Luận văn
Trang 1nguyÔn Sü HäA
THùC HIÖN B×NH §¼NG D¢N TéC ë T¢Y NGUY£N
HIÖN NAY THEO T¦ Tëng hå chÝ minh
Chuyên ngành : Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số : 62 22 85 01
luËn ¸n tiÕn sÜ triÕt häc
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1 GS, TS Trịnh Quốc Tuấn
2 TS Lê Đại Nghĩa
Hµ Néi - 2010
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, trích dẫn trong luận án là trung thực và có xuất xứ rõ ràng, luận án ch-
a từng đợc công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào.
Tác giả luận án
NGUYễN Sỹ HOạ
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN
1.1 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến tư tưởng Hồ ChíMinh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề dântộc, chính sách dân tộc và bình đẳng dân tộc 101.2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề dân tộc,thực hiện bình đẳng dân tộc ở Tây Nguyên và những vấn
đề liên quan đến đề tài chưa được nghiên cứu 15
Chương 2 THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC Ở TÂY
NGUYÊN HIỆN NAY THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ
2.1 Bình đẳng dân tộc và tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng
2.2 Thực chất và vai trò của thực hiện bình đẳng dân tộc ở
Tây Nguyên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh 50
Chương 3 THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
TRONG THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC Ở TÂY NGUYÊN HIỆN NAY THEO TƯ TƯỞNG HỒ
3.1 Thực hiện bình đẳng dân tộc ở Tây Nguyên hiện nay theo
tư tưởng Hồ Chí Minh - thực trạng và nguyên nhân 733.2 Những vấn đề đặt ra trong thực hiện bình đẳng dân tộc ởTây Nguyên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh 104
Chương 4 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC
THỰC HIỆN TỐT HƠN NỮA BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC Ở TÂY NGUYÊN HIỆN NAY THEO TƯ
Trang 4STT Chữ viết đầy đủ Chữ viết tắt
19 Vườn - ao - chuồng - ruộng VACR
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bình đẳng dân tộc là một nguyên tắc, nội dung cơ bản trong giải quyếtvấn đề dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin Trung thành và vận dụng sáng tạochủ nghĩa Mác - Lê nin về vấn đề dân tộc và BĐDT, Hồ Chí Minh đã giảiquyết vấn đề dân tộc, BĐDT phù hợp với đặc điểm dân tộc Việt Nam và đạthiệu quả trên thực tế Do đó, cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng HồChí Minh về BĐDT là cơ sở lý luận trực tiếp của quan điểm, CSDT, BĐDTcủa Đảng và Nhà nước ta Để biến những tư tưởng, giá trị bình đẳng thànhhiện thực trong đời sống các dân tộc ở Việt Nam, vấn đề tiên quyết là phảitrung thành và tiếp tục vận dụng sáng tạo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực hiện BĐDT trên thực tế nhằm phát huy sứcmạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần vào thắng lợi của sự nghiệpxây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay
Tây Nguyên là vùng chiến lược về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninhcủa cả nước; là địa bàn cư trú của 45 dân tộc, nhưng trình độ phát triển kinh tế
- xã hội của các dân tộc không đều nhau, nơi đang tiềm ẩn những nhân tố bất
ổn định về vấn đề dân tộc, BĐDT Do đó, giải quyết vấn đề dân tộc nói chung
và thực hiện BĐDT nói riêng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự pháttriển Tây Nguyên, là vấn đề có tính nguyên tắc trong thực thi CSDT nhằmbảo đảm quyền bình đẳng của các dân tộc và phát huy khối đại đoàn kết dântộc trên địa bàn, góp phần “xây dựng Tây Nguyên giàu về kinh tế, vững vềchính trị, phát triển nhanh về văn hoá - xã hội, mạnh về quốc phòng, an ninh,tiến tới xây dựng Tây Nguyên thành vùng kinh tế động lực”[27, tr.2]
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã quán triệt, vận dụng
tư tưởng Hồ Chí Minh về BĐDT vào thực hiện BĐDT ở Tây Nguyên đạtđược kết quả tích cực; đời sống mọi mặt của đồng bào các dân tộc, nhất là
Trang 6đồng bào các DTTS từng bước được nâng cao, quyền bình đẳng mọi mặt từngbước thể hiện trong đời sống của các dân tộc Tuy nhiên, trong thực hiệnBĐDT trên địa bàn còn những hạn chế, khuyết điểm nhất định Biểu hiện cólúc, có nơi nhận thức chưa đầy đủ, thậm chí hiểu chưa đúng tư tưởng Hồ ChíMinh về BĐDT; việc tổ chức thực hiện BĐDT thiếu sáng tạo, có sự sai lệch,
vi phạm dẫn đến hiệu quả trên thực tế chưa cao; các chính sách hỗ trợ xoáđói, giảm nghèo vùng DTTS chưa được triển khai tích cực và hiệu quả chưađạt được như mong muốn Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu làmcho sự chênh lệch về mức sống giữa các dân tộc trên địa bàn chậm được khắcphục Do vậy, thực hiện BĐDT ở Tây Nguyên theo tư tưởng Hồ Chí Minh làvấn đề cần được nghiên cứu và làm sáng tỏ cả về lý luận và thực tiễn
Sự nghiệp xây dựng và phát triển Tây Nguyên đang đặt ra yêu cầu mới:
“Phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng an ninh ở Tây nguyên phảiquán triệt sâu sắc chính sách dân tộc của Đảng và nhà nước; kết hợp đồng bộ
cả về kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh…; phải gắn liền với tiến bộ
và công bằng xã hội…; gắn chặt với xây dựng và củng cố hệ thống chính trịvững mạnh”[27, tr.3] Tuy nhiên, trên địa bàn Tây Nguyên hiện nay đang còntiềm ẩn những nhân tố có thể gây mất ổn định chính trị Trong thập kỷ đầu tiêncủa thế kỷ XXI, trên địa bàn đã xảy ra những vụ bạo loạn chính trị có tính chất
phản cách mạng vào những năm 2001, 2004 và 2008 Tình hình trên do những nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau Một mặt, do các thế lực thù địch
ra sức lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo hòng tạo cớ can thiệp, làm “ngòi nổ”,cùng với chống phá trên các lĩnh vực khác để “quốc tế hoá” vấn đề dân tộc ởTây Nguyên, tiến tới xóa bỏ chế độ XHCN ở nước ta Chúng cố tình xuyên tạcchủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, CSDT của Đảng,Nhà nước nhằm làm giảm lòng tin của đồng bào đối với Bác Hồ, Đảng và Nhànước ta Đồng thời, chúng lợi dụng những yếu kém trong tổ chức thực hiện
Trang 7BĐDT, sự bất BĐDT trên thực tế nhằm chia rẽ khối đoàn kết Kinh - Thượng,kích động tư tưởng ly khai, tự trị gây mất ổn định chính trị trên địa bàn
Mặt khác, không thể phủ nhận nguyên nhân chủ quan đó là sự yếu kém
của HTCT các cấp, nhất là HTCT ở cơ sở trong thực hiện CSDT, BĐDT; nhậnthức, niềm tin và ý thức tự vươn lên của đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyêncòn hạn chế Tình hình trên đòi hỏi Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành màtrực tiếp là HTCT các cấp và đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên phải tiếp tụcquán triệt và vận dụng sáng tạo hơn nữa tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm thực hiệntốt BĐDT, từng bước khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa cácdân tộc Đây là giải pháp góp phần làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của cácthế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá cách mạngnước ta trên địa bàn Tây Nguyên Do đó, thực hiện BĐDT theo tư tưởng HồChí Minh là vấn đề vừa cấp bách, vừa có ý nghĩa cơ bản, lâu dài, góp phần đưaTây Nguyên cùng cả nước tiến lên CNXH
Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Thực hiện bình đẳng dân tộc
ở Tây Nguyên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh” làm luận án tiến sĩ
Triết học chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học Đề tài này có ý nghĩa lýluận, thực tiễn thiết thực, vừa cấp bách vừa cơ bản, lâu dài
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 8- Đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân và phát hiện những vấn
đề cấp bách đặt ra cần tập trung giải quyết trong thực hiện BĐDT ở TâyNguyên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
- Xác định phương hướng và đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm thựchiện tốt hơn nữa BĐDT trên địa bàn Tây Nguyên hiện nay theo tư tưởng HồChí Minh
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận, thực tiễn
Cơ sở lý luận của luận án là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề dân tộc và BĐDT Thực tế quá trình thực hiện CSDT, BĐDT ở nước ta, nhất là ở TâyNguyên dưới sự lãnh đạo của Đảng, tổ chức thực hiện của Nhà nước, các cấp,các ngành, các địa phương là cơ sở thực tiễn của luận án
* Phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa vào phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng vàchủ nghĩa duy vật lịch sử; đặc biệt chú trọng phương pháp lô gíc và lịch sử,phân tích và tổng hợp; kết hợp với các phương pháp chuyên ngành: điều tra
xã hội học, điền dã dân tộc học, quan sát, thống kê, so sánh, tổng kết thực tiễn
và phương pháp chuyên gia
