1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nguồn gốc hình thành và đặc điểm cấu trúc ngữ nghĩa của thành ngữ thuần việt

172 3,3K 36

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nguồn gốc hình thành và đặc điểm cấu trúc – ngữ nghĩa của thành ngữ thuần việt
Tác giả Đỗ Thị Thu Hương
Người hướng dẫn GS.TS Nguyễn Đức Tồn
Trường học Học Viện Khoa Học Xã Hội
Chuyên ngành Lí luận ngôn ngữ
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 172
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC GS.TS NGUYỄN ĐỨC TỒN

HÀ NỘI – 2013LỜI CAM ĐOAN

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.

Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, minh bạch và chưa được aicông bố trong bất cứ công trình nào khác

Hà Nội, ngày 15 tháng 05 năm 2013

Trang 4

2.2 Giai đoạn sau 1945 3

2.2.1 Vấn đề 1: Về khái niệm thành ngữ 3

2.2.2 Vấn đề 2: Đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của thành ngữ 3

2.2.3 Vấn đề 3: Ranh giới giữa thành ngữ và các đơn vị lân cận 5

2.2.4 Vấn đề 4: Biến thể của thành ngữ 9

2.2.5 Vấn đề 5: Nguồn gốc của thành ngữ 11

2.2.6 Vấn đề 6: Mối quan hệ giữa thành ngữ và văn hoá 14

3 Phương pháp nghiên cứu 15

4 Đối tượng, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 16

4.1 Đối tượng nghiên cứu 16

4.2 Mục đích nghiên cứu 17

4.3 Nhiệm vụ nghiên cứu 17

5 Ý nghĩa của luận án

5.1 Ý nghĩa khoa học

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

6 Bố cục của luận án

17 17 17 18 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT 1.1 Một số vấn đề lí thuyết về thành ngữ 19

1.1.1 Khái niệm thành ngữ 19

1.1.2 Đặc điểm của thành ngữ 19

1.1.2.1 Đặc điểm kết cấu 19

1.1.2.2 Đặc điểm ngữ nghĩa 20

1.1.3 Cấu tạo và phân loại thành ngữ 21

1.1.3.1 Đặc điểm cấu tạo 21

1.1.3.2 Phân loại thành ngữ 21

1.2 Khái niệm thành ngữ thuần Việt 22

Trang 5

1.2.1 Khái niệm từ thuần Việt 22

1.2.1.1 Dẫn nhập 22

1.2.1.2 Các nguồn vay mượn 23

1.2.1.3 Khái niệm từ thuần Việt 26

1.2.1.4 Tiêu chí nhận diện 29

1.2.2 Khái niệm thành ngữ thuần Việt 32

1.3 Tiểu kết chương 1 40

CHƯƠNG 2: NGUỒN GỐC THÀNH NGỮ THUẦN VIỆT 2.1 Những cơ sở cho sự hình thành và ra đời của thành ngữ 41

2.2 Nguồn gốc ra đời của thành ngữ thuần Việt 44

2.2.1 Thành ngữ ra đời từ đời sống toàn dân 44

2.2.1.1 Thành ngữ phản ánh đời sống sinh hoạt hàng ngày của người Việt 44

2.2.1.2 Thành ngữ phản ánh đặc tính sinh học của các loài động thực vật 51

2.2.2 Thành ngữ có xuất xứ từ địa phương 53

2.2.3 Thành ngữ phản ánh đặc điểm, quá trình sản xuất của các ngành nghề thủ công

54 2.2.4 Thành ngữ có nguồn gốc từ sách vở 56

2.3 Một số thành ngữ thuần Việt có nhiều cách giải thích nguồn gốc 58

2.3.1 Dẫn nhập . 58

2.3.2 Những thành ngữ có nhiều cách giải thích do dựa vào những hiện tượng văn hóa khác nhau

58 2.3.2.1 Thành ngữ chạy như cờ lông công 58

2.3.2.2 Thành ngữ nuôi ong tay áo 61

2.3.2.3 Thành ngữ bắt cá hai tay 62

2.3.2.4 Thành ngữ vắng như chùa Bà Đanh 63

2.3.2.5 Thành ngữ công tử bột 64

Trang 6

2.5.2.6 Thành ngữ đèo heo hút gió 67

2.5.2.7 Thành ngữ vụng chèo khéo chống 71

2.5.2.8 Thành ngữ già kén kẹn hom 73

2.3.3 Thành ngữ có nhiều cách giải thích nguồn gốc do có hiện tượng biến thể của thành tố cấu tạo

74 2.3.3.1 Thành ngữ mũi dại lái phải chịu đòn/mũi vạy lái phải chịu đòn 75

2.3.3.2 Thành ngữ áo cứ tràng làng cứ xã / áo cứ chàng làng cứ xã 76

2.3.3.3 Thành ngữ khôn sống mống chết / khôn sống bống chết 78

2.3.4 Thành ngữ được giải thích có xuất xứ cả từ trong tiếng Việt cả trong tiếngHán

79 2.4 Một số nguyên nhân khiến một thành ngữ có nhiều cách giải thích nguồn gốc khác nhau

81 2.5 Tiểu kết chương 2 84

CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC - NGỮ NGHĨA CỦA THÀNH NGỮ THUẦN VIỆT 3.1 Đặc điểm cấu trúc 86

3.1.1 Dẫn nhập 86

3.1.2 Hiện tượng biến thể của các thành ngữ thuần Việt 86

3.1.2.1 Sơ lược về hiện tượng biến thể của thành ngữ 86

3.1.2.2 Hiện tượng biến thể của các thành ngữ thuần Việt 89

3.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ thuần Việt 97

3.2.1 Hiện tượng đồng nghĩa thành ngữ 97

3.2.1.1 Sơ lược tình hình nghiên cứu hiện tượng đồng nghĩa 97

3.2.1.2 Cơ sở xác định 100

3.2.1.3 Tiêu chí xác định các đơn vị thành ngữ đồng nghĩa 102 3.2.1.4 Định nghĩa thành ngữ đồng nghĩa 107

3.2.1.5 Các quan hệ đồng nghĩa trong thành ngữ 107

Trang 7

3.2.1.6 Các tiêu chí phân biệt hiện tượng đồng nghĩa và biến thể của

thành ngữ thuần Việt

110 3.2.2 Hiện tượng trái nghĩa của thành ngữ thuần Việt 114

3.2.2.1 Sơ lược về hiện tượng trái nghĩa 114

3.2.2.2 Hiện tượng trái nghĩa thành ngữ 117

3.3 Thành tố văn hóa - lịch sử trong ý nghĩa và cấu trúc của các thành ngữ thuần Việt

119 3.3.1 Sơ lược về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa 119

3.3.2 Đặc trưng văn hóa - dân tộc của ý nghĩa biểu trưng 121

3.3.2.1 Khái niệm biểu trưng 121

3.3.2.2 Ý nghĩa biểu trưng trong thành ngữ thuần Việt 122

3.3.3 Đặc trưng văn hóa - dân tộc trong cấu trúc của thành ngữ Việt 141

3.3.3.1 Các đặc trưng cơ bản của nghệ thuật ngôn từ Việt Nam 141

3.3.3.2 Đặc trưng văn hóa - dân tộc trong cấu trúc của thành ngữ 142

3.4 Tiểu kết chương 3 146

Trang 8

MỤC LỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 So sánh thành ngữ thuần Việt và thành ngữ Hán - Việt 39

Bảng 2.2 Các cơ sở xác định nguồn gốc thành ngữ thuần Việt 43

Bảng 2.3 Một số thành ngữ có nhiều hình thức ngữ âm 75

Bảng 3.1 Thành ngữ biến thể 91

Trang 9

MỤC LỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1 Cấu trúc của hệ thống văn hóa 42

Sơ đồ 3.1 Cấu trúc đối xứng của thành ngữ thuần Việt 143

MỞ ĐẦU 1.Lí do chọn đề tài

Kho tàng thành ngữ tiếng Việt gồm hai mảng lớn là thành ngữ thuần Việt và thànhngữ gốc Hán

Thành ngữ thuần Việt đóng vai trò quan trọng trong kho tàng thành ngữ tiếng Việt.Chúng chiếm số lượng lớn, đồng thời cũng là lớp thành ngữ điển hình cho ngôn ngữ dântộc Không những vậy, các thành ngữ thuần Việt còn là những đơn vị chứa đựng nhữngyếu tố văn hóa, xã hội, lịch sử, phong tục tập quán… của dân tộc ta Thành ngữ được ví

Trang 10

như là cuốn “bách khoa thư”, là tấm gương phản ánh đời sống vật chất và tinh thần củamột xã hội Chính vì vậy, việc tìm hiểu về nguồn gốc hình thành của các thành ngữ đểhiểu rõ hơn bản chất của chúng là rất cần thiết

Trong giao tiếp hàng ngày, đặc biệt là trong khẩu ngữ, chúng ta thường sử dụngthành ngữ để làm cho lời nói sinh động, tạo ấn tượng sâu sắc đối với người nghe, ngườiđọc Chẳng hạn, để khẳng định một điều chắc chắn không thể xảy ra đối với khả năng của

một người, vì nếu xảy ra thì là ngược đời, chúng ta dùng thành ngữ chó có váy lĩnh; ví trường hợp những kẻ không tài cán mà lại gặp may mắn, ta dùng thành ngữ mèo mù vớ cá

rán; trạng thái rách nát tả tơi được dân gian so sánh rách như tổ đỉa Tính cách chỉ tính

chuyện tạm bợ trước mắt, không nghĩ đến chuyện lâu dài được phản ánh qua thành ngữ

ăn xổi ở thì…Chúng ta sử dụng thành ngữ trong lời ăn tiếng nói hàng ngày, quen thuộc

đến mức không cần biết đến nguồn gốc của chúng Các thành ngữ tiếng Việt được ra đời

từ khi nào? Chúng có xuất xứ từ đâu? Những thành ngữ nào thì được coi là thành ngữ cónguồn gốc Việt? Những câu hỏi này ít nhiều đã được đặt ra trong các công trình nghiêncứu thành ngữ, tuy nhiên chúng chưa được giải quyết một cách toàn diện, triệt để và hệthống, có cơ sở khoa học, nhiều khi mang tính chất "từ nguyên dân gian" Từ cách đặt vấn

đề nói trên, luận án tiến hành tìm hiểu nguồn gốc ra đời của thành ngữ thuần Việt Có thểnói, đây là một vấn đề hết sức phức tạp, bởi liên quan đến sự hình thành của thành ngữ córất nhiều nhân tố chi phối, đặc biệt là những nhân tố ngoài ngôn ngữ, như: văn hóa, lịch

sử, tôn giáo, phong tục tập quán, các hiện tượng riêng của địa phương…

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Nằm trong hệ thống từ vựng, thành ngữ là một bộ phận khá độc đáo, bởi lẽ nókhông chỉ là đơn vị ngôn ngữ mà còn là đơn vị văn hoá Thành ngữ mang trong mình đầy

đủ những đặc trưng văn hoá, tinh thần, phong tục tập quán, thói quen, nếp cảm nếp nghĩcủa một dân tộc Chính vì những đặc tính đó cho nên thành ngữ tiếng Việt từ lâu đã trởthành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau như ngôn ngữ học, vănhóa học, folklore học, dân tộc học…

Xét trong ngành ngôn ngữ học, lịch sử nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt tính đếnnay có thể chia thành hai giai đoạn, trước 1945 và sau 1945

Trang 11

2.1 Giai đoạn trước 1945

Ở giai đoạn trước 1945, xu hướng nghiên cứu chung là chưa phân biệt thành ngữ

và tục ngữ Ở Việt Nam, người đầu tiên nghiên cứu về thành ngữ là Phạm Quỳnh với báocáo “Về tục ngữ và ca dao” Trong bài viết này, ông quan niệm tất cả các cụm từ cố địnhđều là tục ngữ Tuy vậy, công trình nghiên cứu của ông đã đánh dấu điểm mốc quan trọngtrong tiến trình nghiên cứu thành ngữ ở nước ta

Tiếp đến là cuốn Tục ngữ và phong dao của Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc xuất bản

năm 1928 Cuốn sách đã tập hợp một khối lượng lớn các thành ngữ và tục ngữ Tuynhiên, tác giả cuốn sách cũng chủ trương “không phân biệt thế nào là thành ngữ, tục ngữ,

lý ngữ, sấm ngữ, mê ngữ, phương ngôn, đồng dao, ca dao hay phong dao gì cả” [70]

Tác giả Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu đã quan niệm thành

ngữ như sau: “Thành ngữ là những lời nói do nhiều tiếng ghép lại đã lập thành sẵn, ta cóthể mượn để diễn đạt một ý tưởng của ta khi nói chuyện hoặc viết văn.”[31] Bước đầuông cũng đã có sự phân biệt thành ngữ và tục ngữ Theo ông, sự khác nhau giữa thànhngữ và tục ngữ là ở chỗ: “Một câu tục ngữ tự nó phải có một ý nghĩa đầy đủ hoặc khuyênrăn hoặc chỉ bảo ta điều gì; còn như thành ngữ chỉ là lời nói có sẵn để ta tiện dùng màdiễn một ý gì hoặc tả một trạng thái gì cho có màu mè” [31,15] Như vậy, sự khác biệtgiữa thành ngữ và tục ngữ là sự khác biệt về ngữ nghĩa

