Bên cạnh sự pháttriển của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất nếu được quan tâm cải thiện sẽ thúc đẩyphương thức sản xuất phát triển, tạo tiền đề cho khu vực ĐBSCL phát triển bền vững.B
Trang 1
LÊ QUANG VINH
PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
ĐẾN NĂM 2030
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh - Năm 2020
Trang 2
LÊ QUANG VINH
PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
ĐẾN NĂM 2030
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 9310102
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 TS NGUYỄN VĂN SÁNG
2 TS LƯU THỊ KIM HOA
Tp Hồ Chí Minh - Năm 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận án tiến sĩ với đề tài: “Phát triển kinh tế hộ nông dân đồng bào dân tộc Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030” do chính tác
giả nghiên cứu Các thông tin, số liệu trong Luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng;các kết quả chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Nghiên cứu sinh
Lê Quang Vinh
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Mục lục ii
Danh mục các chữ viết tắt vi
Danh mục các bảng vii
Tóm tắt ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của nghiên cứu 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 3
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 3
2.1.1 Mục tiêu tổng quát 3
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 4
2.2 Câu hỏi nghiên cứu của đề tài 4
2.3 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
3.1 Đối tượng nghiên cứu 5
3.2 Phạm vi nghiên cứu 5
4 Đóng góp mới của luận án 5
5 Kết cấu của luận án 6
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 7
1.1 Tổng quan nghiên cứu của các tác giả ngoài nước về kinh tế hộ, kinh tế hộ nông dân 7
1.1.1 Các công trình nghiên cứu của các tác giả ngoài nước về kinh tế hộ, kinh tế hộ nông dân ở một số quốc gia trên thế giới 7
1.1.2 Các công trình nghiên cứu của tác giả ngoài nước về đời sống của người dân nông thôn, dân tộc thiểu số và đồng bào dân tộc Khmer ở Việt Nam 10
1.2 Tổng quan nghiên cứu của các tác giả trong nước về kinh tế hộ, kinh tế hộ nông dân và đồng bào dân tộc Khmer 11
1.2.1 Tổng quan nghiên cứu của các tác giả trong nước về kinh tế hộ, kinh tế hộ nông dân 11
Trang 51.2.2 Tổng quan các nghiên cứu về đồng bào dân tộc Khmer vùng Đồng bằng sông
Cửu Long 15
1.3 Nhận định tình hình nghiên cứu 20
1.3.1 Những đóng góp của các nghiên cứu 20
1.3.2 Khoảng trống nghiên cứu 22
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 24
CHƯƠNG 2 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN DÂN TỘC THIỂU SỐ 25
2.1 Khái niệm, đặc trưng, vai trò và xu hướng vận động, phát triển kinh tế hộ trong giai đoạn hiện nay 25
2.1.1 Khái niệm và đặc trưng của kinh tế hộ, hộ nông dân, kinh tế hộ nông dân 25
2.1.2 Vai trò của kinh tế hộ trong nền kinh tế quốc dân 29
2.1.3 Xu hướng vận động, phát triển của kinh tế hộ trong giai đoạn hiện nay 30
2.2 Những lý thuyết, mô hình về phát triển kinh tế hộ nông dân 32
2.2.1 Lý luận về kinh tế hộ nông dân của C.Mác, V.I.Lênin 32
2.2.2 Lý thuyết về doanh nghiệp gia đình nông dân của Tchayanov 36
2.2.3 Lý thuyết kinh tế nông hộ của Hunt (1979) 37
2.2.4 Lý luận kinh tế học hiện đại về kinh tế hộ gia đình ……… 38
2.3 Đặc trưng và những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế hộ nông dân đồng bào dân tộc Khmer 39
2.3.1 Đặc trưng của kinh tế hộ nông dân đồng bào dân tộc Khmer 39
2.3.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ nông dân đồng bào dân tộc Khmer 41
2.4 Những kinh nghiệm trong quá trình thực hiện chính sách đối với dân tộc thiểu số ở một số quốc gia, một số địa phương trong nước và bài học kinh nghiệm cho phát triển kinh tế hộ nông dân đồng bào dân tộc Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long 46
2.4.1 Kinh nghiệm ở một số quốc gia 46
2.4.2 Kinh nghiệm ở một số địa phương trong nước 47
2.4.3 Một số bài học kinh nghiệm cho phát triển kinh tế hộ nông dân ĐBDT Khmer vùng ĐBSCL 50
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 52
Trang 6CHƯƠNG 3 - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 53
3.1 Phương pháp luận nghiên cứu 53
3.1.1 Phương pháp luận biện chứng duy vật 53
3.1.2 Phương pháp trừu tượng hóa khoa học 56
3.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 56
3.2.1 Phương pháp thống kê 57
3.2.2 Phương pháp phỏng vấn 60
3.2.3 Phương pháp phân tích - tổng hợp 61
3.3 Dữ liệu nghiên cứu 62
3.4 Khung phân tích đề nghị cho luận án 64
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 65
CHƯƠNG 4 – THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 66
4.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ nông dân đồng bào dân tộc Khmer vùng ĐBSCL 66
4.1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội vùng ĐBSCL 66
4.1.2 Đặc điểm của ĐBDT Khmer vùng ĐBSCL 68
4.2 Thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân đồng bào dân tộc Khmer vùng ĐBSCL giai đoạn 2009 – 2019 75
4.2.1 Thực trạng phát triển lực lượng sản xuất của hộ nông dân đồng bào dân tộc Khmer vùng ĐBSCL 75
4.2.2 Thực trạng phát triển quan hệ sản xuất của hộ nông dân ĐBDT Khmer vùng ĐBSCL 92
4.2.3 Đánh giá chung về sự phát triển kinh tế hộ nông dân đồng bào dân tộc Khmer vùng ĐBSCL giai đoạn 2009 – 2019 101
TÓM TẮT CHƯƠNG 4 110
CHƯƠNG 5 - GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 111
5.1 Cơ sở đề xuất các giải pháp 111
5.1.1 Bối cảnh trong nước và ngoài nước 111
5.1.2 Quan điểm 113
Trang 75.1.3 Định hướng 115
5.2 Nội dung các giải pháp 117
5.2.1 Giải pháp về phát triển lực lượng sản xuất 117
5.2.2 Giải pháp về phát triển quan hệ sản xuất 126
5.2.3 Các giải pháp khác 139
TÓM TĂT CHƯƠNG 5 148
Khuyến nghị 148
Kết luận 150
Danh mục công trình của tác giả 152
Danh mục tài liệu tham khảo 152
Phụ lục 161
Trang 9Bảng 4.7 Học vấn của hộ Khmer chia theo dân tộc 79Bảng 4.8 Thực trạng cơ cấu đất đai của hộ nông dân Khmer vùng
Bảng 4.14 Tổng thu từ sản xuất nông nghiệp ở hộ nông dân Khmer vùng
Bảng 4.15 Quy mô và cơ cấu chi phí sản xuất nông nghiệp của hộ nông
Bảng 4.16 Thu nhập bình quân từ sản xuất nông nghiệp của hộ nông
dân Khmer vùng ĐBSCL năm 2019 88Bảng 4.17 Thu nhập bình quân của một số dân tộc 89Bảng 4.18 Thu nhập ngoài sản xuất nông nghiệp của hộ nông dân
Bảng 4.19 Tỷ lệ hộ nghèo một số tỉnh có đông ĐBDT Khmer 90Bảng 4.20 Thu nhập bình quân theo lao động và nhân khẩu năm 2019 91Bảng 4.21 Ảnh hưởng của quy mô các nguồn lực đến kết quả sản xuất
Bảng 4.22 Số lượng và tỷ lệ hộ dân tộc thiểu số có máy kéo/máy cày,
Trang 10Bảng 4.23 Loại hoạt động kinh tế chính của hộ chia theo cộng đồng 95Bảng 4.24 Loại hoạt động kinh tế chính của hộ chia theo khu vực
Bảng 4.25 Phương thức tiêu thụ một số sản phẩm của hộ nông dân
Bảng 4.26 Ảnh hưởng của điều kiện bên ngoài đến sản xuất của hộ
Tóm tắt: Kinh tế hộ nông dân đồng bào dân tộc Khmer vùng Đồng bằng sông
Cửu Long trong thời gian qua có những bước phát triển nhất định, đời sống của đồngbào dân tộc Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long có sự cải thiện rõ rệt, những giátrị văn hóa của đồng bào dân tộc Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long được bảo tồn
và phát huy trong thời gian qua Tuy nhiên, so với mặt bằng chung của cả nước, đồngbào dân tộc Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long còn nhiều khó khăn, đang đối mặtvới nhiều thách thức trong phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo đời sốngvật chất và tinh thần cho cư dân, nhất là người nghèo Để khắc phục những thách thức
đó, việc nghiên cứu vấn đề phát triển kinh tế hộ nông dân đồng bào dân tộc Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long là cần thiết Đề tài tiếp cận dưới góc độ kinh tế
Trang 11chính trị nên phương pháp luận được sử dụng xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu đềtài là phương pháp luận biện chứng duy vật nhằm xem xét, phân tích, đánh giá mộtcách khách quan, toàn diện vấn đề phát triển kinh tế hộ nông dân đồng bào dân tộcKhmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong trạng thái luôn luôn biến đổi của tiếntrình phát triển đất nước; phương pháp nghiên cứu cụ thể chủ yếu là phương pháp điềutra, khảo sát Sau khi phân tích thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân đồng bào dântộc Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long, luận án xây dựng định hướng và giảipháp phát triển kinh tế hộ nông dân đồng bào dân tộc Khmer vùng Đồng bằng sôngCửu Long đến năm 2030, đồng thời nêu lên khuyến nghị đối với Trung ương và cácđịa phương khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Từ khóa: Kinh tế hộ nông dân; đồng bào dân tộc Khmer; Đồng bằng sông Cửu
Long
Summary: Economic households of ethnic Khmer farmers in the Mekong Delta
region in recent years have developed certain steps, the life of Khmer ethnic people inthe Mekong Delta region has improved markedly, the cultural values of the Khmerethnic people in the Mekong Delta have been preserved and promoted in recent years.However, compared to the whole country, the ethnic minorities in the Mekong Deltaregion are facing many difficulties, facing many challenges in economic development,social security and care material and spiritual life for residents, especially the poor Toovercome these challenges, it is necessary to study the economic development issues
of Khmer ethnic minority farmers' households in the Mekong Delta The thesisapproaches from the perspective of political economy, so the methodology usedthroughout the research process is the dialectical dialectical methodology to consider,analyze and evaluate objectively and completely the issue of economic development
of ethnic minority Khmer farmers' households in the Mekong Delta in the constantlychanging state of the country's development process; Specific research methods aremainly investigation and survey methods After analyzing the reality of economicdevelopment of Khmer ethnic minority farmers 'households in the Mekong Delta, thethesis builds the orientation and solution of economic development for Khmer ethnic
Trang 12minority farmers' households in the Mekong Delta Cuu Long to 2030, and raiserecommendations to the Central and localities in the Mekong Delta region.
