Luận văn
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế Việt Nam những năm gần đây luôn đạt được tốc độ tăng trưởngcao so với khu vực do chủ trương phát triển kinh tế hiện đại hóa, công nghiệp hóa
và hội nhập kinh tế thế giới Chính phủ khuyến khích đầu tư, liên kết, phát triểnkinh tế, tự do hóa thương mại không những trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam màcòn ở nước ngoài Với chủ trương khuyến khích đầu tư, Chính phủ đã nới lỏng cácquy định pháp lý, tạo điều kiện để các doanh nghiệp phát triển tất cả các lĩnh vựckinh doanh, đan xen hỗn hợp phong phú Với sự thông thoáng của Luật Doanhnghiệp trong việc cho phép thành lập doanh nghiệp, số lượng các tổ chức, cá nhânkinh doanh ngày càng tăng, nhiều nghiệp vụ kinh tế mới xuất hiện, phát sinh Hàngnăm có hàng chục ngàn doanh nghiệp và hộ kinh doanh mới ra đời thuộc diện quản
lý thu thuế Mặt trái của sự phát triển nhanh về số lượng người nộp thuế (NNT) làmột số NNT có ý thức tuân thủ pháp luật thuế không tốt, có hành vi gian lận ngày càngtinh vi và phức tạp, thủ đoạn trốn- tránh thuế khó phát hiện hơn trước nhiều lần
Thanh tra thuế được coi như bộ phận chủ lực của ngành thuế trong phòngngừa, răn đe gian lận trong chống trốn-tránh thuế, nâng cao tính tuân thủ của NNT.Thanh tra thuế được sử dụng như chức năng đảm bảo pháp chế thuế, giúp tăngcường kỷ luật, kỷ cương trong lĩnh vực thuế, nâng cao hiệu quả của quản lý Nhà nước vềthuế, phải được xác định như một nhân tố tất yếu của công tác quản lý thuế
Thanh tra thuế được coi như một biện pháp hữu hiệu của cơ quan thuế(CQT) nhằm răn đe, phát hiện, xử lý, hạn chế những sai phạm của NNT, nâng caotính nghiêm minh của pháp luật, làm cho NNT tự giác tuân thủ, đảm bảo sự côngbằng khách quan cho NNT, nhờ vậy mà tác động ngược trở lại thúc đẩy nền kinh tếphát triển lành mạnh, bền vững
Việc nâng cao hiệu quả thanh tra thuế là hết sức cần thiết, vì:
Thứ nhất, do mâu thuẫn giữa sự gia tăng số lượng NNT và số lượng cán bộ
làm công tác thanh tra
Số lượng NNT hoạt động trong nền kinh tế tăng rất nhanh và đa dạng, nhiềulĩnh vực kinh doanh mới ra đời: kinh doanh qua mạng phát triển, các giao dịch, hợp
Trang 2đồng và thanh toán được thực hiện bằng điện tử; việc hạch toán kế toán và lưu giữchứng từ càng được điện tử hoá Hoạt động của NNT đa dạng, phức tạp làm chocông tác thanh tra thuế càng gặp nhiều khó khăn, chưa theo kịp yêu cầu phát triểnrất nhanh chóng của nền kinh tế Trong khi đó, số lượng công chức làm công tácthanh tra thuế còn ít Mâu thuẫn về số lượng NNT phát triển và hạn chế về nguồnlực, cán bộ thanh tra (CBTT) đã gây khó khăn và thách thức cho công tác thanh tra thuế
Thứ hai, do tình trạng gian lận, trốn-tránh thuế, không tuân thủ pháp luật
thuế ngày càng tinh vi, phức tạp
Một bộ phận NNT đã lợi dụng “kẽ hở” của các Luật thuế và sự chưa quyếtliệt giám sát chặt chẽ của CQT để “lách” luật, trốn-tránh nghĩa vụ khai, nộp thuế,chưa thực sự tự giác tính đúng, tính đủ số thuế phải nộp, “chây ỳ” nợ đọng tiềnthuế, hoạt động liên kết, chuyển giá xảy ra trong nhiều loại hình NNT khác nhau …với mức độ ngày càng tinh vi và phức tạp, hành vi, thủ đoạn cũng ngày càng khóphát hiện hơn, gây nhức nhối cho nền kinh tế, xã hội và trật tự quản lý kinh tế, đòihỏi các ngành, các cấp phải cùng vào cuộc phòng chống… Các hành vi trốn-tránh,gian lận thuế của NNT chưa được CQT kịp thời phát hiện và ngăn chặn đã phầnnào làm giảm tính răn đe, nghiêm minh của pháp luật thuế, chưa có tác động thúcđẩy tính tự giác tuân thủ của NNT Nhìn chung hiện nay thanh tra thuế đang “đisau” doanh nghiệp, chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác phòng chống, hạn chế,phòng ngừa gian lận thuế Nguyên nhân của những yếu kém này một phần do thẩmquyền xử lý của thanh tra thuế còn hạn hẹp, cách thức tổ chức hoạt động thanh trachưa khoa học, phương pháp thanh tra chưa khoa học và lực lượng thanh tra cònmỏng, trình độ cán bộ thanh tra (CBTT) còn hạn chế,…
Thứ ba, do yêu cầu của đổi mới cơ chế quản lý thuế và sự thay đổi của chính
sách thuế
Sự thay đổi cách thức vận hành của cơ chế quản lý thuế mới đòi hỏi tất yếucông tác thanh tra thuế (một trong các chức năng cơ bản của quản lý thuế) đổi mới,nâng cao hiệu quả Do đó, để thực hiện tốt chức năng quản lý của mình, CQT buộcphải thay đổi phương thức quản lý, để quản lý NNT phù hợp hơn Việc quản lýkinh tế nói chung và quản lý hoạt động của NNT nói riêng cũng phải sử dụng cáccông cụ và phương pháp quản lý hiện đại Với sự tăng trưởng về kinh tế, sự hoàn
Trang 3thiện hệ thống chính sách thuế và xu hướng hội nhập, ngành thuế Việt Nam khôngthể duy trì cách quản lý truyền thống và thủ công như hiện nay Để khắc phụcnhững hạn chế, tồn tại của chính mình, công tác thanh tra thuế cần phải tất yếu đổimới, nâng cao hiệu quả cho phù hợp
Ngoài ra, thanh tra thuế cần đổi mới do hàng loạt các luật thuế thay đổi: thuếgiá trị gia tăng (GTGT), thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), thuế thu nhập cánhân (TNCN) Thời gian qua, nước ta mới chỉ tập trung nhiều vào cải cách hệthống chính sách thuế, tuy nhiên khâu tổ chức thực hiện vẫn còn chưa tương xứngvới mục tiêu quản lý Nhà nước về thuế, kết quả đạt được của thanh tra thuế còn hạnchế, quy trình quản lý thuế tại một số khâu còn phức tạp, thiếu tính thống nhất giữacác sắc thuế hoặc giữa những NNT trong việc kê khai nộp thuế, các tổ chức, cánhân liên quan chưa thật sự chủ động phối hợp trong việc cung cấp thông tin, chia
sẻ trách nhiệm với CQT để thu thuế… làm hạn chế tính chính xác, tính khả thi vàhiệu quả của công tác chỉ đạo thu và việc thi hành chính sách thuế
Thứ tư, do yêu cầu quản lý thuế trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Ngày nay, xu thế hội nhập, liên kết phát triển kinh tế trong khu vực và tiếntới toàn cầu hoá kinh tế ngày càng ở mức độ cao và là tất yếu khách quan Theo đóhội nhập quốc tế về thuế ngày càng rộng và sâu, nhằm khuyến khích đầu tư, tự dohoá thương mại trong khu vực và trên toàn thế giới Ngoài việc phải xây dựng hệthống chính sách thuế tương thích yêu cầu hội nhập quốc tế, công tác quản lý thuế-trong đó có thanh tra thuế- phải được cải cách và hiện đại hoá theo các chuẩn mựcquản lý thuế quốc tế nhằm thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài vào Việt Nam vàkhuyến khích doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài, tạo môi trường thuậnlợi, đồng nhất về thuế để phát triển kinh tế (hiện tại, sự khác biệt giữa Việt Nam vàcác nước tiên tiến về hệ thống thuế và cơ chế quản lý thuế còn khá lớn)
Tình trạng cấp bách trên đặt ra cho công tác quản lý thuế nói chung và thanhtra thuế nói riêng nhiều thách thức và buộc phải điều chỉnh cho phù hợp với thựctiễn quản lý và phát huy vai trò, tác dụng của mình Thanh tra thuế phải đổi mới,nâng cao chất lượng, phát huy tính hiệu quả tương thích, phù hợp với trình độ pháttriển của doanh nghiệp và của nền kinh tế, phù hợp với các chuẩn mực quản lý thuếquốc tế Do đó, cần phải nâng cao chất lượng, hiệu quả thanh tra thuế của CQT các
Trang 4cấp từ trung ương đến địa phương nhằm nâng cao khả năng phát hiện gian lận,trốn-tránh thuế, tăng thu cho ngân sách nhà nước (NSNN), nâng cao tính răn đe,phòng ngừa gian lận, nâng cao ý thức tuân thủ của NNT, tạo môi trường cạnh tranhbình đẳng và lành mạnh cho NNT trong điều kiện nền kinh tế thị trường.
Về mặt lý luận, thanh tra thuế có vai trò rất quan trọng, nhưng trong thực tế,thanh tra thuế chưa phát huy được hết vai trò, tác dụng và chưa được đầu tư, sửdụng như một công cụ hiệu quả để chống gian lận, chống thất thu ngân sách và răn
đe, phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về thuế
Vậy làm thế nào để CQT với điều kiện khó khăn và nguồn lực hạn chế màvẫn tổ chức thanh tra thuế đạt hiệu quả cao nhất trong bối cảnh số lượng NNT ngàycàng gia tăng và các thủ đoạn vi phạm ngày càng tinh vi, phức tạp? Tác giả đã chọn
đề tài “Nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra người nộp thuế ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài nghiên cứu cho luận án.
2 Mục đích nghiên cứu của Luận án
Mục đích nghiên cứu của Luận án: nghiên cứu cơ sở lý luận về hiệu quảthanh tra thuế, xác định, đánh giá hiệu quả của thanh tra thuế và đề xuất các giảipháp nâng cao hiệu quả thanh tra thuế ở Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu của luận án: là thanh tra thuế và hiệu quả thanh tra
thuế đối với NNT Cụm từ “thanh tra người nộp thuế” đề cập trong Luận án được
viết gọn lại thành “thanh tra thuế” với nội hàm là tương đương.
