1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở việt nam hiện nay

171 396 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn Đề Phát Triển Nguồn Nhân Lực Nữ Chất Lượng Cao Ở Việt Nam Hiện Nay
Tác giả Nguyễn Thị Giáng Hương
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Thị Nga
Trường học Học Viện Chính Trị - Hành Chính Quốc Gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Chuyên Ngành Mó Số: CNDVBC & CNDVLS: 62 22 80 05
Thể loại Luận Án Tiến Sĩ Triết Học
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 171
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn

Trang 1

NGUYỄN THỊ GIÁNG HƯƠNG

vấn đề phát triển nguồn nhân lực nữ chất lợng cao ở Việt Nam hiện nay

Chuyờn ngành : CNDVBC & CNDVLS

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ NGA

HÀ NỘI - 2013

LỜI CAM ĐOAN

Trang 2

là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, chính xác của các cơ quan chức năng đã công bố Những kết luận khoa học của luận án là mới và chưa có tác giả công bố trong bất cứ công trình khoa học nào.

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Giáng Hương

Trang 3

Chương 2: PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NỮ CHẤT LƯỢNG CAO

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - NHÌN TỪ MỐI QUAN HỆ GIỮA

2.2 Tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng

2.3 Những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan cơ bản tác động

đến việc phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở Việt

Chương 3: NGUỒN NHÂN LỰC NỮ CHẤT LƯỢNG CAO Ở VIỆT NAM

3.1 Nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay - Thực

3.2 Một số vấn đề đặt ra từ thực trạng phát triển nguồn nhân lực nữ

Chương 4: GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN

4.1 Nhóm giải pháp thuộc về điều kiện khách quan cho việc phát

triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao 1084.2 Nhóm giải pháp thuộc về nhân tố chủ quan trong việc phát triển

Trang 4

BCH : Ban Chấp hành

CĐ, ĐH và sau ĐH : Cao đẳng, đại học và sau đại học

CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

HĐND : Hội đồng nhân dân

NNLNCLC : Nguồn nhân lực nữ chất lượng cao

NNLCLC : Nguồn nhân lực chất lượng cao

Trang 5

Bảng 3.1: Phân bố lực lượng lao động phân theo trình độ năm 2010 69

Bảng 3.2: Phân bố trình độ lực lượng lao động phân theo thành thị

Bảng 3.3: Phân bố NNLN năm 2010 phân theo vùng và theo trình độ 70

Bảng 3.4: Tỷ lệ NLNCLC phân theo trình độ tham gia vào hoạt

Bảng 3.5: Tỷ lệ NNLNCLC có học hàm, học vị từ năm 2007 - 2011 73

Bảng 3.6: Tỷ lệ nữ trong Ban Chấp hành (BCH) Đảng ủy các cấp

Bảng 3.7: Tỷ lệ nhân lực nữ giữ các chức vụ trong các cấp ủy Đảng 79

Bảng 3.8: Tỷ lệ nhân lực nữ giữ các chức danh trong Quốc hội 80

Bảng 3.9: Tỷ lệ nữ trong HĐND các cấp 1989 - 2016 81

Bảng 3.10: Tỷ lệ nhân lực nữ giữ các chức danh trong HĐND các cấp 81

Bảng 3.11: Tỷ lệ nhân lực nữ lãnh đạo, quản lý Nhà nước cấp

Bảng 3.12: Tỷ lệ nhân lực nữ tham gia UBND các cấp 84

Bảng 3.13: Một số chỉ tiêu cơ bản liên quan đến chăm sóc thai sản,

Bảng 3.14: Số giờ làm việc nhà bình quân 1người/ngày của dân số

chia theo giới tính và trình độ học vấn 92

Bảng 3.15: Thu nhập bình quân/tháng của NNLCLC 104

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quá trình phát triển của lịch sử nhân loại đã chứng minh vai trò quantrọng của phụ nữ trong quá trình sản xuất vật chất, tinh thần, đặc biệt là táisản xuất con người Tuy nhiên, nhiều nơi trên thế giới, so với nam giới, phụ

nữ vẫn phải chịu những thiệt thòi, chưa được đánh giá đúng về vai trò, vị thếtrong gia đình và xã hội

Trong thời gian qua, trên quy mô toàn cầu, nhiều quốc gia việc pháttriển NNLN đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ trên mọi phươngdiện: Trên bình diện xã hội, phụ nữ ngày càng tham gia nhiều vào các hoạtđộng của xã hội; Trong gia đình, người phụ nữ cũng đã nhận được sự chia sẻ,giúp đỡ và tạo điều kiện từ nam giới để phát triển và khẳng định bản thân.Tuy nhiên, không thể phủ nhận tình trạng phân biệt đối xử có tính bất côngđối với phụ nữ vẫn đang tồn tại với những mức độ khác nhau ở các quốc giatrên thế giới, đặc biệt, đối với các nước nghèo, lạc hậu Chính vấn đề này đãlàm ảnh hưởng tới khả năng vươn lên khẳng định vị thế, vai trò và đóng gópcủa phụ nữ vào sự phát triển bền vững của các quốc gia trên thế giới

Dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng Cộng sản ViệtNam luôn đánh giá cao vai trò, vị trí, chức năng của phụ nữ, coi phụ nữ làđộng lực quan trọng của cách mạng Việt Nam Chính vì vậy hơn 25 năm thựchiện đường lối đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước đã có những đường lối,chủ trương, chính sách phát triển và sử dụng sức mạnh to lớn của NNLN cho

sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tuy nhiên, để phát triển đượcNNLNCLC trong điều kiện hiện nay vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn: Điềukiện xuất phát của đất nước vốn đã lạc hậu; chịu ảnh hưởng tư tưởng “trọngnam, khinh nữ” của Nho giáo nên vấn đề phát triển NNLNCLC là một nộidung quan trọng cần được đặc biệt quan tâm, nghiên cứu Hiện nay, những cơ

Trang 7

hội và thử thách đã và đang đặt ra hơn bao giờ hết, mọi tiềm năng quốc giaphải được khai thác hợp lý, trong đó có NNLN, đặc biệt là NNLNCLC

Nguồn nhân lực nữ, bộ phận chiếm phần nửa dân cư trong xã hội, vớisức lao động dồi dào, óc sáng tạo phong phú, là nguồn lực to lớn và rất quantrọng có thể khai thác và phát triển nhằm góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triểnkinh tế - xã hội

Trong những thập kỷ gần đây, hiện tượng cần ghi nhận ở nhiều quốcgia, khu vực khác nhau trên thế giới, số lượng phụ nữ nắm giữ các chức vụchính quyền cấp cao, kể cả cấp cao nhất và bộ phận NNLNCLC ở các lĩnhvực khác nhau tăng lên rõ rệt Thụy Điển là quốc gia tiêu biểu, “phụ nữ ThụyĐiển có tất cả các quyền bình đẳng tuyệt đối như nam giới, từ giáo dục chođến các quyền thừa kế tài sản Hiện có ½ phụ nữ tham gia lãnh đạo trong nghịviện, chính phủ và ban lãnh đạo các địa phương” [31, tr.107] Mặc dù vậy,NNLNCLC vẫn chưa được khai thác và phát triển đúng với khả năng của nó.Thực tế chứng minh, NNLN không thua kém nam giới - xét trên phương diệntrí tuệ, năng lực và những phẩm chất khác Như vậy, việc phát triển NNLN,đặc biệt NNLNCLC là một trong những vấn đề quan trọng hiện nay Bởi nếukhông ta sẽ đánh mất đi một nửa sức mạnh của đất nước cho phát triển kinh tế

- xã hội Hơn nữa, việc giải phóng, phát triển tiềm năng trí tuệ củaNNLNCLC là đòi hỏi khách quan và bức thiết của sự phát triển xã hội Trình

độ phát triển xã hội đã tạo điều kiện khách quan cho phép khai thác và pháttriển tiềm năng đó ở mức độ cao hơn Muốn khai thác được tối đa sức mạnhcủa NNLNCLC thì chúng ta phải biết kết hợp một cách có hiệu quả sự tácđộng của điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trong quá trình tác độngvào việc phát triển NNLNCLC Do vậy, NNLNCLC nước ta cần được pháttriển như là một bộ phận quan trọng của NNLCLC nói chung trong quá trìnhphát triển đất nước hiện nay

Trang 8

Vừa là một bộ phận của phụ nữ Việt Nam, vừa là một bộ phận củanguồn nhân lực nước ta, NNLNCLC đã và đang say mê lao động sáng tạo vớinhiệt tình và khả năng vốn có của mình đóng góp vào sự nghiệp bảo vệ, xâydựng đất nước và sự nghiệp đấu tranh giải phóng phụ nữ Đồng thời, nguyệnvọng tha thiết chung của NNLNCLC là xã hội và gia đình tạo cho họ nhữngđiều kiện khách quan thuận lợi để nâng cao trình độ, khả năng nhằm góp phần

to lớn hơn vào quá trình phát triển đất nước Việt Nam ngày một giàu mạnh

Với mục đích như vậy, việc nghiên cứu vấn đề phát triển NNLNCLC nhìn từ góc độ tác động qua lại giữa điều kiện khách quan, nhân tố chủ quan

-và những đóng góp của họ cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trongthời gian qua như thế nào? Trên cơ sở đó tìm ra giải pháp khả thi để phát triểnđược NNLNCLC đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước là vấn đềbức thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Với suy nghĩ vậy, tôi chọn đề tài “Vấn đề phát triển nguồn nhân lực

nữ chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ Triết học.

2 Mục tiêu, nhiệm vụ của luận án

2.1 Mục tiêu của luận án

Trên cơ sở làm rõ sự cần thiết và những điều kiện khách quan, nhân tốchủ quan cơ bản tác động đến việc phát triển NNLNCLC ở Việt Nam hiệnnay, đánh giá thực trạng NNLNCLC ở Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất một

số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển NNLNCLC đáp ứng yêu cầu của sựnghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay

2.2 Nhiệm vụ của luận án

Thứ nhất, nghiên cứu tổng quan những vấn đề liên quan đến đề tài luận

án Trên cơ sở đó, kế thừa những giá trị tích cực của các công trình nghiêncứu trước và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

Thứ hai, hệ thống hóa và luận giải những khái niệm cơ bản có liên quan

đến đề tài; Phân tích tầm quan trọng và những điều kiện khách quan, nhân tốchủ quan cơ bản tác động tới việc phát triển NNLNCLC ở Việt Nam hiện nay

Trang 9

Thứ ba, phân tích thực trạng, nguyên nhân và một số vấn đề đặt ra trong

việc phát triển NNLNCLC ở Việt Nam hiện nay

Thứ tư, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển NNLNCLC ở

Việt Nam hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Luận án tiếp cận từ góc độ triết học nhìn từ

mối quan hệ giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan của vấn đề pháttriển NNLNCLC ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu về NNLNCLC (trong độ tuổi học tập và lao động)

tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội từ khi Đảng ta tiến hànhđổi mới đất nước

Nghiên cứu thực trạng NNLNCLC và những vấn đề đặt ra trong phát triểnNNLNCLC ở Việt Nam hiện nay, qua số liệu thống kê NNLNCLC tham gialãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị và khoa học, công nghệ Với giả thiết

là các lĩnh vực khác cũng có điều kiện phát triển giống như các lĩnh vực này

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận: Luận án được nghiên cứu trên cơ sở các quan điểm

của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm củaĐảng Cộng sản Việt Nam về con người, nguồn lực con người, nguồn nhân lựcchất lượng cao, vai trò của phụ nữ, giải phóng phụ nữ và những nghiên cứu vềlao động nữ đã có

4.2 Phương pháp nghiên cứu:

Luận án vận dụng quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin làm cơ sở phương pháp luận

để luận giải, phân tích vấn đề

Luận án sử dụng các phương pháp lịch sử và lôgic, phân tích và tổng hợp,trừu tượng hóa và khái quát hóa, đối chiếu so sánh, xử lý số liệu thống kê

Trang 10

Ngoài ra còn kết hợp với các phương pháp liên ngành của xã hội học vàkhoa học về giới….

