Luận văn
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
1.1 Đào tạo theo nhu cầu xã hội không chỉ là một yêu cầu đối với pháttriển giáo dục nước ta hiện nay mà còn là cách thức vận động tất yếu của giáodục do bản chất xã hội của nó qui định Đào tạo theo nhu cầu xã hội được thựchiện với các mức độ và phương thức khác nhau tùy chức năng, nhiệm vụ củamỗi phân hệ trong hệ thống giáo dục quốc dân Với giáo dục trung học phổthông (THPT), đào tạo theo nhu cầu xã hội là chuẩn bị tốt nguồn nhân lực,góp phần phát triển nguồn nhân lực cho xã hội Theo đó, để quản lý phát triểngiáo dục nói chung, quản lý phát triển giáo dục THPT nói riêng có hiệu quả,các giải pháp quản lý phát triển giáo dục THPT phải phù hợp với tính qui luậtnói trên của giáo dục
Phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao là mộttrong những mục tiêu hàng đầu của chiến lược phát triển giáo dục nước ta hiệnnay Giáo dục THPT góp phần vào quá trình phát triển nguồn nhân lực cho xãhội bằng việc thực hiện các nội dung giáo dục nhằm mục tiêu giáo dục toàn diệncho học sinh Điều này đã được khẳng định trong Chiến lược phát triển Giáo dục2001-2010 của nước ta Phát triển giáo dục Phổ thông nhằm:“Thực hiện giáo dục toàn diện về đức, trí, thể, mỹ Cung cấp học vấn Phổ thông cơ bản, hệ thống và có tính hướng nghiệp; tiếp cận trình độ các nước phát triển trong khu vực Xây dựng thái độ học tập đúng đắn, phương pháp học tập chủ động, tích cực, sáng tạo; lòng ham học, ham hiểu biết, năng lực tự học, năng lực vận dụng kiến thức vào cuộc sống” [17 ,tr.14] Đối với giáo dục THPT “Thực hiện chương trình phân ban hợp
lý nhằm đảm bảo cho học sinh có học vấn Phổ thông, cơ bản theo một chuẩn thống
nhất, đồng thời tạo điều kiện cho sự phát huy năng lực của mỗi học sinh, giúp học
sinh có những hiểu biết về kỹ thuật, chú trọng hướng nghiệp để tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân luồng sauTrung học phổ thông, để học sinh vào đời hoặc chọn ngành nghề học tiếp sau khi tốt nghiệp” [17]
Trang 2Các luận điểm nêu trên trong Chiến lược phát triển giáo dục của quốcgia cho thấy, một trong những nội dung giáo dục quan trọng và có ưu thếtrong việc thực hiện nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực của giáo dục THPT
là giáo dục hướng nghiệp
Giáo dục hướng nghiệp cho thế hệ trẻ (trong đó có học sinh THPT) là bướckhởi đầu quan trọng trong quá trình phát triển nguồn nhân lực Vì lẽ đó, Nghị quyết
TW2 khóa VIII đã chỉ rõ “Mở rộng và nâng cao chất lượng dạy kỹ thuật tổng hướng nghiệp” [38, tr.6] Trong văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, công tác hướng nghiệp cũng đã được khẳng định:“…Thực hiện phương châm: học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội Coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh Trung học, chuẩn bị cho thanh niên, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh
hợp-tế trong cả nước và từng địa phương Xây dựng quy hoạch đào tạo nhân lực theo phương thức kết hợp học tập trung, học từ xa, học qua máy tính…” [39] Thực hiện
mục tiêu của giáo dục THPT, giáo dục hướng nghiệp ở THPT không chỉ giúp điềuchỉnh động cơ chọn nghề, hứng thú nghề nghiệp của học sinh theo xu thế phân cônglao động xã hội mà còn hướng tới việc sử dụng hợp lí tiềm năng lao động trẻ của đấtnước, nâng cao năng suất lao động của xã hội; đưa thanh thiếu niên vào đúng vị trílao động nghề nghiệp, giúp họ phát huy hết năng lực, sở trường lao động, nâng caohứng thú nghề nghiệp, phát triển khả năng sáng tạo trong lao động Với ý nghĩa nhưvậy, việc tổ chức tốt và đảm bảo chất lượng giáo dục hướng nghiệp ở THPT sẽ pháthuy tối đa hiệu quả của nó, phục vụ có hiệu quả cho yêu cầu phát triển nguồn nhânlực của đất nước
Tuy nhiên, mặc dù đã có những định hướng nêu trên nhưng công tác hướngnghiệp trong các trường Phổ thông ở nước ta còn nhiều hạn chế Thực tiễn triểnkhai và quản lý công tác hướng nghiệp trong hệ thống giáo dục nước ta cho thấynhiều thách thức và vấn đề phức tạp đòi hỏi chính giáo dục phải tự khắc phục vàtháo gỡ Đó là những vấn đề khó khăn về chuyên môn của hoạt động giáo dụchướng nghiệp cũng như những khó khăn trong quản lý nhà nước và quản lý tác
Trang 3nghiệp đối với hoạt động này ở các trường THPT Nhiều công trình nghiên cứu vềhướng nghiệp ở Phổ thông đã khẳng định: công tác tư vấn, giáo dục nghề nghiệpcho học sinh Phổ thông ở nước ta hiện vẫn chưa được quan tâm đúng mức, Bộ GD-
ĐT đã quy định về chương trình dạy nghề, hướng nghiệp cũng như số tiết học cụthể, nhưng hoạt động hướng nghiệp, dạy nghề Phổ thông vẫn mang tính hình thức,thậm chí không được triển khai trong chương trình giáo dục ở nhiều trường học
[58];[63];[56];[79]
Có một phức hợp các nguyên nhân khiến cho giáo dục hướng nghiệp THPTtrong thời gian vừa qua chưa đạt mục tiêu mong muốn Một trong những nguyênnhân đó là quản lý giáo dục hướng nghiệp THPT chưa hiệu quả Quản lý giáo dụchướng nghiệp THPT chưa hiệu quả là do chưa nhận thức đầy đủ về các qui luật vàtính qui luật của quản lý giáo dục, của giáo dục hướng nghiệp THPT để có nhữnggiải pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp THPT phù hợp với qui luật khách quan.Chẳng hạn, để thực hiện phát triển nguồn nhân lực, quản lý giáo dục THPT xác địnhnhiệm vụ phân luồng học sinh sau THPT Các hoạt động của nhà trường nhằm phânluồng học sinh sau THPT đã được triển khai, nhưng trên thực tế, giáo dục THPTkhông tạo ra được các luồng học sinh như mong muốn Điều này cho thấy, cácluồng học sinh là do xã hội tạo ra (từ nhu cầu sử dụng nhân lực và cơ chế tuyểndụng nhân lực) và trường THPT cần chuẩn bị cho học sinh một cách tối ưu để cóthể thích ứng (tham gia có hiệu quả) vào các luồng nhân lực mà xã hội đã tạo ra
Với phân tích trên, để giáo dục THPT thiết thực góp phần vào phát triểnnguồn nhân lực và phát huy được ưu thế của giáo dục hướng nghiệp THPT trongnhiệm vụ này, quản lý giáo dục hướng nghiệp THPT cần phải được định hướng cụthể hơn bởi các phương thức làm cho giáo dục phổ thông thực sự thực hiện đúngyêu cầu đào tạo theo nhu cầu xã hội Vì lẽ đó, việc nghiên cứu về quản lý giáo dụchướng nghiệp THPT theo định hướng tạo nguồn nhân lực là một đòi hỏi cấp thiếtnhằm tăng cường công tác quản lý đối với hoạt động giáo dục hướng nghiệp ởtrường THPT, coi đó như khâu đột phá nhằm tăng cường và nâng cao chất lượng
Trang 4hoạt động giáo dục hướng nghiệp, góp phần thực hiện tốt mục tiêu giáo dục THPT
và phục vụ yêu cầu phát triển nhân lực của đất nước
1.2 Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) bao gồm 13 tỉnh và thành phố trựcthuộc trung ương Diện tích đất tự nhiên là 39.739 km2 (bằng 12,1% diện tích toànquốc) Dân số (với 31 dân tộc, trong đó người Kinh chiếm chủ yếu, khoảng 92,3%tổng dân số, dân tộc có số lượng đứng thứ hai trong vùng là người Khmer, chiếmkhoảng 6,4%, còn lại là các dân tộc ít người khác) tính đến năm 2009 là 17.179nghìn người (bằng 20,02% dân số cả nước)1 Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề củavùng năm 2009 đạt 22%, năm 2010 ước đạt 22,7% (bình quân cả nước 25%)2
Cùng với sự phát triển chung của cả nước, khu vực đồng bằng sông CửuLong đã và đang chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, phát huy các lợithế, từng bước phát triển cơ sở hạ tầng đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH của vùng.Quá trình chuyển dịch đó đòi hỏi phải đầu tư mạnh về cơ sở hạ tầng, tài chính, khoahọc công nghệ, đặc biệt là nhân lực có trình độ văn hoá và chuyên môn kỹ thuật
Từ khi có Quyết định số 20/2006/QĐ-TTg ngày 20/01/2006 của Thủ tướng
Chính phủ về phát triển giáo dục, đào tạo và dạy nghề vùng ĐBSCL đến năm 2010
và Quyết định số 26/2008/QĐ-TTg ngày 5/02/2008 của Thủ tướng Chính phủ vềviệc ban hành một số cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế-xã hội vùng đồngbằng sông Cửu Long đến năm 2010, giáo dục và đào tạo ĐBSCL đã có nhữngchuyển biến với những bước phát triển quan trọng, góp phần tích cực vào việc thực
hiện mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội trong vùng và hội nhập với sự phát
triển chung của cả nước Tuy nhiên, do điểm xuất phát thấp, còn nhiều khó khănchung và khách quan, giáo dục và đào tạo vùng đồng bằng sông Cửu Long cònnhiều điểm yếu, tồn tại, đó là: Chất lượng giáo dục thấp, chất lượng nguồn nhân lựcchưa đáp ứng nhu cầu CNH, HĐH; hệ thống hạ tầng giáo dục còn thấp kém; việcđầu tư cho giáo dục, đào tạo chưa đủ mạnh để đáp ứng yêu cầu phát triển Nhìnchung, nguồn lực của khu vực tuy có số lượng đông nhưng chất lượng chưa đáp ứng
1 Số liệu tổng điều tra dân số và nhà ở 01/04/2009
2 Báo cáo của Bộ Lao động – Thương binh &Xã hội ngày 09/10/2009
Trang 5yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời kỳ hội nhập Phầnlớn lao động trong các ngành kinh tế chưa qua đào tạo chuyên môn, kỹ thuật chiếm80%, một bộ phận không nhỏ có trình độ học vấn thấp, lao động nông nghiệpchiếm tỷ lệ cao (56%); lao động trong khu vực công nghiệp, xây dựng, thương mại,dịch vụ còn thấp
Yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội của khu vực đến năm 2020 đòi hỏi nguồnnhân lực phải đảm bảo cơ cấu đến năm 2020 với những thay đổi khác với cơ cấu laođông của giai đoạn 2001-2010 (lao động công nghiệp - xây dựng 16%, dịch vụ 34%,nông- lâm- ngư nghiệp 50%) Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực dự trữ, đồngbằng sông Cửu Long hằng năm phải huy động 90% học sinh vào học THCS và 50%học sinh vào họcTrung học phổ thông (THPT) trong độ tuổi, phấn đấu đạt tỷ lệ laođộng qua đào tạo là 40 - 50% vào năm 2010 và 70% vào năm 2020 Điều đó đòi hỏicông tác quản lý giáo dục hướng nghiệp THPT tạo nguồn nhân lực cho các tỉnh đồngbằng sông Cửu Long phải được coi trọng và quan tâm đặc biệt Cơ cấu lao động củagiai đoạn 2011- 2020 chính là những luồng nhân lực được khu vực tạo ra, tác độngđến xu thế chuẩn bị nguồn nhân lực trong khu vực Đây chính là những định hướngcho các luồng học sinh sau THCS và THPT của các tỉnh đồng bằng sông Cửu Longđến năm 2020 Theo đó, nhiệm vụ của các trường THPT là chuẩn bị cho học sinhTHPT sau tốt nghiệp có thể tham gia vào các luồng nhân lực được tạo ra bởi nhu cầuphát triển kinh tế - xã hội của khu vực Để thực hiện nhiệm vụ này, giải pháp cho giáodục đồng bằng sông Cửu Long là đổi mới và phát triển giáo dục Phổ thông, coi việcnâng cao chất lượng và đạt hiệu quả cao của giáo dục Phổ thông, đẩy mạnh công tácgiáo dục hướng nghiệp dạy nghề, là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là điều kiện cơbản và tiền đề để mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực
Những phân tích trên đây về nhu cầu nhân lực của khu vực đồng bằng sôngCửu Long và mối quan hệ giữa giáo dục Phổ thông và giáo dục nghề nghiệp là lý do
để tác giả lựa chọn đề tài : “Quản lý giáo dục hướng nghiệpTrung học phổ thông theo định hướng tạo nguồn nhân lực cho các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020” làm đề tài nghiên cứu luận án
Trang 63.2 Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp THPT theo định hướng tạo nguồnnhân lực cho các tỉnh ĐBSCL đến năm 2020
4 Giả thuyết nghiên cứu
Nếu xác lập được mối quan hệ giữa giáo dục hướng nghiệp ở trường THPT vớiyêu cầu tạo nguồn nhân lực khu vực ĐBSCL thì sẽ đề xuất được các giải pháp quản lýtác động đồng bộ đến các thành tố mục tiêu, nội dung và hình thức giáo dục hướngnghiệp ở các trường THPT khu vực đồng bằng sông Cửu Long theo định hướng tạonguồn nhân lực cho khu vực đến năm 2020
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc xây dựng giải pháp quản lý giáo dụchướng nghiệp THPT theo định hướng tạo nguồn nhân lực cho các tỉnh đồng bằngsông Cửu Long đến năm 2020
Trang 76.2 Đánh giá thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp của đồng bằng sôngCửu Long trong quan hệ với nhu cầu nhân lực của khu vực trong thời gian qua.
