1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

luận án tiến sĩ quản lý làng xã ở tỉnh thái bình qua hương ước cải lương từ năm 1921 đến năm 1945 (managing villages in thai binh province through the conventions 1921 1945)

269 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 269
Dung lượng 13,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (10)
  • 2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu (11)
  • 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (12)
  • 4. Nguồn tài liệu (12)
  • 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu (13)
  • 6. Đóng góp của luận án (14)
  • 7. Cấu trúc của luận án (15)
  • Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ (16)
    • 1.1. Các công trình nghiên cứu về hương ước, quản lý làng xã qua hương ước cổ truyền (trước năm 1921) (16)
      • 1.1.1. Các công trình của học giả nước ngoài (16)
      • 1.1.2. Các công trình của học giả trong nước (17)
    • 1.2. Các công trình nghiên cứu về Hương ước cải lương, quản lý làng xã qua hương ước cải lương (22)
      • 1.2.1. Các công trình của học giả nước ngoài (22)
      • 1.2.2. Các công trình của học giả trong nước (23)
    • 1.3. Các công trình nghiên cứu về làng xã Thái Bình, quản lý làng xã qua hương ước của Thái Bình (27)
      • 1.3.1. Các công trình của học giả nước ngoài (27)
      • 1.3.2. Các công trình của học giả trong nước (28)
    • 1.4. Một vài nhận xét về nguồn tư liệu, tình hình nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đề tài luận án và những vấn đề cần tiếp tục làm rõ (32)
      • 1.4.1 Nhận xét về nguồn tư liệu và tình hình nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đề tài luận án (32)
      • 1.4.2. Những vấn đề cần tiếp tục làm rõ (34)
  • Chương 2. KHÁI QUÁT VỀ QUẢN LÝ LÀNG XÃ TRƯỚC NĂM 1921 VÀ HƯƠNG ƯỚC CẢI LƯƠNG Ở THÁI BÌNH (35)
    • 2.1. Khái quát về quản lý làng xã ở Thái Bình trước năm 1921 (35)
      • 2.1.1. Khái quát về tỉnh Thái Bình (35)
    • 2.2. Hương ước cải lương của tỉnh Thái Bình (49)
      • 2.2.1. Khái quát về hương ước (49)
        • 2.2.1.2. Các loại hương ước (49)
      • 2.2.2. Hương ước cải lương ở Thái Bình (50)
  • Chương 3. QUẢN LÝ KINH TẾ Ở LÀNG XÃ THÁI BÌNH QUA HƯƠNG ƯỚC CẢI LƯƠNG TỪ NĂM 1921 ĐẾN NĂM 1945 (70)
    • 3.1. Quản lý ruộng đất (70)
      • 3.1.1. Quy định về các vấn đề liên quan đến ruộng đất (70)
      • 3.1.2. Quy định về các loại ruộng đất (70)
      • 3.1.3. Quy định về xử phạt đối với trường hợp chiếm đoạt ruộng đất bất hợp pháp (80)
    • 3.2. Quản lý chi thu, sưu thuế (81)
      • 3.2.1. Quản lý chi thu (81)
      • 3.2.2. Quản lý sưu thuế (87)
    • 3.3. Quản lý tài sản chung (90)
    • 3.4. Quản lý, bảo vệ sản xuất nông nghiệp (90)
      • 3.4.1. Quản lý đường sá, cầu cống, đê điều (90)
      • 3.4.2. Bảo vệ ruộng đồng, nguồn nước, sức kéo (92)
  • Chương 4. QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH, VĂN HÓA Ở LÀNG XÃ THÁI BÌNH (98)
    • 4.1. Quản lý hành chính (98)
      • 4.1.1. Tổ chức hành chính (98)
      • 4.1.2. Về chức năng, nhiệm vụ, tiêu chuẩn của bộ máy quản lý làng xã (99)
      • 4.1.3. Về lương, phụ cấp, thưởng phạt cho bộ máy quản lý làng xã (111)
      • 4.1.4. Việc mua, bán các chức trong bộ máy quản lý làng xã (115)
    • 4.2. Quản lý văn hóa (116)
      • 4.2.1. Quản lý giáo dục (116)
      • 4.2.2. Quản lý phong tục (120)
    • 5.1. Một số thành công, thất bại của Pháp trong việc quản lý làng xã ở Thái Bình (132)
      • 5.1.1. Thành công (132)
      • 5.1.2. Thất bại (138)
    • 5.2. Một số đặc điểm của việc quản lý làng xã qua hương ước cải lương từ năm 1921 đến năm 1945 ở Thái Bình (143)
      • 5.2.1. Tính cụ thể, chặt chẽ (143)
      • 5.2.2. Tính cộng đồng, tự quản (146)
    • 5.3. Bài học kinh nghiệm cho quản lý làng xã, xây dựng nông thôn mới trong (151)
      • 5.3.1. Bài học về xây dựng bộ máy quản lý nhà nước ở nông thôn (151)
      • 5.3.2. Bài học về xây dựng và thực hiện hương ước, quy chế ở cơ sở (153)
  • KẾT LUẬN (157)

Nội dung

Bình; các vấn đề về quản lý hành chính, kinh tế, văn hóa, giáo dục làng xã TháiBình qua hương ước cải lương 1921-1945.Phương pháp điền dã được sử dụng khi tác giả đi thực tế tại một số l

Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

- Trình bày khái quát về quản lý làng xã trước năm 1921 và hương ước cải lương ở Thái Bình.

- Làm rõ việc quản lý kinh tế, hành chính, văn hóa ở làng xã Thái Bình qua hương ước cải lương từ năm 1921 đến năm 1945.

- Rút ra một số nhận xét về việc quản lý làng xã qua hương ước cải lương ở tỉnh Thái Bình từ năm 1921 đến năm 1945 làm bài học cho công tác quản lý làng xã người Việt hiện nay.

- Nghiên cứu làm rõ những nét cơ bản về cơ sở xuất hiện của hương ước cải lương (1921-1945) ở Thái Bình, như về làng xã người Việt ở Thái Bình, công cuộc cải lương hương chính của Pháp ở Thái Bình.

- Phân tích được thực trạng hương ước, đặc điểm về hình thức, nội dung của hương ước cải lương (1921-1945) ở Thái Bình.

- Phân tích, làm rõ nội dung quản lý hành chính, kinh tế, văn hóa, xã hội đối với làng xã thông qua các bản hương ước cải lương (1921-1945) ở Thái Bình.

- Đánh giá, rút ra bài học từ thực tế quản lý làng xã ở Thái Bình thông qua hương ước cải lương (1921-1945) nhằm phục vụ cho công tác quản lý làng xã, nông dân, nông thôn nói riêng, quản lý nhà nước nói chung hiện nay.

Nguồn tài liệu

- Các bộ sử, sách, văn bản, luật của chính quyền nhà nước, tỉnh Thái Bình giai đoạn 1921-1945, như: Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Nghị định chỉnh đốn lại hương hội các xã Annam ở Bắc Kỳ (1922), Nghị định chỉnh đốn lại Hội đồng tộc biểu các xã Nam dân ở Bắc Kỳ,…

- Các bản hương ước cải lương của Thái Bình giai đoạn 1921-1945.

- Các công trình nghiên cứu khác (giáo trình, sách chuyên khảo,…) về hương ước cải lương, về chính quyền thực dân Pháp tại Đông Dương giai đoạn 1921-1945, về làng xã và chính sách quản lý làng xã trong lịch sử Việt Nam nói chung, giai đoạn 1921-1945 nói riêng.

- Tài liệu thực địa thu thập được trong các lần điền dã tại các làng của Thái

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng phép biện chứng của chủ nghĩa duy vật lịch sử để nghiên cứu về hương ước cải lương, vấn đề quản lý làng xã qua hương ước cải lương ở Thái Bình giai đoạn 1921-1945.

5.2 Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện luận án, tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu.

Hai phương pháp chuyên ngành là phương pháp lịch sử và phương pháp logic được vận dụng để trình bày lại vấn đề nghiên cứu thông qua tư liệu, đồng thời nhìn nhận vấn đề toàn diện, khách quan.

