---- ----Tôi xin cam đoan luận án của tôi với tên đề tài là “Các nhân tố tác động đến việc ápdụng mô hình lập dự toán ngân sách dựa trên kết quả hoạt động tại các đơn vị sựnghiệp công lậ
Trang 1NGHIỆP CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh – 2021
Trang 2LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Tp Hồ Chí Minh – 2021
Trang 3
Tôi xin cam đoan luận án của tôi với tên đề tài là “Các nhân tố tác động đến việc ápdụng mô hình lập dự toán ngân sách dựa trên kết quả hoạt động tại các đơn vị sựnghiệp công lập ở Việt Nam” là do tôi nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của Ngườihướng dẫn khoa học PGS TS Mai Thị Hoàng Minh và PGS TS Võ Văn Nhị vàcác nội dung trích dẫn từ sách, báo, tạp chí, luận văn, luận án đều được tôi trích dẫnnguồn gốc Các kết quả nghiên cứu nêu trong luận án này chưa từng được công bốtrong các công trình nghiên cứu nào khác
Nghiên cứu sinh
Lê Thị Cẩm Hồng
Trang 4-
-Không có sự thành công nào mà không có sự giúp đỡ, luận án của tôi đã hoàn thành là nhờ vào sự giúp đỡ, hướng dẫn, và động viên của rất nhiều cá nhân.
Trước tiên, cho tôi được bày tỏ lòng biết ơn và sự kính trọng sâu sắc nhất đến PGS.
TS Võ Văn Nhị và PGS TS Mai Thị Hoàng Minh, là Thầy Cô đã hướng dẫn khoa học cho tôi, luôn động viên và hỗ trợ tôi, giúp tôi hoàn thành luận án trong suốt thời gian thực hiện nghiên cứu, cả trong thời gian tôi làm việc tại khoa Kế toán, Thầy Cô luôn cho tôi những lời khuyên bổ ít, những động lực trong lúc khó khăn và gian nan đến nản chí Không có Thầy Cô thì không có tôi ngày hôm nay.
Tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô trong Bộ môn Kế Toán công đã luôn động viên, hỗ trợ và gánh vác một số công việc của Khoa, bộ môn, giúp tôi có được điều kiện thuận lợi để hoàn thành luận án này.
Bên cạnh đó Tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành đến toàn thể quý Thầy Cô trong Khoa Kế toán, đã tận tình giảng dạy tôi, truyền đạt cho tôi những kiến thức nền tảng, bổ ích nhất trong suốt quãng thời gian học tập tại trường đại học Kinh Tế TP.
Hồ Chí Minh cho đến hôm nay.
Ngoài ra tôi còn nhận được rất nhiều sự hỗ trợ từ các đồng nghiệp trong và ngoài trường, bạn bè, người thân trong quá trình thu thập dữ liệu Cho nên tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến những người đã hỗ trợ tôi trong suốt thời gian thu thập dữ liệu cho luận án.
Cuối cùng, tôi vô cùng biết ơn Ba Mẹ tôi, và tất cả thành viên trong gia đình tôi luôn hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua.
TP Hồ Chí Minh Ngày 3 tháng 2 năm 2021
Trang 5
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT DANH MỤC CÁC BẢNG DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ TÓM TẮT PHẦN MỞ ĐẦU 1 Sự cần thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 3
3 Đối tượng nghiên cứu 4
4 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp mới của đề tài 6
7 Kết cấu của luận án 7
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 8
1.1 Giới thiệu 8
1.2 Các nghiên cứu nước ngoài 8
1.2.1 Các nghiên cứu liên quan đến việc áp dụng mô hình PBB tại các quốc gia 8
1.2.2 Các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến việc áp dụng mô hình PBB 11
1.2.2.1 Các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến việc chấp nhận áp dụng một sự đổi mới 11
1.2.2.2 Các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến việc áp dụng mô hình PBB 13
1.3 Các nghiên cứu trong nước. 18
Trang 6PBB 20
1.4 Nhận xét các nghiên cứu trước và xác định khoảng trống trong nghiên cứu 21
1.4.1 Nhận xét các nghiên cứu trước 21
1.4.1.1 Đối với các nghiên cứu nước ngoài 21
1.4.1.2 Đối với các nghiên cứu trong nước 25
1.4.2 Xác định khoảng trống trong nghiên cứu và định hướng nghiên cứu 27
1.4.2.1 Khoảng trống trong nghiên cứu nước ngoài 27
1.4.2.2 Khoảng trống trong nghiên cứu trong nước 28
1.4.2.3 Định hướng nghiên cứu 28
Kết luận chương 1 34
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 35
2.1 Giới thiệu 35
2.2 Tổng quan về mô hình lập dự toán ngân sách dựa trên kết quả hoạt động 35
2.2.1 Khái niệm khu vực công 35
2.2.2 Khái niệm dự toán ngân sách 35
2.2.3 Mô hình lập dự toán ngân sách dựa trên kết quả hoạt động (Performance based budgeting – PBB) 37
2.2.3.1 Khái niệm 37
2.2.3.2 Các yếu tố cơ bản của PBB 40
2.2.3.3 Ưu điểm và nhược điểm của mô hình PBB 41
2.3 Một số lý thuyết nền 43
2.3.1 Lý thuyết hành vi dự định (Theory of planned behavior – TPB) (Ajzen, 1991) 45
2.3.2 Lý thuyết khuếch tán đổi mới (Theory of diffusion of innovation) (Rogers, 1983) 46
2.3.3 Lý thuyết thiên vị nguyên trạng (Status Quo Bias Theory-SQB) 48
2.3.4 Lý thuyết xã hội học thể chế mới (New Institutional Sociology -NIS) 50
Trang 7CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 63
3.1 Giới thiệu 63
3.2 Khung nghiên cứu và quy trình nghiên cứu 63
3.2.1 Khung nghiên cứu 63
3.2.2 Quy trình nghiên cứu 65
3.3 Phát triển giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu 67
3.3.1 Phát triển giả thuyết nghiên cứu 67
3.3.2 Biến kiểm soát 76
3.3.3 Mô hình nghiên cứu 77
3.4 Xây dựng thang đo các khái niệm nghiên cứu 77
3.4.1 Biến phụ thuộc 78
3.4.2 Các biến độc lập 79
3.4.3 Biến kiểm soát 86
3.5 Phương pháp nghiên cứu 86
3.5.1 Phương pháp nghiên cứu định tính 87
3.5.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng 88
3.6 Mẫu, phương pháp thu thập và phương pháp xử lý dữ liệu 88
3.6.1 Đối với nghiên cứu sơ bộ 88
3.6.1.1 Nghiên cứu định tính 88
3.6.1.2 Nghiên cứu định lượng sơ bộ 90
3.6.2 Đối với nghiên cứu chính thức 95
3.6.2.1 Mục tiêu nghiên cứu 95
3.6.2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu 96
Kết luận chương 3 98
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 99
4.1 Giới thiệu 99
4.2 Kết quả nghiên cứu sơ bộ 99
Trang 84.2.1.2 Kết quả đánh giá sự phù hợp của thang đo 101
4.2.2 Kết quả nghiên cứu định lượng sơ bộ 104
4.2.2.1 Kết quả thống kê mô tả 104
4.2.2.2 Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha
105 4.2.2.3 Kết quả đánh giá giá trị thang đo bằng mô hình EFA 108
4.2.2.4 Kết luận về kết quả nghiên cứu sơ bộ 110
4.3 Kết quả nghiên cứu chính thức 112
4.3.1 Kết quả thống kê mô tả 112
4.3.2 Kiểm định sai lệch do phương pháp 115
4.3.3 Đánh giá mô hình đo lường 116
4.3.4 Đánh giá mô hình cấu trúc 121
4.3.4.1 Đánh giá về hiện tượng đa cộng tuyến 122
4.3.4.2 Đánh giá về tính phù hợp của các mối quan hệ 123
4.3.4.3 Đánh giá hệ số xác định R2 125
4.3.4.4 Đánh giá tác động của quy mô f2 125
4.3.4.5 Đánh giá khả năng dự báo của mô hình thông qua Q2 126
4.3.4.6 Đánh giá tác động của quy mô q2 127
4.3.4.7 Đánh giá vai trò của các biến trung gian 128
4.4 Tổng hợp kết quả nghiên cứu 129
4.4.1 Kết quả đánh giá mô hình đo lường 129
4.4.2 Kết quả đánh giá mô hình cấu trúc 130
4.5 Bàn luận 131
4.5.1 Bàn luận về kết quả nghiên cứu sơ bộ 131
4.5.2 Bàn luận về kết quả nghiên cứu chính thức 132
4.5.2.1 Bàn luận về giả thuyết được chấp nhận 132
4.5.2.2 Bàn luận về giả thuyết bị bác bỏ 139
Trang 95.1 Giới thiệu 143
5.2 Kết luận chung 143
5.3 Hàm ý đối với việc áp dụng mô hình PBB tại các đơn vị sự nghiệp công lập
144 5.3.1 Hàm ý về mặt lý thuyết 144
5.3.2 Hàm ý về mặt thực tiễn 145
5.4 Hạn chế và các hướng nghiên cứu tiếp theo 153
5.4.1 Hạn chế 153
5.4.2 Các hướng nghiên cứu tiếp theo 155
Kết luận chương 5 156 DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 10B Danh mục chữ viết tắt bằng tiếng Anh
CMV Common method variance Biến thiên do phương pháp
EFA Exploratory factor analysis Phân tích nhân tố khám phá
NIS New institutional Sociology Xã hội học thể chế mới
IPSAS International public sector Chuẩn mực kế toán khuc vực công
accounting standard quốc tếPBB Performance - Based Lập dự toán theo kết quả hoạt động
Budgeting (Lập dự toán theo kết quả đầu ra)SEM Structural equation modeling Mô hình cấu trúc tuyến tính
TPB Theory of planned behavior Lý thuyết hành vi dự định
WEF The World Economic Forum Diễn đàn kinh tế thế giới
Trang 11-
-Bảng 1.1 Tổng quan về đơn vị sự nghiệp công lập 30
Bảng 2.1 Tổng hợp các khái niệm về lập dự toán dựa trên kết quả hoạt động 37
Bảng 2.2 Tổng hợp một số định nghĩa về lập dự toán dựa trên kết quả hoạt động 38 Bảng 2.3 Tổng kết các mối quan hệ tác động được các lý thuyết nền ủng hộ 53
Bảng 3.1 Thang đo khái niệm việc áp dụng mô hình PBB 79
Bảng 3.2 Thang đo khái niệm nhận thức về lợi thế tương đối của PBB 80
Bảng 3.3 Thang đo khái niệm rào cản 81
Bảng 3.4 Thang đo khái niệm năng lực của bản thân đối với thay đổi 82
Bảng 3.5 Thang đo khái niệm sự hỗ trợ của tổ chức 83
Bảng 3.6 Thang đo khái niệm khả năng áp dụng của thể chế 84
Bảng 3.7 Thang đo khái niệm thẩm quyền áp dụng 85
Bảng 4.1 Kết quả tổng hợp thang đo các khái niệm sau khi phỏng vấn chuyên gia
104 Bảng 4.2 Tổng hợp Cronbach’s Alpha của các khái niệm bậc 1 105
Bảng 4.3 Cronbach’s Alpha của khái niệm sự hỗ trợ của tổ chức 107
Bảng 4.4 Tổng hợp phân tích EFA cho các cặp khái niệm đơn hướng 109
Bảng 4.5 Tổng hợp kết quả nghiên cứu sơ bộ của khái niệm OS 110
Bảng 4.6 Tổng hợp thông tin về mẫu khảo sát trong nghiên cứu chính thức 113
Bảng 4.7 Thống kê mô tả tổng hợp các khái niệm trong nghiên cứu chính thức 114
Bảng 4.8 Kết quả của việc đánh giá tiêu chí HTMT 119
Bảng 4.9 Tổng hợp các kết quả đánh giá mô hình đo lường điều chỉnh 120
Bảng 4.10 Tổng hợp kết quả đánh giá chỉ số VIF 122
Bảng 4.11 Tổng hợp kết quả đánh giá các giả thuyết nghiên cứu 123
Bảng 4.12 Tổng hợp kết quả tác động của quy mô f2 126
Bảng 4.13 Đánh giá tác động của quy mô q2 127