Việc đánh giá hiệu quả thanh tra thuế về mặt định lượng trong luận án dựa trên cơ sở đánh giá từng cuộc thanh tra thuế bởi hiệu quả thanh tra thuế nói chung
được cấu thành từ hiệu quả của từng cuộc thanh tra thuế
Phạm vi nghiên cứu: Do phạm vi của thanh tra thuế là rất rộng nên luận ánchỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về thanh tra thuế, hiệu quả
thanh tra thuế chủ yếu đối với NNT là các doanh nghiệp thành lập theo Luật Doanh
nghiệp Luận án không nghiên cứu: thanh tra theo đơn thư khiếu nại, tố cáo và phúctra kết quả thanh tra thuế, thanh tra sau hoàn thuế
Luận án sử dụng tài liệu, số liệu trong phạm vi của Tổng cục Thuế và củamột số Cục Thuế lớn đem lại số thu chủ yếu cho ngành thuế như TP Hà Nội, TP
Trang 5Hồ Chí Minh, Vĩnh Phúc trong giai đoạn 2007-2012 để đánh giá thực trạng hiệuquả thanh tra thuế Một số giải pháp luận án đề xuất áp dụng trong giai đoạn từnăm 2013-2020
4 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận án bao gồm: phươngpháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp tổng hợp,phân tích, so sánh và phương pháp thống kê; phương pháp phân tích rủi ro
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Về mặt khoa học: Luận án góp phần bổ sung và hoàn thiện cơ sở lý luận về
thanh tra thuế và hiệu quả thanh tra thuế
Về mặt thực tiễn: Luận án phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả thanh tra
thuế ở Việt Nam thời gian qua Từ thực trạng đó, luận án phân tích, đánh giá những
ưu điểm và hạn chế, tồn tại, chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại liênquan đến hiệu quả thanh tra thuế Luận án đưa ra các yêu cầu đặt ra đối với việcnâng hiệu quả thanh tra thuế ở Việt Nam thời gian tới và đề xuất các giải pháp,điều kiện để thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thanh tra thuế ở ViệtNam
6 Kết cấu của luận án
Tên Luận án: “Nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra người nộp thuế ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án bao
gồm bốn chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về hiệu quả thanh tra người nộp thuế.Chương 2: Một số vấn đề lý luận về hiệu quả thanh tra người nộp thuế
Chương 3: Thực trạng hiệu quả thanh tra người nộp thuế ở Việt Nam
Chương 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả thanh tra người nộp thuế ở Việt Nam
Trang 6Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ HIỆU QUẢ THANH TRA NGƯỜI NỘP THUẾ
1.1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ HIỆU QUẢ THANH TRA THUẾ
1.1.1 Các tài liệu cơ bản lý luận về thanh tra thuế, hiệu quả thanh tra thuế
Nội hàm thanh tra thuế, hiệu quả thanh tra thuế đề cập trong Luận án đượcnghiên cứu, kế thừa từ một số tài liệu:
Học viện Tài chính (2005), Giáo trình Lý thuyết Tài chính; Học viện Tài chính (2009), Giáo trình Thuế; Học viện Tài chính (2009), Giáo trình Nghiệp vụ thuế; Học viện Tài chính (2010), Giáo trình Lý thuyết thuế; Học viện Tài chính (2000), Giáo trình Thanh tra tài chính; Trường Cán bộ Thanh tra (2008), Nghiệp
vụ công tác thanh tra; Trường Cán bộ Thanh tra (2008), Kiểm tra tài chính trong các doanh nghiệp; Quang Anh, Hà Đăng (2002), Những điều cần biết về thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp; Trường Nghiệp vụ thuế (2008), Tài liệu đào tạo nghiệp vụ thanh tra viên thuế; Trường Nghiệp vụ thuế (2009), Tài liệu đào tạo nghiệp vụ thanh tra viên chính thuế; Trường Cán bộ Thanh tra (2009), Nghiệp vụ công tác thanh tra- Chương trình thanh tra viên chính, Hà Nội.
Các tài liệu này đặt nền móng cho những lý thuyết về thuế, về quản lý thuếtrong đó có thanh tra thuế mà nghiên cứu đặt ra
Ngoài ra, theo khảo sát của tác giả, trên thế giới hiện có một số tài liệu của
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế Châu Âu (OECD) viết về thanh tra thuế như:
OECD (2004), Quản lý rủi ro tuân thủ: các hệ thống lựa chọn trường hợp thanh tra; OECD (2004), Nâng cao năng lực thanh tra thuế: những nguyên tắc và phương pháp chung, OECD (2009): Trốn- tránh thuế quốc tế; OECD (2010): Thông lệ quốc tế về lựa chọn trường hợp thanh tra dựa trên rủi ro, Economic
Policy Analysis
Các tài liệu trên đều có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến thanh tra thuế
1.1.2 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài đã công bố
Ở Việt Nam, cho đến nay chưa có một nghiên cứu nào riêng về thanh trathuế và nâng cao hiệu quả thanh tra thuế đối với NNT là các doanh nghiệp Tuy
Trang 7nhiên cũng đã có một số công trình triển khai nghiên cứu gộp hai nội dung về thanhtra, kiểm tra thuế dưới dạng giáo trình, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ hoặc một sốbài báo Dưới đây là tóm tắt một số nội dung nghiên cứu của các tác giả có liênquan đến thanh tra thuế, hiệu quả thanh tra thuế.
1.1.2.1 Nhóm luận văn nghiên cứu về đổi mới công tác kiểm tra, thanh tra thuế
Ở phạm vi toàn ngành thuế
Nhóm các tác giả viết về đề tài kiểm tra, thanh tra thuế với phạm vi nghiêncứu là toàn ngành thuế gồm có một số tác giả:
Nguyễn Thị Lan (2009), Các giải pháp hạn chế việc trốn thuế và tránh thuế
của các công ty đa quốc gia hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, Luận án Tiến sĩ
kinh tế, Học viện Tài chính, Hà Nội; Thành Xuân Lý (2006), Thanh tra, kiểm tra
thuế trong điều kiện thực hiện cơ chế cơ sở sản xuất, kinh doanh tự kê khai, tự nộp thuế ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Học viện Tài chính, Hà Nội; Phạm
Thúy Hồng (2007), Hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế theo Chương
trình cải cách và hiện đại hóa ngành thuế Việt Nam đến năm 2010, Luận văn Thạc
sĩ kinh tế, Học viện Tài chính, Hà Nội ; Hoàng Vân Anh (2008), Một số biện pháp đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra thuế trong điều kiện thực hiện Luật Quản lý thuế ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Học viện Tài chính, Hà Nội ; Nguyễn Chí Dũng (2009), Thanh tra, kiểm tra nhằm nâng cao tính tuân thủ của người nộp thuế trong điều kiện Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Học viện Tài chính, Hà Nội ; Lê Thị Phương Thảo (2009), Đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế ở Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Học viện Tài chính, Hà Nội ; Ngô Thị Thu Hương (2011), Nâng cao hiệu quả thanh tra, kiểm tra đối với người nộp thuế trong tiến trình hiện đại hóa công tác quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Học viện Tài chính, Hà Nội.
Những vấn đề đã được nghiên cứu:
Phạm vi hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế mà các tác giả đề cập tương đốirộng, bao gồm: kiểm tra, thanh tra thuế nói chung và kiểm tra, thanh tra nội bộ vàgiải quyết khiếu nại tố cáo
Các tác giả đã đánh giá được khái quát thực trạng kiểm tra, thanh tra thuếtrên các mặt: bộ máy, kết quả thu, quy trình nghiệp vụ, cơ sở dữ liệu… và chỉ ra tồn
Trang 8tại chủ yếu ở khâu lực lượng kiểm tra, thanh tra thuế, công tác lập kế hoạch, chất lượngcuộc kiểm tra, thanh tra thấp và những nguyên nhân từ cơ chế chính sách và đối tượngnộp thuế Ở từng luận văn, các tác giả đã đạt được các kết quả cụ thể:
Luận án của tác giả Nguyễn Thị Lan đã hệ thống hóa lý luận về vấn đề trốnthuế, tránh thuế của các công ty đa quốc gia Phần thực trạng, luận án nhấn mạnh:các công ty đa quốc gia là các đối tượng nộp thuế có nguy cơ trốn thuế và tránhthuế rất cao, hiện tượng lợi dụng việc định giá chuyển giao để trốn, tránh thuế làkhá phổ biến Công tác kiểm tra, thanh tra thuế đối với các công ty đa quốc gia cònnhiều hạn chế, chưa hữu hiệu và đáp ứng yêu cầu quản lý đối với các đối tượngnày Phần giải pháp, luận án có đề cập đến biện pháp đổi mới công tác thanh trathuế đối với các công ty đa quốc gia theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, tập trungvào vấn đề định giá chuyển giao giữa công ty ở Việt Nam với công ty liên kết,thành lập bộ phận thanh tra về giá chuyển giao
Luận văn của tác giả Thành Xuân Lý đã đánh giá được khái quát thực trạngkiểm tra, thanh tra thuế trên các mặt: bộ máy, kết quả thu, quy trình nghiệp vụ, cơ
sở dữ liệu… và chỉ ra tồn tại chủ yếu ở khâu lực lượng kiểm tra, thanh tra thuế,công tác lập kế hoạch, chất lượng cuộc kiểm tra, thanh tra thấp và những nguyênnhân từ cơ chế chính sách và đối tượng nộp thuế
Luận văn của tác giả Phạm Thúy Hồng có phạm vi nghiên cứu là hoàn thiệncông tác kiểm tra, thanh tra thuế theo Chương trình cải cách, hiện đại hóa ngànhthuế đến năm 2010 Tác giả đã đánh giá thực trạng tổ chức bộ máy của kiểm tra,thanh tra thuế theo hai giai đoạn từ 1999-2004 và từ 2004-2006 qua các mặt: trình
độ của CBTT, việc lập kế hoạch kiểm tra, thanh tra thuế qua các năm
Luận văn của tác giả Hoàng Vân Anh đã đánh giá khái quát thực trạng kiểmtra, thanh tra thuế trên phạm vi toàn quốc theo hai giai đoạn: từ trước khi có LuậtQuản lý thuế và sau khi có Luật Quản lý thuế
Luận văn của tác giả Nguyễn Chí Dũng đã phân tích kiểm tra, thanh tra thuếdưới giác độ tuân thủ của NNT, đã nêu được một số vai trò của kiểm tra, thanh trathuế đối với việc nâng cao tính tuân thủ của NNT Tác giả đã đề cập các giải pháp điềukiện để nâng cao tính tuân thủ như xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả kiểmtra, thanh tra thuế như tỷ lệ NNT tiến hành thanh tra, kiểm tra trong vòng một năm Tỷ
lệ phần trăm (%) độ chính xác tại khâu phân tích hồ sơ so với kết quả thanh tra
Trang 9Luận văn của tác giả Lê Thị Phương Thảo đã đánh giá thực trạng kiểm tra,thanh tra thuế qua ba nội dung: kiểm tra đăng ký thuế; chấp hành chế độ kế toán sổsách chứng từ, hóa đơn; kê khai, tính thuế và nộp thuế Qua đó, luận văn đã phântích những ưu điểm và hạn chế của khâu lập kế hoạch kiểm tra, thanh tra thuế cácnăm từ 2005-2008 Phần giải pháp đổi mới kiểm tra, thanh tra thuế luận văn tậptrung vào một số giải pháp như: phân cấp quản lý doanh nghiệp, xây dựng tiêu chí,đánh giá, lựa chọn xếp loại doanh nghiệp để có chiến lược kiểm tra, thanh tra thuế
cụ thể cho từng loại hình doanh nghiệp
Luận văn của tác giả Ngô Thị Thu Hương có hàm lượng nghiên cứu về hiệuquả kiểm tra, thanh tra thuế là đáng kể so với các công trình trước đó Tác giả đã kếthừa, đưa ra những tiêu chí định lượng và định tính về hiệu quả kiểm tra, thanh trathuế, nêu lên được các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kiểm tra, thanh tra thuế nhưđiều kiện kinh tế xã hội, trình độ dân trí, mô hình quản lý thuế, cơ chế quản lý thuế
Những vấn đề chưa được nghiên cứu
Nhìn chung, do các luận văn trên nghiên cứu gộp chung kiểm tra và thanhtra thuế nên chưa tách bạch riêng được hiệu quả thanh tra thuế và hiệu quả của hoạtđộng kiểm tra thuế Các tác giả mới chỉ dừng lại ở việc liệt kê tên các tiêu chí hiệuquả kiểm tra, thanh tra thuế mà chưa nêu rõ công thức tính, ý nghĩa của các tiêu chí
về mặt định lượng cũng như định tính
Các luận văn chưa đánh giá thực trạng hiệu quả kiểm tra, thanh tra thuế theocác tiêu chí hiệu quả mà dừng lại ở việc đánh giá thực trạng kiểm tra, thanh tra thuếnói chung qua số thuế truy thu Việc đánh giá hiệu quả thanh tra thuế cần dựa trênrất nhiều tiêu chí định tính và định lượng, nếu chỉ dừng lại ở việc phân tích tiêu chí
số thuế truy thu thì chưa đủ
Các giải pháp các luận văn đề xuất chủ yếu về đổi mới hoạt động kiểm tra,thanh tra thuế mà ít đề cập đến các giải pháp trực tiếp để nâng cao hiệu quả hoạtđộng kiểm tra, thanh tra thuế, đa phần là các giải pháp điều kiện như hoàn thiện hệthống pháp luật, tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng CBTT, kiểm tra Một số luậnvăn đề xuất giải pháp "tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống tiêu chí đánh giáhiệu quả công tác thanh tra" một cách chung chung mà chưa đưa ra các tiêu chíđánh giá cụ thể
Trang 10Số liệu kết quả kiểm tra, thanh tra thuế là kết quả của toàn ngành thuế,nhưng nếu các luận văn đưa ra số liệu kết quả của một số CQT địa phương thì sẽcho thấy bức tranh toàn cảnh của hiệu quả kiểm tra thuế, thanh tra thuế rõ nét hơn
Một số luận văn được thực hiện trong bối cảnh Luật Quản lý thuế chưa ban
hành và chưa có quy trình thanh tra thuế riêng nên nên tính thời sự, cấp thiết đãkhông còn, một số giải pháp đã không còn phù hợp với thực tế hoặc đã được ápdụng, triển khai từ trước khi có kiến nghị, đề xuất
Ở phạm vi các CQT địa phương
Nhóm các tác giả viết về đề tài kiểm tra, thanh tra thuế ở các địa phương
gồm: Đàm Thị Thu Hương (2005), Đổi mới công tác thanh tra- kiểm tra tại CQT địa phương, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Học viện Tài chính, Hà Nội ; Nguyễn Thị Nhung (2006), Đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Học viện Tài chính, Hà Nội; Nguyễn Thị Thanh Minh (2007), Đổi mới thanh tra, kiểm tra thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp trên địa bàn tỉnh Tiền Giang, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Học viện Tài chính, Hà Nội; Nguyễn Lan Anh (2009), Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc nhằm nâng cao hiệu lực quản lý thuế, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Học viện Tài chính, Hà Nội ; Phan Bùi Kim Thoa (2011), Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra trong quản lý thuế ở Cục Thuế Nghệ An, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Học viện Tài chính,
Hà Nội; Đặng Đình Long (2012), Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra ở Cục Thuế Nam Định, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Học viện Tài chính, Hà Nội ; Phạm Đức Long (2012), Hoàn thiện công tác kiểm tra, thanh tra thuế tại Cục Thuế Thái Bình, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Học viện Tài chính, Hà Nội ; Phan Thị Minh Hiền (2012), Nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế của Cục Thuế đối với các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội, Luận
văn Thạc sĩ kinh tế, Học viện Tài chính, Hà Nội
Những vấn đề đã được nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của của các luận văn rất rộng, gồm hoạt động kiểm tra,thanh tra thuế tại các địa phương, không đề cập đến thanh tra ở văn phòng Tổngcục Thuế và kiểm tra, thanh tra thuế ở các Chi cục Thuế
Trang 11Nội dung nghiên cứu: ngoài thanh tra, kiểm tra NNT bao gồm kiểm tra, thanh trathuế nội bộ ngành và thanh tra giải quyết khiếu nại tố cáo trong lĩnh vực thuế.