Phương pháp lịch sử: dựng lại một cách khái quát về diện mạo của làng xã

Thái Bình thời kỳ 1921-1945 cùng với nội dung của các chính sách quản lý làng xã (người Việt) trên tất cả các phương diện.

Phương pháp logic: trên cơ sở phân tích có thể rút ra một số nhận xét, đánh giá về công tác quản lý làng xã qua hương ước cải lương (1921-1945), qua đó rút ra bài học kinh nghiệm cho công tác quản lý hành chính cấp cơ sở hiện nay.

Ngoài ra, tác giả luận án còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu bổ trợ khác như: tổng hợp, phân tích, so sánh, thống kê, điền dã,…

Phương pháp tổng hợp được sử dụng để tổng hợp các vấn đề chính về hình thức, thời gian xuất hiện, nội dung của hương ước cải lương (1921-1945) ở Thái

Bình; các vấn đề về quản lý hành chính, kinh tế, văn hóa, giáo dục làng xã Thái Bình qua hương ước cải lương (1921-1945).

Phương pháp điền dã được sử dụng khi tác giả đi thực tế tại một số làng xã để thu thập những thông tin có liên quan đến làng xã, hương ước cải lương, quản lý làng xã qua hương ước cải lương ở Thái Bình,….

Phương pháp thống kê, so sánh được sử dụng trong luận án để thống kê hệ thống hương ước cải lương, hệ thống làng xã ở Thái Bình, so sánh chúng với các khu vực khác để rút ra những điểm riêng biệt của làng xã Thái Bình, hương ước cải lương, vấn đề quản lý làng xã qua hương ước cải lương (1921-1945) ở Thái Bình.

Đóng góp của luận án

Luận án là công trình nghiên cứu, trình bày đầy đủ, có hệ thống về vấn đề quản lý làng xã (người Việt) qua hương ước cải lương (1921-1945) ở tỉnh Thái Bình Trên cơ sở đó góp phần làm sáng tỏ một số nội dung sau:

Thứ nhất, luận án trình bày khá toàn diện về hương ước cải lương (1921-

1945) cùng với việc dựng lại diện mạo làng xã tỉnh Thái Bình đương thời.

Thứ hai, qua việc khai thác nguồn tư liệu gốc và tư liệu tham khảo luận án dựng lại một cách cụ thể, đầy đủ và toàn diện các nội dung quản lý làng xã ở tỉnh Thái Bình về hành chính, kinh tế, xã hội, văn hóa qua hương ước cải lương (1921-

1945) Từ hiệu quả thực tế mà công tác quản lý làng xã đạt được, rút ra những bài học trong việc giải quyết bài toán về mối quan hệ giữa trung ương và làng xã.

Thứ ba, luận án nêu lên được những mặt thành công và thất bại trong công tác quản lý làng xã qua hương ước cải lương thời kỳ 1921-1945, đặt trong sự so sánh với chính sách quản lý làng xã của các thời kỳ trước Từ đó liên hệ với thực tại, rút ra một số bài học kinh nghiệm cho công cuộc cải cách hành chính ở địa phương hiện nay.

Thứ tư, luận án tập hợp và hệ thống hóa những tư liệu liên quan đến làng xã

Thái Bình, hương ước cải lương ở Thái Bình, công tác quản lý làng xã ở Thái Bình giai đoạn 1921-1945 Những tư liệu này sẽ góp thêm một công trình nghiên cứu về làng xã Thái Bình, về chính quyền thực dân Pháp, về chính sách cai trị của thực dânPháp tại Việt Nam,

Cấu trúc của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung luận án gồm 5 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề

Chương 2: Khái quát về quản lý làng xã trước năm 1921 và hương ước cải lương ở Thái Bình

Chương 3: Quản lý kinh tế ở làng xã Thái Bình qua hương ước cải lương từ năm 1921 đến năm 1945

Chương 4: Quản lý hành chính, văn hóa ở làng xã Thái Bình qua hương ước cải lương từ năm 1921 đến năm 1945

Chương 5: Một số nhận xét về việc quản lý làng xã qua hương ước cải lương ở tỉnh Thái Bình từ năm 1921 đến năm 1945

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Các công trình nghiên cứu về hương ước, quản lý làng xã qua hương ước cổ truyền (trước năm 1921)

1.1.1 Các công trình của học giả nước ngoài

Trước cách mạng tháng Tám, từ thế kỉ XVII, một số người phương Tây đã có những ghi chép về Việt Nam, trong đó có ghi chép về làng Việt, tục lệ trong làng Việt, như: Tập du kí mới và kì thú về Vương quốc Đàng Ngoài của Jean Baptiste Tavernier (Nxb Thế giới, Hà Nội, năm 2005), Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài năm 1688 của Dampier William (Nxb Thế giới, Công ty Từ Văn, Hà Nội, năm 2011),… đã cho chúng ta một số thông tin về tục lệ, sự ràng buộc của tục lệ đó đối với cư dân trong làng Việt.

Công trình La Commune Annamite au Tonkin (Làng xã An Nam ở Bắc kỳ,

1894) của P.Ory đã đề cập đến một số vấn đề về tục lệ, tập quán trong các làng xã ở Bắc kỳ.

Cuốn Les paysans du Delta Tonkinois (Người nông dân châu thổ Bắc kỳ của P.Gourou (xuất bản lần đầu tại Paris, năm 1936) đã nghiên cứu về văn hóa, cư dân của làng xã đồng bằng Bắc Bộ Trong cuốn này, P Gourou đã trình bày một số nét về tục lệ, lệ làng, hương ước của các làng xã người Việt và cho thấy rõ tính quy định bắt buộc đối với việc thực hiện theo các tục lệ trong làng xã người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ Gourou nhận ra sự chi phối của tục lệ, lệ làng đối với đời sống làng xã: “Làng là một cộng đồng tự trị, tự giải quyết mẫu thuẫn giữa các thành viên…

Tính độc lập của làng là rõ ràng Nó thể hiện trong câu tục ngữ “Phép vua thua lệ làng”[82,tr.249-250].

Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ngày càng xuất hiện nhiều các công trình của các tác giả nước ngoài nghiên cứu về làng Việt nói chung, hương ước, quản lý làng xã qua hương ước Có thể kể ra một số tác giả và tác phẩm:

Insun Yu với công trình Luật và xã hội Việt Nam thế kỉ XVII, XVIII (NxbKhoa học xã hội, năm 1994) Nội dung chính của công trình này là trình bày, phân tích luật Việt Nam thời Lê sơ Trong đó, Insun Yu có đề cập đến vấn đề người dân của làng xã chịu sự tác động, quản lý không chỉ của luật pháp của nhà nước mà còn cả của những tục lệ di làng xã lập ra.

Công trình Làng ở vùng châu thổ sông Hồng: Vấn đề còn bỏ ngỏ của Philippe Papin và Olivier Tessier (chủ biên) (Trung tâm khoa học xã hội nhân văn quốc gia xuất bản năm 2001) cũng đề cập một vài khía cạnh về quản lý làng xã truyền thống ở các làng: Hay (Thanh Ba, Phú Thọ), làng Mộ Trạch (Bình Giang, Hải Dương) Tả Thanh Oai (Thanh Trì, Hà Nội), làng Ninh Hiệp (Gia Lâm, Hà Nội) như về các vấn đề dòng họ, quản lý ruộng đất,

John Kleinen với công trình Facing the Future, Reviving the Past: A Study of

Social Change in a Northern Vietnamese Village (Làng Việt đối diện tương lai hồi sinh quá khứ: Một nghiên cứu về thay đổi xã hội ở một làng miền Bắc Việt

Nam) của John Kleinen (bản dịch của Hội Khoa học Lịch sử, Nxb Lao động, năm

2013) Ở công trình này, tác giả đã trình bày về quá trình hình thành và phát triển của làng Việt từ thời kỳ thực dân, thời kỳ thuộc địa, thời kỳ chiến tranh, thời cải cách ruộng đất, thời kỳ tập thể hóa Trong đó tác giả dành một chương (Chương 8: Đời sống lệ nghi ở làng) trình bày về phong tục, tập quán ở làng Qua đó tác giả cũng cho thấy các tục lệ, hương ước có vai trò như những luật lệ bắt buộc đối với cư dân, góp phần điều chỉnh quan hệ xã hội ở làng.