Key words: Farming household economy; Khmer ethnic minorities; Mekong
Delta
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của nghiên cứu
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) bao gồm 13 tỉnh, thành phố, hiện có
27 thành phần dân tộc cùng sinh sống với dân số trên 17 triệu người, trong đó dân tộcKhmer có khoảng hơn 1,2 triệu người, chiếm tỷ lệ 7% dân số toàn Vùng, tập trungđông nhất tại 09 tỉnh, thành phố: Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang, An Giang, BạcLiêu, Cà Mau, Vĩnh Long, Hậu Giang và Cần Thơ (Tổng Cục Thống kê, 2019)
Đồng bào dân tộc Khmer có tiếng nói và chữ viết khá hoàn chỉnh với nền vănhóa phong phú và đa dạng; đời sống dân cư, sinh hoạt truyền thống, các lễ hội củađồng bào dân tộc Khmer gắn liền với Phật giáo Nam tông Đồng bào có truyền thốngyêu nước, đoàn kết, gắn bó cùng các dân tộc anh em trong đấu tranh chống giặc ngoạixâm, góp phần quan trọng vào sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; thực hiện công cuộc đổi mới, đẩy mạnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế do Đảng lãnh đạo Đây làvùng đất giàu tiềm năng, đa dạng nguồn lực tự nhiên (đồng bằng, sông nước, biển đảo,núi rừng, khoáng sản, thủy sản…), nguồn lực con người và đa dạng về văn hóa, tôngiáo Vùng ĐBSCL có lợi thế trong hoạt động kinh tế nông nghiệp (trồng trọt, chănnuôi, thủy, hải sản), lâm nghiệp (trồng và khai thác rừng, cây dược liệu), khai tháckhoáng sản, phát triển kinh tế biên giới, kinh tế biển, du lịch nội vùng, liên vùng,xuyên biên giới và có vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh Tuy nhiên, hiện nay đaphần người dân Khmer vùng ĐBSCL cư trú ở những vùng nông thôn, vùng có điềukiện KT-XH đặc biệt khó khăn và sinh kế của họ chủ yếu gắn liền với sản xuất nôngnghiệp truyền thống, manh mún, lạc hậu So với mặt bằng chung cả nước, đồng bàodân tộc Khmer vùng ĐBSCL còn nhiều khó khăn, đang đối mặt với nhiều thách thứctrong phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần
cư dân, nhất là người nghèo; gắn phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, ổn địnhchính trị - xã hội và giữ vững quốc phòng - an ninh vùng biên Tỷ lệ hộ nghèo, hộ cậnnghèo người Khmer còn cao so với mức bình quân trong toàn khu vực, tỷ lệ tái nghèocao (có 278.290 hộ nghèo, 256.420 hộ cận nghèo, trong đó số hộ nghèo người Khmer
là 54.029 hộ, chiếm tỷ lệ 19,41% so với số hộ nghèo vùng ĐBSCL, chiếm 11,49% sovới số hộ người Khmer; cận nghèo là 37.835 hộ, chiếm 14,75% so với số hộ vùng
Trang 14ĐBSCL, chiếm 11,54% so với số hộ người Khmer) (Ủy Ban dân tộc, 2019) Khoảngcách giàu nghèo giữa dân tộc Khmer với các dân tộc khác trong Vùng còn lớn và tiếptục tăng Kết cấu hạ tầng, công cụ phục vụ sản xuất còn thiếu và chưa đồng bộ; việcđạo tạo nghề, giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc Khmer, nhất là những nghề phinông nghiệp chưa đạt hiệu quả cao; việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi chưa đivào chiều sâu; tình trạng biến đổi khí hậu diễn biến hết sức phức tạp; mặt trái của cơchế thị trường đã ảnh hưởng nặng nề đến sinh hoạt và đời sống của người Khmer, nhất
là những hộ nông dân Khmer nghèo
Việc giải quyết chính sách về nhà ở, đất ở, đất sản xuất cho người Khmer, đặcbiệt là những hộ nghèo chưa được thực hiện triệt để Trong Vùng, số hộ Khmer chưa
có đất ở là 9.322 hộ; thiếu đất sản xuất: 48.384 hộ, trong đó cần hỗ trợ về đất sản xuất:7.026 hộ, có nhu cầu chuyển đổi nghề sản xuất: 37.671 hộ, nhu cầu học nghề: 3.687
hộ, chịu ảnh hưởng do biến đổi khí hậu và nước biển dâng: 2.078 hộ; số hộ cần giảiquyết việc làm tại địa phương: 73.339; giải quyết việc làm tại các địa phương khác:2.480 hộ; số hộ có nhu cầu về nhà ở: 11.959; nhu cầu hỗ trợ nước để sinh hoạt phântán: 21.823 hộ, nhu cầu hỗ trợ đầu tư các công trình phục vụ nước sinh hoạt tập trung:30.000 hộ (Ủy ban dân tộc, 2019) Thực hiện đề án đào tạo nghề và giải quyết việclàm, nhất là việc làm cho những hộ Khmer nghèo chưa thật sự hiệu quả; nhiều laođộng sau khi được đào tạo không thực hiện công việc theo ngành nghề được đào tạohoặc làm trái nghề; chưa kết nối được thị trường có nhu cầu sử dụng lao động với nhâncông được đào tạo, gây lãng phí, thất thoát nguồn lực trong đào tạo nghề và giải quyếtviệc làm cho người Khmer
Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, tình trạng biến đổi khí hậu, nước biểndâng, thời tiết khắc nghiệt ở một số địa phương diễn biến phức tạp, ảnh hưởng nghiêmtrọng đến sức khỏe, sản xuất và đời sống của người dân ĐBDT Khmer, nhất là những
hộ nghèo Sống chủ yếu bằng nghề nông nhưng lại thiếu đất sản xuất, hoặc có đất sảnxuất nhưng chưa được tiếp cận các chương trình hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu cây trồng,vật nuôi nhằm thích ứng với sự khắc nghiệt của thời tiết nên làm cho đời sống của hộnông dân đồng bào dân tộc Khmer càng thêm khó khăn
Đời sống khó khăn, một bộ phận người Khmer, nhất là những hộ nông dânnghèo, do điều kiện kinh tế khó khăn đã bị các thế lực phản động lôi kéo thực hiện
Trang 15những hành vi trái pháp luật như: giành lại đất đai của tổ tiên, yêu cầu Nhà nước phải
hỗ trợ đất sản xuất và đất ở, cấp nhà và hỗ trợ tiền để sản xuất, tập hợp đông người đểkhiếu kiện, đưa yêu sách về đất đai đối với Nhà nước, lợi dụng những vấn đề khôngđúng sự thật để móc nối với các thế lực phản động trong và ngoài nước nhằm tìm cáchgây rối, làm mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương nói riêng và tìnhhình an ninh chính trị khu vực ĐBSCL nói chung, tạo điều kiện để các tổ chức phảnđộng sử dụng chiến lược “Diễn biến hòa bình” trong đồng bào dân tộc Khmer nhằmgây bất ổn tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng ĐBSCL nói riêng vàtrên bình diện cả nước nói chung, tìm cách công kích, hạ thấp vai trò lãnh đạo củaĐảng Cộng sản Việt Nam
Để khắc phục tình hình trên, đặc biệt là giữ vững ổn định tình hình chính trị - xãhội, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của đồng bào dân tộc Khmer,biện pháp triệt để và lâu dài là tăng cường thực hiện có hiệu quả các chính sách củaĐảng và Nhà nước về vấn đề dân tộc, phát triển KT-XH vùng đồng bào dân tộc, ổnđịnh đời sống của hộ nông dân đồng bào dân tộc Khmer vùng ĐBSCL, góp phần ổnđịnh tình hình chính trị - xã hội trong khu vực và trên phạm vi cả nước Chỉ khi nàođời sống kinh tế của đồng bào dân tộc Khmer được cải thiện, trình độ văn hóa, nhậnthức được nâng lên thì khi đó các chính sách của Đảng và Nhà nước mới phát huy tácdụng, giúp ổn định tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội vùng đồng bào dân tộcKhmer nói riêng và cả nước nói chung Với ý nghĩa và sự cần thiết đó, tác giả chọn đề
tài “Phát triển kinh tế hộ nông dân đồng bào dân tộc Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030” cho luận án tiến sĩ chuyên ngành kinh tế chính trị, qua đó
mong muốn đóng góp một phần nhỏ công sức của mình vào việc thúc đẩy phát triển
KT hộ nông dân đồng bào dân tộc Khmer vùng ĐBSCL, góp phần ổn định tình hìnhkinh tế - xã hội trong đồng bào dân tộc Khmer vùng ĐBSCL nói riêng và tình hìnhkinh tế - xã hội cả nước nói chung
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu tổng quát
Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển KT hộ nông dân đồng bào dân tộcKhmer vùng ĐBSCL giai đoạn 2009-2019 nhằm chỉ ra những thành tựu, hạn chế và
Trang 16nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế để từ đó đề xuất những chính sách gópphần phát triển KT hộ nông dân đồng bào dân tộc Khmer vùng ĐBSCL đến năm 2030.
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
- Nghiên cứu khái quát những vấn đề có tính lý luận cho phát triển KT hộ nôngdân đồng bào dân tộc Khmer vùng ĐBSCL trong xu thế phát triển bền vững và hộinhập quốc tế
- Đánh giá thực trạng phát triển KT hộ nông dân đồng bào dân tộc Khmer vùngĐBSCL giai đoạn 2009-2019
- Các nhóm giải pháp để phát triển KT hộ nông dân đồng bào dân tộc Khmervùng ĐBSCL đến năm 2030
2.2 Câu hỏi nghiên cứu của đề tài
- Có cần thiết phải phát triển KT hộ nông dân đồng bào dân tộc Khmer vùngĐBSCL hay không?
- Các yếu tố chính nào tác động đến phát triển KT hộ nông dân đồng bào dântộc Khmer vùng ĐBSCL?
- Thực trạng phát triển KT hộ nông dân đồng bào dân tộc Khmer vùng ĐBSCLtrong thời gian qua?
- Giải pháp nào cho phát triển KT hộ nông dân đồng bào dân tộc Khmer vùngĐBSCL trong thời gian tới?
2.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Các nhiệm vụ nghiên cứu của luận án là:
Một là, lược khảo các nghiên cứu gần chủ đề và hệ thống hóa các lý thuyết về
KT hộ nông dân đồng bào dân tộc Khmer, từ đó xác định khoảng trống nghiên cứu,hình thành cơ sở lý luận và khung phân tích cho luận án; đồng thời kế thừa có chọnlọc những công trình nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài, đặc biệt về cơ sở lý luận
và định hướng, giải pháp đã được thực hiện Phân tích, đánh giá tìm ra nguyên nhân, từ
đó chọn lọc để có thể vận dụng cho đề tài
Hai là, tiếp cận dưới góc độ kinh tế chính trị, xem KT hộ nông dân đồng bào
dân tộcKhmer là một bộ phận cấu thành lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, trong
đó sức lao động của người Khmer vùng ĐBSCL là một trong những yếu tố hợp thànhlực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất của vùng ĐBSCL Khi KT hộ nông dân đồng
Trang 17bào dân tộc Khmer phát triển sẽ cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho ngườiKhmer, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội đang tồn tại hiện nay Bên cạnh sự pháttriển của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất nếu được quan tâm cải thiện sẽ thúc đẩyphương thức sản xuất phát triển, tạo tiền đề cho khu vực ĐBSCL phát triển bền vững.
