PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO XUÂN TRƯỜNG TRƯỜNG THCS XUÂN NINH BÁO CÁO SÁNG KIẾN RÈN KĨ NĂNG SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC SINH HỌC 9 Tác giả: Trần Thị Hảo Trình độ chuyên môn: Đại
Trang 1(TÊN CƠ QUAN, ĐƠN VỊ CHỦ QUẢN) (TÊN CƠ QUAN ÁP DỤNG SÁNG KIẾN)
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
(Tên sáng kiến)
Tác giả:
Trình độ chuyên môn:
Chức vụ:
Nơi công tác:
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN 1 Tên sáng kiến:
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO XUÂN TRƯỜNG TRƯỜNG THCS XUÂN NINH
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
RÈN KĨ NĂNG SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY
TRONG DẠY HỌC SINH HỌC 9
Tác giả: Trần Thị Hảo Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm Sinh Chức vụ: Giáo viên
Nơi công tác: Trường THCS Xuân Ninh
Nam Định, ngày 20 tháng 5 năm 2020
Trang 2THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1 Tên sáng kiến: Rèn kĩ năng sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học sinh học 9
2 Lĩnh vực (mã)/cấp học: Sinh học 9 / THCS
3 Thời gian áp dụng sáng kiến:
Từ ngày 5 tháng 9 năm 2016 đến ngày 30 tháng 6 năm 2019
4 Tác giả:
Họ và tên: Trần Thị Hảo
Năm sinh: 1992
Nơi thường trú: Xuân Ninh – Xuân Trường – Nam Định
Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm sinh học
Chức vụ công tác: Giáo viên
Nơi làm việc: Trường THCS Xuân Ninh
Điện thoại: 0345741565
Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến: 100%
5 Đơn vị áp dụng sáng kiến:
Tên đơn vị: Trường THCS Xuân Ninh
Địa chỉ: Xã Xuân Ninh – Huyện Xuân Trường – Tỉnh Nam Định
Điện thoại: 02283.885.452
Trang 3BÁO CÁO SÁNG KIẾN
“RÈN KĨ NĂNG SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC SINH HỌC 9”
I ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
Nhiệm vụ hàng đầu và quan trọng nhất của ngành Giáo dục và Đào tạo nói chung
và của mỗi giáo viên nói riêng là nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy Đổi mới phương pháp giảng dạy chính là một biện pháp thiết thực nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học Thực hiện dạy học dựa vào hoạt động tích cực, chủ động , sáng tạo của học sinh với sự tổ chức và hướng dẫn thích hợp của giáo viên, nhằm phát triển tư duy độc lập, góp phần hình thành phương pháp và nhu cầu, khả năng tự học, tự bồi dưỡng hứng thú học tập, tạo lập niềm tin và vui thích trong học hành
Để thực hiện mục tiêu và nội dung dạy học, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học theo cách lấy người học là trung tâm Bản chất của dạy học lấy người học làm trung tâm là phát huy cao độ tính tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo của người học
Để làm được điều đó thì vấn đề đầu tiên mà người giáo viên cần nhận thức rõ ràng
là quy luật nhận thức của người học Người học là chủ thể hoạt động chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng kĩ sảo và thái độ chứ không phải là “ cái bình chứa kiến thức” một cách thụ động