Trang 96 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận án góp phần làm sáng tỏ nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ ChíMinh về BĐDT; cung cấp một số cơ sở lý luận và thực tiễn cho lãnh đạoĐảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện tốt hơn CSDT,BĐDT, góp phần làm thất bại âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch, xâydựng địa bàn Tây Nguyên giàu mạnh và phát triển bền vững Luận án có thểđược dùng làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy những nội dung có liên quan ởcác nhà trường trong và ngoài quân đội
7 Kết cấu của luận án
Luận án gồm phần mở đầu, 4 chương (8 tiết), kết luận, danh mục côngtrình khoa học của tác giả đã công bố có liên quan đến đề tài luận án, danhmục tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc và bình đẳng dân tộc
1.1.1 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến tư tưởng Hồ Chí Minh
về vấn đề dân tộc và bình đẳng dân tộc
Ở nước ta, tư tưởng Hồ Chí Minh là đối tượng của một khoa học mới
-Hồ Chí Minh học, đang được triển khai nghiên cứu một cách nghiêm túc, hệthống, toàn diện và đạt được những thành tựu quan trọng Trong đó, tư tưởngcủa Người về vấn đề dân tộc và BĐDT đã được nhiều nhà khoa học quan tâmnghiên cứu TS Hoàng Trang - TS Phạm Ngọc Anh, trong cuốn sách “Tưtưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”[115],
đã đề cập tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và BĐDT ở cấp độ quốcgia - dân tộc trong quan hệ quốc tế; khẳng định thực chất vấn đề dân tộc làgiải phóng dân tộc Việt Nam khỏi ách áp bức, bóc lột của chủ nghĩa đế quốcthực dân, thực hiện độc lập dân tộc gắn liền với CNXH; đồng thời, luận giải
rõ việc giải quyết vấn đề dân tộc của Hồ Chí Minh và Đảng ta trong các giaiđoạn cách mạng Giáo sư Song Thành, trong cuốn sách “Hồ Chí Minh - nhà
tư tưởng lỗi lạc”[105], đã trình bày một cách hệ thống, làm nổi bật tính sángtạo của Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, cách mạng giải phóng dân tộc, đạiđoàn kết dân tộc và BĐDT ở Việt Nam Tuy nhiên, vấn đề BĐDT trong mốiquan hệ giữa các dân tộc ở Việt Nam còn những khía cạnh tiếp tục cần nghiêncứu thấu đáo
Tập thể tác giả do TS Dương Quốc Dũng (chủ biên), trong cuốn sách
“Bình đẳng và đoàn kết dân tộc ở Việt Nam - hỏi và đáp”[23], đã trình bàykhái quát những nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về BĐDT Trong
Trang 11cuốn “Công bằng và bình đẳng xã hội trong quan hệ tộc người ở các quốc gia
đa tộc người”, PGS TS Nguyễn Quốc Phẩm đã trình bày tư tưởng của cácnhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệcông bằng, bình đẳng xã hội giữa các tộc người dưới góc độ chính trị - xã hội
và đưa ra quan niệm: “Bình đẳng giữa các tộc người trong một quốc gia đatộc người là một giá trị định hướng nhằm đảm bảo thực hiện quyền của mỗitộc người được tham gia vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trong quan hệgắn bó hữu cơ với các tộc người khác trong một quốc gia đa tộc người Bìnhđẳng giữa các tộc người bao hàm cả bình đẳng trong quyền lợi và nghĩa vụcủa các công dân thuộc các tộc người”[99, tr.145] Tuy nhiên, tác giả chưatrình bày một cách hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về BĐDT từ nội dung cơbản đến vai trò của nó đối với thực hiện BĐDT ở Việt Nam
Những kết quả nghiên cứu trên là nguồn tư liệu phong phú để tác giả kếthừa trong nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về BĐDT và thực hiện BĐDT ởTây Nguyên theo tư tưởng Hồ Chí Minh
1.1.2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến vấn đề dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc và bình đẳng dân tộc của Đảng và Nhà nước ta
Về vấn đề dân tộc: trên cơ sở nhận thức đúng vị trí chiến lược của vấn đề
dân tộc trong cách mạng XHCN, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra quan điểm,CSDT đúng đắn, phù hợp với từng giai đoạn cách mạng Tại Hội nghị Trungương lần thứ Bảy (Khoá IX) tháng 3 năm 2003, Đảng ta ra nghị quyết chuyên
đề Về công tác dân tộc nhằm tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò chiến lược cơ
bản, lâu dài của vấn đề dân tộc, đoàn kết dân tộc; chỉ ra thành tựu, hạn chế vànguyên nhân của công tác dân tộc trong thời gian qua; trên cơ sở đó xác địnhnhững quan điểm, nguyên tắc, mục tiêu, nội dung, giải pháp thực hiện côngtác dân tộc trong thời gian tới Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đãquan tâm nghiên cứu về vấn đề này Trong đó, bài “Mấy vấn đề bức thiết đối
Trang 12với các vùng dân tộc thiểu số hiện nay”[59] của đồng chí Nông Đức Mạnh, đãphân tích những vấn đề cấp bách đặt ra đối với đồng bào các DTTS hiện nay,
để chỉ đạo việc vận dụng trong quá trình hoạch định CSDT nhằm xây dựngkhối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.Dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau, các nhà khoa học đã có những côngtrình mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc tập trung nghiên cứu vấn đề dân tộc
ở Việt Nam, có liên quan đến vấn đề mà tác giả luận án này đang nghiên cứu.Trong đó, có cuốn sách “Quan hệ giữa các tộc người trong một quốc gia dântộc”[126] của GS Đặng Nghiêm Vạn; công trình “Góp phần nghiên cứu dân tộchọc Việt Nam”[18] của GS TS Phan Hữu Dật đã đưa ra cách tiếp cận hợp lý về
khái niệm dân tộc, nguồn gốc, quá trình hình thành một số dân tộc ở Việt Nam,
đặc điểm kinh tế - xã hội ở một số vùng DTTS, quan hệ dân tộc ở nước ta…Những vấn đề nghiên cứu trong công trình này góp phần làm cơ sở cho Đảng,Nhà nước ta tham khảo để hoạch định CSDT phù hợp với giai đoạn cách mạnghiện nay Tuy nhiên, tác giả chưa bàn trực tiếp đến vấn đề BĐDT trong quan hệgiữa các dân tộc ở Tây Nguyên theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Chính sách dân tộc luôn được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu,
tổng kết kinh nghiệm, đề xuất những giải pháp, cung cấp cơ sở cho Đảng,Nhà nước ta bổ sung, hoàn thiện trong quá trình thực hiện CSDT trên thực tế.Công trình “Những vấn đề cơ bản về chính sách dân tộc ở nước ta hiệnnay”[101] do PGS TSKH Phan Xuân Sơn, ThS Lưu Văn Quảng (đồng chủbiên), là công trình khoa học mang tính chất tổng kết lý luận và thực tiễn sâusắc về CSDT ở nước ta Trong đó, các tác giả tiếp tục khẳng định BĐDT làmột nguyên tắc, nội dung cơ bản trong CSDT của Đảng và Nhà nước ta trongthời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
Bàn về vai trò của Quân đội nhân dân Việt Nam trong thực hiện CSDTcủa Đảng và Nhà nước ta, có cuốn sách “Quân đội nhân dân Việt Nam thực
Trang 13hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước trong tình hình mới”(2002) do
TS Mẫn Văn Mai chủ biên Trong đó, các tác giả đã tìm hiểu thực trạng tổchức thực hiện những chính sách cụ thể, các lực lượng tham gia thực hiệnCSDT, thành tựu, hạn chế, giải pháp thực thi CSDT, trong đó có đề cập đếnnội dung chung về BĐDT Luận án tiến sĩ Triết học “Quân đội nhân dân ViệtNam trong thực hiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng, Nhànước hiện nay”[122] của Phạm Văn Tuấn, đã xác định tầm quan trọng, đặcđiểm và những giải pháp phát huy vai trò của Quân đội ta trong thực hiệnchiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc Trong đó, tác giả có đề cập tư tưởng HồChí Minh về đại đoàn kết dân tộc - một nội dung gắn liền với BĐDT
Những công trình khoa học nêu trên đã giúp cho tác giả nhìn nhận mộtcách khái quát về thực hiện CSDT của Đảng và Nhà nước ta, nhất là vai tròcủa Quân đội nhân dân Việt Nam Tuy nhiên, những công trình trên chưa cóđiều kiện trực tiếp bàn đến vấn đề thực hiện BĐDT ở Tây Nguyên - vùngchiến lược trọng điểm của cả nước
Vấn đề BĐDT và việc tổ chức thực hiện BĐDT ở nước ta đã có nhiều
công trình nghiên cứu Trong đó có cuốn sách “Bình đẳng dân tộc ở nước tahiện nay - vấn đề và giải pháp”[123] của GS TS Trịnh Quốc Tuấn, đã tậptrung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về BĐDT ở Việt Nam Tácgiả đã luận giải một số khía cạnh nhận thức về vấn đề dân tộc và quan hệ dântộc, những vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc ởvùng dân tộc, miền núi ở nước ta Trên cơ sở trình bày lý luận chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về BĐDT, đặc điểm dân tộc, quá trình lãnh đạo
và tổ chức thực hiện CSDT ở Việt Nam, tác giả đã đề xuất hệ thống nhóm giảipháp thực hiện BĐDT ở nước ta Đây là những giải pháp có thể tham khảo vàvận dụng đối với từng vùng trong cả nước Tuy nhiên, vấn đề thực hiện BĐDT
ở Tây Nguyên cần được nghiên cứu một cách cụ thể và đầy đủ
Trang 14Các tác giả: Hoàng Đức Nghi với bài “Xoá đói giảm nghèo ở miền núi,vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn”[94] và Hà Quế Lâm “Xoá đóigiảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta hiện nay - thực trạng và giảipháp”[50], đã nghiên cứu vấn đề cơ bản của thực hiện BĐDT ở nước ta là xoáđói, giảm nghèo ở vùng sâu, vùng xa, miền núi và vùng đồng bào DTTS.Trong đó, các tác giả đề cập khá rõ những giải pháp nhằm đẩy nhanh quátrình xoá đói, giảm nghèo ở vùng DTTS.