Ba là, nghiên cứu các chính sách đối với đồng bào dân tộc vùng ĐBSCL nói
chung và KT hộ nông dân đồng bào dân tộc Khmer nói riêng Bao gồm các chính sáchcủa Trung ương và chính sách của địa phương trên các phương diện đạt được và chưađược trong việc thực thi các chính sách; chính sách nào phát huy tác dụng, chính sáchnào còn hạn chế, bất cập cần tiếp tục nghiên cứu, điều chỉnh cho phù hợp
Bốn là, đến địa bàn cư trú và khảo sát trực tiếp người Khmer về các phương
diện: hoạt động kinh tế, xã hội, phong tục, tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng,… để tìmhiểu nguyên nhân vì sao KT hộ nông dân đồng bào dân tộc Khmer chưa phát triển nhưkinh tế hộ của các dân tộc khác, từ đó đề xuất những giải phát cơ bản phát triển hơnnữa trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các hoạt động KT cơ bản của hộ nông dân đồng bào dân tộcKhmer vùng ĐBSCL giai đoạn 2009 - 2019 nhằm đề xuất các nhóm giải pháp cơ bảnphát triển KT hộ nông dân đồng bào dân tộc Khmer vùng ĐBSCL đến năm 2030
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Đề tài nghiên cứu kinh tế hộ nông dân đồng bào dân tộc Khmer
vùng ĐBSCL Tuy nhiên, số liệu khảo sát chủ yếu ở 05 tỉnh: Trà Vinh, Sóc Trăng, AnGiang, Kiên Giang, Bạc Liêu vì các tỉnh này là nơi tập trung đông đồng bào dân tộcKhmer sinh sống, số liệu khảo sát có thể khái quát cho cả khu vực ĐBSCL
Về thời gian: Đề tài nghiên cứu thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân đồng
bào dân tộc Khmer vùng ĐBSCL được giới hạn trong giai đoạn từ năm 2009 – 2019.Phương hướng và các giải pháp được nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 2020 - 2030
4 Đóng góp mới của luận án
Một là, đóng góp về mặt lý luận:
Luận án làm rõ hơn vị trí của kinh tế hộ nông dân trong phát triển kinh tế củađồng bào dân tộc Khmer vùng ĐBSCL nói riêng và kinh tế vùng ĐBSCL nói chung,
Trang 18tính tất yếu phải phát triển kinh tế hộ nông dân đồng bào dân tộc Khmer lên sản xuấtlớn và những điều kiện cần thiết để phát triển kinh tế hộ nông dân đồng bào dân tộcKhmer theo xu hướng đó
Hai là, đóng góp về mặt thực tiễn:
- Làm sáng tỏ xu hướng vận động, phát triển KT hộ nông dân ĐBDT Khmervùng ĐBSCL trong quá trình chuyển đổi lên nền sản xuất hàng hóa, dưới tác động củacuộc cách mạng công nghiệp lần thứ thư và xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế hiệnnay
- Khái quát nên bức tranh toàn diện về các hoạt động KT của hộ nông dân đồngbào dân tộc Khmer vùng ĐBSCL
- Nêu lên những định hướng và các nhóm giải pháp cơ bản nhằm phục vụ choviệc nghiên cứu, đề xuất những chủ trương, chính sách đối với KT hộ nông dân đồngbào dân tộc Khmer vùng ĐBSCL nói riêng và người Khmer nói chung đến năm 2030trong điều kiện thích ứng với tình hình biến đổi khí hậu hiện nay
5 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình nghiên cứu có liên quan
của tác giả, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài được kết cầu thành 05 chương, bao
gồm: Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế hộ nông dân dân tộc thiểu số Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân đồng bào dân tộc Khmer vùng ĐBSCL Chương 5: Giải pháp phát triển kinh tế hộ nông dân đồng bào
dân tộc Khmer vùng ĐBSCL đến năm 2030
Trang 19CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan nghiên cứu của các tác giả ngoài nước về kinh tế hộ, kinh tế
sự hạn chế thì người nông dân tìm giới hạn tối ưu mới bằng sự liên kết, hợp tác với nhau
Trong mỗi chế độ, loại hình kinh tế này tìm cách thích ứng với sự vận hành và pháttriển kinh tế trong các chế độ, tạo nên sự linh hoạt và sức cạnh tranh của loại hình này sovới các loại hình khác, đặc biệt là các doanh nghiệp lớn trong điều kiện nếu có những biếnđộng của thị trường hoặc những thời kỳ khó khăn nhất định thì các doanh nghiệp lớn phásản, còn kinh tế nông dân vẫn linh hoạt vận động vượt qua khó khăn, thích ứng nhanh với
sự thay đổi Lý thuyết về doanh nghiệp và gia đình nông dân của Chayanov có giá trị thamkhảo nhất định cho các nước đang phát triển Tuy nhiên, trong chừng mực nào đó cần bổsung để hoàn thiện hơn trong điều kiện sản xuất hàng hóa, phát triển kinh tế thị trường
- Theo Hunt (1979), Hayami và Kikuchi (1981), khi áp lực nhân khẩu và lao độngtrên đất ngày càng tăng, giá đất ngày càng cao, chi phí sử dụng đất ngày càng lớn, nhu cầu
và khả năng cải tiến kỹ thuật sản xuất tăng cao, sản xuất không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêudùng tự thân của gia đình, mà phải bán ra thị trường, đặt mình trước thị trường để hành
xử, đã rút ra những điều bổ sung quan trọng là:
Sản phẩm tạo ra của nông hộ được cá nhân tiêu dùng, một phần phân phối ra thịtrường; số lượng sản xuất ra do yêu cầu của cá nhân, không phụ thuộc vào giá cả thịtrường
Trang 20Chủ yếu lao động sử dụng là lao động gia đình, ít thuê lao động bên ngoài Tuyvậy, hộ gia đình có thể tính toán chi phí để quyết định hình thức sản xuất hàng hóa hay đilàm thuê.
Các nhân tố quyết định sản lượng sản xuất ra bao gồm đất đai, tay nghề laođộng, số lượng người, vốn, kinh nghiệm sản xuất, khả năng thích ứng với những thay đổi,trình độ tổ chức sản xuất, khả năng vay vốn và mua vật tư, giá cả sản phẩm, sự phân cônglao động…
- Vergopoulos, Taussig (1978) chỉ ra rằng kinh tế của hộ gia đình có lợi thế hơnsản xuất lớn vì hình thức sản xuất này có khả năng sử dụng tốt hơn lao động ở nôngthôn một cách cao nhất và giữ được giá nông sản thấp hơn so với sản xuất lớn của tưbản
- Hayami và Kukuchi (1981) nghiên cứu kinh tế nông thôn ở Đông Nam Á vàcho thấy khi dân số càng tăng, lợi nhuận thu được từ việc đầu tư thêm lao động sẽ giảmcho dù có ứng dụng thêm kỹ thuật trong khi giá ruộng đất tăng
- J Harris (1982) nghiên cứu về những khía cạnh của nền nông nghiệp gồmnông thôn, nông nghiệp, nông dân trên ba xu hướng chính: Tiếp cận hệ thống, xu hướng
mô hình ra quyết và tiếp cận cấu trúc lịch sử Qua nghiên cứu cho thấy khi trong nôngnghiệp xuất hiện sản xuất hàng hóa thì kinh tế của người nông dân vẫn có chỗ đứng vì
do có được đất đai, tư liệu sản xuất, kinh doanh bằng với lao động gia đình nên có đượcsản phẩm rẻ hơn các nông trại sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa
- Lipton (1989) nghiên cứu chỉ ra ba cách tiếp cận trong nông nghiệp là Macxit;
cổ điển và hàng hóa tập thể Thực chất của các cách tiếp cận này thể hiện mối quan hệgiữa nhà nước và nông dân Mối quan hệ đó với mục đích làm tăng thặng dư trongnông nghiệp, luân chuyển thặng dư và thúc đẩy luân chuyển Trong đó cần thiết phải
có vai trò điều tiết của nhà nước nhằm giảm bớt những rủi ro và đạt hiệu quả trongđiều tiết
- Bernardin Senadza (2014) Các chiến lược đa dạng hóa thu nhập giữa các hộgia đình nông thôn ở các nước đang phát triển: Bằng chứng từ Ghana
Lấy thực tiễn từ việc phân tích đa dạng hóa thu nhập của nông hộ ở các quốcgia đang phát triển, cụ thể ở Ghana, từ đó cho thấy kết quả là việc lựa chọn lĩnh vựcsản xuất và thu nhập của nông hộ ngoài việc phụ thuộc vào điều kiện canh tác còn phụ
Trang 21thuộc vào các yếu tố như đặc điểm của nông hộ, giới tính, trình độ học vấn và taynghề, số lượng thành viên của hộ Cụ thể, đối với những hộ có thu nhập ngoài sản xuấtnông nghiệp hoặc hỗn hợp giữa nông nghiệp và phi nông nghiệp, hộ gia đình có chủ hộ
là nữ giới thường chọn hình thức tự doanh trong khi hộ gia đình có chủ hộ là nam giớithường chọn hình thức làm thuê
- Azhr Al-Haboby et al (2016) Vai trò của nông nghiệp đối với phát triển kinh
tế và giới ở Iraq theo cách tiếp cận mô hình cân bằng chung có thể tính toán được
Bài báo phân tích mối tương quan giữa tăng năng suất các sản phẩm nôngnghiệp với tăng trưởng kinh tế và nâng cao thu nhập cho hộ gia đình với bằng chứngthực nghiệm từ Iraq Kết quả nghiên cứu cho thấy tăng năng suất trong nông nghiệp cóthể dẫn đến gấp đôi tốc độ phát triển ngành nông nghiệp, đóng góp cho kinh tế quốcdân 0,7% tăng trưởng GDP hàng năm, đồng thời nâng cao thu nhập hộ gia đình với tỷ
lệ 3,3% một năm Các giải pháp tăng năng suất nông nghiệp cũng được các tác giả đềxuất Cụ thể, tăng năng suất cây lúa mì và các cây rau củ quả thông qua việc cải thiện
hệ thống tưới tiêu và cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng trên đồng ruộng, áp dụngcông nghệ mới trong thu hoạch và chế biến nông sản và nâng cao chất lượng các loạigiống cây trồng Song song với việc tăng năng suất cây trồng, việc tìm đầu ra cho cácsản phẩm bổ sung cũng là nhân tố quyết định tới thành công của quá trình Để hỗ trợnông dân và thương lái, việc cải thiện hệ thống thông tin về thị trường và cơ sở hạ tầngđóng vai trò quan trọng giúp cho các nhân tố trong chuỗi cung ứng nắm được thông tinđầy đủ và kịp thời về giá và các cơ hội thị trường
- Ghirmai Tesfamariam Teame, Tesfa-Yesus Mehary Woldu (2016) Các yếu tốảnh hưởng đến đa dạng hóa thu nhập của hộ gia đình nông thôn: Trường hợp ZobaMaekel, Eritrea
Bài báo kiểm định các nhân tố tác động đến thu nhập kinh tế hộ gia đình nôngthôn tại Zoba Maekel, Eritrea Các số liệu thống kê cho thấy, hộ gia đình sở hữu mộttrong các nhân tố như vùng có hệ thống tưới tiêu tốt, lượng mưa ổn định và các đàn giasúc, gia cầm; vốn con người; vốn xã hội; thu nhập phi nông nghiệp và thu nhập phitiền lương, có tác động tích cực đến thu nhập hộ gia đình nói chung Đề cập đến cáchoạt động tạo thu nhập, xác suất hộ gia đình có chủ hộ là nam giới có ảnh hưởng tíchcực đến thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp và bất kỳ hình thức làm công ăn lương
Trang 22nào, cũng đồng thời có ảnh hưởng tiêu cực tới thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp
tự doanh
1.1.2 Các công trình nghiên cứu của tác giả ngoài nước về đời sống của người dân nông thôn, dân tộc thiểu số và đồng bào dân tộc Khmer ở Việt Nam
- Dự án “Phân tích hiện trạng nghèo, đói ở ĐBSCL” (MDPA) do tổ chức Tầm
nhìn thế giới kết hợp với công ty Adam Ford thực hiện Nghiên cứu dưới sự hợp táccủa các chuyên gia thuộc Viện Khoa học xã hội và Trường Đại học Kinh tế thành phố
Hồ Chí Minh vào năm 2004 Kết quả nghiên cứu cho thấy nguyên nhân của tình trạngđói nghèo trong bộ phận đồng bào dân tộc Khmer, đồng thời nhận định những cơ hộicũng như thách thức đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế trong ĐBDT Khmer.Qua đó giúp cho nghiên cứu sinh có được cái nhìn tổng quan, đánh giá được thực trạngđói nghèo của ĐBDT Khmer trong khoảng thời gian liên tục để từ đó có thể vận dụngvào mục tiêu nghiên cứu của đề tài Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ đánh giá nguyên nhânđói nghèo về mặt kinh tế mà không chú ý đến việc kết hợp các vấn đề kinh tế với vănhóa, tín ngưỡng, phong tục tập quán… ảnh hưởng đến tình trạng đói nghèo trongĐBDT Khmer
- Ngân hàng thế giới (2012) trong báo cáo những mặt đạt được trong công tácgiảm nghèo của Việt Nam năm 2021 Báo cáo đã thống kê và nêu lên những số liệu cócăn cứ khoa học đáng tin cậy trên cơ sở kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính vàphương pháp nghiên cứu định lượng, đồng thời kết hợp với số liệu chính thống củaTổng cục Thống kê giai đoạn 2004 đến 2010 để đánh giá về thành tựu giảm nghèo củaViệt Nam và những thách thức trong công tác này thời gian tới, đặc biệt là sự chênhlệch giàu nghèo giữa người Kinh và các dân tộc thiểu số – những người chủ yếu sinhsống ở những điều kiện khó khăn, vùng sâu, vùng xa, ít có điều kiện tiếp cận vớinhững thời cơ trong phát triển
- Philip Taylor (2012) nghiên cứu về nguyên nhân đói nghèo của người Khmervùng ĐBSCL dưới góc độ đời sống, phong tục tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng, tâm lýdân tộc, sự phân hóa giàu nghè,… trong điều kiện Đảng và Nhà nước thực hiện cácchính sách hỗ trợ cho đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và đồng bào Khmer nóiriêng Trên cơ sở đó thấy được mặc dù có những chính sách hỗ trợ nhưng đời sống của
Trang 23người Khmer vùng ĐBSCL vẫn còn gặp nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân khácnhau.