Trang 12đơn vị sự nghiệp công lập (RD) 128Bảng 4.15 Kết quả đánh giá vai trò trung gian của chi phí chuyển đổi (SC) giữa sựhỗi trợ của tổ chức (OS) và việc áp dụng mô hình PBB tại các đơn vị sự nghiệpcông lập (RD) 128Bảng 4.16 Tổng hợp kết quả đánh giá thang đo khái niệm sự hỗ trợ của tổ chức
129
Bảng 4.17 Tổng hợp kết quả đánh giá mô hình cấu trúc 130Bảng 4.18 Tổng hợp các lý thuyết nền và nghiên cứu trước ủng hộ các giả thuyết 132
Bảng 4.19 Các lý thuyết nền và nghiên cứu ủng hộ các giả thuyết bị bác bỏ 139
Trang 13-
-Hình 2.1 Sơ đồ các yếu tố cơ bản của PBB 40
Hình 2.2 Lý thuyết hành vi dự định (Ajzen, 1991) 46
Hình 2.3 Mô hình phân rã của lý thuyết hành vi dự định (Taylor và Told, 1995) 46
Hình 2.4 Mô hình khuyết tán đổi mới (Rogers, 1983) 48
Hình 2.5 Tổng hợp các lý thuyết nền 53
Hình 2.6 Thể chế khu vực công ở các nước đang phát triển 61
Hình 2.7 Khuôn mẫu của “không gian cải cách” và áp dụng PBB 61
Hình 3.1 Khung lý thuyết nghiên cứu 65
Hình 3.2 Quy trình nghiên cứu đề xuất 67
Hình 3.3 Mô hình nghiên cứu 77
Hình 4.1 Mô hình đo lường điều chỉnh 121
Hình 4.2 Kết quả đánh giá mô hình cấu trúc 124
Trang 14TÓM TẮT
Tiêu đề: Các nhân tố tác động đến việc áp dụng mô hình lập dự toán dựa trên kết quả
hoạt động tại các đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam
Nguyên cứu sinh: Lê Thị Cẩm Hồng Khóa: 2015
Từ khóa: lập dự toán dựa trên kết quả hoạt động, lập dự toán dựa trên kết quả đầu ra,
thông tin kết quả hoạt động, đổi mới kế toán nhà nước, cải cách kế toán nhà nước
Tóm tắt:
Lập dự toán ngân sách dựa trên kết quả hoạt động (PBB) là một trong những công cụquan trọng để hướng dẫn và phân bổ nguồn lực tập trung hướng vào kết quả hoạtđộng PBB giúp khai thác và sử dụng nguồn lực một cách tiết kiệm, hiệu quả và đảmbảo tính bền vững, minh mạch cho NSNN ở nhiều quốc gia Tuy nhiên tại Việt Nam,các đơn vị sự nghiệp công vẫn chưa áp dụng PBB một cách rộng rãi, đồng thời nhữngnghiên cứu về PBB và các nhân tố tác động đến việc áp dụng PBB còn hạn chế Chonên mục tiêu luận án này là “xác định các nhân tố tác động đến việc áp dụng mô hìnhPBB tại các đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam”
Nghiên cứu này vận dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp với 2 giai đoạn: nghiêncứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức Trong nghiên cứu chính thức tác giả xử lý dữliệu thông qua kỹ thuật PLS-SEM dựa trên phần mềm SmartPLS 3.2.9 Kết quả cho
ra 4 nhân tố tác động đến việc áp dụng mô hình PBB gồm nhận thức về lợi thếtương đối của PBB, sự hỗ trợ của tổ chức, thẩm quyền áp dụng và chi phí chuyểnđổi Kết quả của nguyên cứu này giúp cho nhà quản lý đơn vị và các cơ quan cóthẩm quyền có cơ sở đưa ra các chính sách phù hợp để thúc đẩy việc áp dụng môhình lập dự toán mới nhằm quản lý ngân sách một cách hiệu quả hơn, cũng như bổsung vào lý thuyết về lĩnh vực này
Trang 15ABSTRACT OF THE THESIS
Thesis title: Factors affecting the application of performance-based budgeting
models in non-business entities in Vietnam
Keywords: Performanced-based budgeting, budgeting, Performanced information,
government accouting innovation, reform government accounting
Abstract:
Performance-based budgeting (PBB) is considered the important tool to guide andallocate optimal resources in a performance-focused direction PBB helps to exploitand use resources in efficient and ensure the sustainability and transparency of thestate budget in many countries However, in Vietnam, non-business entities have notapplied PBB widely, and research on PBB and the factors affecting PBB application
is limited Therefore, the author conducted this study with the main objective of
"identifying the factors affecting the application of PBB model in non-businessentities in Vietnam" The author uses a mixed research method through 2 steps,preliminary research and formal research In the formal research, the author usedPLS-SEM technique to process analytical data based on SmartPLS software 3.2.9.After analyzing data, it was shown that factors affecting the application of the PBBmodel include perceptions of the relative advantages of PBB, the organizationalsupport, authorization, and switching costs This result contributes to themanagement of units and competent agencies to adopt appropriate policies topromote the application of new budgeting models to manage budgets moreeffectively, as well as to supplement into the theory of this field
Trang 16PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Tại các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển, hiện tượngtham nhũng đã cản trở sự cân bằng ngân sách và làm giảm hiệu quả chi tiêu NSNN(Delavallade, 2006) Vì vậy, để ngăn chặn và phát hiện tham nhũng kịp thời, cácquốc gia đã thực hiện việc đổi mới hệ thống kế toán và ngân sách (Chan, 2003).Đồng thời vấn đề này đã trở thành đề tài cho các nhà nghiên cứu về kế toán khu vựccông ở các nước đang phát triển (Ehsein, 2014; Ouda, 2003), gồm các nghiên cứu vềviệc cải thiện hệ thống kế toán chuyển sang thực hiện kế toán dựa trên nguyên tắc cơ
sở dồn tích và nghiên cứu về việc áp dụng những kỹ thuật kế toán quản trị mới nhưlập dự toán ngân sách hiện đại (Carlin & Guthrie, 2001; Parker & Guthrie, 1993).Bên cạnh đó tại Việt Nam, việc quản lý tài chính công đã đạt được những bước tiếnlớn, đặc biệt trong việc tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho chính quyền cáccấp và các đơn vị sử dụng ngân sách (gồm cả đơn vị hành chính sự nghiệp) Tuynhiên việc phân cấp nhanh chóng khiến việc quản lý trở lên phức tạp hơn, các địa
phương quản lý khoảng 55% tổng chi tiêu của cả nước (Theo báo cáo đánh giá chi
tiêu công giữa Chính phủ Việt Nam và Ngân hàng Thế Giới năm 2017), nhưng tínhhiệu quả, minh bạch và trách nhiệm giải trình chưa tương xứng Trước tình hình đó,Chính phủ đã từng bước cải cách và đổi mới trên nhiều phương diện để phòng chốnglãng phí, thất thoát và đề cao nguyên tắc công khai, minh bạch; nâng cao trách nhiệmgiải trình, trong đó có yêu cầu đổi mới hoạt động lập và phân bổ NSNN trong chiếnlược tài chính đến năm 2020 (QĐ450/QĐ-TTg, 2012), vì việc lập dự toán được xem
là công cụ quan trọng để quản lý và sử dụng nguồn ngân sách một cách hiệu quả.Đồng thời, mô hình lập dự toán hiệu quả và hiệu lực hiện nay là mô hình lập dự toándựa trên KQHĐ (Performance –based budgeting - PBB) Mô hình này đã trở thành
mô hình chi phối ở nhiều quốc gia (A Shah & Shen, 2007), và là xu hướng đổi mớitrong phong trào “quản lý công mới” Mô hình PBB hướng đến đổi mới toàn bộHTTT quản lý tập trung vào KQHĐ, trong đó thông tin KQHĐ được dụng trong cảquá trình lập dự toán, phân bổ các nguồn lực (Budding, Grossi, & Tagesson, 2014)
Trang 17Trong khi đó, tại Việt Nam, mô hình dự toán truyền thống tại các đơn vị công hiệnkhông còn phù hợp, vì mô hình này thiên về kiểm soát các khoản chi, phân bổ nguồnlực tập trung vào đầu vào, không xây dựng mối liên kết giữa đầu vào với đầu ra, do
đó không thể hiện được cách sử dụng nguồn lực hiệu quả và nhà quản lý thiếu tráchnhiệm với KQHĐ (Nguyễn Đức Thanh, 2004) Vì vậy nhà nước đề cập vấn đề đổimới mô hình lập dự toán theo mô hình PBB ngay từ “chiến lược cải cách hành chínhcông năm 2001” (Mục 4.3, QĐ136/QĐ-TTg, 2001) Đặc biệt vấn đề đổi mới còn thểhiện mạnh mẽ thông qua các văn bản như QĐ432/QĐ-TTg (2003) phê duyệt báo cáokhả thi “Dự án cải cách trong quản lý tài chính công” của Thủ tướng Chính phủ vàThông tư 55/TT-BTC (2008) của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thí điểm “xâydựng kế hoạch tài chính trung hạn và kế hoạch chi tiêu trung hạn giai đoạn 2009-2011”, tại 6 Bộ (Tài chính, Giáo dục và Đào tạo, Y tế, Kế hoạch và Đầu tư, Giaothông vận tải, và Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) tại một số địa phương Đồngthời trong luật NSNN 2015 sửa đổi vừa qua đã có quy định về việc quản lý, lập vàphân bổ ngân sách định hướng dựa trên kết quả thực hiện, gắn kết với các quy định
về kế hoạch tài chính 5 năm, cùng với kế hoạch tài chính – NSNN 3 năm, tương tựnhư kinh nghiệm đổi mới của New Zealand Tuy nhiên dù được Bộ tài chính tiếnhành thí điểm từ năm 2009, cùng với chương trình giao quyền tự chủ, tự chịu tráchnhiệm toàn diện về nhiệm vụ, nhân lực và nguồn lực tài chính cho các đơn vị hànhchính sự nghiệp; và có sự thông thoáng trong việc sử dụng các phương pháp lập dựtoán cụ thể cho các đơn vị sự nghiệp trong Luật NSNN số 83/2015/QH13 (2015),nhưng theo đánh giá của Ủy Ban Tài chính – Ngân sách của Quốc Hội tại phiên họpthứ 5 năm 2016 thì việc lập dự toán theo mô hình PBB vẫn chưa được các đơn vịtriển khai thực hiện một cách rộng rãi hoặc vẫn theo cách cào bằng
Thực tế đó cho thấy để mô hình PBB được áp dụng một cách rộng rãi là điều khôngđơn giản, đòi hỏi phải có những thay đổi trong thể chế về mặt luật pháp; cách thứclập kế hoạch ngân sách, điều hành kế hoạch; và văn hóa quản lý theo hướng đảmbảo trách nhiệm giải trình dựa trên kết quả hoạt động (Dũng, Nguyệt, & ctv, 2008).Hơn nữa đối với các dự án đổi mới thì việc đổi mới là một quá trình được thực hiện
Trang 18bởi mọi cá nhân, cho nên xem xét nhận thức của người thực hiện là rất quan trọngtrong việc thông qua bất kỳ một sự thay đổi nào, điều này góp phần dẫn đến sựthành công cho sự thay đổi đó (Ehsein, 2014) Vì vậy bên cạnh những thay đổi vềmặt thể chế pháp lý của Việt Nam trong thời gian qua, cần phải xác định nhữngnhân tố nào sẽ tác động thúc đẩy việc áp dụng mô hình PBB của người lập dự toántại các đơn vị sự nghiệp công ở Việt Nam, để các cơ quan quản lý nhà nước và cáctrưởng đơn vị đưa ra những chính sách tác động đến các nhân tố đó, góp phần thúcđẩy người lập dự toán nhanh chóng áp dụng PBB một cách có hiệu quả.