6.3 Đề xuất một số giải pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp THPT theo địnhhướng tạo nguồn nhân lực cho các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020
6.4 Thử nghiệm để khẳng định tính khả thi và hiệu quả của các giải phápquản lý đã đề xuất
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp luận
Vận dụng quan điểm biện chứng, lịch sử và tiếp cận hệ thống đểnghiên cứu, phân tích yêu cầu phát triển nguồn nhân lực tại các tỉnh đồngbằng sông Cửu Long trong giai đoạn hiện nay và đề xuất giải pháp quản lýgiáo dục hướng nghiệp THPT theo định hướng tạo nguồn nhân lực phát triểnkinh tế-xã hội
7.2 Các phương pháp nghiên cứu lý luận
Các phương pháp như phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá và khái quáthoá được sử dụng để khái quát các tri thức đã có trong các tài liệu về quanđiểm giáo dục đào tạo của Đảng, Nhà nước về giáo dục Phổ thông, giáo dụchướng nghiệp và phát triển nguồn nhân lực Nghiên cứu các công trình vềquản lý giáo dục hướng nghiệp THPT trong nước và ngoài nước trong nhữngđiều kiện lịch sử cụ thể để đưa ra các luận cứ lý luận của vấn đề nghiên cứu
7.3 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.3.1 Phương pháp điều tra
Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi được thực hiện nhằm thu thậpthông tin về nhu cầu nhân lực của các địa phương và tìm hiểu nhu cầu, địnhhướng nghề nghiệp của học sinh Trung học phổ thông tại các tỉnh triển khai nghiên cứu đề tài luận án
Trang 87.3.2 Phương pháp phỏng vấn
Thực hiện phỏng vấn với cán bộ quản lý giáo dục các Sở Giáo dục và Đàotạo để tìm hiểu nhận thức và ý kiến của họ đối với những giải pháp quản lý giáo dụcTHPT tại địa phương Phương pháp cũng được sử dụng để đánh giá về tính khả thicủa các biện pháp được đề xuất
7.3.3 Phương pháp quan sát
Được sử dụng trong những tiết dự giờ tại các lớp học sinh THPT Đây lànhững giờ học về giáo dục hướng nghiệp được tổ chức theo chương trình hiện hànhtrong nhà trường hiện nay Kết quả của phương pháp nhằm xác định những nguyênnhân ảnh hưởng đến định hướng nghề nghiệp của học sinh THPT ở địa phương
7.3.4 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Trên cơ sở thu thập thông tin của các trường THPT, tổng kết kinh nghiệm tổchức, quản lý của các trường THPT trên địa bàn nghiên cứu Những kinh nghiệmđược tổng kết sẽ là một trong những cơ sở để đề xuất các giải pháp quản lý khả thinhằm phát triển giáo dục hướng nghiệp THPT tạo nguồn nhân lực tại các tỉnh đồngbằng sông Cửu Long
7.4 Các phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng phương pháp phân tích các số liệu, kết quả điều tra, đồng thời xácđịnh các kết quả nghiên cứu
8 Các luận điểm bảo vệ
- Giáo dục hướng nghiệp nói chung, giáo dục hướng nghiệp THPT nói riêng
có vai trò và ưu thế đối với phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triểnkinh tế xã hội của địa phương và đất nước
- Để phát huy vai trò, ưu thế của giáo dục hướng nghiệp THPT đối với pháttriển nguồn nhân lực, quản lý giáo dục hướng nghiệp THPT cần thực hiện theo định
Trang 9hướng tạo nguồn nhân lực Quản lý giáo dục hướng nghiệp THPT theo địnhhướng tạo nguồn nhân lực là xuất phát từ yêu cầu tạo nguồn nhân lực của khuvực để thiết kế và tổ chức tác động một cách đồng bộ đến tất các các thành tốcủa giáo dục hướng nghiệp, đặc biệt là các thành tố mục tiêu, nội dung và hìnhthức giáo dục hướng nghiệp.
- Nếu quản lý giáo dục hướng nghiệp THPT được thực hiện theo định hướngtạo nguồn nhân lực thì giáo dục hướng nghiệp THPT ở các tỉnh đồng bằng sôngCửu Long sẽ góp phần tạo nguồn nhân lực cho khu vực đến năm 2020
9 Đóng góp của luận án
9.1 Về lý luận
- Xác lập mối quan hệ giữa giáo dục hướng nghiệp THPT với yêu cầu tạo nguồnnhân lực, khẳng định vai trò và ưu thế của giáo dục hướng nghiệp THPT với yêu cầu tạonguồn nhân lực; từ đó khẳng định tính tất yếu của quản lý giáo dục hướng nghiệp THPTvới yêu cầu tạo nguồn nhân lực
- Xác định cụ thể các yếu tố của quản lý giáo dục hướng nghiệp THPT cầnphải được thay đổi nhằm vận hành quá trình giáo dục hướng nghiệp THPT theođịnh hướng tạo nguồn nhân lực
9.2 Về thực tiễn
- Chỉ rõ một trong những nguyên nhân khiến giáo dục hướng nghiệp THPT ởcác tỉnh đồng bằng sông Cửu Long chưa hiệu quả là do quản lý giáo dục hướng nghiệp
ở các trường THPT chưa bám sát yêu cầu tạo nguồn nhân lực của khu vực;
- Phân tích nhu cầu phát triển nguồn nhân lực các tỉnh đồng bằng sông CửuLong đến năm 2020 làm cơ sở cho công tác quản lý giáo dục hướng nghiệp THPT củacác tỉnh ĐBSCL theo định hướng tạo nguồn nhân lực cho địa phương
- Đề xuất được các giải pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp THPT ở cáctỉnh đồng bằng sông Cửu Long theo định hướng tạo nguồn nhân lực cho khu vựcđến năm 2020
Trang 1010 Cấu trúc luận án
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, nội dung của luận án gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục hướng nghiệp THPT trongmối quan hệ với yêu cầu tạo nguồn nhân lực
- Chương 2: Thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp THPT theo địnhhướng tạo nguồn nhân lực cho các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long
- Chương 3: Giải pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp THPT theo địnhhướng tạo nguồn nhân lực cho các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020
Trang 111.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Những nghiên cứu về giáo dục hướng nghiệp được khởi đầu từ các nướccông nghiệp Châu Âu Năm 1848, cuốn sách “Hướng nghiệp chọn nghề” xuất hiện
ở Pháp đã đề cập tới xu thế phát triển đa dạng của nghề nghiệp do sự phát triển củacông nghiệp tạo nên và việc nhất thiết phải giúp đỡ thanh niên trong sự lựa chọnnghề nghiệp Cuốn sách cũng đã khẳng định tính cấp thiết phải giúp đỡ thanh thiếuniên đi vào thế giới nghề nghiệp nhằm sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động trẻ[57] Các tác giả Rolf Oberliesen, Helmut Keim, Michael Schumann, GehartDuismamn …(Cộng hòa liên bang Đức) đã có những công trình nghiên cứu vềphương thức tổ chức cho học sinh Phổ thông thực tập ở các nhà máy, xí nghiệp, các
cơ sở kinh doanh, dịch vụ [42] Đức đã có những kinh nghiệm về hệ thống tổ chứctrường Phổ thông quán triệt nguyên tắc hướng nghiệp, chuẩn bị cho học sinh đi vàotrường đào tạo nghề tùy theo trình độ và năng lực học tập của mỗi học sinh Quanđiểm của họ là phải tiến hành phân loại học sinh dựa vào khả năng học tập của từng
em để định hướng cho học sinh đi học để trở thành công nhân lành nghề song songvới việc học hết lớp 12 và tiếp tục phân loại cho học sinh khá giỏi học lên lớp 13 thi
tú tài toàn phần và thi vào Đại học…Vì thế, học sinh có thể học nghề ngay khi đanghọc Phổ thông Bên cạnh đó, các nhà khoa học sư phạm ở Cộng hòa Dân chủ Đức(Heinz Frankiewiez, Bernd Rothe, B Germer … đã nghiên cứu những vấn đề cơ sởkhoa học sư phạm của tổ chức hoạt động dạy học lao động nghề nghiệp cho họcsinh, trong đó quan tâm đến công tác phối hợp, cộng tác chặt chẽ giữa trung tâmgiáo dục KTTH và các trường Phổ thông trong việc lập kế hoạch thực tập cho họcsinh Phổ thông Các tác giả đã chỉ ra sự cần thiết phải tổ chức cho học sinh thực tập
Trang 12thực tế tại các trung tâm hoặc các đơn vị sản xuất; tổ chức hoạt động lao động nghềnghiệp cho học sinh Phổ thông bằng việc áp dụng phương thức phối hợp cộng tácchặt chẽ giữa trung tâm giáo dục KTTH và các trường Phổ thông trong việc lập kếhoạch thực tập cho học sinh Phổ thông.