Liên quan đến hiệu quả thanh tra thuế: các luận văn đã đánh giá được kếtquả kiểm tra, thanh tra thuế theo số thuế truy thu bình quân trên một cuộc thanh tranhư một chỉ tiêu hiệu quả
Các giải pháp của các luận văn đề xuất chủ yếu liên quan đến vấn đề đổi mớicông tác kiểm tra, thanh tra thuế như tổ chức bộ máy, quy trình, công tác phốihợp… trên một số địa bàn: Hà Nội, Vĩnh Phúc, Tiền Giang, Nam Định Các kếtquả nghiên cứu cụ thể của từng luận văn như sau:
Luận văn của tác giả Nguyễn Thị Nhung đã phân tích cụ thể kiểm tra, thanhtra thuế trong quy trình CQT tính thuế và ra thông báo thuế và trong quy trình tựtính, tự kê khai và tự nộp thuế
Luận văn của tác giả Nguyễn Thị Thanh Minh phân tích vai trò của kiểm tra,thanh tra thuế trong cơ chế tự khai, tự nộp, chỉ rõ một số mục tiêu cần đạt được củakiểm tra, thanh tra thuế Đã đánh giá được thực trạng công tác kiểm tra, thanh trathuế giai đoạn 2002-2006 ở Cục Thuế tỉnh Tiền Giang qua các mặt tổ chức bộ máy,kết quả thu, hành vi vi phạm… và chỉ ra tồn tại, nguyên nhân như việc lập kế hoạchkiểm tra, thanh tra thuế còn dựa vào cảm tính, thời gian cần thiết để lập biên bảnkiểm tra, thanh tra thuế chưa chính xác, báo cáo kết quả thanh tra kiểm tra quánhiều, nội dung trùng lắp…
Luận văn của tác giả Nguyễn Lan Anh đã đánh giá kết quả của công táckiểm tra, thanh tra thuế theo một tiêu chí định lượng là số NNT được kiểm tra,thanh tra và số thuế truy thu, nợ đọng
Luận văn của tác giả Hoàng Thị Hiền đề cập trực tiếp đến việc nâng cao hiệuquả công tác kiểm tra, thanh tra thuế, đã có những phân tích khái quát về thực trạng tìnhhình kiểm tra, thanh tra thuế tại Cục Thuế Hưng Yên theo các nội dung của kiểm tra,thanh tra thuế: mã số thuế, khai thuế, tính thuế, nợ…và đã chỉ ra được những tồn tại,yếu kém, nguyên nhân của những hạn chế này trong thanh, kiểm tra thuế
Luận văn của tác giả Phan Bùi Kim Thoa: Phần giải pháp luận văn đề cậpđến việc nâng cao hiệu quả các biện pháp nghiệp vụ khi tiến hành kiểm tra, thanhtra thuế tại cơ sở của NNT, đồng thời cần thường xuyên tổng kết, đánh giá hiệu quảcông tác kiểm tra, thanh tra
Trang 12Luận văn của tác giả Đặng Đình Long đã đánh giá khái quát thực trạng kiểmtra, thanh tra thuế tại Nam Định từ năm 2010 đến 2011 qua số thuế truy thu vàphạt, đồng thời đã chỉ ra những hạn chế, tồn tại ở hai hình thức kiểm tra, thanh trathuế: tại CQT và tại cơ cở của NNT Các giải pháp nâng cao chất lượng kiểm tra,thanh tra thuế chủ yếu tập trung vào tổ chức lại bộ máy, công tác chuyên môn vàhoàn thiện chính sách.
Luận văn của tác giả Phạm Đức Long trình bày lý luận tương đối phong phú
và chi tiết các phương pháp kiểm tra, thanh tra thuế Luận văn nêu lên được bốntiêu chí định lượng và ba tiêu chí định tính về hiệu quả kiểm tra, thanh tra thuế,trình bày cách tính và ý nghĩa của từng tiêu chí là điểm nổi bật của luận văn
Luận văn của tác giả Phan Thị Minh Hiền đã trình bày lý luận hiệu quả kiểm
tra, thanh tra thuế với các nội dung: khái niệm và các tiêu chí xác định hiệu quả
kiểm tra, thanh tra thuế Hiệu quả của kiểm tra, thanh tra thuế được xác định quacác tiêu chí: số thu tăng, chi phí thấp, mức độ thực thi pháp luật, công bằng xã hội
Những vấn đề chưa nghiên cứu
Cũng như các luận văn nghiên cứu về kiểm tra, thanh tra thuế trên phạm vitoàn ngành, các luận văn viết về kiểm tra, thanh tra thuế ở phạm vi địa phươngchưa tách bạch riêng hoạt động thanh tra và kiểm tra nên khó đánh giá được hiệuquả riêng từng hoạt động trong quản lý thuế
Hàm lượng viết về hiệu quả kiểm tra, thanh tra thuế của các luận văn chưanhiều Các luận văn chưa nêu được cụ thể cách tính toán, ý nghĩa của các tiêu chíhiệu quả của kiểm tra, thanh tra thuế, chưa phân biệt giữa tiêu chí định lượng vàtiêu chí định tính Khi đánh giá thực trạng chi phí kiểm tra, thanh tra thuế, các tácgiả chưa lượng hóa được chi phí thực hiện một cuộc thanh tra, kiểm tra
Phần thực trạng kiểm tra, thanh tra thuế: các tác giả chưa đánh giá kết quảđạt được theo các tiêu chí hiệu quả nêu ra ở phần lý luận nên chưa cho người đọcthấy được tổng quát về hiệu quả của hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế Đồng thời,các luận văn chưa so sánh kết quả kiểm tra, thanh tra thuế của các CQT địa phươngkhác có cùng quy mô, đặc điểm với kết quả kiểm tra, thanh tra thuế của CQT địaphương nghiên cứu hoặc chỉ tiêu của toàn ngành để thấy được hiệu quả mà ngànhthuế địa phương làm được đang ở mức độ nào trong tổng thể hiệu quả khách quanthanh tra thuế nói chung
Trang 13Phạm vi nghiên cứu của các luận văn tương đối hẹp, giới hạn ở việc đánh giácông tác kiểm tra, thanh tra thuế trong nội bộ trong địa bàn từng tỉnh cụ thể, Cácgiải pháp đề xuất của các luận văn mang tính khái quát toàn ngành chưa cao vì chỉ
đề xuất áp dụng cho riêng điều kiện của địa phương nghiên cứu
Các giải pháp các luận văn đưa ra ít đề cập đến giải pháp nâng cao hiệu quảkiểm tra, thanh tra thuế hoặc không phân biệt rõ giải pháp trực tiếp hay gián tiếp,chủ yếu đề cập đến các giải pháp đổi mới kiểm tra, thanh tra thuế nói chung Cácluận văn mới chỉ dừng lại ở kiến nghị áp dụng tên một số tiêu chí về hiệu quả kiểmtra, thanh tra thuế mà chưa nêu rõ cách tính toán, trường hợp áp dụng
Một số luận văn phân tích về kiểm tra, thanh tra thuế trong bối cảnh chưa cóLuật Quản lý thuế và thanh tra thuế vẫn chưa có quy trình riêng biệt mà áp dụngchung cả hai quy trình kiểm tra và thanh tra thuế, một số giải pháp luận văn đưa ra
đã không còn phù hợp với tình hình hiện nay
1.1.2.2 Nhóm luận văn nghiên cứu về quản lý rủi ro trong kiểm tra, thanh tra thuế
Nhóm các tác giả viết về đề tài quản lý rủi ro trong kiểm tra, thanh tra thuế
gồm có một số tác giả: Nguyễn Thị Thu Vân (2009), Áp dụng quản lý rủi ro trong thanh tra, kiểm tra thuế, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Học viện Tài chính, Hà Nội; Vũ Thị Đến (2011), Công tác kiểm tra, thanh tra thuế theo kỹ thuật quản lý rủi ro trong điều kiện tự tính, tự khai, tự nộp thuế ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Học viện Tài chính, Hà Nội ; Nguyễn Thu Thủy (2010), Các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra thuế trên cơ sở áp dụng kỹ thuật phân tích rủi ro tại Chi cục Thuế Cầu Giấy, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Học viện Tài chính, Hà Nội.