Ngoài ra những nghiên cứu về PBB khá đa dạng, đã được thực hiện ở nhiều quốcgia khác nhau trên thế giới, và có điều kiện môi trường thực hiện khác so với ViệtNam Hơn nữa những nghiên cứu này chỉ tập trung vào nghiên cứu các kỹ thuật lập
dự toán theo PBB, chưa tập trung vào hành vi con người liên quan đến việc áp dụngPBB, và cho đến nay vẫn chưa phát hiện được công trình nào thực hiện nghiên cứuvấn đề này tại Việt Nam Do vậy, dựa vào những phân tích trên, tác giả nhận thấy
cần thiết phải có một nghiên cứu đầy đủ, sâu sắc hơn về “các nhân tố tác động đến
việc áp dụng mô hình PBB tại các đơn vị sự nghiệp công lập tại Việt Nam”.
2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát: xác định các nhân tố tác động đến việc áp dụng mô
hình PBB tại các đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam
Mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Xác định các nhân tố tác động; điều chỉnh và bổ sung thang đo để đo lường cácnhân tố tác động đến việc áp dụng mô hình PBB của người lập dự toán tại các đơn vị sựnghiệp công lập trong bối cảnh nghiên cứu ở Việt Nam
- Kiểm định và đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến việc áp dụng mô hình PBB tại các đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam
Câu hỏi nghiên cứu: nhằm đạt được các mục tiêu trên, như sau:
- Nhân tố nào tác động đến việc áp dụng mô hình PBB của người lập dự toán tạicác đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam? Các nhân tố được đo lường bằng nhữngthang đo như thế nào?
Trang 19- Mức độ tác động của các nhân tố đến việc áp dụng mô hình PBB tại các đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam như thế nào?
3 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: các nhân tố tác động đến việc áp dụng mô hình PBB của
người lập dự toán tại các đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam
dự toán trong các phòng kế toán và tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công ở Việt Nam.
Việc lựa chọn đối khảo sát này vì đổi mới chuyển sang một phương pháp lập dự toán mớiphụ thuộc vào nhận thức của chính người lập dự toán - là những người
am hiểu về chính công việc lập dự toán cũng như các kỹ thuật lập dự toán khác nhau Đồng thời để làm được công việc lập dự toán cho các hoạt động của đơn vị
trong một năm tài chính yêu cầu người lập dự toán phải nắm được toàn bộ tình hìnhhoạt động của đơn vị, cho nên những người làm công việc lập dự toán này hầu hết
phải là trưởng hoặc phó phòng tài chính - kế toán của một đơn vị sự nghiệp công có
thể đại diện cho đơn vị sự nghiệp đó, vì thế đáp ứng được yêu cầu của nghiên cứu.
4 Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi về mặt nội dung: Thông qua tổng quan nghiên cứu, tác giả phát hiện được
nhiều nhân tố tác động đến việc áp dụng mô hình PBB tại các đơn vị công ở cácquốc gia khác nhau Tuy nhiên trong nghiên cứu này chỉ nghiên cứu những nhân tốphù hợp với đặc điểm đặc thù của kế toán khu vực công ở Việt Nam Đặc biệt chỉnghiên cứu trên đơn vị phân tích là cá nhân người lập dự toán trong các đơn vị sựnghiệp công, vì đây là những đơn vị đã được nhà nước định hướng cải cách quản lýdựa trên kết quả hoạt động và trao quyền tự chủ hoàn toàn thông qua nghị định 16,tiến dần đến mô hình kế toán như khu vực tư Cụ thể sau khi Luật NSNN số 83 sửađổi đã đề cập đến việc lập dự toán theo kết quả thực hiện áp dụng cho các đơn vị sựnghiệp công, và Bộ tài chính cũng đã ban hành Thông tư 107/2017/TT-BTC (2017)
về chế độ kế toán hành chính sự nghiệp dựa trên kế toán dồn tích như khu vực tư
Phạm vi khảo sát: Tác giả thực hiện trên các đơn vị sự nghiệp thuộc các lĩnh vực
như y tế, giáo dục, văn hóa thể thao, và một số lĩnh vực khác, tuy nhiên tập trung
Trang 20phần lớn vào 2 lĩnh vực y tế và giáo dục, ở các khu vực từ TP HCM, Tiền Giang,Vĩnh Long, Cà Mau, Kiên Giang, Tây Ninh, Nha Trang, Nghệ An… Việc chọnnhững đơn vị thuộc 2 lĩnh vực này phù hợp với tỷ trọng các đơn vị sự nghiệp ở cáclĩnh vực theo điều tra kinh tế 2017, trong tổng số các đơn vị thì 2 ngành y tế và giáodục chiếm tỷ trọng lớn đến 80% tổng đơn vị sự nghiệp công Hơn nữa, các địaphương quản lý khoảng 55% tổng chi tiêu ngân sách của cả nước trong đó chi cho y
tế là 80% và giáo dục là 85% Đồng thời trong phạm vi ngân sách địa phương thìviệc áp dụng PBB tùy thuộc vào mức độ tự chủ tài chính của các đơn vị sự nghiệp,chủ yếu tập trung vào các đơn vị tự chủ một phần chi hoạt động thường xuyên hoặc
tự chủ hoàn toàn, cho nên phạm vi khảo sát được thực hiện phần lớn tập trung vào
TP HCM và các tỉnh lân cận miền tây: vì TP HCM là có số lượng đơn vị sự nghiệpcông tự đảm bảo một phần chi hoạt động thường xuyên và tự chủ hoàn toàn tập trungnhiều nhất, đồng thời các tỉnh miền tây từng là khu vực nằm trong đề án thí điểm cảicách xây dựng kế hoạch tài chính trung hạn và chi tiêu trung hạn hỗ trợ cho việcquản lý định hướng theo KQHĐ (Bình Dương, Vĩnh Long) cho nên các đơn vị cóđược những nhận thức nhất định về mô hình PBB Mặc khác các địa phương khảosát mặc dù mang tính đại diện cao nhưng do điều kiện khách quan và thời giankhông cho phép cho nên phạm vi khảo sát vẫn chưa phủ rộng trên phạm vi toàn quốcnhư tên đề tài, vì vậy tác giả xem đây là một trong những hạn chế của đề tài
5 Phương pháp nghiên cứu
Với đề tài này, tác giả lựa chọn phương pháp nghiên cứu hỗn hợp gắn kết, trong đónghiên cứu định lượng là chính và nghiên cứu định tính là phụ đóng vai trò hỗ trợthêm dữ liệu cho nghiên cứu định lượng Nghiên cứu này thực hiện qua hai giai đoạndựa trên quy trình của Churchill Jr (1979) gồm nghiên cứu sơ bộ (thông qua phươngpháp định tính và định lượng sơ bộ) và nghiên cứu chính thức (bằng phương phápđịnh lượng chính thức) Trong đó:
(1) Nghiên cứu định tính: nhằm đạt mục tiêu là nhận diện những nhân tố tác động
đến việc áp dụng mô hình PBB đồng thời giúp điều chỉnh mô hình nghiên cứu, và thang đo của các khái niệm Nghiên cứu định tính được thực hiện dựa trên các
Trang 21nghiên cứu trước phát hiện ra những nhóm nhân tố tác động đến việc lập dự toántheo PBB tại các quốc gia như Hoa kỳ, New Zealand, Úc và một số nước châu Ánhư Malaysia, Singapore, Thái Lan, Indonesia… từ đó phỏng vấn chuyên gia để bổsung các nhân tố và điều chỉnh lại thang đo của các khái niệm.
(2) Nghiên cứu định lượng: nhằm đạt mục tiêu: đánh giá định lượng sơ bộ thang đo
các khái niệm, và đánh giá giá trị của thang đo chính thức, đồng thời kiểm định và
đo lường mức độ tác động của các nhân tố trong mô hình nghiên cứu chính thức.Trước hết nghiên cứu định lượng sơ bộ thông qua bảng câu hỏi khảo sát, sử dụngphân tích hệ số Cronbach’s Alpha cùng với phân tích nhân tố khám phá EFA, vớimẫu là 80 và phần mềm SPSS 20.0 để xử lý cho ra mô hình đo lường chính thức.Sau đó, nghiên cứu định lượng chính thức thực hiện thông qua bảng câu hỏi chi tiết
để khảo sát đối tượng nghiên cứu, với cỡ mẫu là 189 nhằm đánh giá lại mô hình đolường và mô hình cấu trúc cùng với các giả thuyết trong mô hình Trong đó sử dụng
kỹ thuật PLS_SEM để xử lý dữ liệu, thông qua phần mềm SmartPLS 3.2.9
6 Đóng góp mới của đề tài
Về mặt lý thuyết
- Khẳng định sự phù hợp trong việc vận dụng cách tiếp cận đa lý thuyết thông quaviệc kết hợp lý thuyết hành vi dự định, lý thuyết thiên vị nguyên trạng, lý thuyết khuếchtán và lý thuyết thể chế mới để xem xét những nhân tố tác động đến hành vi
của người thực hiện liên quan đến việc thay đổi mô hình lập dự toán mới-PBB
- Xác định mô hình các nhân tố tác động đến việc áp dụng mô hình PBB tại các đơn
vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam và đo lường mức độ tác động của các nhân tố
- Bổ sung và củng cố thêm bằng chứng thực nghiệm cho việc sử dụng hệ thốngthang đo các nhân tố tác động đến việc áp dụng mô hình PBB tại các đơn vị sự
nghiệp công lập ở Việt Nam
- Bổ sung bằng chứng thực nghiệm cho việc vận dụng các lý thuyết nền để thực hiệncác nghiên cứu liên quan đến các nhân tố tác động đến việc chấp nhận đổi mới mô hìnhlập dự toán
Về mặt thực tiễn
Trang 22-Luận án là tài liệu nghiên cứu chi tiết, khoa học giúp các cơ quan quản lý nhà nướclàm căn cứ khoa học để xây dựng các chính sách tác động phù hợp vào các nhân tố
nhằm tăng cường thẩm quyền áp dụng và khả năng áp dụng mô hình PBB của
thể chế, đồng thời gia tăng nhận thức của người lập dự toán về việc áp dụng mô hình PBB và nâng cao trình độ chuyên môn cho người lập dự toán Từ đó, giúp các
đơn vị nhanh chóng lập dự toán theo mô hình PBB một cách hiệu quả
-Về phía các nhà quản lý, luận án cung cấp cơ sở cho thấy để thúc đẩy người lập dựtoán mạnh dạn thay đổi mô hình lập dự toán mới, các trưởng đơn vị cần soạn thảo
các chính sách phù hợp để thúc đẩy gia tăng nhận thức về mô hình PBB và gia tăng cảm nhận của nhân viên về sự hỗ trợ của tổ chức liên quan đến việc áp dụng mô hình PBB cũng như giảm các chí phí chuyển đổi cho người lập dự toán.
