1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức xã hội truyền thống của người cơ tu huyện nam đông tỉnh thừa thiên huế

158 613 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổ Chức Xã Hội Truyền Thống Của Người Cơ Tu Huyện Nam Đông Tỉnh Thừa Thiên Huế
Tác giả Trần Thị Mai An
Người hướng dẫn PGS.TS. Khổng Diễn, TS. Bùi Văn Đạo
Trường học Học Viện Khoa Học Xã Hội
Chuyên ngành Nhân học văn hóa
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 158
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC VĂN HÓA

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 PGS.TS Khổng Diễn

2 TS Bùi Văn Đạo

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Tổ chức xã hội là một trong những thành tố quan trọng của văn hoá tộcngười, là chất kết dính cộng đồng, hướng đến sự vận hành trôi chảy của cấu trúc xãhội Trong Nhân học, tổ chức xã hội là một trong những hướng được nhiều nhànghiên cứu lựa chọn Nội hàm của mảng học thuật này rất phong phú khiến ranhgiới các vấn đề cụ thể cần nghiên cứu của nó với các mảng học thuật khác không dễtách bạch được

Tổ chức xã hội truyền thống của các dân tộc thiểu số cũng như đa số trên thếgiới và ở Việt Nam đều phản ánh thành phần cấu trúc, cơ chế hoạt động, hay thiếtchế tồn tại cụ thể của một hệ thống các quan hệ, tập hợp liên kết cá nhân trong cộngđồng nhằm đạt được một mục đích nhất định nào đó Dựa vào các nguyên lý vềdòng máu hay quan hệ công xã láng giềng, mà tổ chức xã hội đã được xem xét ởnhiều cấp độ khác nhau như nhóm, gia đình, dòng họ, bản làng… Trong xu thế đổimới, giao lưu hội nhập hiện nay, hầu hết các tổ chức xã hội đều không giữ đượcnhững khuôn mẫu truyền thống của mình Sự thay đổi đó biểu hiện nhiều xu thế haycác trạng hướng vận động mới của văn hóa, xã hội con người, có mặt hạn chế vàcũng có mặt tích cực Nghiên cứu tổ chức xã hội truyền thống của một tộc người cụthể, như người Cơ tu ở huyện Nam Đông tỉnh Thừa Thiên Huế trong bối cảnh hiệntại, là một trong những công việc giúp sự tiếp cận vấn đề lý luận cũng như thực tiễnnghiên cứu có nhiều ý nghĩa hơn

Với dân số khoảng 61.588 người, phân bố chủ yếu ở hai tỉnh Quảng Nam vàThừa Thiên Huế, Cơ tu là một trong những dân tộc thiểu số còn lưu giữ được nhiềuyếu tố văn hóa bản địa trong số 54 tộc người đang sinh sống trên đất nước ViệtNam Từ những hợp phần gia đình, dòng họ, bản làng, bức tranh tổ chức xã hộitruyền thống của tộc người dần được hiện lên với những cấu trúc, quy mô và cơ chếhoạt động khác nhau Ở mỗi thời điểm, mỗi hoàn cảnh, tổ chức xã hội ấy thể hiệnnhững dấu ấn tiếp biến trong cấu trúc hoạt động và chức năng của mình Trong bối

Trang 3

cảnh hiện tại, những thay đổi về bản chất, cấu trúc, chức năng, quan hệ gia đình,dòng họ, bản làng cộng đồng người Cơ tu đang là những xu thế biến đổi tất yếu củaquá trình tộc người Tuy nhiên, điểm tất yếu đó không phải bao giờ cũng mang đếnnhững thuận lợi hay sự hòa hợp với xu thế, bối cảnh của sự thay đổi Việc nhận diệnmột cách chính xác những giá trị trong tổ chức xã hội truyền thống tộc người lànhững khởi đầu thuận lợi và hữu hiệu trong việc xác định mối quan hệ giữa cơ chếvận hành theo tập quán pháp với hình thái quản lý nhà nước; nhằm giảm thiểunhững khoảng cách, sự chồng chéo va chạm giữa hai hình thức quản lý; và đặc biệt

có thể tạo nên những nhân tố thúc đẩy sự phát triển thông qua chính sách, hệ thốngquản lý hiện tại của Nhà nước

Luận án này vì vậy đặt vấn đề nghiên cứu, cung cấp những tư liệu cụ thể vềbản chất các loại hình tổ chức xã hội truyền thống người Cơ tu trong lịch sử, và tiếpcận những xu hướng biến đổi của nó trong bối cảnh đổi mới và hội nhập của đấtnước chính là một việc làm có ý nghĩa khoa học thiết thực; không chỉ góp phầnkhẳng định những giá trị văn hoá của tộc người qua cơ chế tổ chức xã hội truyềnthống, mà còn góp phần phát huy những giá trị văn hóa cần kế thừa, cải biến đểlồng ghép; hay kết hợp với hình thức quản lý xã hội hiện tại, nhằm tìm kiếm một

mô hình tối ưu, phát huy được điểm tích cực của các hình thức quản lý xã hội đó,cũng như phục vụ cho sự nghiệp quản lý bền vững cộng đồng dân tộc của Đảng vàNhà nước Việt Nam

Thứ hai, chỉ rõ những biến đổi của tổ chức xã hội truyền thống tộc người Cơ

tu trong bối cảnh CNH, HĐH và hội nhập hiện nay

Trang 4

Thứ ba, từ kết quả nghiên cứu, luận án đóng góp một số ý kiến về việc kếthừa và phát huy những mặt tích cực của tổ chức xã hội truyền thống, nhằm bảo tồnvăn hóa tộc người và nâng cao tính hiệu quả trong công tác quản lý nông thôn vùngmiền núi của người Cơ tu huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế.

3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu: Tổ chức xã hội truyền thống của người Cơ tu và

những biến đổi của nó trong điều kiện hiện nay

Phạm vi và địa bàn nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của luận án tập trung

vào tổ chức xã hội truyền thống của người Cơ tu huyện Nam Đông, tỉnh Thừa ThiênHuế từ trước cho đến nay Trong đó chú ý đến các vấn đề cụ thể là tổ chức gia đình,

tổ chức dòng họ và tổ chức làng

Địa bàn nghiên cứu của luận án được triển khai tại bốn xã có số lượng người

Cơ tu chiếm đa số là xã Thượng Lộ, Hương Sơn, Thượng Nhật và Thượng Long

Thượng Lộ là xã có vị trí nằm gần đường quốc lộ, gần trung tâm của huyện

lỵ Nam Đông, nơi có điều kiện giao lưu và hội nhập với văn hoá người Kinh; xãHương Sơn và Thượng Nhật là hai xã trong nhiều năm qua nhận được nhiều dự ánđầu tư, nhiều mô hình chuyển đổi hình thức kinh tế sản xuất, kinh tế hộ, đang đượcthí điểm; xã Thượng Long là xã nằm cách xa trung tâm huyện Nam Đông, nơi vẫncòn lưu giữ nhiều dấu ấn văn hoá cổ truyền của tộc người Việc lựa chọn bốn điểmnghiên cứu với các vị trí không gian khác nhau sẽ tạo được nhiều cơ hội cho luận ántổng hợp, phân tích và nhận xét một cách khách quan hơn những đặc điểm cổtruyền, những đan xen biến đổi của tổ chức xã hội truyền thống người Cơ tu, huyệnNam Đông tỉnh Thừa Thiên Huế qua từng giai đoạn lịch sử

4 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN

Trang 5

Thứ nhất, luận án là chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống,

đi sâu vào cấu trúc, đặc trưng, vai trò của tổ chức xã hội truyền thống người Cơ tu ởhuyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế

Thứ hai, luận án nêu bật những đặc điểm riêng mang tính địa phương của tổchức xã hội truyền thống người Cơ tu vùng Nam Đông và bước đầu xác định nhữnggiá trị văn hóa tiêu biểu trong tổ chức xã hội truyền thống ấy, chỉ báo các xu hướngbiến đổi của nó trong bối cảnh hiện nay

Thứ ba, luận án góp phần làm rõ hơn sự hiểu biết chung về bức tranh người

Cơ tu ở Việt Nam, đồng thời chỉ ra những nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫnđến sự biến đổi của tổ chức xã hội truyền thống người Cơ tu

Thứ tư, các kết quả đạt được của luận án là sự đóng góp thiết thực vào việcxây dựng cơ sở khoa học cho việc định hướng các chính sách bảo tồn và phát huyvăn hoá tộc người, góp phần phục vụ cho việc quản lý bền vững vùng nông thônmiền núi trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước

5 NGUỒN TƯ LIỆU CỦA LUẬN ÁN

Để hoàn thành luận án này, chúng tôi kế thừa các nguồn tài liệu được công

bố về người Cơ tu, hoặc liên quan đến người Cơ tu từ trước đến nay của các học giảtrong nước và nước ngoài, đồng thời dựa vào các thống kê số liệu đã được xuất bản,các báo cáo, tài liệu, trang web của cơ quan ban ngành ở UBND tỉnh Thừa ThiênHuế, huyện Nam Đông và các xã trong phạm vi nghiên cứu Nguồn tài liệu chínhđược sử dụng cho luận án là những tài liệu thu thập, tổng hợp được nghiên cứu điền

dã ở các điểm đã lựa chọn

Tuy vậy trong quá trình tìm hiểu nghiên cứu thực tế, chúng tôi đã gặp phảikhông ít khó khăn do quá trình nghiên cứu người Cơ tu ở Việt Nam từ trước đếnnay chỉ dừng ở mức độ tổng hợp, chưa tập trung vào một vấn đề cụ thể về tổ chức

xã hội truyền thống Ngoài ra, như sẽ đề cập ở phần lịch sử vấn đề, các thông tinliên quan đến người Cơ tu ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế chưa có nhiềucông trình xuất bản, vậy nên sự tiếp cận tài liệu thành văn về vấn đề nghiên cứu của

Trang 6

luận án còn ít Đó là những hạn chế có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình nghiên cứu

Chương 4: Kết quả và bàn luận

CHƯƠNG 1

Trang 7

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT,

PHƯƠNG PHÁP, VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Tổ chức xã hội truyền thống là một phần quan trọng trong đời sống của bất

cứ tộc người nào Cơ chế hoạt động của tổ chức xã hội đóng vai trò nền tảng trongviệc bảo đảm sự tồn tại và phát triển của xã hội tộc người

Ở Việt Nam, thuật ngữ “tổ chức xã hội” không đơn thuần là một đối tượngnghiên cứu độc lập của một ngành khoa học nào, mà cơ bản, những vấn đề thuộc vềhoặc liên quan đến tổ chức xã hội cũng là các đối tượng thu hút được sự quan tâmcủa các học giả ở nhiều ngành khoa học khác nhau Điều này cho thấy tổ chức xãhội và các vấn đề liên quan đến nó có ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ đến mọi sựtồn tại, biến đổi và phát triển của tộc người

1.1.1 Các nghiên cứu về tổ chức xã hội truyền thống ở Việt Nam

Những nghiên cứu sớm nhất về tổ chức xã hội của các dân tộc ở Việt Namkhông được nêu thành một công trình với tên gọi cụ thể là tổ chức xã hội, nhưngvấn đề này từ sớm đã được đề cập, đan xen trong các trang viết về lĩnh vực Dân tộchọc ở Việt Nam của các học giả trong và ngoài nước

Đối với các học giả ngoài nước, trong công trình của Paul Huard và A.Maurice (1939) [153], có miêu tả, đưa hình ảnh, tranh minh họa đơn vị làng là tổchức xã hội cơ bản của tộc người Mnong Cadière L (1940) đã khái quát về tổ chức

xã hội làng, gia đình, quan hệ cộng đồng của người Bru-Vân Kiều và Tà Ôi ở miềnTrung Việt Nam [151] Jacques Lucien Dournes (1948, 1977) cung cấp cho ngườiđọc các thông tin về các đơn vị xã hội cơ bản của tộc người qua các định chế, quyềnlực của người đứng đầu, qua phong tục tập quán, tín ngưỡng của các cộng đồngngười Thượng Đồng Nai, và người Giarai [148], [149] P.Guilleminet (1952) có đềcập đến thiết chế làng, luật tục trong quan hệ dòng họ, hôn nhân và quản lý cộngđồng của người Bana [81]

Trang 8

Nhìn chung những nghiên cứu nói trên của các học giả Pháp về cơ bảnkhông đi sâu vào bất cứ một lĩnh vực Dân tộc học cụ thể nào Họ chủ yếu khái quátmột số tộc người thiểu số Việt Nam qua các tín ngưỡng cổ truyền, phong tục tậpquán kỳ lạ , và đâu đó trong các trang viết là một vài nét điểm xuyết về tổ chức xãhội của tộc người

Đối với các học giả trong nước, bên cạnh các nghiên cứu về lịch sử tộcngười, văn hóa vật chất, sinh hoạt kinh tế, tín ngưỡng tôn giáo , cũng không cónhiều công trình mang tên gọi cụ thể là “tổ chức xã hội” Tuy nhiên, nội dung củacác bài nghiên cứu lại đề cập đến các vấn đề thuộc tổ chức xã hội hoặc có liên quanđến tổ chức xã hội Và đến nay, những hiểu biết của giới Dân tộc học Việt Nam vềlĩnh vực này được tích lũy đáng kể

Cụ thể, các bài viết, công trình sách của các tác giả như Nguyễn Văn Tiệp(1976) tập trung phân tích cơ cấu tổ chức, dòng họ và những mối quan hệ về cư trú,kinh tế, xã hội, tôn giáo tín ngưỡng, giữa đơn vị làng và dòng họ của người Pa Cô ởBình Trị Thiên [103] Khổng Diễn (1977) đã chỉ ra các yếu tố xã hội đặc trưng củanhóm Triêng ở Quảng Nam - Đà Nẵng thông qua việc phân tích tổ chức làng, giađình, dòng họ của tộc người trong đối sánh với người Bana và người Catu [19]

