1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Xác định vấn đề và lên kế hoạch hỗ trợ thân chủ là sinh viên khiếm thị đang theo học tại Trường Đại học Thủ Dầu Một

168 56 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 168
Dung lượng 1,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT KHOA: CÔNG TÁC XÃ HỘI BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN THAM GIA CUỘC THI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TÊN ĐỀ TÀI: Xác định vấn đề

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT KHOA: CÔNG TÁC XÃ HỘI

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN THAM GIA CUỘC THI

SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

TÊN ĐỀ TÀI:

Xác định vấn đề và lên kế hoạch hỗ trợ thân chủ là sinh viên khiếm

thị đang theo học tại Trường Đại học Thủ Dầu Một

NĂM HỌC: 2015 – 2016

Trang 2

2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT KHOA: CÔNG TÁC XÃ HỘI

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN THAM GIA

CUỘC THI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

NĂM HỌC: 2015 - 2016

TÊN ĐỀ TÀI:

Giáo viên hướng dẫn: ThS.Lê Thị Phương Hải

Sinh viên thực hiện: Lê Thị Bích Tâm

Dân tộc: Kinh

Lớp, khoa: D13XH01 - Công Tác Xã Hội

Năm thứ: 2/Số năm đào tạo: 4

Xác định vấn đề và lên kế hoạch hỗ trợ thân chủ là sinh viên khiếm

thị đang theo học tại Trường Đại học Thủ Dầu Một

Trang 3

THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN

CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

I SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:

Họ và tên: Lê Thị Bích Tâm

Sinh ngày: 27 tháng 11 năm 1995

Nơi sinh: Ninh Thuận

Trang 4

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1 Thông tin chung:

- Tên đề tài: Xác định vấn đề và lên kế hoạch hỗ trợ thân chủ là sinh viên khiếm thị đang theo học tại Trường Đại học Thủ Dầu Một

- Sinh viên thực hiện: Lê Thị Bích Tâm

Năm thứ: 2 Số năm đào tạo: 4

- Người hướng dẫn: Th.S Lê Thị Phương Hải

- Tiếp cận và lập hồ sơ thân chủ

- Chẩn đoán và xác định vấn đề thân chủ đang gặp

- Hỗ trợ thân chủ xác định nguồn lực

- Hỗ trợ thân chủ xây dựng kế hoạch giải quyết vấn đề

3 Tính mới và sáng tạo: Đề tài của tôi áp dụng tiến trình công tác xã hội cá nhân để hỗ

trợ thân chủ xác định vấn đề và lên kế hoạch hỗ trợ Tuy đã có các công trình nghiên cứu

về điều này nhưng chưa có nghiên cứu nào hiện nay làm khách thể nghiên cứu là sinh viên, nhất là tại địa bàn trường đại học Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, hầu như chưa có

đề tài nào nghiên cứu Đó là tính mới của nghiên cứu về “Xác định vấn đề và lên kế hoạch hỗ trợ thân chủ là sinh viên khiếm thị đang theo học tại Trường Đại học Thủ Dầu Một”

4 Kết quả nghiên cứu: Dựa vào những thông tin thu thập thập được từ những lần vãng

gia, vấn đàm kết quả cho thấy thân chủ có nhu cầu cao về tinh thần vì các điều kiện về cơ

sở vật chất thân chủ và gia đình có thể đáp ứng được Đặc biệt là nhu cầu khẳng định bản

Trang 5

thân nên từ những nhu cầu cầu này mới nảy sinh những vấn đề ở hiện tại của thân chủ là vấn đề TC không biết cách lập kế hoạch các công việc trong học tập, vấn đề đi lại, di

chuyển, vấn đề khó tiếp xúc với các dịch vụ công cộng hay nhận thức còn chưa đúng Qua

trao đổi với thân chủ và dựa vào bảng xếp hạng vấn đề ưu tiên thì điều mà thân chủ quan tâm bây giờ là việc lập kế hoạch các công việc trong học tập để có thể học tốt và ra trường đúng thời hạn Nguyên nhân là do khi học bài và lên kế hoạch ôn thi TC không kiểm soát

và sắp các công việc hợp lý và thời gian rõ ràng nên không hoàn thành được mục tiêu ban đầu đã đặt ra Nguồn lực gia đình và bạn bè sẽ hỗ trợ rất lớn cho TC thực hiện kế hoạch

đã đề ra mà không bỏ dỡ giữa chừng Đây đều là những nguồn lực gần gủi và có thể hỗ trợ TC bất cứ khi nào vì thế ta sẽ tận dụng tất cả và cho TC nắm được để có thể sử dụng đúng lúc nếu sau này gặp những vấn đề khác cần hỗ trợ thì đây sẽ là những nguồn lục tiềm năng Bên cạnh đó nghiên cứu còn đưa ra được kế hoạch trị liệu cho thân chủ

5 Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội,giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và khả năng áp dụng của đề tài:

5.1 Sản phẩm:

- Có thể gửi bài cho báo tỉnh hay tạp chí của trường để mọi người có thể hỗ trợ thân chủ và gia đình nhiều hơn để giải quyết vấn đề tốt hơn

5.2 Khả năng ứng dụng:

- Đề tài có thể là nguồn tài liệu tham khảo cho Nhà trường trong việc hỗ trợ cho

sinh viên là người khuyết tật, giúp họ hội nhập tốt hơn vào môi trường học tập và sinh hoạt ở Trường

6 Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài

Ngày 29 tháng 5 năm 2016

Sinh viên chịu trách nhiệm chính

thực hiện đề tài

(ký, họ và tên)

Trang 6

Danh sách các thành viên tham gia nghiên cứu đề tài:

1 Lê Thị Bích Tâm

- Lớp: D13XH01 Khoa: Công tác xã hội

- Năm sinh: 27/11/1995 Giới tính: Nữ

- Nơi sinh: Ninh Thuận

ĐT:01663963009 Email : tamruagia@gmail.com

Trang 7

LỜI CẢM ƠN

Không có công việc nào mà không cần đến sự hỗ trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác Trong suốt thời gian từ khi tham gia nghiên cứu khoa cho đến nay, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý thầy cô trong khoa Công tác xã hội và bạn bè xung quanh Vì vậy tôi xin gửi lời tri âm, cảm ơn sâu sắc đến những người đã giúp tôi hoàn thành thật tốt đề tài này

Lời đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo nhà trường đã tạo điều kiện cho sinh viên nói chung và tôi nói riêng có cơ hội tham gia nghiên cứu khoa học cấp trường Qua

đó tạo điều kiện cho tôi có thể học tập và thực hành được kiến thức đã được học nhằm trải nghiệm kiến thức để có những kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công việc sau này

Tôi xin chân thành cảm ơn cô Lê Thị Phương Hải đã tận tâm hướng dẫn, động viên tinh thần và chỉ bảo hết lòng cho tôi Cám ơn cô đã truyền dạy cho tôi những kinh nghiệm thật

sự rất hữu ích và quý báu Nếu không có sự hướng dẫn của hầy thì tôi đã không thể hoàn thành được đề tài này Chân thành cảm ơn thầy rất nhiều!

Xin gửi lời cảm ơn đến bạn P và những bạn sinh viên lớp Toán, gia đình P đã dành thời gian quý báu của mình tham gia phỏng vấn để cung cấp thông tin cho tôi

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 8

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của riêng tôi và chưa có ai công bố trước

đó Các thông tin thu thập có được từ kết quả nghiên cứu của tôi với thân chủ và gia đình

thân chủ cũng như một số bạn sinh viên lớp toán cung cấp

Trang 9

MỤC LỤC

Phần 1: Mở đầu………13

I Lý do chọn đề tài……….13

II Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu………….14

1 Đối tượng nghiên cứu……….14

2 Khách thể nghiên cứu……….14

3 Phạm vi nghiên cứu………14

3.1 Về mặt không gian………14

3.2 Về mặt thời gian……… 14

3.3 Về mặt nội dung………14

III Mục tiêu nghiên cứu……….15

1 Mục tiêu chung……… 15

2 Mục tiêu cụ thể……… 15

IV Phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật nghiên cứu………15

1 Phương pháp nghiên cứu………15

1.1 Phương pháp Công Tác Xã Hội cá nhân……….15

2.Kỹ thuật nghiên cứu………16

2.1 Quan sát………16

2.2 Vấn đàm………17

2.3 Vãng gia………17

2.4 Kỹ năng lắng nghe……… 18

2.5 Phân tích SWOT……….18

2.6 Vẽ cây vấn đề……… 18

2.7 Vẽ sơ đồ phả hệ……….18

Trang 10

2.8 Vẽ sơ đồ sinh thái………19

2.9 Bảng xếp hạng vấn đề ưu tiên theo cặp đôi……….19

V.Thuận lợi và hạn chế khi thực hiện đề tài……… 19

1 Thuận lợi khi thực hiện đề tài……….19

2 Hạn chế khi thực hiện đề tài……… 20

VI.Ý nghĩa đề tài nghiên cứu……… 20

Phần 2: Kết quả nghiên cứu ………21

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN I.Tổng quan tình hình nghiên cứu ………21

1 Thực trạng về người khuyết tật………21

2 Nhận thức, thái độ của cộng đồng về NKT………27

3 Một số trường hợp điển cứu trong CTXH………29

3.1 Trường hợp điển cứu 1………29

3.2 Trường hợp điển cứu 2………30

3.3 Trường hợp điển cứu 3………30

II Quan điểm lý thuyết vận dụng………31

1 Lý thuyết nhận thức của Albert Ellis………31

2.Thuyết nhu cầu của Maslow ………31

3.Lý thuyết hệ thống sinh thái ………33

4 Lý thuyết của Mackelprang và Salsgiver về các giai đoạn phát triển của đời người….34 III Các khái niệm liên quan………34

1.Khuyết tật………35

2 Khiếm thị………35

Trang 11

3 Sinh viên………35

4 CTXH ……… 36

Chương 2: THIẾT LẬP QUAN HỆ VÀ XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ CỦA THÂN CHỦ I.Thiết lập mối quan hệ với thân chủ……….38