7 Kết cấu của luận án
Kết cấu gồm 5 chương, cụ thể:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu - Chương này trình bày khái quát các nghiên cứutrước có liên quan đến vấn đề và lĩnh vực đang nghiên cứu trên thế giới và ở ViệtNam, từ đó nhận diện khoảng trống trong nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết - Chương này giới thiệu về PBB và các lý thuyết nền hình thành nên các khái niệm làm nền tảng để hình thành mô hình nghiên cứu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu - Chương này phát triển giả thuyết nghiên cứu,
mô hình nghiên cứu và mô tả thang đo đề xuất cho từng khái niệm, và trình bày cụ thể phương pháp nghiên cứu trong nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận - Chương này trình bày các kết quả của nghiên cứu sơ bộ và chính thức; và một số bàn luận về các kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và hàm ý - Chương này tóm tắt được các kết quả chính trong chương 4 để rút ra các hàm ý Sau cùng nêu một số hạn chế của đề tài và định
hướng cho các nghiên cứu tiếp theo
Trang 23CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU1.1 Giới thiệu
Chương 1 cung cấp bức tranh tổng quát về các nghiên cứu trên thế giới có liên quanđến vấn đề nghiên cứu Từ đó, xác định được khoảng trống trong nghiên cứu vàđồng thời góp phần minh chứng cho tính cấp thiết của đề tài Nội dung gồm có 4phần: (1) Giới thiệu; (2) Các nghiên cứu nước ngoài; (3) Các nghiên cứu trong nước;(4) Nhận xét các nghiên cứu trước và xác định khoảng trống trong nghiên cứu
1.2 Các nghiên cứu nước ngoài
Nhằm giải quyết vấn đề, tác giả đã nghiên cứu tổng quan các nghiên cứu nước ngoài
và trong nước Đặc thù kế toán khu vực công có những khác biệt nhất định giữa cácquốc gia, và các đơn vị ở các lĩnh vực khác nhau trong một quốc gia, do đó đối với
các nghiên cứu nước ngoài, tiếp cận theo nội dung và không gian Nghiên cứu tổng
quan các nghiên cứu liên quan đến việc áp dụng PBB tại các quốc gia, sau đó
nghiên cứu về các nhân tố tác động đến việc áp dụng PBB, với tiêu chí: thứ nhất,
lựa chọn những nghiên cứu trên những tạp chí uy tín và các bài luận án và luận văn
từ năm 1999 trở về sau để nghiên cứu, vì giai đoạn đó PBB được phát triển và áp
dụng rộng rãi sang nhiều nước trên thế giới (A Shah & Shen, 2007) (xem Phụ lục
7); Thứ hai, đánh giá các tạp chí học thuật đối với các nghiên cứu nước ngoài, tác
giả dùng bảng xếp hạng tạp chí được cung cấp bởi ABS (2015) và SCJmago (http://www.scimagojr.com/) làm điểm tham chiếu các tạp chí học thuật
1.2.1 Các nghiên cứu liên quan đến việc áp dụng mô hình PBB tại các quốc gia
Việc áp dụng mô hình PBB được nghiên cứu ở phạm vi đơn vị công, nhưng việc kếthợp các quan điểm vĩ mô và vi mô có thể cung cấp những hiểu biết mới và giúp
nhận diện những nhân tố có tác động đáng kể (Grossi, Reichard, & Ruggiero, 2016).
Vì vậy, phần này trình bày các nghiên cứu liên quan đến việc áp dụng mô hình
PBB
ở phạm vi cấp quốc gia, trước khi tìm hiểu các nghiên cứu liên quan ở cấp đơn vị
Theo Chan, Jones, and Lüder (1996) nghiên cứu về lập dự toán là một phần trong chuỗi các nghiên cứu về kế toán nhà nước, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong thời kỳ quản lý công mới Bên cạnh đó, xu hướng cải cách hệ
Trang 24thống kế toán và NSNN là vấn đề cốt lõi của nhiều quốc gia phát triển và đang pháttriển trong các thập kỷ qua như Hoa kỳ, New Zealand, Anh, Úc, Hà Lan, Thụy Điển,Phần Lan, Canada, và Albania, Malaysia, Ai Cập, Nam Phi, …(Ouda, 2003, 2008,2010), trong đó có Việt Nam, với mục tiêu đổi mới và tăng cường hiệu quả quản lýtài chính (A Shah & Shen, 2007).
Mô hình PBB là cách quản lý, lập dự toán giống cách quản lý trong doanh nghiệp; vàhiện là hướng đổi mới quản lý tài chính công của nhiều nước Các quốc gia có kinhnghiệm trong việc áp dụng PBB là những quốc gia có kinh nghiệm lâu dài trong việcthực hiện quá trình đổi mới, đặc biệt: Hoa kỳ là quốc gia đầu tiên khởi xướng việc ápdụng PBB (Talebnia, Vakilifard, Yeganeh, & Mohammadipour, 2012) Vì vậy, các
nghiên cứu về áp dụng PBB đều học kinh nghiệm của Hoa Kỳ, và các quốc gia tiên
phong trong cải cách quản lý ngân sách dựa trên KQHĐ, như: New Zealand, Canada,Thụy Điển và Vương quốc Anh (Ehsein, 2014; Mauro, Cinquini, & Grossi, 2017)
Trong Phụ lục 1, 4 nghiên cứu chính về tình hình áp dụng PBB ở một số quốc gia,
ngoài ra A Shah and Shen (2007) đã tổng hợp đầy đủ những nội dung liên quan đếnPBB gồm: khái niệm, vai trò, tác động của PBB Bên cạnh đó Shah và Shen còn sosánh ưu nhược điểm các mô hình khác nhau, và kinh nghiệm chuyển sang PBB củacác quốc gia phát triển (New Zealand, Úc và Hà Lan); cũng như các quốc gia đangphát triển (Malaysia, Chilean, Thái Lan, Boliva) Đặc biệt A Shah and Shen (2007)
đã đề cập đến các điều kiện quan trọng để áp dụng mô hình PBB hiệu quả, như: sự
hỗ trợ về pháp lý, hỗ trợ và sự tham gia của người dân, năng lực hành chính tối thiểu,đào tạo nhân viên… Các nghiên cứu này là bằng chứng chứng minh để áp dụng
thành công mô hình PBB thì yêu cầu phải có sự hỗ trợ của thể chế về mặt pháp lý
và khả năng áp dụng của thể chế Sau đây là một số phát hiện trong các nghiên cứu: Tại các quốc gia phát triển
- Kinh nghiệm thực hiện PBB ở Úc và New Zealand: Carlin and Guthrie (2001) vớiphương pháp định lượng dạng khảo sát, cho thấy rằng: mặc dù có những nhận thức
về lợi ích của mô hình PBB thúc đẩy quá trình đổi mới sang áp dụng PBB tại Úc và
New Zealand, tuy nhiên vẫn tồn tại một số vấn đề trong quá trình áp dụng PBB, đó là
Trang 25năng lực của người thực hiện, thiếu kiến thức để định nghĩa về KQHĐ, và thiếu
năng lực để có thể tính toán đo lường được KQHĐ cung cấp các thông tin phục vụcho việc lập dự toán, do đó việc áp dụng PBB vẫn chưa đạt được hiệu quả
- Trong nghiên cứu của Lee and Wang (2009) với phương pháp định tính, xem PBB
là biến ngoại sinh tác động đến hành vi chi tiêu của Chính phủ, qua việc tìm hiểu mô
hình chi tiêu tăng trưởng của Hoa kỳ, Đài Loan và Trung Quốc, với việc thực hiện
PBB Nghiên cứu này nhấn mạnh đến nhận thức về lợi ích của việc thực hiện PBB
trong việc giảm tỷ lệ gia tăng trong chi tiêu, cải thiện thâm hụt và mức thặng dư.Nhận thức này góp phần làm tăng thêm động lực chuyển sang PBB của các quốc gia
Tại các quốc gia đang phát triển
- Indonesia (quốc gia đang phát triển như Việt Nam), Syukri (2005) dùng phươngpháp định tính, nghiên cứu kinh nghiệm thực hiện PBB của Hoa kỳ về cách đánhgiá toàn diện hệ thống đo lường KQHĐ Qua đó, Syukri nhận diện các yếu tố quantrọng và các bước cần thiết để thực hiện PBB cho Indonesia Kết quả này là nhấn
mạnh kiến thức và năng lực đo lường KQHĐ của người lập dự toán và của các
nhà quản lý là yếu tố quan trọng để thực hiện PBB Những phát hiện này cũng
phù hợp với phát hiện của Carlin and Guthrie (2001) thực hiện ở Úc, bên cạnh đóSyukri (2005) còn cho thấy rằng một yếu tố hỗ trợ cần thiết nữa, khá quan trọng, đó
là những hướng dẫn chi tiết liên quan đến PBB trong các văn bản pháp luật.
