Do đó,nghiên cứu về tác động của CS đến HQHĐ của doanh nghiệp trong bối cảnh mới khôngchỉ góp phần nhận diện tầm quan trọng của các khái niệm này một cách toàn diện hơn, màcòn bổ sung ki
Trang 1VÕ THỊ TÂM
TÁC ĐỘNG CỦA TÍNH BỀN VỮNG DOANH NGHIỆP ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP DU LỊCH VÙNG DUYÊN
HẢI NAM TRUNG BỘ TẠI VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đồng Nai, năm 2021
Trang 2VÕ THỊ TÂM
TÁC ĐỘNG CỦA TÍNH BỀN VỮNG DOANH NGHIỆP ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP DU LỊCH VÙNG DUYÊN
HẢI NAM TRUNG BỘ TẠI VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến hai Thầy, Cô hướng dẫn gồm TS
Võ Tấn Phong và TS Mai Thị Ánh Tuyết Các Thầy, Cô đã tận tình chỉ dạy, đưa ranhững định hướng và theo sát tôi trong suốt thời gian tôi thực hiện luận án Chính sựquan tâm và góp ý về chuyên môn cũng như những lời động viên của các Thầy, Côtrong suốt quá trình nghiên cứu mà tôi mới có đủ quyết tâm để hoàn thành luận án này
Tiếp theo, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu Trường Đại họcLạc Hồng, quý lãnh đạo và nhân viên của Khoa Sau đại học, những giảng viên đã giảngdạy tôi trong thời gian tôi làm NCS tại Trường Đại học Lạc Hồng đã tận tình trong côngtác giảng dạy, đã hỗ trợ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong việc hoàn thành các mônhọc trong chương trình, các chuyên đề cũng như luận án
Tôi xin cảm ơn đến các nhà lãnh đạo doanh nghiệp, các nhà quản lý, các giảngviên đã tham gia các buổi thảo luận chuyên sâu để giúp tôi trong quá trình nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn đến lãnh đạo và các đồng nghiệp tại trường tôi đangcông tác vì đã luôn hỗ trợ và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt luận án của mình
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với các tác giả của những tài liệu tôi đã thamkhảo, trích dẫn trong luận án của mình
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình vì đã luôn hỗ trợ về mặt tinh thần
và là nguồn động lực to lớn để tôi không ngừng cố gắng từng ngày trong việc hoàn thiệnluận án này
Đồng Nai, ngày … tháng … năm 2021
Nghiên cứu sinh
Võ Thị Tâm
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận án tiến sĩ: “Tác động của tính bền vững doanh nghiệp đếnhiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp du lịch vùng Duyên hải Nam Trung Bộ tạiViệt Nam” là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa họccủa TS Võ Tấn Phong và TS Mai Thị Ánh Tuyết
Tất cả các nội dung trích dẫn trong nghiên cứu đều được ghi chi tiết trong phầndanh mục tài liệu tham khảo Các kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực vàchưa từng được ai khác công bố trong bất kỳ công trình nào
Đồng Nai, ngày … tháng … năm 2021
Nghiên cứu sinh
Võ Thị Tâm
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH ix
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT x
TÓM TẮT LUẬN ÁN xii
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.1.1 Bối cảnh lý thuyết 1
1.1.2 Bối cảnh thực tiễn 5
1.1.3 Khoảng trống nghiên cứu 8
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 8
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 8
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 8
1.3 Câu hỏi nghiên cứu của đề tài 9
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 9
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 9
1.5 Phương pháp nghiên cứu 9
1.5.1 Nghiên cứu định tính 9
1.5.2 Nghiên cứu định lượng 10
1.6 Những điểm mới của luận án 10
1.7 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 11
1.7.1 Về mặt khoa học 11
1.7.2 Về mặt thực tiễn 11
1.8 Kết cấu của đề tài 12
Kết luận Chương 1 12
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 13
2.1 Các khái niệm 13
2.1.1 Bền vững doanh nghiệp 13
Trang 62.1.2 Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp 22
2.1.3 Mối quan hệ giữa CS và HQHĐ 27
2.1.4 Sự gắn bó của nhân viên 28
2.1.5 Sự cam kết của nhà đầu tư 32
2.1.6 Sự tham gia của cộng đồng địa phương 34
2.2 Tổng quan về các lý thuyết liên quan 37
2.2.1 Lý thuyết tính chính đáng (Legitimacy Theory) 37
2.2.2 Lý thuyết thể chế (Institutional Theory) 39
2.2.3 Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory) 41
2.2.4 Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực (Resource Dependence Theory) 44
2.3 Lược khảo các nghiên cứu có liên quan 46
2.3.1 Các nghiên cứu về tác động của CS đến HQHĐ 46
2.3.2 Các nghiên cứu liên quan đến sự tham gia của cộng đồng 49
2.3.3 Các nghiên cứu liên quan đến SGBNV 51
2.3.4 Các nghiên cứu liên quan đến sự cam kết của nhà đầu tư 53
2.4 Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 58
2.4.1 Cơ sở xây dựng mô hình 58
2.4.2 Phát triển giả thuyết nghiên cứu 60
2.4.3 Mô hình nghiên cứu đề xuất 65
Kết luận Chương 2 67
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 68
3.1 Phương pháp luận và quy trình nghiên cứu 68
3.1.1 Phương pháp luận 68
3.1.2 Quy trình nghiên cứu 70
3.2 Nghiên cứu định tính 71
3.2.1 Thiết kế thang đo ban đầu 71
3.2.2 Cơ sở để chọn biến nhâu khẩu học 79
3.2.3 Thực hiện phương pháp thảo luận nhóm 81
3.2.4 Kết quả nghiên cứu định tính 81
3.2.5 Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát 88
3.3 Nghiên cứu định lượng sơ bộ 89
3.3.1 Phương pháp chọn mẫu 89
Trang 73.3.2 Thu thập dữ liệu nghiên cứu sơ bộ 89
3.3.3 Phương pháp phân tích dữ liệu nghiên cứu sơ bộ 90
3.3.4 Kết quả nghiên cứu định lượng sơ bộ 90
3.4 Nghiên cứu định lượng chính thức 97
3.4.1 Thiết kế bảng câu hỏi 97
3.4.2 Thiết kế mẫu 98
3.4.3 Thu thập dữ liệu nghiên cứu 99
3.4.4 Phương pháp phân tích dữ liệu 100
Kết luận Chương 3 103
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 104
4.1 Tổng quan về các doanh nghiệp du lịch tại vùng DHNTB tại Việt Nam 104
4.2 Đặc điểm mẫu nghiên cứu chính thức 107
4.3 Đánh giá mô hình đo lường 108
4.3.1 Kiểm tra độ tin cậy của thang đo 108
4.3.2 Đánh giá giá trị hội tụ 108
4.3.3 Đánh giá độ phân biệt 109
4.4 Đánh giá mô hình cấu trúc (SEM) 110
4.4.1 Đánh giá hiện tượng đa cộng tuyến 110
4.4.2 Đánh giá hệ số xác định có điều chỉnh R2 111
4.4.3 Kiểm định bootstrapping 112
4.4.4 Kiểm định giả thuyết 114
4.5 Mức độ tác động giữa các khái niệm nghiên cứu 114
4.5.1 Mức độ tác động trực tiếp 114
4.5.2 Mức độ tác động gián tiếp 115
4.6 Kiểm định sự khác biệt 118
4.6.1 Kiểm định sự khác biệt theo loại hình doanh nghiệp 118
4.6.2 Kiểm định sự khác biệt theo lĩnh vực hoạt động 119
4.6.3 Kiểm định sự khác biệt theo quy mô doanh nghiệp 120
4.6.4 Kiểm định sự khác biệt theo khu vực hoạt động 121
4.7 Thảo luận kết quả nghiên cứu 122
4.7.1 Thảo luận về mô hình nghiên cứu 122
4.7.2 Thảo luận về thang đo và giả thuyết nghiên cứu 123
Trang 84.7.3 Thảo luận về sự khác biệt giữa các nhóm 130
Kết luận Chương 4 132
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ 133
5.1 Kết luận 133
5.2 Hàm ý quản trị 134
5.2.1 Hàm ý về bền vững doanh nghiệp 135
5.2.2 Hàm ý về sự gắn bó của nhân viên 141
5.2.3 Hàm ý về sự tham gia của cộng đồng địa phương 143
5.2.4 Hàm ý về sự cam kết của nhà đầu tư 145
5.2.5 Hàm ý về sự khác biệt 147
5.3 Hạn chế của luận án và hướng nghiên cứu tiếp theo 149
Kết luận Chương 5 150 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1: TỔNG HỢP CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
PHỤ LỤC 2: DANH SÁCH CHUYÊN GIA
PHỤ LỤC 3: DÀN BÀI THẢO LUẬN NHÓM CHUYÊN GIA
PHỤ LỤC 4: KẾT QUẢ THẢO LUẬN CHUYÊN GIA
PHỤ LỤC 5: BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT ĐỊNH LƯỢNG SƠ BỘ
PHỤ LỤC 6: THANG ĐO CHÍNH THỨC
PHỤ LỤC 7: BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT CHÍNH THỨC
PHỤ LỤC 8: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG SƠ BỘ
PHỤ LỤC 9: THỐNG KÊ MÔ TẢ ĐỊNH LƯỢNG CHÍNH THỨC
PHỤ LỤC 10: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG CHÍNH THỨC
PHỤ LỤC 11: DANH SÁCH CÁC DOANH NGHIỆP KHẢO SÁT SƠ BỘ
PHỤ LỤC 12: DANH SÁCH CÁC DOANH NGHIỆP
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Tóm tắt một số lý thuyết và nghiên cứu điển hình 57
Bảng 3.1: Thang đo CS về phương diện kinh tế 73
Bảng 3.2: Thang đo CS về phương diện xã hội 73
Bảng 3.3: Thang đo CS về phương diện môi trường 74
Bảng 3.4: Thang đo SGBNV 75
Bảng 3.5: Thang đo SCKNĐT 76
Bảng 3.6: Thang đo STGCĐĐP 78
Bảng 3.7: Thang đo HQHĐ 79
Bảng 3.8: Thang đo CS đối với phương diện kinh tế 84
Bảng 3.9: Thang đo CS đối với phương diện xã hội 84
Bảng 3.10: Thang đo CS đối với phương diện môi trường 85
Bảng 3.11: Thang đo SGBNV 86
Bảng 3.12: Thang đo SCKNĐT 86
Bảng 3.13: Thang đo STGCĐĐP 87
Bảng 3.14: Thang đo HQHĐ 88
Bảng 3.15: Đặc điểm mẫu nghiên cứu sơ bộ 91
Bảng 3.16: Kiểm định sơ bộ độ tin cậy của thang đo CS 92
Bảng 3.17: Kiểm định sơ bộ độ tin cậy của thang đo SGBNV 92
Bảng 3.18: Kiểm định sơ bộ độ tin cậy của thang đo SCKNĐT 93
Bảng 3.19: Kiểm định sơ bộ độ tin cậy của thang đo STGCĐĐP 94
Bảng 3.20: Kiểm định sơ bộ độ tin cậy của thang đo HQHĐ 94
Bảng 3.21: Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA 95
Bảng 3.22: Kết quả KMO và Bartlett’s Test 96
Bảng 3.23: Thống kê số lượng doanh nghiệp du lịch được chọn trong vùng 99
Bảng 3.24 Các tiêu chí đánh gia mô hình đo lường 101
Bảng 3.25 Các tiêu chí đánh giá mô hình cấu trúc 102
Bảng 3.26 Các bước kiểm định vai trò trung gian 102
Bảng 3.27 Các điều kiện của tiêu chí CI và VAF 103
Bảng 4.1: Thống kê số doanh nghiệp đang hoạt động tại thời điểm 31/12 hàng năm trong vùng DHNTB 104
Bảng 4.2: Thống kê số lượng doanh nghiệp du lịch trong vùng DHNTB 105
Trang 10Bảng 4.3: Danh sách các tỉnh thành trong vùng DHNTB 106
Bảng 4.4: Đặc điểm mẫu nghiên cứu chính thức 107
Bảng 4.5: Kết quả kiểm tra độ tin cậy của thang đo 109
Bảng 4.6: Kiểm định giá trị phân biệt (Fornell-Larcker) 109
Bảng 4.7: Kết quả HTMT 110
Bảng 4.8: Giá trị phóng đại phương sai (VIF) 110
Bảng 4.9: Đánh giá mức độ phù hợp mô hình 111
Bảng 4.10: Kết quả R2 điều chỉnh 111
Bảng 4.11: Kết quả ước lượng mô hình cấu trúc 112
Bảng 4.12: Kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu 114
Bảng 4.13: Tác động trực tiếp, gián tiếp và tổng tác động 115
Bảng 4.14: Tác động gián tiếp 116
Bảng 4.15: Kiểm định Welch theo loại hình doanh nghiệp 118
Bảng 4.16: So sánh đa nhóm đối với loại hình doanh nghiệp 119
Bảng 4.17: Kiểm định ANOVA theo lĩnh vực hoạt động 119
Bảng 4.18: So sánh đa nhóm đối với lĩnh vực hoạt động 120
Bảng 4.19: Kiểm định ANOVA theo quy mô doanh nghiệp 120