Bên cạnh đó đối với học sinh các trường THCS nói chung và học sinh lớp 9 trường THCS Xuân Ninh nói riêng, áp lực thi tổng hợp 9 môn học làm học sinh thấy bối rối, nặng
nề Đặc biệt với môn Sinh học lớp 9 học sinh còn chủ quan, coi nhẹ và đôi khi còn coi là môn phụ mà không biết đây là môn học mà về mặt thi cử được coi là môn gỡ điểm còn đối với thực tế và là môn ứng dụng thực tiễn trong cuộc sống cực kì nhiều Thay vì để học sinh học bài nào biết bài đấy mà học trước quên sau, cô lập nội dung các bài, các kiến thức mà chưa có tư duy logic và tư duy hệ thống Xuất phát từ mục đích đó, giáo viên ai cũng trăn trở làm sao phải tìm ra cho mình một phương pháp dạy học hữu hiệu nhất, phù hợp với đối tượng học sinh Do vậy mà phải có phương pháp giáo dục, dạy học phù hợp, hiệu quả
Được biết đến não bộ của con người chia thành bán cầu não trái và bán cầu não phải não của con người có khả năng ghi nhớ và khắc ghi các hình ảnh có màu sắc nổi bật lâu hơn là chỉ đơn thuần là chữ hay những hình ảnh không có màu
3
Trang 4Từ những lý do trên, tôi hình thành ý tưởng đó là ứng dụng BĐTD trong các nội dung bài học để phát huy tối đa năng lực của mỗi cá nhân trong hiệu quả học tập cũng nhưng năng lực hợp tác nhóm trao đổi kiến thức hình thành bài học một cách tốt nhất Vì vậy tôi lựa chọn đề tài “ Rèn kĩ năng sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học sinh học 9”
II MÔ TẢ GIẢI PHÁP
1 Giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
1.1 Kết quả khảo sát
- Khảo sát học sinh tháng 10/2016 năm học 2016 - 2017 về bài tập về sơ đồ tư duy học cho học sinh lớp 9B, 9C trường THCS Xuân Ninh, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định như sau:
Đề bài: Sau khi học xong bài 1: Menđen và di truyền học, bằng sơ đồ tư duy các em hãy
tóm tắt sơ lược kiến thức
Đáp án:
o
Trang 5Kết quả khảo sát
lượng Tỉ lệ
1.2 Nguyên nhân
- Học sinh chưa có kĩ năng cụ thể về sơ lược kiến thức bằng sơ đồ tư duy
- Đây là phương pháp dạy học mới nên học sinh không tránh khỏi lúng túng trong một số kĩ năng như sử dụng như thế nào, vẽ, ý tưởng
- Nội dung môn Sinh học lớp 9 khô, khó và rất trừu tượng
- Đòi hỏi học sinh cần có nhiều kĩ năng khác ngoài chỉ có kiến thức
- Năng lực học sinh không đồng đều nên đôi khi đánh giá về BĐTD trong học tập là
sự máy móc không hiệu quả
- Học sinh còn sợ sệt khi đưa ra ý tưởng, đưa ra nội dung từ khóa
- Do chương trình học còn nặng về lí thuyết, còn ít các tiết bài tập để luyện tập.
- Do phương pháp dạy học của giáo viên còn mang nặng tính chất giáo viên hướng dẫn, làm mẫu, học sinh làm theo
- Do tư duy của học sinh còn hạn chế nên khả năng tiếp thu bài còn chậm, lúng túng
từ đó không nắm chắc các kiến thức, kĩ năng cơ bản
Như vậy, để khắc phục những khó khăn trước mắt và giúp học sinh có những kĩ năng ghi nhớ kiến thức một cách dễ dàng, tôi chọn nguyên nhân “Kỹ năng tiếp thu bài còn chậm, lúng túng từ đó không nắm chắc các kiến thức, kĩ năng cơ bản” để tìm cách khắc phục hiện trạng này
1.3 Giải pháp đã sử dụng trước đây
Dựa trên đặc điểm tình hình thực tế của địa phương, tình hình chung của nhà