Những vấn đề đã được nghiên cứu
Luận văn của tác giả Nguyễn Thị Thu Vân đã nêu được khái quát lý luận vềquản lý rủi ro trong kiểm tra, thanh tra thuế, phân tích thực trạng quản lý rủi ro ởcấp chiến lược (Tổng cục Thuế) và cấp hoạch định triển khai (các Cục Thuế địaphương), cấp chiến thuật (ở các Chi cục Thuế) Luận văn đã đưa ra ba nhóm tiêuchí đánh giá rủi ro gồm: phân loại NNT, đánh giá mức độ rủi ro về thuế và tiêu chíđánh giá mức độ rủi ro tờ khai thuế Phần giải pháp, luận văn nhấn mạnh “để hoạtđộng kiểm tra, thanh tra thuế đạt hiệu quả cao, cần phải tổ chức hoạt động kiểm tra,thanh tra thuế theo hướng chuyên sâu, chuyên nghiệp”
Trang 14Luận văn của tác giả Vũ Thị Đến đã góp phần làm rõ lý luận về hoạt độngkiểm tra, thanh tra thuế theo kỹ thuật quản lý rủi ro ở Việt Nam, đánh giá nhữngkết quả đạt được từ khi triển khai kiểm tra, thanh tra thuế theo kỹ thuật quản lý rủi
ro từ 2007-2011 trên các mặt: tổ chức bộ máy, năng lực cán bộ, cơ sở dữ liệu, tiêuchí đánh giá rủi ro Các giải pháp đề xuất của luận văn nhấn mạnh: xây dựng cậpnhật cơ sở dữ liệu về NNT, hoàn thiện kỹ thuật quản lý rủi ro Đặc biệt ở phần giảipháp tác giả có đề cập đến việc xây dựng một số tiêu chí đánh giá hiệu quả kiểmtra, thanh tra thuế
Luận văn của tác giả Nguyễn Thu Thủy đề cập đến kỹ thuật phân tích rủi rotrong kiểm tra thuế giá trị gia tăng (GTGT) và thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN)đối với các doanh nghiệp thuộc sự quản lý của Chi cục Thuế quận Cầu Giấy Tácgiả nêu bật tầm quan trọng của phân tích rủi ro trong kiểm tra thuế, góp phần nângcao hiệu quả của kiểm tra thuế Các lý luận về rủi ro của tác giả tương đối đầy đủ,
đã đưa ra được một số tiêu chí đánh giá rủi ro và xếp hạng rủi ro theo chấm điểmdoanh nghiệp Tác giả nhấn mạnh việc hoàn thiện kỹ thuật phân tích rủi ro là mộtgiải pháp quan trọng để công tác kiểm tra thuế có hiệu quả
Những vấn đề chưa được nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của các luận văn là phân tích rủi ro trong kiểm tra,thanh tra thuế, các tác giả ít đề cập đến thanh tra thuế và hiệu quả thanh tra thuế,không phân tích hiệu quả của công tác kiểm tra, thanh tra thuế mà nêu gián tiếpthông qua việc áp dụng phân tích rủi ro Tuy nhiên, ngoài áp dụng phân tích rủi ro,còn rất nhiều giải pháp khác quan trọng để góp phần nâng cao hiệu quả kiểm tra,thanh tra thuế thì các tác giả lại ít đề cập
Các đề tài luận văn áp dụng phân tích rủi ro trong kiểm tra, thanh tra thuếcủa toàn ngành khai thác số liệu chung toàn ngành mà chưa đưa ra số liệu cụ thểcủa một số địa phương để so sánh, ngược lại, các luận văn viết về kiểm tra, thanhtra thuế của các CQT địa phương lại không so sánh với số liệu bình quân chung vềkết quả kiểm tra, thanh tra của toàn ngành thuế để thấy được vị trí, kết quả đạt đượccủa mình trong tổng thể chung
Một số tiêu chí đánh giá rủi ro mà các luận văn đề cập đến nay đã khôngmang tính cập nhật Hiện nay, các tiêu chí lập kế hoạch kiểm tra, thanh tra dựa trênrủi ro đã được ngành thuế thay đổi, bổ sung tương đối nhiều Phần giải pháp, cáctác giả chưa đề xuất các giải pháp trực tiếp có liên quan để nâng cao hiệu quả kiểmtra, thanh tra thuế trong thời gian tới
Trang 151.1.3 Các kết quả chính đã đạt được của các công trình liên quan và mối liên
hệ giữa các nghiên cứu này
Nghiên cứu các công trình này, các tác giả đã đề cập ở mức độ nhất định về
lý luận và thực tiễn của hoạt động kiểm tra thuế và thanh tra thuế nói chung Các lýluận dẫn dắt cho các công trình này là gần giống nhau (ví dụ: phân biệt sự giống vàkhác nhau giữa kiểm tra và thanh tra thuế, phương pháp, nội dung, các nguyêntắc…của kiểm tra thuế, thanh tra thuế) với một số phương pháp nghiên cứu truyềnthống đã được áp dụng, cho một số kết quả tích cực đối với việc đổi mới hoạt độngkiểm tra, thanh tra thuế toàn ngành nói chung hoặc từng CQT địa phương nói riêng
(Hà Nội, Vĩnh Phúc, Nghệ An, Tiền Giang, Hưng Yên, Cầu Giấy, Hà Nam, Thái Bình, Nam Định…) Các tác giả luận văn hầu hết là những người làm việc liên quan
đến việc xây dựng chính sách, xây dựng luật hoặc những nhà quản lý, điều hành hệthống thuế của Việt Nam Các nghiên cứu của các tác giả đã có đóng góp một phầnhọc thuật và thực tiễn đối với nghiên cứu kiểm tra, thanh tra thuế trong quản lý thuế
ở Việt Nam
Hầu hết các công trình đều nghiên cứu chung về kiểm tra thuế, thanh tra thuế(lý luận, thực trạng và giải pháp) Các đề tài khai thác khía cạnh đổi mới hoạt độngkiểm tra, thanh tra thuế dưới các góc độ khác nhau, ít nhiều đều có liên quan đếnhiệu quả của kiểm tra, thanh tra thuế Các luận văn đều kế thừa các nghiên cứutrước đó về hiệu quả kiểm tra, thanh thuế (ví dụ: các tiêu chí, các mặt hiệu quả).Các giải pháp nâng cao hiệu quả thanh tra, kiểm tra thuế cũng được đề cập tươngđối khái quát, gián tiếp và đều thấy được tầm quan trọng của việc đổi mới và nângcao hiệu quả của kiểm tra, thanh tra thuế
1.1.4 Các vấn đề chưa được nghiên cứu về hiệu quả thanh tra thuế
Ở Việt Nam, cho đến nay chưa có một nghiên cứu nào riêng, độc lập vềthanh tra thuế và hiệu quả thanh tra thuế (đối với NNT là doanh nghiệp) trên phạm
vi toàn quốc mà nghiên cứu gộp hai nội dung về thanh tra, kiểm tra thuế nói chung
ở cấp độ luận văn thạc sĩ hoặc các công trình nghiên cứu dưới dạng bài báo nghiêncứu công tác kiểm tra, thanh tra thuế ở một số địa phương, ở một số vấn đề hạn chếnhất định của nội dung quản lý thuế
Trang 16Phạm vi của kiểm tra, thanh tra thuế rất rộng, tuy nhiên hầu hết các côngtrình nghiên cứu của các tác giả trước đây đều nghiên cứu gộp chung lý thuyết vềkiểm tra, thanh tra thuế (trong đó bao gồm kiểm tra nội bộ và thanh tra giải quyếtkhiếu nại tố cáo), trong khi phạm trù thanh tra thuế và kiểm tra thuế là khác nhau
về nội dung, chủ thể, phạm vi hoạt động… nên việc nghiên cứu gộp như vậy chưalàm rõ và làm nổi bật được từng hoạt động trong công tác quản lý thuế Thanh trathuế được xác định là mũi nhọn, kiểm tra thuế được coi là nền tảng của quản lýthuế, do đó vị trí và tầm quan trọng của thanh tra thuế cần được nghiên cứu riêng
và sâu sắc hơn với cấp độ nghiên cứu cao hơn
Đồng thời, hầu hết các công trình của các tác giả đã công bố trước đây đềunghiên cứu chung về đổi mới kiểm tra, thanh tra thuế nhằm nâng cao tính tuân thủcủa NNT, chưa có đề tài nào làm rõ lý luận về hiệu quả kiểm tra, thanh tra thuế(các tiêu chí đánh giá hiệu quả, cách tính, cách áp dụng, ý nghĩa, các nhân tố ảnhhưởng…), thực trạng hiệu quả kiểm tra, thanh thuế thời gian qua cũng như thiếucác giải pháp cụ thể, trực tiếp, mang tính áp dụng để nâng cao hiệu quả kiểm tra,thanh tra thuế
Tác giả luận án nhận thấy: nghiên cứu về thanh tra thuế cần luôn đặt trongmối liên hệ với thanh tra chuyên ngành vì theo quy định của Luật thanh tra số56/2010/QH12 ngày 15/11/2010 (gọi tắt là Luật Thanh tra) thì thanh tra thuế thuộcthanh tra chuyên ngành, chịu sự điều chỉnh của Luật Thanh tra chuyên ngành vàLuật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 (gọi tắt là Luật Quản lýthuế) Các nghiên cứu của các tác giả trước đây về kiểm tra, thanh tra thuế chưaphân tích được mối liên hệ giữa thanh tra thuế và thanh tra chuyên ngành, chưa đặtthanh tra thuế dưới sự điều chỉnh của Luật Thanh tra chuyên ngành Do Luật Thanhtra thay đổi, thẩm quyền của thanh tra thuế, quy trình thanh tra thuế, phương pháptiến hành thanh tra thuế… cũng thay đổi theo Do đó, khi nghiên cứu về thanh trathuế cần có sự nghiên cứu và phân tích sâu sắc sự điều chỉnh, tác động của các Luậtliên quan (bao gồm cả các luật thuế) đến thanh tra thuế và hiệu quả của công tácthanh tra thuế hiện nay
Tóm lại, nghiên cứu các công trình của các tác giả trước đã công bố gần đâycho thấy các tác giả chưa nghiên cứu thanh tra thuế nói chung và hiệu quả thanh tra
Trang 17thuế nói riêng một cách sâu sắc, chuyên sâu và toàn diện, trên phạm vi toàn ngành.
Do đó, tác giả Luận án nhận thấy việc sưu tầm, tổng hợp, hệ thống hóa và phân tíchlàm rõ hơn một số vấn đề về lý luận, đánh giá thực trạng, đề xuất giải pháp nângcao hiệu quả thanh tra NNT trong giai đoạn hiện nay là vấn đề cần tiếp tục đượcnghiên cứu, hoàn thiện, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay số lượng NNT gia tăng,các thủ đoạn gian lận, trốn tránh thuế của NNT ngày càng tinh vi, phức tạp đòi hỏithanh tra thuế cần phải đi vào chiều sâu, chất lượng, hiệu quả
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là: “Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thanh tra thuế ở Việt Nam trong thời gian tới?”
Để trả lời được câu hỏi nghiên cứu trên, luận án cần phải trả lời được các câuhỏi liên quan:
- Hiệu quả thanh tra thuế là gì? Thể hiện trên những mặt nào ?
- Các tiêu chí xác định hiệu quả thanh tra thuế gồm có những tiêu chí nào(tiêu chí định tính, định lượng)?
- Những nhân tố nào ảnh hưởng tới hiệu quả thanh tra thuế?
- Thực trạng hiệu quả thanh tra thuế thời gian qua đạt được và chưa đạt đượccái gì? Nguyên nhân của những hạn chế đó ?
- Để nâng cao hiệu quả thanh tra thuế đáp ứng cải cách hiện đại hóa thanhtra thuế đến 2020 cần đưa ra yêu cầu gì ?
- Các giải pháp cụ thể có thể áp dụng để nâng cao hiệu quả hoạt động củathanh tra thuế trong thời gian tới? Điều kiện để thực hiện các giải pháp?