Bảng 4.20: So sánh đa nhóm đối với quy mô doanh nghiệp 121
Bảng 4.21: Kiểm định ANOVA theo khu vực hoạt động 121
Bảng 4.22: Thống kê mô tả về phương diện kinh tế 123
Bảng 4.23: Thống kê mô tả về phương diện xã hội 124
Bảng 4.24: Thống kê mô tả về phương diện môi trường 125
Bảng 4.25: Thống kê mô tả thang đo về SGBNV 126
Bảng 4.26: Thống kê mô tả thang đo về SCKNĐT 127
Bảng 4.27: Thống kê mô tả thang đo về STGCĐĐP 128
Bảng 4.28: Thống kê mô tả thang đo về HQHĐ 130
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Mô hình mối quan hệ giữa môi trường, kinh tế và xã hội với thành quả hoạt động
của doanh nghiệp của Kocmanová và Dočekalová (2011) 15
Hình 2.2: Mô hình sự phát triển của CS của Wilson (2003) 20
Hình 2.3: Mô hình của Mohammed (2013) 22
Hình 2.4: Mô hình nghiên cứu đề xuất của Shamil và cộng sự (2012) 46
Hình 2.5: Mô hình khung bền vững của Sy (2016) 48
Hình 2.6: Mô hình nghiên cứu của Rojana Thammajinda (2013) 51
Hình 2.7: Mô hình nghiên cứu đề xuất 66
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu 72
Hình 4.1: Kết quả đánh giá mô hình nghiên cứu 113
Trang 12DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
AC Affective Commitment Sự gắn bó vì tình cảm
AVE Average Variance Extracted Trung bình phương sai trích
BE Business Excellence Mô hình kinh doanh hoàn hảo
CC Continuance Commitment Sự gắn bó để duy trì
CIEM Central Institute for Economic Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh
CR Composite Reliability Chỉ số độ tin cậy tổng hợp
CS Corporate Sustainability Bền vững doanh nghiệp
CSMN Corporate Sustainability Mạng đo lường bền vững doanh
CSR Corporate Social Responsibility Trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệpDHNTB South Central Coast Duyên hải Nam Trung Bộ
DNDL Tourist Businesses Doanh nghiệp du lịch
DNNVV Small and Medium-sized Doanh nghiệp vừa và nhỏ
EnterprisesEFA Exploratory Factor Analysis Phân tích nhân tố khám phá
ERP Enterprise Resource Planning Lập kế hoạch nguồn lực doanh
nghiệp
HTMT Heteroưait Monotrait Ratio Tỷ lệ đặc điểm dị biệt – đặc điểm
đơn nhấtHQHĐ Corporate Performance Hiệu quả hoạt động
Trang 13IUCN for Conservation of Nature and
Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tếNatural Resources
JETRO Japan External Trade Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật
MSSA Matrix of Sustainable Strategic Ma trận liên kết chiến lược bền
NC Normative commitment Sự gắn bó vì đạo đức
Partial Least Square – Structural Mô hình cấu trúc tuyến tính dựa
Equation Model
thiểu
Trang 14Từ viết tắt Từ tiếng Anh Từ tiếng Việt
PTBV Sustainable Development Phát triển bền vững
ROA Return on Assets Lợi nhuận trên tài sản
ROE Return on Equity Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữuROI Return on Investment Lợi tức đầu tư
SCKNĐT Investor Commitment Sự cam kết của nhà đầu tư
SEM Structural Equation Modeling Mô hình cấu trúc tuyến tính
SGBNV Employee Commitment Sự gắn bó của nhân viên
STGCĐĐP Community Participation Sự tham gia của cộng đồng địa
phương
TQM Total Quality Management Quản lý chất lượng toàn diện
UNCED The United Nations Conference Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Môi
on Environment and Development trường và Phát triển
UNCTAD United Nations Conference on Hội nghị Liên Hiệp Quốc về
Trade and Developmen Thương mại và Phát triểnUNWTO The World Tourism Organization Tổ chức Du lịch Thế giới
VCCI Vietnam Chamber of Commerce Phòng Thương mại và Công nghiệp
VIF Variance Inflation Factor Chỉ số giá trị phóng đại phương sai
WCED The World Commission on Ủy ban về Môi trường và Phát triển
Environment and Development Thế giớiWTTC The World Travel & Tourism Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế
Trang 15Mục tiêu nghiên cứu của luận án là xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng của bềnvững doanh nghiệp đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp du lịch và vai trò trunggian của sự gắn bó của nhân viên, sự cam kết của nhà đầu tư, sự tham gia của cộng đồngđịa phương ảnh hưởng đến tác động này Từ đó, luận án đưa ra các hàm ý quản trị chocác doanh nghiệp du lịch vùng Duyên hải Nam Trung Bộ tại Việt Nam nhằm giúp cácdoanh nghiệp tăng cường hiệu quả hoạt động Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật PLS-SEM vớiphần mềm Smart PLS 3.2.8 để kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu Kết quảphân tích định lượng dựa trên dữ liệu thu thập được từ 459 quan sát cho thấy, các thang
đo đạt độ tin cậy và mô hình nghiên cứu hoàn toàn phù hợp Đồng thời, kết quả nghiêncứu chỉ ra rằng bền vững doanh nghiệp có tác động trực tiếp và gián tiếp (qua ba biếntrung gian là sự gắn bó của nhân viên, sự cam kết của nhà đầu tư và sự tham gia của cộngđồng địa phương) đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu đã lấpđầy khoảng trống nghiên cứu và đem lại ý nghĩa quan trọng cho các doanh nghiệp du lịchvùng Duyên hải Nam Trung Bộ và các cơ quan quản lý Nhà nước Việt Nam trong cácđịnh hướng chiến lược vì mục tiêu phát triển bền vững
Từ khóa: Du lịch, phát triển bền vững, bền vững doanh nghiệp, sự gắn bó của nhân
viên, sự cam kết của nhà đầu tư, sự tham gia của cộng đồng địa phương
Trang 16CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Chương 1 giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu với những nội dung liên quanđến: (1) Lý do chọn đề tài; (2) Mục tiêu nghiên cứu của đề tài; (3) Câu hỏi nghiên cứu;(4) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu; (5) Phương pháp nghiên cứu; (6) Những điểm mới của luận án; (7) Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu; và (8) Kết cấu của đề tài
1.1 Lý do chọn đề tài
1.1.1 Bối cảnh lý thuyết
Hiệu quả hoạt động (HQHĐ) là chủ đề nhận được sự quan tâm rộng rãi trong cácnghiên cứu chiến lược (Vankatranan và Rananujam, 1986; Glunk và Wilderom, 1996;Hernaus và cộng sự, 2012; Rodrigues và Franco, 2019) Trong một thời gian dài, việc
đo lường HQHĐ của doanh nghiệp gần như được đồng nhất với việc đo lường các chỉtiêu tài chính (Glunk và Wilderom, 1996) Tuy nhiên, các khái niệm rộng hơn vềHQHĐ đã được thảo luận (Kaplan và Norton, 2005; Hernaus và cộng sự, 2012) Theo
đó, HQHĐ đã được tiếp cận theo quan điểm của lý thuyết các bên liên quan (Kanter vàBrinkerhoff, 1981; Chakravarthy, 1986; Brown và Laverick, 1994) Theo lý thuyết cácbên liên quan (Stakeholder theory), một doanh nghiệp chỉ có thể tồn tại nếu doanhnghiệp có khả năng đáp ứng tốt nhu cầu của các bên liên quan (Freeman, 2015) Nóicách khác, một doanh nghiệp thành công hay hoạt động hiệu quả là một doanh nghiệpquản lý và đáp ứng tốt nhu cầu của các bên liên quan Điều này ngụ ý rằng nếu doanhnghiệp không giải quyết tốt nhu cầu của các bên liên quan, nguy cơ xung đột có thểxảy ra và ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến HQHĐ Như vậy, lý thuyết các bênliên quan đã ảnh hưởng đến các quyết định chiến lược của doanh nghiệp
Với sự xuất hiện của khái niệm phát triển bền vững (PTBV) cho thấy sự thay đổitrong quan điểm chiến lược của các doanh nghiệp Quan điểm này khiến các doanhnghiệp phải xem xét lại mô hình chiến lược kinh doanh của mình Theo đó, khái niệmbền vững doanh nghiệp (Corporate Sustainability – CS) được sử dụng rộng rãi để đềcập đến cách tiếp cận của một doanh nghiệp nhằm tạo ra giá trị lâu dài cho các bên liênquan (Stakeholders) thông qua việc thực hiện các chiến lược kinh doanh tập trung vàocác khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường (Triple bottom line) (Dyllick và Hockerts,2002; Hahn và cộng sự, 2017; Ashrafi và cộng sự, 2019)
Đồng thời, theo lý thuyết phụ thuộc nguồn lực, CS được xem là một chiến lượckinh doanh và đầu tư nhằm tìm cách sử dụng các nguồn lực kinh doanh tốt nhất để đáp
Trang 17ứng và cân bằng nhu cầu của các bên liên quan hiện tại và tương lai (WCED, 1987).Trên cơ sở đó, các doanh nghiệp sẽ quản lý và thực hiện các hoạt động phù hợp vớinhu cầu của các bên liên quan, nhằm giảm nguy cơ, rủi ro từ sự phản ứng của cácnhóm xã hội bên ngoài Ngoài ra, việc áp dụng các chiến lược CS cho phép doanhnghiệp vượt trội hơn so với các doanh nghiệp khác không thực hiện các chiến lược bềnvững (Adams và Zutshi, 2004) Theo Adams (2002), những thực hành bền vững màcác doanh nghiệp sẽ tạo điều kiện cho việc thiết lập các hệ thống kiểm soát nội bộ, raquyết định và tiết kiệm chi phí tốt hơn Thông qua việc quản lý nguồn lực hiệu quả,các doanh nghiệp có thể đạt được lợi thế cạnh tranh bền vững lâu dài Điều này củng
cố thêm nhận thức rằng việc áp dụng các thực tiễn về CS đã trở thành một điểm cốtyếu trong chương trình quản trị định hướng hiệu quả của nhiều tổ chức (Sy, 2016).Hơn nữa, ý nghĩa mà CS mang lại cho doanh nghiệp là tăng cường khả năng tuânthủ luật và các qui định Với những thảo luận về biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyênnăng lượng và tác động môi trường, không có gì ngạc nhiên khi các cơ quan chính phủ
và nhà nước ban hành ngày càng nhiều quy định về bảo vệ môi trường Tích hợpPTBV với ba thành tố then chốt (Triple bottom line) vào hoạt động kinh doanh sẽ giúpdoanh nghiệp kịp thời tuân thủ những quy định không ngừng thay đổi hiện nay(Tomšič và cộng sự, 2015) Do đó, nhiều doanh nghiệp đã nhận thức được tầm quantrọng của CS đối với doanh nghiệp (Dyllick và Hockerts, 2002) và các học giả đã bắtđầu thảo luận rộng rãi về chủ đề này (Hahn và cộng sự, 2017; Ashrafi và cộng sự,2018; Rodrigues và Franco, 2019)
Bên cạnh đó, các nghiên cứu thực nghiệm gần đầy đã cho thấy tác động tích cực của
CS đến HQHĐ của doanh nghiệp (Eccles và cộng sự, 2014; Tomšič và cộng sự, 2015; Sy,2016; El-Khalil và El-Kassar, 2018) Tuy nhiên, các nghiên cứu về tác động của CS đếnHQHĐ lấy bối cảnh từ các nước phát triển và tập trung vào các tập đoàn lớn Do đó,nghiên cứu về tác động của CS đến HQHĐ của doanh nghiệp trong bối cảnh mới khôngchỉ góp phần nhận diện tầm quan trọng của các khái niệm này một cách toàn diện hơn, màcòn bổ sung kiến thức về việc đo lường các khái niệm nghiên cứu, từ đó góp phần đem lại
ý nghĩa về mặt lý thuyết và thực tiễn Đồng thời, Baumgartner (2014) đã kết luận rằngviệc tìm kiếm tài liệu ngày càng tăng về chủ đề CS cũng như sự thiếu vắng các nghiên cứucung cấp bằng chứng thực nghiệm trong lĩnh vực này Theo đó,
Trang 18Baumgartner (2014) đã khuyến khích cần thiết phải có những nghiên cứu chuyên sâuhơn về chủ đề này.