II Xây dựng Hồ sơ thân chủ……… 38

1.Thông tin cá nhân của các thành viên trong gia đình TC………38

2.Xác định vấn đề của thân chủ……… 45

2.1 Nhu cầu của thân chủ……….48

2.2 Các vấn đề của thân chủ và xác định vấn đề ưu tiên ………54

3 Xác định nguồn lực liên quan đến vấn đề của thân chủ………55

3.1Cây vấn đề………55

3.2 Phân tích SWOT……… 58

3.3 Đánh giá năng lực giải quyết vấn đề của TC………59

CHƯƠNG 3: LẬP KẾ HOẠCH CAN THIỆP I.Xác định mục tiêu can thiệp………62

1.Mục tiêu hỗ trợ thân chủ tự giải quyết vấn đề………63

Bảng kế hoạch trị liệu……….66

PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ I KẾT LUẬN………74

II KHUYẾN NGHỊ……….76

Tài liệu tham khảo……….77

Phần phụ lục……… 79

Trang 13

Phần 1: Mở đầu

I Lý do chọn đề tài

Hiện nay, người khuyết tật là nhóm yếu thế gặp nhiều khó khăn trong quá trình hội nhập vào cuộc sống cộng đồng Đặc biệt là người khiếm thị họ khó khăn về việc tiếp cận thông tin về các chính sách, tiếp cận giao thông và tiếp cận cơ sở vật chất Người khiếm thị khó có thể tiếp cận trường lớp vì thiếu giáo trình (phần mềm đọc chữ, chữ nổi, ) và chưa có phương pháp giảng dạy phù hợp Các tài liệu, tư liệu, sách hiện nay còn hạn chế, lại kém đa dạng về nội dung, chủ đề nên chưa đáp ứng được nhu cầu của họ[5] Đây

là một thực tế mà chúng ta cần phải nhìn nhận và thay đổi để tạo cơ hội hòa nhập cho những đối tượng yếu thế trong xã hội

Ngày 13/12/2006, Đại hội đồng Liên hiệp quốc chính thức thông qua Nghị quyết về Công ước Quốc tế về các quyền của người khuyết tật, Việt Nam là thành viên thứ 118 tham gia ký Công ước năm 2007 Và từ đó đến nay, Việt Nam đã triển khai nhiều chiến lược hành động ở các cấp độ khác nhau nhằm theo đuổi mục tiêu “Xóa bỏ rào cản để tạo

ra một xã hội hòa nhập và tiếp cận cho tất cả” Theo báo cáo năm 2011 của WHO, trên 1

tỷ người có dấu hiệu khuyết tật, chiếm 15% dân số thế giới, tỷ lệ này đang có xu hướng gia tăng đặc biệt đối với các quốc gia chậm phát triển và phát triển trong đó có Việt Nam [10] Qua đó cho thấy tỷ lệ người khuyết tật đang ngày càng tăng nếu không có biện pháp

hỗ trợ phù hợp thì đây sẽ là một vấn đề gây khó khăn cho sự phát triển đất nước.Và tỉnh Bình Dương - một trong những tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, phát triển công nghiệp năng động của cả nước cũng không ngoại lệ số lượng người khuyết tật là trên 23.500 người [19] Trong giai đoạn Bình Dương cùng cả nước đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hóa thì vấn đề giáo dục, đào tạo, dạy nghề và nhất là các cơ hội tiếp cận các hoạt động, dịch vụ nhằm nâng cao năng lực, tạo thuận lợi cho việc hội nhập đời sống của người khuyết tật là khâu quan trọng Việc hỗ trợ, xây dựng kế hoạch trợ giúp cho người khuyết tật giữ nhiệm vụ to lớn giúp Bình Dương phát triển kinh tế bền vững, chung tay thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội của đất nước

Trang 14

Với đặc thù “Công tác xã hội với NKT là một hoạt động chuyên nghiệp của NVCTXH giúp đỡ những NKT nhằm tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ, huy động nguồn lực và xác định các dịch vụ cần thiết để hỗ trợ NKT, gia đình, cộng đồng triển khai hoạt động chăm sóc trợ giúp họ một cách hiệu quả, vượt qua những rào cản, đảm bảo sự tham gia đầy đủ vào các hoạt động xã hội trên nền tảng sự công bằng như những người khác trong xã hội” [5] Cho nên, việc áp dụng cách tiếp cận các phương pháp Công tác xã hội trong việc phát hiện và đề xuất kế hoạch can thiệp đối với những vấn đề của người khuyết tật là cần thiết trong bối cảnh hiện nay Đặc biệt trường đại học Thủ Dầu Một có khá ít sinh viên khuyết tật nên sự hỗ trợ chưa được chú trọng Vì thế tôi muốn làm một nghiên cứu để xem những sinh viên khuyết tật họ gặp đang những khó khăn gì và cùng họ giải quyết vấn đề Do đó, tôi đã chọn một trường hợp

là khách thể bị khuyết tật thị giác với đề tài: “Xác định vấn đề và lên kế hoạch hỗ trợ thân

chủ là sinh viên khiếm thị đang theo học tại Trường Đại học Thủ Dầu Một”

II Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu:

1 Đối tượng nghiên cứu: “Xác định vấn đề và lên kế hoạch hỗ trợ thân chủ là sinh viên

khiếm thị đang theo học tại Trường Đại học Thủ Dầu Một”

2 Khách thể nghiên cứu: Nghiên cứu một trường hợp thân chủ là sinh viên khiếm thị

đang học sư phạm tại trường đại học Thủ Dầu Một

3.Phạm vi nghiên cứu:

3.1 Về mặt không gian

+ Trường đại học Thủ Dầu Một

+ Nhà trọ của thân chủ gần cổng 4 trường đại học Thủ Dầu Một, khu phố 5, phường Phú Hòa, tỉnh Bình Dương

+ Nhà của TC: 123- ấp Đất Đỏ-xã An Lập-huyện Dầu Tiếng-tỉnh Bình Dương

3.2 Về mặt thời gian: 6 tháng

Giới hạn từ tháng 9 năm 2015 đến tháng 3 năm 2016

Trang 15

3.3 Về mặt nội dung: Đề tài hướng đến việc xác định vấn đề và lên kế hoạch hỗ trợ thân chủ là sinh viên khiếm thị đang theo học tại Trường Đại học Thủ Dầu Một

III Mục tiêu nghiên cứu

1 Mục tiêu chung: Áp dụng tiến trình CTXH cá nhân để hỗ trợ thân chủ xác định vấn đề

và lên kế hoạch giải quyết vấn đề thân chủ đang gặp

2 Mục tiêu cụ thể

- Tiếp cận và lập hồ sơ thân chủ

- Chẩn đoán và xác định vấn đề thân chủ đang gặp

- Hỗ trợ thân chủ xác định nguồn lực

- Hỗ trợ thân chủ xây dựng kế hoạch giải quyết vấn đề

IV Phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật nghiên cứu

1 Phương pháp nghiên cứu

1.1 Phương pháp Công Tác Xã Hội cá nhân

Khái niệm: TheoNguyễn Thị Oanh (1998): “CTXH cá nhân là một phương pháp

can thiệp (của CTXH) quan tâm đến những vấn đề về nhân cách mà một thân chủ cảm nghiệm Mục đích của CTXHCN là phục hồi, củng cố và phát triển sự thực hành bình thường của chức năng xã hội của cá nhân và gia đình”

CTXH cá nhân trước hết được khẳng định như là một phương pháp chuyên nghiệp được các nhân viên xã hội sử dụng để hỗ trợ cá nhân vượt qua khó khăn trong việc thực hiện các chức năng xã hội của họ Với phương pháp này, nhân viên xã hội can thiệp giải quyết vấn đề của cá nhân trong mối quan hệ tương tác với môi trường xã hội của cá nhân

đó [2]

Tiến trình CTXH cá nhân

Giai đoạn 1: Tiếp cận TC-Thu thập thông tin ban đầu

Đây là giai đoạn quan trọng vì thế cần tạo lập được mối quan hệ tin tưởng với TC Bước này sẽ quyết định đến hiệu quả của những bước sau Những thông tin cần thu thập gồm: Thông tin cơ bản về nhân thân, tình trạng sức khỏe thể chất, mức độ ổn định trong

Trang 16

kiểm soát hành vi, nhận thức, cảm xúc, các mối quan hệ, bối cảnh, môi trường sống, lược

sử các vấn đề cơ bản của TC

Giai đoạn 2: Nhận diện các vấn đề và chuẩn đoán

Sinh viên cần nhận diện được vấn đề của TC, trên cơ sở đó sẽ thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau như: hàng xóm, bạn bè, người thân, Sau đó sinh viên thực hiện chuẩn đoán, phân tích đầy đủ nhất vấn đề của TC

Giai đoạn 3: Lập kế hoạch can thiệp

NVXH cùng TC lập kế hoạch trị liệu Sự lựa chọn mục đích, mục tiêu hoàn toàn phụ thuộc vào: sự mong muốn của TC, nguồn lực hỗ trợ mang tính khả thi, phạm vi, chức năng của tổ chức cung cấp dịch vụ, sự góp ý và phê duyệt của cơ sở và giáo viên hướng dẫn Kế hoạch cần cụ thể và chi tiết với những tiêu chí lượng giá rõ ràng

Giai đoạn 4: Can thiệp

Giai đoạn 5: Lượng giá và kết thúc [21]

Nghiên cứu sẽ sử dụng tiến trình CTXH cá nhân để xác định và lên kế hoạch hỗ trợ cho TC, nhưng đề tài chỉ dừng lại ở bước lập kế hoạch giúp đỡ vì sự hạn chế về mặt thời gian và kinh nghiệm của người nghiên cứu Sử dụng phương pháp này không chỉ dừng lại

ở TC mà còn bao gồm cả gia đình TC vì nhiều vấn đề bắt nguồn từ gia đình và gia đình cũng có thể giúp đỡ TC

