Để thực hiện được mục tiêu của chuẩn kiến thức chương trình môn khoa học, trong dạy học giáo viên phải tăng cường các hoạt động học tập nhằm tạo điều kiện học sinh phát huy tốt tính tích
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THỊ XÃ SÔNG CẦU
TRƯỜNG TIỂU HỌC XUÂN LỘC 2
NGHIỆM
Đề tài :
Một vài kinh nghiệm dạy học sinh thực hành thí nghiệm
Giáo viên thể hiện: Huỳnh Thị Minh Đức
Đơn vị : Trường Tiểu học Xuân Lộc 2 Năm học : 2009 - 2010
Xuân Lộc – Tháng 4 năm 2010
Trang 2A PHẦN MỞ ĐẦU:
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Môn Khoa học nhằm cung cấp cho học sinh một số kiến thức cơ bản ban đầu
và thiết thực về nhu cầu dinh dưỡng và sự lớn lên của cơ thể người, động vật, thực vật … hình thành và phát triển kĩ năng ứng xử các tình huống liên quan đến sức khỏe bản thân , gia đình, cộng đồng Quan sát và làm một số thí nghiệm thực hành khoa học đơn giản gần gũi với đời sống sản xuất Hình thành và phát triển những thái độ, hành vi tự giác thực hiện các quy tắc vệ sinh, an toàn cho bản thân, gia đình và cộng đồng Ham hiểu biết khoa học, có ý thức vận dụng những kiến thức đã học vào đời sống
Để thực hiện được mục tiêu của chuẩn kiến thức chương trình môn khoa học, trong dạy học giáo viên phải tăng cường các hoạt động học tập nhằm tạo điều kiện học sinh phát huy tốt tính tích cực, tự lực và sáng tạo trong tìm tòi phát hiện ra kiến thức Học sinh cần được hình thành và phát triển các kĩ năng học tập môn khoa học như quan sát, dự đoán, giải thích sự vật, hiện tượng và kĩ năng vận dụng kiến thức khoa học vào đời sống
Cùng với sự quan sát, thí nghiệm đóng một vai trò quan trọng trong dạy học môn Khoa học Các phương pháp này giúp học sinh có kinh nghiệm trực tiếp bổ ích về thế giới tự nhiên – đối tượng nghiên cứu, việc được quan sát tiến hành thí nghiệm kích thích hứng thú học tập của học sinh điều này rất quan trọng đối với học sinh tiếu học Tính trực quan cụ thể phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh giúp các em lĩnh hội kiến thức nhanh chóng và vững chắc Việc tổ chức thí nghiệm trong dạy học cũng tạo điều kiện hình thành, phát triển ở học sinh các
kĩ năng quan sát, trình bày ý kiến, thảo luận …
Chương trình môn Khoa học theo chương trình sách giáo khoa mới hiện hành, Các thí nghiệm trong sách giáo khoa giúp học sinh tìm tòi tính chất, đặc điểm các mối quan hệ của các sự vật hiện tượng trong thế giới tự nhiên Các thí nghiệm chỉ yêu cầu ở mức độ đơn giản Chẳng hạn: chỉ xét sự phụ thuộc của hiện tượng cần nghiên cứu khi một số yếu tố biến đổi, chỉ xét định tính, các dụng cụ và việc bố trí lắp đặt thao tác đơn giản … Hiệu quả các thí nghiệm phụ thuộc vào trình độ tổ chức của giáo viên
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Tìm ra một số kinh nghiệm để giúp học sinh làm tốt thí nghiệm môn Khoa học
III GIỚI HẠN ĐỀ TÀI:
Kinh nghiệm làm thí nghiệm môn Khoa học lớp 4, trường Tiểu học Xuân Lộc 2
Trang 3IV KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Nâng cao hiệu quả thực hành thí nghiệm lớp 4, Trường Tiểu học Xuân Lộc 2
V NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
Nhằm giúp học sinh nắm quy trình thực hành thí nghiệm, có ý thức tự giác , sáng tạo trong thực hành làm thí nghiệm tự tìm tòi và lĩnh hội kiến thức mới một cách bền vững
VI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Tham khảo tài liệu
- Điều tra , phỏng vấn
- Quan sát học sinh
VII.CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI:
A PHẦN MỞ ĐẦU:
B NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI:
Chương II Thực trạng
Chương III Biện pháp, giải pháp
C KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ:
I Kết luận
II Kiến nghị
D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO:
Trang 4B NỘI DUNG ĐỀ TÀI:
Chương 1: CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN.