5 Đóng góp về mặt khoa học của luận án

Luận án góp phần làm rõ thêm về NNLNCLC, phát triển NNLNCLC vàtầm quan trọng của việc phát triển NNLNCLC ở Việt Nam hiện nay

Luận án góp phần phân tích thêm một số mâu thuẫn cơ bản từ tiếp cậngiới trong việc phát triển NNLNCLC của Việt Nam hiện nay Trên cơ sở đó,luận án đưa ra một số giải pháp thuộc về điều kiện khách quan và nhân tố chủquan chủ yếu nhằm phát triển NNLNCLC ở Việt Nam hiện nay

Bước đầu luận án có những tiếp cận mới về vấn đề giới trong chiến lượcNNLNCLC nói riêng và NNLCLC của Việt Nam nói chung

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Luận án góp phần vào việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thựctiễn về NNLNCLC, bổ sung thêm những cơ sở khoa học có thể tham khảotrong hoạch định chiến lược và chính sách cụ thể liên quan đến vấn đề pháttriển NNLNCLC ở Việt Nam hiện nay

Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu, giảngdạy, học tập về NNLNCLC, về giới và phát triển trong các trường đại học vàcao đẳng ở Việt Nam hiện nay

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận án gồm 4 chương, 9 tiết

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

Hà Nội Cuốn sách đã giới thiệu khái quát về vai trò của NNL trong nền kinh

tế đổi mới và kinh nghiệm phát triển NNL ở khía cạnh phát triển giáo dục ởmột số nước trên thế giới Vận dụng tốt những kinh nghiệm quý báu đó vàoviệc phát triển NNL ở nước ta sẽ góp phần tạo ra NNLCLC, tạo động lực thúcđẩy kinh tế - xã hội phát triển

Chương trình khoa học - công nghệ cấp Nhà nước KX-07, đề tài

KX-07-18, PGS.TS Nguyễn Trọng Bảo chủ biên (1996), Gia đình, nhà trường, xã hội với việc phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ người tài, Nxb Giáo dục, Hà Nội Cuốn sách giúp chúng ta tìm hiểu vấn đề

“bồi dưỡng nhân tài” mà Đảng ta ghi trong cương lĩnh, Nhà nước ta ghitrong Hiến pháp Đặc biệt, các tác giả đã tập trung làm rõ vai trò của giađình, nhà trường và xã hội trong việc phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồidưỡng, sử dụng và đãi ngộ người tài, trên cơ sở đó, đã đưa ra một số giảipháp để phát triển nguồn lực này

GS.PTS Phạm Tất Dong (chủ nhiệm đề tài Khoa học xã hội - 0309)

(1999), CNH, HĐH và tầng lớp trí thức Những định hướng chính sách Đề

tài đã làm rõ những vấn đề đặt ra của đội ngũ trí thức Việt Nam với tư cách làmột nguồn lực quan trọng, cơ bản của NNL; vị trí, vai trò của đội ngũ trí thức

Trang 12

Việt Nam trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước; thực trạng đội ngũ trí thức

và chính sách của Đảng đối với đội ngũ trí thức Trên cơ sở đó, có chính sáchchiến lược phát triển đối với đội ngũ trí thức Việt Nam để họ xứng đáng vớivai trò là lực lượng trụ cột, bộ phận tinh túy nhất của NNL

TS Đỗ Minh Cương, PGS.TS Nguyễn Thị Doan (2001), Phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học Việt Nam, Nxb CTQG, Hà Nội Cuốn sách đã đề cập

đến một số nội dung về giáo dục đại học, đồng thời đề xuất những giải pháp cótính khả thi nhằm phát triển NNL giáo dục đại học, bộ phận nhân lực có trình

độ cao trong NNL nước ta, để phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH

TS Nguyễn Hữu Dũng (2003), Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội Cuốn sách đã trình bày hệ thống

một số vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến phát triển, phân bố và sửdụng nguồn lực con người trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướngXHCN ở Việt Nam; đánh giá thực trạng 15 năm đổi mới lĩnh vực NNL; giớithiệu kinh nghiệm của Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc về vấn đề này; từ đó đềxuất các giải pháp nhằm phát triển, phân bố hợp lý và sử dụng hiệu quả nguồnlực con người trong quá trình phát triển kinh tế ở nước ta tới năm 2010

Phạm Thành Nghị, Vũ Hoàng Ngân (chủ biên) (2004), Quản lý nguồn nhân lực ở Việt Nam một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Khoa học xã hội,

Hà Nội Cuốn sách là tập hợp các bài nghiên cứu, bài viết, bài tham luận tạiHội thảo của Đề tài KX.05.11 thuộc Chương trình khoa học - công nghệ cấpNhà nước KX.05 (giai đoạn 2001 - 2005), với các vấn đề lý luận, kinh nghiệm

và những khuyến nghị chính yếu trong quản lý NNL Việt Nam Công trình có

ý nghĩa quan trọng để Nhà nước ta quản lý hiệu quả NNL Việt Nam, gópphần đẩy mạnh CNH, HĐH và thực hiện công cuộc đổi mới đất nước theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa

TS Đoàn Văn Khái (2005), Nguồn lực con người trong quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Tác giả đã làm rõ một số

Trang 13

vấn đề chung về CNH, HĐH như: Khái lược quá trình công nghiệp hóa trênthế giới; nội dung, bản chất, tính tất yếu và đặc điểm của CNH, HĐH ở ViệtNam hiện nay; đồng thời làm rõ vai trò của nguồn lực con người đó là yếu tốquyết định sự nghiệp CNH, HĐH; thực trạng nguồn lực con người ở ViệtNam hiện nay và những vấn đề đặt ra trước yêu cầu CNH, HĐH Trên cơ sở

đó, tác giả đã đưa ra những phương hướng, quan điểm chỉ đạo và những giảipháp cơ bản: nhóm giải pháp về khai thác hợp lý, có hiệu quả nguồn lực conngười; nhóm giải pháp về phát triển nguồn lực con người; nhóm giải pháp xâydựng môi trường xã hội thuận lợi nhằm khai thác và phát triển hiệu quả nguồnlực con người đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH ở Việt Nam

Phạm Thành Nghị (Chủ biên) (2006), Nâng cao hiệu quả quản lý nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nhà xuất

bản Khoa học xã hội, Hà Nội Các tác giả đã trình bày: Hệ thống hóa nhữngvấn đề lý luận cơ bản, những nhận thức mới và hiện đại về quản lý NNL nhưvấn đề vốn con người và phát triển vốn con người; các mô hình quản lý NNL;các yếu tố tác động đến quản lý NNL và các chính sách vĩ mô tác động đếnquản lý NNL; Các tác giả trình bày những kinh nghiệm quản lý NNL của cácnước phát triển như Hoa Kỳ, Thụy Điển, kinh nghiệm của các nước Đông Á

và các nước có nền kinh tế chuyển đổi; Những tư liệu thu thập được từ các cơquan quản lý cũng như số liệu điều tra thực tiễn phong phú, có hệ thống và có

độ tin cậy cao là những tư liệu có giá trị đánh giá hiện trạng và phát triểnnhững vấn đề trong quản lý NNL ở nước ta Đặc biệt, các tác giả đã phân tíchnhững khác biệt trong quản lý NNL ở một số lĩnh vực: hành chính nhà nước,

sự nghiệp và sản xuất kinh doanh qua kết quả điều tra xã hội học Đây lànhững số liệu khá lý thú, phản ánh những khác biệt về tuyển dụng, sử dụng,đánh giá và phát triển NNL trong các khu vực khác nhau của nền kinh tế; Cáctác giả đã kiến nghị áp dụng những mô hình quản lý NNL phù hợp thay thếcho các mô hình đã lạc hậu Đồng thời cuốn sách cũng đề xuất hệ thống

Trang 14

những quan điểm và giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý NNLtrong ba khu vực: hành chính nhà nước, sự nghiệp và sản xuất kinh doanh.Các đề xuất này khá toàn diện, đồng bộ, có cơ sở khoa học và có tính khả thi.

Bộ Kế hoạch và đầu tư (tháng 7 năm 2011), Báo cáo tổng hợp Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020 Báo cáo là một công trình

khoa học quý báu của các nhà khoa học, đã tập trung làm rõ các nội dung quantrọng sau: Hiện trạng phát triển NNL Việt Nam với những thành tựu cơ bản,những hạn chế chủ yếu và nguyên nhân của nó; Phương hướng phát triển NNLViệt Nam đến năm 2020 và những vấn đề đặt ra; Các giải pháp chủ yếu thựchiện quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020; Tổ chứcthực hiện quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020

1.1.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến nguồn nhân lực nữ chất lượng cao

TS Bùi Thị Ngọc Lan (2002), Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới

ở Việt Nam, Nxb CTQG, Hà Nội Tác giả đã chỉ ra vai trò quan trọng của

nguồn lực trí tuệ đối với sự phát triển của xã hội; đồng thời làm rõ đặc điểm,thực trạng phát huy và xu hướng phát triển nguồn lực trí tuệ Việt Nam, từ đókhẳng định sự cần thiết phải chăm lo phát triển và phát huy cao độ sức mạnhcủa nguồn lực trí tuệ trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam Trên cơ sở đó, tácgiả đã đề xuất những quan điểm cơ bản và những giải pháp chủ yếu như: nângcao nhận thức của toàn xã hội về sự cần thiết phải phát huy nguồn lực trí tuệtrong công cuộc đổi mới; cải cách hệ thống giáo dục và đào tạo nhằm tạonguồn cho quá trình phát huy nguồn lực trí tuệ; tạo động lực thúc đẩy quátrình phát huy nguồn lực trí tuệ; xây dựng môi trường văn hóa, xã hội lànhmạnh thúc đẩy sự phát triển cao và bền vững của nguồn lực trí tuệ Việt Nam.Đây là những giải pháp mang tính khả thi để phát triển NNL đỉnh cao trongNNL của đất nước Công trình có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận trongviệc phát triển và phát huy sức mạnh của nguồn lực trí tuệ, bộ phận quan

Trang 15

trọng nhất của NNLCLC, góp phần phát triển nhanh nguồn lực này nhằm đápứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH trong bối cảnh toàn cầu hóa và hộinhập kinh tế quốc tế hiện nay.