Trong cuốn sách “Bảo đảm bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa cácdân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay”[12], do GS TSHoàng Chí Bảo (Chủ biên), đã phân tích lý luận về dân tộc, quan hệ dân tộc
và CSDT theo quan điểm đổi mới của Đảng, đánh giá thực trạng, phát hiệncác vấn đề quan hệ dân tộc - tộc người và thực hiện CSDT ở các vùng trọngđiểm, đề xuất phương hướng, quan điểm, giải pháp chung thực hiện bình đẳng
và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc ở nước ta Trong đó, nhiều nội dungđược các tác giả bàn đến có liên quan đến vấn đề BĐDT ở Tây Nguyên Nhưvấn đề bảo đảm bình đẳng gắn với tăng cường đoàn kết giữa các dân tộc làmột trong những nguyên tắc thực hiện CSDT ở nuớc ta nói chung và ở vùngDTTS nói riêng Tuy nhiên, các tác giả chưa nghiên cứu giải pháp thực hiệnBĐDT ở Tây Nguyên với tư cách là một đề tài độc lập
Bài “Quan niệm về công bằng, bình đẳng và tương trợ cùng phát triểngiữa các tộc người ở Việt Nam”[49], TS Bùi Thị Ngọc Lan đã đưa ra một sốcách tiếp cận chung về vấn đề công bằng, bình đẳng xã hội và tương trợ cùngphát triển giữa các dân tộc ở Việt Nam và đề xuất một số giải pháp trong quátrình thực hiện những vấn đề đó Đây là tài liệu tham khảo để tác giả luận ánđưa ra quan niệm về BĐDT ở Việt Nam
Như vậy, các nhà khoa học đã đề cập nhiều vấn đề liên quan đến BĐDT
ở nước ta trên nhiều phương diện khác nhau, nhưng vấn đề thực hiện BĐDT ởTây Nguyên theo tư tưởng Hồ Chí Minh chưa được bàn một cách trực tiếp
Trang 151.2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến vấn đề dân tộc, thực hiện bình đẳng dân tộc ở Tây Nguyên và những vấn đề liên quan đến đề tài chưa được nghiên cứu
1.2.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến vấn đề dân tộc, thực hiện bình đẳng dân tộc ở Tây Nguyên
Từ xưa đến nay, Tây Nguyên là địa bàn luôn thu hút sự quan tâm củanhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, trên tất cả các lĩnh vực của đờisống xã hội
Nhận thức rõ vị trí tầm quan trọng của Tây Nguyên, các đồng chí lãnh đạoĐảng, Nhà nước ta đã sớm nêu những tư tưởng về vấn đề dân tộc, đoàn kết dântộc trên địa bàn Trước năm 2000, có tác phẩm: “Tây Nguyên đoàn kết tiếnlên”[19] của Tổng Bí thư Lê Duẩn; bài “Đưa đồng bào các dân tộc Đắk Lắk lênchủ nghĩa xã hội”(1983) của Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh Đếnnăm 2006, Ban Chỉ đạo Tây Nguyên và Công ty tư vấn đào tạo và phát triểnDương Đông (DDI) có cuốn “Tây Nguyên trên đường phát triển bền vững” đãtập hợp những bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận,
Bộ Quốc phòng về Tây Nguyên nói chung khá toàn diện Tổng Bí thư NôngĐức Mạnh - “Tây Nguyên vùng đất giàu đẹp của Tổ quốc”; Thủ tướng NguyễnTấn Dũng - “Phát triển nhanh và bền vững vùng Tây Nguyên”; Chủ tịch nướcTrần Đức Lương - “Để Tây Nguyên phát triển ngang tầm cùng cả nước”; Chủtịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Phạm Thế Duyệt - “Đồngbào các dân tộc qua 60 năm đoàn kết xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo lời dạycủa Chủ tịch Hồ Chí Minh”; Mai Văn Năm, Phó trưởng ban thường trực BanChỉ đạo Tây Nguyên - “Tây Nguyên quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết10”; Thượng tướng Nguyễn Văn Được, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng - “Thế trậnlòng dân Tây Nguyên” và những bài của các đồng chí lãnh đạo các tỉnh ở TâyNguyên Trong những bài viết trên, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước,ban, ngành, địa phương đã tập trung phân tích những đặc điểm địa lý, tự nhiên,
Trang 16kinh tế, văn hoá, xã hội, dân tộc, truyền thống… và xác định những quan điểmchỉ đạo, cụ thể hoá những chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội phùhợp với tính đặc thù Tây Nguyên.
Về vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc ở Tây Nguyên, trong thời kỳ thực
dân Pháp xâm lược, một số công trình của các tác giả người Pháp có quanđiểm tiến bộ khi nghiên cứu về các dân tộc ở Tây Nguyên, như:
G.Condominas Về người M’nông Ga; J Dournes Về người Gia Rai; Bulbe Về người Mạ… Trong đó, các tác giả đã khảo cứu về nguồn gốc, văn hoá, tín
ngưỡng, phong tục của một số dân tộc đã sinh sống lâu đời ở Tây Nguyên.Kết quả của các nghiên cứu đó tuy chưa toàn diện và ban đầu chỉ nhằm phục
vụ cho công cuộc xâm lược của thực dân Pháp đối với nước ta và TâyNguyên, nhưng trong đó chứa nhiều nội dung bổ ích được nhiều nhà Dân tộchọc Việt Nam kế thừa và phát triển
Trong thời kỳ 1954 - 1975, người Mỹ đã tăng cường nghiên cứu về cácdân tộc Tây Nguyên nhằm duy trì ách cai trị của chủ nghĩa thực dân mới trênvùng đất có vị trí chiến lược quan trọng này Tiêu biểu là các tác phẩm:
“Những nhóm tộc người chính ở Nam Việt Nam” của G Hickey; “Nhữngnhóm thiểu số ở Cộng hoà Nam Việt Nam” do tướng Westmoreland chủbiên Trong đó, các tác giả đã phân tích khá sâu sắc đặc điểm tự nhiên, vănhoá, dân tộc ở vùng Nam Trung bộ, đặc biệt là Tây Nguyên Nhưng họthường có ý nhấn mạnh vấn đề sắc tộc, làm cho người đọc hiểu sai lệch vềquan hệ dân tộc ở địa bàn này
Sau năm 1975, đã có một số công trình chuyên khảo về dân tộc, quan hệdân tộc ở Tây Nguyên như: “Tây Nguyên”(1980) của Hoàng Văn Huyền;
“Các dân tộc ở Gia Lai”(1981) do Đặng Nghiêm Vạn chủ biên; “Đại cương
về các dân tộc Êđê, M’nông ở Đắk Lắk”(1982) của Bế Viết Đẳng và các đồngtác giả; “Vấn đề dân tộc ở Lâm Đồng”(1983) do Mạc Đường (chủ biên), đã
Trang 17bàn về nguồn gốc tộc người, đặc điểm kinh tế - xã hội các DTTS tại chỗ ởTây Nguyên, những quan hệ nảy sinh từ vấn đề dân tộc.
Quan hệ dân tộc trên địa bàn Tây Nguyên trong những năm cuối thế kỷ
XX tiếp tục được các nhà khoa học nghiên cứu Đề tài cấp bộ “Xu hướng vậnđộng của quan hệ dân tộc khu vực Tây Nguyên và đặc điểm CSDT đối vớiTây Nguyên”(1994 - 1995) do PTS Nguyễn Văn Nam làm chủ nhiệm Trong
đó, các tác giả đã nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về xu hướng vận độngquan hệ dân tộc ở Tây Nguyên, từ đó xác định phương hướng, giải pháp xâydựng và thực hiện CSDT phù hợp với đặc điểm Tây Nguyên Tuy đã nhấnmạnh đến xu hướng xích lại gần nhau giữa các dân tộc, nhưng nhóm nghiêncứu chưa đề cập những mầm mống, nguyên nhân làm rạn nứt khối đoàn kếtdân tộc từ tình trạng bất bình đẳng giữa các dân tộc ở địa bàn
Góp phần nghiên cứu, giải quyết những vấn đề cấp bách về quan hệ dântộc, đoàn kết dân tộc ở Tây Nguyên, PGS.TS Trương Minh Dục có công trìnhnghiên cứu: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dân tộc và quan hệ dân tộc ởTây Nguyên”[21] và cuốn sách chuyên khảo “Xây dựng và củng cố khối đạiđoàn kết dân tộc ở Tây Nguyên”[22] Tác giả đã trình bày quan điểm chủ nghĩaMác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
về vấn đề dân tộc, đoàn kết dân tộc; nhận định xu hướng phát triển quan hệ dântộc sự tác động ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hoá, tín ngưỡng -tôn giáo đến đời sống và quan hệ giữa các dân tộc ở Tây Nguyên; đánh giá quátrình xây dựng khối đoàn kết các dân tộc ở Tây Nguyên trong thời kỳ đổi mới, từ
đó đề xuất một số phương hướng giải quyết vấn đề dân tộc, đoàn kết các dân tộcTây Nguyên Tuy nhiên, vấn đề BĐDT có quan hệ mật thiết và là cơ sở của đoànkết, tác giả mới chỉ đề cập trên một số khía cạnh nhất định
Bài “Giải quyết việc làm và thu nhập trong quá trình xoá đói giảmnghèo ở Tây Nguyên”[92] của TS Nguyễn Văn Nam, đã đánh giá khái quát
Trang 18những kết quả và hạn chế trong tạo việc làm và tăng thu nhập cho đồng bàocác DTTS trong quá trình xoá đói, giảm nghèo, xác định những nội dung cơbản nhằm giải quyết vấn đề việc làm và thu nhập bằng các chính sách hỗ trợcho đồng bào Đây là một trong những nội dung trọng tâm trong thực hiệnBĐDT ở Tây Nguyên
Hiện nay, giữ vững ổn định chính trị là vấn đề tác động trực tiếp đến sựphát triển bền vững ở Tây Nguyên; đồng thời là điều kiện rất cơ bản để thựchiện bình đẳng giữa các dân tộc trên địa bàn Từ góc nhìn đó, cuốn sách “Một
số giải pháp góp phần ổn định và phát triển ở Tây Nguyên hiện nay”[45], doPGS TS Phạm Hảo làm chủ biên, đã phân tích tình hình dân tộc, quan hệ dântộc và sự tác động của nó đến sự ổn định chính trị, lý giải nguyên nhân, rút rabài học kinh nghiệm và đề xuất giải pháp đồng bộ nhằm giữ vững ổn địnhchính trị trong quá trình phát triển bền vững ở Tây Nguyên Luận án tiến sĩTriết học của Nguyễn Trường Sơn “Phát huy vai trò bộ đội địa phương trongxây dựng hệ thống chính trị cơ sở làm thất bại chiến lược “diễn biến hoàbình” của địch trên địa bàn Tây Nguyên hiện nay”[102] Trong đó, tác giả đãlàm rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn chống phá Tây Nguyên của các thế lực thùđịch và phân tích những biểu hiện vai trò HTCT cơ sở ở Tây Nguyên trongđấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình” trên địa bàn này Đồng thời, tácgiả cũng chỉ ra vai trò, thực chất, thực trạng và đề xuất những nhóm giải phápnhằm phát huy vai trò của bộ đội địa phương các tỉnh Tây Nguyên trong thamgia xây dựng HTCT ở địa bàn làm thất bại chiến lược “Diễn biến hoà bình”của các thế lực thù địch
Tuy nhiên, những công trình khoa học trên chưa bàn đến vấn đề thựchiện BĐDT ở Tây Nguyên theo tư tưởng Hồ Chí Minh với tư cách một đề tàiđộc lập Đây là vấn đề quan trọng có ý nghĩa cấp thiết về lý luận và thực tiễncần nghiên cứu thấu đáo, góp phần thực hiện thắng lợi chủ trương phát triểnTây Nguyên bền vững của Đảng ta hiện nay
Trang 19Vấn đề thực hiện CSDT luôn gắn với chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta trên địa bàn Tây Nguyên, đã được các nhà khoa học quan tâm
nghiên cứu Trong đó có: bài “Thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôngiáo ở Tây Nguyên”[98] của PGS.TS Nguyễn Quốc Phẩm đã phân tích chỉ rõ
sự đan xen của vấn đề dân tộc và vấn đề tôn giáo; đánh giá một cách khái quáttình hình thực hiện CSDT, chính sách tôn giáo ở Tây Nguyên và chỉ ra nhữngvấn đề cấp bách cần giải quyết trong thời gian tới
