1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu quản lý đa dạng sinh học tại dải núi đá vôi phía tây nam tỉnh hòa bình

152 403 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu quản lý đa dạng sinh học tại dải núi đá vôi phía tây nam tỉnh hòa bình
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Quản lý tài nguyên sinh học
Thể loại Luận án
Thành phố Hòa Bình
Định dạng
Số trang 152
Dung lượng 2,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Tính cấp thiết của đề tài

Bảo tồn đa dạng sinh học được coi là một trong những nhiệm vụ quantrọng và là trọng tâm đối với sự phát triển trên toàn thế giới Với sự phát triểnnhanh chóng của kinh tế xã hội cùng với sự quản lý tài nguyên sinh học cònyếu kém đã làm cho đa dạng sinh học (ĐDSH) bị suy thoái ngày càng nghiêmtrọng [11], [51], [59], [78] Sự mất mát về ĐDSH hiện nay là đáng lo ngại,nhiều loài động thực vật bị đe dọa và nguy cơ tuyệt chủng mà nguyên nhân chủyếu là do con người sử dụng tài nguyên không hợp lý Do đó, việc quản lý tàinguyên và bảo tồn ĐDSH là thực sự cần thiết và cấp bách [48], [60]

Nhận thức được giá trị to lớn và tầm quan trọng của ĐDSH, năm 1993Việt Nam đã phê chuẩn công ước quốc tế về bảo tồn ĐDSH Năm 1995,Chính phủ đã phê duyệt và ban hành “Kế hoạch hành động ĐDSH ở ViệtNam” Năm 2007, “Kế hoạch hành động quốc gia về ĐDSH đến năm 2010 vàđịnh hướng đến năm 2020” được xây dựng và phê duyệt triển khai

Dải núi đá vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình là một trong những hệ sinhthái (HST) đại diện điển hình quan trọng mang tính toàn cầu về HST rừng trênnúi đá vôi có diện tích rộng lớn còn sót lại trên vùng đất thấp Việt Nam, đượccác nhà khoa học trong nước và quốc tế xác định là khu vực cần ưu tiên choviệc bảo tồn ĐDSH đặc trưng của vùng núi đá vôi [64], [73] Nơi đây đã đượccác cấp chính quyền của tỉnh Hòa Bình, các tổ chức, cá nhân quan tâm thựchiện nhiều nghiên cứu về ĐDSH, quản lý tài nguyên thiên nhiên (TNTN) vàphát triển sinh kế cho cộng đồng xung quanh [38], [39], [40], [41], [72] Tuynhiên, công tác bảo tồn ĐDSH ở đây vẫn đang gặp nhiều khó khăn và tháchthức, nguyên nhân là do nhu cầu sử dụng tài nguyên ĐDSH tăng cao, mặt khác

do tầm quan trọng và giá trị của ĐDSH đối với cuộc sống của con người rất

Trang 2

quan chức năng còn hạn chế, cộng với các giải pháp bảo tồn chưa cụ thể, chưasâu sát nên hiệu quả bảo tồn ĐDSH chưa cao làm cho tài nguyên ĐDSH tạidải núi đá vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình ngày càng suy giảm thậm chí một

số loài có nguy cơ tuyệt chủng tại khu vực

Để đánh giá hiện trạng và đề xuất một số giải pháp bảo tồn ĐDSH tại

khu vực dải núi đá vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình, tôi thực hiện “Nghiên cứu một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học tại khu vực dải núi đá vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình (huyện Tân Lạc, Lạc Sơn, Mai Châu)”.

2 Mục tiêu của nghiên cứu

Đánh giá hiện trạng ĐDSH, công tác quản lý, bảo tồn làm cơ sở đề xuấtcác giải pháp bảo tồn ĐDSH tại dải núi đá vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Trang 3

vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình

4 Những đóng góp mới của luận án

- Lần đầu tiên có sự đánh giá tổng hợp về hiện trạng tài nguyên ĐDSHtại dải núi đá vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình

- Lập danh lục đầy đủ và hệ thống động vật và thực vật tại dải núi đá vôiphía Tây Nam tỉnh Hòa Bình

- Cung cấp nhiều số liệu phân tích tình hình quản lý tại dải núi đá vôiphía Tây Nam tỉnh Hòa Bình

- Đề xuất mở rộng Khu BTTN Ngọc Sơn- Ngổ Luông thêm 3 xã Pù Bin,Noong Luông, Vạn Mai thuộc huyện Mai Châu

- Đề xuất các giải pháp có cơ sở khoa học và thực tiễn để tổ chức quản

lý, phát triển bền vững ĐDSH tại dải núi đá vôi phía Tây Nam tỉnh HòaBình

5 Bố cục luận án

Luận án gồm 134 trang, 29 bảng, 8 hình, 36 ảnh màu, và được cấu trúcthành 4 phần chính như sau: Đặt vấn đề (3 trang), Chương 1: Tổng quan (35trang), Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu (16trang), Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận (78 trang), kết luận - kiếnnghị (2 trang)

Danh mục các công trình khoa học đã công bố của tác giả (5 côngtrình), tài liệu tham khảo (100 tài liệu) và phần phụ lục gồm: Các loại bản đồ,các câu hỏi phỏng vấn, danh mục các hình ảnh, danh lục thực vật, danh lụcđộng vật tại khu vực nghiên cứu

Trang 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Một số khái niệm liên quan đến ĐDSH và bảo tồn đa dạng sinh học

1.1.1 Khái niệm về ĐDSH

Năm 1989, Quỹ Bảo vệ thiên nhiên Quốc tế (WWF) đã định nghĩa:

“ĐDSH là sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật,động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những HST

vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường’’ ĐDSH bao gồm 3 cấp độ: Đadạng nguồn gen, đa dạng loài và đa dạng HST Trong đó, đa dạng loài bao gồmtoàn bộ các loài sinh vật sống trên Trái đất, từ vi khuẩn đến các loài động vật,thực vật và các loài nấm Ở mức độ vi mô hơn, ĐDSH bao gồm sự khác biệt vềgen giữa các loài, khác biệt về gen giữa các cá thể cùng chung sống trong mộtquần thể ĐDSH còn bao gồm cả sự khác biệt giữa các quần xã mà trong đó cácloài sinh sống, và cả sự khác biệt của mối tương tác giữa chúng với nhau [37]

Theo Công ước đa dạng sinh học thì ĐDSH là sự phong phú các sinh vậtsống gồm các hệ sinh thái trên cạn, hệ sinh thái biển, các hệ sinh thái nước ngọt,

và tập hợp các HST mà sinh vật chỉ là một bộ phận ĐDSH bao gồm sự đa dạngtrong một loài (đa dạng gen) hay còn gọi là đa dạng di truyền, sự đa dạng giữacác loài (đa dạng loài) và sự đa dạng hệ sinh thái (đa dạng HST) Nói cách khácĐDSH là sự đa dạng của sự sống ở các cấp độ và các tổ hợp [3]

Theo luật ĐDSH năm 2008, ĐDSH là sự phong phú về nguồn gen, cácloài sinh vật và HST trong tự nhiên [21]

Trang 5

ĐDSH là sự phong phú của tất cả các sinh vật sống trong tự nhiên trên tráiđất, từ các sinh vật nhỏ bé nhất đến những sinh vật lớn nhất, từ Vi sinh vật, Nấm,Thực vật, Động vật, các HST và môi trường chúng sinh sống.

ĐDSH trực tiếp phục vụ đời sống của con người trong phát triển kinh tế,góp phần xóa đói, giảm nghèo… Những giá trị trực tiếp đó là giá trị sử dụng,tiêu thụ, và sản xuất ra các mặt hàng phục vụ nhu cầu của con người ĐDSH vàcảnh quan là nền tảng cho sự phát triển các dịch vụ hệ sinh thái, điều tiết nguồnnước, bảo vệ môi trường đặc biệt trong giảm nhẹ các tác động bất lợi do biến đổikhí hậu hiện nay [25], [37]

1.1.2 Bảo tồn ĐDSH

Bảo tồn đa dạng sinh học là quá trình quản lý mối tác động qua lại giữa conngười với các gen, các loài và các HST nhằm mang lại lợi ích lớn nhất cho thế hệhiện tại và vẫn duy trì tiềm năng để đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau

Có nhiều phương pháp và công cụ để quản lý bảo tồn ĐDSH Một sốphương pháp và công cụ được sử dụng để phục hồi một số loài quan trọng, cácdòng di truyền hay các sinh cảnh Một số khác được sử dụng để sản xuất mộtcách bền vững các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ từ các tài nguyên sinh vật,…[7], [8], [9], [10], [12], [84], [96] Có thể phân chia các phương pháp và công cụthành các nhóm như sau:

- Bảo tồn tại chỗ (in-situ conservation):

Bảo tồn tại chỗ bao gồm các phương pháp và công cụ nhằm mục đích bảo

vệ các loài, các chủng và các sinh cảnh, các HST trong điều kiện tự nhiên Tùytheo đối tượng bảo tồn mà các hành động quản lý thay đổi Thông thường bảo

Trang 6

tồn tại chỗ được thực hiện bằng cách thành lập các khu bảo tồn và áp dụng cácbiện pháp quản lý phù hợp [7], [8].

- Bảo tồn chuyển chỗ (ex-situ conservation):

Bảo tồn chuyển chỗ bao gồm các biện pháp di dời các loài cây, con và cácsinh vật ra khỏi môi trường sống tự nhiên của chúng [7], [8], [60] Mục đích củaviệc di dời này là để nhân giống, lưu giữ, nhân nuôi vô tính hay cứu hộ trongtrường hợp: (1) nơi sống bị suy thoái hay hủy hoại không thể lưu giữ lâu hơn cácloài nói trên, (2) dùng để làm vật liệu cho nghiên cứu, thực nghiệm và phát triểnsản phẩm mới, để nâng cao kiến thức cho cộng đồng Bảo tồn chuyển chỗ bao gồmcác vườn thực vật, vườn động vật, các bể nuôi thủy hải sản, các ngân hàng giống…

- Phục hồi (Rehabilitation):

Bao gồm các biện pháp để dẫn đến bảo tồn tại chỗ hay bảo tồn chuyểnchỗ Các biện pháp này được sử dụng để phục hồi lại các loài, các quần xã, sinhcảnh, các quá trình sinh thái Việc hồi phục sinh thái bao gồm một số công việcnhư phục hồi lại các HST tại những vùng đất đã bị suy thoái bằng cách nuôitrồng lại các loài bản địa chính, tạo lại các quá trình sinh thái, tạo lại vòng tuầnhoàn vật chất, chế độ thủy văn, tuy nhiên không phải là để sử dụng cho côngviệc vui chơi, giải trí hay phải phục hồi đủ các thành phần động thực vật nhưtrước đã từng có [7], [60] Một trong những mục tiêu quan trọng trong việc bảotồn sinh học là bảo vệ các đại diện của HST và các thành phần của ĐDSH.Ngoài việc xây dựng các KBT cũng cần thiết phải giữ gìn các thành phần củasinh cảnh hay các hành lang còn sót lại trong khu vực mà con người đã làmthay đổi cảnh quan thiên nhiên, và bảo vệ các khu vực được xây dựng để thựchiện chức năng sinh thái đặc trưng quan trọng cho công tác bảo tồn ĐDSH