Lý thuyết các bên liên quan chỉ ra rằng doanh nghiệp không chỉ chịu trách nhiệmtrước các cổ đông của mình mà còn phải xem xét lợi ích của các bên liên quan khác(Freeman, 2015) Đồng thời, các hoạt động vì mục tiêu phát triển CS sẽ thúc đẩy sự tintưởng, cam kết và hợp tác của các bên liên quan đối với doanh nghiệp (Gao và cộng sự,2016) Điều này ngụ ý rằng các hoạt động CS sẽ ảnh hưởng đến thái độ và hành vi như sựcam kết, sự gắn bó và sự tham gia của các bên liên quan chủ yếu của doanh nghiệp
Trong bối cảnh đó, nhân viên luôn được nhìn nhận là một trong những bên liên quanbên trong quan trọng đối với doanh nghiệp Theo nghiên cứu của Choi và Yu (2014), haitác giả đã cho thấy nhận thức của người lao động về thực hành các hoạt động bền vững cótác động tích cực đến sự gắn bó của nhân viên (SGBNV) đối với doanh nghiệp Đồngthời, SGBNV là một trong những yếu tố nền tảng ảnh hưởng đến HQHĐ (Jung và Yoon,2012; Ghazzawi, 2008; Tuna và cộng sự, 2016) Những nghiên cứu về các yếu tố ảnhhưởng đến sự gắn kết của người lao động với tổ chức đã được thực hiện
ở nhiều quốc gia, trong nhiều ngành và tập trung chủ yếu vào các yếu tố động viên tàichính và phi tài chính Các nghiên cứu về những yếu tố tác động thuộc phương diện nhậnthức về trách nhiệm công dân doanh nghiệp, về đạo đức đối với môi trường gần
như ít được chú trọng Điều này đã tạo cơ hội cho các nghiên cứu về sự tác động của
CS đến nhận thức, thái độ và hành vi của nhân viên và vai trò trung gian của sự gắnnhân viên của nhân viên trong sự ảnh hưởng của CS đến HQHĐ
Ngoài ra, Lo và Sheu đã khẳng định trong nghiên cứu của mình rằng các doanhnghiệp có chiến lược PTBV có nhiều khả năng được các nhà đầu tư khen thưởng với mứcđịnh giá doanh nghiệp và cổ phiếu cao hơn trên thị trường tài chính (Lo và Sheu, 2007).Nói cách khác, việc thực hiện các chiến lược bền vững giúp tăng cường sự quan tâm chú ý
và dẫn đến sự cam kết của nhà đầu tư (SCKNĐT) đối với doanh nghiệp Hơn nữa, cácnghiên cứu về chủ đề này đã chỉ ra rằng sau khi đầu tư vào các công ty, các nhà đầu tư tổchức luôn đóng một vai trò quan trọng trong việc cải thiện quản trị công ty (Corporategovernance) (Hartzell và Starks, 2003; Dong và Ozkan, 2008; Mizuno, 2014) Do đó, camkết của nhà đầu tư sẽ ảnh hưởng tích cực đến những nguyên tắc quản trị doanh nghiệp tốt(OECD, 2004) (dẫn chiếu OECD Principles of Corporte Governance) và điều này gópphần quan trọng trong việc nâng cao HQHĐ Điều này
Trang 19cho thấy, có mối quan hệ cần được khám phá bằng nghiên cứu thực nghiệm về vai tròtrung gian của sự cam kết của các nhà đầu tư trong tác động của CS đến HQHĐ Kiểmđịnh mối quan hệ trung gian này nhằm khẳng định giả định nền tảng lý thuyết các bênliên quan – những thực thể chịu ảnh hưởng và ảnh hưởng bởi các quyết định và hoạtđộng của doanh nghiệp.
Lược khảo tài liệu cho thấy, phần lớn các nghiên cứu về CS được thực hiện trongcác ngành công nghiệp (Pedersen và cộng sự, 2018; Annunziata và cộng sự, 2018), nơithường được xem là nguồn chủ yếu của ô nhiễm môi trường và an toàn lao động Việcnghiên cứu CS trong các ngành dịch vụ là rất hạn chế Kallio (2018) cho rằng ngành
du lịch đang ở thời điểm then chốt, nơi mà tiềm năng và các mối đe dọa liên quan đếnngành du lịch đã thu hút được sự chú ý của toàn cầu Mặc dù lĩnh vực này mang lạinhiều cơ hội phát triển vì là một trong những ngành lớn nhất toàn cầu, nhưng ảnhhưởng tiêu cực mà ngành du lịch góp phần đối với môi trường như sự nóng lên của tráiđất và biến đổi khí hậu cũng đã được thừa nhận Như một phản ứng, ngành du lịch vàgiới học thuật đã và đang chuyển hướng sang các diễn thuyết về du lịch bền vững, haygần đây là du lịch có trách nhiệm, nơi các bên liên quan hướng tới con đường PTBVtoàn diện Kallio (2018) nhấn mạnh giá trị cốt lõi của cuộc tranh luận về du lịch bềnvững là khái niệm về trách nhiệm, đặc biệt là khái niệm về trách nhiệm của các bênliên quan đối với tính bền vững trong du lịch
Lược khảo các nghiên cứu về chủ đề bền vững trong du lịch, tác giả tìm thấy cácnghiên cứu tập trung vào khoảng cách thái độ - hành vi của khách du lịch (Juvan andDolnicar, 2014; Fernandez and Sanchez, 2016) hơn là thái độ - hành vi của sự tham giacủa cộng đồng địa phương (STGCĐĐP) vào du lịch, trong khi công đồng địa phươngđược xem là bên liên quan đặc biệt quan trọng để có được sự bền vững một cách toàn diện(Kallio, 2018) Tuy có rất ít khung khái niệm và lý thuyết về thái độ của cộng đồng địaphương (CĐĐP) đối với phát triển du lịch trong việc làm rõ mối quan hệ giữa thái độ và
sự hỗ trợ của CĐĐP đối với sự phát triển du lịch được đề xuất trong tài liệu du lịch (Teye
và cộng sự, 2002), nhưng các nghiên cứu về lĩnh vực du lịch đều ủng hộ rằng sự tham giacủa cộng đồng vào phát triển du lịch góp phần đạt được sự phát triển du lịch bền vững(Tosun và Jenkins, 1996; Tosun, 2000; Boiral và cộng sự, 2019) Trong bối cảnh sự quantâm ngày càng tăng của các nghiên cứu về yếu tố cộng đồng đối với du lịch, những ngườiủng hộ sự tham gia của cộng đồng vào du lịch cho rằng sự tham gia
Trang 20của cộng đồng như là một sự phát triển nên được các doanh nghiệp xem xét (Gow vàVansant, 1983; Murphy, 1985; Brohman, 1996; Simmons, 1994) Điều này đã tạokhoảng trống cho các nghiên cứu về tác động của CS đến nhận thức, thái độ và hành vicủa CĐĐP và vai trò trung gian của STGCĐĐP đối với tác động của CS đến HQHĐ.Ngoài ra, mặc dù trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility– CSR) nói chung và bền vững doanh nghiệp (Corporate Sustainability – CS) nói riêng đãđược các nhà nghiên cứu quan tâm, đặc biệt là từ khi xuất hiện khái niệm PTBV(Sustainable Development – SD) nhưng cho đến nay, phần lớn các nghiên cứu về CS đượctìm thấy đều tập trung ở các nước phát triển (Font và cộng sự, 2014; Witjes và cộng sự,2017; Murray, 2017; Ashrafi và cộng sự, 2019) Các nghiên cứu về CS ở các nước đangphát triển, nơi mà mức sống người dân còn thấp cũng như có nhiều vấn đề còn tồn tại liênquan đến xã hội và môi trường thì còn rất hạn chế Điều này cũng phản ảnh một xu hướng
mà các nhà xã hội và môi trường gọi là “triển vọng, lợi ích và quan điểm phương Tây chiphối” (Griseri và Seppala, 2010) Đồng thời, chủ đề CS đối với khía cạnh quản lý hay khíacạnh thực tiễn vẫn cho thấy có sự thiếu vắng kiến thức khoa học về cách hai chiều này(khái niệm và thực nghiệm) có thể được tích hợp trong các hoạt động của các doanhnghiệp, cụ thể là việc xây dựng và thực hiện chiến lược của doanh nghiệp Do đó, vẫn cầnnghiên cứu sâu rộng hơn nữa liên quan đến chủ đề này và cần có nhiều nghiên cứu hơn vềmặt khái niệm và thực nghiệm (Rodrigues và Franco, 2019) Chính vì vậy, việc nghiêncứu tác động của CS đến HQHĐ và khám phá vai trò trung gian của SGBNV, SCKNĐT
và STGCĐĐP trong tác động của CS đến HQHĐ tại các nước đang phát triển là đề tài cótính cấp thiết về mặt khoa học
1.1.2 Bối cảnh thực tiễn
Cho đến nay, ngành du lịch được xem là một trong những ngành kinh tế lớn nhất thếgiới Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), lượng khách du lịch quốc tế năm 2019ước đạt gần 1,5 tỷ lượt, tăng 3,8% so với năm 2018, cao hơn mức tăng trưởng kinh tế toàncầu (+3%) (UNWTO, 2020) Trong năm 2019, Việt Nam đón trên 18 triệu lượt kháchquốc tế Tăng trưởng khách quốc tế đến Việt Nam (+16,2%) cao hơn đáng kể so với cácnước trong khu vực, tổng thu từ khách du lịch đạt 755 nghìn tỷ đồng, đóng góp trực tiếpcủa du lịch đạt 9,2% GDP (Tổng cục du lịch, 2020) Ở Việt Nam, du lịch đóng vai tròquan trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước Chính phủ đã ban hành “Quyết định147/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến
Trang 21năm 2030” Theo đó, “phát triển du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, tạođộng lực thúc đẩy sự phát triển các ngành và lĩnh vực khác, góp phần quan trọng hìnhthành cơ cấu kinh tế hiện đại” Bên cạnh đó, Việt Nam là một trong những quốc gia có
ưu thế vượt trội trong phát triển du lịch biển kết hợp với du lịch khám phá và nghỉdưỡng Trong đó, vùng Duyên hải Nam Trung Bộ (DHNTB) được đánh giá là nơi cótriển vọng du lịch lớn của Việt Nam, tập trung vào du lịch biển đảo, sinh thái Theo
“Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng DHNTB đến năm 2020, tầm nhìn đến năm
2030 với mục tiêu khai thác tiềm năng, lợi thế của vùng để phát triển du lịch biển –đảo trở thành thế mạnh hàng đầu của du lịch Việt Nam Đến năm 2020 đưa du lịch trởthành ngành kinh tế quan trọng và phấn đấu đến năm 2030 trở thành ngành kinh tế mũinhọn trong cơ cấu kinh tế của vùng DHNTB”
Vùng DHNTB được thiên nhiên ưu đãi nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên phongphú và đa dạng Với ưu thế rất thuận lợi với nhiều kỳ quan, thắng cảnh hùng vĩ, cùngnhững bãi biển xinh đẹp, cát trắng mịn, nước trong xanh, cùng thảm thực vật đa dạng
và các loại sinh vật biển phong phú Tất cả đã tạo nên cho vùng DHNTB những địađiểm du lịch nổi tiếng hấp dẫn du khách trong và ngoài nước Với những lợi thế vàtiềm năng của vùng DHNTB rất thuận lợi để phát triển du lịch Tuy nhiên, các doanhnghiệp du lịch (DNDL) đang hoạt động trong vùng DHNTB đang gặp phải rất nhiềukhó khăn và thách thức Việc thực hiện các hoạt động CS trong vùng DHNTB tại ViệtNam cho đến nay vẫn còn hạn chế Theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới tại ViệtNam, rào cản và thách thức lớn nhất cho việc thực hiện CS tại Việt Nam nói chung vàvùng DHNTB nói riêng là nhận thức và thực hành về CS
Đồng thời, theo Tổng cục du lịch Việt Nam, các DNDL hiện tại phần lớn khaithác điểm đến cho mục đích lợi nhuận của họ mà chưa có sự đền bù và chia sẻ lợi íchthỏa đáng với cộng đồng Điều này đã dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp khó nhậnđược sự ủng hộ và hợp tác của CĐĐP Bên cạnh đó, việc các DNDL lựa chọn cácđiểm đến không theo hệ thống quản lý môi trường tốt đã hủy hoại môi trường tự nhiên.Cùng với đó, việc thiếu khảo sát đầy đủ về tác động môi trường của chuỗi cung ứngtrong việc phát triển các gói sản phẩm du lịch đã dẫn đến việc sử dụng năng lượng vànước kém hiệu quả, gia tăng rác thải và sự mất mát về đa dạng sinh học Ngoài ra, việccác DNDL sử dụng lãng phí các tài nguyên như nhiên liệu, điện, nước đã tạo nên sức
ép đối với tài nguyên thiên nhiên tại điểm đến
Trang 22Thực tế tại Việt Nam, do chưa thấy được vai trò quan trọng cũng như lợi ích từ việcthực hiện các chiến lược bền vững đem lại, nhiều DNDL đã không làm tròn trách nhiệmcủa mình với xã hội và môi trường như xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của ngườilao động, gây ô nhiễm môi trường và không tuân thủ các quy định Theo Tổng cục du lịchViệt Nam các DNDL đang tác động tiêu cực và phá hủy hệ sinh thái mong manh củachúng ta Khi nền kinh tế ngày càng phát triển, việc sử dụng các nguồn tài nguyên ngàycàng gia tăng, Việt Nam sẽ phải đối mặt với việc cạn kiệt dần các nguồn tài nguyên thiênnhiên Hiện nay, vấn đề ô nhiễm môi trường đang làm suy giảm nặng nề đến chất lượngmôi trường tự nhiên và chất lượng cuộc sống của con người.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về CS cũng như một định nghĩa chuẩn tắc về CSgần như chưa được tìm thấy Phần lớn các nghiên cứu tại Việt Nam tập trung về chủ đềCSR (Hoàng Thị Thanh Hương, 2015; Trần Thị Hoàng Yến, 2016; Hồ Thị Vân Anh,2018; Bùi Thị Thu Hương, 2018; Lê Thành Tiệp, 2018; Phan Thị Thu Hiền, 2019).Đồng thời, các công trình này chủ yếu tập trung nghiên cứu đối với các ngành côngnghiệp như: Hoàng Thị Thanh Hương (2015) với nghiên cứu về CSR trong ngành mayđối với trường hợp các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV); Bùi Thị Thu Hương(2018) với nghiên cứu về CSR đối với các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa Tuynhiên, trong nghiên cứu của mình Bansal và Song (2017) bằng cách đánh giá phân tíchmột cách sâu sắc sự khác biệt giữa CSR và CS, đã kêu gọi nghiên cứu sâu hơn nữa vềtừng lĩnh vực riêng lẻ này để khám phá những giao điểm chung của chúng Do đó, chủ
đề nghiên cứu về CS còn tồn tại khoảng trống nghiên cứu cần được khám phá sâu hơn,đặc biệt là trong điều kiện các nước đang phát triển và chuyển đổi như Việt Nam.Tóm lại, trên thế giới, đối với các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, CSkhông còn là vấn đề xa lạ CS đang là xu thế lớn mạnh trên thế giới và đã trở thànhmột yêu cầu cấp thiết đối với các doanh nghiệp trong quá trình hội nhập Nhưng ở ViệtNam, vấn đề này còn khá mới mẻ và chưa được các doanh nghiệp quan tâm đúng mức
Do vậy, việc nghiên cứu về CS ở Việt Nam, trong bối cảnh ngành du lịch là một tiếpcận nghiên cứu đáng lưu tâm vì những vấn đề môi trường, xã hội gắn liền với du lịch.Nghiên cứu về vấn đề này trong bối cảnh hiện nay là đặc biệt có ý nghĩa và là một yêucầu khách quan, mang tính cấp thiết về mặt khoa học và thực tiễn để góp phần vào sựphát triển chung của Việt Nam và thế giới
Trang 231.1.3 Khoảng trống nghiên cứu
Từ bối cảnh nghiên cứu, luận án chỉ ra một số khoảng trống nghiên cứu như sau:Thứ nhất, các nghiên cứu về CS tại Việt Nam vẫn còn rất hạn chế và là một khoảngtrống cần được nghiên cứu để khám phá
Thứ hai, tác động của CS đến HQHĐ trong điều kiện các nước đang phát triển vàchuyển đổi như Việt Nam gần như chưa được nghiên cứu Do vậy, cần có nhữngnghiên cứu thực nghiệm để góp phần củng cố các lý thuyết
Thứ ba, tác động của CS đến SGBNV và vai trò trung gian của SGBNV trong tácđộng của CS đến HQHĐ là một khoảng trống nghiên cứu cần được thực hiện để gópphần củng cố lý thuyết về các bên liên quan
Thứ tư, tác động của CS đến SCKNĐT và vai trò trung gian của sự cam kết củacác nhà đầu tư trong tác động của CS đến HQHĐ là một khoảng trống khác nghiêncứu cần được khám phá nhằm củng cố lý thuyết về các bên liên quan
Thứ năm, tác động của CS đến STGCĐĐP và vai trò trung gian của STGCĐĐPảnh hưởng đến tác động của CS đến HQHĐ là một khoảng trống nghiên cứu cần đượckhám phá
Cuối cùng, bối cảnh thực tiễn về ngành du lịch ở Việt Nam rất cần thiết để nghiêncứu chủ đề này
Từ những lý do trên, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài “Tác động của tính bền vững doanh nghiệp đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp du lịch vùng Duyên hải Nam Trung Bộ tại Việt Nam”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Xác định, đo lường mức độ tác động của CS đến HQHĐ của các doanh nghiệp vàđưa ra các hàm ý quản trị về tác động của CS đến HQHĐ của các DNDL vùngDHNTB tại Việt Nam
Trang 24- Kiểm định sự khác biệt giữa các nhóm về sự tác động của CS đến HQHĐ của các DNDL vùng DHNTB tại Việt Nam;
- Đưa ra các hàm ý quản trị giúp các DNDL vùng DHNTB tại Việt Nam tăng cường HQHĐ của các DNDL
1.3 Câu hỏi nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu này phải trả lời các câu hỏi sau đây:
- CS ảnh hưởng như thế nào và mức độ tác động của CS đến HQHĐ của các DNDL vùng DHNTB tại Việt Nam?
- Có hay không vai trò trung gian của SGBNV, SCKNĐT, STGCĐĐP đối với tácđộng của CS đến HQHĐ của các DNDL vùng DHNTB tại Việt Nam?
- Có hay không sự khác biệt giữa các nhóm về sự tác động của CS đến HQHĐ của các DNDL vùng DHNTB tại Việt Nam?