Nguyễn Từ Chi (1984) đã đánh dấu bước đột phá trong nghiên cứu tổ chức,đặc điểm cơ bản của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ thông qua khung quy chiếu về cơchế hoạt động, các mối quan hệ xã hội, quan hệ đất đai qua nhiều lát cắt lịch sử.Đây là công trình tiêu biểu trong nghiên cứu cấu trúc làng người Việt [11] Nghiêncứu của Trần Từ (1984), cũng là một trong số ít những công trình tiêu biểu đầu tiênbàn về tổ chức làng người Việt Bắc Bộ Tác phẩm đã khái quát đơn vị làng như mộtthực thể xã hội gồm nhiều thành tố là kinh tế, văn hóa, xã hội, tôn giáo, tín ngưỡng,cảnh quan môi trường tự nhiên; và trong các thành tố trên lại chứa đựng nhiều thành

tố nhỏ như gia đình, dòng họ, phe, giáp, hội, phường, hương ước, tục lệ… [102] BếViết Đẳng (1984, 1987) lại chú trọng tổ chức làng các dân tộc Trường Sơn - TâyNguyên; tổ chức bản mường, gia đình, dòng họ người Thái ở Mường Thanh, ĐiệnBiên Phủ và mối quan hệ xã hội gắn bó của các thành viên làng, bản mường trong

Trang 9

sự tồn tại của các thiết chế, tổ chức xã hội tộc người [26], [27] Phan An (1985) đềcập tổ chức xã hội người Xtiêng qua thiết chế làng bản và bước đầu biểu hiện củaquan hệ bóc lột trong xã hội tộc người [2] Phan Xuân Biên (1985) lại nêu và phântích các đặc điểm của đơn vị xã hội làng các dân tộc Tây Nguyên qua cơ cấu tổchức quản lý và đặc thù về quyền sở hữu tập thể của làng đối với đất và rừng [9].Bùi Xuân Đính (1985), đã gây được sự chú ý trong nghiên cứu Dân tộc học ngườiViệt khi khái quát những đặc điểm cơ bản của làng xã Việt, phân tích các yếu tốtích cực và hạn chế của truyền thống tự quản cộng đồng làng xã [31] Vũ Lợi

(1987) bàn về nội hàm của tổ chức làng người Bru và mối quan hệ cộng đồng trong

làng thông qua các thiết chế làng bản [72]

Lưu Hùng (1992c) nhấn mạnh tổ chức tự quản truyền thống quan trọng củacác dân tộc vùng Trường Sơn - Tây Nguyên là làng và bàn về cấu trúc vận hànhlàng qua nguồn nhân lực chủ chốt cũng như mối quan hệ trong sở hữu và phân tầng

xã hội các tộc người [56] Đặc biệt là bài viết “Về việc nghiên cứu tổ chức và quan

hệ xã hội các dân tộc” năm 1994 của cùng tác giả, đã khái quát và chỉ ra các bất cập

trong nội hàm nghiên cứu của tổ chức xã hội và quan hệ xã hội các dân tộc ViệtNam [58] Đặng Nghiêm Vạn (1993) có một công trình mang tính học thuật cao.Mặc dù không lấy tổ chức xã hội làm đối tượng nghiên cứu chính, nhưng bằngphương pháp phân tích so sánh đối chiếu, trong việc vận dụng các luận điểm cơ bản

của F.Engels trong cuốn “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà

nước” để luận bàn về các vấn đề kinh tế - xã hội, vấn đề sở hữu, hôn nhân, gia đình

của các tộc người ở Tây Nguyên đã làm nổi bật đặc thù của tổ chức xã hội cổ truyềncác dân tộc; đồng thời góp phần lý giải về sự chuyển tiếp của Tây Nguyên từ xã hộicông xã nguyên thủy sang xã hội công nghiệp [116] Phạm Quang Hoan (1994) đềcập đến các giá trị ứng xử của tộc người H’Mông với việc quản lý nguồn tài nguyênthiên nhiên qua luật tục, qua các hình thức tổ chức xã hội cổ truyền như bản làng,dòng họ [41] Phan Đại Doãn (1992) thì tìm hiểu về cơ cấu tổ chức, thiết chế nôngthôn, kết cấu kinh tế xã hội, của làng xã người Việt và (2004) trong phần III, bànsâu về tổ chức quản lý nông thôn dưới góc độ dân tộc học, nhất là về thiết chế chính

Trang 10

trị - xã hội và phương thức quản lý của các loại hình làng ở Bắc Bộ, ấp ở Nam Bộ,làng bản của các tộc người ở miền núi, làng công giáo Tác phẩm này đã đặt dấu

ấn đầu tiên trong việc nghiên cứu nông thôn Việt Nam dưới góc độ quản lý xã hội

[22], [23] Vi Văn An (1995, 1998) lại bàn về thiết chế làng - chiềng với các chức

lang đạo, lang cun, vai trò của dòng họ Mường với chế độ cha truyền con nối trongquản lý xã hội và sở hữu đất đai của người Thái ở miền Tây Nghệ An [3] PhanHữu Dật (1999a, 1999b) đã bàn về một hệ thống các giá trị chuẩn mực trong tổchức gia đình, dòng họ, làng và vai trò, chức năng của các tổ chức này trong việcđảm bảo sự tồn tại và trật tự xã hội của các DTTS Việt Nam [15], [16]

Nguyễn Ngọc Thanh (1999, 2007) đã trình bày các đặc điểm về không gian,cấu trúc, sự vận hành của tổ chức làng bản và các thiết chế văn hóa của làng bảnngười Dao, người Hà Nhì [89], [90] Ngô Đức Thịnh (2003a) đề cập đến vai trò của

tổ chức xã hội truyền thống trong việc quản lý cộng đồng thông qua mối quan hệgiữa làng và luật tục của các tộc người Tây Nguyên hiện nay [96] Hà Văn Linh(2005) quan tâm đến tổ chức xã hội cổ truyền và những biến đổi của nó ở ngườiMường Thanh Sơn, Phú Thọ [71] Phạm Văn Tuấn (2008) trình bày một cách có hệthống tổ chức xã hội truyền thống của làng Việt ven biển huyện Hậu Lộc, tỉnhThanh Hóa trước Cách mạng tháng Tám 1945, và những biến đổi của nó qua cácthời kỳ lịch sử, thông qua việc trình bày và phân tích những đặc điểm của làng, cácloại hình sở hữu trong cộng đồng làng xã [110] Bùi Minh Đạo (2010, 2011) thì dựatrên các số liệu và những tác động mới của quá trình di cư ở Tây Nguyên sau năm 1975,

đã phân tích tổ chức xã hội hiện tại ở đây qua các dạng thức như thôn làng dân tộc Kinh,DTTS mới đến, DTTS tại chỗ và thôn làng xen cư DTTS tại chỗ với dân tộc mới đến…[29], [30]

Những công trình nêu trên đã cho thấy một bức tranh toàn cảnh về các dạngthức tổ chức xã hội truyền thống, các vấn đề của tổ chức xã hội trong đời sống cácdân tộc

Như vậy, có thể thấy trong lĩnh vực nghiên cứu tổ chức xã hội, tùy vào từngmức độ khác nhau, việc nghiên cứu đã được tiến hành đối với các vùng, các tộc

Trang 11

trong toàn quốc, ở cả người Kinh cũng như 53 dân tộc anh em Quá trình nghiêncứu này đã trải qua một chặng đường khá dài với sự đóng góp công sức và trí tuệcủa các thế hệ những người nghiên cứu Những chuyên khảo dưới dạngmonography ngắn hoặc dài về từng dân tộc, các công trình viết có phổ rộng haynghiên cứu liên quan, các tạp chí, luận án, sách, báo cáo khoa học về lĩnh vực tổchức xã hội là những thành tựu ghi nhận sự hiểu biết cơ bản về lĩnh vực này củagiới Dân tộc học Việt Nam Đây là sự đóng góp không nhỏ cho khoa học về mặt lýluận “đặc biệt là đối với nghiên cứu xã hội tiền Nhà nước, sự hình thành Nhà nước

sơ khai, các loại hình lịch sử công xã, sự phát triển chế độ sở hữu, sự chuyển biến từquan hệ huyết thống sang quan hệ láng giềng, sự tiến hóa từ xã hội nguyên thủysang xã hội có giai cấp…” [58:51] Đồng thời có đóng góp không nhỏ cho thực tiễn

Tuy nhiên, trên thực tế, lĩnh vực nghiên cứu về tổ chức xã hội ở nước ta vẫnchưa đồng đều trên diện rộng Nhiều dân tộc chỉ mới được dành cho một vài chụctrang, thậm chí chỉ mấy trang viết về mảng tổ chức xã hội Tài liệu, thông tin về cácdạng thức tổ chức xã hội, cũng như nội dung hoạt động, sự biến đổi qua các thời kỳcủa nó trong lịch sử tộc người của các dân tộc vẫn chưa đầy đủ Đặc biệt là nhữnghạn chế như chưa thống nhất về mặt thuật ngữ, luận giải nội dung/tính chất của kháiniệm “tổ chức xã hội”, vậy nên các vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của lĩnh vựcnày khá đa dạng Bên cạnh đó, các công trình đã điểm ở trên từ trước đến naydường như thiên về Dân tộc học người Việt, cụ thể là mảng đề tài về tổ chức xã hội(làng xã) của người Việt, mà chủ yếu là vùng trung du ở Bắc Bộ, còn vùng miềnTrung và đặc biệt là Nam Bộ thì chưa có nhiều nghiên cứu

Mặc dù còn các hạn chế như vậy nhưng nhìn chung, tổ chức xã hội là hướngnghiên cứu được các nhà dân tộc học Việt Nam hết sức quan tâm, chú trọng, cóphần nhiều hơn so với một số lĩnh vực nghiên cứu khác Rõ ràng không thể phủnhận các thành tựu đã đạt được trong lĩnh vực này của ngành Dân tộc học nước tatrong việc nhìn nhận ngày càng sát thực và đầy đủ về xã hội của cư dân các vùng,các tộc người cụ thể, cũng như giúp ích cho công tác thực tiễn, ổn định, xây dựng,

và phát triển đất nước

Trang 12

1.1.2 Các nghiên cứu về người Cơ tu và tổ chức xã hội của tộc người

Trở lại với dân tộc đang được nghiên cứu của luận án này, các công trìnhnghiên cứu về người Cơ tu (vùng miền núi miền Trung Việt Nam) từ trước đến naydường như ít tập trung vào nhóm Cơ tu ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế

Mà nhìn chung, người Cơ tu cư trú vùng Quảng Nam - Đà Nẵng được nhiều học giảquan tâm nhiều hơn, vì đó là địa bàn cư trú chính của tộc người này Bên cạnh đó,

Cơ tu cũng là một trong những tộc người tiêu biểu của nhóm Môn-Khơme ở miềnTrung Đông Dương, còn lưu giữ được nhiều yếu tố văn hóa bản địa; từ phương thứcsản xuất mang nặng tính tự nhiên, kỹ thuật canh tác đơn giản, công cụ lao động thô

sơ, nhiều nghi lễ tín ngưỡng cho đến sự bảo lưu mạnh mẽ yếu tố tự quản cộng đồngcủa tộc người… Tất cả những điều ấy đã thu hút sự quan tâm tìm hiểu, khám phá,say mê nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước

Từ nửa đầu thế kỷ XX trở về trước, rất ít các nghiên cứu đề cập đến tộc

người này ngoại trừ một vài dòng ít ỏi trong sách “Ô Châu Cận Lục” của Dương Văn An (1555) ở đời nhà Mạc [1] Sách “Phủ Biên Tạp Lục” của Lê Quý Đôn (1776) đời nhà Lê, thống kê nơi ở và tộc danh của tộc người [32] Bộ sử “Đại nam

Nhất Thống Chí” (1910) dưới triều Nguyễn, quyển về Thừa Thiên phủ và Quảng

Nam có vài dòng điểm qua địa bàn cư trú, phong tục đặc trưng liên quan đến tập tụctrồng lúa và thờ cúng của dân tộc này [25]

Trong thời kỳ thực dân Pháp cai trị và đế quốc Mỹ xâm lược, có không ít cáchọc giả nước ngoài (chủ yếu là Pháp) đã để tâm nghiên cứu và công bố nhiều côngtrình có liên quan đến tộc người Cơ tu Cụ thể là Louis Bezacier (1912) [152],J.Hoffet (1933) [150], Georges Coedes (1956) [137], Robert Mole (1970) [147],Nancy A Costello (1972) [132]… Các bài viết, tác phẩm trên chủ yếu đề cập đếncác tiêu chí phân lập cư trú, nguồn gốc tên tự gọi, ngôn ngữ, và tín ngưỡng của tộcngười [133:162-165]

Trong những năm 30 của thế kỷ XX, tác phẩm gây được tiếng vang lớn đối

với các học giả nước ngoài quan tâm về các dân tộc ở miền Trung Việt Nam là “Les

chasseurs de Sang” (Những kẻ săn máu) của Le Pichon (1938) Cách viết theo lối

Trang 13

văn ký sự của Le Pichon đã đưa quyển sách này trở thành một trong những côngtrình sơ khảo dân tộc học Việt Nam ấn tượng ở thời điểm đó Sách được trình bàytheo nhóm các vấn đề, ngắn gọn và thú vị như: Xứ Katu và người Katu; Làng, nhà

và nghệ thuật Katu; Đời sống Katu; Những bài hát Katu; Cái chết - sự thờ cúngngười chết; Những cuộc săn máu; Các tập tục mê tín; Lễ hội, vũ điệu Katu Ngườiđọc như bị cuốn theo từng trang bút ký, chia sẻ cùng Le Pichon những khó khăn,thuận lợi, những niềm vui nỗi buồn trong quá trình nghiên cứu văn hóa của ôngtrong mỗi trang viết [68] Đối với những công trình nghiên cứu về Dân tộc học ViệtNam của các học giả Pháp vào thời gian sau, công trình Le Pichon (1938) luôn đượctrích dẫn và trở thành nguồn khơi tạo niềm say mê nghiên cứu của họ Đó làJacques Dournes (1948) [148]; Frank và các cộng sự (1964) [136], M Murphy vàMarilou Fromme (1966) [138], R Mole (1970) [147], A Thomas Krish (1973)[123], G Hickey (1993) [35], Janet Hoskins (1996) [140] và Nancy Costello (2003)[133]