Có thể thấy, các công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài về làng xã, hương ước, quản lý làng xã người Việt truyền thống khá đa dạng Dưới các góc nhìn khác nhau, vấn đề quản lý làng xã qua hương ước đã được các tác giả nghiên cứu Phần lớn các tác giả đều nhận thức vai trò của hương ước trong điều chỉnh các quan hệ xã hội ở làng, bộ phận quản lý làng xã đã dựa vào hương ước, tục lệ để mà cai trị cư dân.

1.1.2 Các công trình của học giả trong nước

Trước Cách mạng tháng Tám, nhiều tác giả trong nước đã quan tâm, nghiên cứu về làng Việt, hương ước, quản lý làng Việt thông qua hương ước.

Công trình Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính đã dành một phần lớn của cuốn sách để nói về “Phong tục hương đảng” chốn hương thôn, làng xã Các ngôi thứ, viên chức, hương ẩm, lễ khao vọng, hương học… Dù chưa sử dụng quản lý làng xã bằng hương ước nhưng Phan Kế Bính đã nhận thấy rõ vai trò của hương ước trong quản lý làng xã: “Chốn hương thôn thường có ước hẹn riêng với nhau, lập ra sổ sách, đồng dân ký kết gọi là khoán ước Trong khoán ước có thưởng phạt, trừ ra các việc lớn đã có phép của nhà nước, còn việc nhỏ thì trong dân thôn thi hành lẫn nhau…” [9,tr.163].

Cùng thời gian nửa đầu thế kỷ XX, các tác giả Nguyễn Văn Huyên với: Recherche sur la Commune Annamite (Nghiên cứu xã Annam) (năm 1939), Histoire de la fondation d’une commune annamite au Tonkin (Lịch sử thành lập một xã Annam ở Bắc Kỳ (năm 1941), La Civilisation annamite (Văn minh An Nam) (năm 1944), ; Nguyễn Văn Khoan, Về ngôi thứ trong làng, (BEFEO, năm 1930, tr.107-139, tr.132); Ngô Tất Tô với “Việc làng”… ít nhiều có nói đến hương ước, sự tác động của hương ước đối với cư dân làng xã Bắc Bộ xưa.

Kể từ sau năm 1954, việc nghiên cứu về làng xã Việt Nam được đẩy mạnh Nguyễn Hồng Phong với Xã thôn Việt Nam tác giả đã dành phần lớn của cuốn sách để viết về bộ máy quản lý thôn xã, tổ chức và sinh hoạt cộng đồng ở xã thôn: “… Phép vua thua lệ làng … nhà nước không thể muốn tổ chức bộ máy cai trị ở xã thôn thế nào thì được như thế” [80,tr.140]… Ở miền Nam, tác giả Lương Đức Thiệp trong chuyên khảo về Xã hội Việt

Nam, ở cuốn thứ nhì tác giả đã dành một số dung lượng để viết về Chính trị và xã hội tổ chức (chương II), để nói về xã thôn Việt Nam, Xã hội sinh hoạt (chương III), để nói về phong tục [98].

Tác giả Phan Khoang với chuyên khảo Lược sử chế độ xã thôn ở Việt Nam trên Tập san Sử địa (số 1, 1966) Tác giả đã chỉ rõ tính tự trị của làng xã trên cơ sở hương ước để tự trị, tự quản “xã có tục lệ riêng Thể lệ là tập tục về các tổ chức nói trên đều được định rõ trong hương ước nó đối với dân trong làng cũng như hiến pháp đối với dân trong nước vậy Cũng có điều không ghi trong hương ước,nhưng đã thực hành lâu ngày thành ra tập tục, truyền tự đời nọ đến đời kia, thì dân làng cũng phải tuân theo như đã ghi trong Hương ước” [52,tr.43].

Trong hai công trình: Nông thôn Việt Nam trong lịch sử (2 tập), Nxb Khoa học xã hội, năm 1977 - 1978 và Nông dân và nông thôn Việt Nam thời cận đại (2 tập), Nxb Khoa học xã hội, năm 1990-1992 của Viện Sử học đều có những bài nghiên cứu về làng xã, hương ước, quản lý làng xã, như: Vũ Huy Phúc với “Tổ chức quản lý xã thôn: Chức năng và tính chất”, Nguyễn Đổng Chi với “Quan hệ giữa nhà nước và làng xã ở Việt Nam trước cách mạng”, Nguyễn Đức Nghinh với

“Lệ làng và nho sĩ”[119].

Công trình Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền Bắc Bộ của Trần Từ (Nxb Khoa học xã hội, 1984), trong công trình của mình, trong “mục III: Vận hành của cơ cấu xem như một tổng thể” tác giả đã dành nhiều trang để viết về “những đơn vị hành chính - “ốc đảo” và vai trò hai mặt của hương ước”, thể hiện góc nhìn của một chuyên gia “Hương ước đã xuất hiện từ bao giờ trong lịch sử của từng làng xã Việt? Có ý kiến cho rằng đây là luật lệ riêng của làng xã, vốn bất thành văn đến thời Pháp thuộc chép lại thành văn bản để buộc các làng quê vào khuôn phép”[108,tr.98].

Tác giả Văn Tạo với chuyên khảo “Chúng ta kế thừa di sản nào? trong khoa học và kỹ thuật pháp luật và hương ước nông thôn và nông nghiệp” (Nxb Khoa học xã hội, 1993) đã chỉ rõ hương ước như một di sản cần được nghiên cứu kĩ lưỡng để rút ra bài học cho quản lý xã hội hiện nay.

Các công trình nghiên cứu về Hương ước cải lương, quản lý làng xã qua hương ước cải lương

1.2.1 Các công trình của học giả nước ngoài

Thật khó để tách bạch những nghiên cứu về quản lý làng xã qua hương ước cải lương với hương ước cổ truyền Các nội dung đó thường có những đan xen Căn cứ vào nội dung nghiên cứu có liên quan đến hương ước cải lương, quản lý làng xã qua hương ước cải lương, có thể nêu ra một số công trình sau:

Từ góc độ nhân học luật pháp, các nhà nhân học, dân tộc học, folklore học đã đề cập đến các vấn đề lí thuyết, phương pháp sưu tầm và nghiên cứu luật tục các dân tộc Các tác giả đã bàn tới nhiều vấn đề về luật tục như: Alan Dundes đề cập đến vấn đề khái niệm luật tục (folk law), Anlan Watson đề cập đến vấn đề tiếp cận luật tục, Van Den Dergh đề cập đến khái niệm luật tục trong khung cảnh lịch sử, Obei Hag Ali nói tới vấn đề chuyển đổi luật tục trong luật pháp, … Các vấn đề phương Đông cũng được đặt ra như vấn đề văn bản hóa luật tục (T.O.Elias, 1994), sưu tầm luật tục (Simon Roberts, 1994),… Những vấn đề ứng dụng luật tục trong xã hội cũng được quan tâm, nhất là vấn đề luật tục và bảo vệ và khai thác hợp lí các nguồn tài nguyên thiên nhiên (S.Wiber, 1996) [115,tr.11]. Ở Việt Nam, đầu thế kỷ XX, việc nghiên cứu về hương ước, luật tục cũng được chú ý.

Paul Doumer trong tỏc phẩm L’Indochine franỗaise (souvernirs), (Paris

1905) đã có những đánh giá về đặc điểm làng xã Việt Nam, tính tự trị, tự quản “mỗi lãng xã là một nước cộng hòa thu nhỏ” của làng xã Việt Nam, được thể hiện qua hương ước.