trường và chất lượng học tập của học sinh trong những năm trước 2017 tôi đã tiến hành thực hiện các giải pháp sau: Sử dụng phương pháp thuyết trình kết hợp với các thiết bị hỗ trợ dạy học trực quan, đặc biệt trong Sinh học 9 còn nặng về tính chất giáo viên hướng dẫn, làm mẫu học sinh làm theo cụ thể:
- Giáo viên đưa ra các kiến thức học sinh tự lĩnh hội
- Tăng cường các bài tập thực hành giải toán về di truyền
- Cho học sinh làm thật nhiều bài tập trắc nhiệm để kiểu ” mưa dầm thấm lâu”
- Tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm để trả lời một vấn đề và cử đại diện nhóm thường là các em học sinh khá giỏi lên trình bày
- Giao bài tập trắc nghiệm về cho học sinh tự làm nhưng do học sinh chưa nắm
rõ kiến thức nên thường làm theo kiểu máy móc dẫn đến làm bài tập theo kiểu chống đối
Trong tất cả giải pháp trên thì lại càng là nguyên nhân dẫn đến học sinh lơ là không học, học không có chất lượng và không nhớ được kiến thức cơ bản, bên cạnh đó giáo viên chưa phát huy được tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh trong việc học môn Sinh học
2 Giải pháp sau khi có sáng kiến
2.1 Cơ sở lí luận
Để khắc phục nguyên nhân đã nêu ở trên, tôi có rất nhiều giải pháp như:
- Phát huy vai trò thảo luận nhóm trong quá trình học tập
- Tăng cường làm các sơ đồ tư duy tại lớp
- Giáo viên tiến hành làm mẫu nhiều lần cho học sinh quan sát
- Tăng cường một số bài tập ở nhà để học sinh làm
5
A
B'
B
A/
'',''' ''''
Trang 6- Tạo những ý tưởng mới trong vẽ sơ đồ cho học sinh, vừa vui vẻ vừa lĩnh hội được kiến thức
- Giáo viên hướng dẫn cho học sinh cách thức phân tích chọn lọc từ khóa
- Dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho từng đối tượng học sinh
Như vậy có rất nhiều giải pháp để khắc phục được hiện trạng trên, tuy nhiên mỗi giải pháp đều có những ưu điểm cũng như những hạn chế nhất định Trong tất cả các giải pháp
đó tôi chọn giải pháp “Hướng dẫn cho học sinh cách thức phân tích chọn lọc từ khóa khi
vẽ sơ đồ tư duy sinh học 9” Giúp cho học sinh bước đầu có một phương pháp cơ bản để
vẽ các sơ đồ tư duy ở mức độ đơn giản được tốt hơn
Tuy nhiên khi tìm hiểu về sơ đồ tư duy tôi nhận thấy có hai cách vẽ sơ đồ tư duy đó
là dạng nhánh trơn và dạng nhánh hộp: Dạng nhánh trơn thường được sử dụng cho trường hợp các ý trình bày có nội dung khá dài, còn dạng nhánh hộp thường được sử dụng với kiến thức có nhiều từ khóa ngắn gọn Để rèn luyện cho học sinh được thực hành nhiều, ở mức độ đơn giản không bó buộc mà tự do sáng tạo thì trong bài nghiên cứu tôi xin giới thiệu cách rèn luyện vẽ sơ đồ tư duy dưới dạng nhánh trơn
Với những lý luận trên, muốn vẽ được sơ đồ tư duy chúng ta cần thực hiện những bước cơ bản sau:
Các bước cơ bản:
Bước 1 : Xác định từ khóa.
Sơ đồ tư duy được tạo thành bởi hầu hết các từ khóa (key word) nên tiết kiệm được rất nhiều thời gian và tạo hứng thú cho học sinh Chỉ với những từ khóa là học sinh đã có thể nắm bắt được hết nội dung muốn ghi nhớ
Vậy từ khóa là gì? Làm sao xác định được từ khóa trong một nội dung văn bản?