Trang 7

1.1.3 Quản lý ĐDSH

a Khái niệm về quản lý ĐDSH

Quản lý ĐDSH là sự quan tâm, chăm sóc đối với TNTN, các HST, các loài vànguồn tài nguyên di truyền ở một địa phương, một vùng, một lưu vực, những nơi

có giá trị cao về bảo tồn [7]

Quản lý ĐDSH là công việc cần thiết phải có sự tham gia của nhiều ngành:Các nhà sinh vật học, kinh tế học, nhân chủng học, lâm nghiệp, nông nghiệp, cácnhà khoa học về biển…và được nhiều tổ chức quần chúng, các cấp chính quyềncùng tham gia thì thành công sẽ đạt được kết quả vững chắc

b Các công ước về quản lý và bảo tồn ĐDSH

 Công ước ĐDSH: là thành quả chính của Hội nghị Thượng đỉnh về Môitrường tại Rio de Janiero vào năm 1992 Chính phủ Việt Nam đã ký Công ướcvào ngày 16/11/1994 và phê duyệt Kế hoạch Hành động ĐDSH quốc gia vàotháng 12 năm 1995

 Công ước Ramsar về Đất ngập nước (ĐNN): ban đầu tập trung vào bảotồn và sử dụng khôn ngoan các khu ĐNN là sinh cảnh của các loài chim nướcquan trọng Trọng tâm này ngày càng được mở rộng và hiện nay ĐNN đượcxác định rõ ràng là HST rất quan trọng cho bảo tồn ĐDSH nói chung và cho sựtồn tại của con người nói riêng Công ước Ramsar đã bắt đầu được thực thi từnăm 1975 và tính tới 04/04/2005, đã có 131 thành viên tham gia ký kết vàoCông ước và bảo vệ 1.150 khu ĐNN Công ước này được bổ sung bằng mộtNghị định thư tại Paris năm 1982 Việt Nam đã tham gia vào Công ước này từ20/9/1988 và đã thành lập 4 khu ĐNN, trong đó đáng chú ý là KBT Thiên

Trang 8

nhiên Xuân Thủy đã được đưa vào danh sách các Khu ĐNN có tầm quan trọngquốc tế đối với chim di cư [7].

 Công ước CITES: Công ước về Buôn bán Quốc tế các loài động, thực vậthoang dã nguy cấp, Công ước này là một công cụ để hỗ trợ các nước ngăn chặnbuôn bán quốc tế bất hợp pháp và không bền vững động thực vật hoang dã Côngước CITES được hình thành vào ngày 03/03/1973 tại Washington với 13 thành viênban đầu và bắt đầu có hiệu lực từ năm 1975 Hiện nay, có 164 quốc gia tham giavào Công ước CITES Để đáp ứng yêu cầu quốc tế về tầm quan trọng của các loàihoang dã và vai trò của Việt Nam trong hoạt động buôn bán động thực vật hoang dãtại Đông Dương, Việt Nam đã tham gia vào Công ước CITES và trở thành thànhviên chính thức (Số 121) vào ngày 20 tháng 01 năm 1994 Khi nhận thức được là

“mỗi nhà nước chính là người bảo vệ tốt nhất động thực vật hoang dã của chínhnước mình”, Công ước CITES sẽ giúp thúc đẩy hợp tác quốc tế trong khuôn khổluật pháp quốc tế Việt Nam tham gia đầy đủ vào các Hội nghị các nước thành viênđược tổ chức hai năm một lần để quyết định những vấn đề chính về thực hiện Côngước và duy trì liên lạc thường xuyên với Ban Thư ký Công ước CITES và với nhiềunước thành viên khác Năm 2004, Việt Nam đã ban hành Kế hoạch hành động quốcgia về tăng cường kiểm soát, buôn bán động vật, thực vật hoang dã đến năm 2010,tiếp đó là nhiều văn bản pháp luật có liên quan [7]

c Đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên

Đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên là một thỏa thuận đối tác bởi hai haynhiều bên, các bên tham gia có vai trò ngang nhau trong thương thảo, cam kết và

đi đến một chương trình thực thi hành động, chia sẻ quyền lực và lợi ích, đồngthời có trách nhiệm quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên Người sử dụng tài

Trang 9

nguyên và các chính quyền địa phương cùng nhau đàm phán thỏa thuận đốitượng nào? để làm gì? ở đâu? khi nào? bằng cách nào? và mất bao nhiêu? trênmột diện tích tài nguyên cụ thể được thực hiện và giám sát bởi chính nhữngngười sử dụng tài nguyên [7]

Đồng quản lý là một biện pháp hiệu quả để duy trì và tăng cường chức năngcủa rừng và đồng thời cung cấp sinh kế cho các cộng đồng địa phương Để đồngquản lý TNTN hiệu quả , điều chủ yếu là có sự hỗ trợ toàn diện của chính quyền tất

cả các cấp (tỉnh, huyện, xã), có sự tuân thủ quy tắc có “sự tham gia” và sự thỏathuận của tất cả các bên liên quan và ban quản trị nhiều thành phần

1.2 Nghiên cứu về bảo tồn ĐDSH

1.2.1 Nghiên cứu quản lý và đề xuất giải pháp bảo tồn ĐDSH trên thế giới

a Xác lập thứ bậc ưu tiên bảo tồn trên phạm vi toàn cầu

Trên thực tế, các nguồn lực giành cho công tác bảo tồn còn hạn chế, vì vậy đểphân bổ các nguồn lực một cách phù hợp và thiết thực, cần phải xác định đượcthứ tự ưu tiên, xây dựng chiến lược và lập kế hoạch trong bảo tồn một cách hiệuquả Nhiều tổ chức phi Chính phủ (NGO) đã tham gia vào quá trình này nhằmxác định được các khu vực mà họ muốn hướng các nguồn đầu tư của mình vào

đó [25], [75], [96], [97], có thể gộp thành 3 nhóm như sau:

 Bảo tồn dựa trên các sinh cảnh đại diện: Hình thức này đã được một số tổchức bảo tồn như Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF), tổ chức bảo tồn tựnhiên (TNC), sử dụng [25] Trong đó, WWF đã xác định được 867 vùng sinh tháitrên toàn cầu Khái niệm này được Tổ chức bảo tồn tự nhiên (TNC) sử dụng nhưmột phương pháp tiếp cận chủ đạo cho các hoạt động của mình, sau đó phát triển

Trang 10

thành “Global 200” nhằm kết hợp các kiểu sinh cảnh đặc trưng nhất trên phạm vi

toàn thế giới [88]

 Bảo tồn dựa trên các tiêu chí về loài: như mức độ phong phú của loài(Species richness) và số lượng các loài đặc hữu (Endemic species) được Tổ chứcBảo tồn Quốc tế (CI - Conservation International) và Tổ chức Bảo tồn ChimQuốc tế (BirdLife International) sử dụng Phương pháp tiếp cận về loài được tổchức bảo tồn quốc tế CI sử dụng nhằm tập trung các nguồn lực vào các khu vực

có tính ĐDSH cao nhất, có mối đe dọa lớn nhất, đồng thời đưa ra khái niệm cácđiểm nóng về ĐDSH [79], [87], [88] và những vùng còn nguyên vẹn được xem

là vùng có giá trị ĐDSH cao [89]

BirdLife cũng đưa ra khái niệm về các vùng chim đặc hữu (EBA:

Endemic Bird Area) để áp dụng cho những nơi có ít nhất hai loài phân bố hẹp (RRS: Ranger - restricted species), loài phân bố hẹp là loài có phạm vi phân bố

trên toàn cầu nhỏ hơn 50.000 km2 Bên cạnh đó BirdLife còn đưa ra khái niệm

về các vùng chim quan trọng [6], [26], đó là những vùng có tầm quan trọng quốc

tế về bảo tồn chim, được xác định dựa trên tiêu chí về loài như: sự hiện diện củacác loài đe dọa, các loài phân bố ở một khu vực có diện tích hẹp, hoặc là nơi tụtập của nhiều loài [82] Từ đó, Tổ chức bảo tồn quốc tế (CI), BirdLife và PlantLife đã phối hợp nghiên cứu và đưa ra khái niệm các vùng ĐDSH chính [85]

 Bảo tồn dựa trên tiêu chí về các mối đe dọa: để xác định các mức đe dọatối thiểu hoặc các vùng biệt lập, được Tổ chức bảo tồn động thực vật hoang dãQuốc tế (FFI) và Hiệp hội bảo tồn động vật hoang dã (WCS) sử dụng [90]

Trang 11

b Xác định các cảnh quan để bảo tồn

Thuật ngữ “cảnh quan” (landscape) mang nhiều ý nghĩa khác nhau tùy

theo mục đích cụ thể Theo mục đích bảo tồn, thì cảnh quan có thể hiểu là: “Mộtvùng đất rộng lớn bao gồm nhiều đặc trưng khác nhau và được xem như là kếtquả của một quá trình hình thành và biến đổi lâu dài” [100] Đến nay vẫn chưa

có giải thích cụ thể nào về qui mô của cảnh quan, cũng như chưa có định nghĩanào về việc xác định ranh giới của cảnh quan Tuy nhiên, các nhà qui hoạch bảotồn đã xác định ranh giới của cảnh quan dựa trên các yếu tố tự nhiên như: lưuvực, vùng núi, ngọn núi, phạm vi phân bố của một loài hoặc nhóm loài [95]

Cho dù chưa có định nghĩa rõ ràng về cảnh quan, nhưng việc xác định cáccảnh quan trong ưu tiên bảo tồn đã giúp cho việc bảo vệ và duy trì các chức năngsinh thái của nó, đồng thời giúp cho việc xác định và thực thi các chiến lược vềbảo tồn Theo cách này, WWF (2004) đã đưa ra khái niệm về tầm nhìn ĐDSHnhằm xác định các khu vực ưu tiên bảo tồn trong phạm vi một vùng sinh thái.WCS (2004) cũng đưa ra khái niệm về loài đại diện cho một vùng cảnh quannhằm bảo vệ các giá trị ĐDSH trong từng vùng [91]

c Xác định các khu vực để triển khai các hoạt động bảo tồn

Bảo tồn thông qua việc thiết lập hệ thống các KBT là ý tưởng đầu tiênxuất hiện ở Hoa Kỳ từ thế kỷ XIX bằng việc thành lập VQG Yellowstone ngày

01 tháng 03 năm 1872 [89]

Bảo tồn ngày càng được chú trọng, mở đầu là việc tổ chức Hội nghị Thếgiới các VQG lần thứ nhất từ những năm 60 của thế kỷ XX; vấn đề đào tạochuyên sâu về quản lý động thực vật hoang dã cũng đã được quan tâm; các giảipháp bảo tồn ĐDSH, các chương trình hỗ trợ bảo tồn bằng nhiều hình thức khác