2.2 Giai đoạn sau năm 1945

Việc nghiên cứu thành ngữ có hệ thống và cơ sở khoa học chỉ thực sự bắt đầu từsau năm 1945 Ở giai đoạn này, thành ngữ trở thành tâm điểm nghiên cứu của nhiều nhàViệt ngữ học Nhận thấy rõ vai trò, vị trí đặc biệt của thành ngữ trong hệ thống từ vựng,các nhà Việt ngữ học đã nghiên cứu thành ngữ ở nhiều phương diện như: xác định kháiniệm thành ngữ, đặc điểm cấu trúc hình thức và ngữ nghĩa, đặc biệt là nhận diện thànhngữ trong sự so sánh với tục ngữ Sau đây, chúng tôi sẽ trình bày lịch sử nghiên cứu thànhngữ từ sau năm 1945 đến nay theo từng vấn đề cụ thể

2.2.1 Vấn đề 1: Về khái niệm thành ngữ

Hầu hết các nhà nghiên cứu (xem Nguyễn Văn Tu (1968, 1976), Hồ Lê (1976),Nguyễn Thiện Giáp (1985), Nguyễn Văn Mệnh (1986), Nguyễn Đức Dân (1986),v.v )

Trang 12

đều có tiếng nói chung khi cho rằng thành ngữ là những cụm từ cố định có kết cấu vữngchắc, cố định, ổn định Nghĩa của thành ngữ không phải là nghĩa của các yếu tố cấu thànhcộng lại mà thường mang tính hình tượng, tính bóng bẩy và gợi cảm Các đặc tính nàykhiến cho thành ngữ trở thành đơn vị tương đương với từ, có thể thay thế từ hoặc kết hợpvới từ để tạo câu.

Khác với quan điểm của các nhà nghiên cứu kể trên, tác giả Trương Đông San(1974) cho rằng, tất cả những đơn vị mà lâu nay các nhà Việt ngữ học cho là từ ghép theo

quan hệ đẳng lập hay quan hệ chính phụ, như: quần áo, nhà ăn, máy bay, đường sắt…thì

đó đều là cụm từ cố định Từ quan niệm này, ông đã định nghĩa thành ngữ như sau:

“Thành ngữ là những cụm từ cố định có nghĩa hình tượng tổng quát không suy trực tiếp

từ ý nghĩa của các từ vị tạo ra nó Thành ngữ gồm có những đơn vị mang nghĩa hình

tượng chung, trong đó tất cả các từ vị tạo ra nó đều mất nghĩa đen (tuần trăng mật, há

miệng mắc quai, đèn nhà ai nấy rạng…) và những đơn vị mang nghĩa hình tượng bộ

phận, trong đó có một phần mất nghĩa đen và một phần vẫn giữ được nghĩa đen (giết thời

gian, sách gối đầu giường…) [80,2]

2.2.2 Vấn đề 2: Đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của thành ngữ

Đi sâu vào tìm hiểu thành ngữ, các nhà ngôn ngữ học cũng tập trung làm sáng tỏđặc điểm cấu trúc và đặc điểm ngữ nghĩa của loại đơn vị đặc biệt này Hầu hết các nhànghiên cứu đều cho rằng thành ngữ là những cụm từ cố định, có cấu trúc chặt chẽ, ổn định

và bền vững Về ý nghĩa, nghĩa của thành ngữ mang tính biểu trưng, tức là nghĩa củathành ngữ phải nói về một cái gì khác không phải là chính nó Tuy vậy, đi sâu vào khaithác đặc tính biểu trưng của thành ngữ, mỗi tác giả lại có những cách hiểu rất khác nhau

Tác giả Bùi Khắc Việt (1978) quan niệm tính biểu trưng là kí hiệu mà quan hệ vớiquy chiếu (referent) là có nguyên do Cụ thể: hình ảnh hoặc sự vật, sự việc cụ thể miêu tảtrong thành ngữ là nhằm nói về những ý niệm khái quát hoá Nghĩa của thành ngữ đượchình thành từ các phương thức tạo nghĩa như ẩn dụ, hoán dụ, so sánh Tính biểu trưng ngữnghĩa của thành ngữ còn liên quan đến các hiện tượng trong đời sống xã hội, trong lịch sử,phong tục tập quán, tín ngưỡng của nhân dân

Nguyễn Đức Dân (1986) cho rằng “Nghĩa của thành ngữ được hình thành qua sựbiểu trưng nghĩa của cụm từ” [15,5] Sau khi phân tích một loạt các ví dụ, ông đã khái

Trang 13

quát được một số phương thức biểu trưng nghĩa của thành ngữ Từ các phương thức biểutrưng ngữ nghĩa đó có thể dễ dàng tìm được các biến thể của thành ngữ

Phan Xuân Thành (1990) cũng nhấn mạnh tính biểu trưng ngữ nghĩa của thành ngữkhi ông cho rằng ý nghĩa của thành ngữ là sự hoà hợp, chung đúc nghĩa của từng yếu tốtạo nên nó Ở mỗi thành ngữ, các yếu tố có tính biểu trưng khác nhau Có yếu tố mangtính biểu trưng cao, như chìa khoá của thành ngữ Cũng có những yếu tố có tính biểutrưng đơn giản, những yếu tố này thường gặp ở thành ngữ so sánh Đặc biệt, có nhữngyếu tố mang tính biểu trưng phức tạp mà ở đó thường tàng ẩn những tri thức dân gian sâusắc [91]

Quan điểm của Phan Xuân Thành và Bùi Khắc Việt có nhiều điểm trùng hợp khi

cả hai ông cùng đặc biệt quan tâm đến tính biểu trưng của thành ngữ Họ đều cho rằng,các yếu tố trong thành ngữ có mức độ biểu trưng khác nhau và một yếu tố có thể mangnhiều ý nghĩa biểu trưng khác nhau Tính biểu trưng của thành ngữ liên quan mật thiếtđến đời sống xã hội, phong tục tập quán, tín ngưỡng của nhân dân

Nguyễn Công Đức (1995) tập trung nghiên cứu thành ngữ ở hai bình diện cấu trúchình thái và ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt Về cấu trúc hình thái, ông cho rằng cóthể chia thành ngữ tiếng Việt thành ba loại: thành ngữ đối, thành ngữ so sánh và thànhngữ thường Khi luận giải về tính biểu trưng, ông cho rằng, sự biểu trưng hoá trong thànhngữ được vận dụng ở những mức độ khác nhau Có những thành ngữ có yếu tố biểu trưnghoá, có những thành ngữ không có yếu tố nào được biểu trưng hoá Ngay cả những thànhngữ có yếu tố biểu trưng hoá thì vẫn có yếu tố hiển minh Các yếu tố hiển minh này gópphần gợi mở ngữ nghĩa của thành ngữ

Hoàng Văn Hành (2008) dựa vào cấu trúc đã chia thành ngữ tiếng Việt thành hailoại lớn là thành ngữ so sánh và thành ngữ ẩn dụ hoá Đến lượt mình, thành ngữ ẩn dụ hoáđối xứng lại được chia thành hai kiểu là thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng và thành ngữ ẩn dụhoá phi đối xứng Mỗi loại lại có đặc điểm ngữ nghĩa tương ứng

Bên cạnh việc nghiên cứu thành ngữ nói chung, còn có những tác giả tách riêngmột loại thành ngữ cụ thể để xem xét, chẳng hạn như Trương Đông San [80] Ông đặcbiệt chú ý đến thành ngữ so sánh ở hai phương diện cấu trúc hình thức và cấu trúc ngữnghĩa

Trang 14

Cùng mối quan tâm như Trương Đông San, tác giả Chu Bích Thu [95] cũng phântích khá kĩ lưỡng về cơ sở logic - ngữ nghĩa của thành ngữ so sánh Theo tác giả, các yếu

tố trong thành ngữ so sánh có thể rút gọn hoặc mở rộng Sở dĩ có thể như vậy là vì sự vậtđược so sánh và cơ sở so sánh thường không cùng loại Tác giả cũng nhấn mạnh rằng,việc lựa chọn yếu tố làm cơ sở so sánh bị quy định bởi đặc trưng tư duy dân tộc Cùngmột nội dung khái niệm, mỗi ngôn ngữ chọn yếu tố so sánh khác nhau tùy thuộc vào thóiquen tư duy dân tộc

Tóm lại, dù khác nhau trong cách hiểu khái niệm biểu trưng nhưng các quan niệmtrên đây đều có một cái nhìn khá thống nhất khi cho rằng tính biểu trưng ngữ nghĩa củathành ngữ bị quy định bởi đặc trưng của từng dân tộc Những yếu tố văn hóa, tín ngưỡng,phong tục tập quán,… liên quan mật thiết đến việc hiểu nghĩa của thành ngữ

2.2.3 Vấn đề 3: Ranh giới giữa thành ngữ và các đơn vị lân cận

Trong khi xác định khái niệm thành ngữ, các nhà ngôn ngữ học cũng cố gắng vạch

ra một đường ngăn cách giữa thành ngữ với các đơn vị khác như từ ghép, cụm từ tự do,tục ngữ và quán ngữ

Về mối quan hệ giữa thành ngữ và từ ghép, hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho

rằng đó là mối quan hệ khá rạch ròi Dù xếp từ ghép trong nội bộ cụm từ cố định (nhưTrương Đông San, 1974) hay không thuộc cụm từ cố định (Đỗ Hữu Châu 1981, NguyễnVăn Tu, 1976…) thì các tác giả đều phân biệt rạch ròi ranh giới giữa thành ngữ và từghép dựa vào các tiêu chí về nội dung, cấu trúc, thành tố cấu tạo

Theo tác giả Hồ Lê (1976), thành ngữ và từ ghép phân biệt với nhau ở chỗ: thànhngữ thường miêu tả những hình ảnh trạng thái phức tạp hơn so với từ ghép, do đó cấu tạo

và quan hệ ngữ pháp nội bộ cũng phức tạp hơn: thường do bốn từ trở lên cấu tạo thành và

có thể phân tích thành hai hoặc hơn hai quan hệ ngữ pháp khác nhau

Cùng quan điểm với Hồ Lê, Nguyễn Văn Mệnh (1986) đã phân tích sâu hơn về sựkhác biệt giữa từ ghép và thành ngữ Theo ông, thành ngữ và từ ghép có một số điểmgiống nhau: chúng đều là những đơn vị ngôn ngữ cố định, có sẵn, có tính thành ngữ vàđều có chức năng định danh Vì vậy, việc vạch ra đường ranh giới giữa hai đơn vị này làrất cần thiết Theo ông, thành ngữ và từ ghép có thể phân biệt ở một số điểm như: ở phạm

vi rộng hẹp và ở mức độ nông sâu trong nội dung ý nghĩa của chúng, ở mức độ phức tạp

Trang 15

của chức năng định danh, mức độ phức tạp trong mối quan hệ ngữ pháp giữa các thành tốv.v

Dựa vào đặc điểm ngữ nghĩa, Nguyễn Thiện Giáp kết luận khái quát rằng : “Từghép là tên gọi thuần tuý, còn thành ngữ là tên gọi gợi cảm của sự vật nào đó”.[26]

Nhìn chung, việc phân biệt thành ngữ và từ ghép của các nhà nghiên cứu là kháthống nhất Sự phức tạp và chưa thống nhất của các tác giả chỉ nằm ở một vài trường hợp

mà Đỗ Hữu Châu gọi là những đơn vị trung gian như mắt lươn, mắt phượng, mắt ốc nhồi,

mắt cá chày, mở rộng, thu hẹp, bóp méo, vo tròn hoặc những trường hợp mà Trương

Đông San và Nguyễn Văn Mệnh cho là thành ngữ so sánh như trẻ măng, dẻo kẹo, đen

thui… Đối với những trường hợp này, hai ông cho rằng đó là những thành ngữ ở dạng tối

giản nhất, tuy không có từ so sánh nhưng ý nghĩa so sánh vẫn rõ Hay Nguyễn Thiện Giáp(1981) cũng cho rằng: “Một số thành ngữ lược bỏ từ so sánh đó thường dễ được nhận

thức như là từ ghép Ví dụ: đen như thui > đen thui; trẻ như măng > trẻ măng” [26] Theo

Hoàng Văn Hành, có thể dựa vào tiêu chí định lượng để phân biệt các trường hợp trên.Bởi trong tri nhận của người Việt, đã là một thành ngữ thường ít nhất phải có 3 âm tiết trởlên Cho nên những trường hợp rút gọn như Nguyễn Thiện Giáp đã nêu thì phải coi là “sựchuyển hóa từ khu vực thành ngữ sang khu vực từ ghép” [66] Đó là sự “chuyển hoá

thành ngữ sang từ có ẩn dụ" Vì vậy, việc coi các đơn vị kiểu như đen thui, dẻo kẹo là từ ghép còn các đơn vị kiểu như đen như thui, dẻo như kẹo là thành ngữ vừa phù hợp với đặc

thù của tiếng Việt, vừa phù hợp với tri nhận của người bản ngữ

Về mối quan hệ giữa thành ngữ và cụm từ tự do:

Nguyễn Văn Mệnh (1986) cho rằng, đường ranh giới giữa thành ngữ và các cụm từ

tự do là khá rõ ràng vì chúng nằm ở những bình diện khác nhau, thành ngữ thuộc bìnhdiện ngôn ngữ, còn cụm từ tự do thuộc bình diện lời nói Xưa nay, trên đường biên giớinày chưa xảy ra hiện tượng tranh chấp nào đáng kể Các tác giả trong [12] lại quan niệmnhư sau:

Thành ngữ và cụm từ tự do giống nhau ở chỗ cả hai đều là những đơn vị lớn hơn

từ, do các từ tạo nên Hai đơn vị này khác nhau ở một số điểm sau:

- Sự khác biệt lớn nhất là khả năng tồn tại ở trạng thái tĩnh Cụm từ tự do được tạo

ra do nhu cầu giao tiếp Khi tồn tại ở trạng thái tĩnh chúng là những từ riêng biệt, khi tham

Trang 16

gia vào hoạt động giao tiếp, chúng được gắn kết với nhau thành một khối Trong khi đó,ngữ cố định gồm các từ gắn kết với nhau chặt chẽ ngay cả khi tồn tại ở trạng thái tĩnh,chưa hành chức Như vậy chỉ có ngữ cố định là tồn tại ở trạng thái tĩnh, còn cụm từ tự dokhông tồn tại khi ngôn ngữ chưa hoạt động.