Như vậy có thể thấy, cùng với công cuộc khai thác thuộc địa của người Pháp

ở Việt Nam, các tộc người thiểu số khu vực Trường Sơn - Tây Nguyên và bắc miềnTrung nói riêng dần được biết đến bởi các học giả người Pháp (và kể cả một số

người Việt như Nguyễn Kinh Chi, Nguyễn Đổng Chi (1937) “Les Bahnar De

KonTum” (Người Ba-na ở Kon Tum); Phạm Xuân Tín (1957) “Phong tục đồng bào Thượng ở Pleiku”; Nguyễn Trắc Dĩ (1972) “Đồng bào các sắc tộc thiểu số Việt Nam”) trên rất nhiều khía cạnh như văn hóa, địa chính trị, hôn nhân, tín ngưỡng…

Nguồn tư liệu trong thời kỳ này của các học giả nước ngoài (chủ yếu là Pháp), dùmuốn hay không, đều ít nhiều phục vụ cho chính quyền thực dân và công cuộc khaithác thuộc địa Những tập du khảo, trang bút ký, báo cáo khoa học được công bốphần nhiều nặng về mặt miêu thuật những hiện tượng rời rạc, ít nhiều đều cho thấycách nhìn và chủ trương của họ đối với bộ phận người dân tộc thiểu số Việt Namlúc này - đang được nhìn nhận như những bộ phận người dã man, mông muội,nguyên thủy… Dẫu còn hạn chế như vậy nhưng không thể phủ nhận được đây là

Trang 14

những nguồn tài liệu sớm, có những đóng góp nhất định cho buổi đầu phát triểnngành Dân tộc học Việt Nam qua nghiên cứu của các học giả nước ngoài

Đối với các học giả trong nước, năm 1960, trên tập san Dân tộc số 16, trong

bài viết “Sơ lược giới thiệu dân tộc Ka-tu”, tác giả Ngọc Anh đã cung cấp cái nhìn

sơ lược nhưng bao quát được các khía cạnh văn hoá tộc người Từ việc giải thíchnguồn gốc tên gọi, phương tiện cư trú, đặc điểm nhân chủng, ngôn ngữ, phươngthức sản xuất, phân tầng xã hội, vai trò của các nhân vật lãnh đạo trong làng, nhữngphong tục tập quán cho đến tinh thần mạnh mẽ chống đối thực dân xâm lược của tộcngười Tuy những phác thảo của bài viết trên chỉ là sơ lược, nhưng lại là khảo cứuđầu tiên về người Cơ tu trên diễn đàn Khoa học xã hội Việt Nam [4]

Từ sau năm 1975 đến nay, việc nghiên cứu lịch sử, văn hoá các dân tộc trênđất nước Việt Nam được mở rộng nhằm đáp ứng mục tiêu hiểu biết lẫn nhau, gìngiữ, bảo tồn và phát huy sức mạnh văn hoá dân tộc Các công trình nghiên cứu vềngười Cơ tu xuất hiện ngày càng nhiều, bao quát khắp các lĩnh vực cuộc sống củatộc người

Ở khía cạnh tổng quát về tộc người Cơ tu, các bài viết, công trình sách củaTrần Văn Tuấn (1981) [111]; Nguyễn Quốc Lộc (1984) [70]; Khổng Diễn (1984,1993) [20], [21]; Nguyễn Xuân Hồng (1996) [44]; Tạ Đức (2002) [33]; Bh’ríu Liếc(2009) [69] đã cung cấp cho người đọc một cái nhìn hệ thống trên các lĩnh vực Nếunhư các nghiên cứu của Khổng Diễn (1984), Nguyễn Quốc Lộc (1984) đề cập đếnhoạt động kinh tế, làng mạc, trang phục, ăn uống, xã hội, hôn nhân và gia đình bằngphương pháp trình bày từng vấn đề nhằm nêu bật đặc điểm cơ bản của tộc người, thì

Tạ Đức (2002) lại trình bày công trình nghiên cứu của mình dưới dạng 17 câu hỏi,giải đáp như “Người Katu là ai, nguồn gốc của họ thế nào?”, “Tên gọi Katu cónghĩa là gì?”… và 7 chủ đề như “Cột tế Katu và truyền thuyết Ja rai”, “Tượng mathuật Katu”… Cứ như vậy, tác phẩm này đã kích thích được tính hiếu kỳ của độcgiả trong việc khám phá “một trong những sắc thái văn hóa tộc người cổ kính nhất

và đặc sắc nhất ở miền Trung Việt Nam trong cái nhìn so sánh với các văn hóa tộcngười khác ở Việt Nam và Đông Nam Á” [33:1] Nhìn chung tác phẩm này thích

Trang 15

hợp với sự tìm hiểu khái quát văn hoá tộc người Cơ tu trong xu thế du lịch văn hoálàng bản tộc người thiểu số hiện nay chứ không phải là một chuyên khảo sâu cácvấn đề nghiên cứu cụ thể của văn hoá tộc người

Cũng ở phần tổng quát, bắt đầu từ các bài viết quan tâm về các dân tộcTrường Sơn - Tây Nguyên nói chung và người Cơ tu nói riêng từ những năm 1991-

1992, tập sách “Góp phần tìm hiểu Văn hóa Cơ-Tu” của Lưu Hùng (2006) [62] là

một điểm nhấn ghi nhận sự góp phần làm gia tăng hiểu biết trên nhiều phương diện

về dân tộc này của tác giả Cuốn sách ngoài phần nói đầu và phụ lục bao gồm cácphần giới thiệu chung về tộc người Cơ tu; Đôi nét về lịch sử; Làng và nhà cửa; Họhàng và hôn nhân; Phương thức kiếm sống; Phong tục trong chu kỳ đời người; Tínngưỡng - Tôn giáo Ưu điểm lớn nhất từ tập sách này đem lại chính là nguồn tư liệuphong phú được tích lũy trong nhiều năm của tác giả, với đối tượng cụ thể là người

Cơ tu cư trú ở vùng miền núi tỉnh Quảng Nam

Ở nhóm dòng họ, hôn nhân, gia đình, có khá nhiều công trình đã được công

bố của các tác giả như Phan Hữu Dật (1964, 1992) [13] [14]; Khổng Diễn (1974)[18]; Nguyễn Hữu Thấu (1976) [92]; Phạm Quang Hoan (1979) [39]; Trần VănTuấn (1981) [112]; Nguyễn Xuân Hồng (1994, 1998b) [43], [46]; Lưu Hùng (1995)[59]; Phạm Thị Xuân Bốn (2007) [10]; Lê Anh Tuấn (2007) [109] Trong đó, cácnghiên cứu của Phan Hữu Dật (1964), Nguyễn Hữu Thấu (1974), Phạm QuangHoan (1976), là những khảo cứu chuyên sâu về hôn nhân và gia đình các dân tộcbắc Trường Sơn nói chung và ở người Cơ tu nói riêng Các tác giả đã giới thiệu vàphân tích một cách hệ thống đặc điểm hình thái hôn nhân và gia đình của tộc người.Các tàn tích liên minh hôn nhân ba thị tộc, khái niệm dòng họ, các đặc tính cơ bảncủa dòng họ - đơn vị có vai trò rất quan trọng trong đời sống hôn nhân và gia đìnhcủa người Cơ tu lần đầu tiên được đi sâu phân tích Đây là một đóng góp rất lớn cả

về lý luận và thực tiễn của các nghiên cứu này cho dù trước đó vào năm 1938, cuốn

sách nổi tiếng “Les chasseurs de Sang” (Những kẻ săn máu) đã ra đời Tuy tác

phẩm này có miêu tả chế độ dòng họ, quan hệ hôn nhân và gia đình, các nghi lễ kết

Trang 16

hôn người Cơ tu nhưng lại không nêu lên được những hình thái đặc thù của hônnhân ở đây

Cũng trong dòng nghiên cứu này, công trình của Nguyễn Xuân Hồng (1998)bên cạnh sự lĩnh hội các thông tin từ các công trình đi trước, lại mang một sắc tháikhác khi đặt vấn đề phân tích, và chỉ báo các biến đổi trong hôn nhân gia đình củangười Cơ tu Bằng việc quan sát các động thái mới trong xã hội tộc người, tác giả đãmạnh dạn chỉ báo các xu thế biến đổi và bàn luận các khuynh hướng, vấn đề gópphần bảo tồn các giá trị văn hóa cũng như loại bỏ các yếu tố tiêu cực trong đời sốnghôn nhân, gia đình Sự đóng góp nhất định của công trình này bên cạnh các nghiêncứu đã được công bố sớm về người Cơ tu nói trên là việc bổ khuyết các tư liệu vềhôn nhân gia đình của nhóm Cơ tu ở miền núi Thừa Thiên Huế qua các nghiên cứutrường hợp, phỏng vấn sâu trên địa bàn [43b]

Trong lĩnh vực xã hội, các tác giả Đặng Nghiêm Vạn (1987, 2004) [115],[117]; Lưu Hùng (1987, 1991, 1992a, 1992b) [52], [53], [54]; [55]; Nguyễn TriHùng (2004) [64]; Nguyễn Văn Mạnh (2004) [74]; Nguyễn Xuân Hồng (2005) [49];Nguyên Ngọc (2005) [79]; Nguyễn Hữu Thông (cb) (2005) [101] đã công bố nhữngnghiên cứu có giá trị về mặt lý luận và thực tiễn Những đặc trưng, đặc thù trong xãhội người Cơ tu được xem xét dưới nhiều chiều cạnh khác nhau, trong đối sánh vớicác dân tộc thuộc vùng Trường Sơn - Tây Nguyên Hầu hết các nghiên cứu đềuthống nhất gia đình, dòng họ, làng là những đơn vị xã hội quan trọng cấu thành nên

tổ chức xã hội truyền thống của người Cơ tu; trong đó làng là tổ chức xã hội cơ bảnnhất, có nội hàm và cơ cấu vận hành cụ thể Gia đình và dòng họ tuy không đượcxem như một bộ máy cụ thể bởi nó mang nặng các yếu tố của thiết chế xã hội, cácquy tắc, chuẩn mực xã hội; nhưng nếu xét ở góc độ tự quản (đặc trưng lớn nhất của

xã hội truyền thống tộc người Cơ tu) thì cũng có thể xem gia đình, dòng họ như lànhững đơn vị, “tổ chức” bổ trợ thêm cho tổ chức làng

Cũng trong lĩnh vực đang bàn đến, các công trình của Đặng Nghiêm Vạn(1987), Lưu Hùng (1987, 1992b), Nguyên Ngọc (2005), gặp nhau ở ý tưởng coitrọng mối quan hệ cộng đồng trong nghiên cứu tổ chức xã hội của tộc người Một số

Trang 17

phần của các nghiên cứu này nhìn sự tồn tại và cơ cấu vận hành xã hội tự quản cổtruyền của cộng đồng từ góc chiếu của “quan hệ xã hội” Cho rằng, tổ chức làng làmột cộng đồng mang tên gọi chung, một cộng đồng sở hữu về lãnh thổ; một cộngđồng của những người láng giềng và thân thuộc; một cộng đồng của quan hệ giàunghèo, sự phân định dân cư trong làng; và một cộng đồng về sinh hoạt, tín ngưỡng,tôn giáo, tâm lý, ý thức… Đây là những quan điểm khoa học hay, góp phần làmphong phú hơn nội hàm nghiên cứu của tổ chức xã hội Bởi lẽ trong giới nghiên cứuDân tộc học, các phạm trù thuộc về khái niệm “tổ chức xã hội” và “quan hệ xã hội”không hẳn đã thống nhất

Phải nói rằng lĩnh vực xã hội tộc người Cơ tu đã thu hút được nhiều quantâm và sự say mê nghiên cứu của các học giả Mỗi một trang sách không hẳn lànhững con số, những báo cáo, miêu thuật “khô cứng” về xã hội tộc người, mà đócòn là “nơi gửi gắm” những thăng hoa trong cách viết, những trăn trở mong muốnđóng góp vào sự giữ gìn sắc thái văn hóa các làng bản của tộc người Công trình củaNguyễn Hữu Thông (cb) (2004) [100] và các cộng sự là một trong những minhchứng như vậy Đan xen giữa quá khứ và hiện tại; lồng ghép giữa miêu thuật vàphân tích…, bức tranh về Cơ tu - kẻ sống đầu ngọn nước và văn hóa làng miền núiTrung bộ Việt Nam dần hiện lên với những giá trị truyền thống và những bướcchuyển lịch sử Một thế mạnh trong học thuật của công trình này, là sự tổng hợp các

tư liệu để lý giải về tên gọi/ tộc danh, về việc đặt lại sự hiện diện, diễn trình di trú,cũng như vai trò của nhóm Katuic và tộc người Katu (Chữ dùng trong sách của tácgiả) Và trong cuốn sách [101], mặc dù không lấy Cơ tu là đối tượng nghiên cứuchính, nhưng tác giả đã xem dân tộc này như là một điểm nhấn trong việc phác họalại chân dung văn hóa của miền tây Quảng Nam trong từng thời kỳ lịch sử Vì vậyđây cũng là một tác phẩm có những thông tin giá trị đóng góp cho việc nghiên cứutoàn diện văn hóa xã hội tộc người Cơ tu Bên cạnh đó, câu hỏi có hay không một

“văn hóa làng” ở vùng miền núi miền Trung hay chỉ có ‘văn hóa tộc người”, trong

đó văn hóa làng chỉ là một bộ phận? trong công trình “Văn hóa làng miền núi Trung

bộ Việt Nam: giá trị truyền thống và những bước chuyển lịch sử (dẫn liệu từ miền

Trang 18

núi Quảng Nam), cũng là những trăn trở chia sẻ của Đặng Nghiêm Vạn (1987)

