Luận văn
Trang 2LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1 PGS.TS TÔ KIM NGỌC
2 TS ĐÀO MINH TÚ
Hà Nội – 2013
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trích
dẫn nêu trong luận án có nguồn gốc rõ ràng và trung thực
Tác giả
Bùi Thị Thanh Tình
Trang 4CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỰ DO HOÁ TÀI CHÍNH 7
1.1 NỘI DUNG VÀ NGUYÊN TẮC TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH 7
1.1.1 Khái niệm tự do hóa tài chính 7
1.1.2 Nội dung của tự do hóa tài chính 8
1.1.3 Đo lường mức độ tự do hóa tài chính 26
1.1.4 Nguyên tắc và trình tự tự do hóa tài chính 32
1.1.5 Tác động của tự do hóa tài chính đến nền kinh tế 42
1.2 NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG VÀ ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT CỦA QUÁ TRÌNH TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH 58
1.2.1 Nhân tố tác động tới quá trình tự do hóa tài chính 58
1.2.2 Điều kiện cần thiết để thực hiện tự do hóa tài chính 60
1.3 KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH 66
1.3.1 Tổng quan về quá trình tự do hóa tài chính toàn cầu 66
1.3.2 Kinh nghiệm tự do hóa tài chính của một số quốc gia 68
1.3.3 Bài học cho Việt Nam từ việc nghiên cứu kinh nghiệm tự do hóa tài chính của các quốc gia 85
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỰ DO HOÁ TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM 2.1 TỔNG QUAN VỀ TIẾN TRÌNH MỞ CỬA VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM 94
2.2 THỰC TRẠNG TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM 95
2.2.1 Tự do hóa lãi suất 96
2.2.2 Tự do hóa tỷ giá hối đoái 101
2.2.3 Tự do hoá hoạt động của các tổ chức tín dụng và các định chế tài chính khác trên thị trường tài chính 104
2.2.4 Tự do hóa các giao dịch vốn 118
Trang 52.3.1 Thành tựu đã đạt được 138
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 146
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY TỰ DO HOÁ TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM 160
3.1 QUAN ĐIỂM VÀ ĐỊNH HƯỚNG TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH Ở 160
VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 160
3.1.1.Quan điểm tự do hóa tài chính 160
3.1.2 Định hướng lộ trình tự do hóa tài chính ở Việt Nam 161
3.2 LỘ TRÌNH TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM 162
3.3 GIẢI PHÁP ĐIỀU KIỆN THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM 175
3.3.1 Tăng cường sự lành mạnh của khuôn khổ chính sách kinh tế vĩ mô tạo điều kiện cho sự thành công của tự do hóa tài chính 175
3.3.2 Hoàn thiện hệ thống thể chế và luật pháp 179
3.3.3 Tăng cường khả năng bền vững của nợ nước ngoài 181
3.3.4 Phát triển và hoàn thiện các thị trường tài chính 181
3.3.5 Thiết lập khuôn khổ quản lý và giám sát phòng ngừa 183
3.3.6 Tái cấu trúc hệ thống tài chính nhằm củng cố, nâng cấp đồng bộ cả hệ thống ngân hàng và các định chế khác trên thị trường tài chính nội địa 191
3.3.7 Công tác thu thập, phân tích và cung cấp thông tin cần được cải tiến nhằm nâng cao tính minh bạch thông tin 196
3.3.8 Cải thiện hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế 198
KẾT LUẬN 199 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6NHTM : Ngân hàng Thương mại
NHTMCP: Ngân hàng Thương mại cổ phần
NHTMNN: Ngân hàng Thương mại Nhà nước
CSTT: Chính sách tiền tệ
IMF: Quỹ tiền tệ quốc tế
ADB: Ngân hàng phát triển châu Á
OECD: Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
DNNN: Doanh nghiệp nhà nước
FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài
UBCKNN: Ủy ban chứng khoán nhà nước
LCSB: Lãi suất cơ bản
NVTTM: Nghiệp vụ thị trường mở
WTO: Tổ chức thương mại thế giới
Trang 7Bảng 1.2: Tỷ lệ tiết kiệm nội địa/GDP trước và sau tự do hóa tài chính 46
Bảng 1.3 Tự do hóa tài chính và khủng hoảng tài chính 54
Bảng 1.4: Quá trình tự do hóa 7 lĩnh vực tài chính của Trung Quốc 78
Bảng 2.1: Những thay đổi trong cơ chế điều hành tỷ giá của Việt Nam 103
Bảng 2.2 Hệ thống các tổ chức tín dụng tại Việt Nam 109
Bảng 2.3 Thị phần dư nợ tín dụng của các nhóm ngân hàng 110
Bảng 2.4 Quy mô tài sản có của các TCTD 111
Bảng 2.4 Quy mô tài sản có của các TCTD 112
Bảng 2.5 Một số hoạt động mua lại cổ phần ngân hàng trong nước của ngân hàng nước ngoài 114
Bảng 2.6: Đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp giấy phép giai đoạn 1989 – 2011 120
Bảng 2.7: Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được cấp giấy phép thời kỳ 1989 – 2011 121
Bảng 2.8 : Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được cấp giấy phép phân theo ngành kinh tế (lũy kế các dự án còn hiệu lực đến 31/12/2011) 123
Bảng 2.9: Tổng hợp giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán 126
Bảng 2.10: Tài khoản nhà đầu tư qua các năm 127
Bảng 2.11: Dư nợ nước ngoài của Chính phủ và doanh nghiệp 129
Bảng 2.12 Biến động các dòng vốn vào – ra Việt Nam giai đoạn 2008-2011 132
Bảng 2.13: Quá trình tự do hóa 7 lĩnh vực tài chính của Việt Nam 134
Bảng 2.14 Mức độ tự do hóa trên từng lĩnh vực của Việt Nam so với 135
một số nước 135
Bảng 2.15 : Chỉ số Schindler của một số quốc gia 137
Bảng 2.16: Chỉ số đối với luồng vốn vào và luồng vốn ra của một số quốc gia 138
Trang 8Sơ đồ 1.1 Hình thức biểu hiện của cơ chế điều hành lãi suất trực tiếp 10
Sơ đồ 1.2: Trình tự tự do hóa tài chính theo lý thuyết của Mckinnon - Shaw 34 Sơ đồ 1.3 Lộ trình mở cửa tài chính của IMF 40
Sơ đồ 1.4 Cách tiếp cận tự do hóa tài chính của ADB 42
Biểu đồ 2.1 Diễn biến lãi suất huy động và cho vay VND bình quân 99
Biểu đồ 2.2 Tốc độ tăng trưởng tín dụng của hệ thống các TCTD 107
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Qua nhiều thập niên kiềm chế tài chính nặng nề, các quốc gia nhận thức
rõ cái giá phải trả, đồng thời, với những điều kiện mới của môi trường toàn cầu, các nước cố gắng chọn cho mình những giải pháp tự do hóa tài chính để làm tăng tính cạnh tranh trong hệ thống tài chính, từ đó cải thiện hiệu quả
phân bổ và sử dụng nguồn lực
Các nước đều có những sự khác biệt nhất định như: yếu tố cơ bản của kinh tế vĩ mô; trình độ phát triển của hệ thống tài chính; mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp lý; năng lực điều hành, quản trị v.v là những vấn đề cần quan tâm khi lựa chọn các biện pháp và trình tự tự do hóa tài chính Mục đích chính là tối đa hóa những lợi ích của tự do hóa tài chính đồng thời giảm thiểu được những thiệt hại mà tự do hóa tài chính mang theo Tự do hóa tài chính giúp tạo ra một môi trường minh bạch, linh hoạt và hiệu quả cho hệ thống tài chính, thu hút đầu tư, kích thích sự cạnh tranh lành mạnh, mang lại động lực phát triển cũng như cơ hội sử dụng các dịch vụ tài chính đa dạng, chất lượng cao Những lợi ích tiềm năng của tự do hoá tài chính là rất lớn, nhưng bên cạnh đó cũng có những mặt trái được cho là nguyên nhân dẫn đến đổ vỡ, khủng hoảng tài chính
Đầu thế kỷ 20 quá trình tự do hóa tài chính đã xuất hiện nhưng nó chỉ thực sự trở thành làn sóng mạnh mẽ từ sau khi chiến tranh thế giới lần thứ 2 kết thúc Các nền kinh tế phát triển khu vực Bắc Mỹ và Châu Âu tiến hành tự
do hóa tài chính mạnh vào những năm 1960 - 1970, các nền kinh tế khu vực
Mỹ Latinh và Nhật Bản thực hiện mạnh vào những năm 1980 còn các nền kinh tế đang phát triển ở Châu Á đẩy mạnh tiến trình này vào những năm
1990
Tuy nhiên, kể từ khi tự do hóa tài chính trở nên phổ biến trên thế giới, người ta lại thấy có nhiều cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra ở nhiều quốc gia như ở khu vực Mỹ Latinh thập niên 1980 hay cuộc khủng hoảng tài chính
Trang 10Châu Á năm 1997 và hiện tại là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu xuất phát từ nước Mỹ năm 2008
Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đầy biến động như hiện nay, khi cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Mỹ năm 2008 lan sang các quốc gia, nền kinh tế thế giới hiện chưa có dấu hiệu phục hồi cùng với vấn đề nợ công của khu vực đồng tiền chung châu Âu (EUROZONE), đã khiến cho các chuyên gia kinh tế, các nhà nghiên cứu nhìn nhận lại vấn đề tự do hóa tài chính Khi các quốc gia ngày càng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau thì sự biến động trong hệ thống tài chính của một quốc gia sẽ tác động mạnh tới các quốc gia khác Mức độ tự do hóa tài chính với mỗi quốc gia như thế nào là phù hợp cho từng giai đoạn cụ thể? Đó là một câu hỏi cần được xem xét
Có những quan điểm cho rằng chính vì quá trình tự do hóa tài chính mà các cuộc khủng hoảng tài chính đã có cơ hội xảy ra Lại có những lập luận khác cho rằng, tự do hóa tài chính là tốt nhưng cách thức và điều kiện tiến hành tự do hóa mới là thủ phạm gây ra các cuộc khủng hoảng
Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của mình, việc
tự do hóa nên tài chính là không thể không thực hiện, đặc biệt là sau khi Việt Nam ra nhập WTO năm 2007 Việc có những hiểu biết sâu sắc về quá trình tự
do hóa tài chính là điều hết sức cần thiết để có thể góp phần tiến hành một cách thành công quá trình tự do hóa tài chính của Việt Nam nói riêng và sự hội nhập của cả nền kinh tế vào hệ thống kinh tế toàn cầu nói chung Việc nghiên cứu vấn đề này càng trở nên có ý nghĩa trong điều kiện hệ thống tài chính non trẻ của Việt Nam, với bối cảnh nền kinh tế quốc tế hiện tại, để có thể tận dụng được những lợi ích to lớn của tự do hoá tài chính đồng thời hạn chế những tác động tiêu cực của nó đến nền kinh tế Vấn đề quan trọng là lựa chọn được một lộ trình tự do hóa tài chính với mức độ phù hợp trong từng
giai đoạn Xuất phát từ những yêu cầu đó, tác giả chọn đề tài “Tự do hoá tài
chính ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp” để nghiên cứu
2 Tình hình nghiên cứu
Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Trang 11Tự do hóa tài chính đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của rất nhiều các nhà khoa học và các tổ chức trên thế giới như Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế Nội dung nghiên cứu về tự do hóa tài chính rất rộng, nhưng
có thể tạm chia các công trình nghiên cứu thành những nhóm vấn đề sau:
- Những khía cạnh lý thuyết và thực nghiệm về tự do hóa tài chính: bản chất, lợi ích và chi phí, những điều kiện tiền đề, mức độ tự do hóa tài chính được đề cập tới trong một số nghiên cứu của J Stiglitz (2000), Gerard Caprio, Patrick Honohan and Joseph E Stiglitz (2004), Abdul Abiad, Enrica Detragiache, và Thierry Tressel (2008) Cụ thể như: Gerard Caprio, Patrick
Honohan and Joseph E Stiglitz (2004), Financial Liberalization: How Far?