Tác giả Lê Thị Hồng Điệp (2005), Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam Luận án tiến sĩ kinh tế

chính trị, Trung tâm đào tạo bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị, Đại họcQuốc gia, Hà Nội Tác giả đã nghiên cứu: Góp phần làm phong phú thêmnhững lý luận mới về phát triển NNLNCLC để hình thành nền kinh tế tri thứcthông qua những phân tích nội dung, tiêu chí và những yếu tố tác động tới quátrình phát triển lực lượng này; Thực hiện việc đánh giá tương đối toàn diệnthực trạng phát triển NNLCLC để hình thành nền kinh tế tri thức giai đoạn

2001 - 2007 gắn với những nội dung tiêu chí và những yếu tố tác động đã nêutrên; Đề xuất một số giải pháp phát triển NNLCLC để hình thành nền kinh tế trithức ở Việt Nam trong tương lai Những đề xuất đó góp phần tìm ra con đường

và cách thức hiệu quả để phát triển NNLCLC thực sự trở thành lực lượng tiênphong trên hành trình hiện thực hóa nền kinh tế tri thức ở Việt Nam

Trần Văn Tùng (2005), Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực tài năng, Nxb Thế giới, Hà Nội Nội dung cuốn sách trình bày những kinh

nghiệm trong phát hiện, đào tạo và sử dụng tài năng khoa học - công nghệ sảnxuất kinh doanh, quản lý của Mỹ và một số quốc gia châu Âu (Đức, Pháp,Anh), châu Á (Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc và một số quốc gia châu Ákhác) Từ đó tác giả đã đưa ra vấn đề: Việt Nam cần đổi mới các chính sáchđào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn tài năng hiện có Công trình nghiên cứucủa tác giả có ý nghĩa thực tiễn to lớn đối với nước ta trong việc phát hiện,đào tạo, sử dụng tài năng khoa học - công nghệ phục vụ sự nghiệp CNH,HĐH và công cuộc đổi mới đất nước

Viện Chiến lược phát triển của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2006), đã chủ trì

triển khai nghiên cứu đề tài khoa học cấp Bộ với chủ đề, Nguồn nhân lực chất

Trang 16

lượng cao: Hiện trạng phát triển, sử dụng và các giải pháp tăng cường Các

tác giả đã nêu ra quan điểm của mình về NNLCLC và tìm hiểu những yếu tốtác động Đề tài cũng bước đầu đánh giá thực trạng một số nhóm NNLCLCcủa nước ta và đề xuất những phương hướng, giải pháp để phát triểnNNLCLC của Việt Nam trong những năm tiếp theo

PGS.TS Phạm Hồng Tung (chủ biên) (2008), Lược khảo về kinh nghiệm phát hiện, đào tạo và sử dụng nhân tài trong lịch sử Việt Nam, Nxb

CTQG, Hà Nội Cuốn sách giúp chúng ta đánh giá tương đối toàn diện, súctích về những mặt tốt và hạn chế của thực tiễn đào tạo và sử dụng nhân tài củaông cha ta trong các thời kỳ lịch sử, từ thời kỳ dựng nước, đến thời kỳ Bắcthuộc, trải qua thời kỳ buổi đầu xây dựng Nhà nước quân chủ độc lập từ thế

kỷ X đến thế kỷ XIV và trong lịch sử trung đại Việt Nam cùng với quan niệmdân gian Việt Nam về nhân tài; bên cạnh đó, là quan niệm mới về nhân tài ởViệt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và sự xuất hiện của đội ngũ tríthức Tây học Cuối cùng, tác giả đã làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về việc đàotạo thế hệ nhân tài góp phần xây dựng Đảng cứu nước Trên cơ sở đó, tác giả

đã đúc rút ra bài học kinh nghiệm hữu ích, góp phần xây dựng luận cứ khoahọc cho việc hoạch định chiến lược phát triển, sử dụng, trọng đãi, tôn vinhnhân tài - NNLCLC ở nước ta hiện nay

TS Nguyễn Thị Thu Phương (chủ biên) (2009), Chiến lược nhân tài của Trung Quốc từ năm 1978 đến nay, Nxb CTQG, Hà Nội Tác phẩm đã góp

phần làm sáng tỏ cơ sở hình thành chiến lược nhân tài của Trung Quốc thôngqua khái niệm nhân tài, cơ sở hình thành chiến lược nhân tài của Trung Quốc;chiến lược nhân tài của Trung Quốc từ năm 1978 đến nay Qua đó, các tác giả

đã đánh giá một số thành tựu, hạn chế trong chiến lược nhân tài của TrungQuốc Trên cơ sở đó, rút ra một số bài học kinh nghiệm cho chiến lược pháttriển nhân tài của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Công trình của tác giả

có ý nghĩa tham khảo cho Đảng và Nhà nước ta trong việc đưa ra những chủ

Trang 17

trương, chính sách xây dựng chiến lược tổng thể về nhân tài, là bộ phận nhânlực đỉnh cao của NNL.

GS.TS Nguyễn Văn Khánh (chủ biên) (2010), Xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam, Nxb CTQG, Hà Nội Công trình này là kết quả

nghiên cứu, hội thảo của các nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau trong

khuôn khổ đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước KX.03.22/06-10 Xây dựng

và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự nghiệp chấn hưng đất nước trong thế kỷ XXI Bằng cách tiếp cận liên ngành, công trình mong muốn góp

phần nhận thức, lý giải một số vấn đề cơ bản về trí tuệ, nguồn lực trí tuệ Cuốnsách được kết cấu thành bốn phần bao gồm: Phần I: trí tuệ và nguồn lực trí tuệ -những vấn đề lý luận chung Phần II: Nguồn lực trí tuệ Việt Nam trong lịch sử

và hiện tại Phần III: Xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ

sự nghiệp phát triển đất nước Phần IV: Phát triển và sử dụng nguồn lực trí tuệ tiếp cận từ kinh nghiệm nước ngoài Cuốn sách có ý nghĩa tham khảo quan trọng

-về mặt lý luận cũng như thực tiễn trong việc phát huy nguồn lực trí tuệ của ViệtNam hiện nay, phục vụ yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Chủnghĩa xã hội khoa học (2010), Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài

khoa học cấp cơ sở năm 2010, Phát triển NNLCLC đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với kinh tế tri thức Đề tài đã tập trung làm rõ lý luận

về NNLCLC và CNH, HĐH gắn với kinh tế tri thức; đồng thời tìm hiểu kinhnghiệm thế giới về phát triển NNLCLC và thực trạng NNLCLC của Việt Namhiện nay và những vấn đề đặt ra Trên cơ sở đó, đề tài chỉ ra xu hướng pháttriển NNLCLC, đồng thời, đề xuất những giải pháp cơ bản để phát triểnnguồn lực này đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với kinh tế tri thứccủa Việt Nam

PGS.TS Nguyễn Văn Tài (2010), Phát huy tính tích cực xã hội của đội ngũ cán bộ nước ta hiện nay, Nxb CTQG, Hà Nội Trên cơ sở quan điểm của

Trang 18

Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cuốn sách của tác giả đã đisâu phân tích, làm rõ những cơ sở lý luận và thực tiễn của đường lối, chínhsách cán bộ của Đảng ta Đặc biệt với phương pháp tiếp cận vấn đề một cách

có hệ thống, tác giả đã đưa ra những đánh giá sát thực về tình hình cán bộnước ta hiện nay, đề xuất những giải pháp cụ thể, có tính khả thi để góp phầnkiện toàn, nâng cao chất lượng cán bộ các cấp

Nguyễn Thị Thanh Dung (2010), Phong cách tư duy Hồ Chí Minh với việc xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay, Nxb

CTQG, Hà Nội Cuốn sách của tác giả đã phản ánh một cách khái quát, có hệthống những nội dung cơ bản của phong cách tư duy Hồ Chí Minh, từ đó đề

ra một số giải pháp có tính khả thi nhằm góp phần xây dựng phong cách tưduy của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nước ta hiện nay

Viện Khoa học giáo dục Việt Nam (2010), Kinh nghiệm một số nước

về phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ gắn với xây dựng đội ngũ trí thức, Nxb CTQG, Hà Nội Các tác giả đã phân tích chính sách

phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ với xây dựng đội ngũtrí thức của từng nước, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Bên cạnh những cuốn sách và công trình nghiên cứu tiêu biểu của cácnhà khoa học, các nhà quản lý trong nước, còn một số bài báo khoa học cũng

đề cập đến vấn đề này đó là:

TS Nguyễn Hữu Dũng (2002), Phát triển NNLCLC trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế, Tạp chí Lý luận chính trị số 8,

T8/2002 Trong bài viết của mình, tác giả đã đưa ra quan niệm về NNLCLC,

sơ lược về thực trạng NNLCLC ở nước ta hiện nay, trên cơ sở đó, tác giả đã

đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm phát huy nguồn lực này ở nước ta trongthời kỳ đổi mới

PGS.TS Bùi Thị Ngọc Lan (2007), Một số bổ sung, phát triển trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực Việt Nam, Tạp chí Lý luận chính trị

Trang 19

T2/2007 Tác giả đã nghiên cứu một cách hệ thống những quan điểm cơ bản củaĐảng Cộng sản Việt Nam về NNL qua các kỳ Đại hội của Đảng; Làm rõ cơ sở

lý luận của việc phát triển NNLCLC theo tinh thần của Đại hội X (2006)

PGS.TS Phan Thanh Khôi (2008), Đóng góp của đội ngũ trí thức vào chủ trương, đường lối hội nhập kinh tế quốc tế, Tạp chí Lý luận chính trị

tháng 3/2008 Qua bài viết của mình tác giả đã làm rõ vai trò quan trọng củađội ngũ trí thức Việt Nam trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Tác giả đãchỉ ra vai trò quan trọng của đội ngũ trí thức trong việc xây dựng luận cứ khoahọc; bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật; đào tạo NNL; góp phần vào quátrình CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn Đồng thời, tác giả đã chỉ ra một

số những giải pháp nhằm phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trong bối cảnhthực hiện CNH, HĐH hiện nay

