và phương pháp cần phải lấy làm chỗdựa

3.4.Phương pháp kiểm tra đánh giá.

Phương pháp này được áp dụng trước và sau khi tiến hành các biện pháp

để đánh giá mức độ của học sinh

Trang 5

II MÔ TẢ GIẢI PHÁP

1 Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến:

Do đặc thù của công việc, được phân công giảng dạy lớp 4 ( tuy chỉ 2 tiết/tuần) song qua quá trình giảng dạy của bản thân cũng như qua khảo sát thâmnhập thực tế trong các tiết dạy của các đồng nghiệp ở các khối lớp( đặc biệt làlớp 4) tôi nhận thấy một số thực trạng sau :

* Tình hình học tập của học sinh hiện nay so với học sinh các năm trước

có những tiến bộ đáng kể, nhất là khả năng giao tiếp Học sinh đã tự tin khitrình bày ý kiến trước đám đông, có khả năng cảm thụ cái hay, cái đẹp của cáctác phẩm văn học và được học nhiều kiến thức mới so với nội dung chươngtrình cũ như thuyết trình, tranh luận, phát biểu cảm nghĩ…Tuy nhiên về phần

từ và câu, các em còn mắc phải những hạn chế sau:

- Kĩ năng nhận diện từ, phân cắt các đơn vị từ trong câu còn nhiều sai lệch

- Kĩ năng phân loại và nhận diện theo cấu tạo còn nhiều lầm lẫn

- Kĩ năng nhận diện và phân tích các thành phần câu chưa thật chính xác

- Kĩ năng xác định từ loại còn hạn chế

Trong các hạn chế trên, mặt nào cũng cần khắc phục Tuy nhiên, trong

phạm vi đề tài này, bản thân tôi muốn trình bày sâu một vấn đề Đó là kĩ năng phân loại và nhận diện từ theo cấu tạo còn nhiều hạn chế Ở đơn vị kiến thức

này, học sinh thường mắc lỗi như sau:

+ Học sinh còn xác định sai từ ghép khi cả hai tiếng có bộ phận của tiếnggiống nhau như các từ: nhân dân, mệt mỏi, buồn bực…

+ Học sinh chưa nhận dạng được các từ láy đặc biệt khuyết phụ âm đầu làcác từ tượng thanh, tượng hình

+ Học sinh không phân biệt được từ ghép phân loại và từ ghép tổng hợptrong các trường hợp từ đó có tiếng gốc là một động từ hay một tính từ

+ Học sinh có vốn từ ghép và từ láy có 3 hay 4 tiếng rất hạn chế, ít ỏi

Trang 6

Vì sao học sinh lại mắc những tồn tại trên, trước hết ta phải tìm hiểu từ nộidung SGK, phương pháp giảng dạy của giáo viên, điều kiện học tập của họcsinh và một số vấn đề có liên quan khác.

* Thực trạng của nội dung SGK giảng dạy chương trình chính khóa đanghiện hành và phương pháp giảng dạy của giáo viên:

a Ưu điểm

SGK đang hiện hành được biên soạn theo quan điểm tích hợp, quan điểmgiao tiếp và quan điểm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh Sự thểhiện các quan điểm này trong SGK được thể hiện rất rõ ràng Các kiến thứchọc sinh được học đan xen, kiến thức về từ học cùng với kiến thức về câu,học sinh vừa học miêu tả ở tiết trước, tiết sau lại được làm quen với đơn từ.Kiến thức ở bài sau được mở rộng hơn sơ với bài trước Hệ thống kiến thứcđược cung cấp chú ý nhiều đến việc rèn kĩ năng giao tiếp nên học sinh khôngnhững nghe đọc tốt hơn và viết nói cũng tốt hơn Để giúp cho học sinh tiếpthu tốt những kiến thức đó, giáo viên phải sử dụng nhiều phương pháp dạyhọc, đặc biệt là phương pháp tích cực

b Tồn tại

Đó là: thời lượng dạy mảng kiến thức về từ láy và từ ghép quá ít

Vậy làm thế nào để các em không bị lúng túng khi học các loại từ này ?