- Cấu tạo của ngữ cố định có tính ổn định, chặt chẽ Muốn dùng ngữ cố định taphải dùng đúng với cấu tạo của nó Trong khi đó, tuỳ mục đích diễn đạt mà các cụm từ tự

do có cấu tạo dài ngắn khác nhau

- Về cơ chế tạo nghĩa: nghĩa của cụm từ tự do là do cấu trúc và nghĩa của các từ tạonên nó Còn nghĩa của các cụm từ cố định được hình thành từ các biện pháp tượng trưng,

ẩn dụ, hoán dụ… Nhiều ngữ cố định có nghĩa khác hẳn nghĩa tường minh của các yếu tốcấu tạo nên nó

Một cụm từ mà ý nghĩa không phải thuần tuý do tổng nghĩa của các từ theo cấutrúc của nó tạo nên là cụm từ có tính thành ngữ Do đó sự khác biệt giữa cụm từ cố định

và cụm từ tự do là sự khác biệt về tính thành ngữ

Một trong những mũi nhọn mà các nhà ngôn ngữ học tập trung nghiên cứu là mối

quan hệ giữa thành ngữ và tục ngữ Có thể nói, lịch sử nghiên cứu thành ngữ, tục ngữ từ

sau năm 1945 là lịch sử của sự so sánh, đối chiếu giữa hai đối tượng này

Khi phân biệt thành ngữ và tục ngữ, hầu hết các nhà nghiên cứu đều dựa vào cáctiêu chí như nội dung, cấu trúc, chức năng

Vũ Ngọc Phan (1956) cho rằng: Tục ngữ là một câu tự nó diễn đạt trọn vẹn một ý,một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lí, một công lí, có khi là một sự phê phán Cònthành ngữ là một phần câu sẵn có, nó là một bộ phận của câu và tự nó không diễn đạt một

ý trọn vẹn Về hình thức ngữ pháp, mỗi thành ngữ chỉ là một nhóm từ, chưa phải một câuhoàn chỉnh; còn tục ngữ dù ngắn đến đâu cũng là một câu hoàn chỉnh

Nguyễn Văn Tu (1968) bước đầu cũng chỉ ra sự khác nhau giữa hai đơn vị này khiông viết: thành ngữ chỉ một nội dung chưa đầy đủ và dùng để làm thành phần câu Trongkhi tục ngữ là những câu lưu truyền những kinh nghiệm đời sống, kinh nghiệm xã hội,lịch sử

Trang 17

Nguyễn Văn Mệnh (1972) đã dành nhiều công phu khi phân định ranh giới giữahai đơn vị này Mặc dù giữa thành ngữ và tục ngữ có sự chuyển hoá cho nhau nhưng trênđại thể vẫn có thể tìm ra những đặc điểm khu biệt khá rõ ràng trên hai phương diện nộidung và hình thức Sự khác nhau về nội dung và hình thức ngữ pháp dẫn đến sự khácnhau về năng lực hoạt động trong chuỗi lời nói Tục ngữ có khả năng đứng độc lập trongchuỗi lời nói, trong khi thành ngữ không có khả năng này.

Tuy nhiên, Nguyễn Văn Mệnh cũng có cái nhìn biện chứng khi xem xét mối quan

hệ giữa hai đơn vị này Theo ông, mặc dù không thể đập nhập thành ngữ và tục ngữ làmmột nhưng giữa chúng lại có sự chuyển hoá và xâm nhập Có một số tục ngữ trong quátrình sử dụng do nhiều nguyên nhân khác nhau đã chuyển thành thành ngữ Sự chuyểnhoá này chỉ diễn ra một chiều mà không có chiều ngược lại

Cù Đình Tú (1973) đã dùng chức năng làm tiêu chí phân biệt thành ngữ và tục ngữ.Ông viết: “Thành ngữ là những đơn vị có sẵn, mang chức năng định danh, nói khác đidùng để gọi tên sự vật, tính chất, hành động…”[112], còn tục ngữ mang chức năng thôngbáo Nó thông báo một nhận định, một kết luận về một phương diện nào đó của thế giớikhách quan Do vậy, mỗi tục ngữ là một câu hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một ý tưởng

Các tác giả Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri trong Tục ngữ Việt

Nam (1975) cũng bổ sung thêm một tiêu chí để phân biệt, đó là “thành ngữ là khái niệm

và tục ngữ là những phán đoán” [17] Quan niệm này được nhắc lại trong lời mở đầu của

cuốn từ điển Thành ngữ tiếng Việt (Nguyễn Lực, Lương Văn Đang, 1978): “Mối liên hệ

giữa hai loại hình này chủ yếu là về mặt ngữ nghĩa, mặt nhận thức của con người Có thểxem tiêu chí để phân biệt hai loại này là: nội dung của thành ngữ là những khái niệm, nộidung của tục ngữ là những phán đoán Một bộ phận của thể loại tục ngữ có thể trở thànhmột bộ phận của thể loại thành ngữ” [62]

Về mối quan hệ này, Hồ Lê (1976) cũng đã đề cập đến khi ông gộp chung thànhngữ và ngạn ngữ (mà thực chất là tục ngữ) làm một Theo ông, sự khác nhau cơ bản giữahai đơn vị này là về mặt ý nghĩa Thành ngữ có chức năng miêu tả hiện thực khách quanbằng hình ảnh, còn ngạn ngữ thì có chức năng nêu lên những bài học có ý nghĩa răn đời

Trang 18

Tiếp tục khơi sâu về mối quan hệ này, Nguyễn Văn Mệnh (1986) đưa thêm mộttiêu chí nữa để phân định thành ngữ và tục ngữ, đó là dựa vào chức năng Thành ngữ làmnhiệm vụ định danh, còn tục ngữ có chức năng thông báo.

Hoàng Văn Hành (2008) đã nhận xét: “Thành ngữ tuy có nhiều nét tương đồng vớitục ngữ (như tính bền vững về mặt cấu tạo, tính bóng bẩy về nghĩa…) nhưng lại khác tụcngữ về bản chất Sự khác biệt ấy thể hiện ở chỗ: thành ngữ là những tổ hợp từ đặc biệt,biểu thị những khái niệm một cách bóng bẩy, còn tục ngữ là những câu - ngôn bản đặcbiệt, biểu thị những phán đoán một cách nghệ thuật”.[33,10]

Cùng quan điểm với Nguyễn Văn Mệnh, Phan Văn Hoàn (1992) cho rằng giữa haiđối tượng này có nhiều điểm tương đồng, gần gũi Ở một góc độ nào đó, thành ngữ và tụcngữ có mối quan hệ rất đặc biệt, khăng khít với nhau

Từ việc chỉ ra một số khó khăn khi phân biệt hai đơn vị này, tác giả Nguyễn ThịTrung Thành (2009) đã bổ sung thêm một tiêu chí nữa để nhận diện thành ngữ, tục ngữ,

đó là dựa vào hoàn cảnh sử dụng Chính hoàn cảnh sử dụng sẽ hiện thực hoá mặt thànhngữ hay tục ngữ của đơn vị đang xét

Cũng trong bài viết này tác giả còn nói thêm, cái khó trong việc xếp một số ngữliệu cụ thể vào thành ngữ hay tục ngữ chỉ xảy ra đối với các đơn vị thuần Việt Còn cácđơn vị tương tự nếu là mượn Hán thì các nhà sưu tầm lại thống nhất xếp vào thành ngữ

Trên đây là công lao của các nhà ngôn ngữ học trong việc phân định ranh giới giữathành ngữ và tục ngữ Dựa vào các tiêu chí như ý nghĩa, cấu trúc, chức năng chúng ta cóthể phân biệt được hai đơn vị này Trong trường hợp nhập nhằng hoặc có sự chuyển hoá,xâm nhập chúng ta có thể vận dụng thêm tiêu chí hoàn cảnh sử dụng

2.2.4 Vấn đề 4: Biến thể của thành ngữ

Trong thực tế sử dụng, các thành ngữ thường không xuất hiện ở một hình thức duynhất mà thường có nhiều dạng thức khác nhau Hướng nghiên cứu này có ở các tác giảsau:

Trương Đông San (1974) cho rằng khái niệm biến thể của một đơn vị ngôn ngữ chỉ

áp dụng cho mặt hình thức của đơn vị đó Các cụm từ cố định có khả năng biến thể đa

Trang 19

dạng và phong phú hơn các từ Ông đã nêu bốn trường hợp biến thể của thành ngữ Đó làbiến thể ngữ âm, biến thể thứ tự thành tố, biến thể số lượng thành tố và biến thể từ vựng

Nguyễn Đức Dân (1986) cũng đề cập đến vấn đề biến thể của thành ngữ khi ôngkhái quát các phương thức biểu trưng ngữ nghĩa của thành ngữ Từ một khuôn cú pháp -ngữ nghĩa có thể tạo ra hàng loạt các biến thể bằng cách thay mỗi từ bằng một từ đồngnghĩa ngữ cảnh Chẳng hạn ở khuôn cú pháp - ngữ nghĩa “có A (tình) phụ B” có thể tạo ra

các biến thể có oản quên xôi, có oản bỏ xôi, có oản chê xôi… Hoặc ở thành ngữ bầm gan

tím ruột có thể tạo ra các biến thể cú pháp như bầm ruột tím gan, tím gan bầm ruột, tím ruột bầm gan và các biến thể từ vựng như bầm gan bầm ruột, bầm ruột bầm gan, tím gan tím ruột hoặc thâm gan tím ruột, thâm ruột tím gan v.v…

Khi bàn về biến thể của thành ngữ, tục ngữ, Vũ Quang Hào (1992) đã liệt kê bốnloại thành ngữ mới nghe qua thấy na ná như nhau nhưng khác nhau về bản chất Loại thứnhất là những thành ngữ dạng “tam sao thất bản”, loại thứ hai là những thành đồng nghĩahoặc gần nghĩa có phạm vi sử dụng khác Loại thứ ba là những thành ngữ giống nhau vềhình thức nhưng đối lập nhau về ý nghĩa và loại thứ tư là những thành ngữ đích thực làbiến thể Những thành ngữ đích thực là biến thể có ba dạng: biến thể ngữ âm, biến thể từvựng và biến thể cấu trúc

Phan Xuân Thành (1993) cho rằng cái bao trùm lên thành ngữ là phép so sánh, vàtrong phép so sánh, cái quan trọng nhất là phải lựa chọn được cơ sở đối chiếu, tức là lựachọn cái làm đối chứng Những cái mà con người đem ra làm đối chứng thường là điểnhình, tồn tại lâu dài, lặp đi lặp lại trong cuộc sống Theo cách luận giải của ông, nội dungcủa thành ngữ là cái được định hình, được cố định hoá, còn hình thức chỉ là cái tương đối,

có thể vận hành tự do Điều này giải thích vì sao một thành ngữ có thể xuất hiện với nhiều

biến thể khác nhau Bên cạnh chân lấm tay bùn còn có tay lấm chân bùn hoặc bên cạnh

ném đá giấu tay còn có ném đất giấu mặt,…

Nguyễn Đức Tồn, Nguyễn Thị Minh Phượng (2007) đã bàn đến hiện tượng biếnthể và đồng nghĩa của thành ngữ tiếng Việt Đóng góp của hai tác giả trên là đã có sự

phân biệt và bước đầu đưa ra những cơ sở ngôn ngữ học để phân biệt thành ngữ biến thể với các thành ngữ đồng nghĩa - đó là có cùng hình ảnh làm cơ sở cho nghĩa biểu trưng

hay không Nếu các đơn vị dựa trên cùng một hình ảnh biểu trưng, chỉ thay đổi trật tự vịtrí, thay đổi ngữ âm của các thành tố cấu tạo hoặc có sự thay thế các thành tố cấu tạo