Các nhà khoa học như: N.K.Krupxkaia, A.V.Lunasatsky, M.I.Kalinin,N.O.Blonxkii, M.Z.Akmaliv, P.R.Atutov … [4];[5];[10];[20];[25];[26];[53];[64] đã
có nhiều đóng góp quan trọng trong lĩnh vực giáo dục lao động KTTH trong nhữngnăm 70 của thế kỷ XX
Các nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu ý tưởng “học tập kết hợp với laođộng sản xuất” để hình thành nhân cách toàn diện cho học sinh, những ý tưởng đó
có giá trị lớn cả mặt chính trị lẫn kinh tế - xã hội Các nhà giáo dục Xô Viết đã làmnổi bật vai trò to lớn của giáo dục KTTH trong nhà trường nước Nga, coi đó là mộttrong những bộ phận quan trọng nhất của giáo dục Cộng sản chủ nghĩa, có tác dụnggiúp học sinh tiếp nhận về mặt lý thuyết và thực tiễn về những nguyên lý cơ bản củanền sản xuất hiện đại hình thành kỹ năng, kỹ xảo lao động và hướng nghiệp cho họcsinh, tạo khả năng lựa chọn có ý thức con đường lao động, xây dựng cơ sở cho việcđào tạo nghề về sau Đặc biệt, N.K.Krupxkaia đã phát triển nguyên lý giáo dụcKTTH của V.I.Lênin, nhấn mạnh yêu cầu phải quán triệt nguyên lý này vào cácmôn học của nhà trường, giữa các môn học với nhau phải có sự quan hệ mật thiết,liên hệ với hoạt động thực tiễn và nhất là đối với học môn kỹ thuật N.K.Krupxkaia
trong cuốn sách “Hoàn thiện quá trình dạy học” đã chỉ ra rằng: “Mối liên hệ giữa
học tập và lao động cần phải thực hiện sao cho học tập lý thuyết soi sáng con đườngthực hành vào lao động sản xuất, còn lao động làm giàu kiến thức giúp nắm kiếnthức một cách có ý thức”; “Giáo viên dạy lao động cần trang bị cho học sinh nhữngkiến thức kỹ năng, KTTH đại cương cần thiết cho người lao động các nghề khácnhau để lao động sản xuất” [59] Chính vì vậy, qua các lần cải cách giáo dục (1956– 1966 và 1984 – 1986), giáo dục Xô Viết luôn chú trọng tăng cường giáo dục laođộng với hướng nghiệp cho học sinh Phổ thông trên cơ sở gắn với lao động sảnxuất
Trang 131.1.2 Các nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu về quản lý giáo dục hướng nghiệp THPT dựa trên những nguyên
lý chung về quản lý giáo dục và quản lý giáo dục THPT Những vấn đề chung vềquản lý giáo dục và quản lý giáo dục THPT được đề cập trong công trình nghiêncứu của các tác giả như: Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc [23];[20], ĐặngQuốc Bảo [8], Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải [52], Bùi Văn Quân [68]…
Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh có vai trò nền tảng và định hướng pháttriển nghề nghiệp tương lai, chuẩn bị tâm thế và năng lực cụ thể cho việc nắm bắtthế giới nghề nghiệp trên cơ sở hiểu biết về các yêu cầu xã hội cũng như hiểu biếtnăng lực, sở thích của bản thân trong quá trình học tập và lựa chọn nghề nghiệptương lai cho mình Vì lẽ đó, giáo dục hướng nghiệp được quan tâm nghiên cứu mộtcách có hệ thống từ những năm 70 của thế kỷ XX Những nghiên cứu về giáo dụcnghề nghiệp được triển khai rất đa dạng
Tác giả Phạm Tất Dong [26];[27];[28];[30];[31];[32];[33], Đặng Danh Ánh[2];[3];[4];[5], Đoàn Chi [20], Đặng Quốc Bảo [9] nghiên cứu về hứng thú, khuynhhướng nghề nghiệp của học sinh và xây dựng chương trình hướng nghiệp chínhkhóa cho học sinh Phổ thông Tác giả Đặng Danh Ánh, Nguyễn Viết Sự [75];[76];[77] đã nghiên cứu về mô tả nghề để làm cơ sở cho việc tư vấn nghề cho học sinh(giai đoạn từ 1982 đến 1986) Tác giả Nguyễn Văn Hộ với các công trình nghiêncứu như: “ Thiết lập và phát triển hệ thống hướng nghiệp cho học sinh Việt Nam(1988) [53], “Cơ sở sư phạm của công tác hướng nghiệp trong trường Phổ thông”[54] đã khái quát các luận chứng lý luận và thực tiễn cho hệ thống hướng nghiệpPhổ thông trong điều kiện phát triển kinh tế-xã hội của đất nước thời kỳ hội nhập và
đề xuất một số hình thức phối hợp giữa nhà trường Phổ thông với các cơ sở đào tạonghề, cơ sở sản xuất trong việc hướng nghiệp, dạy nghề cho học sinh Phổ thông.Những khía cạnh khác của giáo dục hướng nghiệp cũng được đề cập trong một sốcông trình nghiên cứu sau: “Một số vấn đề về giáo dục hướng nghiệp cho nhàtrường Phổ thông” của Nguyễn Văn Lê, Hà Thế Truyền, Bùi Văn Quân [58] “Định
Trang 14hướng giáo dục hướng nghiệp trong trường Phổ thông Trung học” của PhạmTất Dong [30]; “Mối quan hệ giữa hệ thống giáo dục nghề nghiệp với thị trườnglao động”; “Về giáo dục kỹ thuật và hướng nghiệp trong giáo dục Phổ thông ở nước
ta trong thời gian tới” của Nguyễn Viết Sự [75];[77]
Cùng với việc nghiên cứu về giáo dục hướng nghiệp, vấn đề về mối quan hệgiữa giáo dục Phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực cũngđược các nhà khoa học giáo dục quan tâm nghiên cứu Ở hướng nghiên cứu này, cáctác giả tập trung nghiên cứu theo các chủ đề:
(1) Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa
trong điều kiện nền kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế: NguyễnMinh Đường, Phan Văn Kha [44];[45], Trần Khánh Đức [43], Nguyễn Hữu Dũng[34];[35]
(2) Phát triển nguồn nhân lực, kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta:Nguyễn Như Ất [6]; Phạm Huy Thụ [84];[85]…
(3) Nghiên cứu mô hình giáo dục hướng nghiệp THPT cho các đối tượng đặcthù (học sinh bổ túc văn hóa) của Huỳnh Thị Tam Thanh [79], mô hình tư vấn nghềtrong trường THPT của Nguyễn Thị Thanh Huyền [56] và quản lý giáo dục hướngnghiệp THPT theo định hướng xã hội hóa của Bùi Việt Phú [67]
(4) Nghiên cứu các giải pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp THPT tại cáckhu vực và địa phương: Lê Thanh Bình [18]
Nguồn nhân lực vừa thiếu, vừa yếu, nguyên nhân chính là công tác giáo dụchướng nghiệp chưa thật sự đáp ứng yêu cầu Để tồn tại và phát triển, nước ta phảitiến hành CNH, HĐH định hướng xã hội chủ nghĩa Sự nghiệp CNH,HĐH đặt rahàng loạt yêu cầu đối với Giáo dục - Đào tạo nói chung, hướng nghiệp cho học sinhPhổ thông nói riêng Vì thế, trước hết phải thấy rõ đặc thù của sự nghiệp CNH,HĐH ở nước ta, những đặc thù này sẽ quy định phương hướng phát triển công táchướng nghiệp Theo đó, hướng nghiệp sẽ góp phần phát triển nguồn nhân lực cho
sự nghiệp CNH, HĐH Nghiên cứu về vấn đề này, có các nội dung nghiên cứu chủ
Trang 15yếu như: đổi mới mạnh mẽ giáo dục nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực (Phạm MinhHạc); thị trường lao động và định hướng nghề nghiệp cho thanh niên (Nguyễn Hữu Dũng);bối cảnh của việc xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực và công tác hướngnghiệp (Phạm Tất Dong); giáo dục kỹ thuật – nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực(Trần Khánh Đức); giáo dục Phổ thông và hướng nghiệp - nền tảng để phát triểnnguồn nhân lực đi vào CNH, HĐH đất nước (Chương trình Khoa học Công nghệcấp Nhà nước KX-05, Đề tài KX- 05—09).v.v.
Qua tổng quan trên, có thể rút ra một số nhận xét:
(1) Giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp và hướng nghiệp cho học sinh Phổ thông
là xu thế chung được nhiều nước trên thế giới quan tâm Tuy nhìn nhận từ nhiều góc
độ khác nhau nhưng xu thế hiện tại của các nước trên thế giới đều coi dạy nghề baogồm cả giai đoạn “Tiền nghề nghiệp” ở trường Phổ thông và có sự thống nhất đó làgiáo dục lao động gắn liền với giáo dục công nghệ và hướng nghiệp
(2) Một số nước đã nghiên cứu đưa chương trình giáo dục nghề nghiệp triểnkhai song song với giáo dục Phổ thông để góp phần phân luồng học sinh, đặt ranhững yêu cầu cho việc giáo dục lao động cho học sinh, kết hợp việc học nghề ngaytrong chương trình Phổ thông sau khi đã thực hiện phân loại học sinh và định hướngcho các em lựa chọn nghề nghiệp
(3) Tuy nghiên cứu ở những khía cạnh và tiếp cận ở các góc độ khác nhaunhưng các công trình khoa học đều có một mục tiêu chung nhằm nâng cao hiệu quảgiáo dục và hướng nghiệp, tạo nền tảng cho việc đào tạo nhân lực Các tác giả trong
và ngoài nước đã quan tâm rất nhiều đến hoạt động giáo dục hướng nghiệp, đặc biệt
là hoạt động dạy học lao động chuẩn bị nghề nghiệp cho học sinh Phổ thôngdưới các hình thức khác nhau nhằm chuẩn bị cho đa phần học sinh trung họcsau khi tốt nghiệp dễ dàng hòa nhập với cuộc sống lao động nghề nghiệp trongnền kinh tế Các công trình khoa học chủ yếu tập trung quan tâm nhiều nhất đếncác khái niệm, nội dung, tính chất và các hình thức giáo dục hướng nghiệp
Trang 16trong nhà trường Phổ thông, vào việc đổi mới nội dung, phương pháp, sử dụngtối ưu cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ hướng nghiệp.
(4) Tuy nhiên, vấn đề quản lý giáo dục hướng nghiệp trong mối quan hệ vớiđào tạo nguồn nhân lực trong thời đại toàn cầu hóa, cạnh tranh và hội nhập vớinhững ưu thế đặc biệt của KHCN nói chung và CNTT nói riêng hiện nay chưa đượcnghiên cứu một cách có hệ thống
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Giáo dục hướng nghiệp
Lý luận về GDHN trong nhà trường Phổ thông đã được nghiên cứu tương đối
cơ bản và hệ thống [2];[3];[12];[26];[28];[53];[54];[42];[108];[113] Tác giả luận án
hệ thống và khái quát hoá những vấn đề chung nhất trong hệ thống lý luận về giáodục hướng nghiệp trong nhà trường mà tác giả chọn làm cơ sở khoa học cho nhữngnghiên cứu của mình
Khái niệm giáo dục hướng nghiệp
Trong những tài liệu chuyên khảo, khái niệm hướng nghiệp được sử dụngnhư một tổng thể, chứa đựng nhiều khái niệm thành phần, biểu thị những hình thứcriêng lẻ của hướng nghiệp như: thông tin nghề, tư vấn nghề, tuyển chọn nghề vàthích ứng nghề Hướng nghiệp là những nguyên tắc lí thuyết về kiến thức, phươngpháp, biện pháp kỹ thuật, tổ chức phù hợp với thực tế của cuộc sống, tạo điều kiệncho việc giải quyết một cách khoa học để chuẩn bị cho thế hệ trẻ lựa chọn đúng đắnnghề nghiệp và đi vào nghề nghiệp
Những nhà giáo dục hiểu hướng nghiệp như một hệ thống tác động giúp thế
hệ trẻ có cơ sở khoa học trong việc chọn nghề, hệ thống điều chỉnh sự lựa chọnnghề của học sinh cho phù hợp với những yêu cầu của sự phân công lao động xãhội, có tính đến hứng thú và năng lực của từng cá nhân
Về phương diện kinh tế học, hướng nghiệp được hiểu là hệ thống những biệnpháp dắt dẫn, tổ chức thanh thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp nhằm sử dụng
Trang 17hợp lý tiềm năng lao động trẻ tuổi của đất nước Hướng nghiệp góp phần tích cựcvào quá trình phấn đấu nâng cao năng suất lao động xã hội.
Trong tâm lý học, hướng nghiệp được coi như một quá trình chuẩn bị cho thế
hệ trẻ sự sẵn sàng tâm lý đi vào lao động nghề nghiệp Sự sẵn sàng tâm lý đó chính
là tâm thế lao động – một trạng thái tâm lý tích cực trước hoạt động lao động
Xét từ bình diện khoa học lao động, hướng nghiệp là hình thức giám định laođộng có tính chất chẩn đoán Đó là quá trình xác lập sự phù hợp nghề nghiệp củatừng người cụ thể trên cơ sở xác định sự tương ứng giữa những đặc điểm – sinh lýcủa họ với những yêu cầu của một nghề nào đó đối với người lao động
Trong trường Phổ thông, hướng nghiệp vừa là hoạt động dạy của giáo viên, vừa
là hoạt động học của học sinh Nói như vậy có nghĩa là trong công tác hướng nghiệp,giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn còn học sinh là người chủ động tham gia vào hoạtđộng để tiếp cận với hệ thống nghề nghiệp Kết quả cuối cùng của quá trình hướngnghiệp là sự tự quyết định của học sinh trong việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai
“Hướng nghiệp là một hình thức hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò Với tư cách là hoạt động dạy của thầy, hướng nghiệp được coi như là công việc của tập thể giáo viên, tập thể sư phạm có mục đích giáo dục học sinh trong việc chọn nghề, giúp các em tự quyết định nghề nghiệp tương lai trên cơ sở phân tích khoa học về năng lực, hứng thú của bản thân và nhu cầu nhân lực của các ngành sản xuất trong xã hội.” [78, tr 43 ]
Như vậy, hướng nghiệp là quá trình hướng dẫn chọn nghề, quá trình chuẩn
bị cho thế hệ trẻ đi vào lao động sản xuất xã hội
Hướng nghiệp là quá trình tác động của gia đình, nhà trường và xã hội, trong
đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo nhằm hướng dẫn và chuẩn bị cho thế hệ trẻ sẵnsàng đi vào lao động ở các ngành nghề tại những nơi xã hội đang cần phát triển,đồng thời lại phù hợp với hứng thú, năng lực cá nhân
Trang 18Theo Tài liệu giáo dục hướng nghiệp trong trường học của Australiathì :Giáo dục hướng nghiệp liên quan đến sự phát triển kiến thức, kỹ năng và thái độthông qua một chương trình hoạch định sẵn và sẽ giúp học sinh có quyết định về sựlựa chọn nghề trong trường học và sau khi tốt nghiệp, giúp học sinh làm việc cóhiệu quả hơn.