Đó chính là điều mà tôi luôn trăn trở Để có thể làm được việc đó tôi đãnghiên cứu rất kĩ lý luận về phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học, tìmđọc, tham khảo các tài liệu có liên quan

Để tìm hiểu vấn đề này, ngay từ khi nhận lớp tôi đã tiến hành phươngpháp điều tra, khảo sát, đàm thoại với các em

Qua tìm hiểu, tôi đã rõ được nguyên nhân và mức độ giải nghĩa từ củahọc sinh lớp tôi thường yếu như sau:

+) Nguyên nhân khách quan: Do hoàn cảnh gia đình, do điều kiện vềthời gian, sách vở, qua giao tiếp

Trang 7

+) Nguyên nhân chủ quan: Do tâm lý lứa tuổi các em còn ngây thơ,chưa thực sự chú ý, chưa có sự hiểu biết đúng đắn, do nhận thức Các em

đều cho rằng chỉ cần nắm được từ phức là đủ, đã có thầy cô giúp đỡ, cốt cứđọc thông viết thạo là được

Do vậy, khi tiến hành điều tra khảo sát tại lớp được phân công giảng dạy,tôi đã thống kê được kết quả ban đầu như sau :

Các lỗi học sinh thường mắc phải Số lượng Tỷ lệ(%)

Học sinh còn lẫn lộn giữa từ láy và từ ghép 12 37,5

2 Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến:

Sau đây tôi xin trình bày các dạng bài dạy tôi đã áp dụng để củng cốkiến thức về cấu tạo từ cho học sinh lớp tôi

Trang 8

a Dạng bài dạy luyện tập về từ láy: Ở dạng này tôi đã giúp học sinh

cách nhận dạng từ láy, tìm từ láy và biết sử dụng từ láy để viết đoạn văn cho

náo nức chuẩn bị cho ngày đến trường vào năm học mới »

Sau khi cho học sinh làm bài tập trong nhóm, tôi đã kiểm tra kết quảlàm việc của các nhóm thông qua việc báo cáo qua trò chơi “tiếp sức” Trongthời gian 2 phút đội nào làm xong trước là đội đó chiến thắng Kết quả tôi đã

có được kết quả của 2 đội như sau:

Nếu chỉ dừng lại ở đó, theo tôi chưa đủ Để các em ghi nhớ lâu về dạng

bài tập này, tôi đã nhấn mạnh lại kiến thức sau: Từ phức được chia làm 2 loại.

Từ láy và từ ghép Từ láy là những từ có bộ phận của tiếng được láy lại giống nhau Từ ghép là từ có nhiều tiếng được ghép lại với nhau để tạo nên một nghĩa chung Từ âm u là từ láy đặc biệt Đây là từ láy tượng hình khuyết phụ

âm đầu( chỉ có vần)

Trang 9

Sau đó tôi yêu cầu khoảng 5 HS nối tiếp nhau tìm thêm các từ láy đặc biệt.

* Bài tập 2: Tìm từ láy

Trước tiên tôi yêu cầu HS nêu lại các kiểu từ láy đã được học Các em

đều nêu được Đó là láy âm, láy vần, láy âm và vần, láy tiếng.

Sau đó tôi đưa ra bài tập: Hãy xếp các từ láy cho sau đây vào 4 nhóm

cho phù hợp: mát mẻ, xanh xanh, cục cằn, linh tinh, bối rối, cuồn cuộn, trăng trắng, cần cù, đo đỏ, xinh xắn, hư hỏng, cào cào, chuồn chuồn, lao xao, vui vui, châu chấu.

Sau đó, tôi tổ chức cho các em trò chơi Ai nhanh? Ai đúng?