[115]; Lưu Hùng (1993) [57]; Nguyên Ngọc (2002, 2005) [78], [79]; Nguyễn TriHùng (2004) [64] Và hầu hết các tác phẩm này đều nghiêng về quan điểm văn hóalàng ở đây là có thật, cả về lý luận và thực tiễn Văn hóa làng không tách rời khỏivăn hóa tộc người và ở một mặt nào đó, nó có vai trò riêng, hết sức quan trọng trong

sự tồn tại và khẳng định những chặng đường lịch sử của tộc người Khung quychiếu “văn hóa làng” của các tác phẩm nói trên chính là việc xác định sự hiện hữucủa văn hóa làng qua văn hóa làng - rừng: và thông qua quan điểm ấy, một loạt cácvấn đề về cấu trúc, thiết chế, sự vận hành quản lý làng, luật tục, phương thức canhtác, sự sở hữu đất và rừng… - cái thể hiện bức tranh văn hóa làng dân tộc miền núi -được đặt ra Các công trình của Đặng Nghiêm Vạn (1987) [115]; Lưu Hùng (1991,1992a) [53], [54]; Nguyên Ngọc (2002) [78]; Nguyễn Xuân Hồng, Hồ Viết Hoàng(2011) [50], cùng chia sẻ ý kiến này qua việc đề cập đến một số vấn đề về đất, rừng

và làng của các dân tộc vùng miền núi Quảng Nam nói chung và tộc người Cơ tunói riêng Các bài viết, tác phẩm trên đã cùng xác định đặc tính sở hữu tập thểtruyền thống của cộng đồng làng đối với đất và rừng chính là nền tảng vật chất, kinh

tế của tổ chức xã hội làng

Liên quan đến vấn đề sở hữu rừng, đất rừng trong phạm vi nghiên cứu xã hộingười Cơ tu, các công trình của Tôn Thất Hướng (2001) [65]; Nguyễn Văn Mạnh(cb) (2001) [73]; Lê Anh Tuấn (2002) [108]; Bùi Quang Thanh (2009) [91] đã đặtvấn đề tìm hiểu về phương thức truyền thống trong việc sử dụng rừng, đất rừng củadân tộc, và cùng đi đến kết luận: đó là phương thức quản lý cộng đồng, dựa trên cơ

sở luật tục Tiêu biểu trong khía cạnh nghiên cứu này là cuốn sách “Luật tục của

người Tà Ôi, Cơ Tu, Bru-Vân Kiều ở Quảng Trị, Thừa Thiên Huế” và “Nghiên cứu luật tục, phong tục các dân tộc thiểu số ở Quảng Nam” Nếu như địa bàn nghiên

cứu của Nguyễn Văn Mạnh (cb) (2001) là địa bàn Quảng Trị, Thừa Thiên, thì côngtrình của Bùi Quang Thanh (2009) lại chọn ở Quảng Nam Nhìn chung, đây là haitác phẩm khá toàn diện nghiên cứu một cách có hệ thống về luật tục thực hành xãhội của các cộng đồng DTTS ở miền Trung Việt Nam nói chung và người Cơ tu nói

Trang 19

riêng Các vấn đề có liên quan trong mối quan hệ với luật tục như quản lý xã hội,quy định sở hữu tài sản, khai thác bảo vệ nguồn tài nguyên, hôn nhân gia đình, quyước nông thôn hiện đại… được hai cuốn sách này trình bày khá rõ Miêu thuật, hồi

cố, tổng hợp và phân tích…, đó là những tên gọi phương pháp mà các nghiên cứunày đã áp dụng một cách triệt để: đây cũng là ưu điểm đáng ghi nhận của các côngtrình này

Thuộc phạm trù quản lý trong lĩnh vực xã hội, một số các bài viết, công trìnhcủa các tác giả đề cập đến vai trò, chức năng quản lý và sự chuyển đổi của các nhânvật chủ chốt trong cơ chế tự quản truyền thống tộc người trong bối cảnh hiện tạinhư Nguyễn Xuân Hồng (2001, 2002, 2005) [47], [48]; [49]; Huỳnh Đình QuốcThiện (2004) [94]; Nguyễn Xuân Hồng, Bùi Trúc Linh (2011) [51]… Trong đó

công trình “Kinh nghiệm quản lý hệ sinh thái nhân văn trong người Tà Ôi, Cơ Tu,

Bru-Vân Kiều” là một minh họa Dựa trên sự phân loại giữa hệ sinh thái tự nhiên và

hệ sinh thái nhân văn của các nhà địa lý, công trình đã khéo léo lồng ghép vai tròcủa con người trong việc “phải có trách nhiệm” về những hệ lụy mà mình có thể tácđộng đến môi trường “Nhân văn” trong quan niệm của tác giả chính là làng, đất,rừng và “Kinh nghiệm quản lý” chính là hình thức quản lý các dạng thức sinh kế,quản lý làng bản cổ truyền dân tộc với “nguồn nhân văn” ấy Điểm nhấn cơ bản củanghiên cứu này là trên cơ sở khái quát các hình thức quản lý làng bản tại địaphương qua các thời kỳ lịch sử, cuốn sách nêu lên những định hướng có tính chiếnlược trong việc tận dụng mọi khả năng, để kết hợp những ưu thế của mỗi hình thứcquản lý đối với địa bàn cư trú của các dân tộc

Ngoài ra, còn có một số nghiên cứu riêng lẻ về ăn uống, nhà cửa, trang phục,nghề thủ công, kiến trúc, tôn giáo, tín ngưỡng, lễ hội, ngôn ngữ, văn học và tranhảnh về tộc người Cơ tu dưới dạng sách, luận án, báo, bài viết, của các tác giả nhưNguyễn Tri Hùng (1992) [63]; Nguyễn Hữu Thông, Nguyễn Phước Bảo Đàn (2000)[98]; Bcoong Mọc (2002) [75]; Nguyễn Văn Sơn (2003) [88]; Nguyễn Hữu Thông(2003) [99]; Tôn Nữ Khánh Trang (2003) [105]; Lưu Hùng (2005) [61]; Trần ĐứcSáng (2005) [85]; Đinh Hồng Hải (2006, 2011) [37], [38]; Trần Tấn Vịnh (2006,

Trang 20

2009) [120], [121]; Bùi Minh Đạo (2008) [28]; và các báo cáo tham luận trong các

cuộc hội thảo như hội thảo Các vấn đề về miền Trung và Tây Nguyên hiện nay (2002), hội thảo về Văn hóa làng các dân tộc thiểu số ở Quảng Nam (2003), hội thảo khoa học về Nhà Rông, Nhà Rông văn hóa (2004), hội thảo khoa học Văn hóa

và nghệ thuật miền Trung: thành tựu và vấn đề (2004) Phần lớn các nghiên cứu

đã cung cấp được một số thông tin cơ bản của văn hóa tộc người trong các khíacạnh vật thể và phi vật thể

Như vậy có thể thấy tất cả các công trình nêu trên đã giới thiệu khái quát vănhóa người Cơ tu ở Việt Nam trên các phương diện đời sống văn hóa xã hội tộcngười, bằng các phương pháp tiếp cận và các mục đích nghiên cứu khác nhau Nhìnchung, phần lớn các nghiên cứu đều tập trung vào người Cơ tu ở Quảng Nam màchưa quan tâm nhiều đến người Cơ tu ở Nam Đông tỉnh Thừa Thiên Huế, việc luận

án chọn người Cơ tu ở đây làm đối tượng quan tâm chính sẽ góp thêm các thông tinhoàn chỉnh về bức tranh văn hóa tộc người Cơ tu ở Việt Nam nói chung một cáchkhách quan, đầy đủ hơn Bên cạnh đó, đối với các nghiên cứu vừa điểm qua ở trên,không có một công trình nào mang tên gọi cụ thể là “tổ chức xã hội người Cơ tu”,tuy rằng nội hàm của vấn đề này có được đề cập đến trong một số tác phẩm sách,bài viết hoặc báo cáo khoa học nghiên cứu về các lĩnh vực của văn hóa tộc người.Luận án này, chắc chắn không phải là một sự đột phá trong nghiên cứu về người Cơ

tu vì tất cả các vấn đề của tộc người đã được đề cập Tuy nhiên, ở khía cạnh lý luận,đây là công trình đầu tiên luận giải và hệ thống một cách đầy đủ các đơn vị cấuthành nên tổ chức xã hội truyền thống của tộc người, cũng như đặt vấn đề nghiêncứu ấy vào bối cảnh hiện tại

1.2 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

1.2.1 Các khái niệm cơ bản

- Khái niệm xã hội (Society): thường được hiểu là tập hợp người có những

quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội chặt chẽ với nhau, nhưng cho đến naychưa có một định nghĩa nào được mọi người thừa nhận [119:322]

Trang 21

Đặc điểm bản chất của xã hội là những vấn đề có liên quan đến lãnh thổ, sảnxuất dân cư, di cư, hệ thống luật pháp, văn hóa và bản sắc dân tộc

- Khái niệm tổ chức xã hội

Từ trước đến nay, các nhà nhân học văn hóa trong nước và trên thế giới đềutiếp cận các nghiên cứu về tổ chức xã hội trong không gian của văn hóa, xã hội và

tổ chức xã hội Hiểu theo nghĩa rộng, tất cả những gì có giá trị mà con người tạo ra

trong cuộc sống xã hội của mình đều được gọi là văn hóa Và tổ chức xã hội là một

tập hợp những tập thể người có quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội chặt chẽ với nhau Tổ chức này được cấu trúc thành một xã hội có trật tự theo các tiêu chuẩn,

quy định, cách thức mà mọi người tương tác và hoạt động trong môi trường xã hộicủa mình Tuy nhiên, xã hội không chỉ đơn thuần là một sản phẩm văn hóa đượccon người tạo ra, xã hội và các hoạt động trật tự bên trong của nó cũng là nhữngđiều kiện tiên quyết cho sự phát triển văn hóa Chính mối tương quan phức tạp giữavăn hóa và xã hội như vậy khiến ranh giới các vấn đề được nghiên cứu của conngười không dễ gì tách bạch được Giới nhân học Bắc Mỹ xem việc nghiên cứu tổchức xã hội là một nhánh của Nhân học văn hóa, còn Nhân học Anh lại xem đây làmột phạm trù thuộc Nhân học xã hội Nhận thức này tuy không đến mức quá rạchròi, nhưng lại là cơ sở để nội hàm nghiên cứu của tổ chức xã hội trở nên phong phúhơn so với tên gọi của nó

Radcliffe Brown (1952) [128], Raymon Firth (1955) [135], Levi Strauss(1958) [130], giới thiệu khái niệm của tổ chức xã hội trong sự phân biệt với cơ cấu

xã hội nhưng vẫn còn chưa rõ ràng, khó tiếp cận Điểm nhấn của Radcliffe vàRaymon là tập trung vào các chức năng mà tổ chức xã hội làm được để hỗ trợ chomột trật tự xã hội, đồng thời cũng rất chú trọng mối quan hệ giữa các cá nhân trongcùng tổ chức Levi Strauss minh họa mối quan hệ giữa tổ chức xã hội và cơ cấu xãhội qua hình ảnh của vỏ sò biển; mỗi vỏ sò có một cấu trúc riêng của nó nhưng vỏcủa cùng một loài sẽ chia sẻ cùng một hình thức cấu trúc Nghĩa là tổ chức xã hội cóthể được hiểu hoặc là một thành tố của cơ cấu xã hội Muộn hơn trong nghiên cứu,Charon (1986), cho rằng tổ chức xã hội là một tập thể người, có cùng một liên kết

Trang 22

hay ràng buộc về lợi ích tập thể và có sự thống nhất từ trên xuống dưới theo cấp bậchay chức vị [139] Nghiên cứu của công trình này chú ý đến những quy tắc được tạo

ra trong quá trình tương tác xã hội của cộng đồng người và phân loại sự tương tác

đó trên các mức độ từ thấp đến cao của tổ chức xã hội như gia đình, nhóm, dòng họ,làng, cộng đồng

Tựu chung lại, trong quan niệm của Nhân học Anh, tổ chức xã hội chính là

một thành tố của cơ cấu xã hội, một hệ thống các quan hệ, tập hợp liên kết cá nhân nào đó để đạt được một mục đích nhất định Nhận thức này nhấn mạnh đến hệ

thống các quan hệ liên kết cá nhân chứ không phải chính tập hợp cá nhân trong các

tổ chức và các quan hệ ở đây là quan hệ xã hội Và nếu như giữa tập hợp các cánhân không có những quan hệ xã hội thì họ chưa thể được coi là thành viên của một

tổ chức xã hội nào đó Hơn thế, những quan hệ này sẽ liên kết các cá nhân vào cùngmột nhóm để họ cùng thực hiện chung một hoạt động nào đó, nhằm đạt được nhữnglợi ích nhất định

Ngành dân tộc học Việt Nam, tuy chưa có một công trình cụ thể bàn luận vềkhái niệm tổ chức xã hội, nhưng trong những nghiên cứu có liên quan đến tổ chức

xã hội đã bộc lộ xu hướng nghiên cứu gần với quan điểm của các nhà Nhân học xãhội Anh Nghĩa là xem tổ chức xã hội thuộc nội hàm của cơ cấu xã hội [11], [55b],[102]… hoặc thuộc nội hàm của thiết chế xã hội [9], [15], [41], [79], [89]; và phầnlớn chú trọng khía cạnh quan hệ xã hội khi nghiên cứu về lĩnh vực này [27], [32],[34], [49], [52], [95]

Bên cạnh đó, một nét nổi bật của Dân tộc học Việt Nam là nghiên cứu về xãhội làng chiếm một vị trí quan trọng trong nghiên cứu về tổ chức xã hội các dân tộcnói chung, như công trình của Nguyễn Từ Chi (1984) [11]; Phan Đại Doãn (1992)[22]; Bùi Xuân Đính (1985) [31]; Trần Từ (1984) [102] Theo Gs Đặng NghiêmVạn (1993) [116], ở nước ta do nhiều biến động lịch sử, các hình thức tổ chức cộngđồng tộc người ban đầu đã bị tan vỡ từ lâu, địa vực cư trú của hầu hết các tộc người

bị xé lẻ Do vậy không còn thấy các hình thức tổ chức chính trị xã hội truyền thốngtương ứng với từng tộc riêng biệt, chỉ có hình thức tổ chức chính trị xã hội tương

Trang 23

ứng với từng khu vực, tập hợp người của các bộ tộc hay các bộ phận tộc người củacác tộc hay các bộ phận tộc người cùng cư trú cạnh nhau Dù sinh sống trong tổchức mường, xã, phủ, huyện, châu, động, sách, hay chỉ có làng, bản, buôn…; thìlàng luôn luôn đóng vai trò then chốt và cơ bản trong hệ thống xã hội cổ truyền.Vậy nên khuynh hướng coi trọng nghiên cứu làng trong lĩnh vực tổ chức xã hội củagiới Dân tộc học Việt Nam là hợp lý Bởi làng là một thực thể xã hội đặc biệt quantrọng, là đơn vị tổ chức xã hội cơ sở, và những nơi như vùng Trường Sơn - TâyNguyên, đó là đơn vị tổ chức xã hội độc lập, cao nhất trong xã hội cổ truyền Bêncạnh đó, trong các công trình đã công bố của Dân tộc học nước ta, tổ chức xã hộitộc người còn được thể hiện phong phú qua các cấp độ khác nhau như dòng họ, giađình, hôn nhân, cùng các khía cạnh xã hội đa dạng khác được mổ xẻ qua khái niệmhọc thuật này