Khái niệm khác: Trong nhà trường Phổ thông, hướng nghiệp là công việc của tậpthể sư phạm giáo dục học sinh lựa chọn một cách tốt nhất, nghĩa là trong sự lựa chọn đó
có sự phù hợp giữa nguyện vọng nghề nghiệp của các cá nhân với yêu cầu phát triểnkinh tế xã hội và có sự phù hợp giữa năng lực của cá nhân với đòi hỏi của nghề
Hướng nghiệp cho học sinh Phổ thông là bước khởi đầu quan trọng trongquá trình phát triển nguồn nhân lực Trên bình diện cá nhân, hướng nghiệp là hệthống các biện pháp dựa trên cơ sở tâm lý học, sinh lý học, giáo dục học, xã hội học
và nhiều khoa học khác để giúp học sinh chọn nghề phù hợp với nhu cầu của xã hội,đồng thời thỏa mãn tối đa nguyện vọng, thích hợp với năng lực, sở trường và điềukiện tâm lý cá nhân để học có thể phát triển tới đỉnh cao trong nghề nghiệp, cốnghiến được nhiều cho xã hội cũng như tạo lập được cuộc sống tốt đẹp cho bản thân.Trên bình diện vĩ mô xã hội, hướng nghiệp nhằm góp phần phân bố hợp lý và sửdụng có hiệu quả nhất nguồn nhân lực, vốn quý của đất nước để phục vụ cho sự
phát triển kinh tế - xã hội, mang lại phồn vinh cho đất nước
Từ những khái niệm trên có thể rút ra khái niệm chung nhất về giáo dục hướngnghiệp là một hệ thống các biện pháp giáo dục của nhà trường, gia đình, xã hộinhằm chuẩn bị cho thế hệ trẻ tư tưởng, tâm lí, tri thức, kỹ năng… để học có thểsẵn sàng đi vào ngành nghề, vào lao động sản xuất, vào cuộc sống Giáo dụchướng nghiệp góp phần phát huy năng lực, sở trường của từng người, đồng thờicũng góp phần điều chỉnh nguyện vọng của cá nhân sao cho phù hợp với nhucầu phân công lao động trong xã hội Có thể nói ngắn gọn rằng, giáo dục hướngnghiệp là hướng dẫn cho học sinh ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường sớm
có ý thức về một nghề lao động mà sau này họ sẽ chọn
Trang 19Nhiệm vụ, mục tiêu giáo dục hướng nghiệp ở THPT
Nhiệm vụ hướng nghiệp ở các trường Phổ thông đã được ghi rõ trong Quyếtđịnh 126/CP ngày 19 tháng 3 năm 1981 của Hội đồng Chính phủ về “Công táchướng nghiệp trong các trường Phổ thông và việc sử dụng học sinh các cấp Phổthông cơ sở và Phổ thông trung học tốt nghiệp ra trường” bao gồm:
1/Giáo dục thái độ đúng đắn đối với lao động và nghề nghiệp
2/Tổ chức cho học sinh thực tập làm quen với một số nghề
3/Tìm hiểu năng khiếu, khuynh hướng nghề nghiệp của từng học sinh đểkhuyến khích, hướng dẫn, bồi dưỡng khả năng nghề nghiệp thích hợp
4/Động viên, hướng dẫn học sinh đi vào những nghề, những nơi đang cần laođộng trẻ tuổi có văn hoá
Về mục tiêu của giáo dục hướng nghiệp trong trường Phổ thông, Bộ Giáodục và Đào tạo đã xây dựng và ban hành nội dung chương trình hoạt động giáo dụchướng nghiệp ở trườngTrung học phổ thông với mục tiêu:
1/Giúp cho học sinh có được những tri thức về tình hình phát triển kinh tếcủa đất nước và địa phương,về thế giới nghề nghiệp thị trường lao động và hệ thốngđào tạo nghề ở Việt Nam
2/Phát triển ở các em khả năng tự đánh giá bản thân khi chọn nghề, phân tích
và quyết định lựa chọn đúng hướng đi sau khi tốt nghiệp THPT
3/Góp phần thuận lợi vào việc phân luồng học tập và lao động sau khitốt nghiệp THPT
Những nhiệm vụ mục tiêu nêu trên được triển khai trong thực tiễnhoạt động giáo dục hướng nghiệp ở các trường Phổ thông bằng những nộidung cụ thể Quan điểm về nội dung giáo dục hướng nghiệp hiện nay baogồm: “làm cho học sinh có được hiểu biết về nội dung của một nghề vànhững yêu cầu của nghề đòi hỏi con người cần phải có nghiên cứu nhữngđặc điểm tâm lý – sinh lý của học sinh; giúp học sinh chọn nghề, giúp họcsinh nắm vững nghề và hình thành khả năng thích ứng nghề nghiệp” [71]
Về lâu dài, trên bình diện xã hội muốn làm tốt nhiệm vụ hướng nghiệp cầnthực hiện cả ba nội dung có quan hệ chặt chẽ là (1) định hướng nghề’ (2) tư
Trang 20vấn nghề; (3) tuyển chọn nghề Trong nhiều tài liệu, giáo trình giáo dục học
[26],[54],[64] đã phản ánh sơ đồ về mối quan hệ giữa các nhiệm vụ giáodục hướng nghiệp theo nhà tâm lý học K.Kplatonov như sơ đồ 1.1
Sơ đồ 1.1 Các nội dung cơ bản để thực hiện nhiệm vụ giáo dục hướng nghiệp
Sơ đồ 1.1 Cho thấy, ba nội dung : định hướng nghề; tư vấn nghề và tuyểnchọn nghề quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ lẫn nhau nhằm hoàn thành tốt cácnhiệm vụ giáo dục hướng nghiệp
Trong trường Phổ thông, theo mục tiêu, nhiệm vụ của giáo dục hướng nghiệp
mà nội dung của giáo dục hướng nghiệp được tập trung chủ yếu ở hai nội dungchính là định hướng nghề nghiệp và tư vấn nghề nghiệp Bằng việc thực hiện hainội dung này, giáo dục hướng nghiệp ở trường Phổ thông bước đầu góp một phầnnào đó cho việc tham gia tuyển chọn nghề nghiệp sau này của học sinh
-Định hướng nghề nghiệp
2 1
3
Tuyên truyền định hướng nghề nghiệp
Tình hình phân công lao động, cơ cấu lao động, nhu cầu nhân lực ở địa phương và
xã hội
Tuyển chọn nghề
Đặc điểm về phẩm chất, nhân cách, tâm sinh lý của từng học
Trang 21Công việc chủ yếu của định hướng nghề nghiệp là thông tin về sự phát triểncủa các nghề trong xã hội, đặc biệt là những nghề đang có nhu cầu nhân lực mộtcách cấp thiết về những yêu cầu tâm lý và sinh lý của các nghề đang đặt ra, về tìnhhình phân công lao động xã hội,về hệ thống trường dạy nghề …Đối tượng tác độngchủ yếu là học sinh, nhưng đôi khi người ta cũng phải cung cấp những thông tin nóitrên cho cha mẹ học sinh nhằm mục đích phối hợp hướng nghiệp cho trẻ em mộtcách thống nhất Các phòng (hoặc góc) hướng nghiệp của nhiều trường Phổ thônghiện nay đang làm nhiệm vụ thông tin nghề nghiệp là chủ yếu.
Sau khi cung cấp cho học sinh thông tin nghề nghiệp, người ta thường tiếnhành nhiều biện pháp nhằm làm cho các em có những điều kiện làm quen với một
số nghề, tham gia lao động một số buổi với các nghề đó Đây là một cách thử sứccần thiết để qua đó, mỗi học sinh tự kiểm nghiệm hứng thú, năng lực của bản thânmình, từ đó có thể hình thành sơ bộ những kết luận về sự phù hợp nghề của mình
Quá trình thông tin nghề nghiệp cần phải tuân thủ, đáp ứng mấy yêu cầu sau đây:+Giúp cho trẻ em định hướng vào những nghề cần phát triển, đặc biệt lànhững nghề ở địa phương
+Gây hứng thú nghề nghiệp ở học sinh, từng bước xoá bỏ những kiến thức,những quan điểm lệch lạc về một số nghề trong xã hội
Tạo điều kiện để học sinh phát triển năng lực kỹ thuật tương ứng với hứngthú nghề nghiệp đang hình thành
+Làm cho mỗi học sinh có thái độ đúng đối với lao động nghề nghiệp biếttôn trọng người lao động và có ý thức bảo vệ của công, bảo vệ thành quả lao độngcủa người khác
-Tư vấn nghề nghiệp
Đây là hình thức tác động hướng nghiệp thông qua sự góp ý và lời khuyêncủa nhà chuyên môn đối với việc lựa chọn nghề Thông thường, người ta thành lậpnhững ban tư vấn nghề nghiệp trong trường học hoặc trung tâm tư vấn nghề nghiệpngoài nhà trường Tại đó, người ta nghiên cứu theo dõi sự phát triển và những đặcđiểm tâm – sinh lý của học sinh đối chiếu những đặc điểm đó với yêu cầu của cácnghề rồi giới thiệu một số nghề nên chọn Tại những trung tâm tư vấn nghề nghiệp
Trang 22ở nhiều nước, học sinh đến đó nhiều lần trong thời gian học một cấp học Ngườilàm công tác tư vấn lập sổ hướng nghiệp cho từng học sinh, trong đó có đủ nhữngmục cần thiết liên quan đến việc chọn nghề Sau mỗi lần tiếp xúc với học sinhngười làm tư vấn ghi lại những gì cần thiết để cuối cùng, trên cơ sở đó mà cho họcsinh những lời khuyên chọn nghề bổ ích, thiết thực.
Trong nhiều trường hợp, người làm công tác tư vấn đặt mối quan hệ mậtthiết với gia đình để cuối cùng phối hợp tới học sinh, làm cho những lời khuyênchọn nghề có” trọng lượng” hơn Hiện nay, tư vấn hướng nghiệp cần định hướngcho học sinh tìm hiểu, nhận thức và rèn luyện các phẩm chất, năng lực chung, thiếtyếu nhất của nghề nghiệp và cuộc sống xã hội
-Tuyển chọn nghề nghiệp
Tuyển chọn nghề nghiệp có liên quan mật thiết với công việc định hướngcũng như tư vấn nghề nghiệp Thực chất của tuyển chọn nghề nghiệp là căn cứvào nhu cầu nhân lực của một nghề cụ thể mà đi tìm những người có đặc điểmnhân cách phù hợp Trong trường Phổ thông, mọi việc thuộc lĩnh vực tư vấnnghề nghiệp lại phải tạo ra những cứ liệu cần để tạo những điều kiện thuận lợicho việc tuyển chọn nghề nghiệp sau này Ví dụ, nếu mỗi học sinh có sổ hướngnghiệp thì khi tuyển chọn các em vào các trường dạy nghề, và các trường trunghọc chuyên nghiệp,Cao đẳng hoặc Đại học, vào nhà máy xí nghiệp, chắc chắn đó
là những cứ liệu để tham khảo
Các con đường giáo dục hướng nghiệp ở THPT
Giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường Phổ thông nhằm “bồi dưỡng,hướng dẫn học sinh chọn nghề phù hợp với thể lực và năng khiếu của cá nhân” nhưmục đích nêu trên Vì vậy, trong nhà trường Phổ thông, công tác hướng nghiệpđược thực hiện qua bốn con đường chủ yếu sau:
-Hướng nghiệp qua hoạt động dạy học các môn văn hoá
-Hướng nghiệp qua hoạt động dạy học môn công nghệ
-Hướng nghiệp qua hoạt động dạy học giáo dục hướng nghiệp
Trang 23-Hướng nghiệp qua các hoạt động tham gia ngoại khoá, các phượng tiệnthông tin đại chúng và các tổ chức xã hội.