Luận án được nghiên cứu trên cơ sở những quan điểm, đường lối, chủtrương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về phát triển nền kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và theo tuyên ngôn của ngành thuế : “Minhbạch- chuyên nghiệp- liêm chính và đổi mới”
1.2.2 Sự khác biệt với các nghiên cứu khác
Luận án là công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu về hiệu quả thanh trathuế ở Việt Nam với hàm lượng nghiên cứu lớn Luận án khác các nghiên cứu khác
là phần lý luận đã phân tích khái quát, toàn diện, riêng biệt về thanh tra thuế vàhiệu quả thanh tra thuế, đưa ra một số lý luận mới về hiệu quả thanh tra thuế, nêucách tính cụ thể, ý nghĩa của các tiêu chí đánh giá hiệu quả thanh tra thuế về mặt
Trang 18định lượng và định tính, nêu bật được các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả thanh trathuế, các nhân tố ảnh hưởng này là mấu chốt để tác giả đề ra các giải pháp nângcao hiệu quả thanh tra thuế trong thời gian tới
Khác các luận án trước, luận án đánh giá một cách có hệ thống thực trạngthanh tra thuế ở Việt Nam theo hai nhóm tiêu chí hiệu quả (định lượng và địnhtính), phân tích các ưu điểm và hạn chế của yếu tố hiệu quả theo thứ tự các tiêu chíhiệu quả, chỉ ra nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế liên quan đến hiệu quảthanh tra thuế
Luận án đề xuất trực tiếp các giải pháp nâng cao hiệu quả thanh tra thuếthông qua tác động, nâng cao các nhân tố làm nâng cao hiệu quả thanh tra thuế, hạnchế các nhân tố ảnh hưởng tiêu cực Các giải pháp nhấn mạnh đến giải pháp nội tại
từ phía CQT (bộ phận thanh tra) thực hiện, coi việc nâng cao hiệu quả phải cải cách
từ chính cơ quan thuế chứ ít đề cập đến nhân tố NNT, đồng thời tác giả nêu lênnhững điều kiện để thực hiện các giải pháp đó…là cách tiếp cận chưa được nghiêncứu sâu, khoa học và có hệ thống ở các công trình nghiên cứu đã công bố Đặc biệt,việc kiến nghị nâng cao chất lượng cuộc thanh tra, cải tiến khâu lập kế hoạch thanhtra thông qua việc áp dụng một số tiêu chí phân tích rủi ro, giám sát hoạt độngthanh tra thông qua việc áp dụng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả thanh tra thuế, sắpxếp lại bộ máy thanh tra thuế theo mô hình mới… là những giải pháp mang tínhkhả thi, là những điểm rất khác biệt với các luận án khác trước đây
Trang 19Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ THANH TRA NGƯỜI NỘP THUẾ
2.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THANH TRA THUẾ
2.1.1 Khái niệm, đặc điểm thanh tra thuế
2.1.1.1 Khái niệm
Thanh tra xuất phát từ nguồn gốc Latinh (Inspectare) có nghĩa là "nhìnvào bên trong", chỉ một sự xem xét từ bên ngoài đối với hoạt động của một sốđối tượng nhất định Theo Từ điển Pháp luật Anh - Việt động từ "inspect" cónghĩa là "thanh tra" và được giải thích là hoạt động kiểm tra, kiểm soát, kiểm kêđối với đối tượng bị thanh tra; còn theo nghĩa của danh từ “inspectorate” trong
Từ điển Anh- Anh- Việt "thanh tra" lại có nghĩa là một cơ quan, tổ chức, bộphận thanh tra ví dụ như ban thanh tra, cơ quan thanh tra… Từ điển Luật học(tiếng Đức) giải thích "thanh tra là sự tác động của chủ thể đến đối tượng đã vàđang thực hiện thẩm quyền được giao nhằm đạt được mục đích nhất định - sựtác động có tính trực thuộc"
Từ những nghĩa như vậy, thanh tra với vai trò là danh từ chung có thểđược hiểu là một thực thể pháp lý, một thiết chế nhà nước về thanh tra để chỉ cơquan, tổ chức thanh tra hoặc bộ phận, lĩnh vực thanh tra nhất định
Khái niệm thanh tra tồn tại từ khi có quản lý Nhà nước Các quốc gia đều cónhận thức chung: thanh tra là một loại hình, công cụ của quyền lực của Nhà nước
Nhiều quốc gia trên thế giới sử dụng thanh tra, nhưng với cách thức khácnhau, đa phần, do cấu trúc Nhà nước hoặc cơ cấu kinh tế (thậm chí là quan niệm vềquyền lực) khác nhau nên cấu tạo hoạt động cũng như các tổ chức thanh tra cũngkhác nhau Có nước chỉ sử dụng thanh tra Nhà nước (thanh tra của Quốc hội),thanh tra của Chính phủ (thanh tra hành pháp), kiểm toán; có nước chỉ sử dụng thanhtra chuyên ngành; có nước sử dụng thanh tra như một lực lượng cảnh sát (hoặc báncảnh sát) hoặc phân về các ngành quản lý để phục vụ quản lý; thậm chí có một sốquốc gia coi thanh tra là một loại hoạt động mang tính hiệp hội thám tử (detective)
Trang 20Theo Từ điển tiếng Việt “thanh tra” được hiểu là “kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp” [13, tr1170], với nghĩa này,
thanh tra bao hàm nghĩa kiểm soát nhằm “xem xét và phát hiện, ngăn chặn những
gì trái với quy định” Thanh tra thường đi kèm với một chủ thể nhất định: ngườilàm nhiệm vụ thanh tra, đoàn thanh tra và đặt trong phạm vi quyền hành của mộtchủ thể nhất định
Theo Giáo trình Nghiệp vụ (2008) của Trường Cán bộ Thanh tra: “Thanh tra
là một chức năng thiết yếu của quản lý Nhà nước, là hoạt động kiểm tra, xem xét,đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý Nhà nước đối với việc thực hiện chính sách,pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân; được thực hiện bởi một cơ quanchuyên trách theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm phòng ngừa,phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, phát hiện những sơ hở trong cơchế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị các biện pháp khắc phục; phát huynhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực của hoạt động quản lý Nhànước, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổchức, cá nhân” [52, tr.12] Theo tác giả luận án, đây là một khái niệm tương đốiđầy đủ thể hiện bản chất của hoạt động thanh tra
Thanh tra là hoạt động nhân danh quyền lực công tác động đến đối tượngquản lý để nâng cao tính tuân thủ, bảo vệ pháp luật, lợi ích hợp pháp của cá nhân,
tổ chức Tuỳ theo tính chất quản lý, ngành, lĩnh vực khác nhau và điều kiện cụ thể
ở mỗi nước mà người ta lựa chọn mô hình thanh tra khác nhau
Ở nước ta, Hiến pháp Việt Nam ngày 18/12/1980 sử dụng thuật ngữ “thanhtra” với một nội dung là một chức năng của cơ quan quản lý Nhà nước Hiến phápngày 15/04/1992 (Điều 112) quy định Chính phủ có nhiệm vụ “tổ chức và lãnh đạocông tác kiểm kê, thống kê của Nhà nước, công tác thanh tra, kiểm tra Nhà nước…”
Theo Pháp lệnh thanh tra ngày 29/03/1990, hoạt động thanh tra của các tổ chứcthanh tra được xác định là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý Nhà nước
Theo Luật Thanh tra số 56/2010/QH12 ngày 15/11/2010, thanh tra gồm cóthanh tra Nhà nước, thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành
“Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan Nhà nước cóthẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp
Trang 21hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn –kỹ thuật, quy tắc quản lýthuộc ngành, lĩnh vực đó” (Điều 3) Theo đó, Luật Thanh tra xác định thanh trachuyên ngành là một loại Thanh tra Nhà nước được thành lập theo ngành, lĩnh vực.
“Cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành là cơ quanthực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước theo ngành, lĩnh vực, bao gồm tổng cục, cụcthuộc bộ, chi cục thuộc sở được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành”
Theo Nghị định số 07/2012/NĐ-CP ngày 09/02/2012 của Chính phủ: Tổngcục Thuế, Cục Thuế, Chi cục Thuế được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyênngành trong lĩnh vực thuế (Điều 6, Điều 7, Điều 8)
Theo Giáo trình nghiệp vụ thuế của Học viện Tài chính: “Thanh tra thuế là
hoạt động kiểm tra của tổ chức chuyên trách làm công tác kiểm tra của CQT đốivới đối tượng thanh tra nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý những hành vi trái pháp
cơ chế chính sách pháp luật thuế”.
2.1.1.2 Đặc điểm của thanh tra thuế
Thanh tra thuế mang những đặc điểm chung giống đặc điểm của thanh tranói chung và thanh tra chuyên ngành nói riêng, đó là:
Thứ nhất, thanh tra thuế luôn mang tính quyền lực của Nhà nước: là một
chức năng của quản lý Nhà nước trong lĩnh vực thuế, thanh tra thuế thực hiệnquyền lực của chủ thể quản lý (CQT) đối với đối tượng quản lý (NNT) Thanh trathuế “luôn luôn áp dụng quyền năng của Nhà nước trong quá trình hoạt động củamình và nó nhân danh Nhà nước khi áp dụng quyền năng đó”[52, tr.11]
Thứ hai, thanh tra thuế là một chức năng, một giai đoạn của chu trình quản
lý thuế Thanh tra thuế là một là một trong bốn chức năng cơ bản của quản lý thuế,
là khâu hậu kiểm, thực hiện tốt chức năng giám sát tuân thủ của CQT Thanh tra
Trang 22thuế có tác động tới hầu hết các giai đoạn của chu trình quản lý thuế: kê khai thuế,tuyên truyền hỗ trợ và cưỡng chế nợ thuế Xét theo chức năng của quản lý thuế thìthanh tra thuế là công cụ, phương tiện để nhà nước quản lý thuế
Thứ ba, thanh tra thuế là một hoạt động mang tính chuyên môn hóa cao,
được thực hiện theo một quy trình chặt chẽ Các bước công việc cụ thể để thực hiệnmột cuộc thanh tra thuế được chuẩn hóa từng khâu, quy định trách nhiệm rõ ràngcho từng bộ phận, từng cán bộ tham gia quy trình Để có thể đáp ứng được quytrình thanh tra thuế, đòi hỏi CBTT cũng phải được chuyên nghiệp, có trình độ cao,nắm vững được chính sách, pháp luật, am hiểu về kế toán và phải có kỹ năng phântích, phát hiện, xử lý gian lận của đối tượng thanh tra
Thứ tư, thanh tra thuế có tính độc lập tương đối: đây là đặc điểm vốn có,
xuất phát từ bản chất của thanh tra, đặc điểm này phân biệt thanh tra thuế với các
bộ phận chức năng khác trong bộ máy quản lý thuế Thanh tra thuế chủ động vàđộc lập trong việc lập kế hoạch thanh tra, phân bổ nguồn lực thanh tra, trong việc
ra quyết định và kết luận thanh tra và độc lập trong cách quan hệ ứng xử với đốitượng được thanh tra khi cần thiết Thanh tra thuế là thanh tra chuyên ngành, trựctiếp giúp việc cho Thủ trưởng CQT và chịu sự quản lý trực tiếp của Thủ trưởngCQT và có tính chất độc lập tương đối
Thứ năm, thanh tra thuế được tiến hành đối với mọi cơ quan, tổ chức và cá
nhân hoạt động trong phạm vi điều chỉnh của các luật thuế, chịu sự quản lý Nhànước trong lĩnh vực thuế: ví dụ đơn vị sản xuất kinh doanh, đơn vị hành chính sựnghiệp, tổ chức chính trị, xã hội… Đây chính là điểm khác giữa hoạt động thanhtra chuyên ngành và hoạt động thanh tra hành chính (Thanh tra hành chính là hoạtđộng thanh tra trong nội bộ bộ máy nhà nước; là thanh tra của cơ quan cấp trên đốivới cơ quan, đơn vị, cá nhân cấp dưới (thuộc quyền quản lý trực tiếp)
Thanh tra thuế khác với thanh tra các lĩnh vực khác ở một số nội dung có thểphân biệt được như sau:
Thanh tra thuế được tiến hành dựa vào các quy định của các luật thuế và luậtquản lý thuế hiện hành, có thể vận dụng một số luật liên quan khi tính toán nghĩa
vụ thuế phải nộp của NNT
Đo đặc điểm của NNT- đối tượng được thanh tra thuế- tương đối rộng, hoạtđộng ở nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau vì vậy đòi hỏi kiến thức sử dụngtrong thanh tra thuế phải bao quát và đa dạng
Trang 23Thanh tra thuế không chỉ chấn chỉnh việc thực thi pháp luật mà còn nhằmmục đích chống thất thu, góp phần làm tăng thu cho NSNN Qua thanh tra thuế,CQT truy thu vào NSNN số thuế thất thu, tiền phạt, tăng tỷ lệ đóng góp vàoNSNN.