How Fast?, Joumal of Comparatlve Economics, 2004, vol 32; chỉ ra bản chất
của tự do hóa tài chính và mức độ tiến hành tự do hóa tài chính Ronald
McKinnon (1993), The Order of Economic Liberalization: Financial Control
in the Transition to a Market Economy, Baltimore, Johns Hopkins University
Press, 1993 thì nói rõ về trình tự tự do hóa tài chính…
- Nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia về tự do hóa tài chính: các
lựa chọn biện pháp và lộ trình; phân tích nguyên nhân của thành công và thất bại
Các tác giả tiêu biểu là Akira Ariyoshi, Karrl Habermeier, Bernarrd Laurens, Inci Otker-Robe (trong các chương trình nghiên cứu của IMF, WB tiến hành sau khủng hoảng tài chính Châu Á 1997), John Williamson và Molly Mahar (1998), Barry Eichengreen and Michael Mussa (1998), Bernhard Fischer và Reisen Helmut (1992), Ronald Mckinnon (1993) Trong nghiên cứu của Barbara Stallings (2004) thì chỉ rõ bài học về thành công và thất bại từ Châu Mỹ latinh
và Đông Á khi tiến hành tự do hóa tài chính…
- Nghiên cứu về mối quan hệ giữa tự do hóa tài chính và khủng hoảng
có một số các nhà nghiên cứu nổi tiếng: Krugman, Obstfeld… Krugman (1979) là học giả đầu tiên lý giải cho sự nổ ra của khủng hoảng tài chính xuất phát từ chính sách tự do hóa tài khoản vốn Ông cho rằng các quốc gia cơ chế
tỷ giá được quản lý không hợp lý có thể dẫn tới khủng hoảng khi các nhà đầu
tư nước ngoài rút vốn ồ ạt gây ra sự cạn kiệt của dự trữ ngoại hối Obstfeld
Trang 12(1996) đưa ra lập luận trên cơ sở mô hình của Krugman và chỉ ra rằng, mặc
dù có cơ chế điều hành tỷ giá hợp lý, tuy nhiên khủng hoảng tài chính vẫn có thể nổ ra nếu như kỳ vọng của thị trường đột ngột thay đổi kết hợp với các cuộc tấn công của giới đầu cơ
Tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong nước
Những nghiên cứu trong nước về chủ đề này có thể kể ra một số tác giả
và công trình như: Đề tài khoa học cấp bộ của Trịnh Quang Long (2006), Tự
do hóa tài chính và rủi ro phát sinh: Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị một lộ trình cho Việt nam đi sâu nghiên cứu về tự do hóa tài chính gắn với các rủi ro
có liên quan;
Đề tài nghiên cứu đặc biệt mã số QG.04.25 Đại học Quốc gia Hà Nội của
Trần Thị Thái Hà (2006) Tự do hóa tài chính:Lý luận, kinh nghiệm quốc tế
và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam lại chủ yếu nghiên cứu về vấn đề kiềm
chế tài chính tiến tới tự do hóa tài chính và kinh nghiệm của một số quốc gia
Bùi Ngọc Sơn (2010), Tự do hóa tài chính – Một xu hướng mang tính toàn
cầu, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, đề tài này đã chỉ ra triển vọng của xu
hướng tự do hóa tài chính trên toàn cầu, đây vẫn là vấn đề còn tiếp diễn bất chấp những biến động mạnh trong môi trường kinh doanh toàn cầu thời gian
qua Nguyễn Toàn Thắng (2010), Lý luận và thực tiễn về tự do hóa các giao
dịch vốn và sự ổn định khu vực tài chính Việt Nam: Khuôn khổ chính sách đến năm 2020, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước, đề tài này đề cập
đến vấn đề tự do hóa giao dịch vốn trong mối quan hệ với sự ổn định của khu vực tài chính ở Việt Nam Đề cập đến mối quan hệ giữa tự do hóa tài chính và
tăng trưởng kinh tế có nghiên cứu của Trần Anh Tuấn (2002), Tác động của
việc tự do hoá tài chính đến tăng trưởng kinh tế- lý luận & thực tiễn ở Việt nam, Viện nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh Một số nghiên cứu
của Bộ kế hoạch và đầu tư - Chương trình Phát triển Liên hợp quốc; Dự án
VlE/02/009, Nghiên cứu khả năng cạnh tranh và tác động của tự do hóa dịch
vụ tài chính: trường hợp ngành ngân hàng, tháng 12-2005; Nguyễn Đại Lai,
Tự do hoá tài chính – Xu thế và giải pháp chính sách cho ngân hàng Việt nam
Trang 13thời kỳ hậu WTO Ngoài ra một số nội dung của tự do hóa tài chính cũng được
đề cập tới trong những tham luận tại các hội thảo khoa học của ngành ngân hàng, tài chính và các trường đại học
Tuy nhiên, những công trình trên chưa phản ánh khái quát đầy đủ, cụ thể thực trạng quá trình tự do hóa tài chính ở Việt Nam, chưa chỉ ra được lộ trình và các giải pháp tự do hoá tài chính ở Việt Nam trong điều kiện có sự biến động lớn về môi trường kinh tế cả trong và ngoài nước như hiện nay Đặc biệt, giai đoạn từ 2008 đến nay, khi bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến đổi bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ, Việt Nam cũng không tránh khỏi những tác động và đang gặp phải những vấn đề khó khăn Trước tình hình đó, các quan điểm đề cập đến vấn đề tự do hóa tài chính giai đoạn này có phần thận trọng hơn Có chuyên gia còn đặt ra vấn đề: Có nhất thiết phải tiến hành tự do hóa tài chính hay không? Và sau khủng hoảng thì mức độ tự do hóa tài chính như thế nào là phù hợp, đặc biệt là với các nền kinh tế nhỏ, phụ thuộc vào nước ngoài?
Với mong muốn đáp ứng phần nào nhu cầu học tập, nghiên cứu, hoạch định chính sách liên quan tới một chủ đề rộng lớn và phức tạp là tự do hóa tài
chính, tác giả lựa chọn đề tài "Tự do hóa tài chính ở Việt Nam- Thực trạng
và giải pháp " để nghiên cứu.
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là:
- Chỉ ra nguyên tắc tự do hóa tài chính, các mức độ cũng như điều kiện thực hiện của tự do hóa tài chính Các nước có điều kiện khác nhau, các nền kinh tế phát triển, đang phát triển thực hiện các bước tự do hóa tài chính có giống nhau hay không?