2.Kỹ thuật nghiên cứu

2.1 Quan sát

Phương pháp quan sát giúp ta có thể xem xét các hành vi, cử chỉ, nét mặt, điệu bộ,…để nhận biết những diễn biến tâm lý, những suy nghĩ của TC giao tiếp nhằm thu thập thông tin, để khẳng định tính xác thực của thông tin và hiểu chính xác TC Thông qua quan sát

sẽ giúp cho NV CTXH có được nhiều thông tin và bằng chứng hữu ích giúp đánh giá vấn

đề của TC chính xác và giúp cho việc hỗ trợ, xây dựng kế hoạch giúp đỡ hiệu quả hơn [21]

Trang 17

Phương pháp này được áp dụng trong suốt tiến trình can thiệp Vận dụng phương pháp quan sát đề tài sẽ ứng dụng để:

- Quan sát TC: Trang phục, biểu hiện qua nét mặt, cử chỉ, điệu bộ, tư thế, phản ứng

và phong cách của TC, mối quan hệ của TC

- Quan sát môi trường sống: tất cả những gì xung quanh TC

Quan sát quá trình TC thực hiện các hoạt động để thấy sự thay đổi của TC từ lúc bắt đầu can thiệp, trong suốt quá trình và kết thúc

2.2 Vấn đàm

Khái niệm: “Vấn đàm hay còn được gọi là phỏng vấn Vấn đàm trong CTXH là một

cuộc đối thoại / trao đổi trực tiếp giữa NVXH với một hay nhiều người để thu thập thông tin, cung cấp thông tin nhằm đưa ra cách can thiệp, hỗ trợ đối tượng Như vậy Vấn đàm trong CTXH cá nhân là cuộc phỏng vấn, trao đổi thông tin hay bàn thảo về cách giải quyết vấn đề cho cá nhân đối tượng” [1]

Phương pháp vấn đàm sẽ được ứng dụng để thu thập thông tin: Đối tượng, gia đình đối tượng, môi trường xung quanh, tìm nguồn lực hỗ trợ đối tượng giải quyết vấn đề

Quá trình vấn đàm là quá trình trao đổi thông tin 2 chiều NVXH nhận thông tin từ thân chủ và cung chia sẻ các thông tin khác về mình vai trò NVXH, chức năng cơ sở hoặc các dịch vụ hỗ trợ khác …Thông tin thu thập cần được phân tích và nối kết để hình thành bức tranh rõ ràng về vấn đề của TC đang gặp phải và hướng giải quyết

2.3 Vãng gia

Khái niệm: Vãng gia là hoạt động thăm gia đình có mục đích giúp NVXH thu thập

thông tin, phân tích vấn đề, lên kế hoạch và can thiệp giúp đỡ Vãng gia là phương pháp

đề cao hoạt động cùng làm, cùng nói chuyện và cùng suy ngẫm của NVXH với các thành viên trong gia đình [1]

Nghiên cứu của chúng tôi thường xuyên sử dụng kỹ năng này để có thể thu thập thông tin một cách đầy đủ và chính xác đồng thời xác nhận lại các thông tin thu thập được và thực hiện các công cụ hỗ trợ cần thiết Chúng tôi ứng dụng phương pháp này để:

Trang 18

-Thu thập thông tin: Về TC và gia đình TC

-Vẽ sơ đồ phả hệ, sơ đồ sinh thái và lập bảng xếp hạng vấn đề ưu tiên

-Thu thập và xác nhận lại các thông tin từ bạn bè, người thân, hàng xóm

Một mặt có thể tạo mối quan hệ tốt đẹp với TC và gia đình mặt khác có thể xác minh lại các thông tin cũng như bổ sung những điều còn thiếu trong quá trình thu thập thông tin

1.4 Kỹ năng lắng nghe

Lắng nghe trong giao tiếp hằng ngày là quá trình im lặng, tập trung để thu nhận được

âm thanh mang thông tin trong đó Nhưng lắng nghe trong CTXH không đơn thuần là sử dụng giác quan, mà NVXH phải lắng nghe TC bằng cả tâm hồn NVXH chỉ có thể hiểu được TC khi họ biết lắng nghe một cách tích cực[21]

Đây là một kỹ năng quan trọng nên người nghiên cứu cực kỳ quan tâm và sử dụng kỹ năng này xuyên suốt quá trình làm việc với đối tượng

2.5 Phân tích SWOT

Phân tích SWOT là một công cụ hữu dụng được sử dụng nhằm hiểu rõ điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ của TC Thông qua phân tích SWOT, người nghiên cứu sẽ nhìn rõ mục tiêu của mình cũng như các yếu tố trong và ngoài của TC có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực tới mục tiêu mà người nghiên cứu đề ra Trong quá trình xây dựng

kế hoạch hỗ trợ, phân tích SWOT đóng vai trò là một công cụ căn bản nhất, hiệu quả cao giúp ta có cái nhìn tổng thể để có thể tìm nguồn lực hỗ trợ phù hợp với TC

Trang 19

vấn đề Bên cạnh đó cũng có thể xác định những đối tượng gây cản trợ hoặc là nguyên nhân dẫn đến khó khăn, vấn đề của TC

2.8 Vẽ sơ đồ sinh thái

Sơ đồ sinh thái giúp người nghiên cứu xác định được các mối quan hệ của TC với môi trường xung quanh như bạn bè, thầy cô, họ hàng, người thân, các tổ chức, câu lạc bộ, chính sách, Qua đó có thể đánh giá và phân tích các nguồn lực hỗ trợ TC phù hợp nhất đối với TC

Ngoài ra nghiên cứu còn sử dụng một số kỹ năng khác như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng đặt câu hỏi, kỹ năng thu hút sự tham gia và sử dụng công cụ bảng xếp hạng ưu tiên để xác định vấn đề của TC

2.9 Bảng xếp hạng vấn đề ưu tiên theo cặp đôi

Dựa vào các vấn đề của TC qua quá trình thu thập và đánh giá thông tin, chúng ta sẽ cùng TC lập bảng theo các vấn đề mà TC đang gặp phải để xác định đâu là vấn đề cấp thiết và quan trọng nhất để lên kế hoạch hỗ trợ phù hợp

V.Thuận lợi và hạn chế khi thực hiện đề tài

1.Thuận lợi khi thực hiện đề tài

- Có thể dễ dàng tìm hiểu nhiều thông tin về TC đồng thời nhận được sự hỗ trợ cần thiết trong thời gian nghiên cứu

- TC là sinh viên nên dễ dàng trao đổi và làm việc với nhau TC rất nhiệt tình tham gia, tạo mọi điều kiện để người nghiên cứu hoàn thành đề tài

- Địa bàn là trường đại học Thủ Dầu Một là trường mà người nghiên cứu đang theo học nên dễ dàng tiếp cận TC và thực hiện đề tài

- Tiếp cận được với các phương pháp trong Công tác xã hội, các kỹ năng cần thiết khi làm việc với TC như phương pháp CTXH cá nhân, các kỹ năng lắng nghe, tham vấn, thấu cảm, quan sát,…

2.Hạn chế của đề tài

- Nhà của TC ở Dầu Tiếng nên khó khăn trong việc di chuyển để vãng gia

- Bản thân người nghiên cứu: Kinh nghiệm và kỹ năng còn hạn chế

Trang 20

- Người nghiên cứu ít có cơ hội tiếp cận với các tài liệu liên quan vì thế gây khó khăn trong việc tìm kiếm thông tin liên quan đến đề tài

VI.Ý nghĩa đề tài nghiên cứu

Nghiên cứu này giúp sinh viên thực hiện hiểu rõ hơn về các bước thực hiện trong tiến trình CTXH cá nhân Qua đó, sinh viên có cơ hội áp dụng những kiến thức được học vào thực tế Đề tài có thể là nguồn tài liệu tham khảo cho Nhà trường trong việc hỗ trợ cho sinh viên là người khuyết tật, giúp họ hội nhập tốt hơn vào môi trường học tập và sinh hoạt ở Trường

Trang 21

Phần 2: Kết quả nghiên cứu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

I.Tổng quan tình hình nghiên cứu

1 Thực trạng về người khuyết tật

Theo Báo cáo thế giới về NKT của WHO và WB năm 2011, Hiện nay trên thế giới có khoảng hơn 1 tỷ NKT (trong số 6,9 tỷ người) có khiếm khuyết, con số này tương đương với khoảng 15% dân số thế giới và có khoảng 110-190 triệu người có khó khăn về thực hiện chức năng Tỷ lệ NKT ngày càng có xu hướng gia tăng và đặc biệt ở các quốc gia chậm phát triển lại có tỷ lệ khuyết tật cao hơn ở các quốc gia phát triển, khuyết tật phổ biến hơn ở nữ giới, người già, và người nghèo Như vậy, cứ 7 người thì có 1 người khuyết tật, 80% trong số họ sinh sống tại các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam) [10] Ước tính mỗi năm có thêm gần 10 triệu NKT và dự báo đến năm 2035 số NKT thế giới sẽ lên tới 667 triệu người Số liệu thống kê tại một số quốc gia về NKT năm 2009 của Tổ chức Lao động quốc tế cho biết ở Campuchia có khoảng 700 nghìn NKT các dạng, Trung Quốc có 83 triệu người, Ethiopia dao động từ 5 đến 8 triệu người, Kenya có khoảng 3 triệu người, Lào có 400 nghìn người, Thái lan có 2 triệu người, Uranda có 5 triệu NKT [12]