Như vậy, với những dẫn liệu giải trình trong nhận thức về khái niệm tổ chức

xã hội ở nước ngoài và trong nước trên đây, có thể thấy tổ chức xã hội là một kháiniệm có tính khái quát cao, phạm trù nghiên cứu rất phong phú và đa dạng Để phục

vụ cho sự nghiên cứu, luận án này sẽ đồng nhất ở nghĩa hẹp, xem tổ chức xã hội là

những tổ chức cụ thể của tập hợp người có sự liên kết hay ràng buộc về lợi ích tập thể và có sự thống nhất từ trên xuống theo cấp bậc hay chức vị để cùng thực hiện một mục đích nào đó Cụ thể, đó là tổ chức gia đình, dòng họ, và làng; trong đó

làng là tổ chức xã hội cơ bản nhất Ở nghĩa rộng, tổ chức xã hội là một thành tố của

cơ cấu xã hội, là một dạng hoạt động, hay là một mức độ trật tự nội tại, sự hài hòagiữa các thành phần của một chỉnh thể Nghiên cứu tổ chức xã hội là nghiên cứu các

tổ chức cụ thể, đồng thời nhấn mạnh hệ thống các quan hệ liên kết cá nhân trongcác tổ chức ấy và bên ngoài để làm nổi bật vai trò, chức năng của tổ chức xã hộitrong mối liên kết gắn bó nhằm đáp ứng được một trật tự tối ưu của cơ cấu xã hội

Cùng nhìn nhận sự tương quan qua các ý tưởng về phạm trù của khái niệm tổchức xã hội trong các bài viết, sách của Phan Dữu Dật (1999a) [15]; Lưu Hùng(1994) [58]; Nguyễn Hữu Thông (cb) (2004) [100], Chúng tôi sử dụng hình vẽ sau

để biểu đạt các mối quan hệ của các phạm trù liên quan

Trang 24

Với luận án, chúng tôi sẽ triển khai nội hàm khái niệm nghiên cứu tổ chức xãhội truyền thống người Cơ tu, huyện Nam Đông tỉnh Thừa Thiên Huế theo khungsau:

Hình vẽ 1: Khung phân tích khái niệm

- Khái niệm biến đổi xã hội

Biến đổi là một khái niệm được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm trong nhữngnăm gần đây trên mọi lĩnh vực của cuộc sống Dưới nhiều góc độ nhận thức, kháiniệm biến đổi mang nhiều ý nghĩ về sự tích cực hoặc hạn chế nào đó

Trong nhân học văn hoá/ nhân học xã hội khái niệm biến đổi được ra đời từsớm theo cách hiểu là một quy luật có tính tất yếu của cuộc sống Từ những quan

Cơ cấu xã hội

Tổ chức xã hội

- Không gian và tên gọi

- Cấu trúc thiết chế, sự vận hành

- Sở hữu và phân tầng xã hội

- Luật tục liên quan đến tổ chức, quản lý

- Tên gọi, nguồn gốc

Sơ đồ 1: Mối quan hệ giữa cơ cấu xã hội, thiết chế xã hội, quan hệ xã hội và tổ chức xã hội

Trang 25

niệm trừu tượng của thuyết Khải Hoàn, xem mọi sự biến đổi của nhân loại đều chịuảnh hưởng của Thiên Chúa giáo (coi sự vận động của thế giới là điều tất yếu để điđến cái tốt đẹp), đến những lập luận mang tính khoa học của thuyết Tiến hoá trongbước đầu giải thích mối quan hệ giữa tiến hoá của con người và sinh vật (đó là sựbiến đổi theo quá trình, cái sau phát triển hơn cái khác); hay là sự mô phỏng tínhchu kỳ trong quá trình sinh trưởng của mọi sự vật, có tiêu vong, biến mất và sau đócái mới lại xuất hiện (trong mô hình của thuyết Chu kỳ); hoặc những gợi mở về cơ

sở biến đổi của thuyết kinh tế, thuyết tư tưởng, thuyết kỹ thuật, thuyết xung đột,thuyết thích ứng trong thế kỷ XX đều chủ yếu lý giải về nội hàm của sự biến đổi;nhưng trên cơ bản, mọi thuyết đều nhấn mạnh đến tính tất yếu của sự biến đổi, xem

đó như một quy luật vận động khách quan của cuộc sống

Có nhiều quan niệm về sự biến đổi xã hội trên nhiều phương diện, như ở

phạm vi rộng: đó là một sự biến đổi hoàn toàn mới được so sánh với một tình trạng

xã hội hoặc một nếp sống đã có trước; hoặc trong phạm vi hẹp: biến đổi xã hội là

sự biến đổi về cấu trúc xã hội hay tổ chức xã hội của xã hội đó, mà sự biến đổi này ảnh hưởng sâu sắc đến phần lớn các thành viên của một xã hội

Hoặc một định nghĩa cho rằng “Biến đổi xã hội là một quá trình, qua đó

những khuôn mẫu của các hành vi xã hội, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội

và các hệ thống phân tầng xã hội được thay đổi theo thời gian.”

Như vậy có thể thấy, dù có các luận giải khác nhau về nguồn gốc biến đổicũng như định nghĩa của nó, nhưng tất cả các thông điệp đưa ra đều thống nhất đềcao mặt tích cực của sự biến đổi, cũng như không xem nhẹ các yếu tố tiêu cực, kém

bền vững nảy sinh trong quá trình ấy Cơ bản, biến đổi là sự vận động/ tự chuyển

mình một cách tất yếu cho phù hợp/ thích ứng với mọi điều kiện mới của xã hội, lịch sử

1.2.2 Cơ sở lý thuyết

Như đã đề cập, nội hàm của khái niệm tổ chức xã hội cho đến nay vẫn chưa

có sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu, vì vậy không thể có một khung lý thuyếtphân tích tổ chức xã hội chung Mỗi một học giả, dựa trên những quan điểm nghiên

Trang 26

cứu khác nhau sẽ có các luận giải hợp lý về đối tượng quan tâm của mình Chính vì

lý do này nên đối tượng nghiên cứu cụ thể của tổ chức xã hội thường rất rộng Mọiphân tích nội hàm của nó luôn dựa vào sự thay đổi các cơ cấu tổ chức và quan hệ xãhội Mặc dù các nhà nhân học luôn cố gắng làm rõ sự khác nhau giữa tổ chức xã hộivới các phạm trù khái niệm liên quan khác nhưng thực tế chưa có kết quả nghiêncứu nào làm được điều đó Evans - Pritchard, Vi Văn An, Leach thiên về khái niệm

cơ cấu xã hội; Talcott Parsons, Levi-Strauss thiên về cấu trúc xã hội; RadclifeBrown, Raymon Firth luôn gắn kết tổ chức xã hội và quan hệ xã hội; PGS Lê SĩGiáo thiên về quan hệ xã hội; PGS Phạm Quang Hoan, PGS Nguyễn Ngọc Thanhthiên về nội hàm thiết chế xã hội; GS Phan Hữu Dật xem tổ chức xã hội, quan hệ xãhội và cơ cấu xã hội là các yếu tố của thiết chế xã hội…

… Sở dĩ luận án bàn về các nhận thức khác nhau trong việc đưa ra một kháiniệm tổ chức xã hội của các học giả trên thế giới và ở Việt Nam là để cung cấp mộtnền tảng cần thiết cho việc xem xét lý thuyết Và dẫn giải điều này để nói rằng cómột mạng lưới phức tạp của các lý thuyết tiếp cận khác nhau về tổ chức xã hội nhưthuyết tiến hóa mới, thuyết cấu trúc, thuyết hành vi, thuyết hành động xã hội, vàthuyết chức năng luận …

L.White (1949,1959) [141], [142], cha đẻ của thuyết tiến hóa mới, cho rằng

mọi chế độ xã hội - văn hóa đều có cơ sở vật chất và kỹ thuật của nó và đó chính là

cơ sở của sự tiến hóa Theo ông, văn hóa là “hệ thống thống nhất có tổ chức” baogồm ba hệ thống cấu thành là kỹ thuật, xã hội và tư tưởng Hệ thống kỹ thuật đượccấu thành từ những công cụ, phương tiện khai thác lương thực và tri thức; hệ thống

xã hội được cấu thành từ những quan hệ xã hội ở các tổ chức như cộng đồng, giađình, kinh tế, chính trị, tôn giáo; hệ thống tư tưởng gồm tri thức, tín ngưỡng đượcbiểu hiện ở các biểu tượng Phương tiện chính để quyết định cho một trật tự xã hội

là hệ thống kỹ thuật Và do đó, đối với sự tồn tại và biến đổi của tổ chức xã hội, kỹthuật công nghệ cũng chính là yếu tố quyết định

Một triết lý duy vật được White nhấn mạnh như một lực lượng can thiệp giữacông nghệ và tổ chức xã hội chính là nhân khẩu học Ông ví dụ nếu tộc người có sự

Trang 27

phát triển, chuyên sâu hơn của hệ thống khai thác tài nguyên/năng lượng… thì sẽcho phép một mật độ dân số dày đặc hơn, và điều này sẽ tạo một cơ cấu tổ chức xãhội lớn hơn, phức tạp hơn trong phân công lao động, hay sự khác biệt lớn trongphân tầng xã hội Và sau một chuỗi các thảo luận về vấn đề này, ông đưa ra giả địnhrằng một đặc thù về mặt kinh tế sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến trật tự xã hội, ý thức hệ

và hình thức tổ chức xã hội [142:363-393]

Nhà nhân học người Pháp Claude Levi Straus, trong lý thuyết cấu trúc, đã

theo đuổi một trong những mối quan tâm lớn của mình là việc áp dụng một phươngpháp khoa học để tìm ra một cấu trúc nhân học thống nhất từ sự đa dạng văn hóa, sự

đa dạng của các nhóm xã hội, của các nền văn minh hay các hệ thống tổ chức Ông

xác định vị trí cấu trúc ở “tư tưởng con người và xem sự giao tiếp xã hội như một

biểu hiện ngoại tại của các cấu trúc nhận thức” [84:117130] Và RadclifeBrown

-người học trò của ông thì cho rằng “hành vi cá nhân và những mối tương quan giữa

các cá nhân đã quan sát được đều được đúc kết thành những dạng tương quan cấu trúc giữa các nhóm, và những tương quan cấu trúc này lại được đúc kết thành những hệ thống tổ chức riêng biệt như kinh tế, chính trị, dòng họ…” [24:585-586].

Trong nội hàm lý thuyết, mặc dù những phân tích đầu tiên của Claude Levi Strauskhông áp dụng cho các tổ chức xã hội tộc người mà tập trung vào mảng cấu trúc củanhững hệ thống thân tộc và sau này là cấu trúc của huyền thoại; và các hệ thống tổchức theo cách nhìn của Radclife-Brown, dù được thừa nhận là có sự liên kết nhưngvấn đề giải thích những liên kết đó trong khung phân tích của thuyết cấu trúc đãkhông được giải quyết thỏa đáng,…; nhưng với quan điểm nhấn mạnh sự giao tiếp

xã hội, đề cao vai trò các mối liên đới giữa các bộ phận trong một cấu trúc [131], lýthuyết này đã chỉ ra rằng phân tích cấu trúc là cách phân tích nhằm làm nổi bật cácquy luật cơ bản chi phối các mối quan hệ trong các tổ chức [130]

Trong khi hai lý thuyết trên thảo luận sự khác biệt đáng kể trong quan điểmcủa họ về vai trò của kỹ thuật công nghệ và sự tổng hòa các mối quan hệ trong các

tổ chức xã hội theo dạng con người là một khách thể, thì thuyết chủ nghĩa hành vi (Behaviourism theory) và thuyết hành động xã hội (Social actions theory) lại nhìn

Trang 28

con người ở góc độ chủ thể khi luận giải những vấn đề gần gũi giữa sự ảnh hưởnghành vi cá nhân, hành động xã hội của cá nhân/ nhóm lên cấu trúc xã hội Nhiềuquan sát xem xét hành vi của con người trên các cấp độ khác nhau của tổ chức xãhội đã nêu lên rằng, liệu họ có nhận thức được việc mình đi ngược lại với các quyluật đã được đặt ra của tổ chức ấy, sẽ phá vỡ các quy tắc của tổ chức và ảnh hưởngđến cấu trúc xã hội hay không? Và nỗ lực phân tích, dự đoán sự ảnh hưởng của cáchành vi ấy [145], [146] hoặc hành động xã hội ấy [12] Raymond Firth (1969) [135]

là người ủng hộ cách tiếp cận hành vi luận Kết quả của công trình nghiên cứu dântộc học của ông (1967) [134], có đề cập đến hành vi thực tế của xã hội (tổ chức xãhội) được tách ra từ các nguyên tắc lý tưởng hóa của hành vi trong xã hội cụ thể(cấu trúc xã hội) nhấn mạnh sự thích ứng, và hiểu biết của con người về quy tắc tổchức xã hội, mô hình văn hóa, ngôn ngữ dân tộc nói chung sẽ làm giảm nhẹ cáchành vi trong xã hội của họ, tạo sự tương tác tốt với xã hội (tổ chức xã hội)

Đối với hành động xã hội luận, cùng với sự lý giải động cơ, thuyết này trởnên hữu dụng và cần thiết khi tìm hiểu, đánh giá những mục đích hay tác động củanhững hành động đó đến chính cá nhân và xã hội hiện tại Khi tham gia vào các mốiquan hệ xã hội, những hành động mà cá nhân đó thực hiện không chỉ ảnh hưởngđến bản thân anh ta mà còn có tác động đến một nhóm tổ chức hay xã hội tổng thể.Điều này trong tâm lý xã hội có thể thấy rõ nhất khi tâm lý đám đông phổ biến khi

nó được cộng hưởng qua cơ chế lây lan Thực tế, những nhà cấu trúc luận cho rằng

lý thuyết hành động xã hội bị rơi vào “cái bẫy vi mô” khi chỉ lý giải được nhữngvấn đề nhỏ lẻ, rời rạc của con người mà không cho thấy được cấu trúc và quy luật

xã hội của nó Còn những nhà hành vi lý luận lại phê phán lý thuyết hành động xãhội là một học thuyết “nửa vời” khi không hẳn thuộc về hành vi, cũng không hẳnthuộc về xã hội Trong khi đó ở khía cạnh khác có thể thấy tiêu chí phân biệt giữahành vi con người và hành động xã hội của hai thuyết này cũng chỉ mang tính tươngđối, khó có thể phân định rạch ròi được