Luận án tiến sĩ Triết học “Vai trò của Quân đội nhân dân Việt Nam trongcông tác vận động đồng bào có tôn giáo ở Tây Nguyên hiện nay”[117] củaNguyễn Như Trúc, đã chỉ ra những đặc điểm, xác định vai trò của Quân độitrong công tác vận động đồng bào có tôn giáo, phát hiện mâu thuẫn và đề xuấtmột số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của Quân đội ta trong công tácvận động đồng bào có tôn giáo ở Tây Nguyên hiện nay Tuy nhiên, tác giảcũng chưa đề cập nhiều đến vấn đề bình đẳng giữa các dân tộc trên địa bàn.Những công trình khoa học nghiên cứu về Tây Nguyên đã đề cập nhiềulĩnh vực với những đối tượng, phạm vi, phương pháp tiếp cận khác nhau,nhưng đây thực sự là tài liệu quan trọng để tác giả tham khảo, kế thừa trongnghiên cứu đề tài này
1.2.2 Những vấn đề liên quan đến đề tài chưa được nghiên cứu
Một là, những công trình khoa học nêu trên đã luận giải những góc độ
khác nhau của tư tưởng Hồ Chí Minh về BĐDT, nhưng tư tưởng của Người
về BĐDT trong quan hệ giữa các dân tộc ở Việt Nam chưa được trình bàymột cách hệ thống Do đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về BĐDT ở Việt Nam làvấn đề đặt ra cần nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống từ nguồn gốc đến nộidung và vai trò của hệ thống tư tưởng của Người đối với thực hiện BĐDT ởnước ta, góp phần cung cấp cơ sở lý luận trực tiếp cho việc thực hiện BĐDT ởTây Nguyên hiện nay và những năm tiếp theo
Trang 20Hai là, Tây Nguyên là vùng trọng điểm của cả nước, nơi có nhiều nét
đặc thù về kinh tế, văn hoá, xã hội, dân tộc, tôn giáo, quốc phòng - an ninh
Do đó, Đảng, Nhà nước và các nhà khoa học đã quan tâm đầu tư nghiên cứumột cách khá toàn diện Nhưng hiện nay, vấn đề thực hiện BĐDT ở Tây
Nguyên theo tư tưởng Hồ Chí Minh gắn với Cuộc vận động học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức của Người vẫn đang đặt ra nhiều khía cạnh
phải tìm hiểu và giải quyết Cho nên, nghiên cứu về thực hiện BĐDT ở TâyNguyên trên cơ sở vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề vừa cótính lý luận sâu sắc vừa có tính thực tiễn thiết thực, góp phần thực hiện tốthơn nữa BĐDT trên địa bàn
Ba là, tuy các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu khá sâu vấn đề dân
tộc, thực hiện CSDT ở Tây Nguyên, nhưng khảo sát và đánh giá cụ thể kếtquả thực hiện BĐDT trên địa bàn theo tư tưởng Hồ Chí Minh chưa được làm
rõ Do đó, khảo sát thực trạng, chỉ ra những vấn đề cấp bách đặt ra cần giảiquyết trong thực hiện BĐDT có ý nghĩa quan trọng, nhằm cung cấp cơ sở choviệc bổ sung, hoàn thiện và thực hiện hệ thống chính sách nói chung vàBĐDT ở Tây Nguyên một cách thiết thực và hiệu quả
Bốn là, có khá nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến giải pháp thực
hiện CSDT của Đảng, Nhà nước, bảo đảm công bằng và bình đẳng giữa cácdân tộc trên địa bàn Tây Nguyên, nhưng cần tìm những giải pháp đột phá,trực tiếp nâng cao hiệu quả thực hiện BĐDT ở Tây Nguyên hiện nay theo tưtưởng Hồ Chí Minh
Trang 21Kết luận chương 1
Tác giả luận án đã khái quát tình hình nghiên cứu của Đảng, Nhà nước,các nhà khoa học trong và ngoài nước có liên quan đến tư tưởng Hồ Chí Minh
về vấn đề dân tộc, BĐDT; quan điểm, chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước
ta và tình hình thực hiện BĐDT ở nước ta Đây là cơ sở lý luận và là nguồn tưliệu khá đầy đủ về vấn đề dân tộc và BĐDT ở nước ta, giúp cho tác giả kế
thừa khi nghiên cứu đề tài “Thực hiện bình đẳng dân tộc ở Tây Nguyên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh”
Tây Nguyên là địa bàn chiến lược về kinh tế, chính trị, văn hóa, quốcphòng - an ninh của cả nước, nơi có 45 dân tộc anh em cùng sinh sống, nên đãthu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước.Trong đó vấn đề dân tộc, thực hiện CSDT và BĐDT ở Tây Nguyên càng đượcchú trọng nghiên cứu Những công trình của các nhà khoa học đã giúp cho tácgiả có cách nhìn tổng quan về tình hình Tây Nguyên nói chung và vấn đề dântộc, CSDT và BĐDT trên địa bàn nói riêng Đồng thời, những công trình khoahọc ấy đã cung cấp nguồn tư liệu phong phú để tác giả luận án nghiên cứuvấn đề thực hiện BĐDT ở Tây Nguyên theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Trên cơ sở tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, tácgiả luận án nhận thấy một số vấn đề cần phải được tiếp tục nghiên cứu mộtcách hệ thống Đó là: tư tưởng Hồ Chí Minh về BĐDT trong quan hệ giữa cácdân tộc ở Việt Nam; thực chất vấn đề thực hiện BĐDT ở Tây Nguyên theo tưtưởng Hồ Chí Minh; thực trạng, nguyên nhân, những vấn đề đặt ra cần giảiquyết và cần tìm những giải pháp đột phá trực tiếp nâng cao hiệu quả thựchiện BĐDT ở Tây Nguyên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Như vậy, dưới góc độ chính trị - xã hội, nghiên cứu một cách cơ bản vấn
đề “Thực hiện bình đẳng dân tộc ở Tây Nguyên hiện nay theo tư tưởng Hồ
Chí Minh” là đề tài độc lập, không trùng lặp với các công trình khoa học đã
công bố, có ý nghĩa lý luận cơ bản và thực tiễn cấp thiết hiện nay
Trang 22Chương 2 THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC Ở TÂY NGUYÊN HIỆN NAY THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH – NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 2.1 Bình đẳng dân tộc và tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng dân tộc ở Việt Nam
2.1.1 Quan niệm về bình đẳng và bình đẳng dân tộc ở Việt Nam
* Bình đẳng
Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, con người luôn có nhucầu vươn tới sự bình đẳng trong quan hệ giữa người với người, giữa các nhómngười, các dân tộc và giữa các quốc gia - dân tộc Tuy nhiên, bình đẳng luônphụ thuộc vào trình độ kinh tế - xã hội ở mỗi giai đoạn lịch sử nhất định.Dưới chế độ cộng sản nguyên thuỷ, bình đẳng ở trình độ sơ khai, đó là sự
“cào bằng tương đối” Bước vào chế độ chiếm hữu nô lệ, khi xuất hiện giaicấp, nhà nước và tình trạng áp bức, bóc lột thì sự bất bình đẳng giữa ngườivới người diễn ra phổ biến
Trong xã hội phong kiến phương Đông, học thuyết Nho giáo coi sự bìnhđẳng là quyền vốn có của con người trong một “xã hội đại đồng” Tuy nhiên,quyền ấy lại phụ thuộc vào “Trời” và chỉ bình đẳng trước “Trời”, còn ở xã hộihiện hữu thì có sự phân biệt đẳng cấp Thực chất, đó là một xã hội bất bìnhđẳng Trong xã hội phong kiến châu Âu thời trung cổ, Ôguytxtanh cho rằngchỉ có sự bình đẳng giữa những người đẳng cấp trên với nhau trong “Vươngquốc của Chúa” Ph.Ăngghen cho rằng: trong xã hội còn giai cấp thì bìnhđẳng “hoàn toàn phù hợp với tính chất của nó là tôn giáo của những người nô
lệ và những người bị áp bức”[2, tr.150]
Đến thời kỳ cận đại, Môngtexkiơ cho rằng, bình đẳng là thước đo của xãhội tiến bộ bằng việc “nhà nước phải có nghĩa vụ bảo đảm cho mọi thành viêncác phương tiện sinh tồn…”[128, tr.353] Rútxô thì cho rằng, con người đềubình đẳng trong xã hội ở “trạng thái tự nhiên”, khi đến giai đoạn “trạng thái
Trang 23công dân” thì sự bất bình đẳng lại phổ biến Việc xoá bỏ tình trạng bất bìnhđẳng bằng “sự thoả thuận cơ bản không những không phá vỡ bình đẳng tựnhiên, mà ngược lại thay thế sự bình đẳng về sức mạnh mà giới tự nhiên cóthể tạo ra bằng bình đẳng về đạo đức và pháp luật”[128, tr.359] Hêghen chorằng, bản tính của con người là bất bình đẳng, sự bất bình đẳng ấy chỉ có thể
giải quyết bằng công lý - chính quyền quốc gia - dân tộc Nghĩa là, nhà nước
Phổ sẽ có vai trò đưa sự bất bình đẳng về trạng thái bình đẳng và duy trì chính
sự bất bình đẳng ở trạng thái cân bằng
Dưới xã hội tư bản, bình đẳng được khẳng định là một quyền tự nhiên
của con người Trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ (1776) có viết: “Mọi
người sinh ra đều bình đẳng”[121, tr.7, 14] Tuy nhiên, giai cấp tư sản đãtuyệt đối hoá quyền bình đẳng cá nhân, lợi dụng nó để che đậy sự bất bìnhđẳng trong xã hội V.I.Lênin chỉ rõ: “Chế độ dân chủ tư sản tuyên bố quyềnbình đẳng hình thức hoặc quyền bình đẳng trên pháp luật giữa kẻ hữu sản vàngười vô sản, giữa kẻ bóc lột và người bị bóc lột, do đó đã làm cho nhiều giaicấp bị áp bức, bị lừa dối một cách ghê gớm”[55, tr.423] Trên thực tế, khôngthể có bình đẳng giữa giai cấp bóc lột với giai cấp bị bóc lột
Hiện nay, các học giả nước ngoài tiếp cận bình đẳng chủ yếu ở khía cạnhquyền, nghĩa vụ, cơ hội gắn liền với công bằng xã hội Trong tác phẩm “Lý
thuyết về công lý”, John Rawls cho rằng, bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi
cho mỗi cá nhân không phân biệt sự khác biệt bẩm sinh và địa vị xã hội, thìchỉ có trong “xã hội lý tưởng”; còn “trong thể chế xã hội hiện thực thì sự côngbằng, bình đẳng không đòi hỏi xã hội phải cố gắng san phẳng những điều kiệnbất lợi với mong muốn tạo được sự ngang bằng giữa mọi người”[129, tr.86].Thực chất, đó là quan điểm cổ vũ chủ nghĩa tự do mới, đề cao lợi ích cá nhâncủa giai cấp tư sản trong xã hội tư bản Klanx Khiôpke nhấn mạnh “bình đẳngkiểu ra lệnh”, “chủ nghĩa bình quân”, nhằm làm sâu sắc sự bất bình đẳng xãhội bằng phương cách chủ yếu là thông qua pháp luật để duy trì và bảo vệ sự
áp bức của giai cấp thống trị đối với nhân dân lao động
Trang 24Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, bình đẳng là một giá trị xãhội hướng con người đến sự hoà hợp với nhau và được xem xét trong nhiềumối quan hệ: giữa người với người, nhóm xã hội này với nhóm xã hội khác,dân tộc này với dân tộc khác, quốc gia này với quốc gia khác… diễn ra trênmọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và trong mối quan hệ giữaquyền lợi - nghĩa vụ, cống hiến - hưởng thụ Bình đẳng là kết quả của quátrình đấu tranh lâu dài và phát triển cùng với sự phát triển lịch sử - xã hội Để
có bình đẳng hoàn toàn trên thực tế phải xoá bỏ tận gốc mọi sự áp bức, bóc lột
và xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới
Hồ Chí Minh quan niệm bình đẳng là “bình quyền” Đó là quyền củamỗi người dân được sống, được tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc; bìnhđẳng gắn liền với chế độ dân chủ và đối lập với “bất bình đẳng”, mọi sự bấtbình đẳng đều phải xoá bỏ; bình đẳng luôn gắn với độc lập, tự do, hạnh phúc,
là “bình đẳng thật” chứ không phải “bình đẳng giả dối” của đế quốc, thựcdân
Từ những dẫn giải trên, tác giả quan niệm: Bình đẳng là nhu cầu tự nhiên của con người được đối xử ngang nhau về quyền lợi và nghĩa vụ trước pháp luật nhà nước trong xã hội còn giai cấp, về cơ hội và điều kiện phát triển trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, không phân biệt thành phần, địa vị xã hội và từng bước được hiện thực hoá trên thực tế.