- IPSARD, CIEM, DERG, UNU-Wider (2016) nghiên cứu tổng thể về các đặcđiểm kinh tế hộ gia đình nông thôn được đồng thực hiện bởi IPSARD, CIEM, DERG,
và UNU-Wider từ năm 2006 đến năm 2016 trên địa bàn 12 tỉnh, trong đó có Lào Cai,
là một trong những tài liệu quan trọng giúp đánh giá thực trạng tình hình phát triểnkinh tế hộ gia đình ở Lào Cai Theo số liệu điều tra các hộ trên địa bàn tỉnh Lào Cai, số
hộ được xếp vào hộ nghèo theo chuẩn nghèo của Bộ Lao động-Thương binh và xã hội
đã tăng gần 20% trong 2 năm từ 2014-2016 lên 46,15%, đây là một tỷ lệ cao chỉ đứngsau Lai Châu và Điện Biên
1.2 Tổng quan nghiên cứu của các tác giả trong nước về kinh tế hộ, kinh tế
hộ nông dân và đồng bào dân tộc Khmer
1.2.1 Tổng quan nghiên cứu của các tác giả trong nước về kinh tế hộ, kinh
tế hộ nông dân
- Nghiên cứu của Trần Tiến Khai (2007) khẳng định: Khi Việt Nam trở thànhthành viên của WTO, thời gian sắp tới, nền KT nước ta sẽ đứng trước nhiều thời cơcũng như đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt thách thức đối với lĩnh vực nôngnghiệp trong điều kiện Việt Nam chưa có một nền kinh tế thị trường đầy đủ Với dân
số ở nông thôn chiếm hơn 60% dân số cả nước, ngành nông, lâm, thủy sản giải quyếtviệc làm cho hơn 56% lao động và đóng góp hơn 20% GDP quốc gia Vì vậy, nhữngthách chức khi giai nhập WTO sẽ tác động không nhỏ đến nông nghiệp, nông thôn, đặcbiệt ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân khu vực này Vì vậy, đứng trước nhữngkhó khăn đó đòi hỏi phải có chính sách nhằm ổn định và cải thiện đời sống của ngườidân, nhất là những người sinh sống ở nông thôn, hoạt động trong nông nghiệp vốnđang là tầng lớp có đời sống khó khăn, điều kiện sinh hoạt kém và dễ chịu những rủi ro
do tác động của thị trường nhất
- Đoàn Quang Thiệu (2010) nghiên cứu về kinh tế hộ gia đình trong sản xuấtnông nghiệp hàng hóa Tác giả Đoàn Quang Thiệu đã liệt kê 9 mô hình kinh tế hộtrong nông nghiệp và đề xuất 5 giải pháp vĩ mô nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động củacác mô hình kinh tế hộ hiện nay Trong đó, 5 giải pháp được đề xuất gồm có: Quyhoạch lại đất đai theo hướng tích tụ ruộng đất, linh hoạt trong các chính sách phân loại
Trang 24sử dụng đất và giao quyền sử dụng đất, tạo điều kiện cho các hộ gia đình trong chuyểnđổi mục đích sử dụng đất; kịp thời hỗ trợ người nông dân từ nguyên liệu đầu vào đếntiêu thụ các sản phẩm đầu ra; tăng cường nghiên cứu và ứng dụng KHCN vào sản xuấtnông lâm nghiệp; tăng cường các nguồn đầu tư cho nông nghiệp thông qua các chínhsách thu hút, tín dụng và liên kết giữa các thành phần kinh tế; nâng cao năng suất laođộng và chất lượng sản phẩm thông qua đào tạo nghề cho người lao động theo hướngchuyên sâu, phù hợp với từng vùng, địa phương cụ thể.
- Nguyễn Đỗ Hương Giang (2011) phân tích một đối tượng đặc thù khác trongkinh tế hộ gia đình đó là cộng đồng dân tộc thiểu số cũng được xem xét nghiên cứuthông qua đánh giá năng lực tham gia vào phát triển kinh tế địa phương Nghiên cứuđược thực hiện với 8 nhóm đối tượng dân tộc Kinh, Tày, Nùng, Dao, Sán Dìu, SánChí, Hoa, H’mông cùng chung sống trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.Các số liệu thống kê cho thấy KT hộ gia đình dân tộc thiểu số hiện đang dựa trên hìnhthức tự cung tự cấp, với nền tảng là các mối quan hệ gia đình duy lý Kết quả nghiêncứu cũng cho thấy yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân vào phát triển kinh
tế gia đình mang tính khách quan như: Chính sách ưu đãi, sự năng động của cán bộ,các phương tiện thông tin… và các yếu tố chủ quan thuộc về người lao động như trình
độ, tâm lý,…
- Mai Thị Thanh Xuân và Đặng Thị Thu Hiền (2013) thừa nhận sự quan trọngcủa kinh tế hộ gia đình trong nền kinh tế nước ta Khi Đảng ta chủ trương thừa nhậnloại hình này thì sự đóng góp được phát huy cao độ cả về quy mô, tốc độ và cơ cấu Hộgia đình đã đóng góp tích cực vào công cuộc xóa đói giảm nghèo, mang lại thu nhậpcho lao động, đặc biệt là lao động ở nông thôn, góp phần vào sự tăng trưởng và pháttriển kinh tế, ổn định xã hội của Việt Nam Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực,tác giả bài viết còn chỉ ra những hạn chế, nguyên nhân nhất định của của kinh tế hộtrong quá trình phát triển bền vững Để khắc phục những yếu kém cần thiết phải thựchiện các giải pháp để kinh tế hộ phát triển trong thời gian tới, đặc biệt bài viết đề xuấtcác giải pháp trong lĩnh vực nông thôn, nông nghiệp và thủy sản theo hướng hiệu quả
và phát triển bền vững
- Nguyễn Thắng và Lã Sơn Kha (2014) nghiên cứu nhu cầu hợp tác kinh tế củanông hộ trong nông nghiệp là cơ sở cho việc xây dựng các mô hình hợp tác và chính
Trang 25sách phát triển các hình thức hợp tác Nhóm nghiên cứu đã kiểm định giả thuyết môhình về yếu tố nhận thức tác động lên nhu cầu hợp tác ở ĐBSCL Nghiên cứu tiếnhành điều tra 157 nông hộ trồng lúa ở bốn tỉnh ĐBSCL (Long An, An Giang, HậuGiang, Vĩnh Long) theo hai nhóm tham gia các hình thức hợp tác và không hợp tác.Kết quả kiểm định mô hình đã chỉ ra bốn nhóm yếu tố nhận thức của nông hộ tác độnglên nhu cầu hợp tác kinh tế: Đặc điểm hoạt động trồng lúa, điều kiện của nông hộ thamgia hợp tác, lợi ích của mô hình hợp tác Mối quan hệ giữa nhu cầu hợp tác của nông
hộ và yếu tố khách quan về sản xuất Bên cạnh đó, nghiên cứu còn cho thấy tình trạnghợp tác hiện tại của các nông hộ ảnh hưởng bởi học vấn và kinh nghiệm trồng lúa củanông hộ, chứ không phải các yếu tố khách quan về sản xuất của nông hộ
- Nguyễn Thanh Lâm (2014) khái quát đặc điểm vùng đồng bào dân tộc thiểu số
ở Việt Nam Đây là những khu vực có vai trò chiến lược vô cùng quan trọng về kinh
tế, chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh và môi trường sinh thái, với nhiều tiềm nănglợi thế trong phát triển kinh tế lâm nghiệp, nông nghiệp, thủy điện, khai khoáng, dulịch, thương mại… Những năm qua, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm về chính sách,dành nguồn lực đầu tư phát triển các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi Kếtquả ban đầu cho thấy, diện mạo của các vùng từng bước được cải thiện về mọi mặt.Tuy nhiên, hiện nay các vùng dân tộc và miền núi vẫn còn là những khu vực khó khănnhất trong cả nước, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa
Bài viết giúp nghiên cứu sinh nhận diện được các chính sách hỗ trợ của Đảng vàNhà nước về đất ở, đất sản xuất đối với đồng bào dân tộc thiểu số trong thời gian qua,trong đó có đồng bào dân tộc Khmer, từ đó có những gợi mở các giải pháp phát triểnkinh tế hộ đồng bào dân tộc Khmer thông qua việc hỗ trợ về đất ở và đất sản xuất
- Nhữ Hùng Cao (2014) dựa vào phân tích một số chỉ tiêu cơ bản ảnh hưởngliên quan đến thu nhập của nông hộ ở Tuyên Quang Luận văn đã đưa ra những đánhgiá thực trạng và đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế nông hộ ở Tuyên Quang trongthời gian tới Bên cạnh những giải pháp cơ bản, một số giải pháp mới được đề cập như:Tăng cường vai trò của hợp tác xã và các tổ chức khác ở nông thôn; mở rộng cácchương trình cho vay vốn thông qua các quỹ tín dụng với lãi suất ưu đãi, thời gian hợp
lý và thủ tục đơn giản; có những chính sách phù hợp với điều kiện hiện tại của nông
Trang 26hộ, giúp cho hộ nông dân phát triển thuận lợi hơn như chính sách thuế, trợ giá, ứngdụng hướng dẫn kỹ thuật, khuyến nông để nâng cao năng lực sản xuất của nông hộ.