- Những hàm ý quản trị nào cần đưa ra để giúp các DNDL vùng DHNTB tại ViệtNam tăng cường HQHĐ?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tác động của CS đến HQHĐ của các doanh nghiệp và vai trò trung gian của SGBNV, SCKNĐT, STGCĐĐP
- Đối tượng khảo sát: các nhà quản trị từ cấp trưởng, phó phòng, giám đốc kinh doanh trở lên tại các DNDL hoạt động tại vùng DHNTB tại Việt Nam
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: đề tài tập trung nghiên cứu các DNDL hoạt động tại vùngDHNTB của Việt Nam gồm các tỉnh thành phố Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, BìnhĐịnh, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận
- Phạm vi thời gian: đề tài được thực hiện từ tháng 6/2018 đến 11/2020
1.5 Phương pháp nghiên cứu
1.5.1 Nghiên cứu định tính
Từ những khoảng trống nghiên cứu được xác định trong quá trình lược khảo tài liệu
Mô hình nghiên cứu và thang đo ban đầu được tác giả đề xuất Sau đó, phương pháp thảoluận nhóm chuyên gia được sử dụng Tác giả thực hiện việc lấy ý kiến của các chuyên gia,gồm 9 người là thành viên ban giám đốc của các DNDL, cán bộ quản lý nhà nước và cácgiảng viên của các Trường Đại học Phương pháp nghiên cứu định tính
Trang 25này được thực hiện nhằm xây dựng và điều chỉnh các thang đo được rút ra từ các nghiêncứu trước để từ đó thiết kế bảng câu hỏi khảo sát phục vụ cho nghiên cứu định lượng sơ
bộ và định lượng chính thức
1.5.2 Nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu định lượng được thực hiện qua 2 bước gồm nghiên cứu sơ bộ và nghiêncứu chính thức
- Nghiên cứu sơ bộ: Nghiên cứu được thực hiện với qui mô mẫu là 100 quan sát.Mẫu trong nghiên cứu sơ bộ được thu thập và đánh giá bằng hệ số tin cậy Cronbach’sAlpha và phân tích nhân tố khám phá EFA bằng phần mềm SPSS 24 nhằm kiểm định
độ hội tụ và giá trị phân biệt của các biến quan sát trong thang đo
- Nghiên cứu chính thức: Đề tài tiến hành khảo sát bằng bảng câu hỏi chính thức.Nghiên cứu được thực hiện với qui mô mẫu là 495 quan sát Dữ liệu nghiên cứu được xử lý
và làm sạch Tác giả sử dụng phầm mềm hỗ trợ SmartPLS 3.2.8 để phân tích mô hình đolường và mô hình cấu trúc tuyến tính Luận án sử dụng phương pháp PLS-SEM
để kiểm định giả thuyết nghiên cứu
1.6 Những điểm mới của luận án
Kết quả nghiên cứu cho thấy, luận án có một số điểm mới so với các công trìnhnghiên cứu trước đây ở các nội dung sau:
Thứ nhất, luận án đề cập đến vấn đề chưa được nghiên cứu trên thế giới cũng nhưtại Việt Nam trước đây là tác động của CS đến HQHĐ của các DNDL
Thứ hai, luận án xây dựng mô hình nghiên cứu thể hiện được mối quan hệ chặt chẽgiữa các khái niệm nghiên cứu gồm CS, SGBNV, SCKNĐT, STGCĐĐP và HQHĐcủa doanh nghiệp
Thứ ba, luận án khám phá vai trò trung gian của SGBNV, SCKNĐT và STGCĐĐPtrong tác động của CS đến HQHĐ của doanh nghiệp mà các công trình trước đây chưanghiên cứu
Thứ tư, các yếu tố trung gian là SGBNV, SCKNĐT, STGCĐĐP được phân tíchtheo tiếp cận đối tượng khảo sát là lãnh đạo các DNDL Đây là sự khác biệt so với cáccông trình nghiên cứu trước đây đã nghiên cứu theo tiếp cận là nhân viên, cộng đồngđịa phương và nhà đầu tư
Thứ năm, luận án điều chỉnh các thang đo gốc phù hợp với đặc thù các DNDL đanghoạt động trong vùng DHNRB tại Việt Nam và bổ sung một số biến quan sát mới vàothang đo các yếu tố trong mô hình nghiên cứu Độ tin cậy của các thang đo mới trong môhình nghiên cứu cho kết quả khá cao nên các nghiên cứu tiếp theo có thể kế thừa
Trang 26Cuối cùng, luận án đưa ra các hàm ý quản trị về tác động của CS đến HQHĐ củacác DNDL cũng như các hàm ý quản trị về vai trò trung gian của SGBNV, SCKNĐT
và STGCĐĐP trong tác động của CS đến HQHĐ của các DNDL mà các công trìnhnghiên cứu trước đây chưa đề cập đến
1.7 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
1.7.1 Về mặt khoa học
Thứ nhất, nghiên cứu hệ thống hoá các lý thuyết nền liên quan đến vấn đề nghiêncứu như lý thuyết tính chính đáng, lý thuyết thể chế, lý thuyết các bên liên quan và lýthuyết phụ thuộc nguồn lực Bên cạnh đó, luận án tổng hợp và hệ thống các nghiên cứuliên quan đến vấn đề nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam
Thứ hai, trên cơ sở lý thuyết nền và các nghiên cứu trước, luận án xây dựng môhình nghiên cứu tác động của CS đến HQHĐ của các DNDL và vai trò trung gian củaSGBNV, SCKNĐT, STGCĐĐP và được kiểm định tại vùng DHNTB của Việt Nam.Cuối cùng, nghiên cứu bổ sung, điều chỉnh và đánh giá thang đo của các kháiniệm nghiên cứu Từ đó, phát triển các khái niệm nghiên cứu phù hợp trong điều kiệncủa Việt Nam nói chung và vùng DHNTB tại Việt Nam nói riêng Do đó, luận án đảmbảo được tính mới Đồng thời, các nghiên cứu tiếp theo có thể kế thừa và tiếp tục pháttriển hơn nữa những vấn đề nghiên cứu của luận án
CS để doanh nghiệp hoạt động một cách bền vững và từ đó nâng cao HQHĐ củaDNDL Đồng thời, nghiên cứu này sẽ góp phần khuyến khích các DNDL quan tâmhơn nữa đến các bên liên quan trong việc hoạch định chính sách và thực thi các chiếnlược kinh doanh
Nghiên cứu này cũng mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới cho các nhà nghiên cứutrong trong tương lai khi tìm hiểu về bền vững doang nghiệp, SGBNV, SCKNĐT,STGCĐĐP và HQHĐ trong các lĩnh vực khác
Trang 271.8 Kết cấu của đề tài
Nghiên cứu được thiết kế theo bố cục 5 chương như sau:
Chương 1 Giới thiệu về đề tài nghiên cứu
Trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiêncứu, phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu đồng thời trình bày ý nghĩa củanghiên cứu và những điểm mới của luận án
Chương 2 Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Trình bày, tổng hợp, hệ thống các lý thuyết nền và các khái niệm nghiên cứu Từ
đó, nghiên cứu đề xuất mô hình nghiên cứu cùng với các giả thuyết nghiên cứu phùhợp trong điều kiện vùng DHNTB tại Việt Nam
Chương 3 Phương pháp nghiên cứu
Trình bày quy trình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Bên cạnh đó, luận
án trình bày cách thức xây dựng thang đo, cách thức thu thập dữ liệu trong nghiên cứuđịnh lượng sơ bộ và nghiên cứu định lượng chính thức, phương pháp phân tích dữ liệu
Chương 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trình bày kết quả xử lý dữ liệu bao gồm thống kê mẫu, đánh giá độ tin cậy của thang
đo, phân tích EFA, đánh giá mô hình đo lường và mô hình cấu trúc, kiểm định sự khácbiệt giữa các nhóm và thảo luận kết quả nghiên cứu cũng đã được thực hiện so với cácnghiên cứu có trước và dựa vào tình hình thực tế của vùng DHNTB tại Việt Nam
Chương 5 Kết luận và hàm ý quản trị
Tổng kết kết quả nghiên cứu đạt được và từ đó đưa ra các hàm ý quản trị cũngnhư nêu ra những hạn chế của nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo
Kết luận Chương 1
Việt Nam là nước đang phát triển với ngành du lịch được xem là ngành có nhiềutác động đến kinh tế, xã hôi và môi trường Phần lớn các nghiên cứu về CS và CSR đãđược thực hiện trong bối cảnh phương Tây Thực tế cho thấy khái niệm CS và CSRcủa phương Tây không phù hợp với bối cảnh các nước phương Đông Các nghiên cứutrước đây tại Việt Nam chỉ đề cập đến CSR thay vì nghiên cứu về CS Đề tài này đãtổng quan tài liệu và xây dựng khung nghiên cứu lý thuyết về CS trong điều kiện phùhợp với Việt Nam nói chung và vùng DHNTB tại Việt Nam nói riêng Khung nghiêncứu lý thuyết về CS này có thể là một gợi ý để các nhà nghiên cứu sử dụng làm công
cụ để tiếp tục các nghiên cứu trong tương lai
Trang 28CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương 2 tổng quan các khái niệm nghiên cứu Bên cạnh đó, chương này cũnggiới thiệu các lý thuyết nền của nghiên cứu gồm: lý thuyết tính chính đáng, lý thuyếtthể chế, lý thuyết các bên liên quan và lý thuyết phụ thuộc nguồn lực Luận án vậndụng lý thuyết nền và các nghiên cứu trước để đề xuất mô hình nghiên cứu và đưa racác giả thuyết nghiên cứu
2.1 Các khái niệm
2.1.1 Bền vững doanh nghiệp
Bền vững doanh nghiệp là một khái niệm có liên quan, kế thừa một số chủ đề vàcác khái niệm như: Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate SocialResponsibility); Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory); PTBV (SustainableDevelopment) và Trách nhiệm thực hiện hoặc giải trình của doanh nghiệp (CorporateAccountability) (Wilson, 2003) Để làm rõ khái niệm bền vững doanh nghiệp, sựtương đồng và khác biệt giữa khái niệm CS các khái niệm có liên quan đến tráchnhiệm xã hội, luận án trình bày khái niệm về bền vững doanh nghiệp và về các chủ đềliên quan đến bền vững doanh nghiệp
Khái niệm bền vững doanh nghiệp
Bền vững doanh nghiệp (Corporate Sustainability – CS) là khái niệm được pháttriển sau khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate SocialResponsibility – CSR) CS đang được các nhà khoa học và nhà quản lý giành nhiều sựquan tâm trong giai đoạn hiện nay
Căn nguyên của khái niệm CS được cho là bắt nguồn từ cuối những năm 1980, cùngthời gian khi khái niệm PTBV đã đạt được sức hút (Schwartz và Carroll, 2008; Hahn vàcộng sự, 2017) Định nghĩa về CS được áp dụng từ sự PTBV và có thể được xem là sự đápứng nhu cầu của các bên liên quan khác nhau của doanh nghiệp mà không làm ảnh hưởngđến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai (Dyllick và Hockerts, 2002) Làmột cách tiếp cận kinh doanh đa ngành, mang tính chiến lược, CS tạo ra giá trị lâu dài chocác bên liên quan của doanh nghiệp Sự khác biệt giữa PTBV và CS là PTBV đề cập đếntính bền vững ở cấp độ vĩ mô trong khi CS được liên kết với tính bền vững ở cấp độ vi môhoặc cấp độ doanh nghiệp (Dyllick và Muff, 2015)