Khi nghiên cứu về bình đẳng phải xem xét tính độc lập tương đối của nó
trong mối quan hệ mật thiết với sự bất bình đẳng, công bằng, dân chủ và phân biệt với bình quân chủ nghĩa Đồng thời, tiếp cận từ “bình đẳng bộ phận,
từng phần” đến “bình đẳng hoàn toàn” Bình đẳng đạt đến cấp độ hoàn toàn làquá trình phấn đấu lâu dài từ thấp đến cao và đến khi xây dựng thành côngchủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới
Hiện nay, nước ta đang ở thời kỳ quá độ đi lên CNXH, nên chưa tích luỹ
Trang 25đầy đủ cơ sở kinh tế - xã hội để thực hiện “bình đẳng hoàn toàn”, do đó còntồn tại sự bất bình đẳng ở một số phương diện, trên một số lĩnh vực là tất yếu.Bình đẳng xã hội ở nước ta là quá trình lâu dài, phụ thuộc vào sự phát triểnkinh tế - xã hội trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể Do vậy, tiếp cận bình đẳng
từ những phương diện quyền lợi - nghĩa vụ - điều kiện - cơ hội - khả năng nắm bắt cơ hội để phát triển, vừa bảo đảm tính khoa học vừa phù hợp với
điều kiện lịch sử khi nghiên cứu vấn đề BĐDT ở Việt Nam
* Bình đẳng dân tộc ở Việt Nam
Hiện nay, ở Việt Nam, thuật ngữ dân tộc thường được hiểu theo hai
nghĩa: dân tộc - tộc người (ethnie) và dân tộc - quốc gia (nation) Theo nghĩa thứ nhất, dân tộc là một cộng đồng người ổn định hoặc tương đối ổn định,
được hình thành trong những điều kiện lịch sử nhất định, có chung nguồn gốc
và những đặc điểm tương đối bền vững về ngôn ngữ, văn hoá, tâm lý và ýthức tự giác dân tộc thông qua tự nhận tộc danh (dân tộc Kinh, Tày, Ê Đê,Chăm ) Theo nghĩa này, dân tộc có những đặc trưng cơ bản: các thành viên
sử dụng một ngôn ngữ chung (tiếng mẹ đẻ) để giao tiếp trong nội bộ dân tộc;
có chung những đặc điểm sinh hoạt văn hoá vật chất, văn hoá tinh thần, tạonên bản sắc của văn hoá dân tộc; các thành viên có chung ý thức tự giác dântộc (sự tự ý thức về dân tộc mình từ nguồn gốc nhân chủng, ngôn ngữ, sắcthái văn hoá đến tên gọi; ý thức tự khẳng định sự tồn tại và phát triển của dântộc mình) Ý thức tự giác dân tộc là kết quả tích hợp của các yếu tố trên và trởthành đặc trưng quan trọng nhất để phân định dân tộc này với dân tộc khác.Ngoài ra, “dân tộc” còn được dùng với hàm nghĩa chỉ DTTS (như người dântộc mà chúng ta vẫn từng nói là hàm ý chỉ DTTS)
Theo nghĩa thứ hai, dân tộc là một cộng đồng người cùng chung sống
trên một lãnh thổ, có chung một chế độ kinh tế, thể chế chính trị, nền vănhoá, có một ngôn ngữ chung để giao tiếp và có chung đặc điểm tâm lý dântộc tạo nên ý thức quốc gia - dân tộc Trong đó, cùng chung một thể chế
Trang 26kinh tế, chính trị - xã hội là đặc trưng quan trọng; cùng chung một nền vănhoá là đặc trưng tạo nên bản sắc của mỗi dân tộc (dân tộc Việt Nam, dântộc Trung Hoa, dân tộc Pháp )
Từ cách tiếp cận trên, BĐDT được hiểu trên hai cấp độ: bình đẳng giữacác dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc và bình đẳng giữa các dân tộc -
quốc gia Theo cấp độ thứ nhất, BĐDT trong một quốc gia đa dân tộc là sự được đối xử ngang nhau hợp lý về quyền và nghĩa vụ, điều kiện và cơ hội
phát triển trên các lĩnh vực của đời sống xã hội giữa các dân tộc Nghĩa là sựđối xử “ngang nhau” đó không phải là sự “cào bằng” hay “gộp lại” tất cảnhững đặc trưng của dân tộc - tộc người, mà là sự đối xử “ngang nhau” vềquyền và nghĩa vụ, cơ hội và điều kiện phát triển, không phân biệt dân tộc đa
số hay thiểu số, không có đặc quyền, đặc lợi cho bất cứ một dân tộc nào Đểthực hiện BĐDT rất cần thiết phải có chính sách ưu tiên hợp lý đối với cácdân tộc có trình độ phát triển kinh tế - xã hội thấp
Theo cấp độ thứ hai, bình đẳng giữa các dân tộc - quốc gia là sự đối xử ngang nhau hợp lý về quyền và nghĩa vụ, cơ hội và điều kiện phát triển của
các dân tộc trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, có địa vị quốc tế bìnhđẳng, tôn trọng độc lập, toàn vẹn, chủ quyền lãnh thổ không phân biệt dân tộclớn hay dân tộc nhỏ, nguồn gốc, chủng tộc, trình độ phát triển, chế độ chínhtrị, kinh tế… Đây là điều kiện tiên quyết để thực hiện BĐDT trong một quốcgia đa dân tộc
Trong phạm vi của luận án, tác giả chủ yếu tiếp cận vấn đề BĐDT trongquan hệ giữa các dân tộc trong quốc gia - dân tộc Việt Nam và tập trung vào
quan hệ giữa các dân tộc ở Tây Nguyên Theo đó, bình đẳng dân tộc ở Việt Nam là sự ngang nhau hợp lý về quyền và nghĩa vụ trước pháp luật, về cơ hội
và điều kiện phát triển trên các lĩnh vực đời sống xã hội giữa các dân tộc ở Việt Nam, không phân biệt dân tộc đa số hay thiểu số, trình độ phát triển cao
Trang 27hay thấp, nguồn gốc dân tộc và địa vực cư trú.