Mỗi con đường nêu trên có những tác dụng nhất định đối với việc thực hiệnmục đích hướng nghiệp trong hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo các chủ đềhướng nghiệp là con đường cơ bản
Quá trình lĩnh hội kiến thức nằm trong các bộ môn khoa học cơ sở là mộttrong những con đường hình thành, phát triển khuynh hướng sở trường của họcsinh, hình thành ở các em những cơ sở khoa học của nghề nghiệp tương lai Vì thếnội dung tài liệu học tập các môn học có thể và cần phải được sử dụng vào công táchướng nghiệp Tài liệu học tập góp phần cung cấp cho học sinh những cơ sở khoahọc của các nghề nghiệp xã hội khác nhau, giới thiệu các ngành nghề khác nhautrong nền kinh tế quốc dân, định hướng các giá trị nghề nghiệp các tri thức và kỹnăng nghề nghiệp … Người giáo viên trong khi truyền thụ cho học sinh hệ thốngcác kiến thức Phổ thông, còn có nhiệm vụ chỉ rõ ý nghĩa của những kiến thức đó đốivới việc nắm vững nghề nghiệp phổ biến và quan trọng của nền kinh tế quốc dân
Trong các giờ Sinh học, Vật lý,Toán học, Chính trị, Đạo đức học sinh khôngchỉ lĩnh hội kiến thức, kĩ năng về môn học mà còn có thể tiếp xúc với những lĩnhvực hoạt động có liên quan, ứng dụng những tri thức khoa học này vào các lĩnh vựctrong nền kinh tế của đất nước Các môn học về giáo dục công dân còn tạo điềukiện cho các em quen biết gặp gỡ với con người lao động Tất nhiên mỗi môn họcgiải quyết một góc độ của vấn đề thông qua đặc trưng vốn có của nội dung, chươngtrình về cấu trúc môn học và về mối quan hệ có tính hệ thống, logic giữa các môn.Người giáo viên bộ môn phải biết tận dụng thế mạnh của bộ môn mình mà lồngghép nội dung giáo dục hướng nghiệp cho phù hợp
Hướng nghiệp trong quá trình dạy các môn khoa học ở trường Phổ thông làmột việc hết sức khó khăn và lại thiếu một chỉ dẫn cụ thể về phương pháp tiến hành,biện pháp thực hiện Đặc biệt ở nước ta, khi công tác hướng nghiệp còn đang là việchết sức mới mẽ, kinh nghiệm đúc kết chưa nhiều, lại chưa có đội ngũ giáo viênđược đào tạo giáo dục hướng nghiệp, vì thế chúng ta có thể nói tới một cách toàndiện, đầy đủ việc hướng nghiệp cho học sinh Phổ thông qua quá trình giảng dạy cácmôn học Tuy nhiên, với quan điểm cho rằng dạy học là phương tiện cơ bản củacông tác giáo dục và giáo dưỡng trong nhà trường Phổ thông các cấp, chúng ta có
Trang 24thể nhận thấy một số quan điểm cần lưu ý khi triển khai cách hướng nghiệp thôngqua các môn học như sau:
+Bản thân những kiến thức trong môn học mà học sinh lĩnh hội sẽ tạo thànhnền móng cho sự tiếp thu kiến thức nghề nghiệp, bởi lẽ đó là hệ thống tri thức cơbản, chung nhất được tất cả các ngành nghề lấy đó là điểm tựa để bồi đắp dần trithức chuyên ngành, tay nghề cho học sinh ở giai đoạn tiếp theo
+ Nội dung kiến thức Phổ thông bên cạnh những kiến thức có liên quan đến
bộ môn còn bao gồm trong đó một lượng thông tin khá phong phú có liên quan đếnnghề nghiệp Trong quá trình dạy học các môn học, nếu giáo viên biết khai thácnhững tri thức về nghề nghiệp có liên quan đến môn học của mình sẽ có tác dụnggiáo dục hướng nghiệp to lớn Đó là những tri thức có liên quan đến nghề nghiệp cơbản trong xã hội, tri thức đối tượng lao động, về cách thức tiến hành một hoạt độnglao động cụ thể Chẳng hạn, những tri thức về công cụ và phương tiện lao động cụthể được trình bày trong môn Vật lý (giới thiệu các loại máy móc có liên quan đếnmôn học); tri thức về công cụ và phương tiện tư duy trong quá trình lao động đượcgiới thiệu trong môn Toán; về biến đổi nguyên vật liệu (Hoá học, Vật lý)lao độngbiến đổi vật chất hữu cơ (Sinh học) quan hệ giữa con người với tự nhiên trong laođộng (Văn học) điều kiện tự nhiên xã hội, quá trình lao động (Địa lý, Lịch sử) lịch
sử biến đổi tự nhiên và xã hội (Lịch sử) … Vì thế khi thực hiện các môn học trongnhà trường Phổ thông, người giáo viên cần dựa vào những đặc trưng của bộ môn đểhình thành cho học sinh những tri thức về tiềm năng của đất nước, thành tựu củanhân dân lao động, sự phát triển các ngành nghề nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệpthen chốt Giáo dục ý thức chọn ngành chọn nghề đúng đắn, tinh thần sẵn sàng đivào các ngành nghề đang cần phát triển để xây dựng và bảo vệ tổ quốc
+Đặc biệt là qua các phân môn kỹ thuật Phổ thông giới thiệu cho học sinh cácnghề cơ bản có liên quan trực tiếp tới môn học và tổ chức cho học sinh thực hành kĩthuật sản xuất trong những ngành nghề đó Các phân môn kĩ thuật phục vụ giới thiệu chohọc sinh ngành dệt, ngành may, chế biến thực phẩm, các nghề thuộc lĩnh vực phục vụ …
Tổ chức lao động sản xuất trong nhà trường là biện pháp rất quan trọng đểthực hiện giáo dục hướng nghiệp Qua lao động sản xuất có tác dụng giáo dục quanđiểm thái độ, ý thức lao động cho học sinh, trên cơ sở đó giáo dục ý thức đúng đắnđối với nghề nghiệp, tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc với nghề và lao động trong
Trang 25các dạng nghề nghiệp khác nhau, phát triển hứng thú, năng lực của học sinh đối vớimột dạng lao động nhất định, hướng dẫn học sinh lựa chọn nghề nghiệp với yêu cầuphát triển kinh tế và phù hợp với năng lưc của bản thân Giáo dục lao động trongnhà trường góp phần hình thành tri thức, kĩ năng và thái độ đúng đắn đối với nghềnghiệp cho học sinh.
Hoạt động ngoại khoá cũng là một trong những con đường giáo dục hướngnghiệp, ảnh hưởng hoạt động ngoại khoá đối với học sinh một cách tự nhiên, hìnhthành hứng thú phát huy được tính tích cực độc lập trong tham gia của học sinh vàocác hoạt động hướng nghiệp
Tuy nhiên hướng nghiệp qua môn học và lao động sản xuất, hoạt động ngoạikhoá không thể tiến hành một hệ thống mà chỉ kết hợp trong các chương, bài có liênquan trực tiếp đến ngành, nghề Hướng nghiệp qua hoạt động giáo dục hướng nghiệp
sẽ khắc phục được những hạn chế đó, vì qua hoạt động giáo dục hướng nghiệp chophép giới thiệu ngành nghề một cách hệ thống và đầy đủ hơn nhằm làm cho học sinh
có những hiểu biết khái quát về cơ cấu của nền kinh tế quốc dân, vị trí, nhiệm vụ củangành nghề chủ yếu và cơ bản của đất nước, của địa phương cùng với những yêu cầu
cơ bản của nghề đối với lao động về phẩm chất, tính cách, năng lực, thể chất …
Giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường Phổ thông được thực hiện bởi nhiềuhình thức đa dạng, linh hoạt Các hình thức đó là:
-Giới thiệu cho học sinh những nghề đang cần nhân lực, nhất là những nghềnằm trong kế hoạch phát triển của đất nước cũng như ở địa phương; đồng thời, giớithiệu cho học sinh những yêu cầu tâm lý và sinh lý của những nghề đó
-Tạo điều kiện cho học sinh tìm hiểu hệ thống những trường đào tạo nghềbậc trung học và Đại học, trước hết là những trường công nhân kỹ thuật
-Tổ chức cho học sinh tham quan sản xuất ở nhà máy, xí nghiệp, côngtrường, nông trường … nhằm giúp cho học sinh có những biểu tượng (quan niệm)
rõ ràng hơn về những nghề đang cần tìm hiểu
-Cho học sinh tiếp xúc với những đại biểu ưu tú của các ngành sản xuất, qua
đó, cho học sinh tìm hiểu thêm về người lao động trong ngành nghề
-Tổ chức những buổi toạ đàm về nghề nghiệp tương lai, những diễn đàn vềviệc chọn nghề, những buổi dạ hội có tính chất chuyên đề tìm hiểu nghề
Trang 26Như vậy hoạt động giỏo dục hướng nghiệp là con đường quan trọng, cú ưuthế hơn so với cỏc con đường khỏc trong giỏo dục hướng nghiệp cho học sinh Phổthụng Thụng qua quỏ trỡnh tổ chức hướng dẫn giỏo viờn, học sinh tớch cực tham giacỏc hoạt động học tập nghiờn cứu nhằm lĩnh hội một cỏch hệ thống cỏc thụng tin vềphỏt triển cỏc lĩnh vực ngành nghề trong xó hội, những ngành chủ yếu của nền kinh
tế quốc dõn cũng như những ngành nghề đang cú nhu cầu phỏt triển của địa phươnghiện nay; nắm được hướng phỏt triển của kinh tế - xó hội và yờu cầu cơ bản củanghề đối với lao động Trờn cơ sở nhận thức, học sinh hỡnh thành hứng thỳ đối vớilĩnh vực nghề nghiệp xỏc định, cú cơ sở khoa học để lựa chọn nghề tương lai đảmbảo phự hợp giữa nhu cầu, sở thớch, năng lực cỏ nhõn với nhu cầu của xó hội, địaphương Hoạt động giỏo dục hướng nghiệp giỳp học sinh, đặc biệt cỏc em ở lớpcuối cấp THPT giải được bài toỏn hết sức khú khăn trong cuộc đời con người
“Mỡnh sẽ làm nghề gỡ trong tương lai?” làm sao cho cú sự phự hợp giữa cỏc yếu tố;nghề cỏc em thớch, khả năng em cú thể làm và nghề xó hội đang cần phỏt triển
Chớnh vỡ vậy, cỏc trường THPT cần tổ chức tốt hoạt động giỏo dục hướngnghiệp nhằm phỏt huy mạnh mẽ tỏc dụng của nú trong việc bồi dưỡng, hướngnghiệp học sinh chọn nghề đảm bảo cho sự phự hợp Đồng thời cần thực hiện phốihợp hàng loạt cỏc biện phỏp như trắc nghiệm, cõn, đo, cho lời khuyờn, thử sức,tham quan nhà mỏy, xớ nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, trao đổi, tổ chức gặp mặtcỏc nhà sản xuất giỏi, cỏc cụng nhõn lành nghề …
1.2.2 Quản lý giỏo dục hướng nghiệp
Tác giả luận án xây dựng khái niệm quản lý giáo dục đợc xây dựng theo
ph-ơng pháp thu hẹp khái niệm của lôgic học, trong đó khái niệm quản lý là khái niệm
đợc thu hẹp
Quản lý
Trong các tài liệu về quản lý, khái niệm quản lý đợc nghiên cứu dới các bìnhdiện sau (dẫn theo “ Giáo trình quản lý giáo dục” của Bùi Văn Quân, 2006)”
Thứ nhất, nghiên cứu quản lí theo quan điểm của điều khiển học và lí thuyết
hệ thống Theo đó, quản lí là một quá trình điều khiển, là chức năng của những hệ
có tổ chức với bản chất khác nhau (sinh học, xã hội, kĩ thuật v.v ) nó bảo toàn cấutrúc, duy trì chế độ hoạt động của các hệ đó Quản lí là tác động hợp quy luật kháchquan, làm cho hệ vận động, vận hành và phát triển
Thứ hai, nghiên cứu quản lí với t cách là một hoạt động, một lao động tất yếu
trong các tổ chức của con ngời Theo đó, "Quản lí là sự tác động liên tục có tổ chức,
Trang 27có định hớng của chủ thể quản lí (ngời quản lí hay tổ chức quản lí) lên đối tợng quản
lí về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế, bằng một hệ thống các luật lệ, cácchính sách, các nguyên tắc, các phơng pháp, các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môitrờng và điều kiện cho sự phát triển đối tợng." ; "Quản lí là tác động có định hớng,
có chủ đích của chủ thể quản lí đến đối tợng quản lí trong tổ chức, làm cho tổ chức
đó vận hành và đạt đợc mục đích của tổ chức." ; "Hoạt động quản lí bao gồm haiquá trình tích hợp với nhau : Đó là, quá trình "quản" và quá trình "lí" Quá trình
"quản" bao gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái "ổn định" ; quá trình "lí" baogồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ thống, đa hệ thống vào thế phát triển Nếu chỉ
lo việc "quản" tổ chức sẽ trì trệ, bảo thủ ; nếu chỉ quan tâm đến "lí" tổ chức đó sẽ rơivào thế mất cân bằng, mất ổn định Nh vậy quản lí chính là hoạt động tạo ra sự ổn
định và thúc đẩy sự phát triển của tổ chức đến một trạng thái mới có chất lợng mớicao hơn
Thứ ba, nghiên cứu quản lí với t cách là một quá trình trong đó các chức năng
quản lí đợc thực hiện trong sự tơng tác lẫn nhau Theo hớng này, "Quản lí là quátrình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các công việc của các thành viênthuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt đ ợc cácmục đích xác định." ; "Quản lí là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cáchvận dụng các chức năng kế hoạch, tổ chức chỉ đạo và kiểm tra”
Mặc dù có những cách diễn đạt khác nhau, song có thể khái quát nội dung cơbản của quản lí đợc đề cập đến trong các quan niệm trên là : 1/ Quản lí là thuộc tínhbất biến, nội tại của mọi quá trình hoạt động xã hội Lao động quản lí là điều kiệnquan trọng để làm cho xã hội loài ngời tồn tại, vận hành phát triển; 2/ Quản lí đợcthực hiện với một tổ chức hay một nhóm xã hội; 3/ Quản lí là những tác động cótính hớng đích, là những tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân thực hiện mụctiêu của tổ chức; 4/ Yếu tố con ngời, trong đó chủ yếu bao gồm ngời quản lí và ngời
bị quản lí giữ vai trò trung tâm trong chu trình, trong hoạt động quản lí
Theo đó, có thể hiểu: Quản lí là quá trình tiến hành những hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lí theo kế hoạch chủ động và phù hợp với quy luật khách quan để gây ảnh hởng đến
đối tợng quản lí nhằm tạo ra sự thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết vì sự tồn tại (duy trì), ổn định và phát triển của tổ chức trong một môi trờng luôn biến động.