Trang 20

thuộc cùng một trường từ vựng - ngữ nghĩa - thì đó là các biến thể của một thành ngữ Ví

dụ: dãi gió dầm mưa, dầm mưa dãi gió, dãi gió dầm sương… Khi hai đơn vị có nghĩa biểu

trưng dựa trên hai hình ảnh cơ sở khác nhau thì đó là những thành ngữ đồng nghĩa Ví du:

Oản ít bụt nhiều và mật ít ruồi nhiều; nước đổ lá khoai và nước đổ đầu vịt…

Hoàng Văn Hành (2008) khi bàn về giá trị và nghệ thuật sử dụng thành ngữ trongthơ văn Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát hai phương thức sử dụng thành ngữ thườnggặp là thành ngữ nguyên thể và thành ngữ biến thể Ông giải thích, biến thể của thành ngữ

là hình thức mà so với nguyên thể bao giờ cũng có ít nhiều biến đổi trong phạm vi các yếu

tố có tính chất thứ yếu (biến đổi về trật tự các thành tố, biến đổi về phương tiện biểu hiệnquan hệ ngữ pháp…) Nghĩa của biến thể so với nghĩa và kết cấu của nguyên thể về cơbản là không đổi Mỗi thành ngữ có thể có ít hoặc nhiều biến thể tuỳ thuộc vào đặc điểmkết cấu của thành ngữ

2.2.5 Vấn đề 5: Nguồn gốc của thành ngữ

Thành ngữ là một loại đơn vị ngôn ngữ khá đặc biệt Nói đặc biệt là vì nó vừa làđơn vị ngôn ngữ vừa là đơn vị văn hoá Trong thành ngữ ẩn tàng những dấu ấn văn hoá,phong tục tập quán, đời sống tinh thần, quan điểm đạo đức, lối suy nghĩ, nhận thức củamột dân tộc Chính vì vậy, tìm hiểu thành ngữ dường như là vấn đề thôi thúc đối vớinhiều nhà Việt ngữ học Xung quanh thành ngữ có rất nhiều câu hỏi đặt ra: thành ngữ cóxuất xứ từ đâu? Chúng được hình thành như thế nào? Vì sao lại có thành ngữ (trong khi

hệ thống từ vựng đã có các từ rồi)? Việc xác định xem các thành ngữ được tạo ra từnhững nguồn nào có thể soi rõ thêm bản chất của thành ngữ Vì vậy, đây cùng là vấn đềthu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều cho rằng, trong hệ thống thành ngữ tiếng Việt

có hai mảng lớn là thành ngữ thuần Việt và thành ngữ vay mượn, trong đó chủ yếu là cácthành ngữ gốc Hán (chiếm 98%) Trong khi các thành ngữ thuần Việt được đặt trongmảng nghiên cứu về thành ngữ nói chung thì các thành ngữ gốc Hán được tách thànhmảng riêng để nghiên cứu Có thể nói, thành tựu nghiên cứu mảng thành ngữ này kháphong phú, đa dạng và kết quả nghiên cứu đạt được bao gồm nhiều phương diện, đặcđiểm khác nhau của loại thành ngữ này Chẳng hạn, tập hợp các thành ngữ gốc Hán thành

từ điển (Nguyễn Xuân Trường (1973), Nguyễn Như Ý, Nguyễn Văn Khang, Phan XuânThành (1994) ) hay tìm hiểu thành ngữ Hán Việt ở các phương diện cấu trúc, ngữ nghĩa,

Trang 21

nguồn gốc… như công trình của Nguyễn Văn Khang (1994), Nguyễn Thị Tân (2008)v.v

Đối với các thành ngữ thuần Việt thì chưa có công trình nào nghiên cứu riêng.Nguyễn Văn Mệnh (1986) bước đầu cũng chú ý đến nguồn gốc của thành ngữ khiông xác định khái niệm thành ngữ Dựa vào kết cấu cú pháp, ông khẳng định các thànhngữ tiếng Việt được hình thành theo hai con đường chính:

Thứ nhất, những thành ngữ có kết cấu ngữ pháp của các ngữ, chẳng hạn như khôn

nhà dại chợ, cây nhà lá vườn, chạy long tóc gáy…Những thành ngữ loại này được cố

định hoá từ các ngữ tự do

Thứ hai, những thành ngữ có kết cấu câu Loại này lại chia thành hai nhóm nhỏ:Nhóm thứ nhất, những thành ngữ mà ý nghĩa của chúng không mang dấu vết gì của một

thông báo, ví dụ như ếch ngồi đáy giếng, chuột sa chĩnh gạo, mèo mù vớ cá rán…Nhóm

này có tiền thân là những ngữ tự do (ngữ tường thuật) Nhóm thứ hai, những thành ngữ

mà trong ý nghĩa của chúng ít nhiều có dấu vết của những thông báo Ví dụ: chó cắn áo

rách, gà què ăn quẩn cối xay… Các thành ngữ này trước đây hoạt động với tư cách là

những tục ngữ Nói cách khác, chúng do một số tục ngữ chuyển hoá thành

Trong hệ thống thành ngữ Việt, cũng có không ít những thành ngữ có nguồn gốc

từ trong tiếng Hán Chẳng hạn, đồng cam cộng khổ, bách chiến bách thắng… Các thành

ngữ này đã được Việt hoá, tồn tại trong kho thành ngữ tiếng Việt và hoạt động như nhữngthành ngữ Việt

Hoàng Văn Hành trong [33] đã khái quát các con đường hình thành thành ngữ quamấy nguồn chính sau đây:

1 Sử dụng thành ngữ tiếng nước ngoài dưới các hình thức khác nhau, mà chủ yếu

Trang 22

Đóng góp lớn nhất của Hoàng Văn Hành khi tìm hiểu nguồn gốc của thành ngữ tập

trung trong cuốn Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ [35] Trong tác phẩm này, bằng sự

nghiên cứu tìm tòi của mình, ông đã giải thích được nguồn gốc hình thành của khá nhiềuthành ngữ, tục ngữ được xem là khó hiểu và khó dùng đúng, gắn liền với các tích, cácđiển cố, phong tục, tập quán, lễ nghi, tôn giáo,…Điểm đặc biệt là, ông không chỉ quantâm đến ý nghĩa đương đại của thành ngữ mà còn cung cấp cho người đọc một bối cảnhvăn hoá - ngôn ngữ để hiểu rõ xuất xứ hay nguyên lai của thành ngữ, thậm chí cả nghĩa từnguyên của các yếu tố tạo thành chúng Tuy nhiên cũng có ý kiến (chẳng hạn, Hoàng Phê)cho rằng nhiều thành ngữ được ông giải thích nguồn gốc mang tính "từ nguyên dân gian"

Tiêu Hà Minh (2008) cũng tìm về nguồn gốc xa xưa của các thành ngữ, tục ngữkhi ông giải thích sự hình thành của chúng qua các câu chuyện kể dân gian như truyện cổtích, truyện ngụ ngôn, truyện cười, điển tích cố sự, cổ học, lịch sử…Bên cạnh đó cũng cónhững câu chuyện do tác giả cải biên, phóng tác nên ít nhiều việc giải thích gốc tích cácthành ngữ còn thiếu thuyết phục, không có cơ sở khoa học Trong số 264 câu chuyện kể

về nguồn gốc, xuất xứ của thành ngữ có khoảng hơn một nửa số câu chuyện do ông cảibiên, phóng tác.(xem [68])

Tác giả An Chi trên trang web.chuyendongchuyentay cũng bàn về nguồn gốc hình thành của các thành ngữ bắt cá hai tay, đầu cua tai nheo, dán bùa luồn kèo…Từ đó, ông

đi đến kết luận rằng, có rất nhiều thành ngữ mà chúng ta đang dùng hiện nay đã mất hẳnmối liên hệ với nơi đã sản sinh ra chúng Giữa nghĩa ban đầu của thành ngữ với nghĩahiện dùng có một khoảng cách rất xa do bị đứt mối liên hệ ngữ nghĩa Với những thànhngữ này việc truy tìm nguồn gốc của chúng là một công việc hết sức khó khăn

Trên đây là những đóng góp cơ bản của các nhà nghiên cứu trên con đường kiếmtìm nguồn gốc, xuất xứ của thành ngữ Nhìn chung đây là vấn đề hết sức phức tạp, khókhăn đòi hỏi phải có sự tìm tòi công phu, nghiêm túc và sự nghiên cứu đa ngành Chính vìvậy, cách giải thích của các nhà Việt ngữ học về nguồn gốc của thành ngữ trên đây mặc

dù có nhiều cố gắng nhưng chưa thực sự triệt để Xung quanh vấn đề này còn có nhiềucâu hỏi đặt ra, chẳng hạn, lúc ban đầu các thành ngữ được hình thành như thế nào, chúng

có xuất xứ từ đâu, hình thức và ngữ nghĩa của chúng biến đổi ra sao trong quá trình sửdụng, giữa nghĩa ban đầu và nghĩa hiện tại có sự khác biệt nhau hay không… Những câuhỏi này cho đến nay vẫn chưa lời giải đáp thỏa đáng

Trang 23

2.2.6 Vấn đề 6: Mối quan hệ giữa thành ngữ và văn hoá

Mối quan hệ này nằm trong mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa nói chung.Đây cũng là bình diện được nhiều nhà Việt ngữ học quan tâm, bởi lẽ như trên đã nói,thành ngữ là nơi lưu giữ những dấu ấn văn hoá, phong tục tập quán, đời sống tinh thầncủa một dân tộc

Tìm hiểu mối quan hệ giữa thành ngữ và văn hóa, hầu hết các nhà nghiên cứu đều

có một tiếng nói chung khi họ cho rằng thành ngữ là nơi phản ánh ý nghĩ, tình cảm, triết líquan niệm của con người về cuộc sống Thành ngữ không chỉ là nguồn tư liệu mà còn làtấm gương phản chiếu những di sản truyền thống lâu đời về văn hóa, phong tục, tập quán,thế giới quan, đạo lí của con người Việt Nam được lưu giữ từ đời này qua đời khác Cóthể nói, đó là những “trầm tích sống” vô giá trong kho tàng tiếng nói dân tộc Đây lànhận định của các tác giả Nguyễn Như Ý (1992), Nguyễn Xuân Hoà (1993), Hoàng VănHành (2008) Tiếp tục đào sâu hướng nghiên cứu này, tác giả Nguyễn Trí Sơn trong [27]khẳng định thêm các thành ngữ phản ánh rất rõ dấu ấn văn hóa của vùng miền sản sinh ra

nó Những phẩm chất của con người Nghệ Tĩnh như thông minh, hiếu học, trọng đạo lí,giàu lòng yêu nước hay phong tục, tín ngưỡng, cách đối nhân xử thế…đều được phản ánhtrong kho tàng thành ngữ Nghệ Tĩnh

Đỗ Hữu Châu (2000) trong một bài viết có tính chất gợi mở cũng khẳng định rằng:

“Mỗi từ, mỗi ngữ cố định của ngôn ngữ, của tiếng Việt như vậy là một tên gọi của mộtyếu tố của văn hoá, của văn hoá Việt Nam với ngữ nghĩa là một hoặc những hiểu biết vănhoá (…) Mỗi từ, mỗi ngữ cố định tự mình là một yếu tố văn hoá”.[7,6]

Trên đây là những đóng góp nổi bật của các nhà Việt ngữ học khi nghiên cứuthành ngữ Ngoài các hướng nghiên cứu kể trên, còn tồn tại một vài hướng nghiên cứu lẻ

tẻ khác Chẳng hạn, dự đoán về sự biến đổi của thành ngữ trong tương lai hay thực tế sửdụng thành ngữ trong giới trẻ hiện nay Hướng nghiên cứu này có ở các tác giả PhạmHồng Thủy, Vũ Quang Hào [xem 97;39]

Ngoài ra, còn có một hướng nghiên cứu nữa cũng thu hút được sự quan tâm củanhiều nhà Việt ngữ học Đó là sự vận dụng thành ngữ trong tác phẩm văn chương, thườngtrong các tác phẩm, tác giả tiêu biểu Hướng nghiên cứu này có trong các công trình của

Cù Đình Tú (1972), Hoàng Văn Hành (2008)…

Trang 24

Trong sự phát triển của các khuynh hướng nghiên cứu ngôn ngữ mới hiện nay, tácgiả Trần Thị Hồng Hạnh [37] còn đề xuất một hướng tiếp cận mới về thành ngữ, đó làcách tiếp cận thành ngữ từ góc độ ngôn ngữ học nhân chủng Đây là hướng nghiên cứuchú ý đến sự tương tác của ba thành tố ngôn ngữ, văn hóa và xã hội trong thành ngữ.Nhấn mạnh vào yếu tố văn hóa, tác giả đã phân chia thành ngữ thành ba nhóm lớn, đó làthành ngữ liên quan đến đời sống văn hóa vật chất, thành ngữ liên quan đến đời sống tinhthần và thành ngữ liên quan đến văn hóa cộng đồng Nhấn mạnh yếu tố xã hội, tác giảphân loại thành ngữ thành ba nhóm là nhóm liên quan đến tuổi tác, nhóm liên quan đếngiới tính và địa vị xã hội.