Trang 12

nhau như hưởng lợi từ động vật hoang dã, con người và sinh quyển cũng đã đượctriển khai Điều đặc biệt quan trọng là cứ 10 năm một lần, hội nghị các VQG vàKBT được tổ chức, bắt đầu từ việc hỗ trợ các KBT đến việc chú ý nhiều đến cácKBT ở những vùng nhiệt đới, việc gặp gỡ của các tổ chức bảo tồn và các Chínhphủ tại các hội nghị đã rút ra được nhiều kinh nghiệm từ thực tế cũng như cơ hội

để các nước có tiếng nói chung về vấn đề bảo tồn Càng về sau, hội nghị càngchú trọng nhiều đến tình hình thực tiễn của hoạt động bảo tồn, cụ thể là tại hộinghị lần V hiệp ước Durban về biến đổi khí hậu toàn cầu và kế hoạch hành độngđược thông qua [43]

Có thể nói rằng, đến nay trên thế giới mặc dù vẫn còn nhiều khó khăn,thách thức, nhưng bảo tồn ĐDSH đã được quan tâm một cách toàn diện Côngtác bảo tồn ĐDSH không chỉ tập trung bảo vệ tài nguyên, xây dựng hệ thống cáckhu bảo tồn mà còn chú trọng đến giáo dục về quản lý và nâng cao hiệu quảtrong điều hành cũng như nhận thức bảo tồn, chú ý đến khía cạnh xã hội nhânvăn trong bảo tồn như phối hợp bảo tồn, bảo tồn dựa vào cộng đồng, chia sẻ lợiích từ bảo tồn nhằm hướng đến đích cuối cùng là sử dụng bền vững các thànhphần của ĐDSH, chia sẻ các lợi ích có được từ việc sử dụng các nguồn tàinguyên một cách bình đẳng và công bằng

d Phương thức tiếp cận được áp dụng trong quản lý bảo tồn ĐDSH

Nhằm đảm bảo phát triển bền vững (PTBV), nhiều ngành, nhiều tổ chứcliên quan đến sử dụng tài nguyên thiên nhiên đang hình thành và xây dựngnhững phương thức tiếp cận mới về quản lý, đó là [93], [94]: (1) Quản lý hệ sinhthái, (2) Quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng, (3) Đồng quản lý tàinguyên thiên nhiên, (4) Bảo tồn và phát triển tổng hợp, (5) Phát triển bền vững

Trang 13

Các phương thức tiếp cận nêu trên đều giống nhau trong việc nỗ lực tìmkiếm một số giải pháp tối ưu để giải quyết mâu thuẫn và chia sẻ quyền lợi trongviệc sử dụng các nguồn TNTN, mà những quyền lợi này có thể là giữa bảo tồn

và phát triển, giữa cộng đồng địa phương và một quốc gia, hoặc giữa các nhómngười có liên quan trong xã hội Điểm nổi bật trong các phương thức tiếp cậnnày là nâng cao vai trò của cộng đồng địa phương cũng như những nhóm ngườitrong xã hội có liên quan đến TNTN (những người hưởng lợi, những người bị tácđộng) Các phương thức tiếp cận này đang được hình thành và phát triển nhằmkhắc phục những hạn chế trong cách quản lý áp đặt từ trên xuống theo cách quanliêu bao cấp và đẩy mạnh cách thức quản lý TNTN từ dưới lên

Những điểm khác biệt cơ bản giữa các phương thức tiếp cận là sự nhìnnhận vấn đề, điểm trung tâm là tính ưu tiên của các phương pháp cụ thể đượcứng dụng Ví dụ: phương pháp tiếp cận hệ sinh thái quan tâm trước tiên là tínhtoàn vẹn của HST và nhìn nhận con người là một bộ phận của HST Vì vậymuốn đạt được mục đích cơ bản trên thì phải tuân thủ các nguyên tắc của pháttriển bền vững Vì thế, phương pháp tiếp cận là làm sao tận dụng được mọi thếmạnh của cộng đồng trong việc sử dụng và bảo vệ TNTN, để có thể chia sẻ lợiích một cách công bằng cho cộng đồng địa phương được quan tâm trước tiên,nhưng tất nhiên đều phải gắn chặt với quyền lợi bảo tồn thiên nhiên để đảm bảo

sự hài hoà Trong khi đó, phương pháp tiếp cận đồng quản lý có nhiều đặc điểmgiống với phương pháp tiếp cận dựa vào cộng đồng, nhưng mang ý nghĩa rộnghơn, tức là quan tâm đến mọi đối tác, mọi nhóm xã hội trực tiếp hoặc gián tiếpliên quan đến tài nguyên, để đạt được mục đích là chia sẻ quyền lợi công bằngđồng thời không làm suy thoái TNTN và bảo vệ ĐDSH

Trang 14

Trên thế giới, phát triển bền vững, đặc biệt là sự tham gia của cộng đồng

là vấn đề được chú trọng trong quản lý, sử dụng ĐDSH ở dải núi đá vôi nóiriêng Đây là điều kiện tiên quyết để tạo nên sự thay đổi cần thiết cho sự phát

triển của xã hội sinh thái học bền vững Thực tế tại New Zealand cho thấy, vào

những năm 1980, mạng lưới các VQG ở nước này bắt đầu phát triển và liên tục,vừa bảo vệ các vùng nhỏ, vừa tạo ra các khu giải trí cho cộng đồng

Ngoài ra, phục hồi rừng nghèo trên núi đá vôi như: Viện khoa học QuảngTây và Quảng Đông - Trung Quốc đã nghiên cứu kỹ lưỡng, đặc biệt là nghiên

cứu đặc điểm sinh trưởng của một số loài cây trên núi đá vôi: Toona sinensis, Delavaya toxocarpa, Chukrasia tabularis, Excentrodendron tonkinensis,…trong

thời kỳ 1985 -1998 [16] Những nghiên cứu đó đã được tổng kết sơ bộ sau nhiềuhội thảo khoa học ở Học viện Lâm nghiệp Bắc Kinh với sự tham gia của nhiềunhà khoa học lâm nghiệp đầu ngành của Trung Quốc, bên cạnh đó các hướngdẫn về kỹ thuật phục hồi rừng trên núi đá vôi đã được xây dựng, gồm một sốnguyên lý: Là một trong những HST rất nhạy cảm, có sự cân bằng mỏng manh

và điều kiện sống rất khắc nghiệt; Tốc độ tăng trưởng của cây trên núi đá vôi rấtchậm (trữ lượng gỗ bình quân 1 ha rừng nguyên sinh trên núi đá vôi chỉ bằng 1/2trữ lượng gỗ bình quân rừng nguyên sinh trên đất); HST núi đá vôi có tính chốngchịu cao; HST núi đá vôi có khả năng phục hồi rất khó vì thiếu các yếu tố lập địacần thiết [16] Tuy nhiên, những nguyên lý phục hồi và phát triển rừng trên núi

đá vôi chưa được tổng kết một cách có hệ thống nên việc áp dụng những hướngdẫn này cho nhiều quốc gia khác gặp rất nhiều khó khăn

Trang 15

1.2.2 Nghiên cứu quản lý và đề xuất giải pháp bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam

Theo đánh giá của Trung tâm giám sát bảo tồn thế giới (WCMC) (1992,2003), Việt Nam được xếp thứ 16 trong số các nước có ĐDSH cao nhất thế giới[9] Theo báo cáo quốc gia về ĐDSH Việt Nam năm 2011 thì hệ thực vật ViệtNam đã ghi nhận 13.766 loài thực vật, trong đó có 11.373 loài thực vật bậc cao

có mạch, có 2256 chi, 305 họ chiếm 4% tổng số loài, 15% tổng số chi và 5%tổng số họ thực vật trên thế giới, 2.393 loài thực vật bậc thấp chưa kể các nhóm

vi tảo ở nước [9], [58]

Về hệ động vật, ngoài các loài đặc hữu Việt Nam còn có nhưng loài độngvật mang tính chất hỗn hợp của hai khu hệ động vật Nam Trung Hoa và Ấn Độ,

Mã Lai [58], [60], [81] Nhiều loài không những có giá trị cao về kinh tế, mà còn

có giá trị bảo tồn ở Việt Nam và thế giới, nhiều loài có tên trong Sách Đỏ ViệtNam (2007) và Danh lục đỏ IUCN (2012) Sự phong phú về thực vật và các hệsinh thái là nơi trú ngụ của nhiều loài động vật Việt Nam có đến 312 loài vàphân loài Thú, 840 loài Chim, 317 loài Bò sát, 167 loài Lưỡng cư, 7700 loài Côntrùng, 547 loài Cá nước ngọt, 2038 loài Cá biển và 9300 loài Động vật khôngxương sống [9], [57]

Tuy nhiên, Việt Nam cũng trong tình trạng chung của toàn cầu là ĐDSH đã

và đang bị đe dọa và có chiều hướng suy giảm mạnh Nguyên nhân của sự mấtmát ĐDSH được xác định bao gồm hai yếu tố chính là do thiên tai và do tác độngtrực tiếp hoặc gián tiếp của con người [59], [80], [92] Vì vậy, Việt Nam đã cónhiều nỗ lực trong công tác nghiên cứu và quản lý bảo tồn ĐDSH, trong đó phải

kể đến các vấn đề quan trọng sau đây:

Trang 16

a Sơ lược về tình hình nghiên cứu ĐDSH ở Việt Nam

Các nghiên cứu ĐDSH thường được bắt đầu bằng những nghiên cứu cơ bản

để có tiền đề xây dựng luận chứng kinh tế- kỹ thuật (LCKT) cho các KBT Phầnlớn LCKT được xây dựng bởi các cơ quan chuyên môn, các Viện nghiên cứu,các trường đại học như Viện Điều tra Quy hoạch rừng, Viện Khoa học Lâmnghiệp Việt Nam, Trường đại học Lâm nghiệp…[6],[7] Ngoài các nghiên cứuliên quan đến LCKT còn phải kể đến các nghiên cứu chuyên sâu của các cơ quannghiên cứu, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội,các tổ chức trong và ngoài nước Các số liệu trong nghiên cứu này rất quan trọng

và có giá trị, được các VQG và KBT sử dụng để biết được sự đa dạng sinh vật

mà mình đang quản lý

Một thành tựu nổi bật về nghiên cứu ĐDSH là kết quả điều tra về tài nguyênthực vật và động vật ở một số VQG và Khu BTTN và một số sinh cảnh khácngoài Khu BTTN nhờ sự phối hợp giữa các nhà khoa học của các cơ quan nghiêncứu ở Trung ương, địa phương và ban quản lý các VQG, Khu BTTN [7], [58].Trong những thập kỷ của những năm đầu cuối thế kỷ XX, các nghiên cứu vềĐDSH phục vụ cho việc xây dựng các luận chứng KTKT để xây dựng hệ thống cáckhu rừng đặc dụng của Việt Nam Tuy nhiên, do thiếu kinh phí nên số liệu chưađược cập nhật, nhiều VQG và Khu BTTN chỉ có số liệu khi xây dựng LCKT.Nhiều loài động vật, thực vật có trong thực tế nhưng chưa có tên trong danh lụchoặc ngược lại có tên trong danh lục nhưng lại không thấy trong thiên nhiên

Chiến lược, chính sách bảo tồn ĐDSH

Nhận thức được tầm quan trọng của sự suy thoái tài nguyên ĐDSH, ViệtNam đã sớm có những hành động tích cực trong công tác bảo tồn ĐDSH Theo

Trang 17

thống kê từ năm 1958 đến nay, có hàng trăm văn bản pháp luật do Nhà nước vàcác ban ngành liên quan ban hành về vấn đề bảo tồn ĐDSH và các tài liệu hướngdẫn thi hành lần lượt được ban hành [7],.