Thuyết cuối cùng mà luận án đề cập đến trong mạng lưới phức tạp của các lý

thuyết tiếp cận khác nhau về tổ chức xã hội là thuyết chức năng luận nửa sau thế

Trang 29

kỷ XX Trong luận giải sự biến đổi xã hội theo quy luật tự nhiên, thuyết này là mộtkhuynh hướng có tính thuyết phục cao với các nhà nhân học Cụ thể là trường phái

cơ cấu-chức năng (Structural functionalism) (1926) mà B.Manilowski và Brown là người đại diện Trường phái này khảo cứu chức năng của các thành tố vănhoá, từng thể chế xã hội như gia đình, dòng họ, bản làng trong các loại hình xã hội,

Radcliffe-và cho rằng mỗi sự có mặt của các yếu tố trên đều là sự đảm bảo việc thực hiện mộtchức năng nào đó của văn hoá, xã hội hoặc tâm lý Nghĩa là vị trí của tất cả mọi thứtrong cuộc sống con người luôn phải có một chức năng nào đó, và khi nó biến đổithì đó là một quy luật tự nhiên để thích ứng với một chức năng khác cần được thựchiện

Ở đây, chúng tôi không bàn luận đến các yếu tố khuynh hướng này/ haytrường phái kia bị lợi dụng để phục vụ cho một mưu đồ chủ ý nào đó của các cánhân hay tập thể, chỉ nhìn dưới góc độ nhân học xã hội/ văn hoá, đây là trường phái

mà các nhà khoa học có khả năng luận giải tốt các vấn đề biến đổi khi đối mặt vớicác xã hội không còn sự khép kín, nhỏ hẹp trong một không gian nào đó, mà là một

xã hội pha trộn, hỗn hợp của các cộng đồng dân cư, các thể chế chồng xếp nhau ;thì việc nghiên cứu hay phân tích sự biến đổi ấy tốt hơn hết là phải khảo sát cácchức năng trong sự kết hợp, chuyển hoá và đa dạng hoá, hơn là sự biệt lập, thoát ly,tách rời một cách trừu tượng Nội hàm của trường phái này cũng đưa ra nhiều nềntảng khác nhau để giải thích việc đảm bảo hay chuyển đổi sự thực hiện chức năngcủa các biểu hiện văn hoá xã hội Trong khi người đại diện đầu tiên B.Manilowski(1944) [129] thuyết phục mọi chi tiết của một nền văn hoá đều có một chức năngdựa trên nền tảng sinh học của con người và tâm lý học thì nhà nghiên cứu văn hoá

xã hội người Anh Radcliffe-Brown (1935) lại đặc biệt chú ý mảng cơ cấu xã hội và

“các điều kiện cần thiết để tồn tại” việc thực hiện các chức năng của mỗi yếu tốtrong cơ cấu ấy [127:394-402) Ông nhấn mạnh hệ thống xã hội là một cơ chế hợpnhất, trong đó tất cả các bộ phận đều có chức năng tạo nên sự hài hoà của cái toàn

thể [124], [126] Mối quan hệ giữa cấu trúc và chức năng trong từng cơ cấu/ tổ chức

xã hội là mối quan hệ quan trọng để duy trì sự tồn tại của một cấu trúc Và sự tồn

Trang 30

tại, thực hiện để phát triển của các chức năng trong một cấu trúc sẽ góp phần duy trìtính bảo tồn liên tục của cấu trúc ấy

Dựa trên tư liệu điền dã ở quần đảo Andaman, Radcliff-Brown (1922) [124]vận dụng cách tiếp cận các thiết chế xã hội như một đối tượng khoa học, một kháchthể để nghiên cứu các hệ thống thân tộc thổ dân ở châu Úc, và xem các hệ thốngthân tộc này như là những biến thể của một số cấu trúc nhất định Trên cơ sở đó,ông xác định một tập hợp các mối quan hệ giữa các thuật ngữ thân tộc với các quytắc của hôn nhân - những mối quan hệ cơ bản tạo nên “cấu trúc” ban đầu của xã hộibán khai Như vậy, tựu chung lại ông đưa ra quan điểm cho rằng hệ thống xã hội làmột cơ chế hợp nhất, trong đó tất cả các bộ phận đều có chức năng tạo nên sự hàihoà của cái toàn thể Theo Radcliffe-Brown, để tìm ra quy luật, cơ chế vận hành của

cơ cấu văn hóa - xã hội, cần phải tiến hành so sánh nhưng là so sánh một cách có hệthống chứ không phải so sánh từng yếu tố riêng lẻ Ông cũng cho rằng cần căn cứvào yếu tố văn hóa, coi đó là tiêu chí chung nhất để so sánh các tổ chức xã hội, như

tổ chức thân tộc, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tôn giáo… Nhà nghiên cứu phải

mô tả được phần cơ bản nhất của các thiết chế xã hội tương thuộc nhau Ông gọi đó

là cơ cấu xã hội và xác định rằng chức năng của các bộ phận đều quan hệ với cái

toàn thể [125:15-31] Công trình Tổ chức xã hội của các bộ tộc châu Úc (The Social Organization of Australian Tribes) (1931) [126] và trong bài viết về Vai trò của

người cậu ở Nam Phi (The Mother’s Brother in South Africa) (1924) [125] là một

minh chứng về quan điểm này của Radcliffe, bằng việc khảo sát các mối quan hệtrong quy chiếu với mô thức chung về các quan hệ thân tộc và mô thức chung vềcác mối quan hệ giữa các nhóm xã hội khác nhau, ông đã góp phần chỉ ra cấu trúcchức năng của những phong tục tưởng chừng phi lý, lạ lùng nhất để hoàn thành sơ

đồ chung về hệ thống tổ chức xã hội của các bộ tộc châu Úc Sau này, đi theo cáchtiếp cận của thuyết cấu trúc - chức năng, đại biểu Talcott Parson cũng đã có nhữngquan điểm khẳng định mối quan hệ biện chứng giữa cấu trúc và chức năng, trong đónhấn mạnh vai trò quyết định của cấu trúc

Trang 31

Như vậy, có thể thấy, khá nhiều hướng tiếp cận lý thuyết về tổ chức xã hội.

Với mục đích của công trình nghiên cứu, luận án chủ yếu sử dụng thuyết cấu trúc của Claude Levi Straus và thuyết cơ cấu chức năng của B.Manilowski và Radcliffe Brown

Với thuyết cấu trúc, chúng tôi sẽ xem xét tổ chức xã hội dưới dạng một hệthống, chứ không đơn thuần là các tổ chức rời rạc; nhằm mô tả, dựng lại bức tranh

xã hội truyền thống của tộc người một cách bao trùm và chặt chẽ hơn Bên cạnh đó,bằng việc xác định nguyên lý cơ bản chi phối nội hàm các cấp độ tổ chức xã hội,chúng tôi sẽ tổng quát được các đặc trưng cơ bản và vai trò của các tổ chức ấy đốivới sự phát triển của văn hóa - xã hội tộc người

Còn với thuyết cơ cấu chức năng, trước hết, để giải thích sự tồn tại và vậnhành của tổ chức xã hội cần phân tích cấu trúc - chức năng của nó, tức là chỉ ra cácthành phần cấu thành (cấu trúc) và các cơ chế hoạt động (chức năng) của chúng Cụthể hơn, chúng tôi cố gắng làm sáng tỏ câu hỏi nghiên cứu theo cách tiếp cận khung

lý thuyết cấu trúc và chức năng của vấn đề nghiên cứu là: Các đơn vị xã hội nào cấuthành nên tổ chức xã hội truyền thống người Cơ tu?; Cơ chế vận hành cơ bản củacác tổ chức xã hội truyền thống ấy ?; Mối liên hệ giữa cấu trúc tổ chức xã hộitruyền thống và chức năng của nó trong bối cảnh hiện tại?

Bên cạnh đó, dựa vào luận giải biến đổi xã hội theo quy luật tự nhiên, luận

án cũng sẽ chỉ ra những biến đổi đang diễn ra trong tổ chức xã hội truyền thống củacộng đồng người được nghiên cứu, và mong muốn “ước định” những truyền thống

có tính bền vững để xác định rõ và giữ gìn sắc thái tộc người Bởi việc đặt mục đíchnghiên cứu là nhằm góp phần bảo tồn, phát triển bản sắc tộc người không phải làcông việc đơn giản Bất cứ một biểu hiện, hoạt động, hay giá trị của di sản văn hoánào cũng có lý do ra đời với chức năng lịch sử của nó, khi xã hội thay đổi, khi chứcnăng lịch sử không còn, chúng ta không thể có một công thức cứng nhắc ứng dụngcho mọi tình huống trong phương cách bảo tồn và gìn giữ Mọi sự nghiên cứu biếnđổi xã hội đều phải thật nghiêm túc, phải khảo sát và đặt mọi biểu hiện biến đổitrong sự so sánh cụ thể của bối cảnh xã hội, như Radcliffe-Brown (1965) đã nói:

Trang 32

“Nghiên cứu văn hoá là nghiên cứu sự thích ứng với một môi trường nhất định”

[128:2]

Có thể xem phác thảo khung phân tích lý thuyết của luận án như sau:

Hình vẽ 2: Khung phân tích lý thuyết

1.3 Phương pháp nghiên cứu

Cách tiếp cận đề tài nghiên cứu này là tiếp cận toàn thể, dựa trên các kỹ thuậtnghiên cứu có tính liên ngành, hữu ích cho việc trình bày tính chất cơ cấu và nhữngbiến đổi trong tổ chức xã hội truyền thống của tộc người Cơ tu Cụ thể là nội dungnghiên cứu liên quan trực tiếp đến chuyên ngành Nhân học văn hóa/ xã hội

Bên cạnh đó, chúng tôi dựa vào các lý thuyết về cấu trúc, lý thuyết cơ cấuchức năng và phương pháp khoa học liên ngành nhằm thu thập, tổng quát, phát hiệncác nguyên lý tổ chức, quy luật xã hội tác động đến sự tồn tại và biến đổi tổ chức xãhội truyền thống của người Cơ tu trên địa bàn nghiên cứu Điều quan trọng hơn là

cơ sở lý luận của luận án còn được dựa trên các quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lê

Kết quả 1 Kết quả 2 Kết quả 3

Dòng họ

Tổ chức xã hội

truyền thống Nội dung cụ thể Biến đổi tổ chức xã hội truyền thống

Thuyết cấu trúc

Thuyết cơ cấu chức năng (B.Manilowski và Radcliffe - Brown

Kết quả khung phân tích Gia đình

Trang 33

Nin, của Đảng và Nhà nước Việt Nam về xây dựng chế độ chính trị, kinh tế và xãhội của đất nước Tuy Marx không bàn sâu về các thiết chế xã hội hay tổ chức xãhội, nhưng trong những nội dung bàn về khoa học kinh tế chính trị, giai cấp, xã hội,Marx luôn nhấn mạnh quan điểm xem xã hội, dưới bất kỳ hình thái nào cũng chỉ làsản phẩm của sự tác động lẫn nhau giữa người với người Các xã hội, dù hiểu theo ýnghĩa của các phương thức sản xuất hay hiểu theo nghĩa hẹp của đời sống của cáccộng đồng tộc người, đều tồn tại một cách khách quan, không phụ thuộc vào ý chíchủ quan của một lực lượng nào Vì vậy, dù là xã hội vĩ mô hay vi mô thì bắt buộccác cộng đồng cư dân trong sự tồn tại của mình phải thích nghi và chịu sự chi phốibởi tính chất của nó

Như vậy theo cách hiểu thông thường, xã hội là một hệ thống có nhiều bộphận có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, vận động theo các quy luật khách quan.Điều này có sự tương đồng khi liên kết với thuyết cấu trúc, chức năng được sử dụngtrong luận án Đó là quy luật cấu trúc xem cơ cấu xã hội được cấu thành từ nhiềuđơn vị, yếu tố xã hội khác nhau Nghiên cứu tổ chức xã hội là nghiên cứu từng đơn

vị tổ chức cụ thể, nhưng không được xem nhẹ mối liên kết chặt chẽ giữa các tổ chức

ấy thông qua các quan hệ xã hội trong và ngoài tổ chức, nhằm tiếp cận một cách hệthống cơ cấu, vai trò, chức năng của các tổ chức xã hội trong một chỉnh thể xã hộinhất định

Về phương pháp nghiên cứu cụ thể, để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sửdụng các phương pháp cơ bản sau:

- Phương pháp điền dã Dân tộc học: Đây là phương pháp nghiên cứu chủ

yếu của luận án, với cách thức tiến hành thu thập các hệ thống thông tin chính xác

và mang ý nghĩa thực tiễn liên quan đến đời sống xã hội của cộng đồng tộc người.Phương pháp này bao gồm các thao tác cơ bản như quan sát tham gia, phỏng vấnsâu dân tộc học và thảo luận nhóm

Quan sát tham gia là một trong những phương pháp được chúng tôi áp dụngtrong suốt thời gian thực hiện nghiên cứu điền dã Bằng cách hiện diện tại nơi

Trang 34

nghiên cứu, và tham dự tích cực vào sự tương tác của các thành viên trong cộngđồng, chúng tôi đã tiếp cận gần nhất những kinh nghiệm về, và hiểu sâu hơn ngườidân tộc ở đây bằng góc nhìn của người trong cuộc Nhờ vậy, chúng tôi đã thu thậpđược nhiều thông tin có giá trị về chiều sâu, thể hiện nguyên lý cốt lõi trong việchình thành và tồn tại của các cấp độ tổ chức xã hội truyền thống tộc người, cũngnhư quan điểm, ý kiến của người dân về những biến đổi của các tổ chức này

Để tiến hành phỏng vấn sâu dân tộc học, chúng tôi đã lựa chọn các thông tínviên chủ chốt gồm già làng, trưởng thôn, trưởng họ, trưởng gia đình, những ngườitham gia công tác Đảng và công tác chính quyền, đoàn thể Nội dung phỏng vấnđược chuẩn bị trước với những câu hỏi được xây dựng theo nguyên tắc gợi ý, đểngười trả lời có nhiều lựa chọn khi đưa ra quan điểm, ý kiến của mình Những vấn