I Cơ sở pháp lý :
Khi nghiên cứu về đề tài này tôi đã tham khảo một số tài liệu liên quan sau:
- Sách giáo khao Khoa học lớp Bốn
- Sách giáo viên Khoa học lớp Bốn
- Tài liệu Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở Tiểu học – lớp Bốn
- Tạp chí giáo dục của BCH lý luận và khoa học Giáo dục của Bộ Giáo dục
& Đào tao
II Cơ sở thực tiễn:
Qua nhiều năm giảng dạy khối lớp Bốn ở trường Tiểu học, tôi thấy các giờ học có thực hành thí nghiệm, tỉ lệ học sinh dám sử dụng đồ dùng thí nghiệm một cách tự tin và hiệu quả đạt tỷ lệ còn thấp, kết quả thu được sau thí nghiệm chưa cao, phần lớn còn phụ thuộc vào sách giáo khoa hoặc nghe bạn nói lại, hiệu quả chưa thiết thực Với kinh nghiệm của bản thân, tôi mong muốn tìm ra được giải pháp thích hợp để vận dụng vào giảng dạy môn khoa học đạt hiệu quả cao nhất
Qua nghiên cứu và vận dụng vào dạy học môn Khoa học ở lớp 4B tôi thấy thiết thực và hiệu quả cho chính mình và học sinh thân yêu Trong quá trình nghiên cứu và vận dụng tôi đã có điều kiện đúc kết thêm kinh nghiệm giảng dạy nhằm giúp cho sự lĩnh hội kiến thức của các học sinh đạt kết quả cao nhất
Chương 2 THỰC TRẠNG CỦA HỌC SINH LỚP 4 TRƯỜNG TIỂU
HỌC XUÂN LỘC 2.
I Khái quát phạm vi:
Học sinh lớp 4 trường Tiểu học Xuân Lộc 2
II Thực trạng của đề tài nghiên cứu:
Học sinh chưa mạnh dạn sử dụng đồ dùng thực hành thí nghiệm
Học sinh chưa tập trung và tự giác trong lúc thực hành thí nghiệm
Kết quả thực hành thí nghiệm chưa hiệu quả
Qua thực hành thí nghiệm các em chưa tự tìm ra kiến thức để lĩnh hội
Chương 3 NỘI DUNG, BIỆN PHÁP, CHỦ YẾU ĐỂ NÂNG CAO HIỆU
QUẢ THỰC HÀNH THÍ NGHIỆM TRONG GIỜ HỌC MÔN KHOA HỌC LỚP 4 TRƯỜNG TIỂU HỌC XUÂN LỘC 2.
I Cơ sở đề xuất:
- Cơ sở pháp lí
- Cơ sở thực tiễn
Trang 5- Thực trạng của đề tài nghiên cứu.
II Nội dung, biện pháp :
Để nâng cao hiệu quả thực hành thí nghiệm trong giờ học môn Khoa học, tôi đã tiến hành những công việc sau:
1) Điều tra phỏng vấn :
Sau khi học xong bài 31 tuần 16 “ Không khí có tính chất gì ? ” Tôi đã phỏng vấn một số em học sinh khối lớp 4 phân trường Hòn Ngô trường Tiểu học Xuân Lộc 2 về việc thổi bong bóng
- Mục đích thực hành thí nghiệm thổi bong bóng để tìm kiếm điều gì ?
Kết quả 20/16 em học sinh trả lời đúng : Để xác định không khí không có
hình dạng nhất định mà chỉ có hình dạng của những vật, những khoảng trống chứa nó.
2) Khảo sát thu thập thông tin :
Cho học sinh làm bài kiểm tra trên phiếu bài tập sau khi học xong bài 32
“ Không khí gồm những thành phần nào ? ” và bài 37 tuần 19 “Tại sao có gió ?” ( học sinh đã sử dụng và thực hành thí nghiệm)
* Kết quả khảo sát :
02
lớp 4
phân
trường
Hòn
Ngô
Số
Số bài làm đạt kết quả cao
Số bài làm chưa đạt kết quả cao
Bài
Nội dung kiểm tra :
Bài 32: Không khí gồm những thành phần nào ?