- Nguyễn Văn Công (2015) nghiên cứu khẳng định Nghị quyết 10 của Bộ Chínhtrị ban hành vào tháng 4 năm 1988 là cột mốc quan trọng trong quá trình phát triểnkinh tế của hộ nông dân Gần một năm sau, tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ươngĐảng lần thứ 6 (khóa VI, tháng 3 năm 1989) và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIcủa Đảng cũng một lần nữa nhấn mạnh, hộ nông dân là một đơn vị kinh tế tự chủ sảnxuất hàng hóa Từ đó, vai trò kinh tế hộ nông dân ngày càng được khẳng định và trởthành loại hình kinh tế phổ biến nhất ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
- Nguyễn Thị Thu Thoa (2017) nghiên cứu khái quát: Việt Nam là một nướcnông nghiệp Tình hình phát triển nông nghiệp của Việt Nam trong thập niên 80của thế kỉ XX được đánh dấu bằng các chính sách cải cách trong nông nghiệp củaNhà nước Đầu tiên là Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, sau là Nghịquyết 10 của Bộ Chính trị ban hành tháng 4 năm 1988 về đổi mới quản lý nôngnghiệp, theo đó ruộng đất từng bước được giao cho người dân quản lý Sau năm
1986, Việt Nam đứng trước nhiều thách thức trong phát triển nông nghiệp và nôngthôn Luật Đất đai năm 1993 lần đầu tiên tạo điều kiện cho hộ nông dân có những cơhội mới trong sản xuất nông nghiệp thông qua việc trao năm quyền: Quyền chuyểnnhượng; quyền chuyển đổi; quyền cho thuê; quyền thừa kế và quyền thế chấp LuậtĐất đai sửa đổi năm 1998, năm 2000, năm 2003, và đặc biệt Luật Đất đai năm
2013 tiếp tục cải cách chính sách về đất đai trên cở sở giao quyền sử dụng đất chocác cá nhân và hộ gia đình Hiện nay, diện tích đất nông nghiệp có xu hướng giảmdần
- Huỳnh Kim Thừa (2017) nghiên cứu về vai trò của liên kết sản xuất nôngnghiệp đối với kinh tế hộ tại Đồng bằng sông Cửu Long Tác giả khẳng định sản xuấtnông nghiệp luôn giữ vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế tại khu vực ĐBSCL,nhưng tình trạng sản xuất manh mún, nhỏ lẻ là rào cản chính cho thế mạnh này củaVùng Từ những nghiên cứu bước đầu, tác giả cho thấy sự cần thiết của việc liên kếtsản xuất và chỉ ra những mô hình liên kết sản xuất nông nghiệp hiệu quả hiện nay,nhằm giúp các hộ nông dân tại ĐBSCL có cái nhìn đúng đắn, đầy đủ, cũng như tin
Trang 27tưởng và tham gia các mô hình này Đồng thời, tác giả cũng trình bày một số gợi ýchính sách cho các mô hình đó phát triển và nhân rộng trong tương lai.
1.2.2 Tổng quan các nghiên cứu về đồng bào dân tộc Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long
1.2.2.1 Tổng quan các nghiên cứu về thực hiện chính sách đối với đồng bào dân tộc Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long
- Nguyễn Thanh Thủy (2001) rà soát các chính sách của Đảng về vấn đề dân tộc
có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển KT-XH vùng đồng bào dân tộc (ĐBDT)Khmer; Nguyễn Tấn Thời (2005) nghiên cứu có hệ thống quá trình lãnh đạo của Đảng
bộ tỉnh An Giang trong việc thực hiện chính sách đối với ĐBDT Khmer giai đoạn1996-2004, trong đó làm nổi bật những thành tựu, hạn chế và rút ra những vấn đề cầnquan tâm thực hiện trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc đối với ĐBDT Khmertỉnh An Giang; Lê Tăng (2003) nêu lên những biện pháp nhằm nâng cao thu nhập chongười Khmer vùng ĐBSCL, trong đó nhấn mạnh vấn đề lý luận, phân tích thực trạng
và đề xuất các giải pháp nâng cao mức sống đối với ĐBDT Khmer vùng ĐBSCL
- Mạc Đường (2001) phân tích chi tiết sự hình thành và phát triển ĐBDT ởĐBSCL từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX, trong đó đề cập sâu về sự hình thành phát triểncủa những dân tộc, trong đó có người Khmer vùng ĐBSCL và sự tương trợ lẫn nhaucủa các dân tộc trong những thời kỳ khác nhau để cùng sinh sống và tồn tại
- Võ Văn Sen và Phan Văn Dốp (2004) nghiên cứu chỉ ra khu vực ĐBSCL lànơi tập trung nhiều dân như Việt, Hoa, Khmer, Chăm,… từ rất lâu nên các dân tộc có
sự gắn bó trong xây dựng đời sống và hình thành những nét văn hóa đặc thù góp phầnvào sự đa dạng văn hóa ở vùng ĐBSCL, cùng nhau chung tay chống lại kẻ thù, bảo vệđộc lập chủ quyền của dân tộc Song song với quá trình giữ gìn bản sắc của mỗi dântộc, sự tiếp biến văn hóa cũng được tiếp thu có chọn lọc, hình thành trên cả nền tảngvăn hoá vật chất và văn hoá tinh thần, từ công cụ sản xuất, ăn, mặc, ở, đi lại,… đến
sự ra đời và phát triển đến ngày nay của các tôn giáo địa phương (Cao Đài, Hòa Hảo,
Tứ Ân Hiếu Nghĩa), tạo nên bản sắc văn hoá ĐBSCL
Từ đó, để phát huy vai trò động lực và hạn chế những trở lực đối với sự pháttriển kinh tế, xã hội từ văn hoá vùng và văn hoá tộc người ở ĐBSCL, Nhà nướccần có chiến lược, hệ thống các chính sách quản lý văn hoá phát triển phù hợp
Trang 28nhất, tạo ra những điều kiện khách quan và chủ quan cho phép cư dân ĐBSCL, mànhất là người nông dân có thể bộc lộ tốt nhất năng lực sản xuất, ứng xử kinh tế -
xã hội với tính cách là chủ thể của các hoạt động và quá trình kinh tế
- Hoàng Thị Lan (2012) nghiên cứu nêu lên những mặt đạt được trong việc thựchiện chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng đối với người Khmer ở ĐBSCL Điểm nổibật của các chính sách này như chương trình 134, 135, Chỉ thị số 38/2004/CT-TTgngày 09/11/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh bồi dưỡng, đào tào tiếngdân tộc thiểu số đối với cán bộ, công chức công tác ở vùng dân tộc, miền núi Bộ Giáodục và Đào tạo cùng các địa phương vùng ĐBSCL đã chú trọng đến công tác đào tạo,bồi dưỡng cán bộ dân tộc vùng Khmer Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu nói trên,việc thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo trong đồng bào dân tộc Khmer ở ĐBSCLcòn tồn tại những hạn chế, bất cập như: Các chương trình chỉ giải quyết được nhữngbức xúc trước mắt, chưa mang tính bền vững, chưa tạo được mô hình sản xuất hiệu quảcho đồng bào Khmer Số hộ nghèo vùng Khmer có giảm nhưng tỷ lệ nghèo, tái nghèongười Khmer còn cao so với mức bình quân chung cả nước, nhiều vấn đề bất cập chưađược giải quyết Từ đó bài viết đề xuất trong thời gian tới cần có những giải pháp phùhợp để phát huy những kết quả đạt được và khắc phục những hạn chế trong quy trìnhthực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo đối với ĐBDT Khmer ở ĐBSCL
- Võ Thị Kim Thu (2015) nghiên cứu khái quát các chính sách của Nhà nướctrong quá trình thực hiện xóa đói giảm nghèo đối với ĐBDT Khmer ở ĐBSCL Tínhđến hết 6 tháng đầu năm 2013, ĐBDT Khmer đã nhận được nhiều ưu đãi, kinh tế cóbước khởi sắc Tuy nhiên, việc chăm lo đời sống, xóa đói giảm nghèo cho ĐBDTKhmer chưa thật sự bền vững khi nhiều hộ thoát nghèo nhưng còn ở ngưỡng cậnnghèo, tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào Khmer còn cao, tốc độ giảm nghèo ở các địaphương không đồng đều, có nơi tỷ lệ giảm nghèo rất thấp, một số xã chỉ giảm 0,1-0,2% Từ đó tác giả bài viết đề xuất các giải pháp về chính sách sản xuất, chính sáchtín dụng, tăng cường hỗ trợ ứng dụng, triển khai kỹ thuật vào sản xuất, tạo điều kiệncho người nghèo tiếp cận tiến bộ công nghệ trong sản xuất; chính sách phát triển làngnghề truyền thống; chính sách tăng cường đội ngũ cán bộ, quản lý nhà nước là ngườidân tộc Khmer trong các cấp chính quyền, các cơ quan Nhà nước, đặc biệt trong đạibiểu dân cử các cấp; triển khai và thực hiện tốt chính sách phát triển nguồn nhân lực
Trang 29trong đó có nguồn nhân lực người Khmer ở 13 tỉnh, thành vùng ĐBSCL, đặc biệt tạicác tỉnh có đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống.