Sự quan tâm nghiên cứu thành ngữ, như đã trình bày, tương đối toàn diện Nhữngvấn đề như khái niệm thành ngữ, đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của thành ngữ đã đượccác nhà ngôn ngữ học giải quyết triệt để Những đóng góp này là cơ sở quan trọng trongviệc nghiên cứu thành ngữ Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có những vấn đề đã được đặt ranhưng chưa được giải quyết triệt để, thấu đáo Đó là những vấn đề như sự hình thành củathành ngữ, vấn đề biến thể và hiện tượng đồng nghĩa của thành ngữ… Kế thừa nhữngthành tựu nghiên cứu về thành ngữ, luận án của chúng tôi sẽ tiếp tục đi sâu vào những vấn

đề này, nhằm góp phần hoàn thiện bức tranh nghiên cứu về thành ngữ

3 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu được chúng tôi sử dụng bao gồm: Phươngpháp hệ thống, phương pháp miêu tả, phương pháp phân tích diễn ngôn, phương pháp sosánh - lịch sử

Nghiên cứu từ vựng nói chung, thành ngữ nói riêng, không thể bỏ qua phươngpháp hệ thống Những đặc trưng chung của hệ thống thành ngữ thuần Việt giúp chúng tasoi tỏ từng đơn vị thành ngữ cụ thể trong hệ thống đó

Các phương pháp như phương pháp miêu tả, phương pháp phân tích diễn ngônđược chúng tôi vận dụng khi phân tích nội dung cốt truyện làm cơ sở hình thành nênthành ngữ thuần Việt khi tìm hiểu nguồn gốc của thành ngữ thuần Việt đó, miêu tả quan

hệ đồng nghĩa thành ngữ và phân tích những đặc trưng văn hóa, tư duy dân tộc trongthành ngữ thuần Việt

Trang 25

Phương pháp so sánh - lịch sử được sử dụng trong những trường hợp cần phụcnguyên hình thái ngữ âm ban đầu của một từ trong thành phần cấu tạo thành ngữ Hiệntượng biến thể ngữ âm của từ trong thành phần cấu tạo khiến thành ngữ có thể hiểu theonhiều cách và do đó có thể có nhiều cách giải thích nguồn gốc Nếu phục nguyên đượchình thái ngữ âm ban đầu của từ trong thành phần cấu tạo thành ngữ thì mới xác địnhđược nguồn gốc chính xác của thành ngữ đó.

Ngoài ra, chúng tôi còn vận dụng thủ pháp loại trừ để nhận diện các thành ngữthuần Việt trong sự đối chiếu với thành ngữ Hán Việt

4 Đối tượng, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các thành ngữ thuần Việt, tức là các thànhngữ do người Việt sáng tạo ra phản ánh thực tế đời sống, cách cảm, cách nghĩ của ngườiViệt Do vậy, chúng tôi loại bỏ những thành ngữ Hán Việt thực sự Đó là những thànhngữ được cấu tạo từ chất liệu Hán, do người Hán tạo lập được du nhập vào tiếng Việt

Những thành ngữ này đến nay vẫn giữ nguyên màu sắc ngoại lại của nó Ví dụ: bạo hổ

bằng hà, ác nhân sát đức, bạch diện thư sinh, bế quan tỏa cảng, công bình chính trực, điệu hổ li sơn v.v

Về mặt lí thuyết, việc phân biệt thành ngữ và tục ngữ tỏ ra rất rõ ràng, tuy nhiêntrong thực tế sử dụng, hai đơn vị này thường có sự chuyển hóa, xâm nhập lẫn nhau Thực

tế cho thấy, những đơn vị nằm ở làn giáp ranh giữa thành ngữ và tục ngữ lại là những đơn

vị mang tính chất thuần Việt đậm nét Vì vậy, để phục vụ cho mục đích của luận án, trongmột số trường hợp, chúng tôi chấp nhận cả những trường hợp trung gian giữa thành ngữ

và tục ngữ này

4.2 Mục đích

Tìm hiểu lai lịch nguồn gốc ra đời, cơ sở hình thành và ý nghĩa từ nguyên khoa họccủa thành ngữ thuần Việt, luận án mong góp phần làm nổi bật những đặc điểm văn hóa, tưduy của người Việt Bên cạnh đó, luận án cũng mong muốn làm sáng tỏ một số đặc điểm

Trang 26

cấu trúc và ngữ nghĩa của thành ngữ, đó là hiện tượng biến thể thành ngữ, đồng nghĩa vàtrái nghĩa thành ngữ.

4.3 Nhiệm vụ

Để đạt được mục đích nêu trên, luận án cần giải quyết được các nhiệm vụ sau:

- Tổng quan tình hình nghiên cứu thành ngữ nói chung, đặc biệt nhấn mạnh nhữngkết quả nghiên cứu về nguồn gốc của các thành ngữ thuần Việt

- Tập hợp những vấn đề lí thuyết có liên quan đến đề tài, bao gồm những vấn đề líthuyết về thành ngữ nói chung và thành ngữ thuần Việt nói riêng

- Xác định bối cảnh ra đời của các thành ngữ thuần Việt, từ đó chỉ ra sự biến đổicủa thành ngữ qua thời gian, không gian; đồng thời cũng làm rõ sự chi phối của các yếu tốvăn hóa, phong tục, tôn giáo, lịch sử đến sự hình thành của thành ngữ Việt

- Tìm hiểu hiện tượng biến thể của thành ngữ thuần Việt, phân biệt biến thể thànhngữ và đồng nghĩa thành ngữ, bước đầu tìm hiểu quan hệ đồng nghĩa - trái nghĩa giữa cácthành ngữ

5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

5.1 Ý nghĩa khoa học

Giải quyết tốt vấn đề, luận án sẽ góp phần hoàn thiện việc nghiên cứu thành ngữ

từ góc độ nguồn gốc và những đặc điểm cấu trúc (hiện tượng biến thể), ngữ nghĩa (quan

hệ đồng nghĩa - trái nghĩa) Qua đó, luận án cũng khẳng định những giá trị văn hóa dântộc được thể hiện trong thành ngữ Các kết quả nghiên cứu còn góp phần phát triển bộmôn từ nguyên khoa học vốn chưa phát triển ở nước ta

Trang 27

Tìm hiểu thành ngữ thuần Việt từ góc độ nguồn gốc, cơ sở hình thành, đặc điểmcấu trúc - ngữ nghĩa còn có giá trị hữu ích trong việc giảng dạy và học tập chuyên đề

Thành ngữ tiếng Việt cho sinh viên các ngành Việt Nam học, Cử nhân Văn học Việc dạy

và học thành ngữ không chỉ thuần túy cung cấp cho sinh viên những kiến thức ngôn ngữhọc mà còn giúp họ thấy được những giá trị văn hóa dân tộc ẩn tàng trong thành ngữ.Điều này hoàn toàn phù hợp với xu hướng dạy học theo quan điểm tích hợp hiện nay

6 Bố cục của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các công trình đã công bố của tác

giả, Tài liệu tham khảo, luận án gồm ba chương:

Chương 1: Những vấn đề lí thuyết Chương này trình bày một số vấn đề lí thuyết

cơ bản về thành ngữ tiếng Việt và khái niệm thành ngữ thuần Việt

Chương 2: Nguồn gốc của thành ngữ thuần Việt Như tên gọi của nó, nội dung của

chương này tập trung vào tìm hiểu nguồn gốc và các cơ sở hình thành của thành ngữthuần Việt nói chung và chỉ ra một số thành ngữ có nhiều nguồn gốc khác nhau

Chương 3: Đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa của thành ngữ thuần Việt Ở chương

này, chúng tôi đi sâu vào một phương diện còn ít được nghiên cứu của thành ngữ hiệnnay, đó là hiện tượng biến thể thành ngữ, quan hệ đồng nghĩa và trái nghĩa trong thànhngữ

Chương 1NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT

1.1 Một số vấn đề lí thuyết về thành ngữ

1.1.1 Khái niệm thành ngữ

Trang 28

Nhìn chung, các nhà ngôn ngữ học đều rất thống nhất khi đưa ra định nghĩa về thànhngữ Theo Hoàng Văn Hành, “Thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định, bền vững về hìnhthái cấu trúc, hoàn chỉnh bóng bẩy về ý nghĩa, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàngngày, đặc biệt là trong khẩu ngữ ”[33,31] Thành ngữ có hai đặc điểm nổi bật:

- Tính cố định, ổn định về thành phần từ vựng và hình thái cấu trúc

- Tính hoàn chỉnh, bóng bẩy về nghĩa

Nguyễn Thiện Giáp cũng cho rằng: “Thành ngữ là những cụm từ cố định vừa cótính hoàn chỉnh về nghĩa, vừa có tính gợi cảm” [29,77] Ông nêu rõ: “Bên cạnh nội dungtrí tuệ, các thành ngữ bao giờ cũng kèm theo sắc thái bình giá, cảm xúc nhất định, chẳnghạn, có thể nói lên lòng kính trọng, sự tán thành hoặc là chê bai, khinh rẻ…”[29,77]

Tác giả Nguyễn Lân cũng khẳng định tính cố định, ổn định của thành ngữ khi ôngđịnh nghĩa: “Thành ngữ là những cụm từ cố định dùng để diễn đạt một khái niệm”[59].Theo tác giả, thành ngữ là những tổ hợp có ba từ trở lên, còn những tổ hợp có hai từ đượccoi là từ ghép

Từ những định nghĩa trên đây có thể rút ra một cách hiểu chung nhất về thành ngữnhư sau: Thành ngữ là những cụm từ cố định, có sẵn, được lưu truyền trong dân gian từđời này sang đời khác Về chức năng, thành ngữ là đơn vị tương đương với từ, dùng đểgọi tên sự vật hiện tượng hay biểu thị khái niệm Về ý nghĩa, thành ngữ thường mang tínhhình tượng, tính bóng bảy, gợi tả

thành ngữ hổ phụ sinh hổ tử không thể thay thế thành cọp phụ sinh cọp tử, thành ngữ mặt

trái xoan không thể đổi thành mặt quả xoan

Trang 29

Thành ngữ có tính cố định, ổn định về thành phần từ vựng và cấu trúc là do thóiquen sử dụng của người bản ngữ Để có được đặc điểm này trước khi được hình thành,thành ngữ cũng chỉ là những tổ hợp từ tự do Những tổ hợp này được sử dụng lặp đi lặplại nhiều lần trong lời nói, cùng với sự chuyển di ngữ nghĩa nhất định như ẩn dụ hóa,hóan dụ hóa…đã tạo nên dạng ổn định của thành ngữ như ngày nay.

Tuy nhiên, tính cố định và bền vững về hình thái cấu trúc của thành ngữ khôngphải là bất biến, bất di bất dịch Nghĩa là trong hoạt động giao tiếp, người ta vẫn chấpnhận sự thay đổi nhất định trong việc sử dụng thành ngữ một cách sáng tạo, linh hoạt.Chẳng hạn, tác giả Truyện Kiều viết:

Thương tình con trẻ thơ ngây

Gặp cơn vạ gió tai bay bất kì

Thành ngữ tai bay vạ gió đã được Nguyễn Du đổi trật tự hai vế thành vạ gió tai

bay Việc dùng thành ngữ theo cấu trúc đảo này có tác dụng làm cho nhịp điệu câu thơ trở

nên hài hòa, uyển chuyển

Tính cố định, bền vững và tính uyển chuyển của thành ngữ trong sử dụng là haimặt không hề mâu thuẫn, loại trừ nhau mà có tác dụng bổ sung cho nhau Chính điều nàykhiến cho kho tàng thành ngữ ngày càng được mở rộng, phong phú hơn do xuất hiện

nhiều biến thể của một thành ngữ Bên cạnh ba chìm bảy nổi còn có bảy nổi ba chìm, bên cạnh tan cửa nát nhà còn có nhà tan cửa nát hoặc vênh váo như bố vợ phải đấm và vênh

váo như bố vợ cậu ấm, v.v…

1.1.2.2 Đặc điểm ngữ nghĩa

Đặc trưng nổi bật về ngữ nghĩa của thành ngữ là có tính hoàn chỉnh, bóng bẩy vàtính gợi cảm cao Nghĩa của thành ngữ không phải là nghĩa đen của các yếu tố cấu thànhcộng lại mà là nghĩa bóng, nghĩa toàn khối Nghĩa này được suy ra trên cơ sở nghĩa của

các yếu tố cấu thành Chẳng hạn, thành ngữ kén cá chọn canh không có nghĩa là "kén

chọn cá ngon, canh ngọt trong ăn uống" mà dùng để chỉ người phụ nữ "kén chọn chồng

quá kĩ do cầu kì hoặc khó tính" Hoặc thành ngữ chó ngáp phải ruồi không phải nói về sự

tình một con chó ngáp đớp phải con ruồi, mà dùng để " ví trường hợp không có tài năng,

Trang 30

chỉ nhờ may mắn hiếm có mà đạt được cái gì"[77,176] Chính đặc điểm ngữ nghĩa nàyđược gọi là "tính thành ngữ" của ý nghĩa các từ ghép và các cụm từ cố định nói chung.