đề chính trong bảng phỏng vấn sâu đề cập đến, là những vấn đề mà bảng hỏi địnhlượng không thể giải quyết được một cách triệt để hoặc sâu sắc

Trong thao tác thảo luận nhóm, chúng tôi thực hiện với 3 nhóm đối tượng làngười già, trung niên và thanh niên với hướng thảo luận tập trung vào các vấn đề về

tổ chức gia đình, dòng họ, làng, các biểu hiện của luật tục trong các cấp độ của tổchức xã hội, quan hệ xã hội giữa các cá nhân trong mỗi tổ chức và với cộng đồng…

- Phương pháp điều tra xã hội học: Cơ cấu nghiên cứu này bao gồm 80

phiếu hỏi (mỗi xã một thôn làng theo phân chia sau: Thượng Lộ 20 phiếu; ThượngLong 15 phiếu; Thượng Nhật 25 phiếu và Hương Sơn 20 phiếu chia theo cơ cấugiới tính và độ tuổi) Nội dung phiếu hỏi gồm các thông tin cơ bản về vai trò, chứcnăng của tổ chức làng, gia đình và dòng họ

- Phương pháp phân tích, so sánh đối chiếu các đặc điểm về mô hình tổ chức

xã hội, các sắc thái văn hoá tộc người giữa nhóm Cơ tu vùng Nam Đông và nhóm

Cơ tu vùng Quảng Nam, cũng như với các cộng đồng dân tộc khác trong vùng nóiriêng và các dân tộc miền núi thuộc dãy Trường Sơn - Tây Nguyên nói chung

Xem khung minh họa sự phân tích các thông tin và số liệu thu thập sau:

Trang 35

Hỡnh vẽ 3: Khung phõn tớch cỏc thụng tin và dữ liệu thu thập

1.4 Giới thiệu về địa bàn nghiờn cứu

Nam Đụng là huyện miền nỳi của tỉnh Thừa Thiờn Huế, cỏch thành phố Huếkhoảng 50 km (về phớa Tõy Nam theo đường bộ), cỏch đường Quốc lộ 1A (La Sơn)

25 km về phớa Đụng Địa bàn của huyện là một thung lũng nằm về phớa Đụng dóyTrường Sơn cú chiều dài 37 km, nơi rộng nhất 27 km, nơi hẹp nhất 14 km Phớa Tõycủa huyện giỏp huyện A Lưới, phớa Đụng giỏp huyện Phỳ Lộc, phớa Nam giỏphuyện Tõy Giang của tỉnh Quảng Nam và huyện Hũa Vang của thành phố Đà Nẵng,phớa Bắc giỏp huyện Hương Thủy Huyện Nam Đụng nằm trong tọa độ từ 15059’đến 16015’ độ vĩ Bắc, 107030’ đến 107053’ độ kinh Đụng Tổng diện tớch toànHuyện là 698,77 km² [5:11]

1.4.1 Khỏi quỏt về huyện Nam Đụng, tỉnh Thừa Thiờn Huế

Dữ liệu điền dã

Điều tra xó

hội học Quan sỏt tham dự

Thảo luận nhóm Phỏng vấn sâu

phân tích

Các bài báo, tài liệu báo cáo, công trình nghiên cứu

có liên quan đến đề tài

Tổ chức xó hội truyền thống của người Cơ tu huyện Nam Đụng tỉnh Thừa Thiờn Huế

Dữ liệu thành văn

Trang 36

1.4.1.1 Địa hình

Vùng núi Nam Đông nằm trong ranh giới tiếp giáp giữa Trường Sơn bắc vàTrường Sơn nam Điểm nổi bật có tính chất đặc trưng là sự chia cắt mạnh mẽ củamạng lưới thác ghềnh hiểm trở, sông suối dày đặc Hệ thống dòng chảy ở đây đaphần ngắn và dốc, lưu lượng thay đổi lớn theo mùa mưa nắng

Cấu tạo địa hình vùng chủ yếu là đồi núi Lãnh thổ có dạng hình khối, hướngnghiêng chung của địa hình là hướng nam - bắc Phía nam được bao bọc bởi nhiềudãy núi có nhiều đỉnh cao Dựa theo độ dốc, địa hình Nam Đông được chia theo 3kiểu: Thứ nhất là kiểu địa hình núi thấp (độ cao 250-270m) phân bố ở thượngnguồn các khe suối, là phần tiếp nối của địa hình vùng đồi Từ vùng thung lũng KheTre, Nam Đông, địa hình cao dần cả về ba hướng đông, tây, nam Độ dốc của vùngnúi thấp trung bình từ 26 đến 35 độ Vùng đất này bị chia cắt mạnh bởi hệ thốngkhe suối xuất phát từ các núi cao trên 1000 m, tạo nên địa hình phức tạp Thứ hai làkiểu địa hình núi trung bình (độ cao từ 700-2000 m) tập trung ở khu vực có độ kiếntạo nâng lên mạnh, có nhiều đỉnh núi cao trên 1000 m, phân bố chủ yếu ở phía namcủa huyện Nam Đông, giáp với địa phận Quảng Nam - Đà Nẵng [5] Và thứ ba làkiểu địa hình thung lũng có dạng bậc thềm hay bãi bồi, tương đối bằng phẳng vàđược bao phủ bởi trầm tích

Đặc điểm của địa hình vùng núi Nam Đông có sự ảnh hưởng đến việc quyđịnh cách thức di chuyển, sinh hoạt và sản xuất của đồng bào nơi đây Sự chia cắtcác loại của địa hình đã tạo nên những ranh giới tự nhiên ngăn cản khả năng giao lưugiữa các cộng đồng cư dân sinh sống gần kề, tạo nên cụm cư trú và trao đổi nội bộtrong một không gian tương đối hẹp Ở chừng mực nào đó, đặc điểm này giúp cácnhóm cộng đồng ở mỗi khu vực có điều kiện bảo tồn các sắc thái văn hóa, nâng caotinh thần đoàn kết gắn bó với nhau; nhưng mặt khác, sự chia cắt của địa hình cũng tạođiều kiện cho tính tự cung tự cấp, khép kín tồn tại dai dẳng, khiến các cộng đồng dân

cư khó hội nhập với các môi trường xã hội bên ngoài

1.4.1.2 Khí hậu

Trang 37

Với đặc trưng chung thuộc khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa, song do ảnhhưởng của yếu tố địa hình nên khí hậu Nam Đông có nét đặc thù của vùng đồi núi.Lượng mưa hàng năm tuy thuộc diện cao nhất của tỉnh Thừa Thiên với mức trungbình năm là 3.600 mm, có khi lên đến 5.000 mm, tập trung vào các tháng 9, 10 và

11 [5:16], tuy nhiên có sự phân bố không đều và biến động tăng theo độ cao địahình Cụ thể tổng lượng mưa năm có xu hướng giảm dần từ đông sang tây và từ bắcxuống nam Nơi có lượng mưa cao nhất là những vùng gần Bạch Mã như Khe Tre,Hương Lộc, Thượng Lộ với lượng mưa trung bình năm trên 3.300 mm Vùng đấtthấp dọc theo các xã Hương Sơn, Hương Hòa, Hương Hữu, Hương Giang, ThượngNhật là vùng có lượng mưa ít hơn, khoảng 3.000 mm/năm Lượng mưa tăng dầntheo sườn núi phía đông nhưng cũng chỉ dao động trong khoảng 3.200 - 3.600 mm/năm

Tính chất nhiệt ẩm của khí hậu tạo nên thảm thực vật phát triển phong phú.Lượng mưa lớn hằng năm là nguồn nước dồi dào cho hoạt động sinh hoạt và sảnxuất của cư dân Tuy nhiên khí hậu nhiệt ẩm cũng tạo điều kiện cho nấm mốc, cácloại dịch bệnh phát triển, ảnh hưởng đến năng suất cây trồng, sức khỏe vật nuôi haycủa con người Hiện tượng mưa lớn diễn ra tạo ra nguồn nước lớn, nhưng trong điềukiện canh tác nương rẫy thì lượng mưa lớn đó sẽ chẳng có ý nghĩa nhiều so với hoạtđộng canh tác lúa nước ở miền xuôi Ở phương diện khác, lượng mưa lớn tạo radòng chảy mạnh có khả năng cuốn trôi bề mặt màu mỡ của đất rẫy, hoặc làm sạt lởđất, ảnh hưởng đến công sức lao động của đồng bào

1.4.1.3 Thổ nhưỡng

Nền địa chất của Nam Đông khá phức tạp, bao gồm những loại đá cổ xưanhất đến những loại đá mới hình thành do quá trình sụt lún, đứt gãy, uốn nếp…, nênthành phần đất ở đây khá phong phú và có sự phân hóa Ở khu vực thượng nguồn,nơi tập trung những dòng nước lớn nhỏ có kết cấu thổ nhưỡng đa dạng Bắt nguồn

từ cấu trúc địa tầng đá nham, đất đai nơi đây hình thành trên kết cấu của đá granit,riolit, cát kết, phiến thạch, sét, phù sa bồi tụ, dưới tác động lâu dài của yếu tố nhiệt

ẩm, đa phần là loại feralit đỏ vàng, vàng nhạt Ngoài ra còn có sự xuất hiện của các

Trang 38

loại đất bồi lắng ở các thung lũng, dạng phù sa ven sông suối cũng như đất nâu vàngtrên thềm phù sa cổ Với tính chất đa nham của vùng cùng với tác động của khí hậunhiệt đới ẩm nên thống trị chủ yếu là các loại đất feralit đỏ vàng, feralit vàng nhạt.Các loại đất này cũng phản ánh sự tương phản giữa hình núi cao, núi thấp và vùng

gò đồi của Nam Đông Nhóm đất feralit chiếm diện tích nhiều nhất ở Nam Đông.Đặc tính của mỗi loại đất phụ thuộc vào đá mẹ, điều kiện địa hình, độ cao tuyệt đối,điều kiện nhân tác Đất feralit đỏ vàng trên đá mắc - ma axit và trên đá biến chất làhai loại đất chủ yếu ở kiểu đồi cao Dọc thung lũng sông Tả Trạch còn có đất phù sangòi suối nhưng chiếm diện tích không lớn

Sự phong phú của thổ nhưỡng là điều kiện quan trọng cho sự đa dạng hóa cơcấu cây trồng Song, trong thang bậc chưa cao của kỹ thuật canh tác, khi với đồngbào, kinh nghiệm vẫn là yếu tố được coi trọng hàng đầu thì việc sử dụng các loại đấthợp lý khác nhau cho mỗi loại cây trồng vẫn là bài toán chưa có lời giải Vấn đề nàycần có sự quan tâm nghiên cứu của các nhà Địa chất học, Sinh vật học và Nông -lâm học để tìm ra tính chất đặc trưng, có lợi của mỗi loại đất nhằm áp dụng các loạicây trồng khác nhau tương hợp với mỗi loại đất, mang lại hiệu quả kinh tế, nâng caođời sống cho đồng bào

1.4.1.4 Thủy văn

Do nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nên hệ thống dòng chảy sông ngòiNam Đông có nguồn nước phong phú Tuy nhiên lượng phân phối dòng chảy trongnăm không đều theo cả không gian và thời gian Trong một năm, dòng chảy đượcphân ra thành hai mùa rõ rệt: mùa lũ và mùa cạn Thời gian bắt đầu và kết thúc củamột mùa thường thay đổi theo năm Mùa lũ hằng năm thường trùng với mùa mưa,lưu lượng dòng chảy mùa lũ thường chiếm 80% lưu lượng cả năm Mùa mưa ở NamĐông khá dài kèm theo địa hình dốc nên quá trình rửa trôi, xói mòn đất mạnh, cộngvới tốc độ dòng chảy lớn nên lượng phù sa lắng đọng không đáng kể, có đặc điểmchua và nghèo dinh dưỡng

Sông lớn nhất chảy qua Nam Đông là Tả Trạch Vào mùa lũ, Tả Trạch có lưu

lượng dòng chảy là 4.000 m³/s nhưng vào mùa khô chỉ còn 9 m³/s Ngoài hệ thống

Trang 39

sông suối, Nam Đông còn có một số hồ cỡ nhỏ tập trung ở thung lũng Khe Tre (hồ

Ka Tư) và nhiều công trình tiểu thủy nông khác

Hệ thống thủy văn ở Nam Đông với nhiều con suối nhỏ tạo thuận lợi chođồng bào cư trú, sản xuất Ngày nay với nhu cầu phục vụ định canh định cư, pháttriển nông nghiệp trồng lúa nước thì hệ thống sông suối cung cấp nguồn nước tựchảy cùng với các công trình thủy lợi vừa và nhỏ góp phần rất quan trọng ổn địnhđời sống của nhân dân, đảm bảo chiến lược định canh, định cư của đồng bào Ngoàiviệc cung cấp nước sạch hằng ngày cho sinh hoạt và sản xuất của nhân dân, hệthống sông suối Nam Đông còn là tuyến giao thông quan trọng (Trong kháng chiếnchống Pháp, Ban Kinh tài kháng chiến đã thành lập vạn đò độc lập vận chuyểnlương thực, thuốc men, vũ khí phục vụ kháng chiến, đồng thời đảm bảo giao thôngliên lạc từ chiến khu Dương Hòa (Hương Thủy) lên Nam Đông) Tuy nhiên, do lưuvực sông hẹp, độ dốc lớn, sông suối ngắn lại thêm phân phối lượng nước không đềutheo thời gian nên thường xảy ra hạn hán vào cuối xuân và đầu hè, gây khó khăncho sản xuất, sinh trưởng và phát triển của cây trồng trong vùng

1.4.1.5 Hệ thống sinh vật

Nam Đông là vùng tiếp giáp giữa hai khu hệ sinh vật bắc và nam TrườngSơn, vì vậy hệ thực vật và động vật rất phong phú Đây là một trong những huyện

có nhiều rừng và giàu rừng nhất Thừa Thiên Huế

Hệ thực vật Nam Đông - Bạch Mã có trên 500 loài thực vật bậc cao, thuộc

344 chi và 124 họ Trong đó có nhiều loại bản địa chỉ gặp ở khu vực này như dầu đỏngọn, dầu đọt tím, lan kim tháp, táu lá to… Nhiều loại gỗ quý trong luồng di cư VânNam - Quý Châu như gụ, lim và nhiều loại quý hiếm từ phía Nam di cư lên nhưkiền kiền, chò đen, kim giao Đặc biệt có nhiều loại cho gỗ có giá trị thương phẩmcao như cẩm lai, trắc, trầm hương…