Năm 1927, L.Sabatier đã cho công bố bộ luật tục Êđê Klei duê bhiăn kđi(Tập quán pháp) Đến năm 1940, D.Antomarchi đã dịch sang tiếng Pháp và công bố công trình này trên tạp chí Trường Viễn Đông Bác cổ (BEFEO) 1 Công trình này thống kê, sắp xếp các nội dung của luật tục Ê đê theo các chủ đề và điều khoản dưới dạng thức của một luật định.

1.2.2 Các công trình của học giả trong nước

Những năm 20 của thế kỷ XX, một loạt bài viết về cải lương hương chính, về hương ước cải lương được đăng tải trên tạp chí Nam Phong, Tạp chí Thanh Nghị.

Tiêu biểu đó là: Đặng Xuân Viện với bài Hương chính cải lương, Tạp chí Nam phong số 141 năm 1929; Hoàng Hữu Đôn với Cải lương hương tục, tạp chí Nam phong số 36 năm 1920; Nguyễn Như Ngọc với bài Bàn góp về vấn đề cải lương hương chính, tạp chí Nam phong, số 41 năm 1920; Phó Đức Đôn với bài Bàn về việc cải lương phong tục ở nông thôn xứ Bắc kỳ, tạp chí Nam phong, số 29 năm

1919; Trần Duy Nhất với bài Bàn về hương chính xứ Bắc Kỳ, tạp chí Nam phong, số 59 năm 1922,…

Trên tạp chí Thanh Nghị có một loạt bài với cùng tiêu đề “Việc cải lương hương chính ở Bắc Kỳ”, trêm các số 1-14 năm 1941, 1945.

Công trình Cải lương hương ước tân biên (Song ngữ Việt Hán; - H : Imprimerie Tonkinoire, 1921 - 51tr) của Mai Trung Cát Quyển sách có 2 phần: cải lương hương chính và cải lương hương lệ gồm 206 điều khoản từ việc đặt Hội đồng kỳ mục, lập sổ thu chi, bổ thuế giản lính, tuần phòng, kiện cáo, cầu cống đường sá, giao thiệp ứng tiếp.

Trong cuốn “Việt Nam văn hóa sử cương” (xuất bản lần đầu năm 1938, tại Quan Hải Tùng thư) tác giả Đào Duy Anh đã trình bày về Sự cải lương trong hương thôn (từ trang 151-159, Nxb Văn hóa - Thông tin, năm 2002), nguyên nhân của việc ra đời hương ước cải lương, và tệ cường hào nhũng loạn chốn hương thôn. Việc ban hành hương ước cải lương ở Bắc Bộ và Nam Bộ…Ở đây, rõ ràng tác giả đã thấy rõ mục đích của việc ban hành quy định về hương ước của thực dân Pháp là muốn thong qua hương ước để quản lý làng xã Việt Nam.

1Năm 1984, Nguyễn Hữu Thấu đã dịch bản luật tục ra tiếng Việt từ bản tiếng Pháp Dựa trên văn bản luật tục Êđê của L Sabatier và các bộ luật tục mới sưu tầm được, Ngô Đức Thịnh, Chu Thái Sơn, Nguyễn HữuThấu đã biên soạn cuốn “Luật tục Êđê (tập quán pháp)” (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 1996).

Tác phẩm Xã thôn Việt Nam của Nguyễn Hồng Phong (Nxb Văn - Sử - Địa, năm 1959) đã giành một phần nghiên cứu về tục lệ, hương ước làng xã Tác giả đã chỉ ra mối quan hệ giữa lệ làng với bộ máy nhà nước: “… Phép vua thua lệ làng.

Xã thôn không chỉ đơn thuần là một đơn vị hành chính của quốc gia, mà nó là một đơn vị xã hội với những truyền thống, phong tục, tập quán, tín ngưỡng riêng biệt, cho nên nhà nước không thể muốn tổ chức bộ máy cai trị ở xã thôn thế nào thì được như thế…” [80,tr.140], mục đích duy trì lệ làng của chính quyền thực dân “…Cho nên nhà nước thực dân, như ta đã biết, không những không xóa bỏ lệ làng mà nói chung còn duy trì lệ làng”, “Còn mọi quan trọng như đặt khoản lệ, lập hương ước, quản trị các tài sản… đều do hội đồng tộc biểu và hội đồng kỳ mục quyết định”

Hai công trình của Viện sử học, Nông thôn Việt Nam trong lịch sử (2 tập), Nxb Khoa học xã hội, 1977-1978 và Nông dân và nông thông Việt Nam thời cận đại (2 tập), Nxb Khoa học xã hội, 1990-1992, đã tập hợp nhiều nghiên cứu chuyên sâu của nhiều tác giả, như: Vũ Huy Phúc với “Tổ chức quản lý xã thôn: Chức năng và tính chất”, Nguyễn Đổng Chi với “Quan hệ giữa nhà nước và làng xã ở Việt

Nam trước cách mạng”, Nguyễn Đức Nghinh với “Lệ làng và nho sĩ”, Dương Trung

Quốc với “Bộ máy quản lý làng xã Việt Nam thời cận đại qua các văn bản “Cải lương hương chính” của chính quyền thực dân Pháp”, Nghiêm Văn Thái với “Một nguồn sử liệu phong phú – Những văn bản hương ước cận đại”,… những nghiên cứu này đã góp phần cho thấy được mối quan hệ giữa hương ước và bộ máy quản lý nhà nước thực dân, mục đích cho lập hương ước cải lương của thực dân Pháp, …

Năm 1994, cuốn “Kinh nghiệm tổ chức quản lý nông thôn Việt Nam trong lịch sử” của tác giả Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc được xuất bản, là một thành tựu trong việc nghiên cứu tình hình quản lý nông thôn Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử khác nhau Các tác giả đã dành hơn 30 trang viết về chính sách quản lý làng xã, đề cập hầu hết tất cả các nội dung quản lý Ngoài ra, từ việc nghiên cứu công tác quản lý nông thôn ở mỗi thời kỳ, tác giả còn rút ra một số bài học kinh nghiệm có ý nghĩa quan trọng đối với công cuộc quản lý nông thôn hiện đại.

Tác giả Bùi Xuân Đính với các tác phẩm: “Lệ làng phép nước” (Nxb Pháp lý, Hà Nội, năm 1995) và “Hương ước và quản lý làng xã” (Nxb Khoa học xã hội,

Các công trình nghiên cứu về làng xã Thái Bình, quản lý làng xã qua hương ước của Thái Bình

1.3.1 Các công trình của học giả nước ngoài

Alexandre de Rhodes với công trình Histoire du royaume de Tunquyn (1651)

(Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài; Uỷ ban Đoàn kết tôn giáo xuất bản, 1994) Ở công trình này, mặc dù chỉ là những ghi chép sơ lược nhưng cũng cung cấp những thông tin về đời sống văn hóa của cư dân Thái Bình hồi thế kỷ XVII.

M l'Abbé Richard với Histoire naturelle, civile et politique du Tonquyn

(1778, Tome I) (Lịch sử tự nhiên, dân sự và chính trị Đàng Ngoài) đã đề cập vài chi tiết về vùng đất Thái Bình, về sự thành lập các làng xã ở vùng ven biển, sự du nhập của đạo Công giáo vào đây.

Công trình “Notice sur la province de Thai Binh” (Chú thích về tỉnh Thái

Bình) (F.H Schneider, 1899) Đây là công trình của chính quyền thực dân Pháp tại Đông Dương về tỉnh Thái Bình Nội dung của công trình gồm: Lịch sử từ những năm đầu khi Pháp đến và cho tới ngày nay; Việc thành lập tỉnh và sự phân chia hành chính; Danh sách các quan cai trị Pháp và Nam Triều; về y tế, giáo dục, pháp luật, sở cảnh sát, kinh tế, nông, công, thương nghiệp… Qua công trình, những nét cơ bản về Thái Bình được người Pháp nghiên cứu, ghi chép lại.