Nghĩa của thành ngữ là kết quả của quá trình biểu trưng hóa Quá trình biểu trưngđược thực hiện theo con đường liên tưởng tương đồng hoặc tương cận Theo con đườngtương đồng, ta có các thành ngữ ẩn dụ hoặc so sánh, theo con đường tương cận ta có cácthành ngữ hoán dụ

1.1.3 Cấu tạo và phân loại thành ngữ

1.1.3.1 Đặc điểm cấu tạo

Thành ngữ không chỉ có cấu tạo chủ yếu là cụm từ mà còn có thể là một kết cấuchủ vị Vì thế, dựa vào hình thức cấu tạo, có thể phân ra thành ngữ có kết cấu chủ vị vàthành ngữ có kết cấu cụm từ

- Thành ngữ có kết cấu chủ vị: Đó có thể là một kết cấu chủ vị, chẳng hạn như mèo

mù vớ cá rán, chó cắn áo rách, lươn ngắn chê chạch dài, hàng thịt nguýt hàng cá, chó chê mèo lắm lông,… Hoặc có thể là một kết cấu liên hợp chủ vị như nhà tan cửa nát; trống đánh xuôi, kèn thổi ngược; chó treo mèo đậy…

- Thành ngữ có kết cấu là một cụm từ, chẳng hạn tay búp măng, chạy long tóc

gáy, lạy như tế sao, ăn trắng mặc trơn, bạn nối khố, đi guốc trong bụng, ruột để ngoài da… Xét về mặt từ loại, những thành ngữ này có thể có cấu tạo là một cụm danh từ, ví dụ: mặt trái xoan, mắt lá răm, tay búp măng…; hoặc cụm động từ, chẳng hạn, chạy long tóc gáy, ăn như hùm đổ đó, ném đá giấu tay…; hoặc cụm tính từ, chẳng hạn, dai như đỉa đói, rách như tổ đỉa, chậm như rùa, nặng như chì, ngu như bò, thẳng ruột ngựa… Phần lớn

các thành ngữ có cấu tạo là một cụm tính từ có từ so sánh như.

1.1.3.2 Phân loại thành ngữ

Việc phân loại thành ngữ được tiến hành dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau, do vậy,kết quả phân loại cũng rất khác nhau

Nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến [12] dựa vào

cơ chế cấu tạo đã chia thành ngữ tiếng Việt thành hai loại là thành ngữ so sánh và thànhngữ miêu tả ẩn dụ

Trang 31

Cũng dựa vào cơ chế cấu tạo, nhưng Nguyễn Thiện Giáp [29] lại chia thành ngữthành hai loại lớn, đó là thành ngữ hòa kết và thành ngữ hợp kết Thành ngữ hợp kết đượchình thành do sự kết hợp của một thành tố biểu thị thuộc tính chung của đối tượng với các

thành tố khác biểu thị thuộc tính riêng của đối tượng Chẳng hạn, rách như tổ đỉa thì rách biểu thị thuộc tính chung về tính chất, còn tổ đỉa phản ánh mức độ riêng của thuộc tính

đó Các thành ngữ hòa kết được hình thành trên cơ sở của một ẩn dụ toàn bộ Chẳng hạn,

thành ngữ chó ngáp phải ruồi có nghĩa chung biểu thị sự gặp may như đã nêu Ý nghĩa

của từng yếu tố cấu thành đã hòa lẫn vào nhau để biểu thị một khái niệm mới

1.2 Khái niệm thành ngữ thuần Việt

Để xác định khái niệm thành ngữ thuần Việt và các tiêu chí nhận diện, chúng tôibắt đầu từ việc xác định khái niệm từ thuần Việt, bởi lẽ thành ngữ thuần Việt trước hếtđược cấu tạo từ các từ thuần Việt

1.2.1 Khái niệm từ thuần Việt

1.2.1.1 Dẫn nhập

Hệ thống từ vựng tiếng Việt là một hệ thống lớn, phức tạp, bao gồm một khốilượng lớn các đơn vị từ vựng cùng các mối quan hệ phức tạp, chằng chịt, đan xen lẫnnhau Hệ thống này có thể phân chia thành các tiểu hệ thống dựa vào các tiêu chí khácnhau Xét theo nguồn gốc, chúng ta có thể chia hệ thống từ vựng tiếng Việt thành haimảng lớn là từ thuần Việt (hay từ bản ngữ) và từ vay mượn (hay từ ngoại lai)

Từ vay mượn là những từ tiếng Việt mượn của các ngôn ngữ khác nhưng cải tạohình thức ngữ âm và ngữ pháp để phù hợp với hệ thống ngữ âm và ngữ pháp của tiếngViệt Hiện tượng vay mượn là hiện tượng diễn ra thường xuyên, phổ biến và có tính tấtyếu đối với mọi ngôn ngữ Bởi “cũng như các nền văn hóa, các ngôn ngữ ít khi tự chúng

đã đầy đủ”[54] Thêm vào đó nhu cầu giao lưu trên nhiều lĩnh vực giữa các quốc gia đãkhiến cho từ của ngôn ngữ này được du nhập vào một ngôn ngữ khác Có thể khẳng định,không một ngôn ngữ nào mà không sử dụng biện pháp vay mượn và cũng không có mộtngôn ngữ nào là “thuần khiết” Ngay cả các ngôn ngữ được xem là tiên tiến nhất trên thếgiới hiện nay như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga vẫn phải vay mượn của nhau, thậmchí vay mượn của các ngôn ngữ “không tiên tiến” bằng mình để ngày một hoàn thiệnthêm năng lực thực hiện các chức năng xã hội của mình Chẳng hạn, trong vốn từ vựng

Trang 32

của tiếng Anh có tới 56% đơn vị từ vựng nước ngoài, trong vốn từ vựng của tiếng ThụyĐiển số lượng từ mượn chiếm tới 75%, từ mượn trong tiếng Anbani chiếm 90%, v.v…[54] Nói như vậy để thấy hiện tượng vay mượn là hiện tượng không thể tránh khỏi và đócũng là một biện pháp tích cực làm phong phú, giàu đẹp thêm cho các ngôn ngữ TiếngViệt cũng không nằm ngoài quy luật ấy.

Bên cạnh các từ vay mượn, hệ thống từ vựng tiếng Việt còn có những từ cơ bản,biểu thị các sự vật, hiện tượng, tính chất, quan hệ… xuất hiện lâu đời cùng với cộng đồng

sử dụng ngôn ngữ Đó chính là các từ thuần Việt Lớp từ thuần Việt là cốt lõi của từ vựngtiếng Việt Nó là chỗ dựa và có vai trò điều khiển, chi phối hoạt động của mọi lớp từkhác

Ở đây, cần lưu ý khái niệm thuần Việt Khi nói từ thuần Việt là chúng tôi nhằm đối lập từ thuần Việt với từ không thuần Việt, tức là những từ không phải gốc Việt Theo Từ

điển tiếng Việt, thuần có nghĩa "chỉ một thứ, một loại, không xen lẫn thứ khác, loại khác"

[77,944] Vậy từ thuần Việt có nghĩa là chỉ bao gồm những từ do người Việt tự sáng tạo

ra mà không bao hàm các từ vay mượn Đó phải là các từ gốc Môn- Khơ me Tuy nhiên,trong quá trình phát triển của tiếng Việt như chúng ta thấy, cách đây hàng ngàn năm nó đã

có sự vay mượn các từ thuộc ngôn ngữ của các dân tộc khác cùng chung sống trên lãnhthổ Việt Nam mà không phải tiếng Hán, như các ngôn ngữ Tày - Thái, (ví dụ các từ:

bánh, bát, bóc, ngọn…)[29,239] Cho nên khái niệm thuần Việt mà chúng tôi sử dụng ở

đây chỉ mang tính tương đối

Để làm rõ khái niệm từ thuần Việt, chúng tôi bắt đầu từ việc nhận diện các lớp từvay mượn Sau đó, bằng thủ pháp loại trừ, chúng tôi sẽ chỉ ra các từ thuần Việt và tiêu chínhận diện

1.2.1.2 Các nguồn vay mượn

Tiếng Việt có hai nguồn vay mượn chính là vay mượn từ tiếng Hán và vay mượn

từ các ngôn ngữ Ấn Âu, trong đó vay mượn từ tiếng Hán là chủ yếu, chiếm tới 60% (theoMaspero); tiếp đến là các đơn vị từ vựng mượn từ các ngôn ngữ Ấn Âu, tiêu biểu là tiếngPháp (khoảng gần 3000 đơn vị), sau đó là các đơn vị từ vựng mượn từ tiếng Anh [54] Sựvay mượn này có nguyên nhân chủ yếu từ lịch sử và do sự tiếp xúc về văn hóa

Trang 33

(a) Trước hết ta xét nguồn vay mượn thứ nhất Có thể nói, quá trình tiếng Việt vaymượn tiếng Hán diễn ra trong một thời gian dài và chịu tác động của rất nhiều các nhân tố(địa lí, chính trị - quân sự, kinh tế, văn hóa - xã hội, vấn đề di dân…) Để làm sáng tỏ hệthống các từ vay mượn tiếng Hán, chúng ta cần làm rõ các khái niệm quan trọng trongquá trình tiếp xúc ngôn ngữ Việt - Hán, đó là cách đọc Hán - Việt, yếu tố gốc Hán, âmHán - Việt và từ Hán Việt.

Theo quan niệm của Nguyễn Tài Cẩn, cách đọc Hán Việt là cách đọc bắt nguồn từ hệthống ngữ âm tiếng Hán đời Đường, mà cụ thể là Đường âm dạy ở Giao Châu vào giai đoạnbao gồm khoảng hai thế kỉ VIII và IX Đó là cách xử lí về ngữ âm mà người Việt dùng đểđọc mọi chữ Hán Nói cách khác, đó là cái vỏ ngữ âm mà người Việt gán cho hệ thống văn

tự Hán, bất kể là những chữ gì, có nghĩa hay không có nghĩa trong tiếng Việt Ví dụ: tuyết,

học, cao, chẩm, giá, ma…

Khái niệm yếu tố gốc Hán được dùng để chỉ những yếu tố đã được du nhập vào trong

tiếng Việt, bất luận đó là những yếu tố như thế nào Ví dụ: quốc, gia, sơn, thủy, mùa (do vụ

mà ra), gần (do cận mà ra), mì chính (do vị tinh mà ra)…

Các yếu tố gốc Hán được chia thành ba khu vực:

Khu vực I: là những chữ Hán có thể đọc Hán Việt được nhưng không liên quan

đến tiếng Việt, chẳng hạn: chẩm, giá, ma…

Khu vực II: là những yếu tố người Việt mượn từ tiếng Hán nhưng những yếu tố đókhông trực tiếp liên quan đến cách đọc Hán Việt Ở đây có thể có ba trường hợp:

- Trường hợp mượn trước cách đọc Hán Việt như mùi, mùa, buồng…(1)

- Trường hợp mượn từ đời Đường, cùng một lần với cách đọc Hán - Việt nhưng

sau diễn biến theo một con đường khác với cách đọc Hán Việt Ví dụ: gan, gần, vốn, ván,

…(2)

- Trường hợp mượn thông qua một phương ngữ Hán, ví dụ: mì chính, vằn thắn, ca

la thầu…(3)

Trang 34

Khu vực III: là những yếu tố cũng thuộc vào loại mượn từ tiếng Hán, nhưng đó lànhững yếu tố mượn thông qua cách đọc Hán - Việt nên gọi là yếu tố Hán - Việt Ví dụ:

tuyết, học, quốc, gia, thủy…

Trong số ba trường hợp (1), (2), (3) như đã nêu ở trên, theo chúng tôi, trường hợp(1) và (2) nên được coi là từ thuần Việt bởi những lí do sau đây:

Các từ ở trường hợp (1) đã được du nhập vào Việt Nam từ rất lâu đời (trước thế kỉVIII) nên hiện nay đã hòa lẫn vào vốn từ thuần Việt, rất khó có thể nhận ra màu sắc ngoạilai của chúng Hơn nữa, về ý nghĩa những từ này gọi tên những sự vật hiện tượng trongsinh hoạt hàng ngày, những hiện tượng xung quanh đời sống của con người Việt Nam.Phần lớn đây là những từ một âm tiết Cho nên những từ kể trên được xếp vào nhóm từvựng cơ bản