Đặc biệt theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, hiện nay có khoảng 47 triệu người mù và 110 triệu người có thị lực kém trên toàn thế giới, phần đông là ở các nước nghèo đang phát triển Tình hình mù loà ở một số châu lục như sau: Châu Phi tỷ lệ mù loà

từ 0,8% đến 1,4%, Châu Mỹ tỷ lệ mù từ 0,2% đến 0,7% Trung Đông tỷ lệ mù từ 0,6% đến 0,8% , Châu Âu tỷ lệ mù từ 0,2% đến 0,4% Dự đoán con số này vào năm 2020 sẽ tăng lên 75 triệu người khiếm thị, 200 triệu người nhược thị và mỗi năm trên thế giới có khoảng 10 triệu người bị mù do hỏng giác mạc Báo cáo dự thảo Kế hoạch Quốc gia phòng chống mù lòa giai đoạn 2014 – 2019 cho thấy: Hiện trên thế giới có khoảng 314 triệu người mù và thị lực thấp Cứ 5 giây, thế giới có 1 người bị mù, cứ 1 phút có thêm 1 trẻ bị mù, 90% người mù sống ở các nước nghèo và đang phát triển với các điều kiện tiếp cận dịch vụ y tế khó khăn (Việt Nam được xếp trong nhóm các nước này) [14] Số lượng

Trang 22

người mắc các bệnh về mắt đang gia tăng và có nguy cơ dẫn đến mù lòa rất cao Qua các

số liệu thống kê cho thấy tỷ lệ NKT trên thế giới đang ngày càng tăng cao đặc biệt là tại các quốc gia đang phát triển

Theo Báo cáo năm 2011 của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Ngân hàng thế giới (WB) cho biết NKT phần lớn trong số họ là những người nghèo và không tiếp cận được các dịch vụ cơ bản như các trung tâm phục hồi chức năng NKT ít có cơ hội hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe có tới 50% người khuyết tật không thể trang trải cho các dịch

vụ chăm sóc sức khỏe và hơn 100 triệu người khuyết tật là trẻ em [10] 80% NKT tại các nước đang phát triển sống dưới mức nghèo, họ thường tập trung ở khu vực nông thôn và rất hạn chế trong việc tiếp cận với các dịch vụ y tế

Thống kê năm 2010 của Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc (UNDP) tỷ lệ biết chữ của NKT lớn tuổi toàn cầu thấp ở mức 3% và tỷ lệ phụ nữ khuyết tật biết chữ là 1% Liên quan đến tỷ lệ biết chữ theo thống kê của Qũy nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF) hơn 90% trẻ khuyết tật tại các nước đang phát triển không được đến trường Trẻ khuyết tật ít có cơ hội đi học hơn trẻ không khuyết tật đặc biệt tại các quốc gia nghèo tình hình này còn tệ hơn có 10% ở Ấn Độ, 60% ở Indonesia, Bolivia gần 60% trẻ khuyết tật không được đi học

Số liệu thống kê của Tổ chức Liên hợp quốc cho thấy khoảng 470 triệu NKT trên thế giới đang trong độ tuổi lao động, nhưng nếu được tuyển dụng thì đa số họ bị trả lương thấp, triển vọng thăng tiến trong công việc ít và điều kiện làm việc kém NKT vẫn gặp nhiều khó khăn trong tìm kiếm việc làm, tỷ lệ NKT có việc làm thấp và ở các quốc gia chậm phát triển, tình hình còn tồi tệ hơn NKT còn gặp nhiều rào cản, các hạn chế khi tham gia vào các công việc của xã hội[21]

NKT là những đối tượng dễ bị thiệt thòi so với những người không khuyết tật về nhiều mặt như tiếp cận với các dịch vụ y tế, giáo dục và việc làm,… Thế nên cần có những biện pháp can thiệp sớm và hỗ trợ cần thiết để họ có thể hòa nhập với cộng đồng

và đóng góp cho xã hội.Vì thế các quốc qia trên thế giới hiện nay rất chú trọng đến việc

hỗ trợ và tạo điều kiện cho nhóm đối tượng này hòa nhập và phát triển

Trang 23

Dựa trên kết quả cuộc điều tra dân số và nhà ở năm 2009 số người khuyết tật trên phạm vi cả nước là 6,7 triệu người, trong đó 3,6 triệu người là nữ, hơn 5 triệu người sống

ở nông thông và khoảng 1,2 triệu trẻ em khuyết tật Kết quả từ cuộc điều tra này cho thấy

có 7,3% dân số Việt Nam bị khiếm khuyết ít nhất một trong những chức năng sau: thị giác, thính giác, vận động, và tập trung hoặc ghi nhớ và tỷ lệ người khuyết tật ở độ tuổi từ

5 tuổi trở lên chiếm 7,8% dân số tương đương với 6,1 triệu người, trong đó ở khu vực thành thị, tỷ lệ người khuyết tật chiếm khoảng 6,3% và ở nông thôn tỷ lệ này là 8,4% (UNFPA, 2011) [13]

Tính đến năm 2009, cả nước ta có khoảng 1,1 triệu người khuyết tật nặng chiếm khoảng 21,5% tổng số người khuyết tật Cụ thể: 17% khuyết tật tâm thần, 7% khuyết tật ngôn ngữ, 7% liên quan tới trí tuệ Con số này tiếp tục tăng nhanh qua Báo cáo thế giới về người khuyết tật của WHO và WB 2011 Việt Nam hiện có khoảng 6,7 triệu người khuyết tật, chiếm 7,8% dân số [11]

Nghiên cứu Chi phí kinh tế của sống với khuyết tật và kỳ thị ở Việt Nam năm 2011 tìm hiểu về chi phí của khuyết tật và kỳ thị, phân biệt đối xử với người khuyết tật Những phát hiện từ nghiên cứu này đựa trên kết quả khảo sát tại 6 tỉnh tại Việt Nam và 2 đô thị lớn nhất nước ta là thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội cho biết khuyết tật là một thách thức lớn về mặt xã hội ở Việt Nam Tỷ lệ dân số khuyết tật là rất đáng kể 58% người khuyết tật có ít nhất 2 khuyết tật trở lên Tuy nhiên, tỷ lệ dân số khuyết tật dao động theo tỉnh và địa phương Tỷ lệ khuyết tật trong nữ giới (40,2%) cao hơn một chút so với nam giới (36,5%) Khuyết tật chủ yếu là một vấn đề của nhóm người cao tuổi, với tỷ lệ khuyết tật trong nhóm tuổi từ 60 trở lên là 75,1%, và khả năng mắc đa khuyết tật cũng gia tăng theo độ tuổi Khác biệt nông thôn - thành thị là đáng chú ý, với tỷ lệ khuyết tật ở khu vực nông thôn là 39,8%, trong khi ở khu vực thành phố, tỷ lệ này là 33,7% [9]

Đặc biệt tình hình về khiếm thị Việt Nam có khoảng 2 triệu người mù loà có đến 69% số người mù có thể chữa được và 14% có thể phòng ngừa "Mỗi năm, cả nước có thêm khoảng 85.000 người mù cả hai mắt, cũng ngần ấy người mù một mắt do đục thuỷ tinh thể Tuy nhiên, do thiếu phí hỗ trợ nên nhiều người cận nghèo và khuyết tật chưa

Trang 24

được phẫu thuật", phó giáo sư Đỗ Như Hơn, Giám đốc Bệnh viện Mắt Trung ương cho biết tại hội thảo chăm sóc mắt cho người khuyết tật tổ chức tại Hà Nội ngày 10/4

Nghiên cứu Chi phí kinh tế của sống với khuyết tật và kỳ thị ở Việt Nam năm 2011 cho thấy người khuyết tật nhìn chung có sức khỏe kém hơn người không khuyết tật, có tới 42% người khuyết tật tự đánh giá thấp tình trạng sức khỏe của bản thân Tỷ lệ này ở người không khuyết tật chỉ là 8,5% Thế nhưng có tới 40% người khuyết tật hiện không

có bảo hiểm y tế với lý do chính là họ không có đủ tiền để mua bảo hiểm Do đó người khuyết tật và gia đình họ phải chịu các chi phí y tế cao hơn rất đáng kể so với người không khuyết tật Các chi phí này là một gánh nặng về mặt tài chính cho người khuyết tật

và gia đình của họ[9] Và một nghiên cứu khác về Nhu cầu và thực trạng cung cấp dịch

vụ phục hồi chức năng cho người khuyết tật tại một số điểm dân cư vùng Đồng bằng châu thổ Sông Hồng của PGS.TS Trần Trọng Hải thực hiện năm 2007 cho thấy tỷ lệ NKT có nhu cầu can thiệp y tế là 98,6%, khác nhau theo vùng địa lý, tuổi, giới và dạng tật mắc Thứ 2 là tỷ lệ NKT cần can thiệp y tế được tiếp cận với thông tin về dịch vụ can thiệp là 72,7%, chủ yếu từ các cơ sở y tế Tiếp cận thông tin của NKT khác nhau theo loại can thiệp y tế Thứ 3 là khả năng tiếp cận dịch vụ y tế: Tỷ lệ NKT được tiếp cận dịch vụ là 59,7%, khác nhau theo loại can thiệp y tế, vùng địa lý, tuổi và dạng tật mắc Nguyên nhân chưa được tiếp cận dịch vụ: thấy chưa cần thiết, do nơi khám xa, không có người đưa đi

và không có khả năng chi trả Cuối cùng là cung cấp dịch vụ cho người khuyết tật ở tuyến huyện và tỉnh còn yếu và chưa đồng bộ Đầu tư cho nguồn lực thực hiện phục hồi chức năng cho các tuyến hiện còn yếu[6] Bài nghiên cứu đã chỉ ra rất cụ thể và chi tiết thực trạng và nhu cầu cung cấp dịch vụ phục hồi chức năng cho người khuyết tật tại một số điểm dân cư vùng Đồng bằng châu thổ Sông Hồng cho thấy được NKT còn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận với các cơ sở y tế và các dịch vụ phục hồi chức năng Nhưng trong bài viết PGS.TS Trần Trọng Hải chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu các vấn đề của NKT trong dịch vụ y tế mà chưa có sự nghiên cứu trong các lĩnh vực khác Đề tài của chúng tôi không chỉ nghiên cứu trong lĩnh vực tiếp cận y tế mà còn tìm hiểu những khía cạnh liên quan khác như giáo dục, vui chơi, giải trí, sinh hoạt,…không chỉ NKT mà còn

có gia đình họ

Trang 25

Người khuyết tật cũng chịu nhiều thiệt thòi về giáo dục Có tới 10% người khuyết tật chưa bao giờ đến trường, 80% người khuyết tật nặng không được đi học Tỷ lệ hoàn thành bậc học ở tất cả các cấp của người khuyết tật thấp hơn khoảng 20% so với người không khuyết tật [9] Theo thống kê của Quỹ dân số LHQ, tỷ lệ người khuyết tật ở Việt Nam biết chữ chỉ ở mức 73% khu vực thành thị và 63% khu vực nông thôn, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ chung của toàn quốc là 95%