Quản lý giáo dục
Theo khái niệm quản lí đã trình bày, có thể định nghĩa khái niệm quản lí giáo
dục nh sau : Quản lí giáo dục là một dạng của quản lí xã hội trong đó diễn ra quá trình tiến hành những hoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lí theo kế hoạch chủ động để gây ảnh hởng đến
đối tợng quản lí đợc thực hiện trong lĩnh vực giáo dục, nhằm thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết vì sự ổn định và phát triển của giáo dục trong việc đáp ứng các yêu cầu mà xã hội đặt ra đối với giáo dục
Trang 28Phân tích khái niệm này có thể nhận thấy :
- Quản lí giáo dục là một dạng của quản lí xã hội, vì thế nó có đầy đủ các đặc
điểm của quản lí nói chung và quản lí xã hội nói riêng
- Do tính đặc thù của quản lí giáo dục mà những đặc điểm của quản lígiáo dục có nội dung và hình thái thể hiện khác biệt với các dạng quản lí xã
hội khác Chẳng hạn: i) Tính chất quản lí nhà nớc đợc thể hiện rõ nét trong
quản lí giáo dục ngay cả với quản lí tác nghiệp tại trờng học và các cơ sở giáo
dục ; ii) Đối tợng chủ yếu của quản lí là con ngời, nhng quản lí con ngời trong
quản lí giáo dục còn có ý nghĩa là sự huấn luyện, giáo dục con ng ời, tạo dựngcho họ có khả năng thích ứng đợc với các vai trò xã hội mà họ đã và sẽ đảmnhận
- Khi xem xét quản lí giáo dục với t cách là hệ thống, có thể nhận thấy :
+ Khách thể của quản lí giáo dục tổng thể là hệ thống giáo dục quốc gia.+ Đối tợng của quản lí giáo dục tổng thể là tất cả những thành tố của hệthống giáo dục nh nhân sự, chơng trình giáo dục, hoạt động giáo dục, ngời học,nguồn lực giáo dục và học liệu, môi trờng giáo dục và cơ sở giáo dục, các quan
Định nghĩa khái quát nh trên cho phép xác định những thành tố cơ bản của hệthống quản lí giáo dục, tuy nhiên với tính đa dạng của giáo dục, cần thiết phải có sựkhu biệt phạm vi phản ánh của khái niệm này
Hệ thống giáo dục cũng có đặc trng nh các hệ thống khác, đó là tính
chất "chồng chéo về cơ cấu" Theo đó, cơ cấu của hệ thống giáo dục có thể
đợc xem xét theo phơng diện quản lí, theo trình độ học vấn và bằng cả sựtích hợp của hai phơng diện trên Với mỗi phơng diện, ngời ta đều xác định
đợc những phân hệ của hệ thống giáo dục và những phân hệ này đ ơng nhiêncũng phải đợc quản lí Tình hình này dẫn đến những khó khăn khi đ a ra một
định nghĩa chung nhất về khái niệm quản lí giáo dục
Trang 29Giải pháp cho vấn đề trên là khu biệt khái niệm quản lí giáo dục theo phạm viphản ánh của khái niệm giáo dục Khái niệm giáo dục theo nghĩa rộng chỉ giáo dụcxã hội với hệ thống giáo dục đợc phân bổ rộng khắp trong phạm vi lãnh thổ theo
những cấp bậc học cụ thể Khái niệm "quản lí giáo dục" với khái niệm giáo dục hiểu
theo nghĩa này là quản lí giáo dục vĩ mô Theo nghĩa hẹp, giáo dục đợc giới hạntrong phạm vi trờng học và các cơ sở giáo dục khác với t cách là phần tử của hệ
thống giáo dục Khái niệm "quản lí giáo dục" với khái niệm giáo dục hiểu theo
nghĩa hẹp là quản lí giáo dục vi mô
Nh vậy, khi đề cập đến quản lí giáo dục ở cấp độ vĩ mô là đề cập đến việcquản lí toàn bộ hệ thống giáo dục trên các mặt quy mô, cơ cấu và chất l ợng Đó làquản lí Nhà nớc về giáo dục Còn khi đề cập đến quản lí giáo dục ở cấp độ vi mô, là
đề cập đến quản lí tác nghiệp tại các cơ sở giáo dục mà trờng học là hạt nhân Trọngtâm của quản lí giáo dục ở cấp độ vĩ mô là quản lí trờng học và tất cả các hoạt
động, các quan hệ trên dới, các hoạt động có liên quan đến nhà trờng
Quản lí tác nghiệp tại trờng học là quản lí giáo dục ở cơ sở với trọng tâm làquản lí các hoạt động dạy học và giáo dục
Có thể mô tả các cấp độ của quản lý giáo dục làm cơ sở để xây dựng kháiniệm quản lí giáo dục tơng ứng với các cấp độ quản lý nh sơ đồ sau :
Quản
lí giáo
dục
quản lí giáo dục vĩ mô Quản lí nhà n ớc về giáo dục
Quản lí giáo dục vi mô Quản
lí tác nghiệp tại
tr ờng học/
cơ sở giáo dục
Hệ thống giáo dục với các phân hệ
từ giáo dục mầm non
đến giáo dục
đại học
Quản lí của lãnh đạo nhà
tr ờng/cơ sở giáo dục
Quản lí của các tổ chuyên môn
ớc từ trung ơng đến
địa ph ơng
Tr ờng học/
cơ sở giáo dục
Hoạt
động dạy học và giáo dục
Trang 30Sơ đồ 1.2: Sơ đồ mô tả các cấp độ của quản lí giáo dục Quản lý giỏo dục hướng nghiệp
Quản lý giỏo dục hướng nghiệp là quỏ trỡnh tiến hành những hoạt động khai thỏc,lựa chọn, tổ chức và thực hiện cỏc nguồn lực, cỏc tỏc động của chủ thể quản lý theo kếhoạch chủ động và phự hợp với quy luật khỏch quan để gõy ảnh hưởng đến cỏc thành tốcủa giỏo dục hướng nghiệp nhằm tạo ra sự thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết của giỏodục hướng nghiệp trong mụi trường kinh tế -xó hội luụn biến động
Quản lý giỏo dục hướng nghiệp bao gồm: Quản lớ kế hoạch, quản lớ nội dung chương trỡnh GDHN, quản lớ phương phỏp và cỏc hỡnh thức tổ chức hoạt động GDHN, quản lớ đội ngũ, quản lớ cỏc điều kiện phục vụ hoạt động GDHN, quản lớ hoạt động hướng nghiệp của HS
1.2.3 Tạo nguồn nhõn lực
Nhõn lực
Theo tỏc giả Nguyễn Ngọc Bảo, Bựi Văn Quõn trong cuốn “ Hỏi đỏp về giỏo dục học” [69], cú nhiều cỏch biểu đạt khỏc nhau về khỏi niệm nhõn lực: “Nhõn lực là sức người được sử dụng trong lao động” (Nguyễn Ngọc Bảo); “Nhõn lực: sức người, về mặt dựng trong lao động sản xuất” (Từ điển Tiếng Việt của Viện ngụn ngữ - Viện KHXH Việt Nam); “ Nhõn lực xó hội là toàn bộ cụng nhõn, viờn chức, những người lao động đang làm việc trong tất cả cỏc ngành, cỏc lĩnh vực kinh tế, văn hoỏ, xó hội đảm bảo xó hội vận động và phỏt triển” [106]; “Nhõn lực chỉ người lao động kỹ thuật được đào tạo trong nguồn nhõn lực ở một trỡnh độ nào
đú để cú năng lực tham gia vào lao động xó hội Năng lực của người lao động kỹ thuật được cấu thành bởi cỏc yếu tố: kiến thức, kỹ năng, thỏi độ và thúi quen làm việc” (Đặng Quốc Bảo – Nguyễn Đắc Hưng) [7].
Cỏch biểu đạt thứ tư về nhõn lực là cỏch hiểu phổ biến về nhõn lực hiện nay.Cỏch hiều này cho phộp xỏc định cơ cấu nhõn lực của cộng đồng và của quốc giamột cỏch cụ thể và thuận lợi cho việc xỏc định cỏc mục tiờu đào tạo nhõn lực Cơ
Trang 31cấu nhân lực thường được hình thành và phát triển theo dạng hình tháp các trình độtương ứng với các cấp trình độ được đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Nguồn nhân lực (Human resource)
+ Nguồn nhân lực theo nghĩa rộng:
Theo định nghĩa của Liên hiệp quốc: “ Nguồn nhân lực là tổng thể sức dự trữ,những tiềm năng, những lực lượng thể hiện sức mạnh và tác động của con người trongviệc cải tạo tự nhiên và cải tạo xã hội” (dẫn theo “ Chiến lược phát triển giáo dục trong thế
kỷ XXI, kinh nghiệm các quốc gia” của viện nghiên cứu giáo dục, Brittish Coucil, 2002)
Nguồn lực có nghĩa là một tiềm năng, một tài sản của đất nước, có thể khai thác Nguồn nhân lực hiểu theo nghĩa rộng được hiểu như nguồn lực về con người(Human Resuorces - HR) của đất nước, là một bộ phận của các nguồn lực cần đượchuy động, quản lý để thực hiện những mục tiêu đã định, giống như các nguồn lựcvật chất (Physical Resources - PR), nguồn lực tài chính (Financial Resources –FR) Trong các thành phần của nguồn lực nhằm phát triển đất nước như tàinguyên thiên nhiên, tiền vốn, nhân lực thì một nguồn nhân lực được chuẩn bị tốtcàng ngày càng thể hiện rõ vai trò quyết định
Trong cạnh tranh kinh tế, chất lượng nguồn nhân lực có ý nghĩa cực kỳ quantrọng không chỉ ở hiệu quả của sản xuất kinh doanh mà còn ở vị thế xã hội của mỗi
cá nhân người lao động và của đất nước
+ Nguồn nhân lực hiểu theo nghĩa hẹp:
Theo Tổ chức lao động quốc tế, “ nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn
bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động Đó là khả năng laođộng của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế, xã hội, bao gồm các nhómdân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động sản xuất xã hội,tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể cácyếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động” (dẫn theo “
Trang 32Phát triển nguồn nhân lực, kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta” của Trần VănTùng, 1996) [96].