Ví dụ: Hệ sinh thái bao gồm quần xã sinh vật và khu vực sống của quần xã (sinh cảnh) Trong hệ sinh thái, các sinh vật luôn luôn tác động lẫn nhau và tác động qua lại với các nhân tố vô sinh của môi trường tạo thành một hệ thống hoàn chỉnh và tương đối ổn định
- Một hệ sinh thái hoàn chỉnh có các thành phần chủ yếu sau:
+ Các thành phần vô sinh như đất đá, nước, thảm mục
+ Sinh vật sản xuất là thực vật
+ Sinh vật tiêu thụ gồm có động vật ăn thực vật và động vật ăn thịt
+ Sinh vật phân giải như vi khuẩn, nấm
Theo cách học truyền thống, học sinh sẽ học thuộc lòng đoạn văn trên, kể cả những
từ không cần thiết Nếu loại bỏ những từ đó đi và chỉ đọc từ khóa, học sinh dễ dàng nắm được ý chính mà tiết kiệm được thời gian hơn nhiều Ví dụ như đoạn văn sau:
Hệ sinh thái ….gồm quần xã sinh vật và … (sinh cảnh) Trong hệ sinh thái, các sinh vật luôn ….… tác động lẫn nhau và tác động qua lại với các nhân tố vô sinh …… tạo thành một hệ thống hoàn chỉnh ……… ổn định
- ……hệ sinh thái hoàn chỉnh có các thành phần:
+ Các thành phần vô sinh
+ Sinh vật sản xuất
+ Sinh vật tiêu thụ
+ Sinh vật phân giải
Bước 2 : Vẽ chủ đề ở trung tâm
Sử dụng một tờ giấy trắng (không kẻ ô) đặt nằm ngang và vẽ chủ đề ở chính giữa tờ giấy Giấy trắng không kẻ ô sẽ giúp cho học sinh sáng tạo hơn Vẽ trên giấy nằm ngang sẽ
có được không gian rộng lớn hơn để triển khai các ý
Học sinh cần vẽ chủ đề ở chính giữa tờ giấy, từ đó mới phát triển ra các ý khác ở xung quanh
Trang 7Học sinh có thể tự do sử dụng tất cả các màu sắc yêu thích, chủ đề trung tâm có thể
là chữ hoặc là hình, nếu kết hợp cả 2 thì càng tốt Chủ đề trung tâm cần gây sự chú ý để dễ nhìn nhận vấn đề
Bước 3 :Vẽ thêm các tiêu đề phụ (nhánh cấp 1)
Tiêu đề phụ nên được viết bằng chữ in hoa, nằm trên các nhánh dày để làm nổi bật Tiêu đề phụ nên gắn liền với trung tâm
Tiêu đề phụ nên được vẽ theo hướng chéo góc chứ không nằm ngang, như vậy nhiều nhánh phụ khác có thể được vẽ tỏa ra một cách dễ dàng hơn
Bước 4 : Vẽ các nhánh cấp 2, cấp 3, …
Ở bước này, vẽ nối tiếp nhánh cấp 2 vào nhánh cấp 1, nhánh cấp 3 vào nhánh cấp 2,
… để tạo ra sự liên kết
Nên vẽ nhiều nhánh cong hơn đường thẳng, như thế sẽ làm cho bản đồ tư duy mềm mại, uyển chuyển và dễ nhớ hơn
Chỉ nên tận dụng từ khóa và hình ảnh, mỗi nhánh chỉ sử dụng 1 từ khóa Việc này giúp cho nhiều từ khóa mới và những ý khác được nối thêm vào các từ khóa sẵn có một cách dễ dàng
Hãy dùng những biểu tượng, cách viết tắt để tiết kiệm không gian và thời gian bất
cứ lúc nào có thể Tất cả các nhánh của một ý nên tỏa ra từ một điểm và có cùng 1 màu Một cách điển hình, SĐTD có cấu trúc như sau:
Lưu ý, SĐTD được vẽ, viết và đọc theo hướng bắt nguồn từ trung tâm di chuyển ra phía ngoài và sau đó là theo chiều kim đồng hồ Do đó, các từ ngữ nằm bên trái SĐTD nên được đọc từ phải sang trái (bắt đầu từ phía trong di chuyển ra ngoài) Các mũi tên xung quanh SĐTD bên dưới chỉ ra cách đọc thông tin trong sơ đồ Các số thứ tự cũng là một cách hướng dẫn khác
7