Đồng tình với quan điểm này, Bansal (2005) và Sharma (2002) cũng cho rằng CS cótương quan với sự thịnh vượng kinh tế, công bằng xã hội và tính toàn vẹn môi trường
Trang 29Cụ thể, trong nghiên cứu của mình Bansal và Song (2017) đã một lần nữa khẳng định rằnghai khái niệm CS và CSR cùng liên quan đến một vấn đề nhưng không giống nhau Bansal
và Song (2017) cho rằng trách nhiệm doanh nghiệp và sự bền vững cùng giải quyết mốiquan hệ giữa doanh nghiệp và xã hội Tuy nhiên, hai lĩnh vực nghiên cứu này đã hội tụ vàchính điều này đã gây nên những trở ngại và vướng mắc cho việc nghiên cứu chúng Cũngtheo đó, nghiên cứu CSR là những chuẩn mực, đạo đức và chống lại sự bất hợp pháp trongcác hoạt động kinh doanh Trong khi đó, nghiên cứu về CS đưa ra một viễn cảnh hệ thống,gióng lên hồi chuông cảnh báo về những thất bại do hoạt động kinh doanh không chútrọng đến các khía cạnh xã hội và môi trường tự nhiên
Theo Aras và Crowther (2009), có nhiều giai đoạn trưởng thành khác nhau đểphản ánh việc áp dụng CS và CSR Ban đầu, các doanh nghiệp bắt đầu tham gia vàocác hoạt động phản ánh CSR mà không có chất lượng Giai đoạn thứ hai được gọi làngăn chặn chi phí, theo đó các doanh nghiệp tái cấu trúc quy trình kinh doanh để giảmcác tiêu thụ nước và năng lượng giúp giảm chi phí và cải thiện hiệu quả tài chính Sựtham gia của các bên liên quan là giai đoạn thứ ba, theo đó các doanh nghiệp đã từngbước quan tâm đến sự thỏa mãn của nhân viên và khách hàng Giai đoạn thứ tư baogồm việc truyền đạt về các sáng kiến này bằng cách phát triển các báo cáo CSR Giaiđoạn thứ năm là sự bền vững (Sustainability), trong đó ngụ ý những thay đổi căn bảnđối với thực tiễn kinh doanh và một lượng đáng kể quá trình của doanh nghiệp đượctái thiết kế (Reengineering) Trong các bối cảnh này, dường như khái niệm CS có mộttương lai tươi sáng, bởi vì cốt lõi của nó là giải quyết và nắm bắt những mối quan tâmquan trọng nhất của công chúng về các mối quan hệ kinh doanh, xã hội và môi trường.Đồng thời, nghiên cứu của Kocmanová và Dočekalová (2011) chỉ ra rằng tínhbền vững là một chiến lược của doanh nghiệp với mục tiêu tăng trưởng dài hạn, đemlại hiệu quả và làm tăng hiệu suất cũng như khả năng cạnh tranh của doanh nghiệpbằng cách kết hợp các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường vào quản lý doanhnghiệp Những cải tiến trong lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường có thể giúp tíchhợp các khái niệm về PTBV vào thực tiễn kinh doanh và dẫn đến tính bền vững
Do đó, CS thực sự có thể được định nghĩa là ứng dụng PTBV ở cấp độ vi mô, tức làcấp độ doanh nghiệp (Steurer và cộng sự, 2005; Baumgartner và Ebner, 2010; Lozano,2015; Dyllick và Muff, 2015; Hahn và cộng sự, 2017) Theo đó, có thể xác định ba yếu tốchính cốt lõi của CS bao gồm ba phương diện kinh tế, xã hội và môi trường Điều này
Trang 30cho thấy, việc thực hiện các chiến lược của doanh nghiệp không chỉ xem xét các điềukiện tiên quyết về kinh tế mà còn phải xem xét các điều kiện về xã hội, môi trường vàtác động của các hành động của doanh nghiệp cũng như sự phụ thuộc lẫn nhau giữa baphương diện này Cùng với đó, việc thực hiện các hoạt động CS đòi hỏi một địnhhướng kinh doanh dài hạn làm cơ sở để đáp ứng nhu cầu của các bên liên quan hiện tại
và trong tương lai (Zink, 2008)
(Nguồn: Kocmanová và Dočekalová, 2011)
Hình 2.1: Mô hình mối quan hệ giữa môi trường, kinh tế và xã hội với thành quả
hoạt động của doanh nghiệp của Kocmanová và Dočekalová (2011)
Tóm lại, dựa vào các quan điểm nêu trên, luận án định nghĩa CS là một mô hìnhchiến lược nhằm phát triển khả năng tạo ra giá trị lâu dài cho doanh nghiệp và các bên liênquan của doanh nghiệp bằng cách đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp và các bên liên quangắn với các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường hiện tại và tương lại Trong đó, cáckhía cạnh kinh tế đề cập đến việc quản lý doanh nghiệp nhằm giảm thiểu gánh nặng chiphí về môi trường, tiết giảm tiêu thụ năng lượng và nước, hợp tác tích cực với các bên liênquan, cải thiện quy trình hoạt động để phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của doanh nghiệp
và đạt được khả nặng cạnh tranh bền vững trong thời gian dài; các khía cạnh xã hội đề cậpđến việc quản lý doanh nghiệp theo cách tiếp cận nhằm giảm thiểu sự bất bình đẳng vàchia rẽ xã hội, cải thiện chất lượng cuộc sống và tăng cường mối quan hệ với các bên liênquan khác nhau; cuối cùng, các khía cạnh môi trường đề cập
Trang 31đến nỗ lực của doanh nghiệp để quản lý hoạt động của doanh nghiệp theo cách mà cácsản phẩm cuối cùng của doanh nghiệp không gây hại cho môi trường, không gây ônhiễm, giảm thiểu tiêu thụ tài nguyên và tuân thủ các quy định về môi trường Đồngthời, doanh nghiệp phải có trách nhiệm báo cáo hiệu quả của các hoạt động CS đến cácbên liên quan và toàn xã hội.
Các chủ đề liên quan đến khái niệm CS a
Phát triển bền vững (Sustainable Development)
PTBV (Sustainable Development – SD) là sự phát triển của nhân loại không chỉchú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội
và sự tác động đến môi trường sinh thái học (IUCN, 1980) Đến năm 1992, có ít nhất
70 định nghĩa khác nhau cho PTBV (Lozano, 2008) và gần 300 định nghĩa về tính bềnvững và PTBV vào năm 2007 (Johnston và cộng sự 2007) Với số lượng lớn các địnhnghĩa được trích dẫn về PTBV trong báo cáo của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thếgiới (WCED) năm 1987 (còn được gọi là Báo cáo của Ủy ban Brundtland) thì PTBVđược định nghĩa là "sự phát triển đáp ứng nhu cầu của các thế hệ hiện tại mà khôngảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai" Định nghĩa từ Báo cáocủa Ủy ban Brundtland có thể không biểu lộ sự phức tạp và mâu thuẫn cơ bản của kháiniệm PTBV nhưng nó nhấn mạnh giá trị cơ bản rằng sự phát triển kinh tế không đượclàm suy yếu yếu tố xã hội và môi trường mà chúng dựa vào Năm 1992, Hội nghị Liênhiệp quốc về Môi trường và Phát triển (UNCED) được tổ chức tại Rio de Janeiro ởBrazil (Hội nghị thượng đỉnh Trái đất Rio) nhằm xây dựng các mục tiêu của Báo cáocủa Ủy ban Brundtland, và tập trung vào phát triển khuôn khổ toàn cầu để giải quyếtcác thách thức môi trường, chẳng hạn như biến đổi khí hậu và mất đa dạng sinh họcthông qua sự PTBV (Redclift, 2005)
Một thập kỷ sau Báo cáo của Ủy ban Brundtland, John Elkington (1998) đã đưa ramột định nghĩa cụ thể hơn về PTBV, theo đó PTBV thông qua lý thuyết về “ba điểm mấuchốt” (Triple Bottom Line - TBL), tức là theo đuổi đồng thời thịnh vượng kinh tế, chấtlượng môi trường và công bằng xã hội (Elkington, 1998) TBL, còn được gọi là 3Ps, nhằmđạt được sự cân bằng giữa các khía cạnh xã hội (con người), môi trường (hành tinh) vàkinh tế (lợi nhuận) với sự bền vững như nhau Thật vậy, việc tích hợp và cân bằng cáckhía cạnh xã hội, môi trường và kinh tế đồng thời cùng với việc tập trung
Trang 32vào bản chất dài hạn của các hoạt động kinh doanh là những yếu tố cốt lõi trong PTBV(Robinson, 2004; Hahn và cộng sự 2015).
Tại Việt Nam, PTBV là một xu thế tất yếu và cấp bách trong tiến trình phát triểnkinh tế - xã hội trong thời đại cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và toàn cầu hóa đangdiễn ra hiện nay Việt Nam đã cam kết thực hiện “Chương trình nghị sự 2030 vì sựPTBV của Liên hợp quốc”, gồm 17 mục tiêu chung và 115 mục tiêu cụ thể Vào năm
2017, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiệnChương trình nghị sự 2030, kế hoạch chỉ rõ PTBV là yêu cầu xuyên suốt trong quátrình phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa phát triển kinh tế vớiphát triển xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khíhậu Kế hoạch hành động thể hiện nỗ lực và cam kết của Chính phủ Việt Nam trongviệc thực hiện các mục tiêu PTBV, bao gồm những mục tiêu tổng quát và cụ thể làm
cơ sở pháp lý để các bộ ngành, địa phương, các tổ chức và các cá nhân triển khai thựchiện và phối hợp hành động
Tóm lại, theo tác giả, PTBV là sự phát triển nhằm giải quyết mối quan hệ giữatăng trưởng kinh tế với sự thịnh vượng, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường tựnhiên, bảo đảm một hành tinh bền vững, một thế giới dễ sống, một xã hội công bằngcho thế hệ hôm nay và mai sau
b Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social Responsibility)
CSR là một cách thể hiện mối quan hệ và cam kết của doanh nghiệp đối với xã hội.Howard R Bowen, người được Carroll gọi là “Cha đẻ của CSR” (Carroll, 1999), địnhnghĩa trách nhiệm xã hội là nghĩa vụ của các doanh nhân để theo đuổi các chính sách, đểđưa ra các quyết định, hoặc để hành động theo các mong muốn về các mục tiêu và giá trịcủa xã hội (Bowen, 2013) Nghĩa vụ ở đây được hiểu là việc phải làm, thể hiện sự ràngbuộc giữa các bên có liên quan trong những mối quan hệ cụ thể, trước hết là một phạm trùđạo đức học phản ánh trách nhiệm của một cá nhân hoặc một tổ chức đối với những việcphải làm trong những điều kiện xã hội cụ thể, trước một tình hình xã hội nhất định tại mộtthời điểm nhất định Trong giai đoạn 1960-1970, khái niệm về CSR xoay quanh hai quanđiểm tương phản Những người ủng hộ CSR tin rằng các doanh nghiệp là một phần của xãhội và do đó có nghĩa vụ phải phát triển hoạt động xã hội và môi trường của họ ngoài cácnghĩa vụ kinh tế và pháp lý (Frederick, 1960; McGuire, 1963) Mặt khác, những ngườiphản đối CSR theo tư tưởng kinh tế cổ điển của thị trường
Trang 33tự do cho rằng, các tập đoàn chỉ có một trách nhiệm và đó là kiếm lợi nhuận theo luật(Levitt, 1958; Friedman, 2007).