- Thí nghiệm giáo viên đã làm : Đốt cháy cây nến gắn vào một đĩa thủy tinh rồi rót nước vào đĩa Lấy một lọ thủy tinh úp lên cây nến đang cháy Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát và mô tả hiện tượng xảy ra sau khi úp lọ thủy tinh
Câu hỏi trên phiếu kiểm tra ở mức đơn giản ( kết quả kiểm tra quan sát chưa
yêu cầu giải thích và kết luận )
- Hiện tượng gì xảy ra khi úp lọ thủy tinh vào ngọn nến đang cháy ? (ngọn
nến được gắn vào một cái đĩa đựng nước).
- Kết quả 45 em trả lời: Ngọn nến tắt và ngọn nước trong đĩa dâng lên và
23 em trả lời : ngọn nến tắt.
Đến tiết 37 tuần 19 khảo sát lần 2, lần này kết quả trả lời của học sinh cũng chưa chuyển biến mấy
Thí nghiệm giáo viên hướng dẫn:
Trang 6Sử dụng họp đối lưu kín, vài mẫu hương cháy đã tắt lửa nhưng còn khói, đặt đĩa hương xuống dưới ống trụ A cho học sinh quan sát : Sau đó học sinh nhận
xét khói lên trụ nào ? (Khói lên ở ống trụ A) Sau đó đặt một đĩa có cây nến đang cháy vào ống trụ B Cho học sinh quan sát thí nghiệm và nhận xét Khói
lên ở trụ B) Giải thích hiện tượng.
Câu hỏi trên phiếu bài tập là :
- Đặt đĩa nhang đang cháy vào dưới ống trụ A hộp đối lưu, ta thấy khói lên thẳng ở ống A Đồng thời đặt một đĩa có cây nến đang cháy vào dưới ống trụ B thì khói ở ống trụ A chuyển qua ống trụ B Hày giải thích hiện tượng trên Điều đó cho ta thấy điều gì ?
Kết quả là 41 em trả lời đạt kết quả tốt Hiện tượng khói đang lên ở ống A hộp đối lưu nhưng khi đặt ngọn nến vào ống B hộp đối lưu thì khói chuyển qua ống B và đi lên từ ống B
Giải thích : Vì không khí bên ống B có nến cháy bị đốt nóng nhẹ hơn và bay lên cao còn không khí ở nến A không có nến cháy lạnh hơn và đi xuống Điều
đó cho ta thấy không khí chuyển động từ nơi lạnh đến nơi nóng, không khí chuyển động tạo thành gió làm cho khói hương đi qua ống B
Còn 27 em trả lời và giải thich chưa đầy đủ yêu cầu câu hỏi
3) Nguyên nhân đẫ đến hiệu quả chưa cao :
Qua tìm hiểu điều tra, khảo sát tôi thấy nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả của việc thực hành thí nghiệm trong dạy học môn nói chung và Khoa học nói riêng là do 5 nguyên nhân chủ yếu sau :
a Học sinh chưa nắm được mục đích của thực hành thí nghiệm
b Khi thực hành thí nghiệm một số học sinh còn thờ ơ, làm việc riêng hoặc
có hành vi tùy tiện, chưa phát huy tính tích cực trong hoạt động học tập
c Giáo viên khuyến khích học sinh suy nghĩ, sáng tạo mà học sinh thực hành còn máy móc theo các bước mà sách giáo khoa chỉ dẫn
d Các dự đoán , thảo luận, giải thích và rút ra kết luận từ kết quả quan sát, thực hành chưa được quan tâm thấu đáo Học sinh chưa thấy được sự gắn kết giữa thí nghiệm các em làm với nội dung bài học, kết quả thực hành thí nghiệm đó liên hệ như thế nào với kiến thức khoa học ở bài học
e Giáo viên chưa chú trọng việc hướng dẫn một số kĩ thuật cần thiêt khi thực hành
4) Biện pháp khắc phục :
Qua phỏng vấn, khảo sát học sinh 2 lớp của khối bốn, tỷ lệ học sinh chưa
nắm chắc bài sau khi làm thí nghiệm chiếm tỷ lệ còn cao ( trên 30%).
