BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ PHẠM KIM THANH PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ CỨNG TƯỜNG GIA CƯỜNG ĐẾN CHUYỂN VỊ VÀ NỘI LỰC CỦA H
Hình 4.1: Công trình Pullman SaiGon Center
Mô hình Morh Coulomb Hình 4.43: Biểu đồ chuyển vị ngang mô hình HS với Quan trắc tại IN01
Module biến dạng E được tính theo công thức tương quan thực nghiệm của Michel và Gardner (1975) và Schurtmann (1970): Ev6N (kN/m2) Trong đó N là chỉ số SPT Đối với mô hình Morh Coulomb ta nên sử dụng thông số module đàn hồi dở tải để tính toán khi đó: Eoedur=(3-5)*Eeod
Tác giả mô hình Morh Coulomb cải tiến cho mô hình hố đào vì thông thường Ev6N, tuy nhiên hố đào này thực hiện theo lộ trình dở tải nên sử dụng hệ số số mô đun đàn hồiܧ ݎ݂݁ =(2400−3500)ܰ, (với N là chỉ số SPT)
Bảng 4.32:Bảng chỉ sốSPT mô hình MC
Lớp đất Độ sâu SPT Hệ số nhân k
0 Lớp đất đắp( bê tông, đá, cát) -1.1
2 Cát sét, xốp-chặt vừa (SC) -7.0 11 2400
3 Cát bụi, chặt vừa (SM-SP) -15.0 17 3500
4 Cát sét, cát bụi, chặt vừa (SC- SM) -29.0 18 3500
5 Cát bụi, chặt vừa (SM-SP- SW) -43.0 21 3500
6 Cát sét, cát bụi, chặt vừa ( SC- SM) -46.8 23 3000
7 Sét béo, sét gầy, nửa cứng - cứng (CH-
8 Cát sét, cát bụi, chặt vừa-chặt (SC-SM) -78.5 38 2400
Kết quả chuyển vị ngang của tường đối với mô hìnhMorh Coulomb sử dụng hệ số số mô đun đàn hồi đất nềnܧ ݎ݂݁ =(2400−3500)ܰvới mô hình Hardening Soil sử dụng hệ số Eoed = 1000N ሺvới N là chỉ số SPT), như sau:
Hình 4.43:Biểu đồ chuyển vị ngang mô hình MC- HS với Quan trắc tại IN01
Bảng 4.33: So sánh kết quả chuyển vị mô hình MC- HS với Quan trắc tại IN01 Độ sâu T1200-
Hình 4.44:Biểu đồ chuyển vị ngang mô hình MC- HS với Quan trắc tại IN02
Bảng 4.34: So sánh kết quả chuyển vị mô hình MC- HS với Quan trắc tại IN02 Độ sâu T1200-
Hình 4.45:Biểu đồ chuyển vị ngang mô hình MC- HS với Quan trắc tại IN03
Bảng 4.35: So sánh kết quả chuyển vị mô hình MC- HS với Quan trắc tại IN03 Độ sâu T1200-
Kết luận: Mô hình MC này cho kết quả nhỏ hơn so với quan trắc và HS nên sẽ gây nguy hiểm hơn trong thi công do đó nên chọn HSAT lớn hơn =2 khi sử dụng mô hình này trong thiết kếthực tế.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Sau khi hoàn thành công việc phân tích, tính toán của đề tài, tác giả rút ra những kết luận như sau:
- Sử dụng mô hình Hardening Soil cho kết quả chuyển vị lớn so với giá trị quan trắc thực tế,đảm bảo phù hợp với thiết kế và an toàn khi sử dụng công trình:ở vị trí đỉnh tường 45.94%, bụng tường 9.26% và chân tường 90.43%
- Sử dụng mô hình mô hình Morh Coulomb có thông số với kết quả chuyển vị nhỏ hơn kết quả quan trắc ở vị trí bụng tường -14.34%; chuyển vị lớn hơn so với Quan trắc ở vị trí đỉnh tường 57.64%, chân tường 97.63% ẻ Mụ hỡnh Hardening Soil phự hợp hơn với quan trắc thực tế nờn đảm bảo an toàn khi thiết kế, và công trình xung quanh, hiệu quả về kinh tế vì diễn tả đúng ứng xử của đất nền, thể hiện ở thông số Module E theo lộ trình ứng suất dỡ tải của đất nền.
- Kết quả sai số tỉ lệ % chênh lệch chuyển vị khi khảo sát với 5 trường hợp của tường vây có giá trị gần đúng so với kết quả quan trắc, kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ độ cứng của tường khi thay đổi không ảnh hưởng lớn đến chuyển vị của hệ tường vây:
+ Thay đổi chiều dày tường, độ sâu tường giữ nguyên thì tỉ lệ % chuyển vị của tường vây tăng lên ở vị trí bụng tường lần lượt là 12.75%, 16.84%, 20.54% và sai số chênh lệch % là -4.08%, -7.78%
+ Trường hợp độ sâu tường thay đổi, chiều dày tường thay đổi thì chuyển vị của tường ở vị trí bụng tường lần lượt là 16.61%, 20.17%, 22.63%, và sai số chênh lệch % là -3.56%, -6.02% ẻ Kết quả chuyển vị của tường võy phự hợp với điều kiện giới hạn cho phộp chuyển vị của tường vây là H/150 (khu vực đô thị)- H/300 (khu vực xa khu dân cư) hoặc 0.5% x H, với H là độ sâu hố đào.
- Thay đổi thông số Module biến dạng E tương quan Eref= (2400−3500)N trong mô hình Morh Coulomb so với công thức tương quan thực nghiệm của Michel và Gardner (1975) và Schurtmann (1970): Ev6N (kN/m 2 )
- Chọn HSAT lớn hơn =2 nếu sử dụng mô hình Morh Coulomb trong thiết kế thực tế ở những công trình có địa chất tương tự nhau
- Đối với công trình có từ 3-4 tầng hầm, chiều sâu hố đào từ 10-15 m , tác giả đề xuất tỉ lệ độ cứng chiều dày tường vây/chiều dày cọc Barreet là 0.5-0.8 cho công tác thiết kế thực tế.