Mặc dù có những quan điểm khác nhau về cách CSR có thể mang lại lợi ích(hoặc cản trở) hoạt động của doanh nghiệp, khái niệm về CSR vẫn tiếp tục phát triển
và mở rộng qua nhiều năm Từ những năm 1950, một số mô hình CSR được phát triển
để xây dựng vai trò và trách nhiệm tương ứng của các tập đoàn đối với các cổ đông vàcác bên liên quan Những mô hình này đã được xem xét trong tài liệu nghiên cứu(Kanji và Agrawal 2016), một số trong số đó là Mô hình tự do (Friedman, 1970), Môhình của Ackerman (Ackerman và Bauer, 1976), Mô hình các bên liên quan (Freeman,2015), Mô hình kim tự tháp của CSR (Carroll, 1991), Mô hình ba miền của CSR(Schwartz và Carroll, 2003) và Mô hình 3C-SR (Meehan và cộng sự, 2006) Trong nửathế kỷ qua, nhiều định nghĩa về CSR được đề xuất trong tài liệu nhưng gần như không
có định nghĩa chính xác về thuật ngữ này (Matten và Moon, 2008; Nasrullah vàRahim, 2014) Sarkar và Searcy (2016) đã xác định 110 định nghĩa về CSR từ tạp chí,sách và các ấn phẩm phi học thuật được đánh giá từ năm 1953 đến 2014 và phân loạichúng thành ba giai đoạn Ý tưởng về CSR của thời kỳ đầu tiên (1953 - 1982) đượcxây dựng dựa trên quan niệm rằng “các doanh nghiệp không chỉ có nghĩa vụ kinh tế vàpháp lý mà còn có những phản hồi xã hội nhất định mà họ nên đáp ứng một cách tựnguyện Lần thứ hai (1983 - 2002) chứng kiến “sự gia tăng sử dụng các thuật ngữ liênquan đến đạo đức” Các mối quan tâm về môi trường, tính bền vững và các bên liênquan cũng được nêu bật trong một số định nghĩa từ thời kỳ này Trong giai đoạn thứ ba(2003 - 2014), môi trường, các bên liên quan và các cân nhắc về đạo đức tiếp tục tạothành một thành phần cốt lõi của định nghĩa CSR (Sarkar và Searcy, 2016) Dahlsrud(2008) cũng đã xác định và phân tích 37 định nghĩa về CSR từ 1980 đến 2003 và kếtluận rằng các phiên bản chủ yếu phù hợp với nhau (Dahlsrud, 2008)
Giống như CSR, CS là một khái niệm gây tranh cãi cho thấy các cam kết của doanhnghiệp trong việc thúc đẩy các hoạt động của mình trong ba khía cạnh kinh tế, xã hội vàmôi trường Hai khái niệm dường như được hội tụ gần đây (Montiel, 2008) Tuy nhiên,
CS không chỉ tập trung vào các khía cạnh ngắn hạn mà cả các hoạt động dài hạn của cáchoạt động doanh nghiệp (Bansal và DesJardine, 2014; Hahn và cộng sự, 2015) Cănnguyên của khái niệm CS dường như bắt nguồn từ cuối những năm 1980 cùng lúc khikhái niệm PTBV đã đạt được sức hút (Schwartz và Carroll, 2008; Hahn và cộng sự,
Trang 342017) Do đó, định nghĩa về CS được áp dụng từ sự PTBV và có thể được xem là sựđáp ứng nhu cầu của các cổ đông và các bên liên quan của doanh nghiệp mà khônglàm ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai (Dyllick vàHockerts, 2002) CS là một cách tiếp cận kinh doanh đa ngành, mang tính chiến lược,
CS tạo ra một giá trị cổ phiếu lâu dài và các bên liên quan cho các doanh nghiệp(Dyllick và Muff, 2015)
Bên cạnh đó, một số học giả quan niệm CSR và CS là cùng một khái niệm nhưngkhuyên rằng nên giữ một chút khác biệt về ứng dụng của họ trong thực tiễn kinh doanh.Chẳng hạn, Van Marrewijk (2003), một trong những học giả đầu tiên nhận xét về mốiquan hệ giữa CSR và CS, coi CSR và CS là hai mặt của một đồng tiền nhưng khuyên nêngiữ một sự khác biệt nhỏ, đó là liên kết CSR như là hoạt động đối thoại với các bên liênquan và báo cáo bền vững, trong khi đó, CS như là các hoạt động tạo ra giá trị cho doanhnghiệp và quản lý môi trường (Van Marrewijk, 2003) Steurer và cộng sự, (2005) cũng coiCSR và CS là các khái niệm tương tự nhưng mô tả CS là một cách tiếp cận ở cấp vi mô vàCSR là các hoạt động quản lý liên quan đến việc thực hiện CS trong ngắn hạn Đồng thời,Steurer và cộng sự (2005) cũng thảo luận về các mối quan hệ giữa PTBV, CS và CSR, và
mô tả các thuật ngữ như các khái niệm ba bên, liên kết chặt chẽ, nhưng ở các mức độ đặcthù khác nhau với các sắc thái khái niệm khác nhau
c Trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp (Corporate Accountability)
Wilson (2003) cho rằng kết hợp PTBV, CSR, trách nhiệm giải trình(Accountability) của doanh nghiệp và lý thuyết các bên liên quan chúng ta có đượcbốn trụ cột của CS Trong đó, CS là một khái niệm phát triển mà các nhà quản lý đang
áp dụng để thay thế cho mô hình tăng trưởng và tối đa hóa lợi nhuận truyền thống.PTBV đặt ra các lĩnh vực hoạt động mà các công ty nên tập trung vào
Đồng thời, cũng đóng góp tầm nhìn và các mục tiêu xã hội mà doanh nghiệp nênhướng tới, đó là bảo vệ môi trường, công bằng xã hội và công bằng và phát triển kinh tế.CSR đóng góp các lập luận đạo đức, đồng thời lý thuyết các bên liên quan cung cấp cáclập luận kinh doanh về việc tại sao các doanh nghiệp nên làm việc hướng tới các mục tiêunày Trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp cung cấp lý do tại sao các doanh nghiệp nênbáo cáo với xã hội về hiệu suất của họ trong các lĩnh vực này (Wilson, 2003)
Trang 35(Nguồn: Wilson, 2003)
Hình 2.2: Mô hình sự phát triển của CS của Wilson (2003)
Trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp là trách nhiệm pháp lý hoặc đạo đức đểcung cấp một tài khoản hoặc tính toán các hành động mà cá nhân hoặc tổ chức chịu tráchnhiệm Trách nhiệm giải trình (Accountability) khác với nhiệm vụ (Responsibility) ở chỗnhiệm vụ liên quan đến nghĩa vụ hành vi theo một cách nhất định, còn trách nhiệm giảitrình liên quan đến một nghĩa vụ khác để giải thích, biện minh hoặc báo cáo về hành độngcủa mình (Wilson, 2003) Đóng góp của lý thuyết trách nhiệm giải trình của doanh nghiệpđối với CS giúp xác định bản chất của mối quan hệ giữa các nhà quản lý doanh nghiệp vàphần còn lại của xã hội Đồng thời, lý thuyết này cũng đưa ra các lập luận về lý do tại saocác doanh nghiệp nên báo cáo về hiệu quả môi trường, xã hội và kinh tế của doanh nghiệpsong song với các báo cáo về hiệu quả tài chính
Meyer và Kirby (2010) đặc biệt kêu gọi trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp đốivới các yếu tố bên ngoài Do kết quả của sự thay đổi quy mô hoạt động và tác động củahoạt động doanh nghiệp đến xã hội và môi trường, do đó trách nhiệm giải trình của doanhnghiệp đối với các bên liên quan là không thể tránh khỏi Porter và Kramer (2011) đề xuất
về việc tạo ra giá trị chung cung cấp một khung chiến lược cho sự hợp tác giữa doanhnghiệp và xã hội Nghiên cứu điển hình này đã truyền cảm hứng cho việc sử dụng và triểnkhai các yếu tố của khung này để tạo ra giá trị chung Một khung trách nhiệm
Trang 36giải trình mới bao gồm các yếu tố bên ngoài của doanh nghiệp và liên quan đến giấyphép xã hội của doanh nghiệp có thể cung cấp một cơ sở để đo lường việc tạo ra giá trịchung (Mohammed, 2013).
Gray và cộng sự (1996) đưa ra định nghĩa trực tiếp nhất về trách nhiệm giải trình
vì nhiệm vụ cung cấp tài khoản (không nhất thiết phải là tài khoản tài chính) hoặc tínhtoán các hành động mà một người phải chịu trách nhiệm Phát triển theo quan điểmnày, Mohammed (2013) cho rằng trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp được kháiniệm hóa như là nghĩa vụ tích cực của sự thường xuyên để cung cấp một báo cáo vềnhững hành động mà cá nhân hoặc tổ chức chịu trách nhiệm Đồng thời, trách nhiệmgiải trình của doanh nghiệp là báo cáo dành cho tất cả biên liên quan chứ không chỉ làcho các cổ đông của doanh nghiệp
Ngày nay, có sự công nhận ngày càng tăng của cả doanh nghiệp và xã hội rằngcác doanh nghiệp cần tham gia một cách có ý nghĩa hơn với các vấn đề môi trường và
xã hội Sự tham gia này có thể được tăng cường thông qua việc tích hợp bối cảnh bềnvững vào một khuôn khổ kết hợp trách nhiệm Khung trách nhiệm giải trình doanhnghiệp được đề xuất trong nghiên cứu của Mohammed (2013) dựa trên định nghĩamạnh mẽ hơn về trách nhiệm giải trình đòi hỏi các hành động chủ động của các doanhnghiệp để khám phá, chia sẻ và thiết kế các chương trình hành động để hợp tác với tất
cả các bên liên quan
Đồng thời, Mohammed (2013) cũng lập luận rằng, bối cảnh trách nhiệm của doanhnghiệp đã thay đổi đáng kể trong những năm qua Những thách thức về tính bền vững hiện
có đang hạn chế nghiêm trọng tiềm năng tạo ra giá trị của nhiều mô hình kinh doanh củadoanh nghiệp Trong một thế giới hạn chế tài nguyên, các doanh nghiệp bị hạn chế về khảnăng đạt được và duy trì lợi thế cạnh tranh, đồng thời nhanh chóng mất đi giấy phép xãhội để hoạt động Trong bối cảnh này, các doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong việccung cấp các giải pháp tiềm năng cho sự bền vững và đồng thời cung cấp cho các doanhnghiệp tiềm năng để khám phá các nguồn tạo ra giá trị mới Chính vì vậy, trách nhiệm giảitrình của doanh nghiệp là khía cạnh quan trọng để tạo nên CS
Trang 37sử dụng rộng rãi nhất (Strasser và cộng sự, 1981) vì các tổ chức tồn tại chủ yếu để đạtđược một số mục tiêu được chỉ định Theo đó, Bernard (1938) định nghĩa hiệu quả là việchoàn thành các mục tiêu được công nhận của nỗ lực hợp tác và nhấn mạnh thêm rằng mức
độ hoàn thành là mức độ hiệu quả Như vậy, theo cách tiếp cận mục tiêu hợp lý thì HQHĐđược định nghĩa là việc hoàn thành các mục tiêu của doanh nghiệp
Tuy nhiên, những mục tiêu của doanh nghiệp đôi khi rất khó xác định và đolường vì tính không nhất quán và được nhận biết khác nhau bởi các thành viên tổ chứckhác nhau Đồng thời, Glunk và Wilderom (1996) nhận thấy rằng HQHĐ theo cáchtiếp cận mục tiêu hợp lý được các nghiên cứu thực nghiệm khám phá tập trung vàomức độ thành công mà tổ chức thực hiện các mục tiêu đầu ra Nói cách khác, HQHĐđược định nghĩa là việc hoàn thành các mục tiêu tài chính/kinh tế của doanh nghiệp
Trang 38Mặt khác, HQHĐ không chỉ là hiệu quả kinh tế/tài chính định hướng đầu ra, cácquan điểm rộng hơn với các chỉ số hoạt động phi tài chính đã trở thành vấn đề thảoluận giữa các nhà nghiên cứu chiến lược (Glunk và Wilderom, 1996) Do đó, hiệu quảhoạt của doanh nghiệp được phát triển theo tiếp cận giá trị cạnh tranh (Competing-values Approach) được các nhà nghiên cứu thảo luận Phương pháp tiếp cận giá trịcạnh tranh được phát triển bởi Quinn và Rohrbaugh (1983) Theo đó, HQHĐ được tíchhợp thêm nhiều tiêu chí bên cạnh các chỉ tiêu tài chính/kinh tế để tạo ra các chiều củahiệu quả, đại diện cho các giá trị quản lý cạnh tranh trong các tổ chức.