Nguồn nhân lực hiểu theo nghĩa hẹp và để có thể lượng hoá được trong côngtác kế hoạch hoá ở nước ta được quy định là một bộ phận của dân số, bao gồmnhững người trong độ tuổi lao động theo quy định của Bộ luật lao động nước Cộnghoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (nam đủ 15 tuổi đến hết 60 tuổi, nữ đủ 15 tuổi đếnhết 55 tuổi), có khả năng lao động Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam “Nguồnnhân lực gồm những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người trong độtuổi lao động, có khả năng lao động nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làmnội trợ gia đình, không có nhu cầu làm việc, những người thuộc các tình trạng khácnhư nghỉ hưu trước tuổi” Đây là lực lượng lao động tiềm tàng có thể trực tiếp đivào các hoạt động của nền kinh tế - xã hội
Trong các tài liệu hiện nay, khái niệm nguồn nhân lực được sử dụng để chỉnhững người đang và sẽ bổ sung vào lực lượng lao động xã hội đa dạng và phongphú, bao gồm các thế hệ trẻ đang được nuôi dưỡng, học tập ở các cơ sở giáo dụcPhổ thông, giáo dục nghề nghiệp và Cao đẳng, Đại học
Trình độ trí tuệ, trí thức cao, “chất xám” của con người là nguồn vốn lớnnhất, có giá trị nhất, là nhân tố quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia Do đó,
“Con người vừa là một cá thể, vừa là một tập thể Xét về mặt cá thể, con người vừa
là một sinh thể vừa là một nhân cách Kết hợp tất cả các mặt cá nhân và tập thể, sinhthể và nhân cách, con người có một năng lực tiềm ẩn to lớn, khi được sử dụng, khaithác một cách đúng đắn thì tiềm năng đó được phát huy và con người trở thànhđộng lực cho sự phát triển kinh tế – xã hội Do vậy con người được gọi là “nguồnnhân lực”, là vốn quý nhất của đất nước.”
Khi nói đến nguồn nhân lực, người ta bàn đến trình độ, cơ cấu, sự đáp ứngvới yêu cầu của thị trường lao động Chất lượng nguồn nhân lực phản ánh trongtrình độ kiến thức, kỹ năng và thái độ của người lao động Sự phân loại nguồn nhânlực theo ngành nghề, lĩnh vực hoạt động (công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ) đang
Trang 33rất phổ biến ở nước ta hiện nay, nhưng khi chuyển sang nền kinh tế tri thức phânloại lao động theo tiếp cận công việc nghề nghiệp của người lao động sẽ phù hợphơn Lực lượng lao động được chia ra lao động thông tin và lao động phi thông tin.Lao động thông tin lại được chia ra 2 loại: lao động tri thức và lao động dữ liệu Laođộng dữ liệu (thư ký, kỹ thuật viên ) làm việc chủ yếu với thông tin đã được mãhoá, trong khi đó lao động tri thức phải đương đầu với việc sản sinh ra ý tưởng haychuẩn bị cho việc mã hoá thông tin Lao động quản lý nằm giữa hai loại hình này.Lao động phi thông tin được chia ra lao động sản xuất hàng hoá và lao động cungcấp dịch vụ Lao động phi thông tin dễ dàng được mã hoá và thay thế bằng kỹ thuật,công nghệ Như vậy, có thể phân loại lực lượng lao động ra 5 loại: lao động tri thức,lao động quản lý, lao động dữ liệu, lao động cung cấp dịch vụ và lao động sản xuấthàng hoá Mỗi loại lao động này có những đóng góp khác nhau vào việc tạo ra sảnphẩm Ở nước ta, tỷ lệ lao động phi thông tin còn rất cao trong cơ cấu lực lượng laođộng, do đó hàng hoá có tỷ lệ trí tuệ thấp Muốn tăng khả năng cạnh tranh trên thịtrường quốc tế, cần tăng nhanh tỷ lệ trí tuệ trong hàng hoá trong thời gian tới.
Như vậy, nói đến nguồn nhân lực là mới chỉ nói đến tiềm năng chưa đủ; màphải còn khi tiến hành đào tạo, sử dụng, phát huy, phát triển nguồn nhân lực mới trởthành động lực trực tiếp tác động đến phát triển kinh tế-xã hội
Tạo nguồn nhân lực
Trong khái niệm tạo nguồn nhân lực, thuật ngữ nguồn nhân lực được hiểutheo nghĩa hẹp Khái niệm nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp được lựa chọn đểxây dựng khái niệm tạo nguồn nhân lực là khái niệm được sử dụng để chỉnhững người đang và sẽ bổ sung vào lực lượng lao động xã hội đa dạng vàphong phú, bao gồm các thế hệ trẻ đang được nuôi dưỡng, học tập ở các cơ sởgiáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và cao đẳng, đại học
Theo cách hiểu trên, nguồn nhân lực bao gồm 2 bộ phận cấu thành Thứ nhất,những người đang tham gia vào các hoạt động của nền kinh tế - xã hội Thứ hai,những người có khả năng trực tiếp đi vào các hoạt động của nền kinh tế - xã hội,
Trang 34thay thế, bổ sung vào bộ phận thứ nhất Cả hai bộ phận này đều thay đổi Sự thayđổi đó có thể là tiến hóa tự nhiên nhưng cũng có thể là được thay đổi một cách cóchủ định Quá trình chủ động tạo ra sự thay đổi nguồn nhân lực được gọi là tạonguồn nhân lực.
Như vậy, tạo nguồn nhân lực là một quá trình chủ động tạo ra sự thay đổi củanguồn nhân lực nhằm đáp ứng đòi hỏi về nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hộitrong từng giai đoạn phát triển
Tạo nguồn nhân lực là một quá trình lâu dài bao gồm tổng thể các hình thức,phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao chất lượng cácsức lao động xã hội nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh
tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển
Tạo nguồn nhân lực bao hàm việc tạo ra những thay đổi về cả số lượng vàchất lượng nguồn nhân lực, trong đó, vấn đề chất lượng nguồn nhân lực có ý nghĩaquan trọng Do vậy, tạo nguồn nhân lực về cơ bản là làm gia tăng giá trị của conngười về mặt trí tuệ, đạo đức, thể lực và thẩm mĩ; làm cho con người trở thànhnhững lao động có năng lực và phẩm chất mới cao hơn Cũng chính vì thế, khi nóiđến tạo nguồn nhân lực là nhấn mạnh thêm một mặt cụ thể của con người liênquan đến việc hình thành những phẩm chất của nhân lực Ở đây con ngườiđược xem như một nguồn lực Cho nên, phát triển người không đồng nhất vớitạo nguồn nhân lực, mặc dù rằng phát triển người và tạo nguồn nhân lực cóquan hệ chặt chẽ với nhau Tạo nguồn nhân lực là tăng giá trị sử dụng conngười trong quá trình phát triển người đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xãhội Có con người được phát triển đầy đủ các giá trị cần thiết thì mới cónguồn nhân lực với chất lượng cao theo yêu cầu của xã hội Tạo nguồn nhânlực của một quốc gia (một vùng lãnh thổ) là sự biến đổi số lượng và chấtlượng về mặt thể lực, trí lực, kỹ năng (Skill), kiến thức (Knowledge) và tinhthần của từng con người (Human) lao động và cơ cấu hợp lý cần thiết cho côngviệc Đầu tư để tạo nguồn nhân lực không chỉ cần thiết mà còn là điều kiện đủ để
Trang 35phát triển kinh tế - xã hội, vì tạo động lực để người lao động làm việc có hiệuquả cũng quan trọng như đảm bảo cho họ được giáo dục và đào tạo Quan điểmnày dựa trên cơ sở nhận thức rằng, con người có nhu cầu sử dụng năng lực củamình để tiến tới có được việc làm hiệu quả cũng như thoả mãn về nghề nghiệp và
cuộc sống cá nhân Sự lành nghề được hoàn thiện nhờ bổ sung nâng cao kiến
thức trong quá trình sống và làm việc nhằm phát triển về mặt cá nhân và xã hội
là cần thiết để lồng ghép nguyện vọng cá nhân vào khuôn khổ xã hội hay quốcgia một cách đồng bộ
Qua các định nghĩa nêu trên, có thể thấy rằng tạo nguồn nhân lực là quá trìnhnâng cao năng lực của con người về mọi mặt để tham gia một cách hiệu quả vàoquá trình phát triển quốc gia Phát triển nguồn nhân lực chính là quá trình tạo lập và
sử dụng năng lực của con người vì sự tiến bộ kinh tế - xã hội Tạo nguồn nhân lực
là động lực thúc đẩy sự tăng trưởng trong thế giới kỹ thuật cao ngày nay Khác với
đầu tư cho nguồn vốn phi con người, đầu tư cho con người tức là sẽ tác động đến
đời sống của các cá nhân, gia đình, cộng đồng của họ và đến toàn xã hội nói chung
Trong khuôn khổ của luận án, đối tượng tập trung nghiên cứu trong tạonguồn nhân lực chính là học sinh THPT – thế hệ thay thế cho những lao động hiệnđang tham gia các hoạt động của nền kinh tế - xã hội hiện nay
1.3 Mối quan hệ giữa giáo dục hướng nghiệp THPT với yêu cầu tạo nguồn nhân lực
1.3.1 Các yếu tố cấu thành nguồn nhân lực và các yếu tố ảnh hưởng đến tạo nguồn nhân lực
1.3.1.1 Các yếu tố cấu thành nguồn nhân lực
Dân số là yếu tố quy định nguồn nhân lực của một khu vực cũng như củaquốc gia Theo đó, các yếu tố như quy mô, cơ cấu và chất lượng dân số là nhữngyếu tố cấu thành nguồn nhân lực Số lượng và chất lượng nguồn nhân lực chịu ảnhhưởng của quy mô, cơ cấu và chất lượng dân số
Trang 36Quốc gia nào có quy mô dân số lớn thì có quy mô nguồn nhân lực lớn và ngượclại Mặt khác, cơ cấu tuổi của dân số có ảnh hưởng quyết định đến quy mô và cơ cấunguồn lao động Điều cần chú ý là, mặc dù dân số là cơ cấu hình thành các nguồn laođộng, nhưng mối quan hệ giữa dân số và các nguồn lao động không phụ thuộc trực tiếpvào nhau trong cùng một thời gian Việc tăng và giảm mức độ gia tăng dân số của thời
kỳ này sẽ làm tăng hoặc giảm nguồn lao động của thời kỳ sau đó từ 15 đến 16 năm.Mặt khác, quy mô nguồn nhân lực có tác động trở lại đối với quy mô dân số Một quốcgia có quy mô nguồn nhân lực lớn cũng có nghĩa là quy mô của những người có khảnăng sinh sản lớn, do đó làm cho quy mô dân số có thể tăng nhanh
Chất lượng dân số có thể được đánh giá thông qua chỉ tiêu tổng hợp “chỉ số pháttriển người” HDI (Human Development Index) với 3 chỉ tiêu cụ thể là: thu nhậpquốc dân bình quân đầu người, trình độ dân trí (với 2 tiêu thức: tỷ lệ người biết chữ
và tỷ lệ số năm học trung bình của người dân) và tuổi thọ trung bình Chất lượngdân số càng cao, càng tạo điều kiện để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn nhân lực được đánh giá qua một số tiêu chí cơ bản như:Sức khỏe: thể lực và trí lực; Trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, trình độ lànhnghề; Các năng lực, phẩm chất cá nhân (ý thức kỷ luật, tính hợp tác, ý thức tráchnhiệm, sự chuyên tâm ) Do đó, chất lượng nguồn nhân lực có tác động trở lại đốivới chất lượng dân số Nguồn nhân lực có thể lực, trí lực tốt là tiền đề để tạo ranhững thế hệ tiếp nối khỏe mạnh, thông minh, những chủ nhân và là nguồn nhân lựctương lai của đất nước
1.3.1.2 Các yếu tố ảnh hướng tới tạo nguồn nhân lực