Qua hoạt động này tôi rất phấn khởi vì phần lớn học sinh lớp tôi đều đãxếp được các kiểu từ láy vào mỗi nhóm thật chính xác

Nhóm 1: láy âm: mát mẻ, xinh xắn, hư hỏng, cục cằn

Nhóm 2: Láy vần: lao xao,, linh tinh, bối rối,

Nhóm 3: Láy âm và vần: cuồn cuộn, trăng trắng, đo đỏ, châu chấu

Nhóm 4: Láy tiếng: xanh xanh,chuồn chuồn, vui vui

* Bài tập 3: Viết đoạn văn ngắn trong đó có sử dụng từ láy

Ở đây tôi đã cho các em làm bài cá nhân và đọc lại bài làm của mình đồngthời chỉ rõ các từ láy được sử dụng trong đoạn văn vừa viết Khi chấm bài tôi

đã có kết quả khá bất ngờ Các em đã viết được đoạn văn giàu hình ảnh, xúctích, sử dụng từ láy khá nhuần nhuyễn

Sau đây là bài làm của em Nguyễn Thanh Hương lớp 4A

* Tả hình dáng em bé

Tháng mười này, Gia Bảo vừa tròn một tuổi Vóc người mũm mĩm, tròn lăn lẳn Tuy là con trai nhưng bé có làn da trắng nõn, lúc nào cũng hồng lên mịn màng Khôn mặt đáng yêu tròn xoe như vầng trăng đêm rằm Đôi má phúng phính còn thơm mùi sữa mẹ lúc nào cũng ửng màu da đào Đôi môi đỏ như son, cong cong, tê tễ trông đến là ngộ Bé hay toe toét cười để lộ mấy cái răng cửa trắng tinh, chỉ tội hơi thưa Em thích nhất là đôi mắt đen láy, tròn

Trang 10

như hai hạt nhãn với cái nhìn trong veo của bé Đã thích cái gì, bé nhìn mãi không chớp mắt Mái tóc mềm, lưa thưa vài sợi Đặc biệt mé bên phải đầu là một túm tóc đen mượt, mọc dày đúng hình trái đào, trông thật ngộ nghĩnh Vì thế, cả nhà âu yếm gọi bé là “ Nhất mao”.

b Dạng bài dạy luyện tập về từ ghép

Ở dạng bài tập này, tôi đã giúp học sinh ôn lại kiến thức về từ ghép thông qua các dạng bài tập nhận dạng, tìm từ và viết đoạn văn có nội dung cho trước.

Tôi tiến hành cho học sinh làm một số bài tập sau:

ghi từ vào các cột cho đúng Đội nào nhanh hơn và đúng sẽ là đội thắng cuộc.Sau đó dựa vào kết quả bài làm đúng của học sinh tôi đã chốt lại ý sau:

Từ láy là những từ có bộ phận của tiếng được láy lại giống nhau Từ ghép

là từ có nhiều tiếng được ghép lại với nhau để tạo nên nghĩa chung Trong từ ghép lại có 2 kiểu Từ ghép có nghĩa tổng hợp và từ ghép có nghĩa phân loại.

* Bài tập 2: Phân biệt từ ghép

Từ bài tập 1, dựa vào các từ ghép vừa tìm được: Mặt mũi, buôn bán,

thúng mủng, thuyền bè, nóng nực, mát mặt, tôi đặt câu hỏi:

? Em có nhận xét gì về nghĩa của các tiếng trong từ ghép vừa tìm được?

(Các tiếng đều có nghĩa rõ ràng) Từ đó tôi chốt kiến thức với học sinh: Các

từ ghép mà cả 2 tiếng đều có nghĩa rõ ràng đó là từ ghép tổng hợp.

Trang 11

? Vậy từ ghép phân loại có đặc điểm gì? Tôi đưa ra các VD tiếp theo: Các

từ: Xanh um, xe đạp: có phải là từ ghép tổng hợp hay không? Vì sao?