TS Phạm Công Nhất (2008), Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế, Tạp chí Cộng sản số 786 (tháng 4

năm 2008) Tác giả đã phân tích làm rõ thực trạng NNL ở nước ta trong giaiđoạn hiện nay, về số lượng và chất lượng Đặc biệt, điểm nhấn trong bài viếtcủa tác giả chính là chất lượng NNL Việt Nam đang còn nhiều hạn chế, yếukém, cho dù nước ta có NNL dồi dào Bên cạnh đó, tác giả đã chỉ ra một sốnguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng đó, trên cơ sở đó đã đề xuất một sốnhững giải pháp để có thể phát triển NNLCLC đủ mạnh đáp ứng yêu cầu của

sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

PGS.TS Đàm Đức Vượng (2008), Báo cáo khoa học tại Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ ba với chủ đề: Việt Nam, Hội nhập và phát triển, Thực trạng và giải pháp về phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam, T12/2008 Trong

báo cáo, tác giả đã đề cập tới thực trạng NNL Việt Nam trong giai đoạn hiệnnay, ở từng bộ phận của NNL như: nông dân, công nhân… Từ đó, tác giả đãđưa ra những giải pháp để phát triển NNL ở Việt Nam hiện nay, nhằm nângcao chất lượng NNL đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

Trang 20

Tác giả Nguyễn Tiến Dũng, Đỗ Văn Dạo “Vấn đề phát triển nguồn nhân

lực chất lượng cao ở nước ta hiện nay”; Tạp chí Lao động và xã hội, số 329,

tháng 2 - 2008 Thông qua bài viết các tác giả đánh giá thực trạng củaNNLCLC, chỉ ra những vấn đề bất cập và từ đó đưa ra các giải pháp để pháttriển NNLCLC ở nước ta hiện nay

PGS.TS Phạm Thành Nghị (2009), Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực ở những quốc gia và vùng lãnh thổ Đông Á, Tạp chí Nghiên cứu con

người số 2 (41) năm 2009 Qua bài viết của mình, tác giả đã tập trung làm rõkinh ngiệm phát triển NNL của Nhật Bản và một số nước Đông Á như: HànQuốc, Hồng Kông, Singapore, Đài Loan với những nội dung cơ bản, toàndiện: Luôn coi con người, nhân lực là yếu tố quyết định nhất; phát triển NNLtheo nhu cầu của quá trình phát triển kinh tế - xã hội, theo chiến lược đón đầu;kết hợp đào tạo nghề đại cương và đào tạo nghề chuyên sâu; vai trò của Nhànước và trách nhiệm của doanh nghiệp và khu vực tư nhân; thu hút và trọngdụng nhân tài

Tác giả Nguyễn An Ninh, Lê Thị Ánh Tuyết “Vài kinh nghiệm xây dựng

và phát huy nguồn nhân lực chất lượng cao từ Dung Quất”; Tạp chí Lao động công đoàn, số 436, tháng 9, 2009 Bài viết nêu lên những kinh nghiệm trong

việc xây dựng và phát huy NNLCLC trong những năm qua ở nhà máy lọc dầuDung Quất như trong việc đào tạo, sử dụng và tạo môi trường thuận lợi…

GS.TS Hoàng Văn Châu (2009), Phát triển NNLCLC cho hội nhập kinh

tế - vấn đề cấp bách sau khủng hoảng, Tạp chí Kinh tế đối ngoại số 38/2009.

Trong bài viết của mình, ở góc độ tiếp cận NNL có trình độ cao - lực lượnglao động có học vấn, có trình độ chuyên môn cao được đào tạo chủ yếu ở cáctrường đại học tác giả đã đề cập tới thực trạng thị trường lao động chất lượngcao ở Việt Nam; tác động của khủng hoảng tài chính tới thị trường NNLCLCcủa Việt Nam Từ đó, đưa ra giải pháp phát triển NNLCLC cho các trườngđại học nói chung, trường đại học ngoại thương nói riêng

Trang 21

GS.TS Nguyễn Văn Khánh, TS Hoàng Thu Hương (2010), Đào tạo NNLCLC ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng và triển vọng, Tạp chí nghiên cứu

con người số 1/2010 Các tác giả đã đưa ra quan niệm về NNLCLC, thựctrạng NNLCLC ở Việt Nam hiện nay Trên cơ sở đó, các tác giả đã chỉ ratriển vọng phát triển NNLCLC và một số khuyến nghị để phát triển nguồn lựcnày phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH của đất nước

Tác giả Lê Văn Phục “Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng

cao ở một số nước trên thế giới”; Tạp chí Lý luận Chính trị, số 6, 2010 Bài

viết đã nêu lên kinh nghiệm về phát triển NNLCLC ở các nước Tây Âu, Mỹ,các nước Đông Nam Á, Đông Á, từ đó rút ra những bài học cho Việt Namtrong việc phát triển NNLCLC hiện nay

Thượng tướng, VS.TS Nguyễn Huy Hiệu (2011), Giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc Việt Nam XHCN theo tinh thần nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Tạp chí Tổ chức Nhà nước số 6/2011 Theo tinh thần nghị quyết

Đại hội Đảng lần thứ XI, trong bài viết của mình, tác giả đã chỉ ra tính cấpthiết trong việc giáo dục - đào tạo NNLCLC trên cơ sở thực trạng việc pháttriển NNL ở nước ta trong thời gian qua Bên cạnh đó, tác giả cũng đã chỉ ranhững nguyên nhân chủ yếu dẫn tới thực trạng trên, từ đó đã đưa ra nhữnggiải pháp về giáo dục - đào tạo nhằm phát triển NNLCLC đáp ứng yêu cầucủa sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

TS Văn Tất Thu (2011), Nhân tài và những vấn đề cơ bản trong sử dụng, trọng dụng nhân tài, Tạp chí Tổ chức nhà nước số 1/2011 Trên giác độ

tiếp cận nhân tài là bộ phận tinh túy nhất trong NNLCLC, tác giả đã đưa rakhái niệm và những đặc điểm của nhân tài, vị trí, vai trò của nhân tài Từ đó,tác giả đã đưa ra những vấn đề cơ bản trong sử dụng nhân tài; phát hiện nhântài; trọng dụng, tôn vinh nhân tài và kinh nghiệm về phát hiện, đào tạo, bồidưỡng và sử dụng nhân tài của ông cha ta trong lịch sử

Trang 22

PGS.TS Phan Thanh Khôi, TS Nguyễn Văn Sơn (2011), Xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh, chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước,

Tạp chí Tuyên giáo số 7/2011 Các tác giả đã khẳng định vai trò của trí thức lực lượng sáng tạo đặc biệt quan trọng có vai trò to lớn trong sự nghiệp xâydựng và bảo vệ đất nước Từ đó đưa ra những quan điểm mang tính giải pháp

-cơ bản nhất để xây dựng đội ngũ trí thức, đặc biệt là việc thực hiện xây dựngđội ngũ trí thức theo nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI

PGS.TS Đỗ Thị Thạch (2011), Chiến lược phát triển nguồn nhân lực trong Văn kiện Đại hội XI của Đảng, Tạp chí Lịch sử Đảng số 7/2011 Trong

bài báo của mình, tác giả đã đi sâu phân tích làm rõ chiến lược phát triểnNNL trong văn kiện Đại hội XI của Đảng ta Đồng thời, tác giả cũng chỉ rõnhững quan điểm mới trong chiến lược phát triển NNL, từ đó làm rõ quanđiểm của Đảng về những giải pháp để phát triển NNL và NNLCLC

Tài liệu nước ngoài: Bên cạnh những công trình nghiên cứu trong nước

về vấn đề NNL, NNLCLC đã được nhiều nhà khoa học quốc tế quan tâmnghiên cứu với các góc độ nghiên cứu khác nhau Trong đó, đáng chú ý làmột số công trình tiêu biểu như: Thẩm Vinh Hoa - Ngô Quốc Diện (chủ biên)

(1996), Tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài kế lớn trăm năm chấn hưng đất nước, Nxb CTQG, Hà Nội Đây là cuốn sách có ý nghĩa tham khảo đối với

Việt Nam trong công cuộc đổi mới, CNH, HĐH đất nước hiện nay Nội dungcuốn sách nói về tư tưởng nhân tài của Đặng Tiểu Bình - nhà lãnh đạo, tổngcông trình sư của công cuộc cải cách, mở cửa xây dựng hiện đại hóa xã hộichủ nghĩa của Trung Quốc, là người đã kết hợp những nguyên lý cơ bản củaChủ nghĩa Mác - Lênin với thực tiễn Trung Quốc, sáng lập ra lý luận xây

dựng mô hình chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc Tư tưởng của

đồng chí Đặng Tiểu Bình về nhân tài là sự kế thừa và phát triển tư tưởng củaMác - Lênin, Mao Trạch Đông, là bộ phận cấu thành quan trọng trong khotàng lý luận của Trung Quốc trên con đường xây dựng đất nước XHCN, làkim chỉ nam để làm tốt công tác nhân tài của Trung Quốc

Trang 23

1.1.3 Các công trình đề cập đến nguồn nhân lực nữ, nữ trí thức và phụ nữ

Tác giả Trần Thị Vân Anh - Lê Ngọc Hùng (1996), Phụ nữ, giới và phát triển, Nhà xuất bản Phụ nữ, Hà Nội Các tác giả đã trình bày: Phần I: Cuốn

sách cung cấp một hệ thống những khái niệm cơ bản của phụ nữ học về cácvấn đề phụ nữ, giới và phát triển Qua đó, giúp người đọc nắm được nhữngbiểu hiện và những xu hướng biến đổi trong đời sống kinh tế, văn hóa, xãhội và gia đình có liên quan đến người phụ nữ; Phần II: Bằng những tư liệuphong phú và những kết quả nghiên cứu mới nhất, hai tác giả đã phác họabức tranh đa dạng, nhiều vẻ về vị trí, vai trò người phụ nữ trong sự nghiệpđổi mới kinh tế - xã hội nước ta hiện nay; Phần III: gồm hai chương cuốilàm luận cứ khoa học cho việc nâng cao chính sách xã hội đối với phụ nữngang tầm đổi mới kinh tế

Tác giả Trần Thị Thu (2003), Tạo việc làm cho lao động nữ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (Phân tích tại Hà Nội), Nhà xuất bản Lao động

- xã hội, Hà Nội Tác giả đã trình bày: Cơ sở khoa học của tạo việc làm cholao động nữ Hà Nội trong thời kỳ CNH, HĐH: các khái niệm cơ bản và sựcần thiết tạo việc làm cho lao động nữ; những yếu tố ảnh hưởng đến tạo việclàm cho lao động nữ trong thời kỳ CNH, HĐH; phân tích một số mô hình tạoviệc làm cho lao động; kinh nghiệm thu hút, sử dụng lao động và việc làmcho lao động nữ ở một số nước trong khu vực; Thực trạng tạo việc làm cholao động nữ thời gian qua: những đặc điểm ảnh hưởng đến tạo việc làm cholao động nữ Hà Nội; phân tích thực trạng việc làm và tạo việc làm cho laođộng nữ Hà Nội trong thời gian qua; Những quan điểm và giải pháp tạo việclàm cho lao động nữ Hà Nội trong thời kỳ CNH và HĐH: phương hướng tạoviệc làm cho lao động nữ Hà Nội trong thời kỳ CNH, HĐH; những quan điểm

về tạo việc làm cho lao động nữ Hà Nội trong thời kỳ CNH, HĐH; những giảipháp tạo việc làm cho lao động nữ Hà Nội trong thời kỳ CNH, HĐH