Thanh tra thuế không chỉ tác động đến hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp trong lãnh thổ Việt Nam mà còn tác động đến hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp ngoài lãnh thổ Việt Nam, đặc biệt trong giai đoạn hội nhập kinh tếquốc tế
2.1.1.3 Phân biệt giữa thanh tra thuế với kiểm tra thuế
(Việc phân biệt thanh tra và kiểm tra thuế ở đây được ngầm hiểu là phân biệttheo Pháp luật Việt Nam hiện hành, trong phạm vi giới hạn ở Việt Nam)
Trong thực tế, người ta thường hay nhầm lẫn giữa khái niệm thanh tra thuế
và kiểm tra thuế, do đó, cần phân biệt điểm giống và khác nhau giữa hoạt độngthanh tra thuế và kiểm tra thuế trong CQT
Kiểm tra thuế “là hoạt động của CQT xem xét tình hình thực tế của đốitượng kiểm tra, từ đó đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra đối với đối
tượng kiểm tra để có những nhận xét, đánh giá” [18, tr.491]
Về mặt lý luận và thực tiễn, thanh tra thuế và kiểm tra thuế là hai hoạt độngkhông thể thiếu được của công tác lãnh đạo, quản lý của CQT nhằm đảm bảo phápluật về thuế được thực thi đúng đắn và hiệu quả
Thanh tra thuế và kiểm tra thuế có những điểm giống nhau:
Một là, thanh tra thuế và kiểm tra thuế đều là một nội dung quan trọng của
quản lý thuế Thanh tra thuế và kiểm tra thuế đều có cùng một mục đích là pháthiện, ngăn ngừa, xử lí những vi phạm pháp luật thuế, góp phần nâng cao hiệu quảquản lý thuế, thúc đẩy NNT tự giác tuân thủ pháp luật thuế, qua đó kiến nghị hoànthiện cơ chế quản lí thuế, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích Nhànước, quyền và lợi ích hợp pháp của NNT
Hai là, đối tượng của thanh tra thuế, kiểm tra thuế là NNT nói chung, bao
gồm tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế
Ba là, thanh tra thuế, kiểm tra thuế đều có nội dung là kiểm tra việc chấp
hành pháp luật thuế của NNT
Trang 24Bốn là, về phương pháp, thanh tra thuế, kiểm tra thuế đều phải xem xét hoạt
động thực tế của đối tượng thanh tra để phát hiện, phân tích, đánh giá thực trạngđối tượng thanh tra một cách chính xác, khách quan, xử lí vi phạm, chỉ ra nguyênnhân để NNT có biện pháp khắc phục
Năm là, hoạt động thanh tra thuế, kiểm tra thuế không chỉ được thực hiện ở
một khâu trong hoạt động quản lý thuế mà nó được thực hiện ở tất cả các khâu củaquy trình quản lý thuế
* Tuy nhiên, giữa thanh tra thuế và kiểm tra cũng có sự khác nhau nhất định:
Thứ nhất, chủ thể của thanh tra thuế là bộ phận chuyên trách về công tác
thanh tra thuộc CQT, còn chủ thể của kiểm tra thuế thường đa dạng hơn so với chủthể của thanh tra thuế, bao gồm bộ phận thanh tra thuế, bộ phận kiểm tra thuế vàcác bộ phận chức năng khác
Thứ hai, về phạm vi hoạt động: kiểm tra thuế thường có phạm vi rộng, diễn
ra liên tục, ở nhiều khâu với hình thức đa dạng, còn phạm vi hoạt động của thanhtra thuế thường hẹp hơn Thanh tra thuế thường có sự chọn lọc, đôi khi thông quakiểm tra thuế có thể thấy những dấu hiệu phức tạp mà nếu cứ tiến hành kiểm trathuế thì không làm rõ được, bởi vậy, cần chọn ra những nội dung nào đó để thanhtra thuế
Thứ ba, thanh tra thuế thường kiểm tra những vấn đề đã xảy ra ở trong quá
khứ, khi các nghiệp vụ kinh tế đã phát sinh, hoàn thành, còn nội dung của kiểm trathuế có thể là những vấn đề hiện tại, đang xảy ra Tất nhiên, nội dung kiểm tra baogồm cả những nội dung cụ thể của kiểm tra trước, kiểm tra trong và kiểm tra saukhi các hoạt động kinh tế phát sinh
Thứ tư, thời gian để tiến hành một cuộc thanh tra thuế thường dài hơn so với
thời gian một cuộc kiểm tra thuế do tính chất các vụ việc tiến hành của thanh trathuế phức tạp, tinh vi
Thứ năm, về hình thức tổ chức: thanh tra thuế bắt buộc phải thành lập đoàn
thanh tra, phải có quyết định thanh tra còn kiểm tra thuế đôi khi không thành lậpđoàn kiểm tra và không cần có quyết định kiểm tra
Thứ sáu, về trình độ nghiệp vụ: thanh tra thuế đòi hỏi cán bộ thuế phải có
nghiệp vụ giỏi, am hiểu tình hình kinh tế- xã hội, có khả năng chuyên sâu vào lĩnh
Trang 25vực thanh tra hướng đến do nội dung thanh tra thuế thường là những vấn đề phứctạp, bản chất vấn đề thường được che giấu có chủ ý nên khó nhận biết Còn nộidung của hoạt động kiểm tra thuế ít phức tạp hơn nên không nhất thiết đòi hỏi trình
độ nghiệp vụ như thanh tra thuế
Từ những phân tích trên, có thể rút ra các nhận xét sau: Thanh tra thuế vàkiểm tra thuế- mặc dù có sự phân biệt nhưng chỉ là tương đối; khi tiến hành cuộcthanh tra thuế, thường phải tiến hành nhiều thao tác nghiệp vụ, thao tác nghiệp vụ
đó thực chất là kiểm tra thuế Ngược lại, đôi khi tiến hành kiểm tra thuế để làm rõ
vụ, việc lại chọn lựa được những nội dung đưa vào thanh tra thuế
Việc phân biệt thanh tra thuế và kiểm tra thuế không chỉ có ý nghĩa về mặt
lý luận mà còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn trong việc tổ chức, chỉ đạo, điều hành đểtránh sự chồng chéo giữa thanh tra và kiểm tra, giảm phiền hà cho các tổ chức cánhân là đối tượng thanh tra và kiểm tra, nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tácthanh tra, kiểm tra
Tóm lại, thanh tra thuế và kiểm tra thuế là hai khái niệm khác nhau nhưng cóliên hệ qua lại, gắn bó và đều là những hoạt động không thể thiếu trong công tácquản lý thuế
2.1.2 Vai trò của thanh tra thuế.
Thanh tra thuế đóng vai trò quan trọng trong việc đạt được các mục tiêu củaCQT, đó là chống thất thu thuế, phát hiện ra các gian lận, sai sót, khuyến khíchNNT tuân thủ tự nguyện, phát hiện ra những bất cập của chính sách thuế để kiếnnghị sửa đổi cho phù hợp Nhìn chung, thanh tra thuế có những vai trò chủ yếusau đây:
Thứ nhất, thanh tra thuế góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước trong lĩnh vực thuế
Nhà nước thực hiện quản lý thuế thông qua hệ thống các luật, các chínhsách, chế độ quản lý để điều chỉnh các quan hệ và thậm chí có thể cưỡng chế các tổchức và cá nhân trong xã hội phải tuân thủ nhằm bảo vệ các lợi ích của Nhà nước.Trong đó thanh tra thuế được sử dụng như một công cụ để đảm bảo pháp luật thuếđược thực thi nghiêm túc, quyền và lợi ích Nhà nước, của NNT được bảo đảm.Thanh tra thuế nhằm kiểm soát việc chấp hành pháp luật thuế của NNT, giúp phòng
Trang 26ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về thuế Thanh tra thuế làmột trong những công cụ rất quan trọng và hữu hiệu để đảm bảo hiệu lực quản lýNhà nước, thiết lập kỷ cương xã hội
Thực tiễn chỉ ra rằng, hiệu lực quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực thuế tùythuộc vào nội dung, chất lượng và biện pháp tổ chức thực hiện các quyết định củaCQT Để các quyết định của CQT được NNT tuân thủ và chấp hành một cáchchính xác, đầy đủ, CQT phải đề ra quy trình thực hiện quyết định- là quy trình quản
lý thuế Trong quy trình đó không thể thiếu được hoạt động thanh tra thuế Thanhtra thuế là để đánh giá, nhận xét tình hình chấp hành pháp luật thuế và các kết quảthực hiện quyết định quản lý thuế, làm rõ nguyên nhân, xác định trách nhiệm thuộckhâu nào, thuộc ai để chấn chỉnh hoặc xử lý (khi có hành vi vi phạm), với ý nghĩa
đó, thanh tra thuế thực chất đã góp phần nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước tronglĩnh vực thuế
Thứ hai, thanh tra thuế nhằm hạn chế, chống thất thu thuế, hạn chế
trốn-tránh, gian lận thuế Điều này xuất phát từ nguyên tắc hiệu quả và mục đích chốnggian lận, chống thất thu cho NSNN của thanh tra thuế Hàng năm, thanh tra thuếtruy thu, truy hoàn và phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế đã góp phầnđộng viên số thu không nhỏ cho NSNN Với các thủ đoạn ngày càng tinh vi vàphức tạp, một số NNT cố tình trốn-tránh nghĩa vụ khai, nộp thuế, thanh tra thuếgiúp minh bạch và kiểm soát để lượng tiền thuế này không bị thất thoát, chiếmdụng, giảm ý đồ không tuân thủ, giảm hành vi gian lận thuế, nâng cao ý thức đónggóp tự nguyện đầy đủ của NNT làm tăng thu cho NSNN
Thứ ba, thanh tra thuế đảm bảo NNT chấp hành tốt pháp luật thuế: Thanh tra
thuế với tính chất chuyên sâu và tổ chức hoạt động một cách chuyên nghiệp, có tácdụng hữu hiệu ngăn chặn, phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về thuế, buộcNNT có ý đồ không tuân thủ phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình đối vớiNSNN, ngăn chặn, làm nản lòng một số NNT khác đang có ý đồ trốn- tránh thuế.Kết luận của thanh tra thuế phản ánh những hành vi vi phạm của NNT, xác định rõnguyên nhân chủ quan (cố tình vi phạm), hay khách quan (hệ thống luật pháp bấtcập) dẫn đến vi phạm của NNT để có các biện pháp ngăn chặn kịp thời các hành vigian lận về thuế, góp phần làm cho việc thực thi pháp luật về thuế hiệu quả hơn
Trang 27Thứ tư, thanh tra thuế tạo nên sự bình đẳng giữa NNT trong sản xuất kinh
doanh, giúp NNT có môi trường kinh doanh lành mạnh, cạnh tranh bình đẳng.Thanh tra thuế kịp thời phát hiện các vi phạm pháp luật thuế, xử lý kịp thời viphạm trong phạm vi thẩm quyền của mình, từ đó làm cho môi trường cạnh tranhgiữa các doanh nghiệp bình đẳng hơn, NNT có ý đồ gian lận sẽ không còn những
cơ hội dùng “lá chắn thuế” hoặc “khe hở thuế” để đối phó với CQT, lợi dụng việcchiếm dụng, trốn thuế để thao túng thị trường, cạnh tranh bất bình đẳng về giá, thịphần…, nhờ đó mà những NNT làm ăn chân chính có thể cạnh tranh lạnh mạnh vàvững tin vào tính nghiêm minh của pháp luật Khi NNT đều có nghĩa vụ phải minhbạch và công khai đóng góp nghĩa vụ của mình cho NSNN sẽ tạo được sự côngbằng, thúc đẩy sự cạnh tranh lành mạnh, đồng thời thúc đẩy sản xuất kinh doanhphát triển Nhờ tác dụng đó thanh tra thuế đã làm giảm những hành vi tiêu cựctrong việc thực hiện pháp luật thuế từ đó nâng cao tính tuân thủ của NNT
Thứ năm, thanh tra thuế góp phần hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý
thuế, phát hiện những hạn chế chưa đồng bộ về cơ chế quản lý và chính sách thuế
và thực tiễn đời sống, kinh tế, xã hội của đất nước, từ đó kiến nghị các cơ quan cóthẩm quyền kịp thời bổ sung hoàn thiện Việc tăng cường thanh tra các ngành nghềkinh doanh, loại hình kinh doanh của doanh nghiệp giúp CQT phát hiện ra nhữngthủ đoạn, “kỹ xảo”, thủ thuật gian lận của NNT, đồng thời nắm bắt, ghi nhận nhữngvướng mắc, bất cập của chính sách không phù hợp với NNT để từ đó kiến nghị các
cơ quan ban hành chính sách kịp thời sửa đổi chính sách, có các chính sách, biệnpháp quản lý thuế phù hợp
Thứ sáu, thanh tra thuế tạo điều kiện để giúp NNT nhìn nhận lại thực trạng