- Phân tích, xác định mức độ tự do hóa tài chính của Việt Nam qua thời gian
- Đề xuất lộ trình và một số giải pháp điều kiện cho quá trình tự do hóa tài chính để tự do hóa tài chính có hiệu quả cao nhất với Việt Nam
Trang 144 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận án là tự do hóa tài chính, điều kiện
thực hiện tự do hóa tài chính, các chỉ số đo lường mức độ tự do tài chính
- Phạm vi nghiên cứu: Về mặt thời gian, luận án tập trung vào giai
đoạn từ sau đổi mới của Việt nam, đặc biệt giai đoạn từ 2006 – 2011
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng kết hợp các biện pháp nghiên cứu trong khoa học kinh
tế nhằm phân tích vấn đề Phương pháp thống kê, so sánh được áp dụng để tìm ra những đặc trưng nổi bật từ tiến trình tự do hóa tài chính ở các quốc gia trên thế giới Đồng thời, luận án sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp,
hệ thống hóa và khái quát hóa
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Luận án hệ thống hoá, góp phần phát triển những vấn đề lý luận cơ bản
về tự do hoá tài chính Đặc biệt làm rõ những lợi ích, rủi ro của tự do hóa tài chính, các điều kiện cần thiết, những vấn đề mang tính nguyên tắc để đảm bảo tận dụng được lợi ích và giảm thiểu rủi ro của quá trình này
Phân tích thực trạng tiến trình tự do hoá tài chính ở Việt Nam, từ đó đưa ra lộ trình, các giải pháp điều kiện thúc đẩy tự do hoá tài chính trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay
Bên cạnh đó, luận án có thể sử dụng làm tài liệu giảng dạy, nghiên cứu, học tập và đề xuất chính sách
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận án được chia thành 3 chương như sau:
Chuơng l: Cơ sở lý luận về tự do hóa tài chính
Chương 2: Thực trạng tự do hóa tài chính ở Việt Nam
Chương 3: Giải pháp thúc đẩy tự do hóa tài chính ở Việt Nam
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỰ DO HOÁ TÀI CHÍNH
1.1 NỘI DUNG VÀ NGUYÊN TẮC TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH
1.1.1 Khái niệm tự do hóa tài chính
Theo IMF, tự do hoá tài chính (Financial Liberalization) là quá trình giảm thiểu và cuối cùng là huỷ bỏ sự kiểm soát của Nhà nước đối với hoạt động của hệ thống tài chính quốc gia, làm cho hệ thống này hoạt động tự do hơn và hiệu quả hơn theo quy luật thị trường
Bản chất của tự do hoá tài chính (TDHTC) là nhằm đưa hoạt động tài chính vận hành theo cơ chế nội tại vốn có của thị trường và chuyển vai trò điều tiết tài chính từ Chính phủ sang thị trường, chuyển từ quản lý bằng hành chính sang qui luật thị trường, mục tiêu là tìm ra sự phối hợp có hiệu quả giữa Nhà nước và thị trường trong việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế -
xã hội
Vì vậy, tự do hóa tài chính nằm ở vấn đề muôn thuở của nền kinh tế là giải quyết mâu thuẫn giữa vai trò của nhà nước và vai trò của thị trường, đặc biệt là khi vị trí của tài chính đang ngày một quan trọng hơn không chỉ đối với từng quốc gia mà còn đối với từng khu vực và toàn cầu Cần tìm ra sự phối hợp hợp lý, hiệu quả, bền vững, bổ sung và hỗ trợ tích cực lẫn nhau giữa nhà nước và thị trường trong việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế - tài chính - xã hội Các dòng vốn được tự do lưu chuyển đến bất cứ đâu, đến nơi thu được hiệu quả cao nhất, tùy thuộc ý muốn của nhà đầu tư mà không gặp bất kỳ sự ngăn cản phi kinh tế nào Các dòng vốn ở đây bao gồm cả vốn đầu
tư của khu vực quốc doanh và tư nhân, khu vực dân cư, tổ chức trung gian tài chính và các doanh nghiệp phi tài chính, vốn trong nước và vốn nước ngoài, đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp (trừ nguồn vốn cho những lĩnh vực đặc biệt như an ninh, quốc phòng và công ích quan trọng).[35]
Trang 16Ngược lại với tự do hóa tài chính là khái niệm kiềm chế tài chính (Financial Repression) dùng để chỉ sự can thiệp của Nhà nước vào hệ thống tài chính nhằm mục đích duy trì sự ổn định tài chính, bảo vệ công chúng khỏi những tổn thất bất ngờ và giúp phân bổ của cải công bằng hơn trong xã hội Kiềm chế tài chính thể hiện bằng việc chính phủ thực hiện các biện pháp can thiệp như: (i) Khống chế lãi suất tiền gửi và tiền vay; (ii) Yêu cầu dự trữ bắt buộc cao đối với các ngân hàng; (iii) Cho vay theo chỉ định của chính phủ; (iv) Sở hữu và/hoặc can thiệp sâu vào hoạt động của ngân hàng; (v) Hạn chế
sự tham gia của các định chế tài chính (ngoài quốc doanh và nước ngoài) vào thị trường tài chính; (vi) Hạn chế các luồng vốn vào và ra khỏi nền kinh tế nhằm điều tiết các khoản đầu tư vốn trong nền kinh tế phù hợp với các chính sách phát triển kinh tế của chính phủ, tạo thuận lợi cho việc kiểm soát có hiệu quả hơn hoạt động của thị trường tài chính (TTTC) Tự do hóa tài chính có thể hiểu là phát triển thị trường tài chính trên cơ sở xóa bỏ những sự kiểm soát này.[11]
1.1.2 Nội dung của tự do hóa tài chính
Xét tổng quát nội dung cơ bản của tự do hóa tài chính bao gồm: Tự do hoá lãi suất, tự do hoá tỷ giá, tự do hoá hoạt động của các tổ chức tín dụng, các định chế trên thị trường tài chính và tự do hóa giao dịch vốn
1.1.2.1 Tự do hoá lãi suất
Khái niệm: Tự do hóa lãi suất là một bộ phận quan trọng của tự do hóa
tài chính Tự do hóa lãi suất là trao cho thị trường toàn bộ việc xác định lãi suất cân bằng, ngân hàng trung ương chỉ sử dụng các công cụ can thiệp gián tiếp để điều chỉnh cho phù hợp với chiến lược và mục tiêu đặt ra trong từng thời kỳ phát triển của nền kinh tế
Biểu hiện của tự do hóa lãi suất: Tự do hoá lãi suất là hạt nhân của quá
trình TDHTC Tự do hoá lãi suất thể hiện bằng việc cho phép các Ngân hàng
Trang 17thương mại (NHTM), các tổ chức tín dụng (TCTD) được tự do quyết định mức lãi suất huy động vốn và cho vay; Ngân hàng trung ương (NHTW) sử dụng cơ chế điều hành lãi suất gián tiếp thay cho cơ chế điều hành lãi suất
trực tiếp
Trường hợp ngược lại, các NHTM, TCTD không được tự do quyết định lãi suất kinh doanh của mình mà phải tuân theo một mức lãi suất được ấn định bởi nhà nước; NHTW sử dụng cơ chế điều hành lãi suất trực tiếp, đó chính là thể hiện tình trạng kiểm soát lãi suất
Lãi suất là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của NHTM nếu nó được hình thành theo quan hệ cung cầu thì ngân hàng thương mại có thể điều chỉnh lãi suất đầu vào, đầu ra hợp lý sao cho đảm bảo lợi nhuận Nếu lãi suất huy động và lãi suất cho vay bị ấn định bởi Ngân hàng trung ương thì trong trường hợp ngân hàng thương mại thiếu vốn có thể
sẽ khó huy động được vì lãi suất huy động quá thấp hoặc lại ứ đọng vốn không cho vay được do lãi suất cho vay quá cao Tính thời cơ và cạnh tranh trong hoạt động tín dụng bị hạn chế đáng kể Bên cạnh đó, với việc tự do hóa lãi suất, NHTW gián tiếp kiểm soát lãi suất kinh doanh của NHTM và TCTD thông qua công bố các lãi suất chủ đạo (hay lãi suất chính thức mang tính định hướng) như lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm khi ngân hàng trung ương thực hiện tái cấp vốn cho TCTD; lãi suất chào mua, chào bán trên nghiệp vụ thị trường mở và một số loại lãi suất khác
Cơ chế điều hành lãi suất trực tiếp thể hiện rất rõ việc lãi suất thị trường
bị kiểm soát chặt chẽ, không được tự do hóa Điều hành lãi suất trực tiếp được hiểu là việc NHTW trực tiếp quản lý lãi suất kinh doanh của các tổ chức tín dụng thông qua các hình thức:
+ Ấn định lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay cụ thể, chi tiết;
+ Khống chế chênh lệch lãi suất cho vay - huy động vốn;
Trang 18+ Khung lãi suất: ấn định lãi suất tối thiểu về tiền gửi, tối đa về tiền cho vay + Lãi suất cơ bản cộng với biên độ dao động cụ thể
+ Ngoài ra, thoả thuận trong Hiệp hội ngân hàng cũng là hình thức của điều hành lãi suất trực tiếp
Sơ đồ 1.1 Hình thức biểu hiện của cơ chế điều hành lãi suất trực tiếp
Khi chuyển sang cơ chế điều hành lãi suất gián tiếp thể hiện rằng lãi suất đã được tự do hơn NHTW gián tiếp kiểm soát lãi suất kinh doanh của NHTM và TCTD thông qua công bố các lãi suất chủ đạo (hay lãi suất chính thức mang tính định hướng) như lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm khi NHTW thực hiện tái cấp vốn cho TCTD; lãi suất chào mua, chào bán trên NVTTM và một số loại lãi suất khác tuỳ theo điều kiện từng nước
Với cơ chế điều hành lãi suất gián tiếp, các định chế tài chính có thể tự