Trang 24

Võ Thị Mai (2003), Vai trò của nữ cán bộ quản lý nhà nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Tác giả

đã trình bày về giới quản lý và vấn đề nữ cán bộ quản lý trong bộ máy nhànước, góp phần làm sáng rõ thực trạng và xu hướng biến đổi vai trò nữ cán bộquản lý trong quá trình CNH, HĐH đất nước, đồng thời đề xuất một số giảipháp nhằm nâng cao hơn nữa vị thế, vai trò của phụ nữ tham gia quản lý lãnhđạo trong bộ máy nhà nước trước những đòi hỏi của yêu cầu quản lý hiện đại

Dương Thị Minh (2004), Gia đình Việt Nam và vai trò người phụ nữ trong gia đoạn hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Nội dung công trình

tập trung phân tích các yếu tố cơ bản tác động đến gia đình và vai trò của phụ

nữ Việt Nam trong gia đình, đặc điểm cơ bản của gia đình Việt Nam và xuhướng biến đổi vai trò của người phụ nữ trong giai đoạn hiện nay Từ đó, tácgiả nêu ra những vấn đề xây dựng gia đình mới và phát huy vai trò của ngườiphụ nữ Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Tác giả Đỗ Thị Thạch (2005), Phát huy nguồn nhân lực trí thức nữ Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội Tác giả đã đề cặp đến một số vấn đề sau: Một số vấn đề chung về tríthức và trí thức nữ: quan niệm về trí thức và trí thức nữ; những cơ sở để khẳngđịnh phẩm chất trí tuệ ở người phụ nữ; một số yếu tố tác động đến phẩm chất trítuệ của người phụ nữ; Đặc điểm, vai trò của đội ngũ trí thức nữ và những vấn đềđặt ra hiện nay: quá trình hình thành, đặc điểm của đội ngũ trí thức nữ và xuhướng biến đổi của những đặc điểm đó trong giai đoạn hiện nay; vai trò của độingũ trí thức nữ trong quá trình phát triển đất nước; yêu cầu của sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đối với NNL trí thức nữ; Phương hướng và giải phápchủ yếu nhằm phát huy NNL trí thức nữ trong sự nghiệp CNH, HĐH: một sốquan điểm chính sách của Đảng và Nhà nước; phương hướng xây dựng NNLtrí thức nữ ở nước ta hiện nay; một số giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng vàphát huy NNL trí thức nữ trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

Trang 25

Nguyễn Đức Hạt (2007), Nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ nữ trong hệ thống chính trị, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Cuốn sách làm sáng

tỏ những vấn đề nâng cao vị trí, vai trò, năng lực lãnh đạo của cán bộ nữ, tăngcường sự tham gia lãnh đạo, quản lý của họ trong bộ máy của Đảng, Nhànước và các tổ chức đoàn thể ở nước ta trong tình hình mới

Viện Gia đình và Giới (2009), Kết quả nghiên cứu định tính về nữ lãnhđạo khu vực Nhà nước ở Việt Nam (Báo cáo Dự án Nâng cao năng lực lãnhđạo nữ khu vực Nhà nước EOWP/UNDP) Dự án đã rà soát tài liệu để tìm rakết quả; phát hiện ra các yếu tố túc đẩy và các trở ngại chính mà phụ nữ thamgia lãnh đạo gặp phải và từ đó nêu ra kinh nghiệm và sáng kiến, kết luận vàkhuyến nghị cho vấn đề này

Nguyễn Thị Kim Dung (2010), Hồ Chí Minh với cuộc đấu tranh về quyền bình đẳng của phụ nữ, Nhà xuất bản dân trí, Hà Nội Tác giả nêu: Hồ

Chí Minh với cuộc đấu tranh về quyền bình đẳng và sự tiến bộ của phụ nữ;

Hồ Chí Minh với việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ; Tăng cường bình đẳnggiới và nâng cao vị thế năng lực cho phụ nữ theo tư tưởng Hồ Chí Minh;Những tác phẩm của Hồ Chí Minh về quyền bình đẳng của phụ nữ

Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Đại học quốc gia Hà Nội, Hội thảo

khoa học, Nữ trí thức Việt Nam đối với sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Hội

thảo đã tập hợp rất nhiều bài viết có giá trị nói lên những đóng góp to lớn của

nữ trí thức trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội thời gian qua Trên cơ sở

đó, đề ra những giải pháp phát triển nữ trí thức trong tương lai để tiến kịp sựphát triển của nam giới

1.2 NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA CÁC CÔNG TRÌNH LUẬN ÁN CẦN THAM KHẢO VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

1.2.1 Những giá trị của các công trình luận án cần tham khảo

Các công trình nghiên cứu ở trên đã có nhiều đóng góp có ý nghĩa vềmặt khoa học, làm sáng tỏ nhiều vấn đề như NNL, NNLCLC, nhân tài, trí

Trang 26

thức nữ cũng như vị trí, vai trò của nó trong sự phát triển của đất nước Cáctác giả đều đi đến nhận thức chung: Nguồn lực trên giữ vai trò quyết định tất

cả các nguồn lực khác, trong đó đặc biệt nêu lên được vai trò của đội ngũ tríthức trong thời đại ngày nay và đối với sự nghiệp đổi mới thực hiện CNH,HĐH đất nước

Các tác giả đã bước đầu đưa ra được quan niệm về NNLCLC ở nhữnggóc độ định tính hay định lượng nhất định, quan niệm về trí thức nữ, nhà khoahọc nữ… Từ đó chỉ ra được vai trò, tầm quan trọng của NNLCLC trong côngcuộc đổi mới và thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Một số tác giả điphân tích thực trạng NNL nói chung và NNLCLC nói riêng ở Việt Nam trongnhững năm qua và xu thế phát triển của nó trong tương lai Đồng thời từ đóbước đầu làm rõ quan điểm của Đảng ta đối với việc phát triển NNL vàNNLCLC, từ đó đưa ra một số phương hướng cơ bản, giải pháp chủ yếunhằm phát triển NNL và NNLCLC phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội củađất nước trong xu thế hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa, phát triển kinh tế trithức hiện nay

Qua những công trình nghiên cứu trên đây của các tác giả, ta thấy cónhiều cách nhìn khác nhau về NNL, NNLCLC và trí thức nữ của một số nhàkhoa học trong thời gian qua Hầu hết các tác giả đều đã xem xét NNL,NNLCLC, nữ trí thức về mặt số lượng và chất lượng nói chung, một số tácgiả đã khẳng định được vai trò của lược lượng này trong sự nghiệp CNH,HĐH và hội nhập quốc tế Tác giả luận án mong muốn góp phần nhỏ vào việclàm sáng tỏ về NNLNCLC ở Việt Nam hiện nay

Những bài viết về NNLN không chỉ góp phần khẳng định tầm quan trọngcủa NNLN nước ta mà còn hướng vào sự luận chứng giải pháp để phát huyvai trò đó và đã bước đầu nêu lên những kiến nghị có giá trị thực tiễn

Như vậy, những công trình và các đề tài nghiên cứu được đề cập ở trêncủa các tác giả trong thời gian qua đã có nhiều đóng góp quan trọng về mặt

Trang 27

khoa học để cho tác giả luận án tiếp cận, nghiên cứu, tham khảo phục vụ chocông trình nghiên cứu của tác giả luận án.

1.2.2 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án

Bên cạnh những giá trị to lớn về mặt khoa học mà các công trìnhnghiên cứu nêu trên đã đạt được, nhưng vấn đề về NNLCLC còn là nhữngvấn đề lớn, phức tạp, mới cần tập trung yêu cầu nghiên cứu Đối vớiNNLNCLC, có thể nêu ra một số vấn đề như sau:

Thứ nhất, NNLCLC là vấn đề mới xuất hiện ở cả Việt Nam và trên

thế giới nên có nhiều công trình quan tâm nghiên cứu dưới những góc độkhác nhau Tuy nhiên, việc nghiên cứu về NNLCLC theo tinh thần Đại hội

XI và dưới góc độ triết học thì còn là mới mẻ cần được nghiên cứu mộtcách công phu về vấn đề này Hơn nữa từ trước đến nay, chưa có công trìnhnghiên cứu nào đề cập một cách có hệ thống về NNLNCLC trong quá trìnhphát triển Do vậy, vấn đề phát triển NNLNCLC sẽ được tác giả luận ántiếp tục nghiên cứu

Thứ hai, đã có nhiều đề tài, công trình khoa học nghiên cứu về phụ nữ,

trí thức nữ ở những góc độ khác nhau Các tác giả đã đưa ra những quan điểmcủa Đảng ta về mục tiêu phát triển phụ nữ nói chung trong công cuộc đổi mớiđất nước và sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với kinh tế tri thức Tuynhiên, trong các công trình nghiên cứu đó, tiềm năng của NNLNCLC với tưcách là một nguồn lực quan trọng của quá trình đổi mới phát triển kinh tế - xãhội của đất nước hiện nay còn chưa được đề cập xứng đáng Hơn thế nữa, chođến thời điểm này, chưa có một chuyên khảo nào nghiên cứu một cách đầy

đủ, có hệ thống tương ứng về vấn đề phát triển NNLNCLC dưới góc độ triếthọc, mà chỉ dừng lại ở những bài báo, những tham luận khoa học, những cuốnsách tham khảo và phần nhiều còn dừng lại ở mức độ khái quát những nétchung nhất về các nhà khoa học nữ hay nữ trí thức Vì vậy, tác giả mongmuốn làm sáng tỏ hơn vấn đề phát triển NNLNCLC ở Việt Nam dưới góc độ

Trang 28

triết học trong luận án trên cơ sở đảm bảo quyền lợi và trách nhiệm một cáchcông bằng về hai giới.