Cách tiếp cận giá trị cạnh tranh là cách tiếp cận đã mở rộng khái niệm về HQHĐ.Quinn và Rohrbaugh (1983) đã sử dụng phương pháp xếp hạng của các chuyên gia đểphát triển một danh sách các tiêu chí hiệu quả bao gồm ba khía cạnh: (1) bên ngoài sovới bên trong, (2) kiểm soát so với tính linh hoạt và (3) định hướng quy trình so vớiđịnh hướng mục tiêu Đồng thời, Quinn và Rohrbaugh (1983) đã đưa ra bốn quan điểmkhác nhau về hiệu quả bao gồm: (1) quan điểm mục tiêu hợp lý (nhấn mạnh các yếu tốbên ngoài và kiểm soát), (2) quan điểm hệ thống mở (nhấn mạnh yếu tố bên ngoài vàtính linh hoạt) (3) quan điểm quan hệ con người (nhấn mạnh yếu tố bên trong và tínhlinh hoạt) và (4) quan điểm quy trình nội bộ (nhấn mạnh yếu tố bên trong và kiểmsoát) Từ đó, cách tiếp cận này cho thấy bản chất đa dạng của khái niệm HQHĐ Nhưvậy, theo cách tiếp cận giá trị cạnh tranh thì HQHĐ được định nghĩa là việc đạt đượcchất lượng đầu ra của doanh nghiệp
Tuy nhiên, theo Glunk và Wilderom (1996) một số thành phần bên ngoài quantrọng như khách hàng, đối thủ cạnh tranh hoặc các đại diện khác của xã hội khôngđược đề cập đến trong mô hình của Quinn và Rohrbaugh (1983) Do đó, mặc dù Quinn
và Rohrbaugh (1983) lập luận rằng “chất lượng đầu ra” được xem xét để đánh giáHQHĐ, nhưng mô hình của Quinn và Rohrbaugh (1983) vẫn được đánh giá là khôngtoàn diện (Glunk và Wilderom, 1996)
Ngoài ra, khái niệm hiệu quả xã hội hoặc các bên liên quan đã trở thành một chủ
đề được thảo luận rộng rãi trong nghiên cứu chiến lược (Vankatranan và Rananujam,1986; Clarckson, 1995) Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu theo truyền thống đã dành rất
ít nỗ lực để xây dựng lý thuyết về HQHĐ (Glunk và Wilderom, 1996) Sau đó, cáckhái niệm rộng hơn về HQHĐ theo quan điểm các bên liên quan đã được thảo luận(Kanter và Brinkerhoff, 1981; Brown và Laverick, 1994)
Trang 39Theo cách tiếp cận các bên liên quan, hiệu quả được đo lường bằng khả năng đápứng các thành phần chiến lược và cân bằng lợi ích của các bên liên quan Tuy nhiên,Kanter và Brinkerhoff (1981) lưu ý rằng một số lợi ích của bên liên quan này mạnhhơn những lợi ích của những bên liên quan khác; nói cách khác, lợi ích của các bênliên quan là khác nhau và đôi khi mâu thuẫn nhau Các tài liệu về HQHĐ đã phản ánhcách tiếp cận các bên liên quan Theo Brown và Laverick (1994), một tổ chức càngphụ thuộc vào sự hợp tác và thiện chí của những người khác như lực lượng lao động,nhà cung cấp, khách hàng, cộng đồng … thì cơ sở lập luận càng trở nên mạnh mẽ hơn
về việc đưa nhiều thành phần vào đánh giá HQHĐ Quan điểm này cho rằng sự vượttrội về kinh tế/tài chính chỉ là một phần trong hoạt động của doanh nghiệp Do đó, hiệuquả xã hội - xét về sự hài lòng của các bên liên quan - được xem là thành phần bổ sungvào đánh giá HQHĐ (Brown và Laverick, 1994)
Từ những cơ sở trên, theo quan điểm của luận án, HQHĐ là phạm trù dùng để chỉviệc đạt được các mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp Các mục tiêu chiến lược nàybao hàm các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính Nói các khác, HQHĐ là việc đạt đượchiệu quả tài chính và hiệu quả xã hội của doanh nghiệp
Các tiêu chí đo lường HQHĐ
Eccles (1991) phát biểu rằng: “Các cuộc cách mạng bắt đầu từ rất lâu trước khichúng chính thức bắt đầu Trong vài năm, các giám đốc điều hành cấp cao đã suy nghĩlại về cách đo lường HQHĐ Họ đã nhận ra rằng thực tế các chiến lược mới đã ra đời
và điều quan trọng đòi hỏi các hệ thống đo lường mới cần được khám phá” Nói cáchkhác, Eccles (1991) kết luận, "Chúng tôi đang nói về một triết lý mới về đo lường hiệuquả là một quá trình liên tục và đang phát triển"
Theo Brown và Laverick (1994) về cơ bản, đo lường hiệu quả là một phương tiện đểcác doanh nghiệp đánh giá hiệu quả của việc ra quyết định của doanh nghiệp Nếu làmđược điều này, doanh nghiệp có thể đánh giá sự thành công hay thất bại của các kế hoạchchiến lược trong doanh nghiệp Khái niệm thành công của doanh nghiệp bắt nguồn từ kếtquả hoạt động của doanh nghiệp Điều này phản ánh quá trình ra quyết định của doanhnghiệp liên quan đến các mục tiêu chiến lược, thị trường và toàn bộ hoàn cảnh bên trong
và bên ngoài (Brown và Laverick, 1994) Đồng thời, Brown và Laverick (1994) cũng chorằng điều quan trọng trước khi cố gắng đo lường HQHĐ là kiểm tra ba vấn đề chính: thứnhất, các biện pháp cụ thể sẽ được sử dụng là gì?; thứ hai, thông tin
Trang 40sẽ đến từ đâu?; và thứ ba, các biện pháp khác nhau nên được kết hợp như thế nào đểđưa ra bức tranh “chân thực” về doanh nghiệp Điều này ngụ ý rằng việc đo lườngHQHĐ phụ thuộc vào đặc điểm của thông tin/dữ liệu và các biện pháp được lựa chọn
để đánh giá HQHĐ
Ngoài ra, thông tin tài chính là nguồn thông tin phổ biến nhất của các doanhnghiệp Sự sẵn có của thông tin tài chính là do các yêu cầu của luật pháp buộc cácdoanh nghiệp phải công bố thông tin tài chính cụ thể hàng năm Những yêu cầu nàytạo ra dữ liệu có thể định lượng, khi được đối chiếu, sẽ cung cấp một số thước đo vềHQHĐ Tuy nhiên, các thước đo HQHĐ chỉ dựa trên thông tin tài chính đã vấp phảirất nhiều chỉ trích (Brown và Laverick, 1994) Theo đó, Brown và Laverick (1994) chỉ
ra rằng sự vượt trội về tài chính chỉ là một yếu tố trong các hoạt động của doanhnghiệp và lợi ích của những chỉ tiêu tài chính này chỉ tập trung vào lợi ích của nhà đầu
tư Điều này đã dẫn đến việc bỏ qua các bên liên quan khác mà các mục tiêu của doanhnghiệp cũng phải được đánh giá Do đó, Brown và Laverick (1994) khẳng định trongcông trình nghiên cứu của mình rằng để một thước đo thành công thực sự về HQHĐ,một doanh nghiệp phải làm hài lòng tất cả các bên liên quan của doanh nghiệp
Cùng quan điểm với Brown và Laverick (1994), Kaplan và Norton (1996) cho rằngcác chỉ tiêu tài chính là những chỉ tiêu cơ bản, cho phép đánh giá hiệu quả tài chính mà tổchức đạt được trong một giai đoạn nhất định nào đó của quá khứ Vì vậy, trong hoạt độngquản lý nó không giúp ích nhiều cho nhà quản lý trong việc đưa ra các quyết định điềuchỉnh kịp thời trong quá trình hoạt động Mặt khác, các chỉ tiêu tài chính đánh giá hiệuquả trong quá khứ là chưa đầy đủ thông tin để giúp các nhà quản lý trong việc quản trị,điều hành các hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai Để khắc phục những hạn chếcủa quan điểm đánh giá HQHĐ dựa vào các chỉ tiêu tài chính, Kaplan và Norton (2005) đãđưa ra mô hình lý thuyết thẻ điểm cân bằng (Balanced Scorecard – BSC) nhằm giúp đánhgiá HQHĐ một cách toàn diện hơn khi sử dụng kết hợp cả các chỉ tiêu tài chính và các chỉtiêu phi tài chính một cách cân bằng Điều này bao gồm các phương diện tài chính và cácphương diện phi tài chính như: triển vọng khách hàng, triển vọng nội bộ và học hỏi vàtăng trưởng BSC cung cấp một tập hợp các thước đo cho các nhà quản lý cấp cao mộtbáo cáo nhanh chóng về HQHĐ Nó cho phép các nhà quản lý có cái nhìn tổng quan vềdoanh nghiệp từ bốn góc độ gồm: thứ nhất, góc độ khách hàng: khách hàng nhìn nhậncông ty như thế nào; thứ hai, từ góc độ nội bộ: công ty phải nổi