do ấn định lãi suất cho vay và lãi suất huy động trên cơ sở thoả thuận với khách hàng nhằm đảm bảo hiệu quả kinh doanh một cách tối ưu song vẫn bị giới hạn bởi các lãi suất chủ đạo mà NHTW đưa ra Đây là cơ chế điều hành
Điều tiết lãi suất trực tiếp
Điều tiết lãi suất thông qua
hiệp hội Ngân hàng
Chênh lệch lãi suất
Khung lãi suất
Trần lãi suất
LSCB + biên
độ
Trang 19lãi suất vừa thực hiện được tự do hoá lãi suất khiến lãi suất hình thành chủ yếu dựa trên quan hệ cung cầu tiền tệ, vừa có tác dụng phát huy vai trò điều hành vĩ mô của NHTW Nói cách khác, khi áp dụng cơ chế kiểm soát lãi suất gián tiếp thì có thể dung hoà được hai khía cạnh trong quản lý đó là thả nổi và kiểm soát chặt chẽ bởi không buông lỏng hoàn toàn song cũng không ấn định
cụ thể, chi tiết
Cơ chế điều hành lãi suất gián tiếp cho phép sử dụng được một hệ thống các công cụ gián tiếp hiệu quả như: nghiệp vụ thị trường mở, chính sách tái cấp vốn (gồm hạn mức tái cấp vốn và lãi suất tái cấp vốn), tái chiết khấu, dự trữ bắt buộc để tác động tới lãi suất thị trường
NHTW tác động trực tiếp tới mức lãi suất ngắn hạn được chọn làm mục tiêu hoạt động Từ sự thay đổi của lãi suất ngắn hạn sẽ ảnh hưởng tới các mức lãi suất trung và dài hạn Nói cách khác, NHTW bằng cách đưa ra các lãi suất chủ đạo, định hướng, từ đó sẽ tác động tới mặt bằng lãi suất thị trường
Ví dụ, khi NHTW thay đổi lãi suất tái cấp vốn sẽ tạo nên phản ứng dây truyền giữa các mức lãi suất Kết quả cuối cùng là sự thay đổi của mặt bằng lãi suất phù hợp với mục tiêu của NHTW Khi NHTW tăng lãi suất tái cấp vốn sẽ làm lãi suất liên ngân hàng tăng, từ đó tác động tới lãi suất thị trường
Như vậy, với việc chuyển từ cơ chế điều hành lãi suất trực tiếp sang cơ chế điều hành lãi suất gián tiếp đã thể hiện được rằng, quá trình tự do hóa lãi suất đang được tiến hành
Tác động của tự do hóa lãi suất: Tự do hóa lãi suất nói riêng và tự do
hóa tài chính nói chung có ý nghĩa quan trọng đối với các quốc gia trong giai đoạn phát triển và chuẩn bị hội nhập vào nền kinh tế thế giới trên phương diện
vĩ mô lẫn vi mô
Xét ở phương diện vĩ mô của nền kinh tế: Trong quá trình phát triển nền kinh tế và hội nhập, một số hoạt động cần có sự phù hợp với thông lệ
Trang 20quốc tế, trong đó có lĩnh vực tài chính, ngân hàng Việc tự do hóa lãi suất, chuyển dần sang thực hiện các công cụ gián tiếp điều hành chính sách lãi suất, giảm sự can thiệp bằng các công cụ hành chính trực tiếp, từ đó sẽ trả lại cho lãi suất đúng vai trò là đòn bẩy kích thích nền kinh tế phát triển, nhằm kích thích sự tăng trưởng kinh tế
Về phương diện vi mô của nền kinh tế: Tự do hóa lãi suất sẽ thúc đẩy cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng trong nước
và các chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài, giúp các ngân hàng trong nước có điều kiện phát triển, đa dạng hóa nghiệp vụ, tiếp cận công nghệ tiên tiến hơn Đối với các khách hàng của ngân hàng thương mại, TCTD đó là các doanh nghiệp, các tầng lớp dân cư sẽ chủ động hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn, tùy thuộc vào các mức lãi suất mà các ngân hàng đưa ra, các doanh nghiệp có thể tự do lựa chọn các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng
để giao dịch
Kiểm soát lãi suất không có lợi cho cạnh tranh ở chỗ các TCTD kém hiệu quả có thể vẫn tồn tại hoạt động mà không phải chịu sức ép của cạnh tranh, khiến cho quá trình giải quyết khó khăn của những TCTD này tồn tại kéo dài Việc kiểm soát trực tiếp lãi suất tỏ ra kém hiệu quả trong việc điều hành chính sách tiền tệ, phân bổ nguồn vốn tín dụng, dẫn đến khả năng cạnh tranh thấp trên thị trường tiền tệ, giảm chức năng trung gian tài chính của hệ thống ngân hàng do sự thiếu linh hoạt, cứng nhắc
Khi lãi suất được tự do hoá, biến động theo cung - cầu về vốn, nên có thể phân bổ nguồn vốn tín dụng khan hiếm hiệu quả hơn, đồng thời đảm bảo h u y đ ộ n g đ ư ợ c v ố n v ớ i m ứ c l ã i s u ấ t h ợ p l ý Lãi suất tự do hoá có khả năng linh hoạt điều tiết để thích nghi với điều kiện thay đổi
1.1.2.2 Tự do hóa tỷ giá
Trang 21Tỷ giá là giá cả của tiền và phản ánh tổng hòa tương quan mức giá
chung xã hội trên thị trường trong nước so với thị trường nước ngoài
Khái niệm: Tự do hoá tỷ giá là một quá trình tiến tới cho phép tỷ giá
được xác định dựa trên quan hệ cung cầu thị trường
Khi một quốc gia để cho tỷ giá được tự do xác định trên thị trường và chính phủ từ bỏ việc can thiệp của mình ta nói nước đó đang theo đuổi chính
sách tỷ giá tự do
Nếu tỷ giá bị nhà nước ấn định ở một mức cụ thể, tỷ giá đó có thể thực
sự không phù hợp trong mối tương quan về sức mua giữa nội tệ và ngoại tệ Điều đó có nghĩa, khi có sự chuyển đổi giữa nội tệ và ngoại tệ thì có thể nó sẽ không phản ánh đúng về giá trị giữa các loại tiền, sự chuyển đổi về tiền tệ đó không tuân theo quy luật thị trường và nó bị kiểm soát chặt chẽ bởi sự điều hành của nhà nước
Trên thế giới hiện nay các nước thực hiện các cách điều hành tỷ giá khác nhau, song nhìn chung có ba xu hướng: hoặc là chế độ tỷ giá cố định hoặc là chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn hoặc thả nổi có kiểm soát
Hệ thống tỷ giá thả nổi hoàn toàn : Do cung cầu trên thị trường ngoại
hối quyết định tỷ giá Không có sự can thiệp của chính phủ
Hệ thống tỷ giá cố định: đó là tỷ giá do ngân hàng trung ương ấn định ở
một mức nào đó Tỷ giá cố định có thể cao hơn hay thấp hơn tỷ giá cân bằng trên thị trường ngoại hối Để giữ được tỷ giá ở mức cố định ngân hàng trung ương phải mua bán ngoại tệ trên thị trường ngoại hối, điều đó ảnh hưởng tới cung tiền và sự kiểm soát của ngân hàng trung ương tới cung tiền sẽ bị ảnh hưởng
Hệ thống tỷ giá thả nổi có kiểm soát : Nằm giữa hai thái cực trên, tỷ
giá được hình thành trên cơ sở thị trường theo quy luật cung cầu, cơ quan điều hành chính sách chỉ tác động lên tỷ giá bằng các công cụ mang tính thị trường
Trang 22Các yếu tố cần xem xét khi quyết định lựa chọn cơ chế tỷ giá được chỉ
ra trong các nghiên cứu của Masson (2001), Duttagupta và Otker- Robe (2003), Frankel (2003), Rogoff và cộng sự (2003, 2010) là: (i) Độ mở thương mại và quy mô nền kinh tế ( Độ mở thương mại được đo bằng tỷ lệ giữa xuất khẩu và nhập khẩu so với GDP còn quy mô nền kinh tế được dựa trên GDP); (ii) Sự đa dạng trong cấu trúc sản xuất/ xuất khẩu (Đo bằng tỷ trọng thương mại với các đối tác chính) và sự tập trung hoạt động thương mại theo vùng địa
lý (Đo bằng đồng tiền dùng thanh toán với các đối tác chính); (iii) Chênh lệch lạm phát; (iv) Sự di chuyển của lao động; (v) Sự di chuyển vốn hay mức độ
mở của vốn; (vi) Sự hỗ trợ tài chính/ Tấm lá chắn tài khóa; (vii) Sự đối xứng
Ngoài ra một số yếu tố khác như: mức độ phát triển kinh tế được đo GDP bình quân đầu người, tăng trưởng tín dụng trong nước, dự trữ ngoại tệ,
sự bất ổn của tỷ giá hối đoái thực, nợ nước ngoài, các cú sốc trong nước, các
cú sốc từ nước ngoài và các yếu tố liên quan đến thể chế như sự bất ổn về chính trị, mức độ độc lập của các ngân hàng trung ương cũng được một số nhà nghiên cứu sử dụng trong các mô hình lựa chọn tỷ giá
Biểu hiện của tự do hóa tỷ giá: Tự do hóa tỷ giá được thể hiện ở một
số khía cạnh như: Bỏ việc ấn định tỷ giá; Các biện pháp quản lý hành chính
về ngoại tệ được loại bỏ và các công cụ mang tính thị trường được sử dụng;
Tỷ giá được xác định dựa trên cơ sở cung cầu ngoại tệ
Trong quá trình thực hiện tiến trình tự do hoá, mỗi quốc gia lựa chọn lộ trình phù hợp với đặc điểm riêng của mình Thông thường, ban đầu các ngân hàng trung ương thực hiện sự linh hoạt tỷ giá bằng cách nới rộng các biên độ dao động của tỷ giá Ngân hàng Trung ương cố gắng hạn chế sự can thiệp của mình, chỉ hành động khi có những xu hướng bất lợi hoặc vượt quá một giới hạn cho phép đối với nền kinh tế Tiếp theo đó, các ngân hàng sẽ sử dụng các công cụ gián tiếp mang tính thị trường để định hướng tỷ giá
Tác động của tự do hóa tỷ giá
Trang 23Phạm vi tác động của chính sách tỷ giá gia tăng cùng chiều với mức độ
tự do chuyển đổi đồng tiền và hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới của mỗi nước
Khi tỷ giá hối đoái được dần từng bước tự do hóa, (tất nhiên vẫn cần được giám sát nhưng bằng các công cụ thị trường để kiểm soát, điều hành chứ không phải là áp đặt một mức tỷ giá cố định), sẽ góp phần nâng cao tính cạnh tranh và khả năng phản ứng của nền kinh tế trong nước với những thay đổi của nền kinh tế thế giới trong điều kiện mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế
Tỷ giá trở thành công cụ quan trọng để kiểm soát luồng vốn vào, vốn ra
Khả năng cạnh tranh của xuất khẩu, trạng thái cán cân thương mại và thanh toán, dự trữ quốc gia, biến động cơ cấu sản xuất, niềm tin vào bản tệ, vào chính phủ, vào tương lai - nghĩa là các nhân tố chủ yếu đo lường sức khoẻ
và chi phối mạnh động lực phát triển nền kinh tế đất nước - đều phụ thuộc sâu sắc vào tỷ giá hối đoái chính thức
Việc ổn định được một tỷ giá bản tệ nào đó phù hợp với giá trị thực tế của nó sẽ là điều kiện lý tưởng để góp phần ổn định hoá nền kinh tế của một nước Song, trong đa số trường hợp, tỷ giá chịu tác động khách quan của các nhân tố thị trường luôn biến động vượt ra khỏi tầm kiểm soát, khống chế của các nhân tố chủ quan của các chính phủ, dù quốc gia đó có lực lượng dự trữ tài chính mạnh đến đâu và cơ chế điều tiết thị trường hoàn thiện thế nào
Những tác động của việc cố định tỷ giá nhưng không phù hợp (quá cao hoặc quá thấp), cho thấy nếu tỷ giá được tự do hóa, hình thành trên cơ sở thị trường, phản ánh đúng giá trị thực của bản tệ sẽ tránh được những nguy cơ này Tuy nhiên, tự do hóa tỷ giá cũng có những tác động tiêu cực, đặc biệt là với các nước đang phát triển
Khi tự do hóa tỷ giá hay lựa chọn tỷ giá thả nổi, đây là một nhân tố gây mất ổn định mạnh trong bối cảnh nền kinh tế chưa phát triển đầy đủ các quan
hệ thị trường, cơ chế và các thể chế thị trường sơ khai và thiếu đồng bộ Đây
Trang 24chính là tình thế lưỡng nan của đa số các nước đang phát triển trong khi lựa chọn quá trình tự do hóa tỉ giá
1.1.2.3 Tự do hoá hoạt động của các tổ chức tín dụng và các định chế tài chính khác trên thị trường tài chính
Khái niệm: Tự do hoá hoạt động của các tổ chức tín dụng và các định
chế tài chính nghĩa là xóa bỏ sự can thiệp trực tiếp của Chính phủ vào quá trình hoạt động các tổ chức này, để các tổ chức này hoạt động theo quy luật thị trường
Tự do hoá hoạt động của các tổ chức tài chính trên trên thị trường tài chính được hiểu là việc xoá bỏ sự phân biệt đối xử giữa các tổ chức tài chính thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, giữa các loại hình tổ chức tài chính, giữa các tổ chức tài chính trong nước và tổ chức tài chính nước ngoài (giới hạn về phạm vi hoạt động, hình thức cung cấp, huy động vốn ) Đồng thời,
mở rộng hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính, từng bước chuyển từ hoạt động cung ứng dịch vụ độc quyền của ngành ngân hàng sang thị trường tài chính đa ngành
Biểu hiện của tự do hoá hoạt động của các tổ chức tín dụng và các định chế tài chính:
(i)Loại bỏ kiểm soát lãi suất: Điều này được nhắc đến với việc loại bỏ
kiểm soát lãi suất nhận gửi và cả lãi suất cho vay đối với các ngân hàng
(ii)Giảm dự trữ bắt buộc: Ở hầu hết các nước, các ngân hàng đều phải
tái gửi một tỷ lệ xác định trong số tiền gửi của họ làm dự trữ tại ngân hàng trung ương Thông lệ này, khi được theo đuổi trong những giới hạn, có thể có lợi cho các ngân hàng và công chúng Các ngân hàng trung ương có thể là một nơi đáng tin cậy để cất giữ các khoản dự trữ và có thể sử dụng những số
dư dự trữ này để tạo thuận lợi cho việc thanh toán giữa các ngân hàng Các ngân hàng cần có những số dư dự trữ có thể tiếp cận, vừa để giải quyết dòng
Trang 25các chuyển giao tiền gửi thông thường giữa các ngân hàng vừa, để dự phòng
trước những khủng hoảng tài chính khi những đòi hỏi rút tiền có thể rất lớn
Tuy nhiên, thông lệ không trả lãi trên các khoản dự trữ lại không có được một sự biện minh nào từ quan điểm xúc tiến hoạt động ngân hàng hiệu quả Lợi thế duy nhất của nó là nguồn thu mà nó tạo ra cho chính phủ: dự trữ bắt buộc cung cấp nguồn thu cho chính phủ bằng cách buộc các ngân hàng phải gửi quỹ tại ngân hàng trung ương mà không thu được bất kỳ một khoản lãi nào trên số tiền gửi đó Điều đó làm giảm lượng nợ phải trả lãi mà chính phủ phải phát hành, và do đó làm giảm chi phí dịch vụ nợ của chính phủ Trong đa số trường hợp, tỷ lệ dự trữ bắt buộc cao và những mức lãi suất thấp
mà các ngân hàng kiếm được trên những khoản dự trữ này phản ánh mong muốn của chính phủ duy trì một dạng thuế có khả năng tạo ra nguồn thu lớn ngầm định
(iii)Giảm thiểu sự can thiệp của Nhà nước đối với các quyết định cho vay của các ngân hàng, xóa bỏ tín dụng chỉ định đối với các ngân hàng thương mại
Hầu hết ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi, Chính phủ can thiệp khá mạnh vào phân phối và điều hành các khoản chính sách ưu đãi dưới nhiều hình thức như: Yêu cầu cho vay bắt buộc, lãi suất ưu đãi, bảo lãnh tín dụng,
sử dụng các tổ chức tài chính phát triển được Chính phủ hỗ trợ Các lĩnh vực thường được ưu tiên bao gồm: Công nghiệp (tín dụng trung - dài hạn để tiến hành công nghiệp hoá), nông nghiệp (để áp dụng công nghệ mới), doanh nghiệp nhỏ (để tạo công ăn việc làm) và tín dụng xuất khẩu (bảo hộ các nhà xuất khẩu để tăng khả năng cạnh tranh) Các ngân hàng thương mại được yêu cầu phải cấp các khoản tín dụng cho các đối tượng căn cứ theo sự chỉ định của chính phủ Hoạt động này có thể dẫn tới tính thiếu hiệu quả và tiêu cực
Trang 26Sự bao cấp mạnh thông qua các chương trình tín dụng chỉ định này đã tác động không tốt đến nền kinh tế: làm tăng nợ nước ngoài khi vốn sử dụng không hiệu quả, ngăn cản sự phát triển của thị trường vốn, và làm giảm tiến
độ thị trường hoá các hoạt động tài chính Mặt tích cực của nó là do chính phủ hoạt động dựa trên lợi ích công cộng do đó tín dụng chỉ định sẽ được sử dụng
vì những mục tiêu có lợi cho sự phát triển chung của nền kinh tế
Quá trình tự do hóa tài chính buộc các nước theo đuổi nó phải thu hẹp dần đối tượng và loại bỏ bớt các yêu cầu tín dụng chính sách Khi đó, tự do hoá hoạt động cho vay của các TCTD được thể hiện là việc thay đổi từ tín dụng phân phối cho một số ít đối tượng khách hàng sang tín dụng không phân biệt với mọi đối tượng khách hàng Đồng thời tách bạch hoạt động cho vay chính sách với cho vay thương mại
Do vậy, để tự do hoá hoạt động cho vay của các TCTD mà không phương hại đến các mục tiêu kinh tế - xã hội khác thì một yêu cầu đặt ra là cần phải xây dựng một chính sách tín dụng ưu đãi rõ ràng với cơ chế lãi suất thấp mà không làm ảnh hưởng đến thị trường vốn và lãi suất Mặt khác, cơ chế quản lý và điều hành loại tín dụng này phải minh bạch, không lẫn lộn với các hoạt động tín dụng thương mại của các TCTD và các định chế tài chính độc lập khác
(iv)Tư nhân hóa các ngân hàng quốc doanh: Cách thức kiềm chế tài
chính mạnh nhất phải kể đến là việc chính phủ nắm quyền sở hữu khống chế của các ngân hàng trong nền kinh tế Khi đó, chính phủ có khuynh hướng độc quyền trong việc giám sát hay chỉ định hoạt động của ngân hàng Ở các nền kinh tế đang phát triển, thông thường các ngân hàng thương mại lớn nhất nằm trong quyền kiểm soát và sở hữu của chính phủ Các nền kinh tế có mức độ tự
do hóa càng cao thì mức độ tham gia của chính phủ về quyền sở hữu càng
giảm xuống
Trang 27(v)Sự mở rộng hơn nữa các định chế tài chính trong nước và gia nhập của các tổ chức tài chính nước ngoài tăng lên
Nếu như hoạt động tín dụng ngân hàng chủ yếu cung cấp nguồn vốn dưới hình thức ngắn và trung hạn, thị trường chứng khoán được xem là kênh huy động vốn dài hạn chủ yếu của nền kinh tế Ưu điểm quan trọng của các dòng vốn dài hạn là chúng thường không tạo ra những cú sốc đột ngột cho nền kinh tế như những dòng vốn ngắn hạn Do đó, một thị trường chứng khoán hoạt động hiệu quả sẽ là nguồn cung cấp vốn an toàn và lành mạnh cho nền kinh tế Tự do hóa hoạt động thị trường chứng khoán sẽ giúp huy động những nguồn lực dài hạn với quy mô lớn cho nền kinh tế và đi liền với nó là
sự phát triển của các Công ty chứng khoán tham gia vào thị trường
Mức độ tự do hóa thì trường chứng khoán của một quốc gia căn cứ vào
hệ thống chính sách và quy định mà chính phủ áp dụng đối với việc phát triển thị trường Ở mức độ tự do hóa thấp, chính phủ có các chính sách hỗ trợ phát triển thị trường như miễn thuế giao dịch, phát hành trái phiếu chính phủ trung