Trang 8Bốn kết cấu chính I, II, III, IV trong SĐTD phía trên được gọi nhánh chính SĐTD này có bốn nhánh chính vì nó có bốn tiêu đề phụ Số tiêu đề phụ là số nhánh chính Đồng thời, các nhánh chính của SĐTD được đọc theo chiều kim đồng hồ, bắt nguồn từ nhánh I tới nhánh II, rồi nhánh III, và cuối cùng là nhánh IV(các mũi tên màu đen trong hình vẽ) Tuy nhiên, các từ khóa được viết và đọc theo hướng từ trên xuống dưới trong cùng một nhánh chính (các mũi tên màu xanh trong hình vẽ)
Bước 5: Thêm các hình ảnh minh họa
Ở bước này, học sinh nên để trí tưởng tượng của mình bay bổng hơn bằng cách thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng thêm nổi bật, cũng như lưu chúng vào trí nhớ mình tốt hơn
Đừng ngại mình vẽ xấu, cứ vẽ theo những gì mà mình nghĩ, những gì mình liên tưởng, đôi khi càng hài hước càng giúp nhớ lâu hơn
Các quy tắc vẽ SĐTD
Khi vẽ sơ đồ tư duy, đừng suy nghĩ quá lâu mà hãy viết liên tục Việc học sinh dừng lại để suy nghĩ một vấn đề nào đó quá lâu sẽ khiến cho những suy nghĩ tiếp theo của các
em bị ngăn lại, mải lo cho vấn đề đó mà sẽ quên mất những vấn đề tiếp theo Do đó, các ý nên được triển khai một cách liên tục để duy trì sự liên kết
Thêm đó, không cần tẩy xóa, sửa chữa Viết tất cả những gì mình nghĩ cho dù nó có ngớ ngẩn, ngu ngốc đến đâu đi chăng nữa, đừng bỏ lỡ những ý tưởng đó Đôi khi những ý nghĩ tưởng như điên rồ lại là một ý tưởng cực kỳ độc đáo và sáng tạo không ngờ
Sau khi cung cấp cho học sinh kiến thức cơ bản về việc xây dựng một bản đồ tư duy thì giáo viên yêu cầu học sinh lập bản đồ tư duy theo cá nhân hoặc theo nhóm
Cách ghi chép và phương pháp tư duy logic khi thiết kế bản đồ tư duy.
* Phương pháp tư duy logic.
- Nghiên cứu kĩ nội dung kiến thức
- Xác định rõ mục tiêu và trọng tâm của phần nội dung kiến thức đó ( Từ khóa )
- Xác định các ý chính cần lập thành sơ đồ:
+ Số ý chính được đánh số thứ tự để tránh trùng lặp ( Nhánh )
+ Mỗi ý chính ( Nhánh cấp 1) có bao nhiêu ý nhỏ hơn có liên quan trực tiếp (Nhánh cấp 2), từ các ý nhỏ được cụ thể rõ hơn bằng bao nhiêu ý liên quan ( Nhánh cấp 3)
* Cách ghi chép trên bản đồ tư duy.
- Chọn cụm từ hoặc hình ảnh cho các nhánh muốn thể hiện, nên dùng các từ khóa hoặc viết cụm từ cần thiết một cách ngắn gọn
Nếu dùng hình ảnh phải chọn lọc hình ảnh tiêu biểu thể hiện cho kiến thức trong từng nhánh
- Thông tin được bố trí khoa học theo suy nghĩ logic, đặc biệt chú ý đến nguồn gốc của thông tin, tính hệ quả của các thông tin được trình bày
- Thông tin và đường nhánh thể hiện cùng màu sắc, điều này kích thích não bộ nhận biết thông tin cùng dạng dễ dàng hơn
2.2 Tổ chức thực hiện đề tài.
2.2.1 Xây dựng bản đồ tư duy trong giảng dạy kiến thức mới.
Trong giảng dạy kiến thức mới có thể hướng dẫn học sinh xây dựng bản đồ tư duy trong 2 trường hợp:
Trường hợp 1: Học sinh tự thiết lập bản đồ tư duy trên cơ sở nghiên cứu thông tin, hình ảnh có sẵn dưới sự giám sát của giáo viên.
Trường hợp này được áp dụng khi kiến thức được sách giáo khoa viết đầy đủ rõ ràng, nội dung kiến thức đơn giản
Ví dụ trong dạy bài 29 : Bệnh và tật di truyền ở người (Sinh học 9 trang 82 )
Trang 9- Giáo viên hướng dẫn học sinh lập bản đồ tư duy theo những định hướng đã nêu ở trên.