- Bawono (2015) với phương pháp định tính, tiếp tục kế thừa nghiên cứu trước, vànghiên cứu kinh nghiệm của Hoa Kỳ để củng cố cho kết quả của Syukri (2005) Bawonocòn nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia khác (Anh, Úc, Đan Mạnh) kết hợp với môhình FMR của Lüder (2002) và lý thuyết xã hội học thể chế mới (New institutionalsociology-NIS) khám phá nhiều vấn đề tác động đến việc áp dụng PBB ở Indonesia Kết
quả Bawono (2015) phát hiện ra nhân tố chính là “nhận thức về lợi thế tương đối của
PBB” trong việc cung cấp nhiều thông tin hơn so với các
phương pháp khác phục vụ cho việc đánh giá trong quản lý Tuy nhiên các quốc giakhác nhau có đặc điểm về thể chể cũng như những hạn chế khác nhau, do đó cầnphải điều chỉnh thể chế (khả năng áp dụng và thẩm quyền áp dụng) phù hợp với các
Trang 26yêu cầu của PBB trước khi chuyển sang PBB Những thay đổi này góp phần tạo điềukiện thuận lợi hỗ trợ cho việc triển khai áp dụng PBB thành công (Robinson, 2007)
Tóm tại qua các nghiên cứu tổng quan về việc áp dụng mô hình PBB ở một số quốc
gia cho thấy việc thực hiện PBB là xu hướng tất yếu trong quá trình cải cách của các quốc gia Tuy nhiên cần có thời gian và phụ thuộc nhiều nhân tố tác động liên quan đến thể chế (gồm khả năng đo lường KQHĐ và áp dụng PBB của thể chế, và thẩm quyền áp dụng) để thực hiện thành công mô hình PBB ở một quốc gia Hơn nữa trong một quá trình đổi mới không thể không xét đến yếu tố con người, đặc biệt những người trực tiếp thực hiện lập dự toán, là yếu tố quan trọng quyết định cho sự thành công của việc áp dụng mô hình PBB (Hepworth, 2003) Vì vậy các phần tiếp
theo là tổng quan nghiên cứu về các nhân tố tác động thúc đẩy người lập dự toán áp dụng PBB một cách hiệu quả trong phạm vi cả tại một quốc gia, và tại một đơn vị.
1.2.2 Các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến việc áp dụng mô hình PBB 1.2.2.1 Các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến việc chấp nhận áp dụng một sự đổi mới tại các đơn vị.
Xu hướng cải cách quản lý ngân sách dựa trên KQHĐ đã làm thay đổi phương thức
lập dự toán, cụ thể là chuyển từ tập trung vào đầu vào sang tập trung vào kết quả
dẫn đến “sự gia tăng lượng thông tin và thay đổi loại thông tin được tạo ra để dùng
cho mục đích quản lý và lập dự toán” (Kristensen, Groszyk, & Bühler, 2002, p 10).
Do đó trọng tâm của một số nghiên cứu về việc áp dụng PBB là khám phá sự
chấp nhận đổi mới trong việc sử dụng các thông tin về KQHĐ trong nội bộ đơn
vị phục vụ cho việc lập dự toán (Ví dụ: J Melkers & Willoughby, 2005; Moynihan
& Pandey, 2010; J Taylor, 2009) Vì vậy nghiên cứu này xem xét những nghiên cứu
nước ngoài liên quan đến việc áp dụng một sự đổi mới hoặc sự đổi mới HTTT nói
chung (như đổi mới về: công nghệ; kỹ thuật kế toán quản trị mới hoặc chuyển đổi
HTTT mới định hướng quản lý dựa trên KQHĐ) để phát hiện những nhân tố có thể
tác động đến việc áp dụng PBB và những lý thuyết nền tảng nói chung Cụ thể:
- Premkumar and Roberts (1999) với phương pháp hỗn hợp đánh giá những nhân tố
ảnh hưởng đến việc áp dụng một công nghệ mới trong các đơn vị nhỏ ở cộng đồng
Trang 27nông thôn của Hoa Kỳ Các phát hiện cho thấy sự hỗ trợ của nhà quản lý cấp cao,
quy mô của các tổ chức, lợi thế tương đối, căng thẳng bên ngoài và căng thẳng cạnh
tranh, là những yếu tố quan trọng thúc đẩy việc áp dụng một sự đổi mới Các phát
hiện này của Premkumar and Roberts (1999) chứng minh cho tác động của nhận
thức về lợi thế tương đối của sự đổi mới đến hành vi áp dụng sự đổi mới Đồng
thời I Brown, Cajee, Davies, and Stroebel (2003) cũng đã xác nhận sự tác động của
nhận thức về lợi thế tương đối đối với việc khuếch tán một sự đổi mới.
- Adler, Everett, and Waldron (2000) với phương pháp định lượng 165 nhà sản xuất,kiểm tra mức độ các nhà sản xuất ở New Zealand dùng các kỹ thuật kế toán quản trị
mới nói chung, xu hướng áp dụng, cũng như nhận thức về những rào cản đối với cácnhà sản xuất ảnh hưởng đến hành vi chấp nhận Adler et al (2000) cho thấy nhữngrào cản nghiêm trọng nhất tác động đến việc áp dụng các kỹ thuật kế toán mới là
những hạn chế liên quan đến nguồn nhân lực của đơn vị, như thiếu các kỹ năng liên
quan với chi phí hợp lý, thiếu thời gian, thói quen quản lý, chi phí thuê những nhân
viên có năng lực Từ đó cho thấy bên cạnh nhận thức về lợi thế tương đối của kỹ thuật kế toán mới, cần phải xét các rào cản liên quan đến khả năng và nhận thức
của người thực hiện trong việc áp dụng một kỹ thuật kế toán mới trong một đơn vị.
- Hoặc Julnes and Holzer (2001) với phương pháp định lượng trên 934 cá nhân đã
xem xét những nhân tố tác động đến việc sử dụng thông tin KQHĐ Julnes and
Holzer (2001) đã dựa vào lý thuyết hợp lý và công nghệ để nhận biết những nhân tốtác động đến việc sử dụng thông tin đo lường KQHĐ Theo đó việc áp dụng mộtchính sách mới bị chi phối bởi các nhân tố từ lý thuyết hợp lý và công nghệ, tuynhiên kết quả của Julnes and Holzer (2001) cho thấy thực tế bị ảnh hưởng bởi yếu tốchính trị và văn hóa Do đó Julnes and Holzer (2001) đã củng cố thêm cho tác động
của thể chế và nhận thức về lợi thế tương đối của PBB đến việc áp dụng PBB.
- Ngoài ra Kim and Kankanhalli (2009) với phương pháp định lượng trên 202 cánhân, đã phát triển mô hình giải thích sự phản kháng của người dùng trước khi thựchiện một HTTT mới bằng cách tích hợp các lý thuyết về sự chấp nhận công nghệ,
và sự phản kháng dựa trên quan điểm thiên vị nguyên trạng Kim and Kankanhalli
Trang 28(2009) cho thấy vai trò trọng tâm của chi phí chuyển đổi của người dùng làm tăng
sự phản kháng của người dùng Hơn nữa, chi phí chuyển đổi còn làm trung gian
cho mối quan hệ tác động giữa các khái niệm khác (ý kiến đồng nghiệp và năng lực
của bản thân với thay đổi) với sự phản kháng của người dùng Ngược lại, nhận
thức về giá trị đổi mới và hỗ trợ của tổ chức lại làm giảm sự phản kháng của
người dùng Nghiên cứu này nâng cao hiểu biết đối với các lý thuyết về sự chấpnhận và phản kháng của người dùng trước khi triển khai HTTT mới và đưa ra các đềxuất cho các tổ chức để quản lý sự phản kháng đó Ngoài ra giúp phát hiện thêm
nhân tố có thể tác động đến việc áp dụng PBB là năng lực của bản thân đối với thay
đổi, đồng thời cũng là bằng chứng củng cố cho sự tác động của chi phí chuyển đổi
(là một trong các rào cản liên quan đến người thực hiện) và sự hỗ trợ của tổ chức.
- Naranjo-Gil (2009) thông qua lý thuyết bất định xem xét tác động của những nhân
tố thuộc về môi trường và thuộc về tổ chức đến việc áp dụng một sự đổi mới trongcác tổ chức công (các bệnh viện ở Tây Ban Nha) Đồng thời làm thế nào các đổimới về kỹ thuật và quản lý hành chính theo KQHĐ tác động đến KQHĐ của đơn vị.Với phương pháp định lượng trên 112 đơn vị công, kỹ thuật xử lý PLS-SEM, kếtquả của Naranjo-Gil (2009) cho thấy cả 2 yếu tố trên đều tác động đến việc đổi mới
và yếu tố thuộc về môi trường tác động nhiều hơn
Nhìn chung, qua các nghiên cứu trên giúp nhận diện được những nhân tố có thể tác
động đến việc áp dụng PBB tại các đơn vị công ở các quốc gia, gồm: nhận thức về
lợi thế tương đối của PBB, rào cản, năng lực của bản thân đối với thay đổi, sự hỗ trợ của tổ chức và các yếu tố của thể chế (khả năng áp dụng của thể chế và thẩm quyền áp dụng).