HS lớp tôi đã dễ dàng đưa ra câu trả lời: Không phải là từ ghép tổng hợp vìtrong từ xanh um thì tiếng um có nghĩa không rõ ràng, còn trong từ xe đạp từtiếng đạp có tác dụng làm rõ nghĩa cho tiếng thứ nhất( xe)

Từ đó tôi yêu cầu học sinh khái quát câu trả lời về từ ghép phân loại: Từ ghép phân loại thường chỉ có 1 tiếng có nghĩa rõ ràng, một tiếng mờ nghĩa (không rõ ràng) hoặc cả 2 tiếng đều có nghĩa nhưng tiếng thứ hai lệ thuộc vào tiếng thứ nhất và giúp cho từ đó có nghĩa phân biệt.

Sau đó tôi đưa ra bài tập để các em tự luyện:

1 Hãy chia các từ ghép cho sau đây thành 2 nhóm: Từ ghép tổng hợp và

* Bài tập 3: Viết đoạn văn

Tôi yêu cầu HS viết một đoạn văn có sử dụng từ ghép phân loại và từghép tổng hợp, gạch chân dưới các từ ghép đã dùng

Tôi gọi một số HS đọc bài làm của mình và tổ chức cho lớp nhận xét.Đồng thời qua các hoạt động vừa diễn ra trong tiết học các em đã đưa ra được

Trang 12

ý kiến chung: Có hai cách giúp phân biệt nhanh từ ghép tổng hợp và từ ghépphân loại là:

- Dựa vào nghĩa

- Dựa vào cấu tạo của từ.

c Dạng bài: phân biệt từ láy và từ ghép

Để học sinh phân biệt tốt từ láy và từ ghép, tôi đã tiến hành một số dạngbài tập cơ bản, điển hình như sau:

*Bài tập 1: Phân biệt từ láy và từ ghép

Hãy xếp các từ cho sau đây thành 2 nhóm: Từ láy và từ ghép?

Mát mẻ, bờ cõi, mong ngóng, đất nước, mồm miệng, mập mờ, ồn ào, kính coong, lao xao.

Tôi đã tiến hành cho HS tham gia trò chơi Ai là người nhanh nhất sau

đó đặt câu hỏi để khắc sâu kiến thức cho các em?

? Em có biết vì sao từ mong ngóng, mồm miệng có bộ phận giống nhau

mà không phải từ láy? Theo em vì sao từ ồn ào, kính coong không có bộ phậnnào giống nhau mà lại là từ láy

Sau khi HS đã đưa ra câu trả lời, tôi chốt lại ý kiến sau:

Khi 2 tiếng trong từ đều có nghĩa thì dù có bộ phận của tiếng giống nhau cũng là từ ghép.Trong tiếng Việt có từ láy đặc biệt khuyết phụ âm đầu như:

ầm ĩ, ồn ào và âm c, k, q là các hình thức viết khác nhau của âm c nên ồn ào, kính coong …là từ láy.

Sau đó tôi cho HS nhắc lại nhiều lần và ghi vào vở nội dung kiến thức này.

Trang 13

Xinh xắn

Mát tayĐậm

* Bài tập 3: Điền từ còn thiếu?

Hãy điền một từ còn thiếu vào giữa sao cho được 2 từ: một từ ghép và một

từ láy? Cho biết đâu là từ ghép? đâu là từ láy?

Để thay đổi không khí cho tiết học đỡ nhàm chán, tôi đã tổ chức cho các

em làm bài tập này qua trò chơi: hái hoa dân chủ Kết quả thật bất ngờ: Em nào cũng điền đúng và giải thích rất rõ ràng về các từ tìm được.

Bước 1: Phân tích đề Yêu cầu các em nêu các con vật có ích trong gia

đình mình đồng thời tìm ra các từ láy cần sử dụng khi viết về con vật đó

Bước 2: Học sinh viết đoạn văn.

Bước 3: Học sinh đổi chéo bài kiểm tra.

Bước 4: GV gọi HS đọc và chữa bài.

Ngày đăng: 12/05/2021, 10:06

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w