Thứ ba, trong thời gian qua, nhiều công trình khoa học đã đề xuất ra

nhiều giải pháp để nâng cao vai trò, vị trí của phụ nữ trong xã hội nói chung

và trí thức nữ nói riêng Theo quan điểm của tác giả luận án thì vai trò củaNNLNCLC với tư cách là một lực lượng không thể thiếu trong quá trình pháttriển NNLCLC nói chung và những đóng góp lớn lao của họ vào sự phát triểncủa đất nước thì cần phải có những giải pháp thiết thực, để từ đó có thể ápdụng vào thực tiễn một cách có hiệu quả nhất nhằm khắc phục sự bất bìnhđẳng giới, gây lãng phí lớn nguồn chất xám của xã hội Chính vì vậy, nhữngvấn đề này sẽ được tác giả nghiên cứu tiếp và luận giải trong luận án

Trang 29

Chương 2 PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NỮ CHẤT LƯỢNG CAO

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - NHÌN TỪ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐIỀU

KIỆN KHÁCH QUAN VÀ NHÂN TỐ CHỦ QUAN

2.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN

2.1.1 Nguồn nhân lực, nguồn nhân lực nữ, nguồn nhân lực nữ chất lượng cao

2.1.1.1 Nguồn nhân lực

Hiện nay, trong quá trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước, cónhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến khái niệm NNL dưới các góc độkhác nhau

Theo Từ điển Tiếng Việt: Nguồn là nơi phát sinh, nơi cung cấp Nhân lực là sức của con người bao gồm: sức lực cơ bắp (thể lực), trình độ tri thức

được vận dụng vào quá trình lao động của mỗi cá nhân (trí lực), những hammuốn, hoài bão của bản thân người lao động hướng tới một mục đích xácđịnh (tâm lực) Nhân lực với ý nghĩa đầy đủ của nó bao gồm ba yếu tố: Thểlực, trí lực và tâm lực Ba yếu tố đó có quan hệ biện chứng với nhau, trong đó,trí lực giữ vai trò quyết định, nhưng thể lực và tâm lực cũng đóng vai trò quantrọng như điều kiện cần thiết không thể thiếu đối với sự phát triển của NNL

Nguồn nhân lực được hiểu là nơi phát sinh, nguồn cung cấp sức của con

người trên đầy đủ các phương diện cho lao động sản xuất và quản lý

Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc: “Nguồn nhân lực là trình độ lànhnghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực

tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng” [2, tr.3]

Ngân hàng Thế giới cho rằng: Nguồn nhân lực là toàn bộ “vốn người”(thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp ) mà mỗi cá nhân sở hữu Nguồn lựccon người được coi như là một nguồn vốn bên cạnh các nguồn vốn khác nhưtài chính, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên

Trang 30

Theo Giáo sư - Viện sĩ Phạm Minh Hạc cùng các nhà khoa học thamgia chương trình KX - 07:

Nguồn nhân lực cần được hiểu là số dân và chất lượng con người,bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực,phẩm chất và đạo đức của người lao động Nó là tổng thể nguồnnhân lực hiện có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng đểtham gia phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay một địaphương nào đó… [29, tr.323]

Như vậy, các khái niệm trên cho thấy NNL không chỉ đơn thuần là lựclượng lao động đã có và sẽ có, mà còn bao gồm sức mạnh của thể chất, trí tuệ,tinh thần của các cá nhân trong một cộng đồng, một quốc gia được đem rahoặc có khả năng đem ra sử dụng vào quá trình phát triển xã hội

Khái niệm nguồn nhân lực" được hiểu như khái niệm nguồn lực conngười" Nó được sử dụng như một khái niệm công cụ để điều hành, thực thichiến lược phát triển kinh tế - xã hội, NNL bao gồm bộ phận dân số trong độtuổi lao động, có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động cótham gia lao động - hay còn được gọi là nguồn lao động Bộ phận của nguồnlao động gồm toàn bộ những người từ độ tuổi lao động trở lên có khả năng vànhu cầu lao động được gọi là lực lượng lao động

Như vậy, xem xét dưới các góc độ khác nhau nên đã có nhiều quanđiểm khác nhau về NNL Tuy nhiên, những quan niệm này đều thống nhất nộidung cơ bản: NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội NNL (theonghĩa rộng) với tư cách là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, giữ vai tròquan trọng nhất, là nguồn lực cơ bản và nguồn lực vô tận của sự phát triển, là

sự tổng hợp của cả số lượng và chất lượng; không chỉ là bộ phận dân số trong

độ tuổi lao động mà là các thế hệ con người với những tiềm năng, sức mạnhtrong cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội Theo nghĩa hẹp, NNL là nguồn lực thamgia vào sự phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổilao động, có khả năng lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ

Trang 31

thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực,tâm lực của họ được huy động vào quá trình lao động.

Vì vậy, chúng tôi chọn quan điểm cho rằng NNL là tổng thể số lượng

và chất lượng con người với các tiêu chí về thể lực, trí lực và tâm lực tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội.

Trong quá trình phát triển của đất nước có rất nhiều nguồn lực khácnhau đóng góp vào sự phát triển Tuy nhiên, trong mối quan hệ giữa cácnguồn lực thì NNL đóng vai trò quyết định các nguồn lực khác trong quátrình phát triển kinh tế - xã hội được thể hiện ở những điểm sau:

- Các nguồn lực khác như: vốn, tài nguyên thiên nhiên tự nó tồn tạidưới dạng tiềm năng, chúng chỉ trở thành động lực của sự phát triển khi có sựkết hợp với NNL, trở thành khách thể chịu sự tác động, cải tạo, khai thác và

sử dụng của con người

- Các nguồn lực khác là hữu hạn, có thể bị khai thác cạn kiệt, chỉ cóNNL với cốt lõi là trí tuệ mới là nguồn lực có tiềm năng vô hạn, biểu hiện ởchỗ trí tuệ con người không chỉ tự sản sinh về mặt sinh học, mà còn tự đổimới không ngừng, phát triển về chất trong con người nếu biết chăm lo, bồidưỡng và khai thác hợp lý

- Qua thực tiễn phát triển của nhiều nước đã cho thấy thành tựu pháttriển kinh tế - xã hội phụ thuộc chủ yếu vào năng lực nhận thức và hoạt độngthực tiễn của con người Nhận thức đúng vai trò quyết định của NNL và đầu

tư cho chiến lược con người, đặt lên hàng đầu vấn đề nâng cao chất lượngNNL, coi giáo dục - đào tạo là chìa khoá của sự tăng trưởng đã đem lại thànhcông cho các nước, đặc biệt là các nước công nghiệp mới như Hàn Quốc từmột trong những nước nghèo nhất thế giới trở thành một trong những quốcgia công nghiệp mới hùng mạnh nhất về kinh tế của thế giới thứ ba, vượt xaAn-giê-ri - quốc gia có cùng điểm xuất phát về trình độ cách đây 40 năm;

Trang 32

Nước Nhật đạt được những bước tiến vượt bậc cũng do biết đặt vấn đề conngười vào trung tâm của sự phát triển bằng các triết lý nhân sự mang tính dântộc, biết sử dụng NNL thông qua các thành tựu khoa học công nghệ và đãnhanh chóng bứt lên trở thành cường quốc kinh tế thứ hai trên thế giới

Do vậy, không phải ngẫu nhiên các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin

đã khẳng định: lịch sử phát triển chân chính của xã hội là lịch sử phát triểncon người, do con người và vì con người Tiến trình phát triển lịch sử đượcquyết định bởi trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong đó người laođộng ngày càng trở thành yếu tố quan trọng hàng đầu Nhận thức sâu sắc vềvai trò của con người trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ VII (1991) của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: Sựnghiệp phát triển kinh tế đặt con người vào vị trí trung tâm, thống nhất tăngtrưởng kinh tế với công bằng và tiến bộ xã hội Đảng Cộng sản Việt Namcũng nhiều lần khẳng định mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là vìcon người, do con người Vì vậy, chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xãhội, xét về thực chất là chiến lược con người Nâng cao dân trí, bồi dưỡng,phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là yếu tố quyết định thắnglợi của công cuộc CNH, HĐH đất nước" 19, tr.21 Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ IX (2001) Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục xác định “ Nguồnlực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh

và bền vững ” 21, tr.112 Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2001)Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Phát triển, nâng cao chất lượng NNL,nhất là NNLCLC là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh,bền vững đất nước” [23, tr.41]

2.1.1.2 Nguồn nhân lực nữ

Theo nghĩa rộng, NNLN bao gồm tổng hòa các tiêu chí của bộ phận dân

số nữ đang có khả năng tham gia vào quá trình lao động xã hội và các thế hệ phụ

nữ nối tiếp sẽ phục vụ xã hội Nói cách khác, NNLN được hiểu không chỉ đơn

Trang 33

thuần là lực lượng lao động nữ đang có và sẽ có, mà còn bao gồm sức mạnh thểlực, trí lực và tâm lực của các cá nhân nữ trong một cộng đồng, quốc gia đượcđem ra hoặc có khả năng đem ra sử dụng vào quá trình phát triển xã hội.

Theo nghĩa hẹp, NNLN với tư cách là lực lượng lao động của xã hội,bao gồm nhóm phụ nữ trong độ tuổi lao động có khả năng lao động Pháp luậtViệt Nam qui định độ tuổi lao động đối với nữ (nữ từ đủ 15 tuổi đến hết 55tuổi, nam từ đủ 15 tuổi đến hết 60 tuổi) nên mặc dù dân số nữ thường xuyêncao hơn (chiếm trên 51% dân số), song lực lượng lao động nữ thường chiếm

tỷ lệ nhỏ hơn (khoảng trên 40% lao động xã hội) Vì tuổi nghỉ hưu của laođộng nữ sớm hơn nam 5 năm nên tỷ lệ lao động nữ luôn thấp hơn nam

2.1.1.3 Nguồn nhân lực chất lượng cao

Về vấn đề này C.Mác đã từng quan niệm: “Vậy thì nền công nghiệp dotoàn xã hội thực hiện một cách tập thể và có kế hoạch lại càng cần có nhữngcon người có năng lực phát triển toàn diện, đủ sức tinh thông toàn bộ hệ thốngsản xuất” [62, tr.474] Khi phân loại lao động thành “lao động giản đơn” và

“lao động phức tạp”, C.Mác đã đi đến kết luận: lao động phức tạp (lao độngđược đào tạo) là bội số của lao động giản đơn

Các nhà kinh tế học cũng cho rằng: NNL mà hạt nhân của nó là laođộng kĩ thuật là toàn bộ thể lực, trí lực với trình độ chuyên môn, kĩ năng mà conngười tích luỹ được, có khả năng đem lại thu nhập cao trong tương lai Theo đó,

có ba loại nhân lực chủ yếu quyết định sự phát triển là: người lao động thể lực;chuyên gia lành nghề và những người có ý tưởng sáng tạo

Ở Việt Nam cụm từ NNLCLC mới được đề cập nhiều từ khi nước tagia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và chính thức được nhắc đếntrong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản ViệtNam để khẳng định sự hiện diện của một bộ phận nhân lực đầu tàu trong quátrình phát triển của đất nước: “Thông qua việc đổi mới toàn diện giáo dục vàđào tạo, phát triển NNLCLC, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam” [22, tr.34]

Trang 34

Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng ta lại khẳng định: “Phát triển,nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là NNLCLC là một trong nhữngyếu tố quyết định sự phát triển nhanh, bền vững đất nước” [23, tr.41] Từquan điểm trên cho thấy nhận thức của Đảng ta về NNLCLC ngày càng đầy

đủ và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại Coi phát triển NNLCLCchính là khâu đột phá để đưa Việt Nam sớm thoát khỏi tình trạng nước kémphát triển và vươn lên trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đạivào năm 2020

Cùng với quan điểm của các nhà kinh điển và Đảng Cộng sản ViệtNam, khái niệm NNLCLC hay nhân lực trình độ cao được bàn luận khá sôinổi Song, đến nay vẫn chưa có được một khái niệm thống nhất Mỗi tác giả,tùy theo góc độ tiếp cận của mình đưa ra các quan niệm khác nhau:

Theo GS.TS Nguyễn Trọng Chuẩn cho rằng: “NNLCLC - một NNLmới, là một lực lượng lao động có học vấn, có trình độ chuyên môn cao vànhất là có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng củacông nghệ sản xuất” [8, tr.185]

TS Nguyễn Hữu Dũng cho rằng:

NNLCLC là khái niệm để chỉ một con người, một người lao động

cụ thể có trình độ lành nghề (về chuyên môn kỹ thuật) ứng với mộtngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn

Trang 35

kỹ thuật nhât định (trên đại học, đại học, cao đẳng, công nhân lànhnghề) [15, tr.20].