Bình đẳng dân tộc ở nước ta là một trong những quyền cơ bản, một
nguyên tắc trong quan hệ giữa các dân tộc Đó là sự ngang nhau hợp lý trong
quan hệ giữa các dân tộc về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, được bảo đảmbằng pháp luật và từng bước được thực hiện ngày càng đầy đủ trên thực tế.BĐDT không chỉ bao hàm việc tạo cơ hội, điều kiện phát triển của bản thânmỗi dân tộc mà còn là động lực thúc đẩy sự phát triển chung của toàn xã hội.Đồng thời, BĐDT là nguyên tắc, mục tiêu, nội dung chủ yếu trong CSDT củaĐảng và Nhà nước ta
Bình đẳng dân tộc là sự ngang nhau hợp lý trong cống hiến cũng như thụ
hưởng các giá trị xã hội Nghĩa là, các dân tộc ở Việt Nam không phân biệt đa
số hay thiểu số, trình độ phát triển cao hay thấp, đều phải có nghĩa vụ đónggóp xứng đáng vào công cuộc xây dựng đất nước Trên cơ sở đó mới đượchưởng nền độc lập, tự do thật sự, không chịu sự áp bức bóc lột của đế quốcthực dân, dần dần tiến tới xóa bỏ sự chênh lệch về mọi mặt đời sống giữa cácdân tộc; các dân tộc đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển theocon đường XHCN Đồng thời, quyền bình đẳng đó phải được qui định trongcác đạo luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và phải được thựchiện trên thực tế
Mức độ bình đẳng giữa các dân tộc ở Việt Nam phụ thuộc vào nhiều yếu
tố, nhưng trước hết và suy cho cùng phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế
-xã hội của đất nước và của bản thân mỗi dân tộc BĐDT không chỉ phản ánhnhu cầu hiện tại mà còn định hướng sự phát triển của mỗi dân tộc cũng nhưtoàn thể dân tộc Việt Nam Nghĩa là, với điều kiện kinh tế - xã hội ở nước tahiện nay, chưa thể bảo đảm cho các dân tộc được thụ hưởng đầy đủ những giátrị của bình đẳng mà phải phấn đấu để hướng tới bình đẳng trong quá trình xâydựng CNXH Chỉ đến khi xây dựng thành công CNCS, thì các dân tộc mới
Trang 28được bình đẳng hoàn toàn Ở nước ta, trình độ phát triển của 54 dân tộc khôngđều nhau, các DTTS thường gặp rất nhiều khó khăn trong sản xuất và đời sống.Cho nên, thực hiện BĐDT cần tạo cơ hội, điều kiện để các dân tộc đang ở trình
độ phát triển thấp vươn lên bình đẳng Hiểu cơ hội bình đẳng bao gồm cả việctạo cơ hội và khả năng nắm bắt cơ hội, biến cơ hội thành hiện thực trong pháttriển kinh tế - xã hội của các dân tộc trên thực tế Trong đó, việc tạo cơ hội làyếu tố quan trọng, phát huy khả năng nắm bắt cơ hội của các dân tộc là yếu tố
có tính quyết định đến mức độ BĐDT ở nước ta hiện nay
Bình đẳng dân tộc là cơ sở, điều kiện để các dân tộc tôn trọng, giúp đỡlẫn nhau cùng phát triển Khi các dân tộc ở Việt Nam được bình đẳng trên cáclĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng - an ninh, thì sẽ tạo cơ
sở ngày càng vững chắc cho sự gắn kết, hoà hợp, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhaugiữa các dân tộc Đây là điều kiện để phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộctrong sự nghiệp cách mạng, đồng thời làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chốngphá của các thế lực thù địch ở nước ta
Như vậy, BĐDT ở Việt Nam là một khái niệm chỉ sự ngang nhau hợp lý,
không chênh lệch quá mức về trình độ phát triển giữa các dân tộc Đó khôngphải là sự “ngang nhau tuyệt đối” trên tất cả các đặc trưng, thuộc tính của dântộc, hay sự “đồng hoá”, xoá nhoà bản sắc văn hoá của các dân tộc BĐDT cầnđược hiểu với tính cách là một giá trị hiện tại (bình đẳng từng phần), một nhucầu bức thiết và là một giá trị định hướng sự phát triển của các dân tộc Nghĩa
là, các dân tộc luôn hướng đến sự bình đẳng về quan hệ trong quá trình pháttriển Do đó, BĐDT là mục tiêu, lý tưởng, một giá trị xã hội mà các dân tộc vẫnđang tiếp tục phấn đấu để hướng tới Ở nước ta, tuy mỗi dân tộc mang một têngọi khác nhau, nhưng xét về văn hoá dân tộc thì không có sự cao hay thấp màchỉ có bản sắc của văn hoá các dân tộc, là “thẻ căn cước” để phân định dân tộcnày với dân tộc khác Trong quá trình phát triển, có thể đạt đến sự “ngang
Trang 29nhau” về trình độ phát triển kinh tế, mức độ thụ hưởng các giá trị xã hội, nhưng
không thể có sự ngang nhau hoàn toàn ngay, hoặc giống nhau về bản sắc văn
hoá dân tộc Chính vì vậy, xem xét vấn đề BĐDT phải có quan điểm kháchquan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển, nhất là khi nghiên cứu, vận dụng
tư tưởng Hồ Chí Minh về BĐDT Bởi, đây là cơ sở khoa học giúp chúng ta tiếpcận và giải quyết vấn đề BĐDT đúng đắn, hiệu quả trên thực tế
BĐDT luôn gắn với vấn đề công bằng xã hội giữa các dân tộc Công bằng
xã hội giữa các dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc “là một giá trị định
hướng để từng dân tộc được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản về vật chất và tinhthần trong quan hệ phân phối sản phẩm xã hội và khả năng tiếp cận đến các cơhội phát triển tương đối hợp lý giữa các dân tộc với nhau, phù hợp với khảnăng hiện thực của những điều kiện kinh tế - xã hội trong một giai đoạn lịch sửnhất định của quốc gia”[12, tr.69] Theo đó, công bằng và bình đẳng giữa cácdân tộc là hai khái niệm có quan hệ chặt chẽ với nhau, nhưng không đồng nhất
về nội dung Nói đến công bằng là yếu tố bảo đảm sự bình đẳng về cống hiến
và hưởng thụ, trách nhiệm và nghĩa vụ Thực hiện công bằng giữa các dân tộc
là cầu nối, là những nấc thang tiến tới BĐDT Trong BĐDT có yếu tố của sựcông bằng giữa các dân tộc và công bằng giữa các dân tộc lại hàm chứa nhữngyếu tố của BĐDT Sự thống nhất và khác biệt giữa BĐDT và công bằng giữa
các dân tộc là ở chỗ: nói tới BĐDT là nói đến sự ngang nhau hợp lý giữa các
dân tộc về mọi phương diện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Còn nói đếncông bằng giữa các dân tộc là chủ yếu nói đến sự “ngang nhau” trong quan hệphân phối sản phẩm xã hội và khả năng tiếp cận đến các cơ hội phát triển, giữacống hiến và hưởng thụ theo nguyên tắc “cống hiến lao động ngang nhau thìhưởng thụ ngang nhau” Như vậy, công bằng giữa các dân tộc là một dạng, mộtbiểu hiện cụ thể của BĐDT Thực hiện công bằng giữa các dân tộc chính làthực hiện một phần của BĐDT, là một nấc thang trên con đường lâu dài tiến tới
Trang 30BĐDT; BĐDT là công bằng ở mức độ cao nhất.
Dân chủ là một phạm trù được hiểu theo hai nghĩa phổ biến nhất: Thứ nhất, dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân có quyền quyết định
những vấn đề liên quan đến cuộc sống của mình Theo nghĩa này, các dân tộc
ở nước ta cũng có quyền quyết định đến cuộc sống, sự phát triển của dân tộc
mình Thứ hai, dân chủ là một hình thức tổ chức nhà nước, một chế độ chính
trị - xã hội, mà ở đó thừa nhận về mặt pháp lý những quyền cơ bản của conngười (quyền dân chủ, quyền tự do, quyền bình đẳng) Những quyền nàyđược thể chế hoá thành pháp luật, qui định rõ mối liên hệ giữa công dân vớinhà nước, nhà nước với công dân và công dân với công dân Theo đó, đồngbào các dân tộc cũng có đầy đủ quyền dân chủ và được pháp luật công nhận
và bảo đảm Như vậy, chúng ta nhận thấy BĐDT và dân chủ có quan hệ mậtthiết với nhau Xét về quyền của con người trong quan hệ xã hội, hai kháiniệm ấy đều là giá trị xã hội Đó là quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ, cống hiến
và hưởng thụ, được thể chế hoá thành pháp luật, được bàn đến trên tất cả cáclĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Xét về quan hệ giữa các dân tộc thì
đó là quyền của các dân tộc được pháp luật bảo vệ Nếu dân chủ được bảođảm thực sự trong một cộng đồng dân tộc thì mức độ bình đẳng càng cao.Ngược lại, trong một cộng đồng dân tộc mà mất dân chủ thì sẽ tồn tại tìnhtrạng bất bình đẳng và gây chia rẽ giữa các dân tộc Như vậy, BĐDT và dânchủ là hai khái niệm có quan hệ mật thiết gắn bó với nhau
BĐDT và “bình quân chủ nghĩa” là hai khái niệm tuy có giống nhau vềhình thức biểu hiện “sự ngang nhau”, nhưng hoàn toàn khác nhau về nội dung.Nói đến BĐDT, là nói đến sự khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát triểnkinh tế - xã hội giữa các dân tộc bằng quá trình thực hiện tổng hợp những chínhsách, nhằm làm cho các dân tộc có trình độ phát triển thấp phát triển vươn lên
“tiến kịp” dân tộc có trình độ phát triển cao một cách hợp lý Do đó, phải tạo cơ
Trang 31hội, điều kiện cho các dân tộc có trình độ thấp vươn lên Còn “bình quân chủnghĩa” là nói đến sự cào bằng, chia đều cho tất cả các dân tộc từ một nguồn lựcsẵn có, không chú ý đến sự “ưu tiên” hoặc trình độ phát triển của mỗi dân tộc
để phân phối cơ hội và điều kiện cho phù hợp Do vậy, khi bàn đến BĐDT vàthực hiện BĐDT cần tránh rơi vào bình quân chủ nghĩa
2.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng dân tộc ở Việt Nam
* Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng dân tộc ở Việt Nam
Tư tưởng Hồ Chí Minh về BĐDT ở Việt Nam là kết quả sự kết hợp biệnchứng những điều kiện khách quan với nhân tố chủ quan Hồ Chí Minh
Điều kiện kinh tế - xã hội cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là “mảnh đất hiện thực” hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có tư tưởng về bình đẳng dân tộc
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá, xãhội ở Việt Nam có sự chuyển biến sâu sắc Từ một quốc gia phong kiến độclập, Việt Nam trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến, chế độ kinh tế -
xã hội phụ thuộc hoàn toàn vào thực dân Pháp; tình trạng bất bình đẳng diễn