Suy nghĩ, trăn trở “ Làm thế nào để học sinh hiểu được bài sau khi thực hành thí nghiệm mà không cần phụ thuộc và sách giáo khoa đọc thuộc lòng từng câu chữ trong sách, trong lúc điều kiện, phương tiện dạy học và đồ dùng thí nghiệm được trang bị tương đối đầy đủ”
Trang 7Qua thời gian suy nghĩ và kinh nghiệm 24 năm dạy học tôi đã đúc kết được một số kinh nghiệm sau :
* Trước khi thực hành thí nghiệm giáo viên cần làm cho học sinh nắm được
mục đích việc thực hành thí nghiệm, nhiệm vụ phải làm trước khi thực hành thí nghiệm Trong khi tổ chức cho học sinh thực hành thí nghiệm, giáo viên cần lưu ý hướng dẫn các em các kĩ năng lập thí nghiệm, như trình tự các bước, biết giữ các yếu tố khác biến đổi khi muốn tìm hiểu tác động của một yếu tố đến hiện tượng cần nghiên cứu, …
Ví dụ: “ Không khí cần cho sự cháy ” Khi làm thí nghiệm cần kiểm tra
cây nến trong cốc to hay cây nến trong cốc nhỏ tắt trước, học sinh cần nhận xét được tại sao nên thắp sáng hai cây nến rồi úp đồng thời hai cốc lên hai cây nến
mà không làm lần lượt từng cây nến
Trong một số trường hợp khi mà học sinh có một số kinh nghiệm liên quan, giáo viên có thể yêu cầu học sinh trao đổi, thảo luận để tìm ra cách thực hành thí nghiệm Ví dụ giáo viên yêu cầu học sinh tự tìm cách tìm hiểu xem trong các vật đã cho, vật nào cho ánh sáng truyền qua, học sinh có các cách khác nhau
để xác định các vật đó không cho ánh sáng truyền qua mà giáo viên không cần phải áp đặt làm theo như sách giáo khoa Chẳng hạn như : Giơ vật trước mắt nhìn; chiếu đèn pin qua vật, phía sau vật đặt tấm bìa làm nền Giáo viên giúp học sinh đánh giá các cách làm
* Để tránh tình trạng một số học sinh thờ ơ, hay làm việc riêng khi hoạt
động nhóm thực hành thí nghiệm Giáo viên phải tạo cho học sinh hứng thú, khuyến khích học sinh suy nghĩ muốn tìm hiểu, mong muốn thực hành thí nghiệm để tự tìm câu trả lời … Chẳng hạn giáo viên có thể đưa ra một hiện tượng hoặc ứng dụng gần gũi mà các em muốn tìm hiểu như : Vì sao khi gõ trống, tai nghe được âm thanh ?; vì sao có gió ?; Vì sao phải quạt khi nhóm bếp?, Vì sao tay cầm của nồi xoong thường làm bằng gỗ, nhựa mà không làm bằng nhôm thép … Giáo viên cũng có thể giải thích một hiện tượng mâu thuẩn với suy nghĩ của các em, như vẫn nghe được tiếng chuông của đồng hồ mặc dù đồng hồ đã được bọc kín trong một chiếc túi nhựa
* Các kiến thức trong môn khoa học, gần gũi với cuộc sống của các em, vì
vậy mà các em có vốn hiểu biết ban đầu Ví dụ như nước ngưng tụ, nước chảy
từ trên cao xuống thấp, Một vật gần vật nóng thì nóng lên, khi ở xa nguồn thì nghe nhỏ hơn … Giáo viên có thể cho học sinh dựa vào những hiểu biết sẵn có
để có thể dự đoán giải thích một số hiện tượng có liên quan tới bài học và từ đó muốn thực hành thí nghiệm xem dự đoán, giải thích của mình có đúng không
Ví dụ : Trong bài “ Ánh sáng ” có thể cho học sinh chơi trò chơi “ Dự đoán
đường truyền của ánh sáng ” (đèn pin sẽ chiếu vào đâu sau khi bật) Trò chơi
tạo tình huống để học sinh “ Vận hành ” vốn hiểu biết của mình thực hành thí