Năm 1962, Cục Kiểm lâm được thành lập cùng với sự ra đời rừng cấm đầutiên ở Việt Nam là “rừng cấm Cúc Phương” [3], [6], [17], [45] Năm 1985,Chiến lược Bảo tồn Quốc gia của Việt Nam (NCS) được ban hành Đây là mộtchiến lược đầu tiên được xây dựng ở một nước đang phát triển Và từ đó, việc cảicách thể chế và luật pháp đã phát triển nhanh chóng với sự ra đời của các vănbản pháp luật do nhà nước ban hành liên quan đến bảo tồn và sử dụng bền vữngtài nguyên ĐDSH như: Luật bảo vệ và phát triển rừng 1991 (được sửa đổi, bổsung năm 2004); Luật đất đai năm 1993 (được sửa đổi, bổ sung năm 1998 và2003); Luật bảo vệ môi trường năm 1993 (được sửa đổi, bổ sung năm 2005);Luật thủy sản năm 2003; và gần đây nhất, luật Đa dạng sinh học được Quốc hộiphê chuẩn tháng 11 năm 2008 [21]; Sách Đỏ Việt Nam lần đầu tiên được xuấtbản năm 1992 (tái bản có những điều chỉnh cập nhật vào năm 2000 và 2007)[13]

Ngoài ra, trong phong trào chung và tính cấp bách của toàn cầu về bảo tồn

và phát triển bền vững, Việt Nam cũng đã tham gia ký kết nhiều công ước quốc

tế về môi trường có liên quan, đặc biệt là: Công ước Ramsar về đất ngập nước(1975), công ước ĐDSH (1993) và Công ước CITES về buôn bán quốc tế cácloài động thực vật hoang dã nguy cấp (1994)

Trong giai đoạn 2005-2010, các quy hoạch, kế hoạch hành động Quốc gia

về bảo tồn ĐDSH đã được ban hành và tổ chức thực hiện như quy hoạch hệ thốngkhu bảo tồn vùng nước nội địa đến năm 2020, Quy hoạch hệ thống khu bảo tồn

Trang 18

biển Việt Nam đến năm 2020 [20] Đặc biệt là kế hoạch hành động Quốc gia vềĐDSH đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủphê duyệt tại Quyết định số 79/2007/QĐ-TTg ngày 31 tháng 5 năm 2007 [13].Bên cạnh đó, các ngành các cấp tiếp tục triển khai Chiến lược, Kế hoạch, chươngtrình khác có liên quan đến bảo tồn ĐDSH được phê duyệt trước năm 2005 nhưChương trình nâng cao nhận thức bảo tồn ĐDSH đến năm 2010, Kế hoạch hànhđộng Quốc gia về tăng cường kiểm soát buôn bán động thực vật hoang dã đếnnăm 2010, Chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đến

năm 2010 [10], Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 –

2020” [20], Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 – 2020” [21]

Hệ thống các văn bản quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến bảo

vệ ĐDSH tuy đã được hình thành nhưng còn có nhiều khiếm khuyết và bất cập.Việt Nam là thành viên của Công ước ĐDSH nhưng cho đến nay, chưa có vănbản quy phạm pháp luật nào hoàn chỉnh để đảm bảo thực hiện Công ước này.Các văn bản hiện hành mới chỉ tập trung vào việc bảo tồn ĐDSH, trong khi đó,Công ước ĐDSH nêu ra ba mục tiêu: (1)- Bảo tồn ĐDSH; (2)- Sử dụng bền vữngtài nguyên; (3)- Chia sẻ trung thực và công bằng lợi ích có được từ việc sử dụngtài nguyên gen [7]

b Các biện pháp bảo tồn ĐDSH

 Thành lập hệ thống khu bảo tồn

Việc hình thành hệ thống rừng đặc dụng ở Việt Nam là một trong nhữngbiện pháp tích cực đã và đang góp phần quan trọng trong sự nghiệp bảo tồnĐDSH [13] Năm 2000, quy hoạch mới hệ thống rừng đặc dụng với nhiều thayđổi lớn như: đề xuất phân hạng mới, loại bỏ, chuyển hạng, sát nhập, đổi tên và

Trang 19

thành lập mới cho một số khu rừng đặc dụng Đến năm 2003, Thủ tướng Chínhphủ đã phê duyệt Quyết định số 192/2003/QĐ - TTg ban hành chiến lược quản

lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam đến năm 2010 [17]

Hình 1.1 Quá trình phát triển hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam [7], [99]

Đến năm 2012, việc quy hoạch các khu bảo tồn thiên nhiên ở Việt Namđược đẩy mạnh (hình 1.1) đã thành lập 205 KBT, trong đó có 144 khu bảo tồntrên cạn, 45 khu bảo tồn vùng nước nội địa, 16 khu bảo tồn biển phân bố trên tất

cả các vùng sinh thái trong cả nước, bao gồm 30 VQG, 58 khu Dự trữ Thiênnhiên, 11 khu bảo tồn loài/sinh cảnh và 45 khu bảo vệ cảnh quan; các KBT trêncạn (rừng đặc dụng) chiếm diện tích gần 2.198.744 ha, chiếm 13,5% diện tích tựnhiên Bên cạnh đó, đã có một số hình thức bảo tồn khác được công nhận gồm: 4khu đất ngập nước Ramsar, 8 khu bảo tồn sinh quyển, 4 khu di sản thiên nhiên

Số lượng

Năm

Trang 20

ASEAN, 2 khu di sản thiên nhiên thế giới và đặc biệt Vịnh Hạ Long được côngnhận là 1 trong 7 Kỳ quan Thiên nhiên mới của thế giới [6], [98], [99].

Có thể nhận định rằng, việc thành lập hệ thống các KBT và VQG đã làmcho công tác bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam phần nào đáp ứng được mục đích bảotồn, vấn đề còn lại là thực hiện cho đúng tiến trình kèm theo đó là những thayđổi, cải tiến về chính sách, thể chế trong quản lý và tất nhiên là để thực hiện tiếntrình này rất cần sự hỗ trợ và hợp tác của nhiều tổ chức, cơ quan trong và ngoàinước có liên quan [5]

Xây dựng và quản lý vùng đệm

Cũng như nhiều nước trên thế giới, ở Việt Nam mỗi khi xây dựng một khubảo tồn, người dân sống ở quanh hoặc trong KBT buộc phải hy sinh quyền lợiriêng của mình, họ không được khai thác tài nguyên như trước vì lợi ích của quốcgia và các thế hệ mai sau [24], [44], [59], [66] Phần lớn các VQG và KBT đã vàđang được xây dựng thường nằm giữa khu vực có dân cư sinh sống nên chịu sức

ép hết sức nặng nề Cộng đồng địa phương, những người sống trong, hay gần cáckhu bảo tồn đã nhiều đời có mối liên quan trực tiếp với thiên nhiên các vùng đó,cuộc sống của họ lệ thuộc phần lớn vào việc khai thác TNTN Tuy nhiên, côngcuộc bảo tồn ngày nay thường bỏ qua những yêu cầu thiết yếu của họ và đồngthời cũng ít lưu ý đến các giá trị văn hoá, các phong tục tập quán, những hiểu biếtcủa họ về thiên nhiên, về các loài mà họ rất quen thuộc, cách thức tổ chức bảo tồnthiên nhiên mà cộng đồng đã đúc rút từ nhiều đời nay

Từ năm 1987, Chính phủ đã áp dụng biện pháp di chuyển một số dân rakhỏi khu bảo tồn và đã thực hiện ở VQG Cúc Phương Số dân chuyển ra đượcđịnh cư ngoài khu bảo tồn tạo thành vùng đệm và được cung cấp các điều kiện để

Trang 21

làm ăn ổn định Chương trình này đã đạt được những kết quả tích cực trong việc

di chuyển dân ra ngoài, một số KBT và VQG cũng đã triển khai dự án tương tự vàđạt được những kết quả khả quan như: VQG Cát Tiên, VQG Ba Bể, VQG BạchMã,… Tuy nhiên, đây là vấn đề rất phức tạp và gặp phải những khó khăn tháchthức lớn, cần phải suy nghĩ cân nhắc chu đáo để làm sao công tác bảo tồn ĐDSHkhông đối lập với cộng đồng bản địa Hiện nay, nhiều khu bảo tồn, VQG trongluận chứng kinh tế kỹ thuật đã có đề xuất việc thành lập vùng đệm, diện tích, ranhgiới vùng đệm,… Tuy nhiên, cũng có khu vực không có vùng đệm trong luậnchứng kinh tế kỹ thuật như Khu BTTN Ngọc Sơn- Ngổ Luông [74]

Cùng với việc hình thành và phát triển hệ thống các khu bảo tồn tại chỗ situ conservation), công tác bảo tồn chuyển chỗ cũng đã được nhà nước quan tâm trong bảo tồn ĐDSH ở nước ta Một số loại hình bảo tồn chuyển chỗ (ex-situ conservation) đã triển khai và đạt được những kết quả đáng kể như các vườn thực

(in-vật, trại gây nuôi động (in-vật, vườn thú, trạm cứu hộ động (in-vật, ngân hàng giống Côngtác bảo tồn nguồn gen động thực vật, bao gồm nguồn gen nông lâm nghiệp, nguồngen vật nuôi và động vật hoang dã cũng đã được các Viện khoa học Lâm nghiệp,Viện khoa học Nông nghiệp, Viện Chăn nuôi, các vườn thú, các tổ chức trong nước

và ngoài nước tiến hành nghiên cứu [7] Trong các vườn thực vật phải kể đến VườnBách thảo Hà Nội đã xây dựng hơn 100 năm nay, với hàng trăm loài cây, chủ yếu làloài cây bản địa Trung tâm cứu hộ động vật đầu tiên là Trung tâm cứu hộ linhtrưởng ở VQG Cúc Phương, hiện nay ở Cúc Phương còn có Trung tâm cứu hộ vànghiên cứu Rùa, Trung tâm cứu hộ Gấu tại VQG Tam Đảo, VQG Cát Tiên Việclưu giữ nguồn giống được thực hiện ở một số cơ sở như: Viện KHKT nông nghiệpViệt Nam, Viện KHKT Nông nghiệp miền Nam, trường Đại học Cần Thơ, Việncây Lương thực và Thực phẩm…

Trang 22

e Quản lý hệ sinh thái đá vôi ở Việt Nam

Mặc dù Việt Nam đã và đang cố gắng trong việc đưa ra các giải pháp bảotồn ĐDSH nhưng sự suy thoái ĐDSH đáng lo ngại đặc biệt ở các vùng núi đá vôivẫn đang diễn ra rất mạnh Thách thức lớn nhất mà HST đá vôi phải đối mặt đó làdiện tích rừng bị thu hẹp nhanh chóng, các loài bị suy giảm mạnh, nhiều loài cónguy cơ diệt vong, diện tích rừng trên núi đá ngày càng giảm, nguồn sinh thủy bịmất, nguồn nước bị cạn kiệt [31], [67] Nhiều năm qua, Nhà nước đã hỗ trợ miềnnúi bằng các chương trình 327, 135, chương trình nước sạch và vệ sinh môitrường, chương trình trồng mới 5 triệu hecta rừng Các chương trình này đềunhằm góp phần cải thiện, nâng cao mức sống cho đồng bào dân tộc miền núi, qua