và dài hạn, khuyến khích hoạt động phát hành cổ phiếu và trái phiếu công ty Nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu dưới 50% cổ phần Ở mức độ tự do hóa cao hơn, chính phủ thúc đẩy phát triển thị trường phái sinh, phát triển các thể chế đầu tư dựa trên cơ cấu danh mục đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu tới 100% cổ phần
So sánh trạng thái tự do hóa hoạt động của các tổ chức tài chính với trạng thái kiềm chế cho thấy: Một khu vực tài chính chịu mức độ kiềm chế cao cũng đồng thời có tình trạng cạnh tranh không bình đẳng, đặc biệt là đóng cửa cạnh tranh với nước ngoài Có hai dạng của sự áp chế này: (i) thứ nhất, tạo ra rào cản gia nhập và cạnh tranh vào khu vực tài chính đối với các hãng trong nước; (ii) thứ hai, tạo ra rào cản gia nhập và cạnh tranh vào khu vực tài chính đối với các hãng nước ngoài, ở đây có thể cản trở cả việc mở các chi nhánh hoặc mua lại các định chế nội địa Hình thức áp chế ở đây có thể là hệ
Trang 28thống chuẩn mực và điều kiện trong việc thành lập các định chế tài chính, nếu mức độ bảo hộ và áp chế quyết liệt thì những chuẩn mực và điều kiện này càng trở nên khó khăn và đặc thù Thực tế thì hình thức áp chế này là khá phổ biến, thậm chí ở cả các nền kinh tế phát triển Các chính phủ rõ ràng là không
hề muốn khu vực tài chính ngân hàng rơi vào tầm kiểm soát của người nước ngoài, nếu như vậy chính phủ cũng có thể mất luôn cả năng lực kiểm soát đối với khu vực kinh tế thực
Tác động của tự do hóa hoạt động của các tổ chức tài chính: Việc xoá
bỏ các rào cản và trở ngại cung cấp dịch vụ tài chính làm áp lực cạnh tranh tăng lên trong lĩnh vực tài chính, buộc các định chế kém thích nghi hơn phải rút khỏi thị trường và khiến cho các dịch vụ tài chính tăng lên cả về số lượng
và chất lượng và cuối cùng khách hàng là người hưởng lợi
1.1.2.4 Tự do hoá giao dịch vốn
Giao dịch vốn là những giao dịch liên quan đến chuyển dịch vốn giữa người cư trú và người không cư trú của một quốc gia
Khái niệm: Tự do hoá giao dịch vốn là quá trình dỡ bỏ dần những hạn
chế áp dụng đối với những giao dịch này Tự do hoá giao dịch vốn cho phép các dòng vốn vào - ra được lưu chuyển tự do theo nguyên tắc thị trường (các dòng vốn được tự do lưu chuyển từ nơi có tỷ suất sinh lợi thấp sang nơi có tỷ suất sinh lợi cao) Các hoạt động này diễn ra tự nhiên, không hạn chế bởi biên giới quốc gia mà theo hướng giảm tối đa sự can thiệp của Nhà nước đối với thị trường.[57]
Tự do hóa giao dịch vốn có thể coi là mục tiêu cuối cùng của tự do hóa tài chính Dòng vốn tư nhân lưu thông trên các thị trường quốc tế theo ba kênh chủ yếu: vốn vay qua hệ thống ngân hàng, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và vốn đầu tư gián tiếp Các biện pháp kiểm soát tài khoản vốn bao gồm hai hình thức chủ yếu là kiểm soát trực tiếp (kiểm soát hành chính) và
kiểm soát gián tiếp (kiểm soát dựa vào thị trường) Kiểm soát trực tiếp bao
Trang 29gồm các hạn chế về mặt cho phép thực hiện các giao dịch vốn, hạn chế về số lượng và giá trị hoặc hạn chế về thủ tục thực hiện giao dịch qua biên giới
Kiểm soát gián tiếp hạn chế sự lưu chuyển của dòng vốn qua biên giới bằng
cách áp đặt những mức chi phí cao cho hoạt động này, ví dụ như áp dụng hệ thống tỷ giá giao dịch đa cấp; hoặc áp thuế đối với các dòng lưu chuyển vốn qua biên giới (thuế Tobin) Ở mức độ áp chế cao thì chính phủ thường áp dụng các biện pháp kiểm soát trực tiếp, còn ở mức độ áp chế thấp thì các biện pháp gián tiếp thường được sử dụng hiệu quả hơn.[11]
Thông thường, trình tự tự do hóa giao dịch vốn được tiến hành như sau:
- Tự do hóa các luồng vốn vào trước khi tự do hóa các luồng vốn ra Điều này đặc biệt đúng đối với các nền kinh tế trong điều kiện cán cân thương mại còn thâm hụt lớn, mối quan hệ cung cầu ngoại tệ trong nước còn gặp nhiều khó khăn; nhu cầu thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài lớn nguồn lực
và khả năng đầu tư ra nước ngoài còn hạn chế
- Tự do hóa các luồng vốn dài hạn trước khi tự do hóa các luồng vốn ngắn hạn Các luồng vốn dài hạn như đầu tư trực tiếp có tính ổn định cao nên
có thể được tự do hóa trước, các luồng vốn ngắn hạn như đầu tư gián tiếp và vay nước ngoài ngắn hạn chu chuyển nhanh, khi có những biến động lớn trên các thị trường tài chính thì dễ đảo chiều, tạo ra bất ổn
- Tự do hóa đối với việc sử dụng các công cụ tài chính có độ rủi ro thấp trước, đối với các công cụ có độ rủi ro cao sau
Biểu hiện của tự do hóa các giao dịch vốn :
(i)Cho phép người không cư trú sở hữu các tài sản tài chính trong nước
ở cả dạng giấy tờ nợ hoặc cổ phiếu;
(ii)Cho phép người cư trú nắm giữ tài sản tài chính nước ngoài;
(iii)Cho phép cả người cư trú và người không cư trú được tự do nắm giữ và trao đổi các tài sản tài chính trên thị trường nội địa, đây là mức độ cao
Trang 30nhất của tự do hóa các giao dịch vốn, đồng thời cũng là mức độ cao nhất của
tự do hóa tài chính
Tác động của tự do hóa giao dịch vốn:
Tự do hóa giao dịch vốn có những tác động tới nền kinh tế, tới khu vực tài chính trên cả hai giác độ: tích cực và tiêu cực Xét về tác động tích cực, có thể kể ra một số khía cạnh như sau: [57]
- Tự do hóa các giao dịch vốn làm tăng quy mô giao dịch trên thị trường tài chính, thúc đẩy các thị trường phát triển, mở ra cơ hội tiếp cận nguồn vốn lớn và đa dạng từ hệ thống tài chính quốc tế, giúp phân bổ các dòng vốn hiệu quả hơn, thông qua đó có tác dụng thúc đẩy khu vực tài chính phát triển vững mạnh, có lợi cho ổn định khu vực tài chính về lâu dài
- Tự do hóa các giao dịch vốn thúc đẩy việc hình thành một môi trường cạnh tranh, tạo ra động lực nâng cao hiệu quả và sức mạnh hệ thống tài chính
Tự do hóa các giao dịch vốn quốc tế đã dẫn tới việc tăng lên đáng kể về quy mô của khu vực tài chính ở hầu hết các nước Sự cạnh tranh tăng lên giúp
cho các chi phí trung gian tài chính giảm đi, tăng hiệu quả hoạt động của các
tổ chức tài chính, tạo ra nhiều sản phẩm tài chính có chất lượng cao hơn và thúc đẩy nâng cao năng lực quản lý rủi ro và thanh khoản Tự do hóa các giao dịch vốn, do vậy, giúp tạo áp lực, tăng sự cạnh tranh quốc tế trong việc cung cấp các dịch vụ tài chính và buộc các tổ chức tài chính trong nước hoạt động hiệu quả hơn, thúc đẩy sự đổi mới và tăng tính năng động
- Tự do hóa các giao dịch vốn tạo ra đòi hỏi nâng cao chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và tăng cường kỷ luật tài chính
Quốc tế hóa các dịch vụ tài chính sẽ gia tăng áp lực nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, giám sát và duy trì kỷ luật tài chính ở cả hai cấp là quản lý nhà nước đối với khu vực tài chính và khả năng quản trị của các định chế tài chính Các yêu cầu quy định về minh bạch hóa thông tin, các khung pháp lý
Trang 31về dịch vụ tài chính sẽ được cải thiện nhờ việc theo đuổi các cam kết, các điều ước quốc tế khi tham gia giao dịch Đồng thời, quốc tế hóa các giao dịch tài chính cũng giúp nâng cao việc hiểu và tuân thủ các nguyên tắc, luật lệ khi một quốc gia tham gia vào các thỏa thuận quốc tế Nhờ đó, chất lượng quản lý vĩ
mô đối với các thị trường tài chính tăng lên, hình thành một hành lang pháp lý hợp lý, có hiệu lực đối với hoạt động của các định chế tài chính
- Tự do hóa các giao dịch vốn giúp các chủ thể trong nền kinh tế tiếp cận các dịch vụ tài chính tốt hơn, tận dụng được lợi thế kinh tế nhờ quy mô Trong môi trường cạnh tranh, chi phí dịch vụ giảm, chất lượng dịch vụ được nâng cao, các loại hình dịch vụ được đa dạng hóa, khách hàng được tiếp cận với các loại hình dịch vụ tốt nhất, nhanh chóng, tiện lợi và hiệu quả
Bên cạnh những tác động tích cực thì tự do hóa các giao dịch vốn mang lại không ít tác động tiêu cực Những tác động tiêu cực này được biểu
hiện trên tất cả các lĩnh vực như năng lực quản lý điều tiết thị trương tài chính của chính phủ, sự vận hành các thị trường tiền tệ, ngoại hối, chứng khoán, sự
an toàn của các định chế tài chính Có thể nêu những tác động chính như sau:
- Luồng vốn nước ngoài vào nhiều sẽ tạo áp lực làm tăng lạm phát và sức ép tăng giá đồng bản tệ, tạo nên sự biến động trên thị trường ngoại hối
Khi sự thặng dư của cán cân vốn lớn hơn mức thâm hụt của cán cân vãng lai, dẫn tới cán cân thanh toán tổng thể thặng dư và tài sản có nước ngoài ròng tăng sẽ là nhân tố làm tăng tổng phương tiện thanh toán Đặc biệt
là ở các quốc gia có tình trạng Đô la hóa thì đồng vốn ngoại tệ đó không cần
đổi ra nội tệ vẫn có thể được sử dụng luôn để thanh toán, cấp tín dụng khiến