Khoảng 20% người khuyết tật trong độ tuổi lao động không đi làm Đối với người khuyết tật hiện đang làm việc, thu nhập bao gồm cả lương và phụ cấp thấp hơn đáng kể so với người không khuyết tật làm cùng một loại công việc Tương tự như một công bố của ILO, người khuyết tật chiếm khoảng 15% dân số Việt Nam, họ vẫn có khả năng làm việc nhưng chưa có nhiều cơ hội việc làm đối với họ Bà Barbara Murray, chuyên gia đầu ngành về người khuyết tật của ILO nhận định như sau: “Thống kê của ILO cho biết, mỗi năm Việt Nam mất khoảng 3% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) do thị trường lao động hạn chế tiếp nhận người khuyết tật vào làm việc Đây quả thực là một sự lãng phí nguồn nhân lực!” Người khuyết tật bị hạn chế tiếp cận thị trường lao động sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống của bản thân cũng như gia đình họ

Điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009 cũng cho thấy, cứ 4 gia đình có người khuyết tật thì có 1 gia đình sống dưới mức nghèo khổ Hội thảo cũng báo cáo kết quả điều tra cho thấy chi phí kinh tế có liên quan đến khuyết tật là rất đáng kể, bằng từ 8,8% tới 9,8% thu nhập hàng năm của hộ gia đình có người khuyết tật Chi phí kinh tế có liên quan đến khuyết tật thay đổi tùy theo loại khuyết tật Khuyết tật giao tiếp có chi phí kinh tế cao nhất, tiếp theo là khuyết tật về vận động, khuyết tật về ghi nhớ, khuyết tật về nghe, khuyết tật trong tự chăm sóc bản thân Chi phí kinh tế của khuyết tật tăng tỷ lệ thuận với mức độ nặng của khuyết tật Chi phí kinh tế có liên quan đến khuyết tật của hộ gia đình có người khuyết tật nữ cao hơn so với hộ chỉ có nam khuyết tật Chi phí kinh tế có liên quan đến khuyết tật của hộ gia đình có người khuyết tật tại khu vực đô thị cao hơn chi phí kinh tế

có liên quan đến khuyết tật của hộ gia định có người khuyết tật ở khu vực nông thôn Đặc biệt người khiếm thị cũng nằm trong số những đối tượng yếu thế cần được quan tâm, họ cũng gặp nhiều khó khăn trong việc hòa nhập và phát triển Người khiếm thị gặp

Trang 26

không ít khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm phù hợp với bản thân Trong bài báo

“Người khiếm thị ít cơ hội học tập và tìm việc” tác giả có đề cập người khiếm thị được

đến trường đã khó, người khiếm thị tìm được công việc để tự nuôi sống bản thân còn khó hơn Thực trạng về khả năng học văn hóa và học nghề cũng như tìm việc của người khiếm

thị cho thấy cơ hội hòa nhập dành cho họ còn quá ít ỏi[6]

Sinh viên khiếm thị gặp nhiều rào cản ở môi trường đại học, họ phải nỗ lực hòa nhập

và học tập như những sinh viên bình thường dù khả năng tiếp thu của họ hoàn toàn khác Ngoài các vấn đề di chuyển, giáo trình, việc tiếp thu bài giảng có sử dụng thiết bị công nghệ, giảng viên các trường đại học ở nước ta hiện nay không được trang bị kiến thức cơ bản về giáo dục đặc biệt cũng là rào cản đáng kể cho sinh viên khiếm thị [16]

Thạc sĩ Nguyễn Thị Thu Hiền trong hội thảo“Hỗ trợ người khiếm thị học tập và học

nghề” tổ chức sáng 6-12, cho rằng còn nhiều bất bình đẳng trong giáo dục cho người

khiếm thị, trong đó có một khía cạnh là thái độ “thương hại” của giáo viên, sự bao bọc của nhà trường và bệnh thành tích trong giáo dục đã đưa đến kiểu giáo dục dễ dãi, ban phát điểm số, khiến các em và gia đình không đánh giá đúng năng lực học tập, có khi còn

ảo tưởng

Hầu hết người khiếm thị đọc hoặc bằng sách phát thanh có băng ghi âm hoặc sử dụng chữ nổi cho người mù (chữ Braille) nhưng hệ thống đầu sách, tài liệu chữ nổi, sách nói,… hiện nay chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người khuyết tật

Các sách báo, tài liệu dành cho người khiếm thị vừa hạn chế về số lượng, lại kém đa dạng về nội dung, chủ đề Học sinh khiếm thị khi tham gia học tập được nhận sách giáo khoa, sách từ thư viện có chữ nổi và băng ghi âm

Việc tiếp cận thông tin ở người khuyết tật có sự liên hệ chặt chẽ với khả năng tiếp cận

cơ sở vật chất của họ NKT đặc biệt là người khiếm thị tại những khu vực kém phát triển, rất khó khăn để tiếp cận với các nguồn lực vật chất, bao hàm cả việc tiếp cận các phương tiện truyền thông, thông tin, do đó, khả năng tiếp cận với các thông tin khác nhau liên quan đến đời sống của mình đều bị giới hạn[21]

Trang 27

- Hạn chế di chuyển và định hướng được không gian, vị trí của mình đang ở đâu nếu đến nơi khác với nhà của mình

- Khó khăn trong việc thực hiện các chức năng sinh hoạt hàng ngày như tắm rửa, vệ sinh

cá nhân, ăn uống và các công việc khác

- Khó khăn trong việc hòa nhập xã hội

- Khó khăn giao tiếp với mọi người xung quanh

- Thay đổi tâm lý, mặc cảm với mọi người xung quanh [4]

2 Nhận thức, thái độ của cộng đồng về NKT

Quan điểm tôn giáo: Theo đạo Thiên chúa khuyết tật là một biểu hiện của tội lỗi hoặc do

Chúa không hài lòng và là một cơ hội dành cho những người không bị khuyết tật để có được sự cứu rỗi bằng cách giúp đỡ nhưng người khuyết tật, khuyết tật là một sự sai sót của tự nhiên Hay Phật giáo cho rằng NKT được coi là người mắc tội lỗi, do kiếp trước không ăn ở phước đức nên kiếp này bị trừng trời trừng phạt

Quan điểm từ thiện quan niệm rằng NKT như những nạn nhân của thương tật, tùy vào

dạng tật mà người ta không thể đi lại, nói chuyện, học hành hay làm việc Tình trạng khuyết tật bị nhìn nhận như một sự thiếu sót cần phải có sự bù đắp từ người khác và xã hội Chính vì vậy NKT bị xem như những người yếu ớt, đáng thương lúc nào cũng cần sự giúp đỡ của người khác

Quan điểm theo y học NKT là người bị khiếm khuyết một bộ phận của cơ thể và họ là

bệnh nhân cần chữa trị để phục hồi lại các chức năng đó

Và một số quan điểm khác nhưng 3 quan điển trên đây là phổ biến nhất trong xã hội ngày nay Mọi người đều nhìn NKT là những người không bình thường, đáng thương, không làm được gì luôn cần sự giúp đỡ từ người khác nên họ có thái độ thương hại, coi thường và kỳ thị NKT Đây chính là một rào cản lớn khiến NKT khó hòa nhập vào cộng đồng

Một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng mức độ kỳ thị đối với người khuyết tật là rất lớn

và cần được xã hội quan tâm Năm 2011 nghiên cứu cho thấy kỳ thị liên quan đến người

Trang 28

khuyết tật là rất phổ biến và có những tác động tiêu cực nghiêm trọng đến cuộc sống của người khuyết tật Tỷ lệ người khuyết tật bị kỳ thị cao nhất là trong nhóm có khuyết tật giao tiếp (95,5%), khuyết tật ghi nhớ (81,4%) và khuyết tật trong tự chăm sóc bản thân (80,1%) Trong đó, người khuyết tật trong nhóm có độ tuổi trẻ thường hay bị kỳ thị nhiều hơn người khuyết tật trong nhóm độ tuổi cao; người khuyết tật có trình độ học vấn càng cao thì càng ít bị kỳ thị; người khuyết tật trong nhóm nghèo nhất phải chịu nhiều kỳ thị nhất; phụ nữ khuyết tật bị kỳ thị nhiều hơn so với nam khuyết tật Báo cáo cũng nêu rõ,

kỳ thị làm tăng rất đáng kể chi phí kinh tế có liên quan đến khuyết tật Nếu kỳ thị được loại bỏ thì sẽ giảm được 19,5% đến 31,6% sự khác biệt về thu nhập giữa hộ gia đình có người khuyết tật và hộ gia đình không có người khuyết tật