Tác phẩm Notice sụt de Thai binh Ký hiệu M10372, lưu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam có niên đại những năm 1930 bởi trong danh sách các công sứ Thái Bình tác giả có chép "Colas - quan cai trị hạng nhì từ ngày mùng 3 tháng 11 năm 1933" Đặc biệt trong sách chú thích về tỉnh Thái Bình là những số liệu thống kê về các hoạt động kinh tế và văn hóa xã hội sau hơn 40 năm thành lập khá chính xác khoa học và có giá trị về mặt sử liệu.

1.3.2 Các công trình của học giả trong nước

* Các công trình nghiên cứu viết về Thái Bình mà ít nhiều có liên quan tới làng xã, hương ước.

Tác phẩm Thái Bình phong vật chí của Phạm Văn Thụ (1858-1930) Hiện có tới 6 bản khác nhau, lưu trữ tại nhiều nơi Tại Thư viện Quốc gia Việt Nam có 01 bản, kí hiệu ký hiệu R.626, sách dày 60 tờ, khổ 29x16cm Tại Viện Hán Nôm có 04 bản, gồm: 01 bản kí hiệu A.1263 với tên sách là Thái Bình phong vật chí, dày 45 tờ, khổ 31x21cm; 01 bản kí hiệu A 2361 với tên sách Thái Bình phong vật chí, dày 35 tờ, khổ 28x15cm; 01 bản ký hiệu A.1754 với tên sách là Thái Bình thông chí, màu đen in trong ô nền đỏ, bìa màu vàng, dày 53 tờ, khổ 30x17cm; 01 bản ký hiệu A 82 với tên sách là Thái Bình tỉnh thông chí, dày 56 tờ, khổ 28x17cm.

Tại Thư viện Paris (Cộng hòa Pháp) còn có 1 bản mang tên Thái Bình phong vật chí, ký hiệu EFEO.II/6/900.

Tuy nhiều bản như vậy nhưng theo Nguyễn Thúy Nga [65,tr.46] thì thực chất

06 bản trên là một cuốn sách của Phạm Văn Thụ Và bản đang lưu trữ tại Thư viện

Quốc gia Việt Nam với kí hiệu R.626 là bản gốc, còn các bản khác là dị bản được sao chép lại Và chúng tôi sử dụng bản này để nghiên cứu.

Nội dung sách Thái Bình phong vật chí cung cấp thông tin về địa lý, các đơn vị hành chính, làng xã tỉnh Thái Bình qua các thời kì, lai lịch một số nhân vật khoa bảng của Thái Bình, về truyền thống văn hóa của Thái Bình trong lịch sử,…

Sách Tỉnh Thái Bình in năm 1933 của Dương Thiệu Tường cũng có nhận xét: Tuy mới thành lập nhưng Thái Bình là một trong những tỉnh lớn của xứ Bắc Kỳ ( tài liệu địa chỉ Thái Bình).

Cuốn Thái Bình địa dư ký (hiện còn lưu giữ, ký hiệu A500, Viện Hán Nôm) là cuốn sách đầu tiên viết về Thái Bình với tư cách là một đơn vị hành chính cấp tỉnh có thể cuốn sách này được viết vào khoảng sau năm 1907.

Sự tiến triển của đường bờ biển Thái Bình trong Holoxen muộn - hiện đại và vấn đề quai đê lấn biển (Tạp chí Khoa học, Đại học Tổng hợp Hà Nội, số 01 năm

1988) của tác giả Nguyễn Đức Khả đã nghiên cứu về cấu tạo đường bờ biển ở Thái Bình các thời kì trong lịch sử Công trình đã cung cấp những thông tin quan trọng về quá trình lấn biển của Thái Bình, giúp chúng ta hình dung địa hình, lãnh thổ Thái Bình qua các thời kỳ.

Công trình Tên làng xã ở Thái Bình của nhóm tác giả Bùi Thọ Ty, Nguyễn Đình Giốc (Sở Văn hóa Thông tin - Thể thao Thái Bình xuất bản năm 1990) đã cung cấp những thông tin giá trị về địa danh làng xã ở Thái Bình Từ cách giải thích những địa danh làng xã ở Thái Bình cuốn sách đã cung cấp cho chúng ta thấy những nét văn hóa làng xã của Thái Bình.

Kỷ yếu Hội thảo “Thái Bình truyền thống và hiện đại” (do Sở Văn hóa - Thông tin Thái Bình, xuất bản 1991) có một số bài viết về làng xã Thái Bình, hương ước Thái Bình, như bài: “Làng xã Thái Bình trước Cách mạng Tháng 8-1945 (mấy gợi ý qua nghiên cứu hương ước)” của Nghiêm Văn Thái; “Góp thêm chút ít tư liệu bàn về sự hình thành làng xã ở Thái Bình” của Dương Quảng Châu; hay tham luận của tác giả Dương Kinh Quốc, với “Việc thành lập tỉnh Thái Bình - Nguyên nhân và ảnh hưởng trong những năm cuối thế kỷ XIX,… Những bài viết này ở từng góc nhìn, đối tượng khác nhau đã bước đầu nghiên cứu, cung cấp những thông tin giá trị về làng xã, văn hóa, hương ước cải lương ở Thái Bình.

Công trình Đất và người Thái Bình của tác giả Bùi Duy Lan (Nxb Thống kê,

Hà Nội, 2003) đã khái quát những nét cơ bản về sự hình thành, tiến trình lịch sử, đời sống văn hóa, lễ hội, phong tục, tập quán của Thái Bình.

Phan Huy Lê, Vũ Minh Giang, Vũ Văn Quân, Nguyễn Đức Nghinh, Phan Phương Thảo (1997), Hệ thống tư liệu Địa bạ Việt Nam - Địa bạ Thái Bình (Nxb Thế Giới, Hà Nội) Đây là bộ sách nghiên cứu, biên dịch các địa bạ thời Nguyễn của tỉnh Thái Bình Địa bạ Thái Bình đã cung cấp những thông tin chân xác về các đơn vị hành chính (xã hoặc thôn cũng có khi là ấp, giáp, phường) của tỉnh Thái Bình dưới Triều Nguyễn về các vấn đề: vị trí địa lý, diện tích ruộng đất, các chức dịch kê khai và lập địa bạ,… Những thông tin chân xác từ địa bạ này có vai trò quan trọng giúp dựng lại diện mạo Thái Bình nói chung, làng xã Thái Bình dưới triều Nguyễn.

Lễ hội truyền thống ở Thái Bình của Nguyễn Thanh (Nxb Khoa học xã hội,

Một vài nhận xét về nguồn tư liệu, tình hình nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đề tài luận án và những vấn đề cần tiếp tục làm rõ

1.4.1 Nhận xét về nguồn tư liệu và tình hình nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đề tài luận án

Vấn đề làng xã, hương ước, hương ước cải lương nói chung, quản lý làng xã bằng hương ước cải lương nói riêng đã được rất nhiều nhà khoa học trong nhiều lĩnh vực quan tâm nghiên cứu Một số công trình đã đi sâu nghiên cứu về hương ước cải lương ở một số địa phương cụ thể (như Bắc Ninh, Hà Đông, ).

Phần lớn các công trình đều phán ánh tầm quan trọng của hương ước, hương ước cải lương trong quản lý xã hội, quản lý làng xã Các nhà nước phong kiến cho các làng xã tự lập hương ước, dựa vào hương ước để giáo dục, giáo hóa, tăng cường uy quyền của nhà vua, của hệ tư tưởng Nho giáo, trung quân đối với dân làng. Chính quyền thực dân Pháp hồi đầu thế kỷ XX nhận thấy vai trò của hương ước đối với việc quản lý làng xã nên đã quy định hình thức, cấu trúc của hương ước, yêu cầu các làng xã lập hương ước để qua đó nắm lấy làng xã, quản lý chặt chẽ dân cư.