cho tổng phương tiện thanh toán biến động nghiêm trọng hơn Đồng thời, khi lạm phát tăng nhanh, chỉ số tỷ giá thực hữu hiệu có xu hướng tăng lên, phản ánh đồng bản tệ chịu sức ép tăng giá dẫn tới tính cạnh tranh về xuất khẩu của nền kinh tế bị yếu đi, đặc biệt là khi nền sản xuất trong nước còn nhiều yếu kém, tạo thuận lợi cho tăng nhập khẩu, dẫn tới hậu quả là thâm hụt cán cân vãng lai càng gia tăng
Trang 32- Tự do hóa các giao dịch vốn, đặc biệt là dòng vốn đầu tư gián tiếp làm gia tăng nguy cơ bị khống chế và lũng đoạn trên thị trường tài chính trong nước
Khi nhà đầu tư ngoại được tự do đầu tư vốn vào và chuyển vốn ra khỏi nền kinh tế thông qua việc tự do mua bán chứng khoán sẽ gia tăng nguy cơ lũng đoạn thị trường Sự gia tăng tỷ lệ nắm giữ chứng khoán, nhất là các cổ phiếu, cổ phần sáng lập, cổ phần biểu quyết của các nhà đầu tư gián tiếp nước ngoài đến một mức vượt ngưỡng nhất định nào đó sẽ cho phép họ tham dự trực tiếp vào chi phối và quyết định các hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp Hơn nữa, thậm chí lũng đoạn doanh nghiệp trong nước theo phương hướng, kế hoạch, mục tiêu riêng của mình, kể cả các hoạt động thâu tóm, làm chủ doanh nghiệp hoặc có thể làm chuyển đổi tính chất sở hữu của doanh nghiệp
- Tự do hóa các giao dịch vốn gây khó khăn trong việc điều hành chính sách vĩ mô của chính phủ, đặc biệt là CSTT
Tác động bất lợi của luồng vốn vào đối với việc điều hành CSTT đặc biệt rõ trong trường hợp luồng vốn đó là ngắn hạn và là luồng vốn đầu tư gián tiếp Đặc trưng nổi bật của dòng vốn đầu tư gián tiếp như đã đề cập là tính dễ
"đảo chiều" cũng chính là nguyên nhân hàng đầu gây nên nguy cơ tạo ra và khuyếch đại độ nhạy cảm và khả năng gây chấn động của dòng vốn này đối với nền kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư, đặc biệt khi việc chuyển đổi và rút vốn đầu tư gián tiếp nói trên diễn ra theo kiểu "tháo chạy" đồng loạt trên
phạm vi rộng và số lượng lớn Trong bối cảnh điều hành CSTT còn chưa
thực sự hữu hiệu của NHTW và khả năng chống đỡ rủi ro của các tổ chức tài chính còn non kém, một sự đổ vỡ, một cuộc khủng hoảng đầu tư - tài chính - tiền tệ, lạm phát cao, thậm chí là khủng hoảng kinh tế có thể xảy ra đối với nước tiếp nhận đầu tư, nếu không có và triển khai tốt các phương án phòng ngừa hiệu quả
Trang 33- Tự do hóa các giao dịch vốn làm gia tăng các giao dịch vay nợ nước ngoài có thể đẩy các nước rơi vào vòng xoáy của nợ dẫn đến khủng hoảng nợ
và mất khả năng thanh toán quốc gia
Việc sử dụng vốn vay không đúng mục đích, trong khi khả năng giám sát yếu kém, cộng với tình trạng tham nhũng và vô trách nhiệm của giới cầm quyền sẽ khiến cho nước con nợ rơi vào vòng xoáy của nợ và buộc con nợ phải tiếp tục tìm kiếm các khoản vay mới, với những điều kiện có thể ngặt nghèo hơn: Nợ - vay nợ mới - tăng nợ tăng vay Vòng xoáy này sẽ dẫn con
nợ đến khả năng vỡ nợ và rơi vào khủng hoảng khi mất khả năng thanh toán
- Tự do hóa các giao dịch vốn có thể đẩy các định chế tài chính trong nước tới khả năng bị thôn tính, phá sản, giải thể do không chịu nổi sự cạnh tranh quá khốc liệt
Ở các quốc gia có hệ thống tài chính chưa phát triển hoặc phát triển chưa đủ mạnh, các chủ thể cung cấp dịch vụ tài chính có năng lực cạnh tranh thấp Tự do hóa tài khoản vốn cùng với tự do hóa các rào cản tài chính như đã phân tích ở trên, sẽ dỡ bỏ những "lá chắn" bảo vệ đối với các tổ chức tài chính trong nước, cho phép sự tham gia của các tổ chức tài chính nước ngoài vào hoạt động của nền kinh tế trong nước Điều này một mặt tạo động lực mới từ
áp lực cạnh tranh giúp các tổ chức tài chính trong nước nâng cao năng lực hoạt động để sẵn sàng cạnh tranh, một mặt nó lại là áp lực đào thải các tổ chức tài chính yếu kém trong nước
Tóm lại, tự do hóa tài chính và kiềm chế tài chính có thể được xem là hai cực đối lập nhau trong việc quản trị hệ thống tài chính của một quốc gia
Về mặt thống kê, không có quốc gia nào có sự tự do hóa tài chính hoàn toàn hay sử dụng kiềm chế tài chính hoàn toàn mà tùy thuộc vào đặc điểm và trình
độ phát triển các quốc gia sẽ áp dụng mức độ quản trị hệ thống tài chính khác nhau Nhìn chung, các quốc gia có trình độ phát triển thấp thường có mức
Trang 34kiềm chế tài chính cao còn các quốc gia phát triển cao thường, từ bỏ kiềm chế
và nghiêng về tự do hóa tài chính
1.1.3 Đo lường mức độ tự do hóa tài chính
Cuộc tranh luận trong giới tạo lập chính sách và giới học thuật về tác động của chính sách tự do hóa tài chính ngày càng xoáy sâu Một lý do cho việc thiếu sự đồng thuận là những khó khăn trong việc đo lường đúng đắn mức độ mở cửa hay hạn chế trong tự do hóa tài chính
Luận án tổng hợp một số chỉ số đo lường mức độ tự do hóa tài chính như sau:
(1) Chỉ số KAOPEN đo lường mức độ mở cửa tài chính (độ mở của
tài khoản vốn)
KAOPEN được phát triển bởi Chinn và Ito (2002, 2006, 2008)
KAOPEN được tính toán dựa trên các thông tin của bảng Báo cáo thường
niên về cơ chế tỷ giá và các hạn chế ngoại hối (AREAER) của IMF Chinn và
Ito đã chỉ định chúng thành bốn nhóm biến chính Các biến này là:
- Biến cho thấy sự hiện diện của cơ chế đa tỷ giá (k1);
- Biến cho thấy những hạn chế về giao dịch tài khoản vãng lai (k2);
- Biến cho thấy những hạn chế về giao dịch tài khoản vốn (k3); và
- Biến cho thấy các yêu cầu trả lại tiền thu được xuất khẩu (kết hối
ngoại tệ) (k4)
Năm 1996, các phương pháp phân loại của AREAER thay đổi và bốn nhóm được phân tách hơn nữa, trong một nỗ lực để phản ánh tốt hơn sự phức tạp của chính sách kiểm soát vốn Đặc biệt, nhóm k3 được chia thành 13 hạng mục Để tập trung vào hiệu quả của sự mở cửa tài chính - hơn là kiểm soát - chúng ta đảo ngược các giá trị của các biến nhị phân, như vậy các biến bằng 1 khi không tồn tại sự hạn chế tài khoản vốn Hơn nữa, để kiểm soát về giao dịch vốn (k3), Chinn và Ito sử dụng trung bình trượt 5 năm (năm t và 4 năm
trước đó) và hình thành biến SHAREK3
k3 t + k3t-l + k3t-2 + k3t-3 + k3t-4
Trang 35SHAREk3t =
5 Sau đó Chinn và Ito xây dựng một chỉ số cho độ mở tài khoản vốn (KAOPENt) bằng cách chuẩn hóa bậc một các thành phần chính của k1 t , k2 t , SHARFk3t, k4t Chỉ số này nhận giá trị càng cao thì nước đó càng mở cửa để
giao dịch vốn Để tính toán chỉ số KAOPEN, cần dựa trên cơ sở xem xét những hạn chế và kiểm soát hợp pháp lên các dòng vốn xuyên quốc gia và nó được coi là phương pháp pháp lý (de jure measuares)
Vì được tính toán dựa trên thông tin của bảng Báo cáo thường niên về
cơ chế tỷ giá và các hạn chế ngoại hối (AREAER) của IMF nên chỉ có thể tính
chỉ số KAOPEN cho các quốc gia có trong báo cáo của IMF
Tuy nhiên, chỉ số KAOPEN cũng có những hạn chế, liệu rằng KAOPEN có phản ánh được những giới hạn và sự tự do trong dòng vốn hay không Trong bài nghiên cứu của mình, Taguchi (2011) đã sử dụng Thailand - một trong những quốc gia thuộc mẫu nghiên cứu của mình để làm dẫn chứng Kawai và Takayasu (1999) đã mô tả quá trình tự do tài khoản vốn trước khủng hoảng châu Á 1997 - 1998 như sau: Trong thập niên 90, Thailand đã bắt đầu mở rộng độ mở cửa tài chính đối với các dòng vốn từ nước ngoài cũng như các giao dịch về ngoại hối Thái Lan đạt mức 8 của Bảng báo cáo chế độ phân loại của IMF (IMF's Articles of Agreement) vào năm 1990 và nước này cũng đã loại bỏ những giới hạn trao đổi ngoại hối đối với các giao dịch liên quan đến tài khoản vãng lai; từ năm 1991 nước này bắt đầu giảm những giới hạn trao đổi ngoại hối đối với các giao dịch tài khoản vốn, gia tăng các dòng vốn vào xuyên quốc gia từ các định chế tài chính Cũng trong năm 1993, Thái Lan đã thiết lập Tổ chức Ngân hàng quốc tế BangKok (BIBF
- Bangkok International Banking Facility) Kawai và Takayasu (1999) đã trình bày dữ liệu cho dòng vốn thuần của các tài khoản tài chính cá nhân ở Thái Lan từ 1985 -1998, gia tăng từ 5379 triệu Baht trong năm 1985 đến
Trang 36460555 triệu Baht trong năm 1996, gấp gần 100 lần giá trị thuần trong năm
1985 Tuy nhiên, chỉ số KAOPEN không chỉ ra bất kỳ sự thay đổi nào giữa năm 1970 và 2006, phản ánh không có sự cải thiện nào trong độ mở cửa tài chính trong những năm 1990