Các từ ở trường hợp thứ hai cũng nên được coi là từ thuần Việt bởi lẽ các âm nàychỉ có trong tiếng Việt

Riêng trường hợp thứ ba, vì các từ này màu sắc ngoại lai còn rất rõ (cả về ý nghĩa

và khả năng hoạt động độc lập) nên không thể xếp chúng vào nhóm từ thuần Việt

(b) Ngoài các từ vay mượn tiếng Hán như đã nêu trên, tiếng Việt còn vay mượn từ

ngữ của các ngôn ngữ Ấn - Âu, tiêu biểu là tiếng Pháp Sự vay mượn này có nguyên nhân

từ lịch sử Sau khi chế độ phong kiến Việt Nam kết thúc, nước ta đã chuyển sang chế độnửa thực dân phong kiến với sự đô hộ của thực dân Pháp kéo dài hơn 80 năm Theo saugót giày xâm lược là văn hóa, là ngôn ngữ Thực tế, những năm đầu thế kỉ XX, tiếng Pháp

đã giữ một vai trò rất quan trọng, nó được dùng làm ngôn ngữ chính thức trong công văngiấy tờ, trong nhà trường Đây cũng là lí do giải thích vì sao trong kho từ vựng tiếng Việtcủa chúng ta có đến gần 3000 đơn vị từ vựng tiếng Pháp Hàng ngày, quanh ta, từ quần áocho đến căn nhà, phòng ăn, góc bếp, phòng ngủ, đến đường đi, cơ quan…chúng ta đềugặp từ gốc Pháp Khi trò chuyện chúng ta cũng đều phải sử dụng một vài từ gốc Pháp

Chẳng hạn: bành tô, com lê, gi lê, ka ki, may ô, len, dạ, sooc, gam, ki lô gam, lít, mét,

ban công, bê tông, cà phê, vang, cồn, cà rốt, pho mát,… Điều này cho thấy, các từ gốc

Pháp mặc dù dấu ấn ngoại lai còn rõ (hình thức ngữ âm) nhưng ít nhiều đã được Việt hóa.Một số từ được Việt hóa đến mức khó có thể nhận ra màu sắc ngoại lai của chúng, chẳng

hạn như săm, lốp, lít, mét, len, dạ,

Trang 35

Với các từ gốc Pháp, theo chúng tôi có thể giải quyết như sau:

Những từ nào vốn là từ đơn tiết hoặc đơn tiết hóa thì khả năng nhập vào tiếng Việtrất mạnh Chúng đã được Việt hóa hoàn toàn, vì vậy có thể xếp chúng vào nhóm từ thuần

Việt Chẳng hạn: xăng, lốp , lít, mét, len, dạ, mút, bạt, phanh, đui, ghi, ray, gác, bốt,

băng, ga, kem, bơ, xiếc, phim, bi, bia, vang, cồn…

Đối với những từ đa tiết, đặc biệt là những từ có ba âm tiết trở lên hoặc những từcòn mang tổ hợp phụ âm vốn được mượn thông qua con đường sách vở thì dấu ấn ngoại

lai còn rất rõ Ví dụ: xà phòng, may ô, ki lô, các tông, bê tông, ban công, xích lô, ô tô, ca

nô, ti gôn, lay ơn, pho mát, sô cô la, cà rốt, súp lơ, su hào, ki ốt, căng tin,… Vì vậy những

từ kể trên không được xếp vào nhóm từ thuần Việt

1.2.1.3 Khái niệm từ thuần Việt

Về khái niệm từ thuần Việt, hầu hết các nhà nghiên cứu đều có chung nhận định từthuần Việt là những từ ra đời từ thời thượng cổ và tồn tại đến tận ngày nay Đây là lớp từ

cơ bản, từ gốc của tiếng Việt và là cơ sở của hệ thống từ vựng tiếng Việt Từ thuần Việt

có số lượng lớn và mang tính dân tộc sâu sắc Thuộc về lớp từ thuần Việt (hay từ bản

ngữ) là những từ ngữ chỉ số đếm (một, hai, ba, bốn, năm…), những từ chỉ quan hệ gia đình (cha, mẹ, anh, chị, cô, chú, thím…), những từ chỉ bộ phận cơ thể (mặt, mũi, chân,

tay, cổ, miệng,…), những từ chỉ hiện tượng tự nhiên (mưa, nắng, gió, sấm chớp,…),

những từ chỉ màu sắc cơ bản (xanh, đỏ, tím, vàng, đen,…), những từ chỉ vật dụng trong nhà (giường, chiếu, chum, vại, bát, đĩa, chổi…), chỉ các công cụ lao động đơn giản (cày,

cuốc, kim, chỉ…)

Tác giả Nguyễn Văn Tu cho rằng từ thuần Việt là những từ được sử dụng từ thờithượng cổ đến nay Chúng có quan hệ với vốn từ vựng cơ bản của nhiều ngôn ngữ ĐôngNam Á như tiếng Thái, tiếng Môn Khơ me, v.v…[110]

Nguyễn Thiện Giáp [29,236] quan niệm từ thuần Việt chỉ mang tính tương đối.Ông cho rằng ngoài những từ có thể xác định chắc chắn là tiếng Việt tiếp nhận của tiếngHán và các ngôn ngữ Ấn - Âu, tất cả những từ còn lại thường được gọi là những từ thuầnViệt Những từ được gọi là từ thuần Việt thường trùng với bộ phận từ vựng gốc của tiếngViệt, chúng biểu thị những sự vật, hiện tượng cơ bản nhất và tồn tại từ rất lâu

Trang 36

Khảo sát ở phương diện cấu tạo từ, tác giả Phan Ngọc cho rằng “bất kì âm tiết nào

có thể hoạt động thành từ đơn tiết đều được xem là từ thuần Việt Nói khác đi, theo cảmthức ngôn ngữ của người Việt, nghe một từ đơn tiết thì ngay lập tức người Việt cấp cho

nó danh hiệu từ thuần Việt, sự phân biệt giữa từ thuần Việt với từ Hán Việt hay ngoại laichỉ bắt đầu từ từ song tiết trở lên mà thôi”[71,10] Đặc biệt nhấn mạnh vào đặc điểm loạihình âm tiết tính của tiếng Việt, ông còn cho rằng khái niệm thuần Việt không liên quanđến nguồn gốc của từ mà chỉ liên quan đến hình thức của nó mà thôi

Các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu trong [12,218] khi xác định từ thuầnViệt cho rằng: Về mặt nguồn gốc, cơ sở hình thành của lớp từ thuần Việt là các từ gốcNam phương, bao gồm cả Nam Á và Tày Thái Những kết quả nghiên cứu gần đây chothấy rằng nhiều bộ phận, nhiều nhóm của lớp từ thuần Việt có những tương ứng, nhữngquan hệ hết sức phức tạp với nhiều ngôn ngữ hoặc nhóm ngôn ngữ trong vùng Chẳng

hạn: Tương ứng Việt - Mường: vợ, chồng, ông, ăn, uống, cười, bơi, nằm, khát, trốn, gáy,

mỏ, mâm, rá, chum, nồi, vại,… Tương ứng Việt - Tày Thái: đường, rẫy, bắt, bóc, buộc, ngắt, gọt, bánh, vắng, mo, méo, vải, mưa, …Tương ứng với các ngôn ngữ nhóm Việt -

Mường đồng thời với nhóm Bru - Vân Kiều: trời, trăng, đêm, bụng, ruột, kéo, bốc, ngáy,

củi, khô v.v…

Cùng quan điểm với các tác giả trên, Nguyễn Đức Tồn viết: “Từ thuần Việt lànhững từ thường được hiểu có tính quy ước nhiều hơn là từ đích thực của ngôn ngữ bảnđịa - những từ gốc Môn - Khmer họ Nam Á - vốn là nguồn gốc của tiếng Việt Theo cáchhiểu này từ thuần Việt là những từ còn lại trong tiếng Việt sau khi đã trừ đi các từ Hán

Việt cùng với một số từ gốc Hán khác mà dấu ấn ngoại lai của chúng còn rất rõ như sủi

cảo, vằn thắn, tạp pí lù… và những từ châu Âu như tiếng Anh và tiếng Pháp, tiếng Nga".

[102,47]

Nhìn từ góc độ vay mượn, tác giả Nguyễn Văn Khang [54,54] đã phân chia hệthống từ vựng tiếng Việt thành hai mảng lớn là từ bản ngữ và từ vay mượn Về mặt líthuyết, có thể hình dung hệ thống từ vựng tiếng Việt sẽ ở thế lưỡng phân: một bên là từthuần Việt và một bên là từ vay mượn hay từ ngoại lai Tuy nhiên khái niệm thuần Việthay Việt (bớt đi chữ thuần) cũng chỉ mang tính tương đối Chẳng hạn, ở góc nhìn này, vàothời điểm này thì có thể cho các từ này là thuần, là bản ngữ nhưng nếu đứng ở góc nhìnkhác hoặc lùi về quá khứ một chút thì chưa chắc Mặt khác, quá trình hình thành chia tách

Trang 37

dân tộc, ngôn ngữ cũng như quá trình hình thành, tiếp xúc giữa các ngôn ngữ cùng hàngloạt các nhân tố như thời gian, không gian, xã hội đã làm cho khó mà chia tách được mộtcách rạch ròi giữa các từ bản ngữ với không bản ngữ

Mác đã từng nói “Ngôn ngữ cũng cổ xưa như ý thức vậy”[27,38] Vì vậy, đặt vấn đềxác định nguồn gốc từ thuần Việt là một vấn đề rất khó có thể thực hiện được Khái niệmnguồn gốc thuần Việt ở đây cần được hiểu một cách tương đối

Nếu dựa vào nguồn gốc để xác định khái niệm thuần Việt thì như chúng ta thấy,tiếng Việt vốn là một ngôn ngữ thuộc họ Nam Á Họ ngôn ngữ này có địa bàn hoạt độngrộng lớn, từ bờ sông Dương Tử (Trung Quốc) cho tới vùng Assam (Mianma), vùng núi vàcao nguyên thuộc đất Thái Lan, Lào, Việt Nam, Campuchia… Về phía nam, địa bàn của

họ ngôn ngữ Nam Á lan tỏa tới các bán đảo và đảo giáp với châu Đại Dương Trong quátrình phát triển, cùng với sự phát triển của các dân tộc và sự tiếp xúc giữa các ngôn ngữ,

họ ngôn ngữ này tách thành nhiều dòng, nhiều nhánh khác nhau, trong đó có nhánh Việt Mường Do có nguồn gốc từ lâu đời, hơn thế lại có sự tiếp xúc giữa các ngôn ngữ và tiếpxúc giữa các dân tộc, cho nên, trong lớp từ cơ bản của tiếng Việt có sự pha trộn từ vựng

-của nhiều ngôn ngữ khác nhau Có những từ tương ứng với tiếng Mường (vợ, chồng, đàn

ông, đàn bàn, ăn, uống, cười, chum, vại, v.v…), có những từ tương ứng với các ngôn ngữ

Tày - Thái ( bánh, bắt, bóc, buộc, ngọn, rẫy, vắng …), có những từ tương ứng với các ngôn ngữ Việt - Mường và Tày - Thái ( bát, bể, cày, dao, gạo, giặt, may, ngà,…), có

những từ có sự tương ứng với nhóm Việt - Mường và nhóm Bru ở miền tây Quảng Bình (

bụng, bốc, bớt, củi, cồng, đêm, hòn, hột…), v.v… Những bằng chứng này cho thấy, cội rễ

của từ vựng tiếng Việt quả là hết sức phức tạp Chúng bao gồm nhiều nguồn, nhiều lớpđan xen, chồng chéo lên nhau rất khó xác định Nói cách khác, tiếng Việt là một ngôn ngữ

đa nguồn “Các nhà ngôn ngữ học ngày càng ngả về xu thế cho rằng tiếng Việt là mộtngôn ngữ đa nguồn Vốn từ vựng của nó hình thành từ một cơ tầng bản địa ban đầu, vềsau do tiếp xúc với các ngôn ngữ láng giềng mà ngày càng được bổ sung và phong phúdần lên Đến nay trong vốn từ vựng tiếng Việt hiện đại đã bao gồm nhiều từ thuộc cácngôn ngữ khác nhau.” [54,54] Chính vì những lẽ trên nên việc xác định một đơn vị từvựng có phải là thuần Việt hay không chỉ mang tính tương đối Đơn vị từ vựng này ở thờiđiểm đang xét có thể là thuần Việt nhưng lùi về quá khứ xa xưa thì có thể nó lại là vaymượn Khái niệm Việt hay thuần Việt là có giới hạn về mặt lịch sử

Trang 38

Đối lập với những ý kiến trên đây, tác giả Trần Trí Dõi [19], một chuyên gianghiên cứu về lịch sử tiếng Việt, cho rằng khái niệm từ thuần Việt cần được quan niệmmột cách cụ thể hơn, rõ ràng hơn Theo ông, chỉ những từ nào có nguồn gốc Nam Á thìmới đích thực là những từ thuần Việt Còn những từ tương ứng với những ngôn ngữ khácnhư Tày - Thái, thậm chí cả những từ vay mượn sau thời Việt - Mường thì không đượccoi là từ thuần Việt Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra là làm thế nào để tách được các từ gốcNam Á và các từ vay mượn, sau đó, đến lượt lớp từ vay mượn lại phải tách thành vaymượn trước thời kì Việt - Mường và sau thời kì Việt -Mường, đến lượt các từ vay mượnsau thời kì Việt - Mường lại tách tiếp thành các lớp vay mượn Nam đảo, vay mượn Thái -Kadai, vay mượn gốc Hán, vay mượn Ấn Âu Công việc chia tách này là rất phức tạp vàcũng khó có thể chia tách một cách triệt để.