đó huy động được sự tham gia của cộng đồng địa phương vào công tác bảo vệ vàphát triển rừng

Hoàng Kim Ngũ (1990-1998) [49] đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm sinhvật học và khả năng gây trồng các loài cây như Nghiến, Mạy sao, Trai lý, Hoàngđàn, Mắc rạc, Xoan nhừ, Mắc mật trên núi đá vôi ở Hà Giang, Cao Bằng, BắcCạn Hoàng Kim Ngũ đã xác định được một số đặc điểm sinh thái và đề xuất kỹthuật gây trồng các loài cây này ở các địa phương trên Từ năm 1999 đã tiến hànhgây trồng thử nghiệm các loài cây này trên đất đá vôi ở một số nơi khác ở CaoBằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn và các tỉnh vùng Tây Bắc Tuy nhiên, do còn đang trongthời gian thử nghiệm nên đây chỉ là những khẳng định ban đầu về khả năng thànhcông của các mô hình phục hồi rừng, đặc biệt là các mô hình ở vùng Tây Bắc

Khi nghiên cứu hệ sinh thái tại Vườn Quốc gia Pù Mát, Nguyễn ThanhNhàn [50] đã đưa ra một số giải pháp nhằm bảo tồn hệ thực vật trên núi đá vôi:

Trang 23

Quản lý bảo vệ rừng, quản lý vùng đệm, nâng cao nhận thức, nâng cao hiệu lựcthi hành pháp luật.

Viện Điều tra Quy hoạch rừng (1965) cùng với Viện Sinh thái và tàinguyên sinh vật, Viện Dược liệu [77] đã tiến hành nghiên cứu mức độ đa dạngsinh vật, công tác quản lý bảo vệ và sử dụng tài nguyên rừng trên núi đá vôi ởCao Bằng và một số địa phương khác Kết quả nghiên cứu cho thấy HST núi đávôi có tính chống chịu cao, các sinh vật sống trên núi đá vôi có khả năng thíchnghi chống chịu với các điều kiện bất lợi

Nguyễn Vạn Thường và đội Lâm học - Viện Điều tra Quy hoạch rừng (Bộmôn Lâm nghiệp) (1967 – 1968) [68], thực hiện điều tra chuyên đề rừng núi đávôi tại một số khu vực thuộc tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Hoà Bình, Cao Bằng,Quảng Ninh Kết quả điều tra đã đưa ra: sự biến đổi các đặc trưng lâm học củacác quần hệ rừng trên núi đá vôi miền Bắc Việt Nam có sự sai khác rõ rệt về cấutrúc (ngay cả trong trạng thái rừng nguyên sinh) trên các dạng địa hình chủ yếu

Hoàng Văn Thập cùng cộng sự [65] "Nghiên cứu các giải pháp phục hồirừng thứ sinh nghèo trên núi đá vôi tại vùng đệm Vườn Quốc gia Cát Bà” từ năm

2007 đến 2010 và đã đưa ra năm giải pháp phục hồi khoảng 7.000ha rừng táisinh nghèo trên núi đá vôi tại vùng đệm của Vườn quốc gia Cát Bà, Hải Phònggồm: (1)- Khoanh nuôi bảo vệ, (2)- Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp vớitrồng bổ sung, (3)- Làm giàu rừng, (4)- Nuôi dưỡng rừng, (5)- Cải tạo rừng

Các nghiên cứu trên đã cho thấy rằng khả năng phục hồi rừng trên núi đávôi kém hơn trên núi đất, tốc độ tăng trưởng của cây trên núi đá vôi rất chậm(Trữ lượng gỗ bình quân 1 ha rừng nguyên sinh trên núi đá vôi chỉ bằng 1/2 trữlượng gỗ bình quân rừng nguyên sinh trên đất) Việc trồng lại rừng trên núi đá là

Trang 24

rất khó khăn, do vậy ở những vùng còn cây tái sinh nên đưa vào khoanh nuôi bảo

vệ để phục hồi dần

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đây đã làm sáng tỏ phần nào

về đặc điểm tái sinh rừng, các nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh rừng, các phươngpháp phục hồi rừng trên núi đá Việc nghiên cứu và tìm ra giải pháp bảo tồnHST rừng trên núi đá vôi là thực sự cần thiết Tuy nhiên các nghiên cứu về phụchồi rừng trên núi đá vôi ở khu vực miền núi phía bắc còn ít và tản mạn, hạn chếnày gây khó khăn cho việc phục hồi và phát triển tài nguyên rừng

1.2.3 Nghiên cứu bảo tồn ĐDSH tại dải núi đá vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình

Dải núi đá vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình bao gồm Khu BTTN NgọcSơn- Ngổ Luông và khu rừng thuộc 3 xã (Pù Bin, Noong Luông, Vạn Mai)huyện Mai Châu là hành lang xanh nối liền giữa VQG Cúc Phương thuộc tỉnhNinh Bình với Khu BTTN Pù Luông của tỉnh Thanh Hoá Khu vực này có hệsinh thái rừng trên núi đá vôi điển hình của khu vực chuyển tiếp giữa vùng núiTây Bắc và đồng bằng sông Hồng với một khu vực rừng tự nhiên rộng lớn cónhiều loài động thực vật quý hiếm đã từng được coi là các loài quan trọng đang

bị đe dọa cần được bảo tồn và liệt kê vào Sách Đỏ Việt Nam (2007) và Danh lục

đỏ IUCN (2012)

Năm 1997, Phân viện điều tra quy hoạch rừng Tây Bắc tiến hành khảo sát

có hệ thống đầu tiên về khu hệ động vật [74] Đến năm 2003 cùng với sự hỗ trợcủa Dự án “Bảo tồn cảnh quan dải núi đá vôi Pù Luông - Cúc Phương”, Đỗ Tước

và Dương Anh Tuấn [74] đã tiến hành một khảo sát sơ bộ về khu hệ động vật cóxương sống tại khu vực Báo cáo đã xác định có tổng số có 300 loài trong đó có

Trang 25

68 loài thú, 179 loài chim, 31 loài bò sát và 18 loài lưỡng cư được ghi nhận tạiđây Trong đó có 40 loài ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), 23 loài ghi trongDanh lục đỏ IUCN (2008), đặc biệt là sự xuất hiện của loài Vọoc mông trắng làloài đặc hữu của Việt Nam hiện nay Đây chính là cơ sở ban đầu để quyết địnhthành lập Khu BTTN Ngọc Sơn- Ngổ Luông [70], [71], [72], [74].

Năm 2004, Dự án bảo tồn cảnh quan núi dải núi đá vôi Pù Luông – CúcPhương đã thực hiện điều tra về động thực vật trong khu vực, kết quả ghi nhậnđược 995 loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc 618 chi, trong đó có rất nhiều loàiquý hiếm như Nghiến, Trai, Đinh, Sến, Chò chỉ [74]

Năm 2006, Ban quản lý Khu BTTN Ngọc Sơn- Ngổ Luông và Chi cụckiểm lâm Hòa Bình tiếp nhận dự án Ngọc Sơn- Ngổ Luông được thực hiện tronggiai đoạn từ năm 2006 đến năm 2011 Đây là một dự án phát triển do Cơ quanHợp tác Quốc tế và Phát triển của Tây Ban Nha (AECID) tài trợ, Chi cục Kiểmlâm tỉnh Hòa Bình và Quỹ Xúc tiến văn hóa xã hội (FPSC) thực hiện Dự ánnhằm bảo vệ khu hệ động thực vật ở Khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông và vùngphụ cận thông qua xây dựng kế hoạch quản lý và cải thiện sinh kế của người dânđịa phương Nghiên cứu tổng quan về hiện trạng tài nguyên thiên nhiên và đadạng sinh học của dãy núi đá vôi Pù Luông - Cúc Phương (bao gồm Khu BTTN

Pù Luông, Khu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông và VQG Cúc Phương) Kết quảnghiên cứu cho thấy rằng việc thiếu thông tin và số liệu ở Khu BTTN Ngọc Sơn

- Ngổ Luông dẫn tới hiệu quả trong công tác quản lý bảo tồn bị hạn chế Tuynhiên, kết quả của đợt điều tra cũng đã chỉ ra rằng dải núi đá vôi phía Tây Namtỉnh Hòa Bình có một khu hệ thực vật khá phong phú và đa dạng với 667 loàithực vật bậc cao có mạch và 455 loài động vật có xương sống [46], [70], [71]

Trang 26

Năm 2006, Hoàng Văn Chuyên [19] đã nghiên cứu ĐDSH tại Khu Bảotồn Thiên nhiên Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa trong đó có các xã giáp ranh giữaKhu BTTN Ngọc Sơn và Pù Luông và đã đưa ra các giải pháp nhằm bảo tồnĐDSH cho liên khu Pù Luông – Cúc Phương, trong đó nhấn mạnh việc hợp tác,liên kết bảo tồn trong khu vực này Đặc biệt, nghiên cứu đã chú trọng đề xuấtchương trình tuyên truyền nâng cao nhận thức các xã giáp ranh về ranh giới cáckhu bảo tồn.