Nghiên cứu đã chứng minh được kỳ thị là nguyên nhân chính hạn chế các cơ hội sống của người khuyết tật và làm trầm trọng thêm tình trạng nghèo đói của họ Ví dụ, kỳ thị là nguyên nhân chính của 19% những bất công đối với học sinh khuyết tật trong nhà trường,

từ chối hôn nhân của 16% người khuyết tật, từ chối nhận việc làm của 25% công nhân khuyết tật, và loại trừ khỏi các hoạt động cộng đồng của 30% người khuyết tật Một số lý

do chính của kỳ thị là quan niệm phổ biến của hơn 70% người được hỏi coi những người khuyết tật là “không bình thường”, hay họ phải “trả giá” cho những “lỗi lầm” mà họ đã phạm phải trong “các kiếp trước”[9] Nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ chồng chất giữa khuyết tật, kỳ thị và nghèo đói và chứng minh rằng tồn tại vòng tròn tác động qua lại giữa khuyết tật, kỳ thị và nghèo đói Đề tài đã đưa ra các lập luận chắc chắn rằng việc nhận thức về chi phí kinh tế thêm cho khuyết tật là một bước cơ bản hướng tới giảm các yếu tố của việc loại trừ xã hội đối với người khuyết tật và các chương trình hòa nhập và chống lại phân biệt đối xử có thể làm được, do đó đồng thời giảm cả khuyết tật và nghèo đói Nghiên cứu chưa đề cập đến các vấn đề mà NKT gặp phải trong gia đình, sinh hoạt hằng ngày, tiếp cận thông tin,…cũng như cách hỗ trợ, giải quyết cho họ và gia đình và cuộc nghiên cứu này không có địa bàn tỉnh Bình Dương Trong đề tài chúng tôi chỉ nghiên cứu

về một trường hợp là sinh viên bị khiếm thị và thực hiện tại Bình Dương để có thể tìm hiểu sâu hơn vấn đề mà NKT nói chung và người khiếm thị nói riêng đang gặp phải để có thể hỗ trợ TC và lên kế hoạch hỗ trợ phù hợp Nghiên cứu của chúng tôi sẽ đi vào từng vấn đề cụ thể và tìm cách hỗ trợ giải quyết chứ không dừng lại ở việc mô tả

Trang 29

Cũng nghiên cứu về thái độ và hành vi của mọi người với NKT một báo cáo về Trẻ khuyết tật và Gia đình Trẻ khuyết tật tại Đà Nẵng có tên “Kiến Thức - Thái Độ - Hành Vi” được thực hiện vào tháng 11/2009 cho ta thấy kiến thức, thái độ và hành vi của trẻ khuyết tật và gia đình trẻ; quan niệm của cộng đồng đối với trẻ khuyết tật và vai trò của các ban ngành đoàn thể (khối chính phủ và phi chính phủ) trong lĩnh vực này Bên cạnh

đó nghiên cứu cũng đề cập đến những khó khăn của trẻ khuyết tật và gia đình cho ta thấy một cái nhìn toàn diện hơn về nhận thức của xã hội về trẻ khuyết tật và gia đình trẻ phải đối mặt như bị bêu xấu, xem thường, không chăm sóc tốt được cho con, tâm lý của các bậc cha mẹ có con khuyết tật Nghiên cứu đã cho thấy 85% người được khảo sát thừa nhận rằng mình đã ít nhất một lần giúp đỡ trẻ khuyết tật Tuy nhiên, những hành động đề cập không thể coi là một sự hỗ trợ thật sự theo nghĩa hòa nhập xã hội: cho trẻ tiền, giúp trẻ nơi công cộng, trò chuyện với trẻ Lý do chính của việc không giúp nhiều hơn được cho là vì không có tiền (68%), cũng không biết giúp như thế nào (59%) và không có thời gian (37%) 20% đề cập tới sự phân biệt của cộng đồng với trẻ khuyết tật hay thành kiến của chính họ về trẻ khuyết tật [8]

Cuộc nghiên cứu đã cung cấp cho ta một cái nhìn toàn diện về trẻ khuyết tật và gia đình trẻ nhưng nghiên cứu chỉ được thực hiện ở Đà Nẵng và đối tượng là trẻ khuyết tật và chưa nghiên cứu được những khó khăn, rào cản mà NKT nói chung phải đối diện ngoài

xã hội như việc làm, y tế, giáo dục, vui chơi, giải trí,…Đề tài của cúng tôi sẽ bổ sung những vấn đề còn thiếu sót đó và kế thừa những thành quả mà nghiên cứu mang lại trong tiếp cận và xác định vấn đề, hỗ trợ TC và gia đình

3 Một số trường hợp điển cứu trong CTXH

Một trong những nguyên tắc của ngành CTXH là bảo mật thông tin cho TC nên có rất

ít nghiên cứu về trường hợp được công bố Và đây là một trong những trường hợp điển cứu mà chúng tôi tìm được trong quyển Công tác xã hội cá nhân của tác giả Grace Mathew được Lê Chí An dịch để làm nền tảng kiến thức cũng như tham khảo trong quá trình hỗ trợ và lên kế hoạch cho TC

Trường hợp điển cứu 1: Trường hợp của Renu là một cô gái mù lòa, đã đậu cấp ba và

thường đạt được điểm cao Cô ta sống trong một cơ sở dành cho NKT trong thời gian đi

Trang 30

học Cô luôn mong muốn được học tại một trường đại học và cô tìm đến NVXH để xin giúp đỡ NVXH đã đề xướng hành động trên một số lĩnh vực và phác họa kế hoạch tương lai cùng với TC Bên cạnh đó NVXH còn thăm dò tài nguyên hỡ trợ tài chính, đưa ra các

sự lựa chọn giúp cô quyết định theo đuổi một nghề nào đó, lựa chọn kỹ càng một trường

để theo học và tìm kiếm các phương tiện để sinh hoạt trong ký túc xá và liên hệ với những giáo viên có năng lực để hỗ trợ cô Sự hỗ trợ của NVXH rất cần thiết trong việc giúp TC đối phó với các tình huống khó khăn và có cái nhìn tích cực hơn [3] Trường hợp này giúp người nghiên cứu nắm được các cách để lập một kế hoạch hỗ trợ cho TC như cùng TC lên một kế hoạch tương lại có sự đánh giá các thuận lợi, rủi ro để TC lựa chọn co phù hợp Bên cạnh đó cần xác định được các nguồn tài nguyên để hơ trợ cho TC

Trường hợp điển cứu 2: Trường hợp của Thomas một cậu bé bị mù một phần đang ở

trong một cơ sở dành cho người mù Cậu ta được ghi nhận là một vấn đề của các trẻ nam

ở cơ sở do cậu không chịu học chữ nổi Braille Sau vài lần gặp gỡ và tiếp xúc và với những phương pháp kỹ năng NVXH đã có thể thấy được gốc rễ của vấn đề Sự phản đối học chữ nổi của cậu ta là do cậu không thể chấp nhận sự thật là thị giác của mình ở dưới mức bình thường và mình là người mù không học hành gì được Vì thế NVXH lên một kế hoạch hỗ trợ hướng đến việc giúp cậu ta chấp nhận sự thật và thay đổi nhận thức, hành vi của mình[3] Chúng tôi học được từ trường hợp này cách xác định vấn đề của TC chỉ có nhìn ra vấn đề ẩn sâu bên trong và phải sử dụng đúng các lý thuyết áp dụng phù hợp để hỗ trợ TC thay đổi nhận thức và hành vi chưa đúng về những hành vi tích cực Lập một kế hoạch phù hợp với hoàn cảnh và nhận thức, tâm lý của TC và phải làm cho TC nhận ra vấn đề của mình Vì đôi khi TC không nghĩ là mình đang gặp vấn đề đó như ví dụ trên vì vậy ta cần tham vấn và trợ giúp, giải thích để TC nhận ra thế mới có thể có một kế hoạch đúng và tốt nhất cho TC

Trường hợp điển cứu 3: Trường hợp của Lalitha một cô gái 15 tuổi bị bại liệt vì lao cột

sống Cô đã 10 lần vào bệnh viện để điều trị trước tuổi 15, từ khi 12 tuổi cô đã liên tục điều trị bệnh trong bệnh viện nhi đồng Vì thời gian nằm viện dài nên cha, mẹ cô rút ra kết luận rằng Lalitha không có khả năng phục hồi và không thể sống ngoài bệnh viện được Nếu ngày nào đó cô xuất viện thì cha mẹ cô nghỉ rằng nhà họ không phải là nơi tốt

Trang 31

nhất cho cô Họ kết luận rằng tốt nhất nên cho cô vào một cơ sở dành cho người tàn tật và

họ ngưng thăm viếng Lalitha ở bệnh viện và điều này càng làm cho cô có những suy nghĩ tiêu cực rằng mình là người thừa và tàn phế Cảm giác này ngày càng tăng lên khi sự từ

bỏ không được che đậy của người cha và thể hiện trước mặt cô Người cha luôn cho rằng mình vô dụng không chăm sóc và bảo về được cho con nên ông khăng khăng muốn đưa

cô vào một cơ sở nuôi dưỡng Người mẹ thì không thể đến thăm vì bà sống ở quê rất xa thành phố Lalitha rất buồn và đau khổ và cô phản ứng lại với những sự bỏ bê ấy là những cơn giận dữ thường xuyên, NVXH đã luôn ở bên cạnh cô dù cô đang trong trạng thái xấu hay nóng giận Bằng những liệu pháp hỗ trợ tâm lý NVXH đã giúp cô vượt qua những cơn khủng hoảng để tiếp tục điều trị Đồng thời NVXH cũng tìm đến người cha và cố gắng làm sống lại tình cảm cha con giữa hai người Dần dần đã thay đổi được nhận thức

và thái độ của người cha và ông ta bắt đầu đi thăm con gái ở bệnh viện, kết quả là Lalitha

đã thay đổi thái độ Sau đó người cha đã có nhiều thiện chí hơn trong hợp tác với bệnh viện và ông cũng duy trì liên lạc với NVXH và chấp nhận kế hoạch phục hồi cho con gái

Từ đó tình trạng của Lalitha được cái thiện hơn trước [3] Qua trường hợp này chúng tôi nhận thấy không phải của nghiên cứu trường hợp là tập trung vào vấn đề của TC mà đôi khi những người thân trong gia đình lại chính là vấn đề gây trở ngại cho TC Và kế hoach

hỗ trợ cần phải có sự tham gia của gia đình đó là một điêu tất yếu và quan trong trong việc hỗ trợ TC