khách quan về tình hình tài chính của bản thân NNT Qua thanh tra toàn diện vềtình hình chấp hành pháp luật thuế giúp NNT nhìn nhận, đánh giá khách quan lạibản thân mình về tình hình kê khai, thực hiện nghĩa vụ với NSNN, chế độ sổ sách
kế toán…của mình trong quá khứ Qua thanh tra thuế, CQT chỉ rõ cho NNT những
ưu điểm và hạn chế để NNT để rút ra những kinh nghiệm, bài học cần thiết nhằmtránh được những yếu kém, những sai phạm, những nguy cơ trực tiếp trong hoạtđộng sản xuất, kinh doanh của NNT nhằm nâng cao tính tuân thủ pháp luật thuếcủa NNT, đồng thời thanh tra thuế có tác dụng giúp NNT minh bạch tình hình tàichính, giúp NNT kiểm soát tình hình tài chính hiệu quả hơn
Trang 28Tóm lại, công tác thanh tra nói chung và thanh tra thuế nói riêng có vai tròhết sức quan trọng và hết sức cần thiết trong công tác quản lý thuế, nó gắn liền vớichức năng của thuế và quản lý thuế CQT không thể đạt được mục tiêu quản lý củamình nếu thiếu chức năng thanh tra thuế
2.1.3 Nguyên tắc thanh tra thuế
Nguyên tắc của hoạt động thanh tra là tập hợp các quy định, quy tắc, chuẩnmực bắt buộc phải thực hiện xuyên suốt trong quá trình hoạt động thanh tra của các
cơ quan thanh tra Nhà nước
Nguyên tắc của hoạt động thanh tra nói chung được quy định trong LuậtThanh tra là:
“Tuân theo pháp luật; bảo đảm chính xác, khách quan, trung thực, công khai,dân chủ, kịp thời Không trùng lặp về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanhtra giữa các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra; không làm cản trở hoạt độngbình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra” (Điều 7)
Nguyên tắc của thanh tra thuế và kiểm tra thuế được quy định trong LuậtQuản lý thuế như sau:
“1 Thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến NNT,đánh giá việc chấp hành pháp luật của NNT, xác minh và thu thập chứng cứ để xácđịnh hành vi vi phạm pháp luật về thuế;
2 Không cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là NNT;
3 Tuân thủ quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật cóliên quan.” (Điều 75)
Từ những quy định nêu trên cho thấy thanh tra thuế là loại hình thanh trachuyên ngành, do đó thanh tra thuế đồng thời vừa phải tuân thủ theo nguyên tắccủa thanh tra chuyên ngành quy định trong Luật Thanh tra về thanh tra chuyênngành, vừa phải tuân theo nguyên tắc quy định trong Luật Quản lý thuế
Các nguyên tắc cơ bản của thanh tra thuế được cụ thể hóa như sau:
Một là, tuân theo pháp luật
Nguyên tắc trước tiên của thanh tra thuế là phải tuân theo pháp luật, điều nàykhẳng định tính pháp lý của hoạt động thanh tra Công tác thanh tra phải tuân thủtheo Luật Thanh tra chuyên ngành, Luật Quản lý thuế và các luật thuế
Trang 29Nguyên tắc tuân theo pháp luật đòi hỏi “các đơn vị, cá nhân thực hiện hoạtđộng thanh tra thuế chỉ được giới hạn trong phạm vi quyền hạn mà pháp luật chophép và phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ, trách nhiệm theo quy định” [18,tr.495] Mọi hành vi lạm quyền hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đều bị coi làhành vi không tuân thủ quy định của pháp luật và đều phải bị xử lý Thực hiệnnguyên tắc này, chủ thể thanh tra (CQT, đoàn thanh tra và các thành viên đoànthanh tra) khi thực hiện nhiệm vụ thanh tra phải căn cứ vào các quy định của phápluật để kiểm tra, đánh giá, kết luận, kiến nghị những vấn đề thanh tra và chịu tráchnhiệm trước pháp luật về kết luận, kiến nghị thanh tra Đối tượng được thanh tra(NNT) phải nghiêm chỉnh chấp hành các quyết định của chủ thể thanh tra, cung cấpđầy đủ hồ sơ, tài liệu và giải trình số liệu khi được yêu cầu.
Hai là, đúng quy trình
CQT khi thanh tra thực hiện theo đúng quy trình thanh tra thuế theo LuậtQuản lý thuế, đồng thời tuân thủ theo quy trình thanh tra chuyên ngành theo Luậtthanh tra chuyên ngành CBTT, đoàn thanh tra không được làm tắt bước, bỏ quacác khâu, đoạn, thủ tục cho là không quan trọng để nôn nóng, vội vàng kết thúccuộc thanh tra (ví dụ cán bộ, đoàn thanh tra không được đến thanh tra tại cơ sởNNT khi chưa có quyết định thanh tra của thủ trưởng CQT, làm việc xong CBTTkhông ký biên bản xác nhận số liệu, chứng cứ phát hiện ra không được CBTT lậpbiên bản kịp thời, tại chỗ …) Việc tắt bước, sai quy trình sẽ dễ gây rủi ro khôngnhững cho chính đoàn thanh tra mà còn làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hình ảnh,
uy tín, tính nghiêm minh của CQT và pháp luật thuế, dẫn đến hậu quả nghiêm trọngtrong khâu hậu kiểm, NNT sẽ có tâm lý lợi dụng kẽ hở đó để khiếu nại, khiếu kiệnđoàn thanh tra, CQT không làm đúng quy trình và NNT sẽ từ chối nghĩa vụ tuânthủ các kết luận thanh tra
Ba là, hiệu quả
Nguyên tắc hiệu quả hết sức quan trọng đối với thanh tra thuế Đảm bảonguyên tắc hiệu quả trong thanh tra thuế có nghĩa là CQT phải đạt được mục tiêuthanh tra của mình với nguồn lực hạn chế Mục tiêu thanh tra thể hiện trên hai mặt:định lượng và định tính Hiệu quả về mặt định lượng thể hiện ở số thuế truy thu lẫn
số lượng hành vi vi phạm phát hiện qua thanh tra Hiệu quả về mặt định tính thể
Trang 30hiện ở việc thanh tra thuế nâng cao tính tuân thủ của NNT, răn đe phòng ngừa ý đồgian lận của NNT Nguyên tắc này đáp ứng được việc bảo đảm nguồn thu và ngănchặn trốn-tránh, gian lận thuế, nâng cao hiệu quả quản lý thuế Để đạt được hiệuquả, thanh tra thuế phải dựa trên cơ sở phân tích thông tin, áp dụng phương phápphân tích rủi ro nhằm phân loại rủi ro thanh tra thuế, phải phù hợp với khả năngcủa NNT trong việc tuân thủ các kết luận về thuế
Bốn là, bảo đảm chính xác, khách quan, trung thực
Tính chính xác đòi hỏi chủ thể thanh tra phải nhận thức đúng vấn đề, nộidung thanh tra; xác định, đánh giá đúng bản chất của sự việc để kết luận thanh tramang tính chính xác Tính chính xác bảo đảm cho thanh tra thuế đạt hiệu quả cao
“Muốn đảm bảo tính chính xác, không chỉ đòi hỏi quan điểm đúng đắn mà còn cầnphải có kiến thức, năng lực mới có thể đem lại kết quả chính xác” [15, tr.6]
Tính khách quan yêu cầu chủ thể thanh tra thuế phải phản ánh đúng sự vật,hiện tượng như nó vốn có, không được lồng ý kiến chủ quan khi mô tả sự vật, hiệntượng “Tính khách quan và tính chính xác có mối quan hệ tác động qua lại Tínhkhách quan tạo tiền đề cho việc kết luận chính xác và kết luận thanh tra thuế chínhxác thì mới thể hiện được tính khách quan của thanh tra thuế” [15, tr.6]
Tính trung thực đòi hỏi chủ thể thanh tra thuế phải tuân thủ các quy tắc vềđạo đức nghề nghiệp, “phản ánh đúng thực tế sự việc, không thiên lệch, bóp méo
sự việc dẫn đến kết luận không đúng thực tế”.[15, tr.6]
Năm là, bảo đảm tính công khai, dân chủ, kịp thời
Tính công khai thể hiện ở chỗ CQT phải thông báo đầy đủ, rõ ràng từ nộidung, kế hoạch, quyết định thanh tra đến kết luận thanh tra để các tổ chức, cá nhânliên quan biết, giám sát và phối hợp thực hiện Việc công khai hoạt động thanh trathuế nhằm nâng cao tính khách quan hoạt động thanh tra của CQT, hạn chế nhữngtiêu cực phát sinh trong quá trình thanh tra Tuy nhiên, tuỳ tính chất của cuộc thanhtra thuế cụ thể, cần có hình thức, mức độ công khai phù hợp để đảm bảo hiệu quảhoạt động thanh tra
Tính dân chủ nhằm tạo cơ hội cho NNT được trình bày ý kiến, quan điểm vềnhững nội dung thanh tra cũng như về hoạt động cụ thể của đoàn thanh tra, tránhtình trạng áp đặt của CQT về các nội dung liên quan đến NNT
Trang 31Tính kịp thời: thanh tra thuế nhằm phục vụ các mục tiêu quản lý thuế trongnhững thời điểm nhất định Vì vậy, tính kịp thời của thanh tra thuế giúp cho NNTkịp thời nhận rõ sai phạm để sửa chữa, khắc phục ngay, tránh vi phạm kéo dài, giúpCQT chấn chỉnh và sửa đổi cơ chế, chính sách thuế phù hợp thực tiễn, nâng caohiệu quả quản lý thuế Mặt khác, “tính kịp thời còn đảm bảo cuộc thanh tra thuế cóbiên bản, kết luận đúng thời hạn luật định, tránh tình trạng dây dưa, kéo dài thờigian công bố kết luận thanh tra” [15, tr.7]
Sáu là, đảm bảo tính không trùng lắp và không làm cản trở hoạt động bình
thường của NNT
Tính không trùng lắp: về nguyên tắc, đối với NNT có ngành nghề kinhdoanh đa dạng, phạm vi kinh doanh rộng thì thanh tra thuế định kỳ một năm khôngquá một lần Do đó, nguyên tắc này nhằm hạn chế tối đa những cuộc thanh trachồng chéo của các cơ quan quản lý, đảm bảo quyền hoạt động bình thường củađối tượng thanh tra, đảm bảo cùng một nội dung, trong một năm đối tượng chỉ bịthanh tra thuế một lần
Không làm cản trở hoạt động bình thường của NNT: thanh tra thuế tác độngtới quan hệ nhạy cảm giữa CQT và NNT Sự xuất hiện của CBTT tại cơ sở củaNNT cùng với việc kiểm tra, xem xét những vấn đề của NNT, thu thập thông tin từ
sổ sách chứng từ của doanh nghiệp sẽ ít nhiều làm gián đoạn các công việc hàngngày, gây tâm lý, áp lực đối với NNT Việc cơ quan chức năng thực hiện thanh tratại cơ sở kinh doanh là cần thiết nhưng ít nhiều cũng sẽ ảnh hưởng đến hoạt độngcủa đối tượng bị thanh tra Hoạt động thanh tra thuế mang tính nhạy cảm vì trongnhững năm gần đây, vấn đề quyền và những bảo đảm thực hiện quyền của NNTđược đặc biệt quan tâm Tình trạng kéo dài thời gian thanh tra và không công bốkết luận thanh tra có lúc, có nơi vẫn còn tồn tại, vì vậy thanh tra thuế cần tránh đểkhông làm cho NNT bị gián đoạn sản xuất kinh doanh, cần bố trí thời gian, nhânlực hợp lý, cần đặt lịch, lên kế hoạch với NNT trước thì mới tránh được hiện tượngthanh tra quá dày, quá nhiều tại trụ sở NNT
2.1.4 Nội dung thanh tra thuế
Nội dung xuyên suốt của thanh tra thuế là thanh tra việc chấp hành pháp luậtthuế của NNT, trong đó bao gồm các nội dung cụ thể sau:
Trang 32Một là, thanh tra hồ sơ pháp lý, tính trung thực của các tài liệu của NNT có
liên quan tới pháp luật thuế như:
Giấy chứng nhận mã số doanh nghiệp-mã số thuế (ngành nghề kinh doanh,vốn, địa điểm, thời gian thực tế kinh doanh)…nhằm phát hiện và xử lý những gianlận trong kê khai đăng ký thuế Cần coi trọng việc thanh tra nội dung ghi trongđăng ký kinh doanh, đăng ký thuế vì đây là khâu đầu tiên trong quy trình quản lýthu thuế để tránh bỏ sót đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế, bỏ sót nguồn thu
Việc thanh tra tính pháp lý của các tờ khai thuế gốc, các báo cáo tài chính,các hợp đồng kinh tế gốc, hồ sơ tài liệu đã đủ chữ ký của người có thẩm quyền haychưa, sổ sách, chứng từ, hóa đơn có đủ tính chất pháp lý hay không, … nhằm đảmbảo hồ sơ thanh tra là đủ cơ sở pháp lý để thanh tra, đảm bảo nguyên tắc an toàn,hợp pháp khi thanh tra
Hai là, thanh tra việc chấp hành chế độ kế toán, sổ sách, hoá đơn, chứng từ.