Cano và Phạm Quang Thiện (2010) đã tổng hợp các điều tra ĐDSH tạiKhu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông và đã xác định khu hệ động thực vật trongkhu vực đa dạng và phong phú Nhiều loài được cho là bị đe dọa ở trong nước vàtoàn cầu [15]

Để bổ sung những kiến thức về thực vật còn thiếu, Trung tâm bảo tồn thựcvật (CPC) thuộc Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam và Tổ chức xúctiến văn hóa xã hội Tây Ban Nha (FPSC) đã hợp tác thực hiện nghiên cứu “Khảosát các nhóm thực vật tiềm năng ở khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn - NgổLuông, tỉnh Hòa Bình’’ từ tháng 9 năm 2010 đến tháng 6 năm 2011 Kết quảkhảo sát đã thu thập được khoảng 1000 tiêu bản của nhóm loài cây Ngọc lan, Thuhải đường, Thông và nhóm cây làm thuốc, khoảng 40% đã xác định được tên loài

và còn lại chỉ xác định được tên chi Trong số đó, có khoảng 109 loài với 250 sốhiệu được đánh giá tình trạng bảo tồn và đề xuất giải pháp bảo tồn các loài thựcvật tiềm năng này [32]

Nhìn chung, các kết quả nghiên cứu nêu trên đã mô tả giá trị ĐDSH củakhu vực, và chủ yếu tập trung vào các loài thú lớn, các loài thực vật bậc cao cómạch, cũng như bước đầu xác định được các vấn đề xã hội có liên quan đến công

Trang 27

tác quản lý bảo tồn và hoạch định các chính sách bảo tồn dựa trên quan điểm bảotồn các loài quan trọng tại Khu BTTN Ngọc Sơn- Ngổ Luông Tuy nhiên, đếnnay chưa có nghiên cứu nào được thực hiện để đánh giá một cách toàn diện có hệthống về quản lý bảo tồn và đề xuất các giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học trêndải núi đá vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình Chính vì vậy, đây là nghiên cứu đầy

đủ, có hệ thống và cụ thể nhất từ trước tới nay và lần đầu tiên có sự đánh giátổng hợp, cụ thể về hiện trạng tài nguyên ĐDSH và đề xuất các giải pháp bảo tồnĐDSH tại dải núi đá vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình

1.3 Điều kiện tự nhiên và KTXH của khu vực nghiên cứu

1.3.1 Đặc điểm tự nhiên khu vực nghiên cứu

a Vị trí khu vực nghiên cứu

Khu vực dải núi đá vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình có toạ độ địa lý: từ

20021’ đến 20038’ Vĩ độ Bắc, từ 105009’ đến 105013’ Kinh độ Đông (Hình 1.2)

Hình 1.2 Sơ đồ dải núi đá vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình

Trang 28

Tổng diện tích tự nhiên là 23.042 ha, bao gồm cả Khu BTTN Ngọc Sơn – NgổLuông nằm trên địa bàn 4 xã của huyện Lạc Sơn: Tự Do, Ngọc Lâu, Tân Mỹ, NgọcSơn; 3 xã thuộc huyện Tân Lạc: Bắc Sơn, Nam Sơn, Ngổ Luông và 3 xã thuộc huyệnMai Châu: Pù Bin, Noong Luông, Vạn Mai Phía Tây Bắc giáp xã Thung Khe,huyện Mai Châu tỉnh Hoà Bình, phía Đông Nam là vùng đệm Vườn quốc giaCúc Phương, phía Tây Nam giáp huyện Quan Hoá, Bá Thước tỉnh Thanh Hoá,phía Đông giáp các xã Lũng Vân, Quyết Chiến, Gio Nhân, Lỗ Sơn, Gia Mô (TânLạc) và các xã Phú Lương, Chí Đạo, Định Cư, Hương Nhượng (Lạc Sơn) [40],[56], [70], [71], [74].

b Địa hình

Dải núi đá vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình là phần giữa của cánh cung đávôi Tây Bắc- Đông Nam miền Bắc Việt Nam, kéo dài từ Cúc Phương- NinhBình đến Mộc Châu - Sơn La, tạo thành dải phân cách giữa miền núi Tây Bắcvới vùng đồng bằng Bắc Bộ Địa hình chia cắt phức tạp, xen kẽ những khối núi

đá vôi hiểm trở chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam là những thung lũng hẹp[40], [70], [72], [74]

c Địa chất, thổ nhưỡng

- Địa chất: Phần lớn diện tích khu vực nghiên cứu phân bố thành dạng dải

kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Thành phần chính gồm: đá sét vôi, bộtkết, đá vôi, đá phiến sét, đôi nơi có kẹp lớp mỏng cát kết hạt mịn Các đá vôi xếpvào nhóm này có dạng khối phân lớp dày Đá vôi bị phong hoá mạnh với các khenứt sâu và rộng do các hoạt động kiến tạo tác động, đồng thời các quá trìnhphong hoá cơ học và phong hoá hoá học xảy ra mạnh mẽ nhất là phong hoá quá

Trang 29

trình hoà tan trên các đá vôi dạng khối Kết quả là trên bề mặt địa hình tạo thànhcác phễu karst đá vôi và dạng địa hình tai mèo điển hình [40],[56], [70], [74].

- Thổ nhưỡng: Khu vực có các loại đất sau: (1)- Đất phù sa ngòi suối phân

bố ở ven các ngòi suối, là những dải đất có diện tích rất nhỏ hẹp, (2)- Đất dốc tụthung lũng phân bố rải rác dưới chân địa hình đồi núi, độ dốc địa hình nhỏ, (3)-Đất feralit bị biến đổi do trồng lúa nước phân bố trên các sườn đủ nước tưới,hoặc có thể chủ động tưới, phát triển trên các sản phẩm hình thành tại chỗ hoặcđất dốc tụ, (4)- Đất feralit mùn phát triển trên đá sét phân bố ở vành đai 700-

1800 m, (5)- Đất feralit nâu đỏ trên đá vôi có màu nâu vàng, thành phần cơ giớitrung bình đến thịt nhẹ, cấu tạo cục ổn định, sâu khoảng 50 cm có xuất hiện kết von,(6)- Đất feralit trên đá sét phân bố ở vành đai thấp (< 700 m), lớp phủ thực vậtnghèo nàn [40], [56], [70], [74]

d Khí hậu

Khu vực nghiên cứu nằm trong miền khí hậu nhiệt đới, gió mùa, ảnhhưởng của khí hậu vùng cao Một năm có 2 mùa và chia theo lượng mưa thì cómùa mưa và mùa khô Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từtháng 10 đến tháng 4 năm sau Các đặc trưng chính của khí hậu trong vùng nhưsau [40], [56], [70], [74]:

- Chế độ nhiệt: Nhiệt độ không khí bình quân năm là 23,30C, nhiệt độtrung bình thấp nhất là 20,60C, nhiệt độ trung bình cao nhất là 27,20C Nhiệt độthấp nhất tuyệt đối từ 3- 50C vào tháng 1, nhiệt độ cao nhất tuyệt đối là 38,50Cvào tháng 6 Biên độ nhiệt trung bình giữa các tháng là 7,60C, biên độ nhiệt giữangày và đêm từ 8- 100C

Trang 30

- Chế độ ẩm: Lượng mưa trung bình năm là 1.750 mm Năm cao nhất tới2.800 mm, năm thấp nhất 1.250 mm Lượng bốc hơi bình quân năm 885 mm,bằng 50,6% lượng mưa trung bình năm, lượng bốc hơi lớn thường xảy ra vào cáctháng ít mưa gây nên tình trạng thiếu nước nghiêm trọng ảnh hưởng đến câytrồng vụ đông xuân Độ ẩm không khí trung bình năm là 82%, giữa các thángtrong năm biến thiên từ 75 - 86%

- Chế độ gió: Hướng gió thịnh hành từ tháng 3 đến tháng 11 là gió mùaĐông Bắc, các tháng còn lại chủ yếu là gió Nam, gió Tây Nam thường xuất hiệnvào tháng 6, 7 gây khô nóng

mm

Tanlac_Hoabinh 0°N/0°W 0m

Hình 1.3 Biểu đồ nhiệt ẩm khu vực nghiên cứu

(Số liệu được thu thập tại Trạm quan trắc khí tượng thủy văn tỉnh Bình từ năm

Trang 31

- Sương muối: Sương muối thường xuất hiện vào tháng 12 và tháng 2 nămsau với tần suất xuất hiện 1- 3 lần/ năm Đây là yếu tố bất lợi cho sinh trưởng vàphát triển của cây trồng.

e Hiện trạng sử dụng đất và tài nguyên rừng

Diện tích các loại đất: Tổng diện tích đất tự nhiên của khu vực nghiên cứu

là 23.042 ha Trong đó 78 % là diện tích đất lâm nghiệp, và 15 % là diện tích đấtnông nghiệp [71], [56] Tuy nhiên hiện nay vẫn còn 6 % tổng diện tích là đấtchưa sử dụng, chủ yếu đất trống đồi núi trọc Ở khu vực có 6 loại hình sử dụngđất khác nhau, bao gồm: canh tác lúa nước ở các thung lũng; canh tác câymàu/lương thực ở các khu đồi các sườn núi; chăn nuôi; trồng rừng trên diện tíchđất rừng đã được giao; quản lý rừng cộng đồng, và làm vườn Chiến lược pháttriển sinh kế và sản xuất ở mỗi xã có khác nhau do sự khác biệt về văn hóa(Người Thái và người Mường) và điều kiện đất đai ở mỗi xã

Trong vùng vẫn còn tồn tại hình thức bảo vệ rừng cộng đồng, gần như ởmỗi thôn bản đều có một khu rừng riêng để sử dụng cho các lợi ích công cộng.Mọi người trong thôn bản đều có ý thức và trách nhiệm cao với tài nguyên thiênnhiên tại khu vực đó mà không ai xâm phạm, việc sử dụng tài nguyên ở khu vựcnày được người dân trong từng thôn bản thảo luận và giải quyết Mô hình quản

lý rừng cộng đồng này cần được nghiên cứu sâu hơn nữa nhằm ứng dụng, lồngghép vào công tác quản lý, bảo tồn ở một quy mô rộng lớn hơn

Tình hình sử dụng đất nông nghiệp: Tổng diện tích đất nông nghiệp ở khuvực (bao gồm cả diện tích đất lúa nước, đất cây màu và đất vườn) năm 2008 là6.442 ha, chỉ chiếm 27,95% tổng diện tích đất tự nhiên Diện tích đất nông

Trang 32

nghiệp trung bình đầu người chỉ là 0,247 ha [71], [56] Canh tác lúa và trồng câymàu, lương thực trên đất dốc, và chăn nuôi là các hoạt động nông nghiệp chínhtrong khu vực.

Tìm hiểu sâu hơn về cuộc sống của người dân cho thấy, việc sử dụng đấtnông nghiệp ở khu vực dải núi đá vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình vẫn còn theotập quán canh tác cổ truyền là tập trung nhiều vào khai thác tự nhiên mà ít chútrọng tới các biện pháp bảo vệ và làm giàu đất [72] Vì vậy, độ màu mỡ đất ngàycàng suy giảm dẫn đến năng suất cây trồng cũng giảm theo

Tình hình sử dụng đất lâm nghiệp: Phân chia đất lâm nghiệp theo chứcnăng: Theo qui hoạch phân chia 3 loại rừng trong tổng quan phát triển lâmnghiệp tỉnh Hoà Bình, chủ yếu diện tích đất lâm nghiệp trong khu vực nghiêncứu thuộc đối tượng là rừng đặc dụng Tuy nhiên, ranh giới các loại rừng vẫnchưa được cắm mốc ngoài thực địa

Tình hình giao đất giao rừng: Đầu năm 2004, nhận thấy tầm quan trọng củaviệc cần phải bảo tồn nguyên vẹn của khu cảnh quan núi đá vôi Pù Luông- CúcPhương và sự đa dạng của nó Chi cục kiểm lâm Hòa Bình đã tiến hành thành lậpKhu BTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông để tạo nên một liên khu được gọi là liên khu

đá vôi Pù Luông – Cúc Phương Từ thời điểm đó, hầu hết các diện tích rừng trong

2 huyện Tân Lạc và Lạc Sơn được coi là rừng đặc dụng và được giao cho BQLKBT quản lý Trong khi đó, diện tích rừng trên địa bàn huyện Mai Châu vẫn làrừng phòng hộ và diện tích giao khoán này vẫn chưa có số liệu cụ thể

Trang 33

Bảng 1.1 Diện tích rừng và đất rừng giao khoán cho các hộ gia đình ở Khu

BTTN Ngọc Sơn – Ngổ Luông năm 2007

Xã nghiệp đã giao cho Diện tích đất lâm

các hộ (ha)

Diện tích rừng đã khoán bảo vệ cho các hộ (ha)

Tổng diện tích (ha)

Nguồn: Dự án Ngọc Sơn-Ngổ Luông, 2008[70]

Đối với các hộ nhận khoán bảo vệ thì trong giai đoạn 2006- 2009 họ vẫn đượcchi trả 50.000 đồng/ha/năm từ Chính phủ, giai đoạn 2009- 2010 số tiền được chi trảtăng lên 100.000 đồng/ha/năm, giai đoạn 2011 đến nay dự án chuyển thành chươngtrình bảo vệ và phát triển rừng bền vững tỉnh Hòa Bình, số tiền chi trả cho công tácbảo vệ rừng là 200.000 đồng/ha/năm Việc quản lý rừng và đất rừng, đặc biệt làdiện tích rừng trên núi đá vôi là nhiệm vụ của ban quản lý Khu bảo tồn và Hạtkiểm lâm Mai Châu, nhưng nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội và quản lý đấtnông nghiệp là trách nhiệm của nhiều cơ quan khác như phòng nông nghiệp,phòng địa chính dưới sự quản lý của ủy ban nhân dân các huyện Tân Lạc, LạcSơn và Mai Châu Ở cơ sở, UBND các xã là cơ quan nhà nước trực tiếp quản lýcác hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội của người dân trong địa giới hành chính

Trang 34

xã, cho nên các hoạt động phát triển kinh tế đôi lúc có ảnh hưởng tiêu cực đếnviệc bảo tồn tài nguyên ĐDSH.