Tuy nhiên, có thể nói rằng chúng ta vẫn chưa nhận thức hết về vấn đề quản lý làng xã qua hương ước cải lương Hai luận án sử học điển hình về hương ước cải lương đó là: Hương ước cải lương tỉnh Bắc Ninh (1921-1944)(của Nguyễn Thị Huệ, Đại học Sư phạm Hà nội, năm 2016) và Chính sách Cải lương hương chính ở Đồng bằng Bắc Kỳ và tác động của nó đến đời sống làng xã thời Pháp thuộc (trường hợp tỉnh Hà Đông) của Nguyễn Thị Lệ Hà (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 2019) khai thác sâu về hương ước cải lương ở hai địa phương này nhưng chỉ đề cập đến hương ước cải lương ở Bắc Ninh hoặc Hà Đông mà chưa nói đến hương ước cải lương ở Thái Bình và chưa nói đến khia cạnh quản lý làng xã qua hương ước cải lương như thế nào.

Hơn nữa thực tiễn công cuộc cải cách hành chính, công cuộc xây dựng nông thôn mới đang diễn ra hiện nay đang đặt ra những yêu cầu cấp thiết về công tác quản lý làng xã Do vậy, tiếp tục đi sâu tìm hiểu về vấn đề quản lý làng xã qua hương ước cải lương vẫn là việc làm cần thiết, có giá trị khoa học và thực tiễn. Đối với vấn đề quản lý làng xã ở Thái Bình qua hương ước cải lương, qua tiếp xúc tài liệu, chúng tôi nhận thấy:

Thứ nhất, làng xã, hương ước nói chung, hương ước cải lương, quản lý làng xã ở

Thái Bình qua hương ước cải lương nói riêng đã được giới thiệu, nghiên cứu về một số khía cạnh, đã cung cấp một số tư liệu, sự kiện lịch sử, những lĩnh vực khác nhau Tuy nhiên, đến nay chưa có một công trình nào trình bày có hệ thống, đầy đủ, sâu sắc về vấn đề này Một số công trình trực tiếp trình bày về hương ước cải lương ở Thái Bình nhưng có những thiếu sót, thống kê, nghiên cứu chưa đầy đủ về hương ước cải lương ở Thái Bình.

Thứ hai, tính đến thời điểm hiện nay, Hương ước Thái Bình của tác giả Nguyễn

Thanh (Nxb Văn hóa dân tộc, 2000) có thể coi là công trình có tính tổng hợp hơn cả về hương ước Thái Bình Tuy nhiên, đây chỉ là công trình mang tính tổng hợp tư liệu mà chưa có sự phân tích về hình thức, nội dung của hương ước Vấn đề quản lý làng xã ở Thái Bình qua hương ước cải lương chưa được nghiên cứu kĩ lưỡng.

1.4.2 Những vấn đề cần tiếp tục làm rõ

Từ những kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, luận án sẽ tập trung giải quyết những vấn đề sau:

Hệ thống hóa các nguồn tư liệu, trình bày về hình thức, nội dung của hương ước cải lương ở Thái Bình.

Trình bày, phân tích về quản lý làng xã ở Thái Bình qua hương ước cải lương (1921-1945) trên các mặt: quản lý hành chính, quản lý kinh tế, quản lý xã hội, quản lý văn hóa.

Từ việc nghiên cứu về quản lý làng xã ở Thái Bình qua hương ước cải lương(1921-1945) sẽ rút ra những bài học kinh nghiệm, góp phần phục vụ cho công cuộc cải cách hành chính, xây dựng nông thôn mới hiện nay.

KHÁI QUÁT VỀ QUẢN LÝ LÀNG XÃ TRƯỚC NĂM 1921 VÀ HƯƠNG ƯỚC CẢI LƯƠNG Ở THÁI BÌNH

Khái quát về quản lý làng xã ở Thái Bình trước năm 1921

2.1.1 Khái quát về tỉnh Thái Bình

2.1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên

Thái Bình là tỉnh ven biển thuộc khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng, có tọa độ địa lý: 20,17-20,44 độ vĩ Bắc; 106,06-106,39 độ kinh Đông Phía Bắc giáp tỉnh Hưng Yên, Hải Dương và Hải Phòng Phía Tây, Tây Nam giáp tỉnh Nam Định và Hà Nam Diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 1.586.3 km 2 [118]. Địa hình

Thái Bình là một tỉnh duy nhất tại miền Bắc không có núi, địa hình đồng bằng thấp, bằng phẳng thuộc châu thổ sông Hồng.

Tỉnh Thái Bình được bao bọc bởi hệ thống sông, biển, có 4 sông lớn chảy qua (sông Hoá, sông Luộc, sông Hồng, sông Trà Lý) Thái Bình có đường bờ biển dài 54km.

Thái Bình có khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm, gió mùa, mỗi năm được chia thành hai mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô, bão nhiều Lượng mưa trung bình trong năm từ 1540 mm – 1900 mm Độ ẩm trung bình từ 85%-90% Nhiệt độ trung bình từ 22C-24,2C) và thấp nhất vào năm 2011 (22,6C) [100, tr.44].

Tài nguyên khoáng sản ở Thái Bình rất phong phú với trữ lượng tương đối lớn như: khí đốt, sét chịu lửa, cao lanh, nước khoáng,….

Với vị trí địa thế như vậy, nên từ buổi đầu dựng nước, nơi đây đã là chốn dừng chân của lớp người đi khai hoang mở đất.

Theo Bản đồ lịch sử phát triển châu thổ Sông Hồng [54, tr.13] thì đất đai thuộc địa vực Thái Bình có toàn bộ vùng đất hai huyện Quỳnh Phụ, Hưng Hà một phần đất đai phía Tây Bắc huyện Đông Hưng, Vũ Thư, Thụy Anh cũ (nay thuộc huyện Thái Thụy) có lịch sử từ 3.000 - 2000 năm Hầu hết đất đai thuộc các huyện

Vũ Thư, Thụy Anh, phía nam huyện Đông Hưng và phía bắc huyện Kiến Xương có lịch sử từ 2.000 – 1.000 năm Vùng Nam Kiến Xương, Tiền Hải và vùng ven biển huyện Thái Ninh cũ (nay thuộc huyện Thái Thụy) có lịch sử từ 1.000 năm trở lại đây theo xu hướng muộn dần gần như song song với bờ biển hiện nay Những vùng đất có độ tuổi xấp xỉ 1000 năm trở lại đây ngày càng chiếm tỉ lệ khá cao trong tổng diện tích đất đai của Thái Bình.

Thời kỳ Văn Lang, Âu Lạc, vùng đất tỉnh Thái Bình ngày nay thuộc bộ Lục Hải [106, tr.145], thời Bắc thuộc, thuộc hương Đa Cương quận Giao Chỉ.

Thời thuộc Hán, vùng đất Thái Bình thuộc huyện An Định quận Giao Chỉ. Thời thuộc Đường nằm trong huyện Chu Diên, Châu Giao [106, tr.146].

Thời Đinh, đầu Tiền Lê vùng đất này thuộc Đằng Châu Năm 1005, dưới thời Lê Long Đĩnh, đổi tên thành phủ Thái Bình Danh xưng Thái Bình có từ đây.

Thời nhà Lý, chia cả nước thành 24 lộ, vùng đất này gồm các lộ Kiến Xương, Long Hưng [106, tr.147].

Thời nhà Trần, vùng đất nay là tỉnh Thái Bình gồm các lộ Long Hưng, phủ Kiến Xương, phủ Tân Hưng và lộ An Tiêm Đến cuối thời Trần, lộ An Tiêm lệ thuộc phủ Tân Hưng [106, tr.148].

Thời thuộc Minh đổi phủ Tân Hưng làm phủ An Lạc, phủ Long Hưng đổi làm trấn Man, sau lại đổi phủ trấn Man làm châu trấn Man.

Thời Hậu Lê và Tây Sơn, tỉnh Thái Bình ngày nay thời Lê có ba Phủ là Tân Hưng (sau đổi là tiên Hưng), Thái Bình Kiến Xương Thời kỳ đầu nhà Hậu Lê vùng này thuộc Nam đạo Năm Quang Thuận thứ 7 (1466) thuộc thừa tuyên Thiên Trường, năm Quang Thuận thứ 10 (1469) đổi làm thừa tuyên Sơn Nam, năm Hồng Đức thứ 21

(1490) đổi làm xứ Sơn Nam đến giữa năm Hồng Thuận 10 (1510-1516) gọi là Trấn.