1.2.2.2 Tổng quan các nghiên cứu về đời sống của đồng bào dân tộc Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long
- Nhóm nghiên cứu của Đại học Sussex và Viện Khoa học xã hội Việt Nam đãtiến hành điều tra về mức sống của các nhóm đồng bào thiểu số trong mối tương quan
so sánh với các dân tộc khác trong cộng đồng 54 dân tộc của Việt Nam (năm 2008).Nghiên cứu tập trung cho việc lý giải tại sao nhóm đồng bào thiểu số chưa tận dụngđược đầy đủ những lợi ích do sự tăng trưởng cao gần đây của Việt Nam tạo ra cho dù
có hàng loạt các chương trình của Chính phủ được thiết kế và thực hiện để hỗ trợ đồngbào các dân tộc thiểu số Báo cáo của Nhóm này cho thấy, dân tộc Khmer và dân tộcChăm là nhóm có thu nhập cao thứ ba sau nhóm dân tộc Kinh và dân tộc Hoa, nhưngvẫn thấp hơn mức thu nhập trung bình của cả nước Nhóm nghiên cứu cũng pháthiện ra một thực tế là ½ chênh lệch thu nhập là do người Khmer sử dụng nguồn lựccủa họ chưa hiệu quả Những nhận định này cũng trùng khớp với nhận định của cáccông trình nghiên cứu khác tiếp cận từ khía cạnh văn hoá và xã hội của người Khmer.Ngoài ra, các công trình nghiên cứu về Phật giáo Nam tông, về một số chính sách củacác tỉnh đối với dân tộc Khmer là những dữ liệu tốt cho khảo sát đánh giá của luận án
- Nghiên cứu của tác giả Ngô Phương Lan (2012) tìm hiểu sự bất ổn sinh kế và
di cư của lao động người Khmer ở ĐBSCL thông qua việc sơ lược về điều kiện tựnhiên, KT-XH dân tộc Khmer ở ĐBSCL, lý giải về các quyết định di dân, làm rõ thêmcường độ và các sắc thái của quá trình di cư lao động của người Khmer, đặc biệt tậptrung phân tích ở góc độ bất ổn sinh kế như một lực đẩy quan trọng của quá trình di cưlao động của người Khmer ĐBSCL Trên cơ sở phân tích các tác động của di cư laođộng, bài viết cũng nhận diện những thách thức hiện nay cho sự phát triển của cộngđồng người Khmer vùng nông thôn ĐBSCL Làm rõ sinh kế của nông dân Khmer, sơlược các chính sách phát triển kinh tế ở cộng đồng người Khmer, gồm các chính sách:
134, 135, 81, 35, Quyết định 32 về hỗ trợ vốn sản xuất cho hộ dân tộc thiểu số
Để đánh giá hiệu quả các chương trình này, tác giả bài viết khảo sát ở 2 xã: TràKháo và Sơn Hang, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh – Các xã có người Khmer chiếmhơn 50% dân số và hơn 90% dân số của xã làm nông nghiệp
Trang 30- Mai Chiếm Hiếu (2014) nghiên cứu căn cứ vào hạch toán thu nhập năm 2012
từ khảo sát các nông hộ Khmer và bộ chuẩn nghèo của Bộ Lao động - Thương binh và
xã hội giai đoạn 2011-2015 để thấy được bức tranh suy rộng về tình trạng nghèo đói tạikhu vực đồng bào Khmer sinh sống tập trung ở ĐBSCL Theo đó, có gần một phần ba
hộ Khmer tại khu vực nghiên cứu nằm dưới chuẩn nghèo quốc gia, tương đương tỉ lệ
hộ nghèo 32,4% So với tỉ lệ nghèo cùng thời điểm 2012 của cả nước (9,6%) vàĐBSCL (9,2%), tỉ lệ nghèo tại khu vực nghiên cứu (32,4%) cao hơn lần lượt là: 3,4 và3,5 lần Ngoài ra, qua tính toán khoảng cách giàu nghèo thông qua việc đo lường thunhập của nhóm hộ nghèo cho thấy khu vực người nghèo ĐBDT Khmer phải nâng thêm8,5% thu nhập thì mới rút ngắn được khoảng cách này Khoảng cách này gấp 1,5 lần
và 2 lần so với khu vực ĐBSCL và Việt Nam trong năm 2010 (lần lượt là 4,3% và5,9%) Vì vậy, qua nghiên cứu, tác giả nhận định rằng ĐBDT Khmer vùng ĐBSCL làkhu vực trũng của cả nước về mức sống trong giai đoạn hiện nay
Tác giả bài viết cho rằng: Chính sách giảm nghèo muốn thành công, mục tiêugiảm nghèo muốn bền vững, suy cho cùng là do nội lực của con người, bao hàm cả chủthể thực thi chính sách (chính quyền) và khách thể thụ hưởng chính sách (ngườinghèo), đóng vai trò quyết định Với ý nghĩa trên, cùng với kết quả hồi quy mô hìnhkinh tế lượng, nghiên cứu khuyến nghị sáu vấn để cần ưu tiên giải quyết trong chínhsách xóa đói giảm nghèo tại khu vực nghiên cứu
- Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thúy Anh và Nguyễn Văn Thục (2014) nghiêncứu về phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn tại vùng Khmer ĐBSCL nhưsau:
Về phát triển nông nghiệp, người Khmer chủ yếu sinh sống bằng nghề nông Sovới trước đây thì năng suất nông nghiệp đã tăng lên Tuy nhiên nghề nuôi trồng thủysản của người Khmer còn những hạn chế nhất định về kỹ thuật, năng suất, khả năngphòng, chống dịch bệnh Người dân Khmer đang đối mặt với những thách thức như:Thiếu đất sản xuất, thiếu vốn, thị trường đầu ra Ngoài ra, trong sản xuất NN còn gặpnhiều khó khăn ở khâu tích trữ, bảo quản nông sản
Về xây dựng nông thôn mới, người Khmer tham gia tích cực thông qua việcđóng góp tiền cho hoạt động xây dựng nông thôn mới hoặc đóng góp ngày công.Chính quyền địa phương làm tốt công tác vận động để người Khmer tham gia Từ đó
Trang 31bài viết đặt vấn đề: Để phát huy hiệu quả của các chính sách hỗ trợ, rất cần phải cónhững căn cứ thực tiễn đủ tin cậy cho việc ban hành chính sách, xuất phát từ nhu cầucủa người dân cũng như các đặc điểm văn hóa, lối sống, phong tục của cộng đồng.
- Huỳnh Văn Chẩn (2014) trình bày kết quả nghiên cứu tính cộng đồng củangười Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay Khách thể được khảo sát gồm
489 người Khmer đang sinh sống ở ba tỉnh: An Giang, Trà Vinh và Kiên Giang Kếtquả thu được cho thấy, người Khmer có tính cộng đồng khá cao, từ nhận thức, xúccảm, đến cách ứng xử trong lối sống hàng ngày đều biểu hiện sự gắn kết, đùm bọc,giúp đỡ lẫn nhau Đời sống của người Khmer thiên về tĩnh thân, sống với Phật, chết vềvới Phật, không vụ lợi tranh giành vật chất, mà tập trung tất cả vào lễ hội, chùa chiền,sinh hoạt vui chơi cùng nhau trong phum, sóc một cách bình đẳng, bác ái, nhân hậu.Trên bình diện ứng xử, tính cộng đồng của người Khmer cũng được thể hiện khá rõ,nổi bật là trong sự tham gia các hoạt động chung, trong các quan hệ liên nhân cáchgiữa những người cùng phum, sóc; trong sự tuân thủ quy định chung của cộng đồng
Sự gắn bó với Phật giáo của người Khmer đã làm tăng thêm tính cố kết cộng đồng, làmgia tăng sự khác biệt giữa dân tộc Khmer với các dân tộc khác ở vùng ĐBSCL
- Mai Chiếm Hiếu (2015) nghiên cứu khẳng định: Đồng bào Khmer hiện chiếm
đa số dân tộc thiểu số ở ĐBSCL và được biết đến là một cộng đồng rất đa dạng về đờisống văn hóa Nhưng nghịch lý là so với ba nhóm dân tộc thiểu số chủ yếu ở ĐBSCL(Khmer, Hoa và Chăm, họ lại có đời sống vật chất nghèo nhất Cho đến nay, đã có một
số công trình nghiên cứu về tình trạng nghèo đói của đồng bào Khmer ở ĐBSCL,nhưng chỉ dừng lại ở mức phác thảo định tính Nghiên cứu này tiếp cận phương phápnghiên cứu thực nghiệm nhằm làm sáng tỏ mô hình người nghèo Khmer trên cơ sở vậndụng các công cụ phân tích thống kê và mô hình nhị phân logagit từ nguồn số liệu điềutra thực địa 1.060 hộ gia đình Khmer ở ĐBSCL năm 2013 Nghiên cứu cho thấy tìnhtrạng đói nghèo của ĐBDT Khmer vùng ĐBSCL xuất phát từ các nhân tố như nghềnghiệp – việc làm, trình độ học vấn, đặc điểm nhân khẩu học, sự tách biệt xã hội, rủi rotrong sản xuất, vay tín dụng phi chính thức và yếu tố tâm lý – dân tộc
- Võ Thị Kim Thu (2016), luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp điều tra,phân tích, đánh giá; vận dụng những lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin vào tình hình
cụ thể ở ĐBSCL Đặc biệt, với quan sát tham dự, nghiên cứu, tìm hiểu thực tế cuộc
Trang 32sống của ĐBDT Khmer mà chủ yếu là người Khmer nghèo trên tất cả các mặt, từ trình
độ nhận thức, cách làm ăn, những phong tục, tập quán, thói quen, sở thích, nhữngphong phú của đời sống tinh thần và cả nghèo khổ, cùng quẫn về đời sống vậtchất Từ đó lý giải những nguyên nhân chính dẫn đến đói nghèo của các hộ Khmer
ở ĐBSCL, tìm ra những nét đặc thù riêng, trên cơ sở đó đề xuất một số phươnghướng và giải pháp cơ bản, cụ thể phù hợp với điều kiện thực tiễn địa phương, có thểthực hiện góp phần giảm nghèo cho đồng bào dân tộc Khmer một cách thiết thực nhất
- Đề án tổng thể về chính sách đối với Phật giáo Nam tông Khmer vàđồng bào Khmer vùng Tây Nam bộ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 của Họcviện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh với 35 đề án nhánh bao quát toàn diện trên tất
cả các lĩnh vực, nghiêng về các chính sách đã và đang thực hiện đối với ĐBDTKhmer ở Vùng này để làm cơ sở ban hành các chính sách tiếp theo Tuy nhiên, đây là
để án lớn, nghiên cứu tổng thể làm cơ sở đề xuất những chính sách vĩ mô cho nênvấn đề nghèo của ĐBDT Khmer ở đây chỉ được đề cập đến một cách khái quát nhưtất cả các vấn đề khác của đời sống xã hội, không mang tính chuyên biệt
1.3 Nhận định tình hình nghiên cứu
1.3.1 Những đóng góp của các nghiên cứu
Tất cả các công trình nghiên cứu, các đề tài, luận án, luận văn, các bài viết…của các tác giả đề cập đến kinh tế hộ nông dân, hộ gia đình, đời sống của nông dân ởViệt Nam, đời sống của ĐBDT Khmer ở rất nhiều góc độ khác nhau và trên nhiều địabàn khác nhau Cụ thể:
- Thứ nhất, các nghiên cứu của các tổ chức và cá nhân: Dự án “Phân tích hiện
trạng nghèo, đói ở ĐBSCL” (MDPA) của tổ chức Tầm nhìn thế giới, nghiên cứu vềđặc điểm nghèo của người Khmer; Ngân hàng thế giới (WB) đánh giá tình trạng củangười dân thu nhập thấp ở nước ta, trong đó có đề cập đến các dân tộc thiểu số; PhilipTaylor nêu lên những ý kiến về phát triển nông thôn ở ĐBSCL qua phân tích các khíacạnh về văn hóa – xã hội, phong tục tập quán; Bernardin Senadza nghiên cứu đa dạnghóa thu nhập của các hộ gia đình nông thôn tại các quốc gia đang phát triển với bằngchứng thực nghiệm tại Ghana; IPSARD, CIEM, DERGUNU – Wider nghiên cứu tổngthể về các đặc điểm kinh tế hộ gia đình nông thôn ở một số tỉnh phía Bắc,
Trang 33- Thứ hai, nhiều nghiên cứu trong nước về kinh tế nông hộ, đa dạng hóa sinh kế
nông hộ ở Việt Nam của các tác giả như: Võ Văn Tuấn, Lê Cảnh Dũng, Nguyễn ThịThu Thoa, Võ Văn Sen, Phan Văn Dốp, Trần Tiến Khai, Đoàn Quang Thiệu, Mai ThịThanh Xuân, Đặng Thị Thu Hiền, Nguyễn Văn Công, Đỗ Văn Quân, Nhữ Hùng Cao,Huỳnh Kim Thừa,
- Thứ ba, đối với các nghiên cứu về người Khmer vùng ĐBSCL, tuy có rất
nhiều nghiên cứu của các tác giả như: Nguyễn Thanh Thủy, Nguyễn Tấn Thời, LêTăng, Ngô Phương Lan, Hoàng Thị Lan, Võ Thị Kim Thu, Mai Chiếm Hiếu, HuỳnhVăn Chẩn, Nguyễn Thị Thúy Anh, Nguyễn Văn Thục, Đề án tổng thể về chínhsách đối với Phật giáo Nam Tông Khmer và đồng bào Khmer vùng Tây Nam bộ,nhóm nghiên cứu của Đại học Sussex và Viện Khoa học xã hội Việt Nam nhưng cácnghiên cứu này chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề về sinh kế của người Khmer vùngĐBSCL; thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo đối với người Khmer vùng ĐBSCL;vấn đề xóa đói giảm nghèo, mô hình người nghèo Khmer ở ĐBSCL; các yếu tố có liênquan đến tình trạng nghèo tại khu vực ĐBDT Khmer vùng ĐBSCL
- Thứ tư, các công trình nghiên cứu trên đã cung cấp những tư liệu quan trọng
về phong tục tập quán, đời sống, hoạt động KT của hộ nông dân ở Việt Nam nói chung
và hộ nông dân ĐBDT Khmer vùng ĐBSCL nói riêng Vì vậy, việc tham khảo những
tư liệu này sẽ rút ra nhiều bài học kinh nghiệm cho việc nghiên cứu thực trạng và đềxuất các nhóm giải pháp phát triển KT hộ nông dân đồng bào dân tộc Khmer vùngĐBSCL
Thứ năm, các công trình nghiên cứu cho thấy đời sống của ĐBDT Khmer vùng
ĐBSCL rất khó khăn; tỷ lệ hộ nghèo còn cao; có sự chênh lệch lớn về thu nhập giữa hộnông dân người Khmer với hộ nông dân các dân tộc khác; trình độ dân trí thấp; nhiềuvấn đề xã hội bức xúc nảy sinh; các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo,xuyên tạc lịch sử, lôi kéo, xúi giục bà con đồng bào dân tộc Khmer, nhất là bà conđồng bào dân tộc Khmer nghèo tìm cách đòi lại ruộng đất, yêu sách được hưởng nhiềuchế độ chính sách của Nhà nước, thưa kiện kéo dài, từ đó làm cho tình hình chính trịtrong đồng bào Khmer vùng ĐBSCL nói riêng và khu vực ĐBSCL nói chung chứađựng nhiều bất ổn, khó lường Do đó, qua tham khảo các nghiên cứu trên giúp tác giảnắm rõ thêm tình hình xã hội, an ninh chính trong vùng Khmer để từ đó giúp cho đề tài
Trang 34có căn cứ nghiên cứu thực trạng, đề xuất các nhóm giải pháp nâng cao đời sống vậtchất và tinh thần của đồng bào dân tộc Khmer vùng ĐBSCL, góp phần ổn định tìnhhình chính trị vùng ĐBSCL.