Về hệ động vật, do thuộc khu sinh thái vành đai thấp vùng trung TrườngSơn, ở đây có đầy đủ các loài đặc trưng như voi, gà lôi đặc hữu, sao la, mang lớn,

bò rừng, thỏ vằn Trường Sơn, chà và chân xám, trĩ sao…; các loài bò sát như kỳ đàvân, kỳ nhông; nhiều loại chim như vịt trời, le le, chim cu ngói…

Trang 40

Rừng Nam Đông thuộc một phần của Vườn quốc gia Bạch Mã có rất nhiềuloại động vật đặc hữu như vượn đen Siki, voọc chà và chân nâu, cầy lơn tranh, cheocheo, sao la, mang Trường Sơn, mang lớn, ngoài ra còn có một số phân loài đặc hữuđịa phương như sóc chồn Pira, thỏ nâu… và một số loài phụ khác [5:13]

1.4.2 Khái quát về người Cơ tu

1.4.2.1 Tên gọi, dân số, sự phân bố cư dân

Tên gọi/tộc danh là tiêu chí quan trọng để định vị một cộng đồng với tư cách

là một tộc người độc lập Ở tộc người Cơ tu xuất hiện nhiều cách phiên âm và gọitên như: Cơ tu, Cơ Tu, Cơtu, Cờ tu, Cờ Tu, K’ tu, Ka tu, Ka Tu, Kato, Kan to,Kaoto, Kha Tu, Tou, Phương, Phuang, Cao, Hạ, A sáp, A Pang, Attouat, Nguồn Ta,Kao, Khat, Thap, Ta River - Van Kiều… Trong số đó, tên gọi “Cơ tu” được sử dụngchủ yếu trong các văn bản hành chính của Nhà nước, còn “”Ka tu” được xuất hiệnnhiều trong các công trình, bài viết nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoàinước với nhiều luận giải khác nhau

Le Pichon (1938) cho rằng “Ka tu” thực sự không nhằm để chỉ tộc danh, mà

là từ gọi chung những người hoang dã [100:30] Schrock (1966) cũng cho rằng

“Tên gọi Ka tu có nghĩa là dã man, được gọi bởi các tộc người lân cận” 21] G Hickey (1964) [136] trong công trình đề cập đến sự thích ứng để sinh tồncủa những người ở vùng cao Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống Mỹ đã ghinhận rằng tên Ka tu nhằm chỉ định những người sống trong vùng liên quan đến đầunguồn

[138:11-Tạ Đức (2002) cho rằng, có nhiều khả năng hơn Ka tu đã là tên tự gọi lâu đờicủa người Ka tu Theo cách giải thích của đồng bào, Ka tu có nghĩa đen là người ởđầu nguồn, trên cao (Ka = người, tu = đầu nguồn nước) và tên gọi này có nguồn gốc

từ tập quán cư trú lâu đời của tộc người [33:17]

Nguyễn Hữu Thông (2004), Lưu Hùng (2006) lần theo cách lý giải về ýnghĩa tên gọi tộc người cũng như đối chiếu với những trường hợp được sử dụngtrong ngôn ngữ giao tiếp hằng ngày của họ để nhận định rằng: từ “tu” trong ngônngữ Ka tu nhằm để chỉ vị trí ở đầu ngọn, chẳng hạn như “tu long”: ngọn cây, “tơm

Ngày đăng: 04/12/2013, 14:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dương Văn An (1555), Ô Châu cận lục, Văn hoá Á Châu xuất bản, Sài Gòn, 1961 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ô Châu cận lục
2. Phan An (1985), “Tổ chức xã hội của người Xtiêng” trong Vấn đề dân tộc ở sông Bé, Nxb Tổng hợp, Sông Bé, 1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức xã hội của người Xtiêng” trong "Vấn đề dân tộc ởsông Bé
Tác giả: Phan An
Nhà XB: Nxb Tổng hợp
Năm: 1985
3. Vi Văn An (1995), “Vài nét về cơ cấu tổ chức xã hội và chế dộ sở hữu đất đai của người Thái vùng đường 7 tỉnh Nghệ An”, Tạp chí Dân tộc học số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về cơ cấu tổ chức xã hội và chế dộ sở hữu đất đaicủa người Thái vùng đường 7 tỉnh Nghệ An”, "Tạp chí Dân tộc học
Tác giả: Vi Văn An
Năm: 1995
4. Ngọc Anh (1960), “Sơ lược giới thiệu dân tộc Ka-tu”, Tập san Dân tộc, số 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ lược giới thiệu dân tộc Ka-tu"”, Tập san Dân tộc
Tác giả: Ngọc Anh
Năm: 1960
5. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Nam Đông (2003), Lịch sử Đảng bộ huyện Nam Đông (1945 - 2000), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyệnNam Đông (1945 - 2000)
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ huyện Nam Đông
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
6. Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh huyện Nam Đông (2009), Báo cáo tổng kết 20 năm công tác xây dựng và hoạt động hội Cựu chiến binh huyện Nam Đông, Nam Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổngkết 20 năm công tác xây dựng và hoạt động hội Cựu chiến binh huyện NamĐông
Tác giả: Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh huyện Nam Đông
Năm: 2009
7. Ban chấp hành Hội Liên hiệp phụ nữ huyện Nam Đông (2010), Báo cáo tổng kết năm 2010 - phương hướng nhiệm vụ năm 2011, Nam Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổngkết năm 2010 - phương hướng nhiệm vụ năm 2011
Tác giả: Ban chấp hành Hội Liên hiệp phụ nữ huyện Nam Đông
Năm: 2010
8. Ban chấp hành Hội Nông dân huyện Nam Đông (2011), Báo cáo tổng kết công tác hội, phong trào nông dân năm 2011 và triển khai nhiệm vụ năm 2012, Nam Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kếtcông tác hội, phong trào nông dân năm 2011 và triển khai nhiệm vụ năm 2012
Tác giả: Ban chấp hành Hội Nông dân huyện Nam Đông
Năm: 2011
9. Phan Xuân Biên (1985), “Tổ chức làng cổ truyền của các dân tộc Tây Nguyên”, Tạp chí Dân tộc học, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức làng cổ truyền của các dân tộc TâyNguyên"”, Tạp chí Dân tộc học
Tác giả: Phan Xuân Biên
Năm: 1985
10. Phạm Thị Xuân Bốn (2007), Hôn nhân của người Cơ tu ở Huyện Hiên, tỉnh Quảng Nam, Luận văn thạc sĩ Văn hóa học, Viện Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hôn nhân của người Cơ tu ở Huyện Hiên, tỉnhQuảng Nam
Tác giả: Phạm Thị Xuân Bốn
Năm: 2007
11. Nguyễn Từ Chi (1984), Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ
Tác giả: Nguyễn Từ Chi
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1984
12. Bùi Thế Cường (2006), “Các lý thuyết về hành động xã hội”, Tạp chí Khoa học Xã hội, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các lý thuyết về hành động xã hội”, "Tạp chí Khoahọc Xã hội
Tác giả: Bùi Thế Cường
Năm: 2006
13. Phan Hữu Dật (1964), “Quan hệ hôn nhân và gia đình ở dân tộc Vân Kiều”, Tạp chí Dân tộc học, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ hôn nhân và gia đình ở dân tộc Vân Kiều”,"Tạp chí Dân tộc học
Tác giả: Phan Hữu Dật
Năm: 1964
14. Phan Hữu Dật (1992), “Về hình thái hôn nhân con cô con cậu”. Tạp chí Dân tộc học, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Về hình thái hôn nhân con cô con cậu"”. Tạp chí Dântộc học
Tác giả: Phan Hữu Dật
Năm: 1992
15. Phan Hữu Dật (1999a), “Thiết chế xã hội cổ truyền của các dân tộc thiểu số nước ta với việc xây dựng thể chế chính trị mới hiện nay” trong Một số vấn đề dân tộc học Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Thiết chế xã hội cổ truyền của các dân tộc thiểu sốnước ta với việc xây dựng thể chế chính trị mới hiện nay” trong "Một số vấn đềdân tộc học Việt Nam
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
16. Phan Hữu Dật (1999b), “Hôn nhân và gia đình các dân tộc nước ta” trong Một số vấn đề dân tộc học Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hôn nhân và gia đình các dân tộc nước ta” trong "Mộtsố vấn đề dân tộc học Việt Nam
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
17. Phan Hữu Dật (chủ biên) (2001), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay (Sách tham khảo), Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp báchliên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay (Sách tham khảo)
Tác giả: Phan Hữu Dật (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trịquốc gia. Hà Nội
Năm: 2001
18. Khổng Diễn (1974), “Những đặc điểm về hôn nhân các gia đình dọc Trường Sơn Tây Nguyên”, Thông báo Dân tộc học, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc điểm về hôn nhân các gia đình dọc TrườngSơn Tây Nguyên”, "Thông báo Dân tộc học
Tác giả: Khổng Diễn
Năm: 1974
19. Khổng Diễn (1977), “Một số đặc điểm xã hội của người Triêng ở Quảng Nam trong Tìm hiểu con người miền núi Quảng Nam, Ban Dân tộc Quảng Nam xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm xã hội của người Triêng ở Quảng Namtrong "Tìm hiểu con người miền núi Quảng Nam
Tác giả: Khổng Diễn
Năm: 1977
20. Khổng Diễn (1984), “Dân tộc Cơ tu” trong Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Nam), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc Cơ tu” trong "Các dân tộc ít người ở Việt Nam(các tỉnh phía Nam)
Tác giả: Khổng Diễn
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1984

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình vẽ 1: Khung phân tích khái niệm - Tổ chức xã hội truyền thống của người cơ tu huyện nam đông tỉnh thừa thiên huế
Hình v ẽ 1: Khung phân tích khái niệm (Trang 24)
Hình vẽ 2: Khung phân tích lý thuyết - Tổ chức xã hội truyền thống của người cơ tu huyện nam đông tỉnh thừa thiên huế
Hình v ẽ 2: Khung phân tích lý thuyết (Trang 32)
Bảng 1.1: Phân bố dân số người Cơ tu ở Huyện Nam Đông - Tổ chức xã hội truyền thống của người cơ tu huyện nam đông tỉnh thừa thiên huế
Bảng 1.1 Phân bố dân số người Cơ tu ở Huyện Nam Đông (Trang 41)
Hình vẽ 4: Các dạng gia đình của người Cơ tu - Tổ chức xã hội truyền thống của người cơ tu huyện nam đông tỉnh thừa thiên huế
Hình v ẽ 4: Các dạng gia đình của người Cơ tu (Trang 56)
Bảng 2.1: Số lượng các thế hệ trong gia đình người Cơ tu ở điểm nghiên cứu - Tổ chức xã hội truyền thống của người cơ tu huyện nam đông tỉnh thừa thiên huế
Bảng 2.1 Số lượng các thế hệ trong gia đình người Cơ tu ở điểm nghiên cứu (Trang 57)
Bảng 2.2: Phân chia công việc trong quan hệ giữa vợ và chồng người Cơ tu - Tổ chức xã hội truyền thống của người cơ tu huyện nam đông tỉnh thừa thiên huế
Bảng 2.2 Phân chia công việc trong quan hệ giữa vợ và chồng người Cơ tu (Trang 58)
Hình vẽ 5: Cấu trúc ngôi làng Cơ tu truyền thống theo dạng hình tròn - Tổ chức xã hội truyền thống của người cơ tu huyện nam đông tỉnh thừa thiên huế
Hình v ẽ 5: Cấu trúc ngôi làng Cơ tu truyền thống theo dạng hình tròn (Trang 73)
Bảng 3.1: Các loại hộ gia đình ở thôn Ta Lu xã Thượng Nhật - Tổ chức xã hội truyền thống của người cơ tu huyện nam đông tỉnh thừa thiên huế
Bảng 3.1 Các loại hộ gia đình ở thôn Ta Lu xã Thượng Nhật (Trang 91)
Bảng 3.2: Tên gọi các làng, thôn hiện tại trên địa bàn nghiên cứu - Tổ chức xã hội truyền thống của người cơ tu huyện nam đông tỉnh thừa thiên huế
Bảng 3.2 Tên gọi các làng, thôn hiện tại trên địa bàn nghiên cứu (Trang 96)
Hình vẽ 7: Bản vẽ minh họa mô hình bố trí thôn Chà Măng, xã Thượng Lộ - Tổ chức xã hội truyền thống của người cơ tu huyện nam đông tỉnh thừa thiên huế
Hình v ẽ 7: Bản vẽ minh họa mô hình bố trí thôn Chà Măng, xã Thượng Lộ (Trang 98)
Hình vẽ 8: Bản vẽ minh họa mô hình bố trí thôn tái định cư 2, xã Hương Sơn - Tổ chức xã hội truyền thống của người cơ tu huyện nam đông tỉnh thừa thiên huế
Hình v ẽ 8: Bản vẽ minh họa mô hình bố trí thôn tái định cư 2, xã Hương Sơn (Trang 99)
Bảng 3.9: Tình hình giao rừng phân theo xã ở huyện Nam Đông - Tổ chức xã hội truyền thống của người cơ tu huyện nam đông tỉnh thừa thiên huế
Bảng 3.9 Tình hình giao rừng phân theo xã ở huyện Nam Đông (Trang 116)
Bảng 3.11: Dân số, dân tộc phân theo xã (2009) - Tổ chức xã hội truyền thống của người cơ tu huyện nam đông tỉnh thừa thiên huế
Bảng 3.11 Dân số, dân tộc phân theo xã (2009) (Trang 120)
Bảng so sánh thông qua một vài tiêu chí nêu trên cho thấy mỗi một hình thức quản lý đều thể hiện mặt tích cực và hạn chế của mình - Tổ chức xã hội truyền thống của người cơ tu huyện nam đông tỉnh thừa thiên huế
Bảng so sánh thông qua một vài tiêu chí nêu trên cho thấy mỗi một hình thức quản lý đều thể hiện mặt tích cực và hạn chế của mình (Trang 133)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w