1.2.2.2 Các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến việc áp dụng mô hình PBB.
Tại chính quyền địa phương của một số quốc gia
Các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến việc áp dụng PBB phân tích trên cá nhânthì không nhiều (Hirschheim & Newman, 1988) Trong khi đó những lý do khiếnviệc thực hiện một dự án đổi mới bị thất bại đều xuất phát từ sự phản kháng chống lại
sự thay đổi của cá nhân người tham gia Do đó trong luận án này nghiên cứu tập
Trang 29trung vào vấn đề hành vi của người áp dụng PBB, tuy nhiên do đặc thù thể chế khuvực công của một số quốc gia có sự khác biệt, xuất phát từ thể chế chính trị, cũngnhư từ mối quan hệ giữa bộ máy nhà nước và thể chể chính trị trong quá trình pháttriển của một quốc gia, vì vậy trước khi kiểm nghiệm các nhân tố tác động đến hành
vi của người thực hiện nói riêng, tác giả đã thông qua 7 nghiên cứu trên thế giới để
tìm hiểu các nhân tố tác động nói chung trên phạm vi bối cảnh của một quốc gia
mà mỗi người tham gia trong bối cảnh đó sẽ bị chi phối Bảy nghiên cứu được
tổng hợp trong Phụ lục 3 gồm: Andrews (2004); Grizzle and Pettijohn (2002);
Jordan and Hackbart (2005); Kluvers (1999); Niu, Ho, and Ma (2006); Talebnia et al.(2012); Wang (1999) Sau đây tóm tắt một số vấn đề đặc trưng đã được phát hiệntrong 7 nghiên cứu trên về các nhân tố tác động đến việc áp dụng PBB trên phạm vingân sách địa phương (tỉnh, tiểu bảng) của một số quốc gia, gồm các quốc gia pháttriển đã định hướng quản lý chi tiêu công theo KQHĐ hơn ba thập kỷ qua, đặc biệtNew Zealand và Úc là tiền thân của quản lý theo KQHĐ từ cuối những năm 1980:
- Tại tiểu bang Victoria (Úc), Kluvers (1999) với phương pháp định tính, tiến hànhnghiên cứu những điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng PBB Nghiên cứu này điều tra các
lý do có thể khiến cho chính quyền địa phương ở Victoria phải lựa chọn lập dự toán theokhoản mục, hay lập dự toán dựa trên KQHĐ hoặc kết hợp cả hai Thông qua Kluvers
(1999) giúp chứng minh cho mối quan hệ tác động của nhân tố “nhận thức về lợi thế
tương đối của PBB” và “sự hỗ trợ của tổ chức” đến việc áp dụng PBB phù hợp với
những kết quả của các nghiên cứu trước, đồng thời phát hiện thêm nhân tố “rào cản”
trong nhận thức của người thực hiện đã cản trở việc áp dụng PBB của người lập dự toán(như việc người lập đã quen thuộc với hệ thống ngân sách cũ)
- Tại tiểu bang Florida (Hoa kỳ), Grizzle and Pettijohn (2002) qua nghiên cứu định
lượng với định tính phát triển mô hình lý thuyết hệ thống động lực học, cung cấp
khuôn khổ lý thuyết mới nghiên cứu việc sử dụng PBB tại Florida Xác định một sốhành động ngắn hạn làm tăng sự thành công của việc áp dụng PBB, như cung cấpthông tin truyền thông rõ ràng, tạo điều kiện thuận lợi cho quy trình ngân sách và kếtoán, và thông tin về KQHĐ đáng tin cậy Grizzle and Pettijohn (2002) xác định
Trang 30những hỗ trợ về lập pháp quan trọng đối với việc thực hiện PBB, nhìn chung Grizzle
and Pettijohn (2002) đã chứng minh việc áp dụng PBB chịu sự tác động của “Khả
năng áp dụng của thể chế” và “Thẩm quyền áp dụng” từ dó thúc đẩy việc áp
dụng PBB tại đơn vị công (phù hợp với các nhân tố đã phát hiện trong Wang (1999))
- Andrews (2004) với phương pháp định tính đã nghiên cứu 3 nhân tố tác động đếnkhông gian cải cách: “thẩm quyền (về: luật, thủ tục và tổ chức)”, “chấp nhận (về khíacạnh: chính trị và quản lý, và ưu đãi phù hợp)”, và “khả năng (liên quan đến: năng lựcnhân viên, khả năng kỹ thuật và đánh giá KQHĐ)”, 3 nhân tố này tạo những điều kiệnthuận lợi cho việc áp dụng PBB Do đó để thực hiện PBB thì chính phủ các quốc gia cầnthực hiện các chính sách liên quan đến PBB một cách phù hợp nhằm mở rộng không giancải cách Andrews (2004) góp phần xây dựng một mô hình tổng hợp tất cả những nhân tốliên quan đến thể chế đã phát hiện trong những nghiên cứu trước, trong đó nhấn mạnh việccải cách sẽ thành công hơn trong trường hợp các cơ sở pháp lý rõ ràng và toàn diện liênquan đến dự án đổi mới, cho thấy cần sự hỗ trợ của cơ quan lập pháp (Andrews, 2004; Y
Lu, Willoughby, & Arnett, 2009) Đồng thời các nghiên cứu: Jordan and Hackbart (2005)
và Niu et al (2006) đã chứng minh sự tác động của những nhân tố này trong môi trườngcủa các quốc gia khác nhau
- Tại Quảng Đông (Trung Quốc): Niu et al (2006) phân tích việc thực hiện PBB tạiQuảng Đông, tìm hiểu những thành tựu và thách thức trong tương lai Kết quả rằng sựthành công của việc chuyển sang PBB ở Quảng Đông phụ thuộc vào việc cải thiện nănglực quản lý và kỹ thuật của bộ máy quan liêu Trung Quốc, và về ý chí chính trị của lãnhđạo để giải quyết một số câu hỏi chính trị nhạy cảm, như sắp xếp tài chính liên chính phủ
và mối quan hệ đảng-nhà nước Đồng thời, so sánh kinh
nghiệm các nước phương Tây, Niu et al (2006) xác định một số nhân tố quan trọngvới sự thành công của cải cách sang PBB, gồm: đảm bảo sự hỗ trợ của nhà lãnh đạohàng đầu, kiên nhẫn và đưa ra thời gian cải cách để phát triển, và tập trung vào sựthay đổi văn hóa Niu et al (2006) chứng minh cho yếu tố sự hỗ trợ của nhà lãnh
đạo cấp cao, và thay đổi văn hóa của các quốc gia, cho thấy các nhân tố về thể chế
có tác động đến việc áp dụng PBB, phù hợp với nghiên cứu của Andrews (2004)
Trang 31 Tại các đơn vị công của một số Quốc gia
Sau khi nghiên cứu ở phạm vi quốc gia, phần này giới thiệu các nghiên cứu trên thếgiới chứng minh cho sự tác động của các nhân tố đã được nhận diện ở trên đến việc
áp dụng PBB tại các đơn vị công, thông qua 9 nghiên cứu chính xem xét các nhân tốtác động đến việc áp dụng PBB tại các đơn vị công gần đây, gồm: Abdollahifar andOoshaksaraie (2016); Aliabadi, Mashayekhi, and Gal (2019); Barati and Gelard(2016); Ehsein (2014); Erkutlu, Tanç, and Koçyiğit (2017); Iratni, Djasuli, andHayati (2012); Y I Lu (2007); Naseri, Zadeh, Arefi, Noushiravani, and Shamsaie
(2014); Saeidasefzadeh, Farzadpeiravian, and Shamsiekhtiar (2014) (xem Phụ lục
4) Sau đây tóm tắt những vấn đề trong một số nghiên cứu chính:
Đối với các đơn vị trong khu vực công nói chung:
- Tại tiểu bang Georgia ở Hoa Kỳ, Y I Lu (2007) với phương pháp định lượng trên
194 đơn vị tại Georgia, đã tìm hiểu các đơn vị công sử dụng thông tin đo lường KQHĐ vàcác nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng thông tin đo lường KQHĐ cho
lập dự toán Kết quả cho rằng yếu tố quản lý có ảnh hưởng quan trọng đến việc dùngthông tin KQHĐ cho việc lập dự toán, đồng thời việc lập dự toán phải được địnhhình bởi bối cảnh quản lý Do đó, chỉ khi các đơn vị được quản lý dựa trên KQHĐ thìđơn vị sẽ lập dự toán phân bổ nguồn lực theo KQHĐ Cho nên việc quản lý dựa trênKQHĐ là điều kiện tiên quyết và là công cụ để thực hiện PBB Ngoài ra yếu tố vănhóa môi trường bên ngoài định hướng dựa trên KQHĐ cũng ảnh hưởng tích cực đếnviệc sử dụng thông tin KQHĐ; thực hiện nghiêm túc việc dùng và thực hiện đo lườngKQHĐ trong các giai đoạn tài trợ, phân bổ nguồn lực; và việc dùng thông tin đolường KQHĐ vào các giai đoạn ngân sách được chấp nhận, được sử dụng bởi nhữngngười ra quyết định trong hệ thống Cuối cùng, chất lượng đo lường, góp phần hữuích cho đo lường, và cần thiết nhưng không phải là điều kiện đủ để sử dụng cho lập
dự toán Nghiên cứu này đã chứng minh nhân tố “sự hỗ trợ của tổ chức” (cụ thể sự
hỗ trợ của nhà quản lý) và các nhân tố thuộc về thể chế (liên quan đến khả năng áp
dụng của thể chế) có tác động đến việc áp dụng PBB tại các đơn vị.
Trang 32- Tại quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ: Erkutlu et al (2017) dùng phương pháp định lượngnghiên cứu những nhân tố thúc đẩy việc chuẩn bị và thực hiện PBB trong các tổchức công ở các quốc gia đang phát triển như Thổ Nhĩ Kỳ và đo lường mức độ nhậnthức của nhân viên trong các tổ chức này Kết quả: tính minh bạch tài chính, khungchi phí trung hạn và các thỏa thuận về thể chế khác là các nhân tố quan trọng trongviệc phát triển PBB Nhìn chung lại, Erkutlu et al (2017) cũng phù hợp với các pháthiện của những nghiên cứu trước về sự tác động của thể chế đến việc áp dụng PBB.
Ngoài ra , sự tác động của khả năng áp dụng của thể chế và thẩm quyền áp dụng
(cụ thể về khía cạnh thực hiện kế toán dồn tích và quy định pháp lý…) còn đượcphát hiện trong các nghiên cứu sau: Abdollahifar and Ooshaksaraie (2016); Iratni et
al (2012); Saeidasefzadeh et al (2014) (cụ thể trong Phụ lục 4)
Đối với các đơn vị thuộc lĩnh vực giáo dục:
- Tại quốc gia Libya: Ehsein (2014) với phương pháp hỗn hợp trên 432 nhân viên kếtoán, tài chính, nghiên cứu những nhân tố tác động đến sự sẵn sàng chấp nhận PBB trongcác tổ chức giáo dục đại học ở Libya (quốc gia đang phát triển như Việt Nam) Kết quả
nghiên cứu ở Libya, giúp Ehsein phát hiện lợi thế tương đối, sự hỗ
trợ của tổ chức, sự hài lòng với mô hình dự toán theo khoản mục, rào cản liên quan đến người thực hiện, dung hòa được sự mơ hồ (Tolerance of Ambiguity)
và đào tạo ảnh hưởng đến sự sẵn sàng áp dụng PBB Nghiên cứu này cho rằng: để
áp dụng thành công PBB, Chính phủ Libya nên đảm bảo cung cấp những hỗ trợ cầnthiết như cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực cho sự sẵn sàng chấp nhận thay đổi theo
PBB Nghiên cứu này đã chứng minh cho những nhân tố: nhận thức về lợi thế
tương đối, sự hỗ trợ của tổ chức và các rào cản trong nhận thức của người thực hiện liên quan đến việc áp dụng PBB mà tác giả đã phát hiện trong phần trên.
- Tại quốc gia Iran, Aliabadi et al (2019) với phương pháp định tính, nghiên cứu lý
do thất bại của việc thực hiện PBB tại các trường đại học và viện nghiên cứu công, đó là do sự
lỏng lẻo giữa nhận thức của người thực hiện và quy trình ngân sách được
quy định Do đó nhóm tác giả của nghiên cứu này đã đề xuất những giải pháp tác
động thông qua các yếu tố bên trong, bên ngoài và hành vi đến nhận thức về PBB
Trang 33để cải thiện quá trình lập dự toán hiện tại của các trường đại học và viện nghiên cứu
công tại Iran Kết quả này chứng minh tầm quan trọng của nhận thức về PBB của
người lập dự toán trong việc thực hiện thành công mô hình PBB.
Đối với các đơn vị thuộc lĩnh vực y tế:
- Tại Quốc gia Iran: Naseri et al (2014) thông qua nghiên cứu định lượng vận dụng
mô hình A Shah (1998) gồm ba nhóm khái niệm: thẩm quyền (authority), chấp nhận
(acceptance) và khả năng (ability) để phát hiện ra các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực
hiện PBB trong các trường đại học Y khoa ở Cộng hòa Hồi giáo Iran Kết quả phát hiện,
bất kỳ một sự thay đổi trong thủ tục kế toán đều cần có thời gian,
và có những trở ngại dẫn đến khó triển khai áp dụng PBB là do thiếu các nhân tốsau: khả năng đánh giá, đo lường KQHĐ, nguồn lực con người, thẩm quyền pháp lý
và hành chính, sự chấp nhận chính trị, và sự tuân thủ các ưu đãi Kết quả của Naseri
et al (2014) cũng phù hợp với những nghiên cứu trước (ví dụ Talebnia et al (2012)nghiên cứu việc áp dụng PBB, xét trên cả 3 giai đoạn của quá trình áp dụng PBBcho các đơn vị công ở Iran), đóng góp thêm bằng chứng mạnh mẽ chứng minh cho
nhân tố “khả năng áp dụng của thể chế” và “thẩm quyền áp dụng”.