Thứ sáu, các nghiên cứu còn chỉ ra khu vực ĐBSCL nói chung và vùng đồng
bào dân tộc Khmer có kết cấu hạ tầng chưa hoàn thiện, ảnh hưởng của thiên tai, biếnđổi khí hậu nặng nề nên điều kiện sản xuất của hộ nông dân Khmer rất khó khăn, do đónhững giải pháp cho phát triển KT hộ nông dân đồng bào dân tộc Khmer gặp nhiều trởngại trong quá trình thực hiện, đòi hỏi Đảng và Nhà nước cần phải ban hành nhiềuchính sách hỗ trợ người Khmer vùng ĐBSCL trong quá trình phát triển, từ đó giúp chotác giả có những căn cứ thực tiễn nhằm cụ thể hóa những giải pháp đề xuất trong đề tàisát hợp với tình hình cụ thể của các hộ Khmer vùng ĐBSCL
Thứ bảy, các nghiên cứu trên còn chỉ ra rằng đồng bào dân tộc Khmer có tiếng
nói và chữ viết khá hoàn chỉnh với nền văn hóa phong phú và đa dạng; đời sống dân
cư, sinh hoạt truyền thống, các lễ hội của đồng bào dân tộc Khmer gắn liền với Phậtgiáo Nam tông; đời sống, sinh hoạt của ĐBDT Khmer gắn với các ngôi chùa, nhà sưtrong các ngôi chùa có vị trí nhất định trong suy nghĩ và hành động của người Khmer,
từ đó giúp cho tác giả có thêm những luận cứ quan trọng để nghiên cứu thực trạng đờisống của người Khmer nói chung và KT hộ nông dân ĐBDT Khmer vùng ĐBSCL, đềxuất các giải pháp sát hợp nhằm phát triển KT hộ nông dân ĐBDT Khmer vùngĐBSCL
1.3.2 Khoảng trống nghiên cứu
Từ những đúc rút về mặt lý luận và thực tiễn mà các công trình nghiên cứu củacác tác giả, các tổ chức trên đã đạt được, có thể khẳng định, tuy có khá nhiều côngtrình nghiên cứu trên nhiều phương diện khác nhau về kinh tế hộ nông dân, hộ giađình, đời sống của hộ nông dân ở Việt Nam, hộ nông dân vùng ĐBSCL, đời sống củaĐBDT Khmer và các vấn đề cơ bản về ĐBDT Khmer vùng ĐBSCL, Nhưng cáccông trình nghiên cứu về ĐBDT Khmer có liên quan đến đề tài chỉ dừng lại ở việcnghiên cứu một cách tổng thể về nhân khẩu, đời sống, phong tục, tập quán, phươngthức sản xuất, sinh kế, những chính sách của Đảng và Nhà nước đối với ĐBDTKhmer, trong khi việc đi sâu nghiên cứu kinh tế hộ nông dân đồng bào dân tộcKhmer vùng ĐBSCL nhằm khái quát nên bức tranh toàn diện về đời sống kinh tế của
Trang 35ĐBDT Khmer trong xu thế công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế và pháttriển bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu hiện nay, để từ đó thấy được chính vấn
đề phát triển KT hộ nông dân đồng bào dân tộc Khmer sẽ có tác động ảnh hưởng, thậmchí quyết định đến các lĩnh vực khác của đời sống xã hội, trong đó có các vấn đề anninh chính trị - là công việc hết sức cần thiết - thì các nghiên cứu trước đây chưanghiên cứu sâu, chưa chỉ ra cụ thể Do đó, đề tài tập trung hướng đến việc tiếp tụcnghiên cứu nhằm giải quyết những vấn đề sau, và đó cũng là điểm mới của luận án:
- Nghiên cứu sâu về kinh tế hộ nông dân ĐBDT Khmer dưới góc độ lực lượngsản xuất của ĐBDT Khmer vùng ĐBSCL, bao gồm sức lao động của người Khmervùng ĐBSCL và các yếu tố thuộc về tư liệu sản xuất (vốn, đất đai, cơ sở hạ tầng, công
cụ sản xuất, ) Những yếu tố này trong thời gian qua chưa được khai thác hiệu quảnhằm phục vụ cho quá trình phát triển KT-XH ĐBDT Khmer nói riêng và phát triểnKT-XH vùng ĐBSCL nói chung; chính vì vậy đời sống của ĐBDT Khmer rất khókhăn, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, nhiều vấn đề xã hội mang tính bức xúc nảy sinh, là cơhội cho các thế lực thù địch lợi dụng để xuyên tạc chủ trương của Đảng và chính sách,pháp luật của Nhà nước, xúi giục, kích động, lôi kéo bà con ĐBDT Khmer, đặc biệt lànhững hộ Khmer nghèo khiếu kiện đông người, khiếu kiện kéo dài nhằm đòi lại đất,đòi hỏi nhiều hơn nữa chính sách hỗ trợ từ Nhà nước Vì vậy đề tài tập trung nghiêncứu nhằm đánh giá tình hình phát triển lực lượng sản xuất trong ĐBDT Khmer thờigian qua để từ đó tìm ra nguyên nhân những tồn tại, hạn chế trong phát triển lực lượngsản xuất ĐBDT Khmer và đề xuất giải pháp phát triển lực lượng sản xuất và kinh tế hộnông dân ĐBDT Khmer vùng ĐBSCL trong thời gian tới
- Nghiên cứu sâu về sự phát triển kinh tế hộ nông dân ĐBDT Khmer vùngĐBSCL dưới góc độ nghiên cứu quan hệ sản xuất của ĐBDT Khmer vùng ĐBSCL, đó
là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất nhằm thấy được thực trạngquan hệ sản xuất trong ĐBDT Khmer thời gian qua để từ đó đề xuất giải pháp pháttriển kinh tế hộ nông dân ĐBDT Khmer vùng ĐBSCL trong thời gian tới
- Nghiên cứu kinh tế hộ nông dân ĐBDT Khmer trong xu thế công nghiệp hóa,hiện đại hóa, hội nhập quốc tế và phát triển bền vững nhằm nêu lên những nhận định
sơ bộ về tính phù hợp hay không còn phù hợp của kiểu tổ chức sản xuất theo mô hìnhkinh tế hộ nông dân ĐBDT Khmer trong xu thế phát triển hiện nay Nếu kiểu tổ chức
Trang 36sản xuất này còn phù hợp nhưng cần những thay đổi để tiếp tục phát triển thì đề xuấtnhững giải pháp mang tính thay đổi Nếu không còn phù hợp, cần phải thay đổi theohướng kiểu tổ chức sản xuất mới thì đề xuất những giải pháp thực hiện nhằm thay đổitrong thời gian tới.