Tác giả Đỗ Văn Dạo cho rằng:

NNLCLC là bộ phận lao động xã hội có trình độ học vấn và chuyênmôn kỹ thuật cao; có kỹ năng lao động giỏi và có khả năng thíchứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất; cósức khỏe và phẩm chất tốt, có khả năng vận dụng sáng tạo những trithức, những kỹ năng đã được đào tạo vào quá trình lao động sản xuấtnhằm đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả cao [24, tr.29-32]

Từ các quan niệm trên, chúng ta có thể thấy các đặc trưng cốt lõi củaNNLCLC như sau:

Một là, về vai trò và tầm quan trọng: NNLCLC là lực lượng lao động

ưu tú nhất, thực hiện vai trò dẫn đường đối với NNL trong quá trình phát triểnkinh tế - xã hội

Hai là, về số lượng: NNLCLC chỉ là một bộ phận trong tổng số nhân

lực quốc gia

Ba là, về chất lượng: NNLCLC được đánh giá thông qua các yếu tố cơ

bản sau: (1) Phẩm chất đạo đức, (2) Trình độ chuyên môn nghiệp vụ được đàotạo, (3) Có khả năng thích ứng và sáng tạo trong công việc

2.1.1.4 Nguồn nhân lực nữ chất lượng cao

Đối với khái niệm NNLNCLC, ở Việt Nam từ trước đến nay chưa cónghiên cứu một cách hệ thống về vấn đề này Hầu hết, các tác giả mới đưa rađược khái niệm trí thức nữ, tác giả Đỗ Thị Thạch cho rằng:

Trí thức nữ là bộ phận quan trọng của đội ngũ trí thức đang tham giatrên tất cả các lĩnh vực: khoa học, công nghệ, lãnh đạo, quản lý, vănhọc nghệ thuật; là một bộ phận tiêu biểu của phụ nữ, có những phẩmchất, thiên chức của người phụ nữ như tinh thần cần cù, chịu khó,nhân hậu, đảm đang…và chức năng làm vợ, làm mẹ [84, tr.20]

Trang 36

Ngoài quan niệm nêu trên, còn có những thuật ngữ khác nói về khíacạnh nào đó của NNLNCLC như trong lĩnh vực sản xuất vật chất có nhữngthuật ngữ: Chuyên gia nữ, nghệ nhân nữ, nữ công nhân kỹ thuật lành nghề…hay trong lĩnh vực sản xuất tinh thần có những thuật ngữ: Nhà bác học nữ,khoa học nữ… Những thuật ngữ trên có nội hàm hẹp hơn và cụ thể hơn đểchỉ những người lao động nữ có trình độ, có tri thức, mang lại hiệu quả caotrong các lĩnh vực sản xuất.

Trên cơ sở nghiên cứu về NNLCLC nói chung, tác giả có thể đưa ra

một cách ngắn gọn về NNLNCLC là một bộ phận ưu tú nhất của nguồn nhân lực nữ, có trình độ học vấn cao, có năng lực sáng tạo, có phẩm chất đạo đức tiêu biểu của nguồn nhân lực nữ, đặc biệt là khả năng thích ứng nhanh, đáp ứng được những yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn và trong quá trình lao động sản xuất luôn đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả cao.

Từ quan niệm NNLNCLC như trên, chúng ta có thể xác định các tiêuchí cơ bản của NNLNCLC như sau:

Về trí lực, trí lực của NNLNCLC được biểu hiện chủ yếu ở các khía

cạnh như:

Trình độ học vấn: Những người có trình độ cao đẳng, đại học trở lên.Đây được coi là tiêu chí quan trọng nhất, biểu hiện rõ nhất trí lực củaNNLNCLC Bởi vì, khi NNL có trình độ, có sự hiểu biết thì lúc đó họ mớinhận thức và cải tạo tự nhiên - xã hội đạt kết quả cao, mới có khả năng ápdụng được những tiến bộ khoa học - công nghệ vào trong quá trình lao độngsản xuất để đem lại năng xuất, chất lượng và hiệu quả

Năng lực sáng tạo: NNLNCLC là lực lượng lao động có khả năng sángtạo trong công việc Đặc biệt trong thời đại ngày nay, “những cái gì mới vàsôi động của ngày hôm qua nhanh chóng trở thành cũ kỹ và tầm thường củangày hôm nay” [5, tr.2] Chính vì vậy, nếu con người không liên tục có những

ý tưởng sáng tạo thì hoạt động của tổ chức, của một dân tộc sẽ bị tê liệt và trở

Trang 37

lên lạc hậu Tiêu chí này nhằm xác định NNLCLC nói chung, nhưng đặc biệtcần thiết và quan trọng đối với NNLNCLC giữ vai trò lãnh đạo quản lý, các

và các nhà khoa học nữ Bởi vì, lực lượng lao động này phải là những ngườilao động có trí tuệ phát triển, có nhân cách, có một số phẩm chất nổi bật mà ítngười có, giàu tính sáng tạo, tư duy độc đáo, nhạy bén, dịu dàng khôn khéo,

có sự hiểu biết sâu rộng về chuyên môn, có kinh nghiệm trong công việc, cótay nghề cao, có khả năng dự báo và giải quyết công việc nhanh chóng, chínhxác mang lại hiệu quả kinh tế cao

Về thể lực, thể lực của NNLNCLC hay còn gọi là sức khỏe và được thể

hiện ở tình trạng sức khỏe của người lao động Tình trạng sức khỏe củaNNLNCLC được biểu hiện qua các mặt cụ thể sau: chiều cao, cân nặng, tuổithọ, tình hình bệnh tật, cơ sở vật chất, các điều kiện để bảo vệ và chăm sócsức khỏe cho bản thân cũng như NNL trong tương lai….NNLNCLC có sứckhỏe tốt được thể hiện ở: sự nhanh nhẹn, tháo vát, bền bỉ, dẻo dai để đáp ứngđược yêu cầu của công việc và khả năng chịu đựng sức ép trong công việc mà

họ phải vượt qua

Về phẩm chất đạo đức, phẩm chất đạo đức, nhân cách, thái độ và tác

phong làm việc cũng được coi là một tiêu chí không thể thiếu trong việc đánhgiá chất lượng NNL NNLNCLC phải là lực lượng lao động có đạo đức nghềnghiệp được thể hiện như: yêu nghề, say mê với công việc, có tính kỷ luật và

có trách nhiệm với công việc mà mình đảm nhiệm, sẵn sàng vượt qua khókhăn về giới để khẳng định bản thân, vươn lên vì mục tiêu bình đẳng và pháttriển Cao hơn cả đạo đức nghề nghiệp còn thể hiện ở sự mong muốn đónggóp tài năng, trí tuệ, công sức của mình vào sự nghiệp phát triển chung củađất nước, xóa bỏ rào cản tâm lý tự ty, mặc cảm, định kiến bất bình đẳng vềgiới của bản thân và xã hội Đây được xem là tiêu chí mang tính chất nền tảngtrong quá trình xây dựng những tiêu chí để xác định đúng về NNLNCLC

Ngày nay, phẩm chất đạo đức của NNLNCLC còn được biểu hiện ởnhững nội dung mới: thái độ tự tin không cam chịu đói nghèo, lạc hậu, quyết

Trang 38

chí vươn lên làm giàu cho bản thân, gia đình và xã hội; dám nghĩ, dám làm,dám chịu trách nhiệm, hăng say học tập, nghiên cứu khoa học - công nghệ đểnâng cao trình độ hiểu biết; biết vươn lên để tạo bình đẳng giới, có khả năngđộc lập ứng xử trong lao động, sản xuất kinh doanh cũng như trong mọi hoạtđộng nghề nghiệp sao cho phù hợp với những chuẩn mực, nguyên tắc đạo đứctrong thời đại mới; có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trongsáng với lối sống lành mạnh, tôn trọng nhân nghĩa đạo lý, bao dung, đôn hậu coitrọng chữ tín, đạo đức nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động

Hiện nay, có nhiều cách xác định cấu trúc của NNLCLC khác nhau doquan niệm của từng tác giả nghiên cứu đưa ra Chúng tôi, đồng ý với quanđiểm trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộngsản Việt Nam (2011) khẳng định:

Phát triển và nâng cao chất lượng NNL, nhất là NNLNCLC là mộtđột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển… Đặcbiệt coi trọng phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, độingũ chuyên gia, quản trị doanh nghiệp giỏi, lao động lành nghề vàcán bộ khoa học, công nghệ đầu đàn [23, tr.130]

Dựa trên cơ sở đó, tác giả chỉ xem xét, nghiên cứu và phân tích về cấutrúc NNLNCLC tập trung ở những đối tượng cụ thể sau:

Thứ nhất, đội ngũ nữ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi

Đây là bộ phận chủ yếu và ưu tú nhất của NNLNCLC, bởi họ là nhữngngười có tri thức và trình độ học vấn cao (chủ yếu được đào tạo trong một hệthống giáo dục) Họ đóng vai trò tham gia hoạch định chủ trương, đường lốicủa Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và lãnh đạo thực hiện nhữngvấn đề được đặt ra Họ là những đầu tàu dẫn dắt tổ chức, cơ quan, đoàn thể điđến thành công

Với đặc trưng cơ bản là lao động trí óc phức tạp, sáng tạo, đội ngũ cán bộlãnh đạo, quản lý nữ có vai trò to lớn trong việc tham gia lãnh đạo, quản lý, điều

Trang 39

hành một cơ quan, tổ chức hay một đơn vị Đồng thời sáng tạo ra các giá trị mới,phát triển lý luận, xây dựng luận cứ khoa học cho các quyết sách kinh tế - chínhtrị, văn hóa - xã hội…của đảng cầm quyền; chuyển giao các tiến bộ khoa học, kỹthuật và công nghệ tiên tiến để phục vụ sản xuất, góp phần to lớn vào quá trìnhnâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài để đẩy nhanh quá trìnhCNH, HĐH, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, đội ngũ nữ chuyên gia, quản trị doanh nghiệp giỏi và lao động nữ lành nghề