- Tại thủ đô Tehran ở Iran, Barati and Gelard (2016) nghiên cứu nhân tố tác động
đến hiệu quả của hệ thông PBB ở bệnh viện Fatemeh Zahra với phương pháp định
lượng, kết quả của Barati and Gelard (2016) chỉ ra 3 nhóm nhân tố, gồm: nhân tố kỹ
thuật và quy trình (với điều kiện tiên quyết là chuyển đổi hệ thống kế toán phù hợp),
nhân tố môi trường (về mặt chính trị như chế độ, điều kiện chính trị, thỏa thuận và
phối hợp ở những cấp độ khác nhau giữa hành pháp và lập pháp cũng như trách
nhiệm của tổ chức đối với xã hội) và nhân tố con người (người trực tiếp tham gia bị
ảnh hưởng bởi định hướng của người quản lý, số lượng được đào tạo, hệ thống thanhtoán và phúc lợi phù hợp) tác động tích cực và đáng kể đến hiệu quả thực hiện PBB
1.3 Các nghiên cứu trong nước
Hiện nay, các nhà nghiên cứu về kế toán tại Việt Nam đang mở rộng hướng nghiêncứu sang lĩnh vực kế toán khu vực công, nhưng chủ yếu tập trung nghiên cứu việcxây dựng chuẩn mực kế toán công quốc gia theo định hướng chuẩn mực kế toán
Trang 34công quốc tế Các công trình nghiên cứu, bài báo khoa học cùng với các hội thảoliên quan đến việc ban hành chuẩn mực kế toán công được Bộ Tài chính tổ chức với
sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Trong khi đó các nghiêncứu khoa học liên quan đến việc đổi mới mô hình quản lý ngân sách dựa trên KQHĐmới được các nhà nghiên cứu gần đây quan tâm, khi Việt Nam định hướng thay đổi
trong quản lý chi tiêu ngân sách trong thời gian qua (xem Phụ lục 5) Tuy nhiên
những nghiên cứu này mới tập trung nghiên cứu việc lập toán ngân sách trên phạm
vi cấp quốc gia, chưa nghiên cứu ở cấp đơn vị Một số nghiên cứu nổi bật như:
1.3.1 Các nghiên cứu liên quan đến việc áp dụng mô hình PBB
- Nguyễn Đức Thanh (2004) nghiên cứu về hoàn thiện phương pháp lập dự toánNSNN Việt Nam bằng phương pháp nghiên cứu từ lý thuyết đến thực tiễn, qua đó
thấy được những đặc điểm và ưu nhược điểm của mô hình PBB so với các mô hình
dự toán khác Bên cạnh đó còn đánh giá được thực trạng việc lập dự toán NSNN vàquản lý chi tiêu công ở Việt Nam cũng như những bất cập của mô hình dự toántruyền thống và mô hình quản lý chi tiêu công đang áp dụng tại Việt Nam NguyễnĐức Thanh (2004) chứng minh thực trạng mô hình truyền thống hiện nay không cònphù hợp, không giúp xây dựng được mối liên kết giữa đầu vào với đầu ra, do đókhông thể hiện được cách sử dụng nguồn lực hiệu quả và nhà quản lý thiếu tráchnhiệm với KQHĐ Đồng thời kết quả này còn cho thấy PBB có những lợi thế hơn sovới mô hình truyền thống, khắc phục những nhược điểm trên, thúc đẩy các nhàchính trị nhanh chóng thay đổi thể chế để chuyển đổi sang áp dụng PBB
- Trần Thị Thanh Hương (2007) nghiên cứu về “phương pháp lập dự toán ngân
sách theo kết quả đầu ra trong quản lý chi tiêu công của Việt Nam”, bằng phương
pháp hỗn hợp kết hợp cả định tính và định lượng Kết quả của Trần Thị ThanhHương (2007) giúp cập nhật tình hình lập dự toán và quản lý chi tiêu công tại ViệtNam, và cho rằng mô hình PBB là thích hợp để nâng cao hiệu quả sử dụng cácnguồn lực hạn hẹp, mang lại lợi ích cao nhất cho xã hội Nghiên cứu cũng chứng
minh rằng nhận thức về lợi thế tương đối của PBB so với mô hình dự toán hiện tại,
đã thúc đẩy nhu cầu đổi mới mô hình truyền thống sang mô hình PBB
Trang 35- Nguyễn Thị Minh (2008) nghiên cứu về “đổi mới quản lý chi NSNN trong điều
kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam” Nghiên cứu này đã đánh giá về thực trạng quản lý
chi NSNN ở Việt Nam dưới 4 góc độ quản lý chi theo: yếu tố đầu vào; chương
trình, dự án; kết quả đầu ra; và chu trình ngân sách kết hợp với khuôn khổ chi tiêutrung hạn Đồng thời tổng kết kinh nghiệm của một số nước như Pháp, Đức, Hoa
Kỳ, Anh, New Zealand và rút ra một số bài học về quản lý chi NSNN cho Việt Nam.Tuy nhiên Nguyễn Thị Minh (2008) mới tập trung đánh giá thực trạng của Việt Nam
về chính sách chi NSNN, lập dự toán, phương thức quản lý chi theo yếu tố đầu vào
- Quãng Thị Mỹ Yến (2019) đã nghiên cứu “ứng dụng phương thức lập ngân sách
theo hiệu quả hoạt động vào dự toán trung hạn ngành kế toán doanh nghiệp trong
trường hợp trường cao đẳng cộng đồng Đồng Tháp”, trên cơ sở thu thập thông tin
thứ cấp của Nhà nước giai đoạn 2015-2018 để giải quyết vấn đề Kết quả của QuãngThị Mỹ Yến (2019) xây dựng một hình mẫu về phương thức lập ngân sách trunghạn theo KQHĐ, đóng góp vào tài liệu tham khảo hữu ích và quan trọng cho việcxây dựng chiến lược phát triển, nhằm hướng đến tự chủ tài chính của Nhà nước
- Võ Thế Vỹ (2020) thông qua tổng hợp và phân tích tài liệu, đã nghiên cứu việc
“lập dự toán thu ngân sách theo khuôn khổ trung hạn cho tỉnh Đồng Nai” Võ Thế
Vỹ (2020) hệ thống được lý luận, công tác thu NSNN theo khuôn khổ trung hạn, vàđánh giá thực trạng thu NSNN của tỉnh từ năm 2014-2019 Từ đó một số giải phápđược đề xuất để hoàn thiện công tác lập dự toán NSNN theo khuôn khổ trung hạncho Tỉnh Đây xem là bằng chứng về việc đổi mới trong phương thức lập dự toántheo khuôn khổ trung hạn hỗ trợ cho mô hình PBB ở cấp chính quyền địa phương
1.3.2 Các nghiên cứu liên quan đến các nhân tố tác động đến việc áp dụng mô hình PBB
- Đặng Thái Hùng (2007) cho rằng để quản lý thống nhất tài chính Nhà nước cầnphải tập trung thông tin và công khai hóa tài chính Nhà nước, vì vậy phải đổi mới hệthống kế toán công, thực hiện Tổng kế toán Nhà nước và tất yếu phải tuân thủ Chuẩnmực kế toán công quốc tế (IPSAS) Đặng Thái Hùng (2007) làm rõ vai trò, mối quan
hệ giữa tài chính và kế toán Nhà nước cũng như những yêu cầu cho việc quản lý
Trang 36thống nhất và công khai tài chính Nhà nước trong quá trình hội nhập với nền kinh tếthế giới Bên cạnh đó, hệ thống kế toán Nhà nước Việt Nam còn nhiều hạn chế,chậm đổi mới, cho nên việc thu thập thông tin phục vụ cho quản lý NSNN gặp nhiềukhó khăn, thông tin tài chính Nhà nước bị chia cắt, cục bộ theo chức năng quản lý.
Do đó, nghiên cứu này là bằng chứng cho việc xây dựng chuẩn mực kế toán công
theo IPSAS sẽ giúp cho việc tổng hợp thông tin đồng bộ, nâng cao khả năng áp
dụng PBB của thể chế, phục vụ cho việc chuyển sang áp dụng PBB hiệu quả.
- Mai Vinh (2007) nghiên cứu mối quan hệ tác động giữa chuẩn mực kế toán đối vớiviệc lập dự toán theo khuôn khổ chi tiêu trung hạn và theo kết quả đầu ra Mai Vinh(2007) làm rõ vai trò quan trọng của chuẩn mực kế toán công trong việc lập dự toán Qua
đó chứng minh rằng chuẩn mực kế toán công hướng tới mục tiêu quy định thống nhất cácnguyên tắc kế toán, đảm bảo Báo cáo tài chính được trình bày theo một cấu trúc chặt chẽ
về tình hình tài chính và luồng tiền của đơn vị, cho nên sẽ cung cấp
được những thông tin hữu ích cho việc lập dự toán, đặc biệt là dự toán theo khuônkhổ chi tiêu trung hạn và theo KQHĐ/kết quả đầu ra Do đó nghiên cứu này là bằng
chứng đề cập đến một nhân tố tác động thuộc nhóm khả năng áp dụng của thế chế
đó là chuẩn mực kế toán công theo cơ sở dồn tích tác động đến việc áp dụng mô
hình lập dự toán ngân sách theo khuôn khổ chi tiêu trung hạn và theo kết quả đầu ra
- Đào Thị Bích Hạnh (2007) nghiên cứu về việc xây dựng hệ thống chuẩn mực kếtoán nhà nước tại Pháp, trong nghiên cứu này có đề cập đến việc thay đổi phương
thức quản lý ngân sách chuyển sang quản lý dựa trên kết quả đầu ra theo kinh
nghiệm của Pháp, vận dụng cách thức quản lý giống doanh nghiệp, từng bước trao
quyền tự chủ về tài chính cho các cơ quan quản lý và các đơn vị sự nghiệp.