ra phổ biến trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Thực dân Pháp thủtiêu mọi quyền tự do, dân chủ, bình đẳng của dân tộc ta Chúng chia nước tathành 3 kỳ, với 3 hình thức cai trị (Bắc kỳ - hình thức bảo hộ; Nam kỳ - hìnhthức trực trị; Trung kỳ là sự hỗn hợp giữa hình thức bảo hộ và trực trị), nhằmtạo ra sự khác biệt giữa ba miền, chia rẽ các dân tộc, nhất là giữa dân tộc đa
số với DTTS để phá hoại khối đoàn kết dân tộc ở Việt Nam Về văn hoá - xãhội, thực dân Pháp dùng chính sách “ngu dân”, xây dựng nhà tù nhiều hơntrường học, áp đặt nền giáo dục lai căng phi dân tộc Chúng âm mưu “đồnghoá” dân tộc ta bằng cách nhồi nhét văn hoá phương Tây, cố tình tạo ra tâm lýkhinh rẻ văn hoá dân tộc; chúng công nhiên chà đạp lên nền văn hiến lâu đờicủa dân tộc ta Xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đầy rẫynhững bất công, bất bình đẳng và “đen tối không có đường ra” Nhiệm vụ lịch
Trang 32sử cấp bách đặt ra cho dân tộc ta là: đánh đổ sự thống trị, bóc lột của đế quốcthực dân và phong kiến tay sai, giành độc lập, tự do, bình đẳng thật sự hoàntoàn cho dân tộc Việt Nam
Những giá trị văn hoá, tinh thần và đặc điểm của dân tộc Việt Nam là cội nguồn hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về BĐDT
Dân tộc Việt Nam có lịch sử ngàn năm văn hiến, những giá trị văn hoátinh thần mang đậm nét phương Đông, biểu trưng ở những tư tưởng yêuchuộng tự do, hoà bình, lý tưởng về xã hội dân chủ, công bằng, bình đẳng;lòng vị tha, tinh thần nhân nghĩa, tương thân, tương ái, tự trọng, tự lực, tựcường và tự tôn dân tộc; cách ứng xử tình nghĩa, biểu hiện ở nghĩa cử cao đẹp
“lá lành đùm lá rách”, “một miếng khi đói bằng một gói khi no” của dân tộcViệt Nam được Hồ Chí Minh tiếp thu, kế thừa và hình thành nội dung vềBĐDT phù hợp với đặc điểm dân tộc Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia thống nhất gồm 54 dân tộc cùng sinh sống, mỗidân tộc có sắc thái văn hoá riêng, góp phần tạo nên sự đa dạng, phong phú củabản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam Các dân tộc ở Việt Nam có truyền thốngyêu nước, đoàn kết xây dựng một cộng đồng dân tộc thống nhất Đó là nhữnggiá trị hàng đầu trong bảng giá trị văn hoá tinh thần, được kết tinh từ “cốt nhânvăn” của dân tộc Việt Nam Ở nước ta, các dân tộc có qui mô dân số và trình
độ phát triển kinh tế - xã hội không đồng đều Các DTTS thường cư trú ở miềnnúi, biên giới, vùng sâu vùng xa nên đời sống rất khó khăn, trình độ phát triểnkinh tế - xã hội còn thấp Đây là cơ sở thực tiễn trực tiếp hình thành tư tưởng
Trang 33lọc những giá trị văn hoá trong Phật giáo, Nho giáo, nhất là tư tưởng “Tự do,Bình đẳng, Bác ái” của nhân loại để bổ sung, phát triển tư tưởng của mình vềBĐDT Thực tiễn cuộc đấu tranh giành quyền tự do, bình đẳng của nhân loạitiến bộ trên thế giới là cơ sở rất quan trọng quyết định sự hình thành tư tưởng
Hồ Chí Minh về BĐDT và thực hiện BĐDT Trong đó, Cách mạng ThángMười Nga năm 1917 là thực tiễn sinh động, biểu trưng sáng ngời về cuộc đấutranh giành quyền bình đẳng của các dân tộc tiến bộ trên thế giới Ngườikhẳng định: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mạng Nga là đã thành công
và thành công đến nơi Nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do,bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩaPháp khoe khoang bên An Nam”[61, tr.280]
Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc, BĐDT là nhân tố quyết định bản chất khoa học, cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh về BĐDT
Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin luôn khẳng định: BĐDT là mộtnguyên tắc quan trọng trong chiến lược cách mạng của giai cấp vô sản, là một
bộ phận của bình đẳng xã hội, không tách rời với sự nghiệp giải phóng giai cấp,giải phóng dân tộc, giải phóng con người Con đường, phương thức thực hiệnquyền bình đẳng của các dân tộc là phải xoá bỏ tình trạng người bóc lột người,giai cấp này bóc lột giai cấp khác, từ đó xoá bỏ tình trạng dân tộc này áp bứcdân tộc khác, dân tộc này có đặc quyền, đặc lợi hơn so với dân tộc khác Bởi vì,xét đến cùng nguồn gốc của mọi sự bất bình đẳng là do áp bức giai cấp Xóa bỏ
áp bức giai cấp là xoá bỏ tận gốc sự bất công và bất bình đẳng; là điều kiện đểphát triển bình đẳng xã hội lên một bước mới - bình đẳng cho mỗi cá nhân vàtất cả các dân tộc Cho nên, C.Mác đã khẳng định: “Hãy xoá bỏ tình trạngngười bóc lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bịxoá bỏ Khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không cònnữa thì sự thù địch giữa các dân tộc đồng thời cũng mất theo”[57, tr 624] Để
Trang 34thực hiện BĐDT, phải phát triển kinh tế - xã hội, tạo điều kiện thuận lợi chonhững dân tộc có trình độ phát triển thấp vươn lên bình đẳng Mặt khác, phảikiên quyết chống chủ nghĩa dân tộc “sô vanh”, vì nó dẫn đến thái độ thiếu tôntrọng hoặc đối xử không bình đẳng với dân tộc khác; đồng thời, khắc phục tưtưởng dân tộc hẹp hòi, tự ti, xu hướng đóng cửa, khép kín…, vì đó là những lựccản sự phát triển của các dân tộc Chủ nghĩa Mác - Lênin về BĐDT là nhân tốquyết định nâng tư tưởng Hồ Chí Minh về BĐDT lên trình độ mới - BĐDTtheo quan điểm mác xít, khoa học và cách mạng.
Những phẩm chất trí tuệ đặc biệt và hoạt động thực tiễn sinh động của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là nhân tố chủ quan quyết định sự hình thành
tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng dân tộc ở Việt Nam
Yêu nước, thương dân, ý chí khát khao giành độc lập kết hợp với trítuệ uyên bác, tư duy sáng tạo, nghị lực phi thường, ham hiểu biết đã giúp
Hồ Chí Minh tiếp thu truyền thống dân tộc, tinh hoa văn hoá nhân loại,nắm bắt bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, từ đóhình thành phương pháp khoa học trong nghiên cứu lý luận và hoạt độngthực tiễn Người đã sử dụng ngôn ngữ của nhiều nước trên thế giới đểnghiên cứu, tiếp thu và lĩnh hội tinh hoa văn hoá nhân loại Chính vì lẽ đó,
ở Hồ Chí Minh đã hội tụ tinh hoa văn hoá “Đông - Tây - Kim - Cổ” Tổ
chức Văn hoá và Giáo dục thế giới (UNESCO) đã công nhận Người là nhà văn hoá thế giới “Người sẽ được ghi nhớ không phải chỉ là người giải
phóng cho Tổ quốc và nhân dân bị đô hộ mà còn là một nhà hiền triết hiệnđại đã mang lại một viễn cảnh và hy vọng mới cho những người đang đấutranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất
này”[112, tr.22] Những phẩm chất tư duy sáng tạo, trí tuệ “mẫn tiệp” và
dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam là cơ sở nền tảng để
Hồ Chí Minh luận giải, khái quát những luận điểm về BĐDT và thực hiện
Trang 35BĐDT ở Việt Nam mang tính sáng tạo và đặc sắc.
* Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng dân tộc ở Việt Nam
Vấn đề BĐDT được Hồ Chí Minh đề cập trên hai cấp độ: bình đẳng giữadân tộc - quốc gia Việt Nam với các dân tộc - quốc gia trên thế giới và bìnhđẳng giữa các dân tộc ở Việt Nam Ở cấp độ thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh
về BĐDT là hệ thống luận điểm về vị trí, vai trò, nội dung và phương thứchiện thực hoá quyền bình đẳng của các dân tộc trên mọi lĩnh vực đời sống xãhội Tư tưởng Hồ Chí Minh về BĐDT ở Việt Nam có thể khái quát trênnhững nội dung cơ bản sau:
Một là, bình đẳng dân tộc là quyền cơ bản của các dân tộc và luôn gắn liền với độc lập, tự do của Tổ quốc, ấm no, hạnh phúc của nhân dân
Trước hết, Hồ Chí Minh khẳng định bình đẳng giữa các quốc gia - dân
tộc là quyền tất yếu trong quan hệ quốc tế Do đó, Người xác định mục tiêutối thượng của cách mạng Việt Nam là giải phóng Tổ quốc, giành quyền độclập và quyền bình đẳng thiêng liêng, bất khả xâm phạm của dân tộc ViệtNam Để thực hiện quyền cơ bản đó, Người đã đặt sự nghiệp giải phóng dântộc vào tiến trình của cách mạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với CNXH vàchỉ dưới CNXH các dân tộc ở nước ta mới được bình đẳng thật sự, bình đẳnghoàn toàn Người viết: “Các dân tộc bị áp bức trên thế giới thấy rằng chỉ códựa vào phong trào cách mạng xã hội chủ nghĩa, đi theo đường lối của giaicấp công nhân thì mới đánh đổ được bọn đế quốc để giành lại độc lập dân tộchoàn toàn và bình đẳng thật sự giữa các dân tộc”[75, tr.580] Nghĩa là, muốnthực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc, cách mạng Việt Nam phải đi theocon đường cách mạng XHCN
Hồ Chí Minh khẳng định, BĐDT là quyền thiêng liêng tất yếu của cácdân tộc trong tiến trình phát triển của lịch sử xã hội Theo Người, các dân tộc
ở nước ta muốn được bình đẳng thì trước hết dân tộc Việt Nam phải được độc
Trang 36lập, tự do và bình đẳng với các dân tộc trên thế giới Do đó, ngay sau khi
Cách mạng tháng Tám thành công, trong Tuyên ngôn Độc lập (ngày 1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố với thế giới rằng: “Tất cả các dân
2-9-tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng”[63, tr.1] Đó là quyền tất yếu mà dântộc Việt Nam được hưởng Nhân dân ta quyết đem hết tinh thần và lực lượng,tính mạng và của cải để bảo vệ quyền bình đẳng ấy
Hồ Chí Minh đã giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa quyền BĐDT vớinền độc lập dân tộc Theo Người, độc lập dân tộc là điều kiện “gốc” củaBĐDT Muốn có BĐDT, trước hết dân tộc ta phải được độc lập và nền độclập đó phải là nền độc lập thực sự, độc lập hoàn toàn Người cho rằng, nếunước mà chưa giành được độc lập thì quyền lợi giai cấp vạn năm cũng khôngđòi lại được, dân tộc ta phải chịu mãi kiếp ngựa trâu và không thể có quyềnbình đẳng Cho nên, để thực hiện BĐDT, phải tiến hành cách mạng giảiphóng dân tộc, làm cho nước ta hoàn toàn độc lập, nhân dân ta hoàn toàn tự