nghiệm, học sình thay đổi một cách cụ thể đường truyền của ánh sáng, từ đó rút
Trang 8ra nhận xét ánh sáng truyền theo đường thẳng và vận dụng giải thích trò chơi ban đầu Giáo viên phải quan tâm đến những vấn đề học sinh rút ra được sau khi quan sát và thực hành thí nghiệm
* Phần lớn các thí nghiệm ở sách giáo khoa lớp 4, là thí nghiêm do học sinh
thực hành tùy vào nội dung bài học, điều kiện thời gian và cơ sở vật chất Giáo viên có thể phân công cho mỗi nhóm thực hành một nhiệm vụ thí nghiệm hoặc các nhóm cùng thực hành một thí nghiệm sau đó chia sẽ với cả lớp Việc tổ chức thực hành thí nghiệm theo nhóm nhỏ tạo điều kiện cho học sinh trực tiếp tham gia nhiều hơn vào việc tự tìm và lĩnh hội kiến thức mới cho bản thân và có nhiều cơ hội rèn luyện các kĩ năng Giáo viên cần chú ý cho học sinh phân công, hợp tác , trao đổi với nhau trong quá trình vạch kế hoạch tiến hành dự đoán; thao tác thực hiện; quan sát ghi lại kết quả; giải thích kết quả thu nhận được … Qua trao đổi trong nhóm cũng như toàn lớp, những quan niệm, ý kiến của học sinh được bộc lộ, học sinh nhận thức được rõ hơn quan niệm của chính mình cũng như biết được các ý kiến khác Từ đó xây dựng kiến thức khoa học đạt hiệu quả hơn Trong một số trường hợp khó tiến hành theo nhóm do điều kiện cơ sở vật chất, thời gian… giáo viên cũng thực hành thí nghiệm chung cho
cả lớp Lúc này, giáo viên cần chú ý phát huy tối đa tính tích cực hoạt động của học sinh trong việc tham gia vào dự đoán, lập kế hoạch, phân tích kết quả, rút ra kết luận
Trong quá trình học sinh thực hành thí nghiêm theo nhóm, với một số yếu tố
kĩ thuật mà cảm thấy học sinh còn lúng túng hoặc làm thí nghiệm chưa chính xác thì giáo viên phải hướng dẫn một cách cụ thể để học sinh thực hành thí nghiệm đạt kết quả tốt
III Kết quả:
Từ việc điều tra phỏng vấn học sinh bài 31 tuần 16 Khảo sát học sinh lớp 4 bài 32 tuần 16 và bài 37 tuần 19 Tôi đã tìm ra biện pháp và hình thức khắc
phục như đã trình bày trên, cho đến tiết 47 tuần 23 bài “ Bóng tối ”, tôi tiến
hành khảo sát một lần nữa ở lớp tôi chủ nhiệm, kết quả như sau :
Kết quả khảo sát:
Lớp 4B Sĩ số học sinh Số bài đạt kết quả 9,10
Số bài kết quả chưa cao (5,6,7)
Nội dung kiểm tra :
- Kiểm tra việc sử dụng thành thạo đồ dùng làm thí nghiệm, cách quan sát khi làm thí nghiệm
- Kiểm tra mức độ hiểu biết bài học rút ra từ thực hành thí nghiệm
* Nội dung thực hành thí nghiệm:
Trang 9Tìm hiểu về bóng tối, bóng tối xuất hiện ở đâu ? Khi nào ? Có thể làm cho bóng của một vật thay đổi bằng cách nào ?
* Dụng cụ thực hành thí nghiệm :
Đèn pin : 4 cái / 4 nhóm ; võ hộp 4 cái ất cả được học sinh chuẩn bị đầy đủ.
Sau khi giáo viên nêu yêu cầu và nhiệm vụ thực hành thí nghiệm, học sinh thực hành thí nghiệm một cách thành thạo và tự rút ra kết luận
Sau tiết học tôi tiến hành khảo sát các nội dung sau :
1) Bóng tối xuất hiện ở đâu và có hình dạng như thế nào ?
2) Bóng của vật đó sẽ thay đổi khi nào ?
3) Khi thực hành thí nghiệm tìm hiểu về bóng tối trong lớp học em cần chú ý điều gì ?