Kế thừa những thành tựu của các tác giả và những công trình nghiên cứu hoặc bài viết trên là nguồn tài liệu tham khảo đa dạng và hữu ích cho đề tài của chúng tôi Từ đấy, chúng sẽ làm cơ sở cho chúng tôi trong việc tìm ra một hướng đi mới cho đề tài của mình

và tìm hiểu sâu hơn về vấn để mà đề tài chúng tôi đang khai thác Tuy nhiên hiện nay vẫn còn khá ít những tác giả có đề tài nghiên cứu về trương hợp mà ứng dụng phương pháp CTXH Đặc biệt trong khách thể nghiên cứu là sinh viên khiếm thị, nhất là tại địa bàn trường đại học Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, hầu như chưa có đề tài nào nghiên cứu

Vậy nên thông qua đề tài nghiên cứu về “Ứng dụng phương pháp CTXH trong kỹ năng

sắp xếp các công việc cho thân chủ là sinh viên khiếm thị trường đại học Thủ Dầu Một”

chúng tôi hy vọng sẽ đóng góp một phần nào đó trong các nghiên cứu này và sẽ phục vụ cho nhu cầu lý luận và thực tiễn của sinh viên ngành CTXH, nhà trường và xã hội Đây

Trang 32

cũng là cơ hội để có thể khám phá và tìm hiểu và áp dụng những gì đã học vào thực tế góp phần năng cao năng lực cũng như kinh nghiệm cho người nghiên cứu

II Quan điểm lý thuyết vận dụng

1 Lý thuyết nhận thức của Albert Ellis

Cách tiếp cận theo thuyết nhận thức (bao gồm cả trị liệu nhận thức và trị liệu nhận thức hành vi) hướng đến việc NVXH tác động vào nhận thức không xác đáng của TC nhằm tạo điều kiện cho TC có được nhận thức phù hợp về sự việc Điều này đồng nghĩa với việc NVXH hỗ trợ TC biết được sự thật của việc xảy ra và thói quen suy nghĩ của bản thân nhằm tạo cho TC sự thay đổi về cảm xúc và hành vi một cách phù hợp

Tiến trình hỗ trợ theo cách tiếp cận nhận thức:

Bước 1: Hỗ trợ, phát hiện cách suy nghĩ của TC

Bước 2: Giair thích cho TC biết mối quan hệ giữa nhận thức và cảm xúc theo mô hình (ABC)

Bước 3: Tranh luận về nhận thức không xác đáng

Bước 4: TC học tập có được cách nhận thức xác đáng [22]

2.Thuyết nhu cầu của Maslow

Cách tiếp cận này gần gũi với TC trọng tâm song tập trung vào việc tìm kiếm, thức tỉnh cũng như hỗ trợ để TC tự chủ đạt được những nhu cầu mà họ cần được giải quyết để có cuộc sống tốt đẹp hơn

Thuyết nhu cầu khẳng định trong bậc thang nhu cầu, để tồn tại con người cần được đáp ứng các nhu cầu thiết yếu cơ bản cần cho sự sống như ăn, mặc, ở và chăm sóc y tế,…;để phát triển con người cần đáp ứng những nhu cầu cao hơn như nhu cầu được an toàn, được thuộc về một nhóm, được tôn trọng, nhu cầu được hoàn thiện Theo thuyết này con người cần đáp ứng những nhu cầu cấp thấp hơn trước khi nảy sinh ra những nhu cầu bậc cao hơn [1]

Lý thuyết của ông giúp cho sự hiểu biết của chúng ta về những nhu cầu của con người bằng cách nhận diện một hệ thống thứ bậc các nhu cầu Ông đã đem các loại nhu cầu khác

Trang 33

nhau của con người, căn cứ theo tính đòi hỏi của nó và thứ tự phát sinh trước sau của chúng để quy về 5 loại sắp xếp thành thang bậc về nhu cầu của con người tư thấp đến cao gồm nhu cầu sinh học, an toàn, xã hội, tự trọng và khẳng định

Sự hiểu biết về thứ bậc nhu cầu của Maslow giúp người nghiên cứu xác định được những nhu cầu nào trong hệ thống thứ bậc nhu cầu còn chưa được thỏa mãn tại thời điểm hiện tại của thân chủ, nhận ra khi nào thì những nhu cầu cụ thể của thân chủ chưa được thỏa mãn và cần đáp ứng

Qua lý thuyết nhu cầu của Maslow, người nghiên cứu đã hiểu được con người có nhiều nhu cầu khác nhau bao gồm cả nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần Ai cũng cần được yêu thương, được thừa nhận, được tôn trọng, cảm giác an toàn, được phát huy bản ngã,…

Do đó trong việc trợ giúp cho thân chủ người nghiên cứu không chỉ trợ giúp thân chủ thỏa mãn nhu cầu sinh lý cơ bản mà cao hơn nữa phải tập trung trợ giúp cho thân chủ nhằm giúp thân chủ thỏa mãn các nhau cầu tinh thần để sống lành mạnh hơn

Trong một số trường hợp, thân chủ không có khả năng thỏa mãn các nhu cầu cơ bản, việc kết nối họ với các nguồn lực là công việc của NVXH Bên cạnh đó cần tăng cường năng lực cho thân chủ bằng cách lắng nghe thân chủ, chú ý đến các nhu cầu tinh thần của thân chủ và giúp thân chủ hiểu được các tiềm năng của mình, sử dụng các tiềm năng đó

để vượt lên nấc thang nhu cầu cao hơn

Trong cuộc nghiên cứu chúng tôi sẽ sử dụng thuyết này trong quá trình thu thập thông tin về nhu cầu của TC theo tháp nhu cầu để đánh giá và xác định các nhu cầu cấp thiết nhất của TC để đề ra kế hoạch phù hợp

3.Lý thuyết hệ thống sinh thái

Điểm đặc biệt nhất của cách tiếp cận theo thuyết hệ thống sinh thái là cung cấp một lăng kính nhằm tìm ra mối quan hệ giữa con người và môi trường dựa trên nền tảng sinh thái học Lý thuyết này chú trọng đến việc kết nối các mối quan hệ giữa con người và môi trường để giải quyết vấn đề con người đang đối diện Lý thuyết này không những có thể đánh giá ban đầu đối với TC mà còn đánh giá được môi trường sống của TC như gia đình,

Trang 34

bạn bè, hàng xóm, các mối quan hệ khác tại địa phương,…nhằm hiểu rõ tình trạng, vị trí hiện tại của TC trong môi trường mà họ đang sống[22]

Quan điểm sinh thái nhấn mạnh đến sự tương tác của con người và môi trường xã hội

mà họ đang sống, và tìm kiếm nguyên nhân nảy sinh vấn đề từ phía môi trường Quan điểm này cho rằng con người sống trong môi trường xã hội và phải chịu sự tác động của các yếu tố trong môi trường này Vì vậy NVXH theo quan điển này khi tiếp cận TC có vấn đề cần cố gắng thay đổi những bất hợp lý từ môi trường thay vì thay đổi bản thân TC Khi tìm hiểu vấn đề của NVXH cần chú trọng đến các yếu tố như gia đình, nhà trường, xã hội và kể cả xây dựng kế hoach hỗ trợ

4 Lý thuyết của Mackelprang và Salsgiver về các giai đoạn phát triển của đời người

Có rất ít nghiên cứu về việc hình thành bản sắc riêng và các giai đoạn phát triển dường đời của người khuyết tật Mackelprang và Salsgiver đã phát triển lý thuyết của mình trên

cơ sở giải quyết sự gắn kết khuyết tật vào bản sắc riêng của cá nhân qua các giai đoạn phát triển của cá thể, đó là cách tiếp cận văn hóa xã hội khi nghiên cứu người khuyết tật qua các giai đoạn phát triển của họ Hai ông chia làm 7 giai đoạn:

Giai đoạn từ khi sinh ra đến 2 tuổi: Trẻ mang khuyết tật từ rất sớm thường bị 4 vấn đề sau :Trẻ dễ bị tác động của môi trường đặc biệt là gia đình; có nguy cơ trải nghiệm cuộc sống một cách không dễ chịu (mỗ, phẩu thuật, uống thuốc, ); trẻ nhạy cảm hơn những trẻ khác; cha mẹ kỳ vọng thấp nên trẻ bị hạn chế khả năng phát triển tâm sinh lý

Giai đoạn 3-5 tuổi: Đây là giai đoạn trẻ tư duy học từ vựng và ngôn ngữ giao tiếp Giai đoạn 6-12 tuổi: Đây là giai đoạn dậy thì nên sẽ có sự chú ý đến bạn khác giới và

để ý đến vẻ bề ngoài của mình hơn

Giai đoạn 13-18 tuổi: Giai đoạn vị thành niên người khuyết tật phải đối mặt với những vấn đề mà nhưng trẻ vị thành niên khác không phải đối mặt đó là thái độ kỳ thị, phân biệt đối xử với họ

Giai đoạn 18 - 24, 25 tuổi: Đây là giai đoạn hướng đến sự trưởng thành và sự độc lập trong cuộc sống của NKT, họ đánh giá về trách nhiệm của cá nhân với các tổ chức, họ lập

Trang 35

các kế hoạch và các hình thức chăm sóc bản thân trong môi trường tách biệt với bố mẹ Điều quan trọng là họ cần nhận thức được các nguồn lực và những trợ giúp sẵn có trong cộng đồng trong quá trình lập kế hoạch”

Giai đoạn 25-55, 60 tuổi: Đây là giai đoạn các cá nhân tách ra khỏi gia đình và dấn thân vào xã hội Người khuyết tật ở giai đoạn này có các tôi mạnh mẻ và mở rộng các mối quan hệ xã hội

Giai đoạn tuổi già: Với người khuyết tật cao tuổi thì sự duy trì khả năng độc lập là điều rất quan trọng, duy trì các mối quan hệ xã hội là điều cần thiết nhất [5]

III Các khái niệm liên quan

1.Khuyết tật

Theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới, có ba mức độ suy giảm là: khiếm khuyết (impairment), khuyết tật (disability) và tàn tật (handicap)

+ Khiếm khuyết chỉ sự mất mát hoặc không bình thường của cấu trúc cơ thể liên quan