Về những hạn chế đối với phương pháp pháp lý (như KAOPEN) còn thể hiện: Thứ nhất, nó không thực sự phản ánh mức độ mở cửa của tài khoản vốn, bởi vì cách tính toán này dựa trên những biện pháp kiểm soát vốn liên quan đến một số giao dịch ngoại hối mà bản thân chúng không có nhiều tác động lên dòng vốn Thứ hai, nó không thể xem xét mức độ có hiệu lực hay tính hiệu quả của các của các biện pháp kiểm soát vốn, vốn dĩ có thể bị phá vỡ ngay cả khi các rào cản vẫn đang được dựng lên.Thứ ba, hạn chế chủ yếu là
nó không thể đo lường một cách chính xác mức độ hội nhập tài chính của một nền kinh tế trong thị trường vốn thế giới Ví dụ, Trung Quốc, mặc dù đã xây dựng một hệ thống kiểm soát vốn gắt gao, nước này cũng không thể ngăn được dòng vốn vào khổng lồ trong những năm nghiên cứu (kết luận từ Prasad
và Wei, 2007)
Một vấn đề khác đó là, mặc dù có sự bao quát trong việc đo lường của AREAER, vẫn có thể còn có những quy định khác của chính phủ cũng có tác dụng giống như một biện pháp kiểm soát vốn nhưng lại không được ghi nhận trong báo cáo của IMF Ví dụ, những chính sách thận trọng để làm giảm rủi ro ngoại hối của các ngân hàng trong nước, trong một vài trường hợp, cũng có vai trò giống như kiểm soát vốn
(2) Phương pháp đo lường mức độ hội nhập bằng cách định lượng
các dòng vốn thực
Đây là phương pháp thực tế (de facto measures), dựa trên sự chênh lệch giá, xem xét sự hội nhập của thị trường tài sản dựa trên các phương pháp tính theo giá
Trang 37Phương pháp thực tế đo lường mức độ hội nhập bằng cách định lượng các dòng vốn thực được xem là cách tính ưu điểm nhất so với các phương
pháp còn lại (theo Kose và cộng sự 2006) Phương pháp này được thiết lập bởi Lane và Milesi - Ferretti (2001 và 2006) Ý tưởng của phương pháp này
đó là mặc dù các dòng vốn hiện tại đều được ghi chép hằng ngày, tuy nhiên rất ít thông tin để biết về độ lớn của các tài sản và nợ nước ngoài nắm giữ bởi các quốc gia khác nhau, đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển Theo tác giả, đây là một hạn chế nghiêm trọng, bởi vì: 1) Độ lớn tài sản thuần nước ngoài là một biến quan trọng để giải thích trong các mô hình tăng trưởng của các nền kinh tế, và là nhân tố quyết định đến sự bền vững bên ngoài; 2) Nhiều lợi ích của hội nhập tài chính gắn liền với tổng lượng nắm giữ của tài sản và
nợ nước ngoài Những yếu tố này không thể xem xét bằng dữ liệu dòng vốn thuần được 3) Các thành phần của vị thế tài sản thuần nước ngoài như vốn cổ phần đầu tư danh mục, đầu tư trực tiếp FDI và vay nợ đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu được khả năng bị tổn thương bởi các cú shock bên ngoài và mức độ chia sẻ rủi ro Do đó nhóm tác giả đã thiết lập cách định lượng tài sản
và nợ nước ngoài, cũng như các thành phần của nó thông qua việc sử dụng
cán cân thanh toán quốc tế và dữ liệu IIP - Báo cáo về Vị thế đầu tư nước
ngoài của IMF
Trong nghiên cứu của mình, Taguchi (2011) cũng sử dụng phương pháp của Lane và Milesi – Ferretti(2006) trong việc đo lường mức độ hội nhập tài chính nhằm thay thế cho chỉ số KAOPEN (theo phương pháp pháp lý) vốn còn nhiều hạn chế Taguchi (2011) áp dụng công thức dưới đây, tập
trung vào vốn đầu tư gián tiếp và FDI ( đầu tư trực tiếp nước ngoài):
FNI = ( PEQA + FDIA + OTHA + PEQL + FDIL + OTHL) / GDP Trong đó: A biểu thị cột tài sản ( Assets) , L biểu thị cột nợ (Liabilities)
; PEQA (PEQL) biểu hiện vốn đầu tư gián tiếp ở cột Tài sản (Nợ) và FDIA (FDIL) biểu hiện cho vốn đầu tư trực tiếp tương ứng với cột Tài sản (Nợ)
Trang 38OTHA (OTHL) biểu hiện cho vốn đầu tư khác tương ứng với cột Tài sản (Nợ) Dữ liệu không có sẵn theo quý, tác giả sử dụng phương pháp lũy kế để tính toán cho dòng vốn đầu tư trực tiếp, gián tiếp hay đầu tư khác
(3) Chỉ số Schindler để đo lường mức độ tự do hóa các giao dịch vốn
Ngoài ra, để đo lường mức độ tự do hóa giao dịch vốn, nhà nghiên cứu Martin Schindler năm 2009 đã nghiên cứu và đưa ra một chỉ số dùng để lượng hóa mức độ tự do hóa các giao dịch vốn của một quốc gia được gọi là chỉ số Schindler (Schindler Index) [57]
Chỉ số này được xây dựng trên cơ sở đánh giá mức độ hạn chế tự do hóa các giao dịch vốn, chủ yếu trên văn bản pháp lý đối với các giao dịch vốn :
- Cổ phiếu hoặc các chứng khoán khác của các thành viên tham gia,
- Trái phiếu hoặc các chứng khoán nợ khác;
- Các công cụ của thị trường tiền tệ
- Chứng khoán đầu tư tập thể (collective investment securities)
- Tín dụng tài chính ; và
- Đầu tư trực tiếp
Chỉ số này có công thức như sau:
6 Trong đó:
i - overall restriction index (chỉ số hạn chế tổng thể)
eq - average equity restrictions (các hạn chế về cổ phiếu bình quân)
bo - average bond restrictions (các hạn chế về trái phiếu bình quân);
mm - average money market restrictions (các hạn chế về thị trường tiền
tệ bình quân)
Trang 39ci - average collective investment restrictions (các hạn chế về đầu tư tập thể bình quân)
fc - average financial credit restrictions (các hạn chế về tín dụng tài chính bình quân)
di - average direct investment restrictions (các hạn chế về đầu tư trực tiếp bình quân)
Chỉ số i có giá trị thấp nhất là 0, giá trị cao nhất là 1 Theo đó, chỉ số i càng lớn mức độ kiểm soát tự do hoá giao dịch vốn càng nhiều và ngược lại
Việc tính toán chỉ số Schindler cho phép đánh giá mức độ kiểm soát (hoặc mức độ tự do hóa) các giao dịch vốn của một quốc gia và cho phép so sánh mức độ tự do hóa các giao dịch vốn giữa các quốc gia
Ví dụ: Năm 2005 mức độ tự do hóa các giao dịch vốn của In-đô-nê-xia
là 0,5, Malaysia là 0,875, Ấn Độ là 0,958333 và Trung Quốc là 1 Điều này cho thấy mức độ kiểm soát các giao dịch vốn của Trung Quốc tại thời điểm
đó là tuyệt đối, còn In-đô-nê-xia đã tự do hóa 50% các giao dịch vốn
Tuy nhiên, do mới được xây dựng nên chỉ số Schindler cũng còn nhiều hạn chế cần khắc phục, hiện tại chỉ số này chưa tính đến quá trình kiểm soát đối với các giao dịch vốn và vận hành tài khoản vốn khác như:
- Các yêu cầu về chuyển tiền và chuyển nhượng,
- Các giao dịch mua bán hoặc phát hành các công cụ phát sinh;
- Tín dụng thương mại
Vì vậy, để chính xác, trong tương lai, chỉ số này cần được tính toán lại dựa trên 6 yếu tố cơ bản kể trên đồng thời bổ sung thêm yếu tố về mức độ kiểm soát đối với các giao dịch vốn và việc vận hành tài khoản vốn.[57]
Mặc dù có khá nhiều cách để đo lường mức độ tự do hóa dòng vốn (một bộ phận quan trọng của tự do hóa tài chính) nhưng luận án nghiên cứu chủ đề về tự do hóa tài chính cho nên cách đo lường tự do hóa tài chính của Abdul Abiad,Enrica Detragiache và Thierry Tressel (2008) sau đây sẽ được vận dụng trong luận án để đo lường mức độ tự do hóa tài chính cho Việt Nam
Trang 40(4)Chỉ số tự do hóa tài chính: Đo lường mức độ tự do hóa tài chính
bằng cách cho điểm các thành phần của tự do hóa tài chính
Nhằm tạo lập một cơ sở chung để đánh giá, so sánh mức độ tự do hóa tài chính giữa các quốc gia, nhóm tác giả Abdul Abiad,Enrica Detragiache và Thierry Tressel (2008) đã đưa ra 7 thành phần của tự do hóa tài chính và lượng hóa chúng Bảy thành phần đó bao gồm: [66]
(i) Bãi bỏ kiểm soát hoạt động phân bố tín dụng
(ii) Tự do hóa lãi suất
(iii) Khuyến khích cạnh tranh quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng
(iv) Cơ chế giám sát rủi ro trong lĩnh vực tài chính
(v) Tự do hóa sở hữu trong lĩnh vực ngân hàng
(vi) Tự do hóa tài khoản vốn
(vii) Bãi bỏ các áp chế đối với thị trường chứng khoán
Theo đó, mỗi tiêu chí chính sách này sẽ được đánh giá theo thang điểm
từ 0-3, với 0 điểm dành cho mức độ kiểm soát và áp chế hoàn toàn còn 3 điểm dành cho mức độ tự do hóa hoàn toàn Như vậy số điểm tối đa của chỉ tiêu tự
do hóa tài chính sẽ là 21 điểm và số điểm tối thiểu là 0 điểm dành cho quốc gia có chính sách áp chế hoàn toàn [Phụ lục 1]
Cách đo lường này có thể áp dụng rộng rãi cho tất cả các quốc gia và bao quát khá rộng, tới các bộ phận khác nhau của tự do hóa tài chính chứ không riêng về giao dịch vốn nên được lựa chọn sử dụng trong luận án
1.1.4 Nguyên tắc và trình tự tự do hóa tài chính
1.1.4.1 Nguyên tắc về tự do hóa tài chính
Việc xây dựng lộ trình cũng cần phải tiến hành theo các nguyên tắc nhất định nhằm tránh rủi ro Nguyên tắc chung để tự do hoá tài chính là:
Nguyên tắc 1: Tự do hóa tài chính được thực hiện tốt nhất trong bối
cảnh kinh tế vĩ mô lành mạnh Bởi vì những mất cân đối và bất ổn định kinh
tế vĩ mô dễ làm trầm trọng thêm những yếu kém của khu vực tài chính và tự
do hóa tài chính trong bối cảnh đó dễ dẫn đến bất ổn, thậm chí khủng hoảng