Tình hình sử dụng tài nguyên rừng: Khai thác các sản phẩm rừng đã trởthành thói quen và góp phần đáng kể vào thu nhập của nhân dân trong khu vựcnghiên cứu Lâm sản quan trọng nhất là gỗ, củi Theo kết quả điều tra mặc dù khaithác gỗ củi để bán đã được hạn chế song nhu cầu sử dụng tại chỗ vẫn rất lớn Bìnhquân mỗi năm một xã có 7- 10 hộ làm nhà mới, mỗi nhà cần 15- 20 m3 gỗ Mứctiêu thụ củi bình quân 20 ster/hộ/năm Ngoài gỗ, củi, tre, nứa người dân còn khaithác các loại song, mây và dược liệu, động vật rừng [70], [71], [74]

1.3.2 Đặc điểm kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu

a Dân số

Dải núi đá vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình nằm trên địa bàn 10 xã thuộc 3huyện Tân Lạc, Lạc Sơn, Mai Châu Năm 2008, trong khu vực có 18.087 ngườithuộc 3.929 hộ gia đình Mật độ dân số không cao, trung bình ở khu vực là 61người/km2 Bắc Sơn là xã có mật độ dân số đông nhất với 92 người/km2 Trongkhi đó mật độ dân số của xã Ngổ Luông chỉ là 35 người/km2 Tốc độ tăng dân sốvào khoảng 1,1 %, thấp hơn mức tăng trung bình của Việt Nam (khoảng hơn 1,2

%) Theo các báo các của Ủy ban nhân dân các xã (UBND) trong vùng, đại đa sốdân là dân tộc Mường (trên 70%) Người Thái ở 3 xã (Pù Bin, Noong Luông, VạnMai) chiếm tỷ lệ 25 %, còn lại khoảng 5 % là người Kinh lên buôn bán hoặc lấy

vợ từ vùng khác tới [71]

Trang 35

Bảng 1.2 Đặc điểm về dân số các xã trong khu vực nghiên cứu

Diện tích

- Công tác định canh định cư

Phần lớn dân cư trong vùng hiện nay đã ổn định cuộc sống, định canh, định

cư Tuy nhiên, do những lý do khách quan vẫn còn một số hộ phải di chuyển tự

do vào Nam để làm ăn hoặc chuyển ra gần đường để giao lưu, buôn bán

Đồng bào trong khu vực có tập quán canh tác lúa nước Ruộng lúa có độ màu

mỡ cao, có hệ thống thuỷ lợi dẫn nước từ các khe suối Ngoài lúa tẻ, lúa nếp, còn cóhoa màu và cây củ các loại Cùng với nông nghiệp, chăn nuôi cũng đang trên đườngphát triển trong khu vực, tuy nhiên nhìn chung vẫn còn chậm [40], [56], [70], [74]

Trang 36

b Văn hóa xã hội

Các xã trong khu vực nghiên cứu đều có trạm y tế đặt ở trung tâm, riêngNgọc Sơn có phòng khám bệnh đa khoa cụm xã vùng cao Ngoài ra, có các cơ sở

y tế lưu động ở một số thôn trong khu vực nghiên cứu Các cơ sở y tế này thường

là của gia đình cán bộ trạm y tế xã ở trong thôn đó Tuy nhiên, trên bình diệnchung việc chăm sóc sức khoẻ cho cộng đồng trong khu vực vẫn còn gặp nhiềukhó khăn [40], [56], [70], [74]

Các bệnh thường gặp trong vùng là sốt rét, viêm gan, các bệnh về đường

hô hấp và đường ruột Trong đó, dễ mắc và có tỉ lệ tử vong cao nhất là bệnh sốtrét Bệnh này tập trung cao vào các tháng chuyển mùa hàng năm

c Giáo dục

Mặc dù tỉ lệ trẻ em tới trường cao song hiện tượng bỏ học cũng khá phổbiến tập trung chủ yếu vào giai đoạn chuyển cấp Nguyên nhân bỏ học là dokhông đủ điều kiện kinh tế cho con em tiếp tục tới trường và thiếu sự thúc dụccủa bố mẹ [40], [56]

d Cơ sở hạ tầng

- Giao thông: Giao thông trong vùng đã và đang được nâng cấp Hiện tại, xeôtô vào được tất cả các thôn bản vào mùa khô [40], [56]

- Thủy lợi: Các xã trong vùng đều có hệ thống thủy lợi phục vụ cho hoạt động

sản xuất Các kênh mương chưa được kiên cố hoá, một số công trình thủy nôngkhác trên địa bàn do địa phương quản lý Đập thủy lợi trong khu vực hiện nay đãxuống cấp nghiêm trọng, thường bị hư hỏng do không được tu sửa, bảo dưỡngthường xuyên [40], [56], [70]

Trang 37

- Nước sạch: Nước sạch chưa đủ đáp ứng nhu cầu sử dụng địa phương Nguồnnước sử dụng phổ biến cho sinh hoạt là nước tự chảy và sông suối Đặc biệt, không

hộ nào trong khu vực nghiên cứu đào giếng Hệ thống nước tự chảy hiện nay chỉ đủcung cấp khoảng 65% nhu cầu sử dụng trong vùng [40], [56], [69], [74]

- Điện: Các xã trong vùng đã có hệ thống lưới điện Quốc gia, nhưng chỉ có một

số ít các hộ được sử dụng do thiếu đường dây kéo từ trung tâm xã đến các thônbản Người dân ở các thôn bản xa thường sử dụng máy thủy điện nhỏ để lấy điệnphục vụ sinh hoạt [40], [56], [70], [74]

- Thông tin liên lạc: Phần lớn UBND các xã đã có điện thoại, thậm chí khu vựctrung tâm các xã đã có sóng Viettel, Vina, Mobile thuận lợi để trao đổi thông tin vớicấp huyện, tỉnh Các xã đều có điểm bưu điện văn hoá xã [40], [56], [70], [74]

e Thực trạng sản xuất kinh tế ở khu vực nghiên cứu

Các xã trong khu vực có nền kinh tế kém phát triển, tất cả đều thuộc các xãđặc biệt khó khăn Thu nhập của người dân chủ yếu từ nông nghiệp trong đó sảnphẩm lương thực là chủ đạo, chăn nuôi và các ngành nghề khác chưa phát triển

số ít vẫn được người dân sử dụng để trồng cây lương thực như ngô và sắn

Trang 38

Chăn nuôi: Chăn nuôi trên địa bàn chưa phát triển do những hạn chế nhưđịa hình dốc, không có khu vực chăn thả, thiếu đồng cỏ, thiếu kinh nghiệm và kỹthuật Các loại gia súc, gia cầm chính trong vùng là trâu, bò, lợn, dê, gà …

f Tình hình đói nghèo của khu vực nghiên cứu

Tình hình đói nghèo tại khu vực nghiên cứu đang là vấn đề trở ngại lớn nhấtcho các nhà chức trách của tỉnh Hoà Bình Tỉ lệ hộ đói nghèo cao nhất ở xã NgọcSơn (31,89%), thấp nhất ở xã Tân Mỹ (25,8%) (Phụ lục 01 Điều kiện KTXH củakhu vực nghiên cứu)

Trang 39

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, phạm vi và địa điểm, thời gian nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Thành phần loài động vật và thực vật phân bố tại dảinúi đá vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình; Hiện trạng về bảo tồn và quản lý ĐDSHtại khu vực nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu: ĐDSH dải núi đá vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình và

đề xuất các giải pháp quản lý hiệu quả ĐDSH tại dải núi đá vôi phía Tây Namtỉnh Hòa Bình

Địa điểm nghiên cứu: 10 xã phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình, bao gồm 4 xã củahuyện Lạc Sơn (Tự Do, Ngọc Lâu, Ngọc Sơn, Tân Mỹ); 3 xã thuộc huyện TânLạc (Bắc Sơn, Nam Sơn, Ngổ Luông) và 3 xã thuộc huyện Mai Châu (Pù Bin,Noong Luông, Vạn Mai)

Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2008 đến năm 2012

2.2 Nội dung nghiên cứu

2.2.1 Nghiên cứu đặc điểm ĐDSH tại khu vực nghiên cứu

- Nghiên cứu tính đa dạng thực vật tại khu vực nghiên cứu

- Nghiên cứu tính đa dạng động vật tại khu vực nghiên cứu

2.2.2 Nghiên cứu nguyên nhân suy giảm ĐDSH

Suy giảm ĐDSH được xác định bởi các nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp:(1)- Nguyên nhân trực tiếp: Săn bắt động vật hoang dã, khai thác gỗ trái phép, thuhái lâm sản ngoài gỗ, chăn thả gia súc, xâm lấn rừng lấy đất canh tác, cháy rừng;

Trang 40

(2)- Nguyên nhân gián tiếp: Một số chính sách địa phương chưa đi vào thực tế,tăng dân số, tập sống và sinh hoạt, sự nghèo đói và hiệu lực thi hành pháp luật vềquản lý bảo vệ rừng.

2.2.3 Nghiên cứu thực trạng quản lý và bảo tồn ĐDSH tại khu vực nghiên cứu

Trong khuôn khổ và giới hạn của luận án, chúng tôi tập trung nghiên cứu các vấn đềsau: Hệ thống tổ chức quản lý, nguồn lực và cơ sở hạ tầng; Công tác đào tạo, phát triển

du lịch sinh thái và giáo dục nhận thức; ảnh hưởng của các chương trình, chính sáchquản lý, bảo tồn ĐDSH tại khu vực nghiên cứu; mối quan hệ giữa chủ rừng và các bên

liên quan trong công tác quản lý, bảo tồn ĐDSH; phân tích ma trận SWOT.