- Nghiên cứu sự liên kết, phối hợp giữa các tỉnh, thành phố thuộc khu vựcĐBSCL trong phát triển kinh tế hộ nông dân ĐBDT Khmer trên cơ sở phát huy lợi thếcủa từng địa phương, sự liên kết, phối hợp trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của hộnông dân ĐBDT Khmer thời gian qua để từ đó nhận diện được nguyên nhân vì saokinh tế hộ nông dân ĐBDT Khmer chưa phát triển, đời sống ĐBDT Khmer còn nhiềukhó khăn, nhiều vấn đề xã hội bức xúc còn tồn tại và đề xuất giải pháp cơ bản khắcphục những tồn tại trong tương lai
- Tìm hiểu những nhân tố ảnh hưởng (điểm nghẽn) cản trở sự phát triển kinh tế
hộ nông dân ĐBDT Khmer vùng ĐBSCL (tác động của biến đổi khí hậu; chất lượng,
số lượng dòng chảy sông Mêkong; các vấn đề về phong tục, tập quán, văn hóa-xã hội,tôn giáo ), từ đó đề xuất giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế hộ nông dân ĐBDTKhmer vùng ĐBSCL một cách bền vững trên cơ sở khắc phục những điểm nghẽn cảntrở quá trình phát triển
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Chương này hình thành tổng quan tình hình nghiên cứu Nội dung của chươngđược trình bày theo hướng phân tích và tổng hợp các bài viết trước đó và được kếtcấu làm ba phần Phần một, tổng quan nghiên cứu của các tác giả ngoài nước về kinh
tế hộ, kinh tế hộ nông dân Phần hai, tổng quan nghiên cứu của các tác giả trong nước
về kinh tế hộ, kinh tế hộ nông dân và đồng bào dân tộc Khmer Phần ba, trên cơ sởtổng quan một số nghiên cứu của các tác giả về hộ nông dân, hộ gia đình, đời sống củanông dân, dân tộc thiểu số ở một số quốc gia trên thế giới và ở Việt Nam, nghiên cứusinh nhận định tình hình nghiên cứu gồm những đóng góp của các nghiên cứu vàkhoảng trống nghiên cứu
Trang 37CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG DÂN DÂN TỘC THIỂU SỐ 2.1 Khái niệm, đặc trưng, vai trò và xu hướng vận động, phát triển kinh tế
hộ trong giai đoạn hiện nay
2.1.1 Khái niệm và đặc trưng của kinh tế hộ, hộ nông dân, kinh tế hộ nông dân
2.1.1.1 Kinh tế hộ
Có nhiều quan niệm của các nhà khoa học về hộ:
- Về phương diện thống kê, Liên Hợp Quốc cho rằng: “Hộ là những cá nhânchung sống cùng nơi sinh hoạt hằng ngày, cùng ăn chung và có chung một nguồn quỹtrang trãi cuộc sống” (Chu Văn Vũ, 1995)
- Vào thời điểm năm 1980 tại Hà Lan, các nhà tham dự hội thảo quốc tế đã quanniệm rằng: “Hộ là đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất, tiêu dùng, xemnhư là một đơn vị kinh tế” (Lê Trọng, 1995)
Qua các quan niệm về hộ nêu trên, có thể thấy rằng mặc dù mỗi quan niệm cóđiểm mạnh khác nhau, phản ánh khía cạnh khác nhau, tuy nhiên các quan niệm trênvẫn không có sự thống nhất Từ các quan niệm trên, và theo ý kiến cá nhân, nghiêncứu sinh cho rằng:
- Hộ bao gồm những cá nhân có cùng huyết thống, ngoài ra cũng có trường hợp
cá biệt không cùng huyết thống như con nuôi, người đỡ đầu, người được gia đình chấpnhận là thành viên và cho hoạt động kinh tế chung trong gia đình, mang tính lâu dàidưới một mái nhà
- Hộ là một đơn hoạt động KT ở cơ sở, đa phần có sự tự chủ về sức lao độngphục vụ sản xuất thông qua việc phân công giữa các thành viên; mục đích hoạt động đểtạo ra của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu của từng thành viên và nếu có dư thừa sẽđem cung ứng cho thị trường Đồng thời, do tính chất hoạt động KT của hộ nên hộkhông nhất thiết hoạt động cố định ở thành phần kinh tế nào
- Hộ và gia đình không hoàn toàn đồng nhất vì hộ là một đơn vị kinh tế độc lập,còn gia đình có thể không phải là một đơn vị kinh tế (ví dụ có những trường hợp mặc
Trang 38dù có chung huyết thống, cùng sống chung dưới một mái nhà nhưng nguồn kinh tế vàtài sản lại không đồng nhất với nhau, riêng có của mỗi người).
2.1.1.2 Hộ nông dân
Frank Ellis quan niệm về hộ nông dân: “Hộ nông dân là các hộ gia đình làmnông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mãnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sứclao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưngchủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt độngvới mức độ không hoàn hảo cao” (Lê Đình Thắng, 1993)
Trianốp cho rằng: “Hộ nông dân là đơn vị sản xuất rất ổn định” và Ông quanniệm “Hộ nông dân là đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển nông nghiệp” (TrầnĐức Viên, 1995) Quan niệm này được nhiều nước trên thế giới áp dụng rộng rãi vàviệc đề ra chính sách phát triển nông nghiệp, trong đó có các nước phát triển
Ở Việt Nam, một số tác giả nêu lên ý kiến về hộ nông dân Điển hình như:
“Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nôngthôn” (Lê Đình Thắng, 1993) “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động trongnông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nôngnghiệp ở nông thôn” (Đào Thế Tuấn, 1997) Hoặc “Hộ nông nghiệp là những hộ cótoàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạtđộng trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thủy nông, giống cây trồng,bảo vệ thực vật,…) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp”(Nguyễn Sinh Cúc, 2001)
Sản xuất của CNTB không làm phá sản nền sản xuất tiểu nông, nền kinh tế này
có “ưu thế”, “ổn định”, nếu so với các nông trại lớn tư bản chủ nghĩa đã được David(1903) chỉ ra trong quá trình nghiên cứu của mình
Trong tác phẩm “Phát triển nông thôn”, J.Harris (1982) nghiên cứu về nôngthôn, nông dân và NN thông qua việc chia ra ba xu hướng tiếp cận bao gồm tiếp cận hệthống, mô hình ra quyết định và cấu trúc lịch sử Vấn đề đáng quan tâm là nghiên cứu
đã chỉ ra trong quá trình sản xuất hàng hóa, xã hôi nông thôn phân hóa thành tư bản
NN, người làm thuê NN hay là người sản xuất NN nhỏ coi đất đai, tư liệu sản xuất vớigiá lao động rẻ hơn nên nông sản rẻ so với sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa
Trang 39Nông trại sản xuất nhỏ sẽ dùng lao động lúc thu nhập ròng hoặc khi thu nhậpbằng 0 và chủ yếu nhằm tăng sản lượng của một đơn vị ruộng đất (Georgescu-Roegen,1960).
Danderkar (1970) nêu lên quan niệm của mình khi chia ra hai kiểu nông dân:sản xuất hàng hóa và kiểu tự túc, chủ yếu đầu tư lao động sẵn có nhằm tăng sản lượngtrong nội bộ gia đình để tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu của mình
Hai tác giả Vergopoulos (1978) và Taussig (1978) cho rằng nông trại lớn tư bảnchủ nghĩa có chi phí sản xuất bất lợi hơn nông trại sản xuất nhỏ bởi vì sản xuất nhỏkhai thác được mức thặng dư lao động cao nhất ở khu vực nông nghiệp và duy trì đượcgiá cả nông sản (Nguyễn Sinh Cúc, 2001)
Kinh tế hộ là tế bào KT-XH, tồn tại lâu dài trong lịch sử; là đơn vị KT tự chủtrong nền sản xuất hàng hóa Trong kinh tế hộ, mọi người trong hộ có mối liên hệ vớinhau thông qua hôn nhân, huyết thống và các quan hệ sở hữu, quản lý và phân phối sảnphẩm vì lợi ích chung của hộ và của các thành viên
Nghiên cứu sự biến động của KT nông thôn ở Đông Nam, Hayami và Kituchi(1981) cho rằng khi áp lực số dân tăng lên, lãi suất có được từ tăng cường thêm laođộng ngày càng tăng, giá cả ruộng đất tăng, lợi nhuận sẽ ngày càng giảm mặc dù có sựcải tiến kỹ thuật
Qua tìm hiểu và nghiên cứu quan niệm của các tác giả về hộ nông dân, nghiêncứu sinh nhận thức rằng:
- Hộ nông dân là những hộ sinh sống và hoạt động kinh tế ở nông thôn; nghềnghiệp và thu nhập chủ yếu trong lĩnh vực NN; lao động sử dụng chủ yếu là lao độnggia đình hoặc có thuê mướn thêm lao động, nhưng việc thuê mướn thêm lao độngkhông nhiều Ngoài ra, hộ nông dân còn tham gia các ngành nghề khác như: tiểu thủcông nghiệp, thương mại – dịch vụ…
- Hộ nông dân được xem xét như một đơn vị KT cơ sở, vừa thực hiện nhiệm vụsản xuất, vừa là nơi tiêu dùng sản phẩm do các lĩnh vực sản xuất ra Do đó, hộ nôngdân không thể tồn tại một cách biệt lập mà phải tồn tại trong mối liên hệ, tương quanvới các loại hình kinh tế khác Khi trình độ KHCN ngày càng phát triển thì các hộnông dân càng phụ thuộc lẫn nhau và phụ thuộc vào hệ thống các ngành nghề, lĩnh vựckinh tế trong nền kinh tế quốc dân trên phạm vi vùng và quốc gia Từ đó cho thấy sự
Trang 40cần thiết phải nghiên cứu vấn đề này trong sự vận hành, phát triển của nền kinh tếnước ta.
2.1.1.3 Kinh tế hộ nông dân
Tachaynov (1924) quan niệm KT hộ nông dân là kiểu tổ chức SX tồn tạiqua các thời kỳ khác nhau Trong mỗi giai đoạn phát triển có những quy luật pháttriển riêng của nó, và trong mỗi chế độ, nó tìm cách phù hợp với cơ chế KT hiệntại Mục đích cuối cùng của hộ nông dân là làm sao có được thu nhập cao, không
kể thu nhập đó có nguồn gốc từ sản xuất sản phẩm NN nào
Khi phân tích về kinh tế gia đình, tác giả Đặng Thọ Xương (1996) cho rằng đó là
sự cân đối yếu tố lao động – gia đình và sự đáp ứng nhu cầu tiêu dùng giữa gia đình và sựnặng nhọc của lao động Hằng năm khi sản phẩm làm ra với giá trị thu được, sau khi hạchtoán chi phí sẽ thu được sản lượng còn lại mà hộ dùng để tiêu dùng, đầu tư để tiếp tục quátrình sản xuất và khoản còn lại dùng để tiết kiệm Sự cân bằng này không cố định mà có
sự thay đổi theo thời gian, do sự cân đối giữa yếu tố lao động và tiêu dùng quyết định
Như vậy, khi nghiên cứu các quan điểm trên cho thấy: Hộ là một đơn vị hoạtđộng KT-XH, nhưng dưới góc KT, do những chức năng của hộ nên khi đề cập đến hộthì được hiểu hộ là kinh tế hộ Lịch sử hình thành KT hộ có từ rất sớm, là một tế bàocủa xã hội, tự chủ về KT, trong đó các thành viên thuộc hộ có quan hệ huyết thống,thông qua hôn nhân và mối quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất, tổ chức quản lý sản xuất
và phân phối sản phẩm làm ra phục vụ lợi ích chung của mọi người trong gia đình
Đối với những nơi chậm phát triển, hộ vừa là nơi trực tiếp sản xuất ra sản phẩm,tiêu dùng sản phẩm làm ra và tích lũy để tái sản xuất ra của cải vật chất, hay nói khác
đi, hai chức năng sau được gọi chung là chức năng kinh tế Còn đối với những nơi pháttriển thì chức năng KT còn rất thấp và hạn chế, chỉ phổ biến trong lĩnh vực sản xuất
NN và dịch vụ sinh hoạt, bán buôn nhỏ lẻ, chức năng kinh tế do các doanh nghiệp vàtập đoàn lớn đảm nhận trong điều kiện cho sự phân công rõ ràng nhằm thúc đẩy sảnxuất có hiệu quả, mang lại lợi ích cho từng thành viên đang cùng chung sống trong giađình
2.1.2 Vai trò của kinh tế hộ trong nền kinh tế quốc dân
KT hộ đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển KT-XH ở mỗi quốc gia,qua các thời kỳ lịch sử khác nhau bởi vì kinh tế hộ được xem là “tế bào” của xã hội,