1.4 Nhận xét các nghiên cứu trước và xác định khoảng trống trong nghiên cứu 1.4.1 Nhận xét các nghiên cứu trước
1.4.1.1 Đối với các nghiên cứu nước ngoài
- Về phạm vi nghiên cứu: Các nghiên cứu xem xét “khu vực công” theo hướng mởrộng: thứ nhất nghiên cứu theo từng cấp chính quyền “governmental level” trong
Trang 37khu vực công gồm: cấp chính phủ, cấp quốc gia (cấp chỉ đạo); và cấp chính quyềntrung ương, khu vực hoặc địa phương; thứ hai nghiên cứu mạng lưới các mối quan
hệ được xây dựng giữa các bên phụ thuộc lẫn nhau “public network” (công, báncông, tư nhân) trong khu vực công (Almqvist, Grossi, van Helden, & Reichard,2013) Ngoài ra, các nghiên cứu liên quan đến PBB chủ yếu tập trung ở cấp liênbang (tiểu bang) chiếm khoảng gần 50% tổng số bài, cho thấy số lượng nghiên cứutập trung vào cấp đơn vị còn khá hạn chế Đồng thời những nghiên cứu về PBB đềutập trung ở khu vực Bắc Mỹ, cụ thể: nghiên cứu kinh nghiệm của Hoa Kỳ
- Về hướng nghiên cứu liên quan đến PBB, theo Mauro et al (2017) cho thấy 2 xuhướng nghiên cứu trong các bài báo là: “giai đoạn” và “chủ đề” liên quan đến PBB,
cụ thể: 1) xu hướng nghiên cứu các giai đoạn của PBB gồm: 4 giai đoạn: chấp nhận,thực hiện, sử dụng và tác động; 2) xu hướng nghiên cứu về chủ đề là những vấn đềchính được nhà nghiên cứu lưu ý liên quan đến từng giai đoạn của PBB
- Về xu hướng vận dụng lý thuyết nền trong những nghiên cứu liên quan đến PBB: đaphần các nghiên cứu không có khuôn khổ lý thuyết rõ ràng (hơn 60% tổng số bài), một sốnghiên cứu khác vận dụng nhiều lý thuyết nền, trong đó các lý thuyết thường xuyên đượcdùng là: Lý thuyết thể chế mới, lý thuyết đại diện, lý thuyết đại diện kết hợp lý thuyết tổchức và lý thuyết hành vi, lý thuyết tâm lý (Mauro et al., 2017)
Phương pháp nghiên cứu:
Các nghiên cứu liên quan đến PBB đăng trên các tạp chí kế toán không thuộc khuvực châu Âu đa phần thường lựa chọn dùng phương pháp nghiên cứu định lượngdựa trên khảo sát, còn đối với các nghiên cứu trên các tạp chí hành chính côngkhông thuộc khu vực châu Âu dùng phương pháp hỗn hợp (Mauro et al., 2017) Do
đó trong nghiên cứu này cân nhắc lựa chọn giữa hai phương pháp này để sử dụng
Kết quả các nghiên cứu liên quan đến PBB
- Nhận thức về lợi ích của mô hình PBB giúp các nhà quản lý đạt được mục tiêu cảithiện kiểm soát, nâng cao hiệu quả và KQHĐ trong quản lý ngân sách khu vực công,
và nâng cao năng lực của các cơ quan hoặc phòng ban trong chính phủ, thúc đẩy việc dùng thông tin KQHĐ để cạnh tranh trong việc nhận phân bổ ngân sách từ
Trang 38chính phủ (Walker, 2002) Mô hình PBB là mô hình dự toán thích hợp và mạnh mẽtrong khu vực công hiện nay Tuy nhiên, việc thực hiện PBB vẫn bị một số nhànghiên cứu phản đối như H Lu (1998) và Moynihan (2006) đã chỉ ra mối liên hệgiữa thông tin KQHĐ và việc đánh giá hiệu quả sử dụng ngân sách trong quá trìnhlập dự toán thường không rõ ràng Hơn nữa, bằng chứng cho thấy các ủy ban ngânsách hiếm khi dùng thông tin KQHĐ và đo lường KQHĐ trong quá trình phê duyệtngân sách (Andrews, 2004; J E Melkers & Willoughby, 2001) Bởi vì họ cho rằng
dữ liệu KQHĐ không chính xác, do các tổ chức khu vực công còn thiếu năng lực đolường KQHĐ (Jordan & Hackbart, 2005; Karkatsoulis, 2010; Lee & Wang, 2009;Syukri, 2005) Chính vì vậy, mặc dù PBB là một mô hình lập dự toán mới ở một sốquốc gia, nhưng PBB không phải là mô hình phổ biến và bị ảnh hưởng bởi một sốtác nhân (Helmuth, 2010) Đồng thời thực tế khi áp dụng PBB, các quốc gia này vẫnphải dùng kết hợp với mô hình dự toán cũ – mô hình theo khoản mục và mô hình dựtoán gia tăng (Dự toán truyền thống) (Andrews, 2004; Aristovnik & Seljak, 2009;
Karkatsoulis, 2010; Schick, 2001) Điều này cho thấy vẫn có một số rào cản nhất
định trong nhận thức về các mối đe dọa trong công việc của người áp dụng PBB,dẫn đến việc duy trì mô hình lập dự toán truyền thống làm cản trở việc áp dụng môhình PBB trong các đơn vị công nói chung và đơn vị sự nghiệp công lập nói riêng
- Nhiều nhân tố tác động đến việc áp dụng PBB được phát hiện nhưng mỗi nghiên cứu được thực hiện trong những tổ chức và ngữ cảnh khác nhau và tại những quốc gia khác nhau, cho ra kết quả khác nhau và có quốc gia thành công
nhưng cũng có quốc gia thất bại, vì có sự khác biệt trong việc dùng thông tin về
KQHĐ cho việc lập dự toán giữa các quốc gia (J Melkers & Willoughby, 1998) Vìvậy khi áp dụng PBB nên thay đổi giữa các quốc gia và ngay cả giữa các đơn vịtrong cùng một quốc gia, do đó sẽ không có một mô hình PBB nào phù hợp cho tất
cả các phương pháp tiếp cận (Flowers, Kundin, & Brower, 1999)
- Thông qua các nghiên cứu về thực hiện PBB ở một số quốc gia, tác giả phát hiệnmột nhân tố khá quan trọng để thúc đẩy việc áp dụng PBB thành công và tác động
đến việc chấp nhận áp dụng PBB của người lập dự toán tại các đơn vị công, đó là:
Trang 39các yếu tố của thể chế (theo lý thuyết NIS) đối với PBB của mỗi quốc gia: về tínhhợp pháp–thẩm quyền áp dụng cũng như về khả năng áp dụng của thể chế Bên cạnh
đó còn có nhân tố “nhận thức về lợi thế tương đối của PBB” là động lực thúc đẩy ápdụng PBB tại các đơn vị công nói chung và tại đơn vị sự nghiệp công nói riêng
- Đồng thời trong những nghiên cứu về các nhân tố tác động đến việc áp dụng sự đổi
mới, có rất nhiều nghiên cứu đã phát hiện nhân tố “nhận thức về lợi thế tương đối của sự
đổi mới” thúc đẩy việc chấp nhận áp dụng sự đổi mới (Adler et al., 2000; I Brown et al.,
2003; Hirschheim & Newman, 1988; Julnes & Holzer, 2001; Kim & Kankanhalli, 2009;Premkumar & Roberts, 1999; T S H Teo, Tan, & Buk, 1997; Tornatzky & Klein, 1982;Tung & Rieck, 2005) vì vậy luận án này sẽ kiểm định tác
động của “nhận thức về lợi thế tương đối của PBB” đến việc áp dụng PBB.
- Bên cạnh đó, thông qua những nghiên cứu về các nhân tố tác động cụ thể đến việc
áp dụng đổi mới phương thức lập dự toán theo PBB, phát hiện được các nhân tố
được đề cập nhiều nhất là: sự hỗ trợ của tổ chức (đặc biệt nhà quản lý), thẩm quyền áp dụng và khả năng áp dụng của thể chế (Andrews, 2004; Barati & Gelard,
2016; Ehsein, 2014; Erkutlu et al., 2017; Fath & Vanda, 2016; Grizzle & Pettijohn,2002; Iratni et al., 2012; Jordan & Hackbart, 2005; Kluvers, 1999; Naseri et al., 2014;Niu et al., 2006; Pakmaram, Esgandari, Koshteli, & Khalili, 2012; Saeidasefzadeh etal., 2014; Talebnia et al., 2012; Wang, 1999) vì vậy luận án này sẽ nghiên cứu kiểm
định tác động của “sự hỗ trợ của tổ chức”, và “thẩm quyền áp dụng”, “khả năng
áp dụng” của thể chế đến việc áp dụng mô hình PBB trong đơn vị sự nghiệp công.
- Hơn nữa về lý thuyết nền, thông qua những nghiên cứu về các nhân tố tác động, tácgiả phát hiện được một số lý thuyết nền thường được vận dụng để nghiên cứu về
việc chấp nhận áp dụng sự đổi mới là: lý thuyết hành vi dự định, lý thuyết bất định của Luder, lý thuyết khuếch tán đổi mới, lý thuyết hợp lý và công nghệ
- Ngoài ra, nhận diện các lý thuyết giải thích cho mối quan hệ tác động của nhân tố
“rào cản” trong nhận thức người lập dự toán thông qua lý thuyết thiên vị nguyên trạng;
và nhân tố “thẩm quyền áp dụng” và “khả năng áp dụng" của thể chế
Trang 40thông qua lý thuyết thể chế mới, có tác động đến việc áp dụng sự đổi mới, đặc biệt trong nghiên cứu về việc áp dụng mô hình PBB.
- Trong khi đó với lý thuyết hành vi dự định-TPB, khái niệm “năng lực của bản
thân” và “sự hỗ trợ của tổ chức” được nghiên cứu khá nhiều trong lĩnh vực HTTT.Tuy nhiên những nghiên cứu về “năng lực bản thân” tác động đến việc áp dụng PBBtại đơn vị công thì không nhiều Vì vậy để kết quả nghiên cứu đạt giá trị cao, trongbối cảnh tìm hiểu những nhân tố tác động đến hành vi chấp nhận phương thức lập dựtoán mới-mô hình PBB, nghiên cứu này kiểm định tác động của “năng lực bản thân”đến việc áp dụng mô hình PBB tại đơn vị sự nghiệp công ở Việt Nam, bên cạnh
“nhận thức về lợi thế tương đối của PBB” và “rào cản” Đây là những nhân tố ít đượcnghiên cứu trong bối cảnh áp dụng PBB (Andrews & Hill, 2003; Barati & Gelard,2016; Ehsein, 2014; Erkutlu et al., 2017; Kluvers, 1999; Saeidasefzadeh et al., 2014;Wang, 1999), bởi những nhân tố này đều tác động lên hành vi cá nhân, trong khi hầuhết những nghiên cứu trước đều nghiên cứu với đơn vị phân tích là tổ chức hoặcquốc gia, rất ít nghiên cứu về các nhân tố tác động đến hành vi của cá nhân thực hiệnPBB Trong các tài liệu chỉ phát hiện được 2 nghiên cứu phân tích trên đối tượng-cánhân là: Pakmaram et al (2012) nghiên cứu về các yếu tố tác động đến hiệu quả PBBtrong công ty Viễn Thông ở Iran và Aliabadi et al (2019) nghiên cứu lý do thực hiệnPBB thất bại tại các trường đại học và viện nghiên cứu công ở Iran
Dựa trên quan điểm của những nghiên cứu trên, tác giả đã tổng hợp những nhận
định về các nhóm nhân tố tác động đến việc áp dụng mô hình PBB trong Phụ lục 6.
1.4.1.2 Đối với các nghiên cứu trong nước
- Về phạm vi nghiên cứu: Những nghiên cứu liên quan vấn đề nghiên cứu chủ yếu tậptrung ở phạm vi ngân sách cấp quốc gia (NSNN), hoặc cấp tỉnh (NSĐP), trong khi đó tácgiả chỉ phát hiện được một đề tài liên quan đến vấn đề nghiên cứu ở cấp
đơn vị của tác giả Quãng Thị Mỹ Yến (2019)
- Về hướng nghiên cứu trong kế toán công ở Việt Nam: thứ nhất: liên quan đến kếtoán nói chung, nghiên cứu chủ yếu: về chuyển đổi kế toán công từ kế toán trên cơ sở