2.2.4 Đề xuất giải pháp quản lý và bảo tồn ĐDSH cho khu vực nghiên cứu

- Nhóm giải pháp chiến lược

- Nhóm giải pháp phát triển kinh tế xã hội

(1)- Tiếp cận hệ thống: Hệ thống được hiểu là một cấu trúc hoàn chỉnh nó

bao gồm nhiều bộ phận chức năng liên kết với nhau một cách tổ chức và trật tự,tồn tại và vận động theo những quy luật thống nhất Một hệ thống luôn bao gồm

Ngày đăng: 04/12/2013, 13:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam (2007),“Sách Đỏ Việt Nam, phần I- động vật”. Nxb Khoa học tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách Đỏ Việt Nam, phần I- động vật”
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam
Nhà XB: Nxb Khoa học tự nhiên và Công nghệ
Năm: 2007
2. Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam (2007),“Sách Đỏ Việt Nam, phần II- thực vật”. Nxb Khoa học tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách Đỏ Việt Nam, phần II- thực vật”
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam
Nhà XB: Nxb Khoa học tự nhiên và Côngnghệ
Năm: 2007
3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (1998), “ĐDSH và bảo tồn hệ thống rừng đặc dụng ở Việt Nam”, Thông tin chuyên đề Nông nghiệp và phát triển nông thôn, (2) tr 2-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ĐDSH và bảo tồn hệ thốngrừng đặc dụng ở Việt Nam”
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 1998
4. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2002), “Danh mục các loài tiếng Việt, thực vật hoang dã quy định trong các Phụ lục của công ước CITES” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh mục các loài tiếngViệt, thực vật hoang dã quy định trong các Phụ lục của công ước CITES
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2002
5. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2004), “Chương trình bảo tồn ĐDSH và sinh thái Trung Trường Sơn giai đoạn 2004-2010”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chương trình bảo tồnĐDSH và sinh thái Trung Trường Sơn giai đoạn 2004-2010”
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2004
6. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2004), “Chương trình BirdLife Quốc tế tại Việt Nam, Thông tin về các khu bảo vệ hiện có và đề xuất ở Việt Nam (Tái bản lần thứ hai)”, Sản phẩm của dự án: Hỗ trợ phát triển ngành Lâm nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình BirdLifeQuốc tế tại Việt Nam, Thông tin về các khu bảo vệ hiện có và đề xuất ở ViệtNam (Tái bản lần thứ hai)”
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2004
7. Bộ Tài nguyên và môi trường (2004), “Đa dạng sinh học và bảo tồn”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng sinh học và bảo tồn”
Tác giả: Bộ Tài nguyên và môi trường
Năm: 2004
8. Bộ Tài nguyên và môi trường (2005), “Báo cáo hiện trạng môi trường Quốc gia- Chuyên đề ĐDSH”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hiện trạng môi trường Quốcgia- Chuyên đề ĐDSH”
Tác giả: Bộ Tài nguyên và môi trường
Năm: 2005
9. Bộ Tài nguyên và môi trường (2010), “Báo cáo hiện trạng môi trường Quốc gia- Chuyên đề ĐDSH”. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hiện trạng môi trường Quốcgia- Chuyên đề ĐDSH”
Tác giả: Bộ Tài nguyên và môi trường
Năm: 2010
10.Bộ Tài nguyên và môi trường (2010), “Bối cảnh -sự cần thiết xây dựng chiến lược quốc gia về ĐDSH đến năm 2020”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bối cảnh -sự cần thiết xây dựng chiếnlược quốc gia về ĐDSH đến năm 2020”
Tác giả: Bộ Tài nguyên và môi trường
Năm: 2010
11.Bộ Tài nguyên và môi trường (2011), “Báo cáo quốc gia về Đa dạng sinh học”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo quốc gia về Đa dạng sinhhọc”
Tác giả: Bộ Tài nguyên và môi trường
Năm: 2011
12.Bộ Tài nguyên và môi trường, Tổng cục môi trường (2009), “Báo cáo quốc gia lần thứ 4, thực hiện công ước đa dạng sinh học”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo quốcgia lần thứ 4, thực hiện công ước đa dạng sinh học”
Tác giả: Bộ Tài nguyên và môi trường, Tổng cục môi trường
Năm: 2009
13.Bộ Tài nguyên và môi trường, Tổng cục môi trường (2010), “Hội nghị Quốc gia về môi trường năm 2010”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị Quốcgia về môi trường năm 2010”
Tác giả: Bộ Tài nguyên và môi trường, Tổng cục môi trường
Năm: 2010
14.Fauna &amp; Flora International (2000),“Hướng dẫn điều tra ngoại nghiệp linh trưởng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hướng dẫn điều tra ngoại nghiệp linhtrưởng
Tác giả: Fauna &amp; Flora International
Năm: 2000
15.Cano, Phạm Quang Thiện (2010), “Điều tra đa dạng sinh học tại KBTTN Ngọc Sơn- Ngổ Luông”, Hòa Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra đa dạng sinh học tại KBTTNNgọc Sơn- Ngổ Luông”
Tác giả: Cano, Phạm Quang Thiện
Năm: 2010
17.Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (2003), “Chiến lược quản lý hệ thống rừng đặc dụng tại Việt Nam đến năm 2010”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược quản lý hệ thốngrừng đặc dụng tại Việt Nam đến năm 2010”
Tác giả: Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam
Năm: 2003
18.Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (2006), “Nghị định 32/2006/NĐ-CP, về quản lý động vật rừng, thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 32/2006/NĐ-CP, vềquản lý động vật rừng, thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm”
Tác giả: Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam
Năm: 2006
19. Hoàng Văn Chuyên (2006). “Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp bảo tồn ĐDSH tại Khu BTTN Pù Luông, tỉnh Thanh Hoá”, Luận văn thạc sỹ khoa học môi trường, Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp bảo tồnĐDSH tại Khu BTTN Pù Luông, tỉnh Thanh Hoá”
Tác giả: Hoàng Văn Chuyên
Năm: 2006
20.Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2007), “Quyết định phê duyệt Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 –2020”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định phê duyệt Chiếnlược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 –2020
Tác giả: Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2007
21.Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2008), “Luật số 20/2008/QH12, luật Đa dạng sinh học”, Nxb Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật số 20/2008/QH12, luậtĐa dạng sinh học”
Tác giả: Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Quá trình phát triển hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam [7], [99] - Nghiên cứu quản lý đa dạng sinh học tại dải núi đá vôi phía tây nam tỉnh hòa bình
Hình 1.1. Quá trình phát triển hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam [7], [99] (Trang 19)
Hình 1.2. Sơ đồ dải núi đá vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình - Nghiên cứu quản lý đa dạng sinh học tại dải núi đá vôi phía tây nam tỉnh hòa bình
Hình 1.2. Sơ đồ dải núi đá vôi phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình (Trang 27)
Hình 1.3. Biểu đồ nhiệt ẩm khu vực nghiên cứu - Nghiên cứu quản lý đa dạng sinh học tại dải núi đá vôi phía tây nam tỉnh hòa bình
Hình 1.3. Biểu đồ nhiệt ẩm khu vực nghiên cứu (Trang 30)
Bảng 1.1. Diện tích rừng và đất rừng giao khoán cho các hộ gia đình ở Khu BTTN Ngọc Sơn – Ngổ Luông năm 2007 - Nghiên cứu quản lý đa dạng sinh học tại dải núi đá vôi phía tây nam tỉnh hòa bình
Bảng 1.1. Diện tích rừng và đất rừng giao khoán cho các hộ gia đình ở Khu BTTN Ngọc Sơn – Ngổ Luông năm 2007 (Trang 33)
Bảng 1.2.  Đặc điểm về dân số các xã trong khu vực nghiên cứu - Nghiên cứu quản lý đa dạng sinh học tại dải núi đá vôi phía tây nam tỉnh hòa bình
Bảng 1.2. Đặc điểm về dân số các xã trong khu vực nghiên cứu (Trang 35)
Hình 2.1. Các điểm điều tra ĐDSH thực vật trong khu vực - Nghiên cứu quản lý đa dạng sinh học tại dải núi đá vôi phía tây nam tỉnh hòa bình
Hình 2.1. Các điểm điều tra ĐDSH thực vật trong khu vực (Trang 44)
Bảng 3.2. Diễn biến diện tích rừng tại khu vực nghiên cứu - Nghiên cứu quản lý đa dạng sinh học tại dải núi đá vôi phía tây nam tỉnh hòa bình
Bảng 3.2. Diễn biến diện tích rừng tại khu vực nghiên cứu (Trang 56)
Bảng 3.4. Diện tích các kiểu rừng ở khu vực nghiên cứu năm 2008 - Nghiên cứu quản lý đa dạng sinh học tại dải núi đá vôi phía tây nam tỉnh hòa bình
Bảng 3.4. Diện tích các kiểu rừng ở khu vực nghiên cứu năm 2008 (Trang 59)
Bảng 3.5. Thành phần thực vật rừng khu vực nghiên cứu - Nghiên cứu quản lý đa dạng sinh học tại dải núi đá vôi phía tây nam tỉnh hòa bình
Bảng 3.5. Thành phần thực vật rừng khu vực nghiên cứu (Trang 69)
Bảng 3.6. Mười họ thực vật đa dạng nhất ở khu vực nghiên cứu - Nghiên cứu quản lý đa dạng sinh học tại dải núi đá vôi phía tây nam tỉnh hòa bình
Bảng 3.6. Mười họ thực vật đa dạng nhất ở khu vực nghiên cứu (Trang 70)
Bảng 3.8. Mười loài thực vật nguy cấp, quý hiếm trong khu vực nghiên cứu - Nghiên cứu quản lý đa dạng sinh học tại dải núi đá vôi phía tây nam tỉnh hòa bình
Bảng 3.8. Mười loài thực vật nguy cấp, quý hiếm trong khu vực nghiên cứu (Trang 73)
Bảng 3.9. Các nhóm công dụng của thực vật trong khu vực nghiên cứu - Nghiên cứu quản lý đa dạng sinh học tại dải núi đá vôi phía tây nam tỉnh hòa bình
Bảng 3.9. Các nhóm công dụng của thực vật trong khu vực nghiên cứu (Trang 74)
Bảng 3.10. Thành phần các loài động vật có xương sống tại khu vực nghiên cứu - Nghiên cứu quản lý đa dạng sinh học tại dải núi đá vôi phía tây nam tỉnh hòa bình
Bảng 3.10. Thành phần các loài động vật có xương sống tại khu vực nghiên cứu (Trang 76)
Bảng 3.11. So sánh động vật ở khu vực nghiên cứu và các khu vực lân cận - Nghiên cứu quản lý đa dạng sinh học tại dải núi đá vôi phía tây nam tỉnh hòa bình
Bảng 3.11. So sánh động vật ở khu vực nghiên cứu và các khu vực lân cận (Trang 77)
Bảng 3.12. Thành phần loài Thú tại khu vực nghiên cứu - Nghiên cứu quản lý đa dạng sinh học tại dải núi đá vôi phía tây nam tỉnh hòa bình
Bảng 3.12. Thành phần loài Thú tại khu vực nghiên cứu (Trang 78)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w