Thời Mạc, Mạc Ðăng Dung lấy 3 phủ Tân Hưng, Thái Bình, Kiến Xương (Thái Bình), Khoái Châu (Hưng Yên), Thượng Hồng, Hạ Hồng (Hải Dương, Hải Phòng) lập Dương Kinh, vùng đất Thái Bình thuộc về Dương Kinh.

Năm Cảnh Hưng thứ 2 (1741), chia Sơn Nam làm hai lộ Sơn Nam Thượng và Sơn Nam Hạ (gồm các phủ Thái Bình, Nghĩa Hưng, Kiến Xương và Tiên Hưng).

Thời Tây Sơn (1788 - 1802) vẫn giữ 3 phủ, phủ vẫn kiêm nhiệm các huyện như thời Lê, chỉ đổi tên huyện Thanh Lan thành huyện Thái Ninh.

Năm Minh Mạng thứ 3 (1822) đổi Sơn Nam Thượng làm trấn Sơn Nam, Sơn Nam hạ làm trấn Nam Định Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), đem phủ Tiên Hưng lệ thuộc vào tỉnh Hưng Yên, phủ Kiến Xương, phủ Thái Bình lệ thuộc vào tỉnh Nam Định [106, tr.149] Huyện Thanh Lan đổi gọi là huyện Thanh Quan và tách khỏi phủ Tiên Hưng, lệ vào phủ Kiến Xương thuộc tỉnh Nam Ðịnh Năm Tự Ðức thứ 3

(1850) lại đưa huyện Thanh Quan lệ vào phủ Thái Bình Cùng thời gian lại tách phủ Thái Bình làm hai: phủ Thái Bình kiêm quản các huyện Thanh Quan, Ðông Quan, Thụy Anh Phân phủ Thái Bình quản hai huyện Quỳnh Côi, Phủ Dực.

Tháng 9 năm 1828, huyện Tiền Hải được thành lập trên cơ sở số diện tích mới được mở cộng với tổng Ðại Hoàng của huyện Chân Ðịnh, tổng Tân Bồi của huyện Thanh Quan và tổng Hà Cát của huyện Giao Thủy (Nam Ðịnh).

Ngày 21/03/1890, toàn quyền Ðông Dương ra Nghị định thành lập tỉnh Thái Bình, gồm các huyện: Thanh Quan, Thụy Anh, Ðông Quan, Trực Ðịnh, Thư Trì,

Vũ Tiên, Tiền Hải, Phụ Dực, Quỳnh Côi (thuộc Nam Ðịnh) và huyện Thần Khê (thuộc Hưng Yên) [110].

Ngày 9 tháng 2 năm 1893, thành lập Tổng Thuận Vi trong huyện Thư Trì [113].

Từ ngày 26 tháng 7 năm 1893, huyện Quỳnh Côi được sáp nhập thêm 5 làng: Đông Quỳnh, Tân Mỹ, Hy Hà, Đông Châu và Hà Lang của tỉnh Hưng Yên [113].

Từ ngày 9 tháng 8 năm 1894, theo Quyết định của Kinh lược Bắc Kì, tổng Tân Bồi huyện Tiền Hải bên tả ngạn sông Trà Lí được sáp nhập vào huyện Thanh Quan [114].

Năm Thành Thái thứ 6 (1894) cắt thêm 2 huyện Hưng Nhân, Duyên Hà (thuộc Hưng Yên) nhập trở lại Thái Bình Lúc này, tỉnh Thái Bình với tư cách là tỉnh - đơn vị hành chính độc lập gồm 3 phủ: Tiên Hưng, Kiến Xương, Thái Ninh và

12 huyện: Duyên Hà, Hưng Nhân, Tiên Hưng, Thụy Anh, Ðông Quan, Thái Ninh, Quỳnh Côi, Phụ Dực, Thư Trì, Vũ Tiên, Trực Ðịnh, Tiền Hải.

Nghị định của Thống sứ Bắc kì ngày 20 tháng 4 năm 1912, phủ Thái Ninh được đổi thành huyện Thái Ninh [115].

Theo cuốn “Địa dư các tỉnh Bắc Kì” năm 1930, tỉnh Thái Bình có diện tích là 825.000 mẫu ta (2.970 km 2 ), gồm 3 phủ: Kiến Xương, Thái Ninh và Tiên Hưng,

9 huyện: Vũ Tiên, Thư Trì, Tiền Hải, Đông Quan, Thụy Anh, Phụ Dực, Quỳnh Côi, Duyên Hà và Hưng Nhân, 95 tổng và 820 xã [56, tr.101] “Năm 1933, Thái Bình có diện tích là 1.366.000.000 m 2 , bao gồm 3 phủ và 9 huyện” [110].

Hương ước cải lương của tỉnh Thái Bình

2.2.1 Khái quát về hương ước

Hiện nay, có nhiều ý kiến, nhiều cách diễn đạt bằng những ngôn từ khác nhau, được nghiên cứu trên bình diện sử học, dân tộc học, hay văn hóa học, thậm chí là luật học…về khái niệm hương ước Tuy nhiên, điểm chung giữa các tác giả đều thống nhất ở điểm coi hương ước là bản quy ước riêng của mỗi làng xã đã được văn bản hóa hay nói cách khác đó chính là lệ làng thành văn. Ở luận án này, tác giả sử dụng khái niệm hương ước của tác giả Vũ Duy Mền đề làm công cụ trong nghiên cứu: “Hương ước là những quy ước về hầu hết các mặt hoạt động làng xã của người Việt, như cách thức tổ chức và hoạt động của các thiết chế tổ chức trong làng xã: Hội tư văn, tư võ, hội thiện, phe - giáp - xóm - ngõ… Các hoạt động xã hội: Hội hè, đình đám, lễ tế, tuần phòng, khao vọng, giao hiếu,… Một số hoạt động kinh tế…Đó là những quy ước vừa mang nét chung và rất nhiều nét riêng, rất riêng của mỗi làng Việt” [60, tr.83].

Cho đến nay, các nhà nghiên cứu đều cho rằng, kể từ khi xuất hiện, hương ước đã trải qua 3 thời kỳ phát triển, tương ứng với đó là ba loại hương ước:

* Hương ước cổ (trước năm 1921).

Tác giả Vũ Duy Mền xác định “bản sao ước từ (hương ước) xã Tri Lễ (xãPhúc Sơn huyện Anh Sơn, Nghệ An) mang dấu ấn niên đại còn sớm nhất (1420) cho đến ngày nay” [58, tr.283] Đa số các bản hương ước cổ đều được viết bằng chữHán trên giấy bản, có làng khắc hương ước trên ván gỗ, bia đá, lá đồng Nội dung của hương ước cổ gồm các điều khoản phản ánh quy ước về cơ cấu tổ chức và các quan hệ xã hội trong làng, quy ước về bảo vệ an ninh làng xã, quy ước về bảo đảm đời sống tâm linh, quy ước về việc bảo đảm các nghĩa vụ sưu thuế, việc khuyến học, bảo vệ sản xuất nông nghiệp,

* Hương ước cải lương (từ năm 1921 đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945).

Trong cuộc cải lương hương chính (thực hiện ở Bắc Kỳ bắt đầu từ tháng 8 năm 1921 đến trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945), thực dân Pháp đã cho soạn thảo các bản hương ước mẫu, để thống nhất thực hiện ở các làng xã Hương ước cải lương hầu hết được soạn bằng chữ Quốc ngữ, chữ Hán, chữ Nôm Hương ước cải lương này có cấu trúc giống nhau, thường được chia làm hai phần: chính trị và tục lệ, theo thể thức của chính quyền thực dân đưa ra Nội dung chủ yếu của các bản hương ước là nhằm vào việc quản lý, giải quyết những vấn đề dân sự trong nội bộ thôn làng, trong đó vấn đề bảo vệ trật tự trị an làng xóm, đồng điền được quy định rất chi tiết với các hình thức xử phạt rõ ràng, cụ thể.