Kết quả có 31/34 học sinh trả lời đầy đủ như sau:
1) Bóng tối xuất hiện phía sau vật cản sáng khi có ánh sáng và có hình dạng của vật đó
2) Bóng của một vật thay đổi (to, nhỏ, dài, ngắn) khi vị trí của vật chiếu sáng đối với vật đó thay đổi
3) Khi thực hành thí nghiệm tìm hiểu về bóng tối trong lớp học cần chú ý đóng kín cửa trước khi bật đèn và mở pha đèn
Còn 2 em trả lời thiếu ý 2 của câu 3 và 1 em trả lời thiếu ý 2 câu 1 & 3 Với kết quả trên cho ta thấy :Các em đã hứng thú hơn trong học tập, tự chuẩn bị đồ dùng thực hành thí nghiệm và biết quan sát tỉ mỉ thí nghiệm, ghi chép lại đầy đủ những gì đã quan sát được, biết rút ra kết luận sau khi thực hành thí nghiệm bằng sự hiểu biết của mình mà không phụ thuộc vào sách giáo khoa Tuy nhiên cũng chưa thể gọi là thỏa mãn mong muốn của tôi Mong bạn đồng nghiệp góp ý kiến bổ sung thêm để chúng ta cùng thảo luận đi đến một kết quả tốt nhất
IVBài học kinh nghiêm:
* Hướng dẫn học sinh chuẩn bị thực hành thí nghiệm đòi hỏi giáo viên phải quan tâm, dành nhiều thời gian, có kế hoạch cụ thể và thực hành thí nghiệm trước một vài lần, tránh lúng túng khi hướng dẫn kĩ thuật hoặc thực hành mẫu cho học sinh xem
* Quan tâm đến tất cả các đối tượng và tạo điều kiện cho học sinh yếu được thực hành (thường thì học sinh khá, giỏi hay dành thực hành nhiều hơn) đồng thời hướng dẫn học sinh phải quan sát thí nghiệm kĩ khi thực hành thí nghiệm
* Mỗi lần học sinh rút ra được ý kết luận sau khi thực hành thí nghiệm, giáo viên khuyến khích, động viên và ghi điểm ngay, ưu tiên học sinh yếu trình bày
ý kiến của mình
* Giáo viên cần nghiên cứu kĩ bài học tiếp theo và giao việc cụ thể cho tiết học sau để thực hành thí nghiệm được tốt nếu đồ dùng để thực hành thí nghiệm
đó không có trong đồ dùng dạy học được cấp
Trang 10* Giáo viên thường xuyên tìm hiểu thế giới xung quanh làm vốn kinh nghiệm để vận dụng vào bài giảng cho học sinh nhiều hứng thú
* Thường xuyên nhắc nhở học sinh cận thận trong quá trình thực hành thí nghiệm và khi cất dụng cụ thí nghiệm, tránh làm đổ vỡ hư hỏng…
C KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ:
I Kết luận :
sinh trong từng giờ học .
hình thức dạy học bằng PGV ( thầy soạn câu hỏi và bài tập dưới dạng các lệnh làm việc, trò trả lời thầy bằng cách lấy bút viết trên giấy )
hình thức trực quan mới “ Trò làm , thầy xem”
II Kiến nghị :
* Đối với giáo viên :
- Cần biết quan tâm đến tất cả mọi đối tượng HS, tổ chức giờ học phải động viên được tính tính cực hoạt động học tập của 100% HS trong lớp
- Luôn có ý thức, tinh thần tự học, tự bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ chuyên môn đáp ứng yêu cầu hiện nay và mạnh dạn vận dụng đổi mới PHDH phù hợp đối tượng HS của lớp mình dạy
- Tổ chức thực hành thí nghiệm cần chú trọng rèn luyện phương pháp tự học , tự nghiên cứu, tăng cường hoạt động học tập cá nhân phối hợp với hợp tác nhóm, phát huy khả năng tự khám phá của học sinh
* Đối với chuyên môn :
Tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên dề về dạy học sinh thực hành thí nghiệm môn khoa học lớp 4 và 5 nhằm giúp GV rút ra được những kinh nghiệm bổ ích cho công tác giảng dạy của mình bằng thực hành thí nghiệm
Người viết