đến tâm lý hoặc/và sinh lý

+ Khuyết tật chỉ sự giảm thiểu chức năng hoạt động, là hậu quả của sự khiếm khuyết + Tàn tật đề cập đến tình thế bất lợi hoặc thiệt thòi của người mang khiếm khuyết do tác

động của môi trường xung quanh lên tình trạng khuyết tật của họ (WHO, 1999)

Điều 2 Bộ luật Người Khuyết Tật định nghĩa rằng: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”

Thông thường từ khuyết tật được cho là mang sắc thái tình cảm, ý nghĩa tốt hơn là từ tàn tật Người ta cho rằng từ “tàn” trong cụm từ tàn tật gợi đến hình ảnh tiêu cực, tạo cảm giác không còn khả năng gì, không còn tương lai và điều đó ảnh hưởng không tốt đến nỗ lực phấn đấu vượt khó khăn Từ “khuyết” mang nghĩa suy giảm chức năng nhưng vẫn có khả năng phục hồi, vẫn còn hy vọng

Trang 36

2 Khiếm thị

Khuyết tật thị giác - khiếm thị hay còn gọi là triệu chứng mất khả năng cảm nhận thị

giác một phần hoặc hoàn toàn (mù, đui) Người khiếm thị là người sau khi được điều trị hoặc điều chỉnh khúc xạ mà thị lực bên mắt tốt vẫn còn từ dưới 3/10 đến trên mức không nhận thức được sáng tối, và bệnh nhân vẫn còn khả năng tận dụng thị lực này để lên kế hoạch và thực thi các hoạt động hàng ngày Riêng mắt người bị mù hoàn toàn không có khả năng nhận thức sáng tối, không thấy được những gì xung quanh Chứng mù mắt có thể do rối loạn bẩm sinh, sinh lý hay thần kinh Người bị mù một mắt gọi là chột Người

bị lòa hay mờ mắt có thể nhìn thấy một ít, phân biệt được sáng tối hay hình dáng chung chung [20]

3.Sinh viên

Thuật ngữ "sinh viên" có nguồn gốc từ tiếng La-tinh "Student" có nghĩa là người làm việc, học tập nhiệt tình, người đi tìm kiếm, khai thác tri thức Nó được dùng cùng nghĩa tương đương với từ "Student" trong tiếng Anh, "Etudiant" trong tiếng Pháp và "Cmgenm" trong tiếng Nga "Sinh viên" là để chỉ những người theo học ở bậc đại học và phân biệt với học sinh đang theo học ở bậc phổ thông Theo ngôn ngữ Hán Việt, từ "sinh viên" được diễn nghĩa ra là người bước vào cuộc sống, cuộc đời Còn theo Từ điển tiếng Việt, khái niệm "sinh viên" được dùng để chỉ người học ở bậc đại học Theo Quy chế công tác Học sinh Sinh viên trong các trường đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì: " sinh viên"

là người đang theo học hệ đại học và cao đẳng Từ đó ta có thể hiểu: khái niệm "sinh viên" là những người đang học tập tại các trường đại học, cao đẳng - nơi đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu của xã hội

4.CTXH

Hiệp hội CTXH quốc tế và các trường đào tạo CTXH quốc tế (2011) thống nhất một định nghĩa về CTXH như sau: Công tác xã hội là nghề nghiệp tham gia vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất lượng sống của con người CTXH sử dụng các học thuyết về hành vi con người và lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác của con người với với môi trường sống

Trang 37

Hiệp hội quốc gia nhân viên xã hội Mỹ (NASW): "Công tác xã hội là một chuyên ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó”

Hiệp hội cán sự công tác xã hội Quốc tế thông qua tháng 7-2000 tại Montreal - Canada (IFSW): "Nghề Công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, tăng năng lực và giải phóng cho người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người

và hệ thống xã hội, công tác xã hội tương tác vào những điểm giữa con người với môi trường của họ Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề"

CTXH với NKT

Khái niệm: Công tác xã hội với NKT là một hoạt động chuyên nghiệp của NVCTXH giúp đỡ những NKT nhằm tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ, huy động nguồn lực và xác định các dịch vụ cần thiết để hỗ trợ NKT, gia đình, cộng đồng triển khai hoạt động chăm sóc trợ giúp họ một cách hiệu quả, vượt qua những rào cản, đảm bảo sự tham gia đầy đủ vào các hoạt động xã hội trên nền tảng sự công bằng

như những người khác trong xã hội” [5]

Hoạt động CTXH liên quan đến người khuyết tật và người tàn tật thường rơi vào hai loại sau:

- Quản trị, bao gồm xây dựng và đề xuất các chính sách đáp ứng các nhu cầu và vấn đề của nhóm người đặc biệt này, tuyển dụng và huấn luyện bộ máy, xây dựng kế hoạch giúp

đỡ và phát triển các chương trình và các điều kiện đặc biệt, huy động tình nguyện viên và trợ giúp cộng đồng;

- Cung cấp dịch vụ trực tiếp, bao gồm sự tham gia vào quản lý ca, thực hành nhóm phục hồi, đối với nhân viên xã hội, bắt đầu với nghiên cứu ca xã hội cung cấp thông tin về cá nhân, gia đình cũng như cộng đồng của người tàn tật, hoặc thông qua việc xây dựng kế hoạch và thực hiện các can thiệp công tác xã hội nhất định có thể giúp cho người tàn tật [2]

Trang 38

Chương II THIẾT LẬP QUAN HỆ VÀ XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ CỦA THÂN CHỦ

I Thiết lập mối quan hệ với thân chủ

Trong quá trình tìm hiểu và quan sát môi trường xung quanh tôi đã xem xét những

bạn sinh viên khuyết tật của trường và khả năng phù hợp để chọn làm thân chủ và tôi đã chọn được P làm thân chủ cho đề tài Tôi và P gặp nhau vài lần tại phòng anh T-học cùng lớp với P Anh T là bạn rất thân với P nên cậu hay qua phòng chơi, chúng tôi có nói chuyện vài câu Trong một lần tôi sang lớp toán học một buổi tôi quan sát thấy P khác với

những bạn khác “P nhìn rất sát vào quyển vở, hay nhìn chăm chăm vào máy chiếu” (Phụ

lục 3 VG1) Tôi lấy làm lạ và hỏi chuyện vài bạn trong lớp P thì được biết P bị khiếm thị

khá nặng Nhờ sự giới thiệu của anh T tôi làm quen được với P Trò chuyện một vài lần

và qua các buổi vãng gia tôi P đồng ý làm thân chủ của tôi từ đó tôi đã thiết lập được mối

quan hệ tin tưởng và thân thiết với P “Lúc đó tôi cảm thấy P rất thú vị và có thể học hỏi

được từ con người này” (Phụ lục 3 VG1)

II Xây dựng Hồ sơ thân chủ

1.Thông tin cá nhân của các thành viên trong gia đình TC

Hiện cư trú tại: 123 - ấp Đất Đỏ-xã An

Lập-huyện Dầu Tiếng-tỉnh Bình Dương

Mẹ Tên: N.T.R

Năm sinh: 1971 Tuổi: 45

Dân tộc: Kinh Nơi sinh: Ấp Đất Đỏ, xã An Lập, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương Nghề nghiệp hiện tại: Nội trợ và cạo

mủ cao su ở nhà

Hiện cư trú tại: 123- ấp Đất Đỏ-xã

An Lập-huyện Dầu Tiếng-tỉnh Bình

Trang 39

huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương

Nghề nghiệp hiện tại: Học sinh lớp 9

trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm

Hiện cư trú tại: 123- ấp Đất Đỏ-xã

An Lập-huyện Dầu Tiếng-tỉnh Bình

Dương

Thân chủ

Tên: N.M.P Giới tính: Nam

Năm sinh: 1994 Tuổi: 22

Dân tộc: Kinh Nơi sinh: Ấp Đất Đỏ, xã An Lập, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương Nghề nghiệp hiện tại: Sinh viên sư phạm toán, đại học Thủ Dầu Một Hiện cư trú tại: 160/9 Khu phố 8-phường Phú Hòa-tỉnh Bình Dương

Trang 40

Quá trình sinh sống và lớn lên:

Thân chủ sinh ra ở Dầu Tiếng/ Bình Dương năm 1994, Lớp 1 học trường trường tiểu học Giáng Hương đó là năm 2000 Từ khi sinh ra đã bị bệnh nhược thị nên ảnh hưởng đến thị lực gây nhiều khó khăn trong sinh hoạt Từ bé luôn bị bạn bè trêu chọc nên tự ti và mặc cảm không chơi với ai Năm lớp hai có ý định bỏ học khi nghe thầy nói nghỉ học 3 buổi sẽ bị đuổi thân chủ bèn bỏ học 3 ngày trốn vào rừng đó là năm 2001 học lớp 2 P tâm

sự từ lớp 2 đến lớp 6 là lúc mắt cậu yếu đi và bị bạn bè trêu ghẹo nên đây là giai đoạn khó khăn nhất với P Năm lớp 6 cậu nghĩ học một năm để vào chùa chữa bệnh nhưng không khỏi vì thế cậu học chậm một năm so với các bạn cùng lứa Thời cấp 2 cậu học trường trung học cơ sở An Lập, đến lúc lên lớp 9 cậu chuyển lớp nên bắt đầu có bạn, đặc biệt đây

là năm ba cậu mất nên là một bước ngoặc thay đổi P không còn nhút nhát và sợ hay suy nghĩ tiêu cực nữa mà cậu ý thức được trách nhiệm của mình với gia đình nên P mạnh mẽ hơn nhiều, tự tin và có bạn Năm vào cấp 3 cậu học trường trung học phổ thông Dầu Tiếng đây là những năm bức phá và khẳng định được bản thân của P Cậu tham gia vào đội tuyển tin học năm nào cũng được giải và được mọi người biết đến Sau đó cậu thi đại học rớt trường ở thành phố và chọn học cao đẳng toán ở trường đại học Thủ Dầu Một cho đến giờ

Ngày đăng: 12/05/2021, 01:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w