Đội ngũ nữ chuyên gia, quản trị doanh nghiệp giỏi - người đứng mũichịu sào, người chịu trách nhiệm về lĩnh vực mình tham mưu và với sựsống còn của doanh nghiệp nên họ phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụcao và luôn cố gắng học tập nâng cao trình độ để đáp ứng được những yêucầu khắt khe của thị trường và dẫn dắt doanh nghiệp phát triển Họ khôngchỉ có chuyên môn nghiệp vụ cao mà còn có một sức khỏe bền bỉ, một tinhthần mẫn cán, một tâm lý ổn định, vững vàng Nữ chuyên gia, quản trịdoanh nghiệp có mặt ở tất cả các thành phần kinh tế và các lĩnh vực khácnhau của đời sống xã hội Quá trình lao động của họ có những đóng góplớn vào sự tăng trưởng của nền kinh tế và sự phát triển của xã hội Chính

sự phát triển (thành công) của các nữ chuyên gia, quản trị doanh nghiệpgiỏi ngày nay đã làm thay đổi phần nào cách nhìn của toàn xã hội vềNNLN nói chung và NNLNCLC nói riêng từ trước đến nay

Lao động nữ lành nghề hoạt động trong nhiều ngành nghề khác nhauđòi hỏi sự khéo léo, tỷ mỷ, cẩn thận và sự chuyên nghiệp cao Lực lượngnày có trình độ tay nghề cao chủ yếu thông qua 2 hình thức đào tạo: từ cáctrường dạy nghề và từ chính trong thực tiễn lao động sản xuất….Đặc biệt,trong bộ phận này có các nghệ nhân có trình độ tay nghề cao, tâm huyết vớinghề nghiệp, có kinh nghiệm Họ có vai trò quan trọng trong việc gìn giữ,bảo lưu, tiếp tục phát triển các làng nghề truyền thống trong bối cảnh xã

Trang 40

hội hiện đại, đồng thời quảng bá những giá trị truyền thống, bản sắc củadân tộc đến với cộng đồng quốc tế, góp phần to lớn trong quá trình đào tạoNNL cho đất nước trong gia đoạn hiện nay.

Thứ ba, đội ngũ nữ cán bộ khoa học, công nghệ đầu đàn.

Đây là lực lượng lao động trí tuệ trong xã hội có trình độ chuyên môn

nghiệp vụ cao, có khả năng làm chủ, sáng tạo những tri thức và khoa học,công nghệ vào trong đời sống xã hội Họ thích nghi nhanh chóng với sự thayđổi của môi trường và điều kiện sống Sản phẩm lao động của đội ngũ này làsáng tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần phục vụ cho sự phát triển của đờisống xã hội Trong giai đoạn hiện nay, đội ngũ nữ cán bộ khoa học, côngnghệ đầu đàn giữ vai trò quan trọng không thể thiếu của quá trình phát triểnNNLCLC và là bộ phận cốt lõi của NNLNCLC

Như vậy, cấu trúc của NNLNCLC rất đa dạng, bao gồm nhiều bộ phận,thành phần khác nhau Mỗi bộ phận có vai trò khác nhau trong xã hội, nhưngtựu chung lại họ là lực lượng quan trọng trong cơ cấu lại nền kinh tế, chuyểnđổi mô hình tăng trưởng kinh tế và lợi thế cạnh tranh Lực lượng này là nhân

tố bảo đảm cho sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững mà Việt Namkhông thể bỏ qua cho sự phát triển của đất nước trong giai đoạn hiện nay Vìthế, trong đường lối, chính sách của Việt Nam, Đảng và Nhà nước luôn coivấn đề phát triển NNLNCLC luôn là hướng ưu tiên và tập trung phát triểntrong thời gian tới

2.1.2 Phát triển nguồn nhân lực

Sự phát triển nói chung được coi là quá trình vận động theo khuynhhướng đi lên từ trình độ thấp đến trình độ cao, từ kém hoàn thiện đến hoànthiện hơn Đó là sự biến đổi cả về số lượng và chất lượng của sự vật theohướng ngày càng hoàn thiện ở trình độ cao hơn Quan điểm mácxít về sựphát triển, vận dụng vào nghiên cứu con người đã nhấn mạnh yếu tố pháttriển con người, lấy con người làm trung tâm Lịch sử phát triển của nhân

Ngày đăng: 04/12/2013, 14:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị Vân Anh - Lê Ngọc Hùng (2000), Phụ nữ, giới và phát triển, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ, giới và phát triển
Tác giả: Trần Thị Vân Anh - Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2000
2. Ban Nữ công Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2002), Phát huy nguồn lao động nữ ở ngoại thành Hà Nội trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay, Kỷ yếu khoa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huynguồn lao động nữ ở ngoại thành Hà Nội trong quá trình công nghiệphoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay
Tác giả: Ban Nữ công Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2002
3. Hoàng Chí Bảo (2006), Văn hóa và con người Việt Nam trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và con người Việt Nam trong tiến trìnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: NxbChính trị quốc gia
Năm: 2006
4. Nguyễn Trọng Bảo (chủ biên, 1996), Gia đình, nhà trường, xã hội với việc phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ người tài, Chương trình khoa học - công nghệ cấp Nhà nước KX- 07, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình, nhà trường, xã hội vớiviệc phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộngười tài
Nhà XB: Nxb Giáo dục
5. Tony Buzan (2007), Bản đồ tư duy trong công việc, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản đồ tư duy trong công việc
Tác giả: Tony Buzan
Nhà XB: Nxb Lao động - Xãhội
Năm: 2007
6. Hoàng Văn Châu (2009), "Phát triển NNLCLC cho hội nhập kinh tế - vấn đề cấp bách sau khủng hoảng", Tạp chí Kinh tế đối ngoại, (số 38) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển NNLCLC cho hội nhập kinh tế - vấnđề cấp bách sau khủng hoảng
Tác giả: Hoàng Văn Châu
Năm: 2009
7. Chính phủ (2011), Mục tiêu chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mục tiêu chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giaiđoạn 2011-2020
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
8. Chương trình Khoa học - Công nghệ cấp Nhà nước KX05 (2003), Nghiên cứu văn hóa, con người, nguồn nhân lực đầu thế kỷ XXI, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn hóa, con người, nguồn nhân lực đầu thế kỷ XXI
Tác giả: Chương trình Khoa học - Công nghệ cấp Nhà nước KX05
Năm: 2003
9. Đỗ Minh Cương, Nguyễn Thị Doan (2001), Phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lựcgiáo dục đại học Việt Nam
Tác giả: Đỗ Minh Cương, Nguyễn Thị Doan
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
10. Phạm Tất Dong (1995), Trí thức Việt Nam - thực tiễn và triển vọng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trí thức Việt Nam - thực tiễn và triển vọng
Tác giả: Phạm Tất Dong
Nhà XB: NxbChính trị quốc gia
Năm: 1995
12. Phạm Tất Dong (2001), Định hướng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng phát triển đội ngũ trí thức Việt Namtrong công nghiệp hóa, hiện đại hóa Việt Nam
Tác giả: Phạm Tất Dong
Nhà XB: Nxb Chính trị quốcgia
Năm: 2001
13. Nguyễn Thị Kim Dung (2010), Hồ Chí Minh với cuộc đấu tranh về quyền bình đẳng của phụ nữ, Nxb Dân trí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh với cuộc đấu tranh vềquyền bình đẳng của phụ nữ
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Dung
Nhà XB: Nxb Dân trí
Năm: 2010
14. Nguyễn Thị Thanh Dung (2010), Phong cách tư duy Hồ Chí Minh với việc xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách tư duy Hồ Chí Minh vớiviệc xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Dung
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
15. Nguyễn Hữu Dũng (2002), "Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế", Tạp chí Lý luận chính trị, (8), tr.25-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng caotrong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhậpkinh tế quốc tế
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng
Năm: 2002
16. Nguyễn Hữu Dũng (2003), Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở ViệtNam
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 2003
17. Nguyễn Tiến Dũng, Đỗ Văn Đạo (2008), “Vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Lao động và xã hội, (số 329) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề phát triển nguồn nhânlực chất lượng cao ở nước ta hiện nay”, "Tạp chí Lao động và xã hội
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng, Đỗ Văn Đạo
Năm: 2008
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành TW khóa VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư BanChấp hành TW khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1993
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành TW khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ hai BanChấp hành TW khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.3: Phân bố NNLN năm 2010 phân theo vùng và theo trình độ Đơn vị: % - Vấn đề phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở việt nam hiện nay
Bảng 3.3 Phân bố NNLN năm 2010 phân theo vùng và theo trình độ Đơn vị: % (Trang 76)
Bảng 3.2: Phân bố trình độ lực lượng lao động phân theo thành thị - - Vấn đề phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở việt nam hiện nay
Bảng 3.2 Phân bố trình độ lực lượng lao động phân theo thành thị - (Trang 76)
Bảng 3.5: Tỷ lệ NNLNCLC có học hàm, học vị từ năm 2007 - 2011                Đơn vị tính: % - Vấn đề phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở việt nam hiện nay
Bảng 3.5 Tỷ lệ NNLNCLC có học hàm, học vị từ năm 2007 - 2011 Đơn vị tính: % (Trang 79)
Bảng 3.7: Tỷ lệ nhân lực nữ giữ các chức vụ trong các cấp ủy Đảng Đơn vị tính: % - Vấn đề phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở việt nam hiện nay
Bảng 3.7 Tỷ lệ nhân lực nữ giữ các chức vụ trong các cấp ủy Đảng Đơn vị tính: % (Trang 85)
Bảng 3.8: Tỷ lệ nhân lực nữ giữ các chức danh trong Quốc hội - Vấn đề phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở việt nam hiện nay
Bảng 3.8 Tỷ lệ nhân lực nữ giữ các chức danh trong Quốc hội (Trang 86)
Bảng 3.9: Tỷ lệ nữ trong HĐND các cấp 1989 - 2016 - Vấn đề phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở việt nam hiện nay
Bảng 3.9 Tỷ lệ nữ trong HĐND các cấp 1989 - 2016 (Trang 87)
Bảng 3.11: Tỷ lệ nhân lực nữ lãnh đạo, quản lý Nhà nước cấp Trung ương - Vấn đề phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở việt nam hiện nay
Bảng 3.11 Tỷ lệ nhân lực nữ lãnh đạo, quản lý Nhà nước cấp Trung ương (Trang 88)
Bảng 3.12: Tỷ lệ nhân lực nữ tham gia UBND các cấp (%) - Vấn đề phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở việt nam hiện nay
Bảng 3.12 Tỷ lệ nhân lực nữ tham gia UBND các cấp (%) (Trang 90)
Bảng 3.14: Số giờ làm việc nhà bình quân 1người/ngày của dân số chia - Vấn đề phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở việt nam hiện nay
Bảng 3.14 Số giờ làm việc nhà bình quân 1người/ngày của dân số chia (Trang 98)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w