Tạo nguồn nhân lực chịu sự tác động của nhiều yếu tố, trong đó yếu tố giáodục (trong đó có giáo dục hướng nghiệp) giữ vai trò then chốt
Yếu tố kinh tế xã hội
Sự phát triển kinh tế xã hội (trước hết là những định hướng về phát triển kinh
tế xã hội) là một yếu tố tác động đến phát triển nguồn nhân lực Dưới tác động củacác định hướng phát triển kinh tế xã hội, chẳng hạn chính sách đổi mới kinh tế trên
Trang 37tầm vĩ mô, chuyển từ kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa với chính sách kinh tế nhiều thành phần đã làm thay đổi cơ cấu kinh tế đãdẫn đến những thay đổi về số lượng, đặc biệt là cơ cấu lao động theo ngành, theolĩnh vực và theo vùng không chỉ là những biến đổi về số lượng mà còn là nhữngbiến đổi về chất lượng của lao động Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước và trong điều kiện phát triển kinh tế xã hội hiện nay, định hướng chiếnlược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2000-2010 đã xác định rõ: “ Nguồn nhân lựcchất lượng cao là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa, là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tếnhanh và bền vững” Để đạt được mục tiêu đó thì người lao động phải có trí tuệ cao,
có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo bồi dưỡng và phát triểnbởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học, công nghệ hiện đại
Yếu tố thị trường lao động
Các yếu tố của thị trường lao động như dân số, tiền lương, tuyển dụng, nhucầu thị trường, chính sách cho người lao động là các yếu tố chủ yếu tác động tớitạo nguồn nhân lực Ví dụ, yếu tố tiền lương có thể kìm hãm, triệt tiêu hoặc nhânlên gấp nhiều lần những yếu tố tốt của chất lượng nguồn nhân lực Người lao độngnếu được trả công theo chất lượng và hiệu quả lao động sẽ khuyến khích họ học tập,rèn luyện để nâng cao kỹ năng, kiến thức
Yếu tố giáo dục và đạo tạo
Phát triển nguồn nhân lực gắn liền với giáo dục và đào tạo Với quan niệmđầu tư phát triển nguồn nhân lực là quan trọng hơn các loại đầu tư khác, các quốcgia trên thế giới đều có sự thay đổi trong chiến lược phát triển của mình theo hướngchú trọng nhiều hơn đến giáo dục đào tạo Giáo dục đào tạo tạo ra nguồn lực quyếtđịnh cho sự phát triển của đất nước trong tương lai
Với sự phát triển của khoa học và công nghệ, một người lao động có kỹ thuậtphải có trình độ văn hóa nhất định để có khả năng tiếp thu kỹ năng nghề nghiệp vàlao động sáng tạo Do vậy, giáo dục Phổ thông được coi là cơ sở quan trọng banđầu, là điều kiện tiên quyết để tạo nguồn nhân lực
Trang 381.3.2 Tác động của giáo dục hướng nghiệp đối với tạo nguồn nhân lực
Giáo dục hướng nghiệp nói chung, đặc biệt là giáo dục hướng nghiệpTrunghọc phổ thông là bước khởi đầu quan trọng để tạo nguồn nhân lực, bởi vì:
- Trong trường THPT, thực chất công tác giáo dục hướng nghiệp cho họcsinh là quá trình giáo dục nhằm điều chỉnh động cơ, hứng thú nghề nghiệp của các
em, nhằm giải quyết mối quan hệ giữa cá nhân với xã hội, giữa cá nhân với nghề,giáo dục sự lựa chọn nghề một cách có ý thức, nhằm đảm bảo cho con người hạnhphúc trong lao động nghề nghiệp và tạo được năng suất lao động cao
- Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT là hệ thống biện pháp giáodục của gia đình, nhà trường và xã hội Trong đó, nhà trường đóng vai trò chủ đạonhằm hướng dẫn và chuẩn bị cho thế hệ trẻ về tư tưởng, tâm lí, ý thức, kĩ năng để
họ có thể đi vào lao động ở các ngành, nghề tại những nơi xã hội đang cần pháttriển, đồng thời lại phù hợp với hứng thú, năng lực cá nhân Với cách hiểu nhưvậy, hướng nghiệp có thể đảm bảo lợi ích tối đa của cá nhân và xã hội; khai thác
và sử dụng triệt để khả năng, tiềm năng và ưu thế của cá nhân trong việc hànhnghề suốt cuộc đời và đảm bảo sự khai thác hợp lí nguồn nhân lực trong sự pháttriển kinh tế của xã hội
- Trong thực tế, giáo dục hướng nghiệp không chỉ tác động vào nhận thức
cá nhân đối với nghề định chọn mà còn làm cho cá nhân đó hiểu được giá trị củanghề, hình thành hứng thú, say mê nghề và tâm nguyện cống hiến cuộc đời củamình cho nghề đã chọn
- Công tác giáo dục hướng nghiệp là một bộ phận của công tác giáo dụcXHCN, góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo ở trườngTrung học phổ thông Mộtmặt, hướng nghiệp giúp điều chỉnh động cơ chọn nghề nghiệp của học sinh, điềuchỉnh hứng thú nghề nghiệp của học sinh theo xu thế phân công lao động xã hội;mặt khác, hướng nghiệp hướng vào việc sử dụng hợp lí tiềm năng lao động trẻ tuổicủa đất nước; nâng cao năng suất lao động của xã hội Đưa thanh thiếu niên vàođúng vị trí lao động nghề nghiệp, giúp họ phát huy hết năng lực, sở trường laođộng, nâng cao hứng thú nghề nghiệp, phát triển khả năng sáng tạo trong lao động
Từ đó, giúp học sinh xác định nghề nghiệp không phải là nơi kiếm sống, mà là nơi
Trang 39thể hiện nhân cách, phát triển tài năng, cống hiến sức lực và trí tuệ cho công cuộcxây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Thực tiễn cho thấy, sự phát triển kinh tế của xã hội phụ thuộc rất nhiều vàoviệc chuẩn bị cho thế hệ trẻ vào lao động sản xuất, đi vào sự phân công trong phạm
vi cả nước và từng địa phương Giáo dục hướng nghiệp là một trong những yếu tốlàm đồng bộ hoá đội ngũ lao động nghề nghiệp, phân bố lại lực lượng lao động xãhội, chuyên môn hoá tiềm năng lao động trẻ tuổi
- Công tác giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường còn có ý nghĩa chính trị to lớn.Bởi lẽ, hướng nghiệp có tác dụng góp phần làm cụ thể hoá mục tiêu đào tạo, có ý nghĩa là,công tác giáo dục hướng nghiệp có chức năng thể hiện đường lối giáo dục của Đảng vàNhà Nước, thực hiện hoá đường lối giáo dục trong đời sống của xã hội
- Ngày nay, cuộc chạy đua trong sản xuất đang diễn ra với tốc độ cao Trongcuộc chạy đua này, những nước bị tụt hậu phần lớn là do không làm tốt công tácđào tạo người lao động nói chung, đội ngũ thợ lành nghề và những cán bộ khoa học,
kĩ thuật có trình độ cao nói riêng; hay nói cách khác, là những nước chưa làm tốtcông tác giáo dục Giáo dục hướng nghiệp phải được coi là điều kiện đảm bảo chấtlượng và hiệu quả giáo dục Công tác này sẽ tạo ra những yếu tố mới trong conngười lao động – yếu tố cơ bản của việc tăng năng suất lao động xã hội Làm tốtcông tác giáo dục hướng nghiệp và quản lý giáo dục hướng nghiệp, sẽ tạo cho xã hộinhững lớp người có đủ năng lực và phẩm chất cách mạng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốcXHCN Như vậy công tác hướng nghiệp có ý nghĩa trực tiếp với việc triển khai chiến lượccon người – một bộ phận của chiến lược kinh tế, khoa học và công nghệ
Tóm lại, giáo dục hướng nghiệp THPT là phát hiện và bồi dưỡng phẩm chấtnhân cách nghề nghiệp cho học sinh, giúp các em biết được khả năng của mình,hiểu được yêu cầu của nghề Thông qua hoạt động giáo dục hướng nghiệp giúp họcsinh điều chỉnh động cơ chọn nghề Trên cơ sở đó các em định hướng đi vào lĩnhvực sản xuất một cách tự nguyện bằng những tâm huyết của mình góp phần quantrọng tạo ra chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH,HĐH.Mặt khác, nó có tác dụng điều chỉnh sự phân công lao động xã hội, tạo ra sự cânbằng trong việc phân bố lực lượng dân cư, góp phần tạo điều kiện cho xã hội sử
Trang 40dụng hết lực lượng học sinh THPT tốt nghiệp ra trường để phát triển nguồn nhânlực một cách toàn diện.
1.4 Quản lý giáo dục hướng nghiệp THPT theo định hướng tạo nguồn nhân lực
1 4.1 Quản lý mục tiêu giáo dục hướng nghiệp theo yêu cầu tạo nguồn nhân lực
Tùy thuộc vào mỗi địa phương cụ thể, mục tiêu GDHN cho HS THPT có thểkhác nhau nhưng việc xác định mục tiêu phải đảm bảo các yêu cầu sau :
+ Mục tiêu GDHN cho HS THPT được đề xuất căn cứ vào các mục tiêu giáo dụcnói chung, gắn với quan điểm về đổi mới GDPT và bốn trụ cột của GD thế kỷ XXI (học
để biết, học để làm việc, học để làm người và học để chung sống cùng nhau), trong đó, cóthể xem GDHN là hoạt động chủ đạo, trực tiếp và gián tiếp giúp cho HS thực hiện mụctiêu “học để làm việc” (learning to do) Các hoạt động GDHN phải hướng tới việc thựchiện các mục tiêu “Nâng cao dân trí” và “Đào tạo nhân lực”; phải đạt được các yêu cầu về
“Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, nộidung, phương pháp dạy và học; thực hiện “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa”; từngbước hướng tới mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốtđời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học với những chương trình vàhình thức học tập, thực hành linh hoạt, đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên; tạo nhiềukhả năng, cơ hội khác nhau cho người học, bảo đảm sự công bằng xã hội trong giáo dục.[40]
+ Mục tiêu GDHN cho HS THPT phải bám sát quan điểm của Đảng đã được cụthể hóa trong chỉ đạo về đổi mới mục tiêu chương trình THPT, đó là: nhằm giúp HS củng
cố và phát triển những kết quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn Phổ thông; giúphọc viên làm tốt hơn những công việc đang làm hoặc có thể tiếp tục học nghề, trung cấp,Cao đẳng, Đại học Cần phải giúp người học phát triển những năng lực cần thiết của ngườilao động trước yêu cầu phát triển mới của đất nước, của thời đại đó là: năng lực hành động
có hiệu quả, vận dụng kiến thức được học để giải quyết những vấn đề nảy sinh trong cuộcsống và trong sản xuất; năng lực thích ứng với những thay đổi trong xã hội; năng lực giaotiếp, ứng xử và lòng nhân ái và năng lực tự khẳng định của bản thân
+ Mục tiêu GDHN cho HS THPT phải hướng tới việc tìm ra miền chọn nghề tối ưucho mỗi cá nhân HS GDHN cho HS THPT, một mặt, phải trang bị cho các em nhữngkiến thức Phổ thông cơ bản, những kỹ năng nghề nghiệp ban đầu, những phẩm chất đạo
bản thân
Điều kiện của bản thân và gia đình
Năng lực, sở trường
CHỌN NGHỀ PHÙ HỢP
bản thân
Điều kiện của bản thân và gia đình
Năng lực, sở trường
CHỌN NGHỀ PHÙ HỢP
Tạo điều kiện theo đuổi nghề Nguyện vọng của
bản thân
Điều kiện của bản thân và gia đình
Năng lực, sở trường
CHỌN NGHỀ PHÙ HỢP