do, trên cơ sở đó thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc ở Việt Nam
Khi nước ta đã giành được độc lập, Hồ Chí Minh chỉ rõ: các dân tộc
sống trên đất nước Việt Nam đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, gắn bómáu thịt với nhau trên một lãnh thổ chung Đó là quyền rất cơ bản của cácdân tộc phải luôn được tôn trọng và bảo vệ Người viết: “Bây giờ chúng ta, tất
cả các dân tộc Kinh, Thái, Mường, Mèo, Mán, Xá, Puộc, v.v đều là anh emruột thịt một nhà chứ không phải Kinh ăn hiếp Thái, Thái ăn hiếp Xá, Puộcnhư trước nữa”[74, tr.443] Đồng bào các DTTS còn lạc hậu, nên Người đặcbiệt quan tâm đến thực hiện bình đẳng giữa các DTTS với dân tộc đa số vàgiữa các DTTS với nhau Người khẳng định: “Anh em thiểu số chúng ta sẽđược: Dân tộc bình đẳng Chính phủ sẽ bãi bỏ hết những điều hủ tệ cũ, baonhiêu bất bình đẳng trước sẽ sửa chữa đi”[64, tr.110] Đây là nội dung quantrọng trong thực hiện CSDT, BĐDT ở Việt Nam
Theo Hồ Chí Minh, BĐDT không chỉ gắn liền với độc lập Tổ quốc mà
Trang 37còn phải vì tự do, hạnh phúc của nhân dân Bởi theo Người, nếu nước đượcđộc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập ấy cũng chẳng
có nghĩa lý gì Chính cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân, aicũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành, ốm đau có thuốc chữa bệnh,
có quyền giữ gìn, phát triển, phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc mìnhmới là giá trị đích thực của BĐDT mà Hồ Chí Minh hướng các dân tộc ởnước ta vươn tới Nội dung quan trọng này chỉ ra mục đích, phương phápđúng đắn để thực hiện quyền BĐDT ở Việt Nam trên thực tế
Hai là, bình đẳng dân tộc vừa là mục tiêu vừa là nguyên tắc chỉ đạo nhất quán trong chính sách dân tộc ở nước ta và phải được bảo đảm về pháp lý
Theo Hồ Chí Minh, BĐDT là mục tiêu quan trọng, là nguyên tắc chỉ đạo
nhất quán trong CSDT của Đảng và Nhà nước ta Trong Báo cáo về dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa I nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Người viết: “Chính sách dân tộc của chúng ta là nhằm thực hiện sự
bình đẳng giúp nhau giữa các dân tộc để cùng nhau tiến lên chủ nghĩa xãhội”[75, tr.587] Muốn thực hiện BĐDT, phải xác định quan điểm, chủtrương, CSDT đúng đắn, phù hợp với đặc điểm của dân tộc Việt Nam và tổchức thực hiện hiệu quả trên thực tế Như vậy, BĐDT là một trong nhữngmục tiêu quan trọng trong CSDT của Đảng và Nhà nước ta
Hồ Chí Minh chỉ rõ mục đích của CSDT của Đảng và Nhà nước ta lànhằm đánh thắng “giặc đói, giặc dốt”, nghèo nàn và lạc hậu, làm cho các dântộc sống trên đất nước Việt Nam được hoàn toàn bình đẳng về mọi mặt, đồngbào ngày càng được hưởng đầy đủ hơn những quyền lợi về kinh tế, chính trị,văn hoá, xã hội trên thực tế, DTTS tiến kịp dân tộc đa số và cùng tiến bộ.Mục tiêu thực hiện BĐDT trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ởtiêu chí đồng bào thiểu số “tiến kịp” đồng bào đa số mà phải là các dân tộcngày càng văn minh, tiến bộ và cùng tiến lên CNXH Bởi, CNXH là mục tiêu,phương hướng phát triển của tất cả các dân tộc sinh sống ở nuớc ta Chỉ dưới
Trang 38CNXH các dân tộc mới được bình đẳng thật sự, bình đẳng hoàn toàn Bảnchất ưu việt của chế độ XHCN bảo đảm chắc chắn nhất cho các dân tộc đượcbình đẳng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Đồng thời, đó là quátrình từng bước xoá bỏ những yếu tố bất bình đẳng giữa các dân tộc, chứkhông phải là dân tộc có trình độ phát triển cao “dừng lại” để “chờ” cho cácdân tộc đang ở trình độ thấp “tiến kịp” Như vậy, BĐDT không chỉ là mụctiêu mà còn là nguyên tắc chỉ đạo nhất quán, xuyên suốt trong tư tưởng HồChí Minh về BĐDT ở Việt Nam.
Hồ Chí Minh cho rằng, một xã hội công bằng, dân chủ, bình đẳng thìphải vận hành theo phương châm “trăm điều phải có thần linh pháp quyền”
Do đó, quyền BĐDT phải được bảo đảm về mặt pháp lý Nghĩa là mọi ngườitrong xã hội được quyền tự do, dân chủ, thực hiện sống và làm việc theo Hiếnpháp và pháp luật Chính vì vậy, ngay khi Cách mạng Tháng Tám thành công,Người đã chỉ đạo tổ chức tốt cuộc Tổng tuyển cử trong cả nước, vì “Tổngtuyển cử tức là tự do, bình đẳng tức là dân chủ, đoàn kết”[65, tr.133] Mọingười dân thuộc các dân tộc khác nhau, nếu không mất quyền công dân đều
có quyền làm chủ đất nước Ngày 06-01-1946, đồng bào các dân tộc cả nước
đi bỏ phiếu bầu ra Quốc hội, Quốc hội lập ra Hiến pháp nước Việt Nam dânchủ cộng hoà nhằm hợp pháp hoá quyền bình đẳng của các dân tộc Ngườikhẳng định: “Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều bình đẳng vềquyền lợi và nghĩa vụ”[75, tr.587]
Ba là, bình đẳng dân tộc được thực hiện một cách toàn diện trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội của các dân tộc
Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Thực hiện các dân tộc bình đẳng về mọimặt”[71, tr.543] Nghĩa là, quyền bình đẳng phải được thể hiện thực tế trên mọilĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng - an ninh trong đời sốngcủa các dân tộc Ở nước ta, sự thấp kém về trình độ kinh tế - xã hội của các
Trang 39DTTS không chỉ cản trở sự phát triển của bản thân các dân tộc ấy, mà còn là lựccản tiến trình phát triển chung của cả dân tộc Việt Nam Do đó, phải đặc biệtquan tâm tạo cơ hội, điều kiện phát triển cho các dân tộc đang ở trình độ thấp
cùng tiến lên CNXH Vì “Chủ nghĩa xã hội nghĩa là tất cả mọi người các dân tộc
ngày càng ấm no, con cháu chúng ta ngày càng sung sướng”[80, tr.317]
Hồ Chí Minh cho rằng, BĐDT về kinh tế đóng vai trò quan trọng, làm
nền tảng, tạo cơ sở vật chất và xét đến cùng quyết định đến mức độ BĐDTtrên các lĩnh vực khác Theo Người, BĐDT về kinh tế là làm cho đời sống và
sự sinh tồn của đồng bào các dân tộc ở nước ta được bảo đảm và ngày càngnâng cao; từng bước khắc phục sự chênh lệch về thu nhập, mức sống, điềukiện ăn, mặc, ở, đi lại Bất kỳ đặc quyền, đặc lợi về kinh tế nào dành riêngcho một dân tộc đều có thể vi phạm lợi ích kinh tế của các dân tộc khác, dẫnđến sự bất bình đẳng giữa các dân tộc Thực chất BĐDT về kinh tế là quantâm và giải quyết đúng đắn các quan hệ, lợi ích kinh tế; đồng thời phải tạo cơhội, quan tâm giúp đỡ đồng bào các DTTS phát triển kinh tế bằng những côngviệc rất cụ thể: khuyến khích khai hoang; vận động đồng bào định canh, địnhcư; hướng dẫn cho đồng bào thực hành tiết kiệm, áp dụng khoa học kỹ thuậtvào sản xuất nông nghiệp, xây dựng hệ thống thuỷ lợi, mở mang đường sá;kết hợp chặt chẽ công nghiệp, thủ công nghiệp, nông nghiệp và chế biến; đẩymạnh việc cải tiến nông cụ sản xuất, chống xói mòn Vì thế, Người yêu cầucác cơ quan Trung ương phải có kế hoạch đẩy mạnh phát triển miền núi vềkinh tế cũng như về tất cả các mặt
Bình đẳng dân tộc về chính trị, Hồ Chí Minh khẳng định: “Về chính trị thì
các dân tộc đều bình đẳng, dân chủ, đoàn kết”[87, tr.242] Đó là quyền làm chủcủa mọi công dân thuộc các dân tộc đối với đất nước, với Tổ quốc Bởi vì, “Tất
cả nhân dân các dân tộc đều có quyền làm chủ nước nhà”[79, tr.286] “Đã là
người chủ thì phải biết tự mình lo toan, gánh vác, không ỷ lại, không ngồi chờ
Trang 40Mỗi người phải ra sức góp công, góp của để xây dựng nước nhà”[78, tr.310].Nghĩa là, mọi công dân thuộc các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Namđều có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau, cùng chung lưng đấu cật đấu tranhchống thực dân, phong kiến thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc, xây dựngmột nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất và tiến lên CNXH Đó làthực hiện quyền làm chủ Nhà nước, làm chủ xã hội, thể hiện ở quyền bầu cử vàứng cử vào các cơ quan Nhà nước từ Trung ương đến địa phương của mọi côngdân thuộc các dân tộc Chính phủ phải làm cho các dân tộc anh em dần tự quản
lý lấy công việc của mình, để mau chóng phát triển kinh tế và văn hoá, từ đóthực hiện quyền bình đẳng về mọi mặt Theo Người, hễ là công dân Việt Namkhông phân biệt dân tộc đa số hay thiểu số, tôn giáo, đảng phái, giàu nghèo đều
có quyền tham chính “ngang nhau” theo pháp luật Tuy nhiên, khả năng thamchính của các dân tộc không “ngang bằng nhau” Cho nên, phải tạo cơ hội chocác DTTS bồi dưỡng, nâng cao trình độ chính trị để có đủ khả năng thực hiệnquyền tham chính của mình; xoá bỏ những qui định mang tính bất bình đẳng vàtẩy trừ thành kiến giữa các dân tộc; thực hiện quyền các dân tộc được tự do bày
tỏ nguyện vọng và mong muốn của mình; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng và cấtnhắc cán bộ người DTTS…
Bình đẳng dân tộc về văn hoá theo Hồ Chí Minh là bình đẳng trong phát
triển, nâng cao dân trí, trình độ học vấn của mỗi dân tộc; là việc thừa nhận vàkhẳng định quyền được tôn trọng, bảo vệ, giữ gìn và phát huy các giá trị vănhoá, ngôn ngữ, phong tục, tập quán truyền thống; quyền được học tập, đượchưởng chế độ giáo dục “như nhau” giữa các dân tộc Theo Người, “một dân tộcdốt là một dân tộc yếu”, nên muốn làm cách mạng thì đồng bào các dân tộcphải học văn hoá, phải biết chữ để trả lời cho thế giới biết rằng: nước ta là mộtnước văn minh Không thừa nhận, không tôn trọng văn hoá của các dân tộc tức
là không thừa nhận, không tôn trọng dân tộc đó - tức là không bình đẳng Mọi