* Hương ước mới (từ những năm 90 đến nay).

Hương ước mới thường có lời mở đầu, khái quát lịch sử làng; nội dung quy ước được chia thành các chương mục, điều khoản cụ thể, chương cuối quy định về tổ chức thực hiện Hương ước mới luôn ghi rõ năm soạn thảo và có đầy đủ chữ kí, con dấu của những người viết, của các tổ chức quần chúng, các cấp chính quyền từ xã tới huyện, tỉnh Nội dung của hương ước mới là những quy ước về đời sống kinh tế, chính trị nông thôn, nhưng nổi bật hơn cả vẫn là những điều khoản liên quan đến văn hóa xã hội và bảo vệ trật tự trị an thôn xóm.

Như vậy, dù ở thời kỳ nào, với tên gọi như thế nào thì hương ước đều gắn với cộng đồng làng, hay là sản phẩm của “văn hóa làng”, là sản phẩm tự nhiên và là kết quả của quá trình phát triển nội tại của làng xã, trở thành công cụ để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội trong làng, là tri thức dân gian về quản lý cộng đồng.

2.2.2 Hương ước cải lương ở Thái Bình

Về số lượng hương ước cải lương của tỉnh Thái Bình, đã có những thống kê với các con số khác nhau:

Trong quyển Thư mục Hương ước Việt Nam thời cận đại, từ trang 303 đến trang 335, kê số hương ước cải lương của tỉnh Thái Bình là 450 bản Tuy nhiên,quyển Thư mục này đã thống kê sai 01 bản, đó là bản thứ 177, “Huyện Phổ Yên,tổng Hoàng Đàm: Hương ước xã Cải Đan, tổng Hoàng Đàm, huyện Phổ Yên, tỉnh

Thái Bình 1942, 22 trang, viết tay” Đây là một nhầm lẫn, bởi xã Cải Đan, tổng Hoàng Đàm là thuộc huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên Ở Thái Bình không hề có tổng Hoàng Đàm và huyện Phổ Yên Vì vậy nên quyển Thư mục Hương ước Việt

Nam thời cận đại chỉ có 449 bản hương ước của tỉnh Thái Bình.

Theo thống kê của Cao Văn Biền, số hương ước cải lương ở Thái Bình từ

1921 đến 1945 cho kết quả như sau [5, tr.74]:

Bảng 2.1: Số hương ước cải lương ở Thái Bình từ 1921 đến 1945 (theo thống kê của Cao Văn Biền)

Tổng số Số làng, xã Tỉ lệ % số Tổngsố Số trang trung bình của làng, xã có hương làng, xã có trang mỗi hương ước ước hương ước

Theo thống kê của tác giả Nguyễn Thanh trong sách Hương ước Thái Bình thì Thái Bình có 451 bản hương ước cải lương của 443 làng [89, tr.46] Tuy nhiên không thấy quyển Hương ước Thái Bình chỉ ra bản Hương ước tăng thêm đó là quyển nào Đối chiếu các bản hương ước của hai kho hương ước ở Thư viện Thái Bình và ở Viện Thông tin KHXH Hà Nội thì chúng tôi tìm ra bản hương ước tăng thêm mà tác giả Nguyễn Thanh nói đến là Hương ước làng An La, tổng An Xá, huyện Duyên Hà (thư viện Khoa học tổng hợp tỉnh Thái Bình, kí hiệu ĐCV 640, dài

56 trang [15 trang đầu, một kiểu chữ viết, phần sau một kiểu chữ viết khác Ngoài hương ước của xã An La, tổng An Xá, huyện Duyên Hà (trang 01-22) thì phần tục lệ riêng còn chép: tục lệ thôn Thanh La (từ chương 2, từ trang 23-32) và tục lệ thôn

Vũ Đoài (từ chương thứ 4, từ trang 33-51) trang 51-53 là Tổng tắc, trang 54 là chữ ký, triện)] Và 01 bản mà Nguyễn Thanh nói đến là bản hương ước của huyện Quỳnh Côi (Trong sách Thư mục Hương ước Việt Nam thời cận đại và bài của Cao

Văn Biền thống kê thì huyện Quỳnh Côi không có bản hương ước cải lương nào.

Khảo sát kĩ các bản hương ước, tác giả luận án còn phát hiện Hương ước xãTiên La, tổng Canh Nông, huyện Duyên Hà, tỉnh Thái Bình, 27 trang (thư viện TháiBình, kí hiệu là ĐVC 655; thư viện Viện Thông tin KHXH kí hiệu là Hư 2899) thực chất là 2 hương ước, bao gồm: Hương ước của xã Tiên La, soạn, duyệt ngày 12 tháng 7 năm 1942, có dấu triện, chữ ký của Tiên Chỉ và Hương ước của Thôn Văn

Lũy soạn, ký duyệt năm 1936, cũng có các mục như 1 bản hương ước, có chữ ký, dấu triện của Chưởng bạ, Lý trưởng, Tiên chỉ, Công sứ.

Như vậy, tổng số hương ước cải lương của Thái Bình phải là 452 5 bản.

Cụ thể sự chênh lệch về số lượng bản hương ước cải lương của các tác giả thống kê như sau:

Bảng 2.2 Số lượng bản hương ước cải lương của tỉnh Thái Bình

Tác giả thống kê Số lượng Bản HU tăng thêm Ghi chú

Thư mục Hương 449 Thư mục Hương ước Việt ước Việt Nam thời Nam thời cận đại thống cận đại kê 450 bản nhưng có 01 bản (Hương ước xã Cải Đan, tổng Hoàng Đàm, huyện Phổ Yên) là nhầm. Bởi đây là hương ước của tỉnh Thái Nguyên

Nguyễn Thanh 451 Hương ước làng An

La, tổng An Xá, huyện Duyên Hà, tỉnh Thái Bình.

Hương ước làng Quỳnh Côi, tổng Quỳnh Côi, huyện Quỳnh Côi

5 : Tác giả luận án đã tra tìm, xác mình 08 làng có 2 hương ước mà tác giả Nguyễn Thanh nhắc đến trong thống kê của mình thì chỉ thấy có 4 làng có 02 bản hương ước, đó là:

Hương ước làng Nam Dụ, tổng Đồng Vị, huyện Đông Quan, tỉnh Thái Bình, kí hiệu thư viện Viện Thông tin KHXH là HU00002941, 04 trang, không ghi năm soạn.

Hương ước làng Nam Dụ, tổng Đồng Vị, huyện Đông Quan, tỉnh Thái Bình, kí hiệu thư viện Viện Thông tin KHXH là HU00002940,

4 trang, ghi năm soạn là 1936.

Thứ hai: Hương ước làng Quảng Nạp tổng Quảng Nạp huyện Thuỵ Anh tỉnh Thái Bình có hai thời điểm 1936 và 1942

Thứ ba, làng An Bài, tổng Dục Linh, huyện Phụ Dực, tỉnh Thái Bình, có hai bản Đối với làng An Bài này thì tác giả luận án lại phát hiện nhầm lẫn của quyển Thư mục Hương ước Việt Nam thời cận đại Trong quyển Thư mục Hương ước Việt Nam thời cận đại thì thống kê là có hai bản, đều được làm năm 1936 Nhưng thực tế, đọc kĩ hai bản hương ước sẽ thấy là 1 bản năm 1936 dài 11 trang (kí hiệu thư viện Thái Bình là ĐVC), 1 bản năm 1942 dài 08 trang (kí hiệu thư viện Thái Bình là ĐVC).

QUẢN LÝ KINH TẾ Ở LÀNG XÃ THÁI BÌNH QUA HƯƠNG ƯỚC CẢI LƯƠNG TỪ NĂM 1921 ĐẾN NĂM 1945

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH, VĂN HÓA Ở LÀNG XÃ THÁI BÌNH

Ngày đăng: 12/05/2021, 07:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w