- Yêu cầu học sinh nghiên cứu nguyên nhân gây ra các bệnh và tật di truyền ở người trong SGK
- Yêu cầu học sinh xác định từ trung tâm: Bệnh và tật di truyền ở người
- Xác định các ý chính gồm: Nguyên nhân, bệnh di truyền, tật di truyền
- Học sinh vẽ bản đồ trên giấy theo nhóm dưới sự giám sát của giáo viên
- Các nhóm trình bày sản phẩm của mình
- Giáo viên nhận xét sản phẩm của các nhóm:
+ Về mặt kiến thức: Tính chính xác, logic của kiến thức
+ Về mặt thẩm mĩ: Cách bố trí hình ảnh, cách ghi chép, sự phối hợp màu sắc
- Cuối cùng giáo viên có thể đưa ra bản đồ đầy đủ để học sinh tham khảo
( Chú ý không bắt buộc các em phải xây dựng bản đồ tư duy theo giáo viên, học sinh có thể sáng tạo trong sơ đồ tư duy của nhóm mình với các hình ảnh sinh động)
Ví dụ: Bài 8: Nhiễm sắc thể ( Sinh học 9 trang 24)
- Giáo viên hướng dẫn học sinh lập bản đồ tư duy theo những định hướng đã nêu ở
mục 2.1
- Yêu cầu học sinh nghiên cứu nội dung sách giáo khoa kết hợp với quan sát hình
8.1, 8.2, 8.3, 8.4, 8.5 (SGK)
- Yêu cầu học sinh xác định: Từ trung tâm hoặc hình ảnh chủ đề, các ý chính
+ Từ trung tâm: Nhiễm sắc thể hoặc hình ảnh nhiễm sắc thể
+ Các ý chính: ( Nhánh cấp 1) Gồm tính đặc trưng, chức năng, cấu trúc
- Từ các ý chính yêu cầu học sinh tự phát triển các nhánh cấp 2, 3
- Học sinh vẽ bản đồ trên giấy theo nhóm dưới sự giám sát của giáo viên
- Các nhóm trình bày sản phẩm của mình
- Giáo viên nhận xét sản phẩm của các nhóm:
+ Về mặt kiến thức: Tính chính xác, logic của kiến thức
9
Trang 10+ Về mặt thẩm mĩ: Cách bố trí hình ảnh, cách ghi chép, sự phối hợp màu sắc
- Cuối cùng giáo viên có thể đưa ra bản đồ đầy đủ để học sinh tham khảo
( Chú ý không bắt buộc các em phải xây dựng bản đồ tư duy theo giáo viên, học sinh có thể sáng tạo trong cách vẽ, cách trình bày, miễn kiến thức được trình bày đủ, khoa học, logic )
Trường hợp 2: Học sinh thiết lập bản đồ tư duy trên cơ sở những gợi ý của giáo viên.
Trường hợp này được áp dụng khi kiến thức khó, mang tính chất chọn lọc cần sự hướng dẫn gợi mở của giáo viên
Ví dụ: Trong dạy Bài 15: ADN – Sinh học 9 trang 45
- Giáo viên thực hiện phương pháp giảng dạy vấn đáp gợi mở như một bài dạy thông thường đối với từng mục theo hệ thống kiến thức sách giáo khoa
- Giáo viên hướng dẫn học sinh lập bản đồ tư duy theo những định hướng đã nêu ở mục 2.1 yêu cầu học sinh xác định: Từ trung tâm hoặc hình ảnh chủ đề, các ý chính
+ Từ trung tâm: ADN hoặc hình ảnh chủ đề: Hình ảnh của 1 đoạn AND
+ Các ý chính: ( Nhánh cấp 1) – Cấu tạo
- Cấu trúc không gian
- Chức năng
- Nguyên tắc tổng hợp
- Từ các ý chính yêu cầu học sinh tự phát triển các nhánh cấp 2, 3
- Học sinh vẽ bản đồ trên giấy theo nhóm hoặc cá nhân dưới sự giám sát của giáo viên
- Các nhóm trình bày sản phẩm của mình, nếu cho từng cá nhân vẽ bản đồ, giáo viên cho học sinh đổi sản phẩm và tự sửa cho nhau
- Giáo viên nhận xét sản phẩm của các nhóm hoặc 1 số cá nhân:
+ Về mặt kiến thức: Tính chính xác, logic của kiến thức
+ Về mặt thẩm mĩ: Cách bố trí hình ảnh, cách ghi chép, sự phối hợp màu sắc
- Cuối cùng giáo viên có thể đưa ra bản đồ đầy đủ để học sinh tham khảo