Từ những phân tích trên đây, chúng tôi quan niệm từ thuần Việt như sau: từ thuầnViệt là những từ được hiểu có tính quy ước nhiều hơn là từ đích thực của ngôn ngữ bảnđịa - những từ gốc Môn - Khơ me họ Nam Á - vốn là nguồn gốc của tiếng Việt Theo đó

từ thuần Việt là tất cả những từ còn lại trong tiếng Việt sau khi đã trừ đi các từ Hán Việt

và các từ gốc Hán khác và các từ vay mượn từ tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga

1.2.1.4 Tiêu chí nhận diện

Theo chúng tôi, để phân biệt từ thuần Việt và từ Hán Việt có thể dựa vào ba tiêuchí ngữ âm, ngữ nghĩa và màu sắc phong cách Cụ thể như sau:

- Về ngữ âm: Theo tác giả Nguyễn Ngọc San có thể vạch một đường ranh giới ngữ

âm giữa âm thuần Việt và âm Hán Việt dựa vào các đặc điểm sau đây:

+ Về âm đầu: Hán Việt không có các âm g, r Vậy những tiếng nào bắt đầu bằng

những phụ âm này thì chắc chắn là những âm thuần Việt

Các âm tiết không có phụ âm đầu nếu có thanh điệu bổng (là các thanh không, hỏi,sắc) có thể là yếu tố Hán Việt

Ví dụ: a, á, ả; âm, ấm, ẩm; ung, úng, ủng; ân, ấn ẩn

(Nói có thể có nghĩa là có những vần mang thanh điệu bổng không có phụ âm đầuvẫn không phải là yếu tố Hán Việt)

Trang 39

Các âm tiết có phụ âm đầu ch, gi, kh, x đứng trước các vần có thanh điệu bổng thì

có thể là các yếu tố Hán Việt (ngoại lệ xã, xạ)

Ví dụ: chi, chí, chỉ; chung, chúng, chủng; gia, giá, giả; giang, giáng, giảng;

kham, khám, khảm; khô, khố, khổ; xi, xí, xỉ;xa, xá, xả

Nếu các phụ âm đầu này đứng trước các vần mang thanh điệu trầm (gồm các thanh

huyền, ngã, nặng) thì các âm tiết đó là các yếu tố thuần Việt, ví dụ như: chì, chị, khàn,

Theo Nguyễn Đức Tồn [103,85], các vần sau đây chỉ xuất hiện trong tiếng Hán:

Uyên (trừ ngoại lệ nguyền, chuyền, chuyện), ví dụ: duyên, tuyên, quyến…; Uyết, ví dụ: tuyết, tuyệt, thuyết, quyết ; Ưu, ví dụ: cửu, cừu, cứu, bưu, bửu, ngưu…;Uy, ví dụ:

tuy, tùy, tủy, quy, quý, quỷ…

Có thể khái quát các tiêu chí này qua câu văn: nguyên quyết cứu nguy Bất cứ

tiếng hoặc từ đơn nào có chứa vần của bốn từ trong câu trên dù có âm đầu hoặc mangthanh điệu nào cũng đều là Hán Việt, trừ một vài ngoại lệ

Các vần sau đây chỉ có ở tiếng hay từ đơn thuần Việt:

Om, on, ong (trừ trọng), op, ot, oc (trừ trọc, học), oi

Im (trừ kim), in (trừ tín), ip, it, iu

Êm, ên, ênh, ếp, ết (trừ kết), ếch, êu

Oe (trừ hòe), em, en, eng, ep, et, ec, eo

Ư, ưm, ưn, ưt, ưi; Ươm, ươn, ướp, ước, ướt, ươu, ươi, ưa

Ơ ( trừ cơ, sơ, sở, sớ, trở, trợ), ơm, ơn (trừ sơn), ớp, ớt, ơi

Trang 40

Âng, ấc, ây (trừ tây, tẩy), au, ay

Ăm, ăp, ăt,

U, um, un, up, ut (trừ bút), ui

Ua, uôm, uôn, uông, uôt, uôc, uôi

Ôm, ôp, ôt (trừ cốt, đột ngột)

Những căn cứ ngữ âm trên đây là những tiêu chí giúp chúng ta nhận diện và khubiệt được các từ thuần Việt và các từ Hán Việt Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, nhữngcăn cứ này không thể giúp chúng ta phân biệt một cách tuyệt đối, dứt khoát các yếu tốHán Việt và thuần Việt bởi lẽ “không thể có sự dứt đoạn hoàn toàn và tức thì trong ngônngữ” [82,161]

Như chúng ta biết, tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập Đặc điểm ngữ âmnổi bật của loại hình ngôn ngữ này là âm tiết tính Từ càng có tính đơn tiết thì càng cótính thuần Việt Điều này cũng có nghĩa là khi hình thức ngữ âm của một đơn vị vaymượn càng xa ngôn ngữ nguồn, càng mang các đặc điểm điển hình của từ tiếng Việt thìmức độ Việt hóa càng cao Về điểm này chúng tôi hoàn toàn nhất trí với Phan Ngọc khiông cho rằng “bất kì âm tiết nào có thể hoạt động làm thành từ đơn tiết đều được xem là

từ thuần Việt” [71,5]

- Về ngữ nghĩa: Các từ thuần Việt phần lớn biểu thị những sự vật cụ thể hay những

thuộc tính cụ thể của sự vật như bình, bát, buồng, đục, đuốc, mây, mù, mùa…Trong khi

các từ Hán Việt mang ý nghĩa trừu tượng, thuộc lớp từ văn hóa, triết học, lịch sử hay vănhọc…“Tín hiệu thuần Việt mang đầy đủ sự thống nhất giữa âm thanh và khái niệm, còntín hiệu Hán Việt thì ô khái niệm rất lờ mờ, do đó mà từ Hán Việt trở thành khó hiểu”.[82,164]

Bên cạnh hai tiêu chí nói trên cũng cần chú ý đến giá trị phong cách giữa từ Hán Việt

và từ thuần Việt Các từ Hán Việt mang sắc thái trang trọng, tao nhã, cổ kính Trong khi các

từ thuần Việt mang sắc thái gần gũi, dân dã, mộc mạc

Ngày đăng: 04/12/2013, 13:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1974), Từ điển truyện Kiều, Nxb Khoa học Xã hội 2. Trần Gia Anh (2004), Con số với ấn tượng dân gian, Nxb Hải Phòng 3. Phan Kế Bính (2005), Việt Nam phong tục, Nxb Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển truyện Kiều", Nxb Khoa học Xã hội2. Trần Gia Anh (2004), "Con số với ấn tượng dân gian", Nxb Hải Phòng3. Phan Kế Bính (2005), "Việt Nam phong tục
Tác giả: Đào Duy Anh (1974), Từ điển truyện Kiều, Nxb Khoa học Xã hội 2. Trần Gia Anh (2004), Con số với ấn tượng dân gian, Nxb Hải Phòng 3. Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội2. Trần Gia Anh (2004)
Năm: 2005
4. Nguyễn Tài Cẩn (2004), Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt, Nxb Đại học Quốc gia, in lần thứ 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2004
5. Bùi Hạnh Cẩn (1993), 5000 thành ngữ Hán Việt thường dùng, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 5000 thành ngữ Hán Việt thường dùng
Tác giả: Bùi Hạnh Cẩn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
6. Đỗ Hữu Châu (1997), Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
7. Đỗ Hữu Châu (2000), Tìm hiểu văn hóa qua ngôn ngữ , Ngôn ngữ (10), tr1 - 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu văn hóa qua ngôn ngữ
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 2000
8. Đỗ Hữu Châu (2004), Giáo trình Từ vựng học tiếng Việt , Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2004
9. An Chi (2005), Chuyện Đông chuyện Tây, tập 1, Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyện Đông chuyện Tây
Tác giả: An Chi
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2005
10. Nguyễn Văn Chiến (2009), Lớp từ phản ánh thế giới quan tôn giáo của người Việt (tiếp cận nhân học - ngôn ngữ), Hội thảo Ngôn ngữ học toàn quốc 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lớp từ phản ánh thế giới quan tôn giáo của người Việt (tiếp cận nhân học - ngôn ngữ)
Tác giả: Nguyễn Văn Chiến
Năm: 2009
12. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàn Trọng Phiến (2006), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội (tái bản lần thứ bảy) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàn Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
13. Mai Ngọc Chừ chủ biên (2007), Nhập môn ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn ngôn ngữ học
Tác giả: Mai Ngọc Chừ chủ biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
14. Nguyễn Hữu Chương (2002), Câu đồng nghĩa trong tiếng Việt, Ngôn ngữ (10), tr35-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu đồng nghĩa trong tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Hữu Chương
Năm: 2002
15. Nguyễn Đức Dân (1986), Ngữ nghĩa thành ngữ và tục ngữ, sự vận dụng, Ngôn ngữ (3), tr1- 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa thành ngữ và tục ngữ, sự vận dụng
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Năm: 1986
16. Nguyễn Đức Dân (1995), Câu đồng nghĩa, Ngôn ngữ (3), tr12-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu đồng nghĩa
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Năm: 1995
17. Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri (1975), Tục ngữ Việt Nam, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ Việt Nam
Tác giả: Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1975
18. Trần Trí Dõi (2007), Giáo trình Lịch sử tiếng Việt (sơ thảo), Nxb ĐHQG Hà Nội, in lần thứ hai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lịch sử tiếng Việt (sơ thảo)
Tác giả: Trần Trí Dõi
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 2007
19. Trần Trí Dõi (2011), Khái niệm từ thuần Việt và từ ngoại lai từ góc nhìn của lịch sử tiếng Việt hiện nay, Ngôn ngữ (11), tr8- 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm từ thuần Việt và từ ngoại lai từ góc nhìn của lịch sử tiếng Việt hiện nay
Tác giả: Trần Trí Dõi
Năm: 2011
20. Vũ Dung, Vũ Thúy Anh, Vũ Quang Hào (2000), Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam
Tác giả: Vũ Dung, Vũ Thúy Anh, Vũ Quang Hào
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2000
21. Hữu Đạt (2009), Đặc trưng ngôn ngữ và văn hóa giao tiếp tiếng Việt, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng ngôn ngữ và văn hóa giao tiếp tiếng Việt
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
22. Lê Văn Đức, Lê Ngọc Trụ (1967) Việt Nam tự điển, Nhà sách Khai trí, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam tự điển
23. Nguyễn Công Đức (1995), Bình diện cấu trúc hình thái - ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt, Luận án Phó tiến sĩ khoa học Ngữ văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình diện cấu trúc hình thái - ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Công Đức
Năm: 1995

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. So sánh thành ngữ thuần Việt và thành ngữ Hán - Việt - Nguồn gốc hình thành và đặc điểm cấu trúc   ngữ nghĩa của thành ngữ thuần việt
Bảng 1.1. So sánh thành ngữ thuần Việt và thành ngữ Hán - Việt (Trang 48)
Sơ đồ 2.1 Cấu trúc của hệ thống văn hóa - Nguồn gốc hình thành và đặc điểm cấu trúc   ngữ nghĩa của thành ngữ thuần việt
Sơ đồ 2.1 Cấu trúc của hệ thống văn hóa (Trang 51)
Bảng 2.2 Các cơ sở xác định nguồn gốc thành ngữ thuần Việt - Nguồn gốc hình thành và đặc điểm cấu trúc   ngữ nghĩa của thành ngữ thuần việt
Bảng 2.2 Các cơ sở xác định nguồn gốc thành ngữ thuần Việt (Trang 52)
Sơ đồ 3.1 Cấu trúc đối xứng của thành ngữ thuần Việt - Nguồn gốc hình thành và đặc điểm cấu trúc   ngữ nghĩa của thành ngữ thuần việt
Sơ đồ 3.1 Cấu trúc đối xứng của thành ngữ thuần Việt (Trang 154)
Sơ đồ này đúng với cả kiểu cấu trúc AX AY - Nguồn gốc hình thành và đặc điểm cấu trúc   ngữ nghĩa của thành ngữ thuần việt
Sơ đồ n ày đúng với cả kiểu cấu trúc AX AY (Trang 155)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w