Việc thực hiện chế độ kế toán, sổ sách, hóa đơn, chứng từ có liên quan chặtchẽ đến việc tính thuế, khai thuế và nộp thuế của NNT Thanh tra nội dung này baogồm: thanh tra việc tổ chức thực hiện luật kế toán, chuẩn mực kế toán của NNT,
“kiểm tra việc mở sổ sách kế toán; việc quản lý và sử dụng các loại chứng từ, hóađơn theo chế độ quy định; hình thức hạch toán, chế độ ghi chép cập nhật sổsách…”[18, tr.502] Xác định tính hợp lý, trung thực của từng loại chứng từ, hóađơn có liên quan như: hóa đơn bán hàng, phiếu xuất kho, chứng từ thu, chi… nhằmđảm bảo chính xác các căn cứ tính thuế, ngăn chặn việc hạch toán sai để trốn-tránhthuế Do đó, đây là một nội dung thanh tra quan trọng, đòi hỏi cán bộ thanh tra phải
am hiểu Luật kế toán, chuẩn mực kế toán, đồng thời tốn nhiều thời gian, công sức.Thực hiện tốt nội dung thanh tra này sẽ tạo tiền đề cho nội dung thanh tra việc thựchiện kê khai thuế, tính thuế và nộp thuế
Ba là, thanh tra việc thực hiện kê khai thuế, tính thuế và nộp thuế.
Thanh tra căn cứ tính thuế nhằm mục đích xác định đúng số thuế phải nộp,
số thuế đã nộp, số thuế nợ, số thuế được miễn giảm, số thuế được hoàn trong kỳcủa NNT
Trong thực tế, NNT có nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh phức tạp, cầnphải kiểm tra để xác định đúng đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế đúng vớiquy định của từng sắc thuế là bước quan trọng để xác định mức thuế phải nộp,tránh bỏ sót nguồn thu
Trang 33Kiểm tra căn cứ tính thuế thực hiện thông qua việc xem xét, đối chiếu các sổsách kế toán, chứng từ hóa đơn và các tài liệu có liên quan: tờ khai, bảng kê muavào bán ra, tờ khai tự quyết toán, … NNT tự tính so với các quy định hiện hành vàthực tế sản xuất kinh doanh để phát hiện số thuế đơn vị khai thiếu, số thuế ẩnlậu…”[18, tr.503] Đây là một khâu rất quan trọng trong quy trình thanh tra thuế,đòi hỏi cán bộ thuế phải nắm vững nội dung quy định của các sắc thuế, các văn bảnhướng dẫn thực hiện, đồng thời cần thông thạo nghiệp vụ kế toán
Kiểm tra việc chấp hành nghĩa vụ kê khai, nộp thuế của NNT: xác định xemNNT có thực hiện nghiêm túc quy định về thời hạn nộp tờ khai và tiền thuế theoluật quản lý thuế hay không, nếu nợ đọng thì xác định nguyên nhân nợ để đôn đốcthu nợ Kiểm tra nội dung này cần kiểm tra số thuế phải nộp trên Tờ khai và Giấynộp tiền vào NSNN xem có nộp nhầm, nộp thừa vào các tài khoản khác không haychưa nộp?
Tóm lại, nội dung thanh tra rất quan trọng, là cơ sở để CQT tiến hành thanhtra NNT Tùy theo tính chất, yêu cầu quản lý thuế theo từng thời kỳ và tùy thuộcvào nguồn lực mà CQT (bộ phận thanh tra) đặt giới hạn, trọng tâm nội dung thanhtra cho phù hợp Nội dung thanh tra cũng có thể chỉ tập trung vào những chuyên đềhẹp như: đôn đốc nợ đọng, sử dụng hóa đơn, hoặc chỉ là quyết toán một sắc thuế:giá trị gia tăng (GTGT), thu nhập doanh nghiệp (TNDN), thu nhập cá nhân(TNCN)…) Hoặc trong cùng một CQT có thể mỗi đoàn thanh tra lựa chọn một nộidung thanh tra thuế riêng, theo loại hình doanh nghiệp hoặc theo lĩnh vực sản xuấtkinh doanh…để có thể hoàn thành hiệu quả nhất nhiệm vụ, nhưng tất cả phải dựatrên cơ sở phân tích rủi ro để xác định trọng tâm nội dung thanh tra
2.1.5 Phân loại thanh tra thuế
Căn cứ vào các tiêu chí lựa chọn khi tiến hành thanh tra thuế và mục tiêu củathanh tra thuế, có thể phân loại thanh tra thuế như sau:
- Dựa vào tính kế hoạch của thanh tra thuế
Nếu xét theo tính kế hoạch, có thể phân thanh tra thuế thành hai loại: thanhtra theo kế hoạch và thanh tra đột xuất
Thanh tra theo kế hoạch đã được được phê duyệt: căn cứ vào nguồn lực hiện
có, tình hình chấp hành pháp luật thuế trên địa bàn và mục tiêu quản lý thuế, CQTxây dựng kế hoạch thanh tra và trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt và tổ chứcthực hiện theo kế hoạch thanh tra đã được phê duyệt
Trang 34Loại hình thanh tra này có ưu điểm là việc thanh tra được lập kế hoạch từtrước nên được chuẩn bị chu đáo từ khâu phân tích thông tin đến khâu thanh trathực tế
Tuy nhiên, do kế hoạch thanh tra được phê duyệt từ đầu năm nên thời giancho đến khi CQT tiến hành thanh tra tại cơ sở NNT thường có độ trễ nhất định.Tranh thủ thời gian trễ tạm thời đó, NNT thường có hành vi hoàn thiện sổ sáchchứng từ trước khi đoàn thanh tra vào thanh tra, hoặc NNT trì hoãn, kéo dài thờigian thanh tra Mặt khác, việc lập kế hoạch thanh tra đôi khi bị ảnh hưởng do yếu
tố chủ quan can thiệp, tác động làm thay đổi kế hoạch, đôi khi làm chệnh hướnghoạt động thanh tra
Thanh tra đột xuất được tiến hành khi: CQT phát hiện NNT có dấu hiệu vi
phạm pháp luật thuế, theo yêu cầu của cơ quan quản lý cấp trên, cơ quan chức năng
có thẩm quyền giao
Thanh tra đột xuất giúp CQT kịp thời phát hiện ra bằng chứng vi phạm phápluật của NNT, giúp CQT nắm được lập tức tình trạng sản xuất kinh doanh, việctuân thủ pháp luật thuế của NNT có thường xuyên, tự giác không
Thanh tra đột xuất có thời gian tiến hành thanh tra gấp nên đoàn thanh tra có
ít thời gian để thu thập, tổng hợp, phân tích thông tin về NNT trước thanh tra, đồngthời chỉ tập trung vào thanh tra một khía cạnh, lĩnh vực nhất định, kết luận thanh tragiới hạn theo nội dung thanh tra đột xuất
Trong thực tế, nhằm đảm bảo NNT thực hiện tốt các luật thuế, tùy theo yêucầu quản lý thuế từng thời kỳ mà CQT đặt trọng tâm vào áp dụng phương phápthanh tra theo kế hoạch hay thanh tra đột xuất vì mỗi hình thức thanh tra có ưu, hạnchế nhất định, có thể bổ sung cho nhau
- Theo quy mô và phạm vi tiến hành thanh tra
Theo tiêu chí này, thanh tra thuế được chia thành hai loại là thanh tra toàndiện và thanh tra theo chuyên đề
Thanh tra toàn diện: CQT tiến hành thanh tra toàn bộ quá trình kê khai, nộp
thuế với tất cả các sắc thuế có liên quan đến NNT Đây là hình thức thanh tra toàndiện, phạm vi rộng cho phép kết luận tổng hợp về tình hình tuân thủ pháp luật thuếcủa NNT Thanh tra toàn diện liên quan đến nhiều sắc thuế, nhiều kỳ tính thuế, tậptrung vào những NNT trọng điểm (lớn), thường tiến hành ở cơ sở của NNT
Trang 35Sử dụng loại hình thanh tra này, CQT sẽ kiểm tra được toàn diện tình hìnhchấp hành pháp luật thuế của NNT, kỳ thanh tra được mở rộng thành nhiều năm.Thanh tra toàn diện cho thấy một bức tranh tổng quan về tình hình sản xuất kinhdoanh, cơ chế hạch toán, việc kê khai, nộp thuế trong phạm vi toàn ngành, pháthiện sơ hở về cơ chế, chính sách, hành vi vi phạm pháp luật thuế trong phạm vitoàn ngành, từ đó đề xuất các cấp bổ sung, sửa đổi hoàn thiện cơ chế chính sách.
Tuy nhiên, do phạm vi cuộc thanh tra rộng và thanh tra nhiều kỳ tính thuếnên CQT tốn nhiều nhân lực, thời gian, chi phí để tiến hành thanh tra, đôi khi phảigia hạn thêm thời gian thanh tra do phát sinh nhiều vấn đề chưa lường trước được
Thanh tra theo chuyên đề: giới hạn phạm vi thanh tra ở một sắc thuế, một
hoặc một số kỳ tính thuế, hoặc theo một số chuyên đề chuyên sâu hoặc một khíacạnh hoạt động sản xuất kinh doanh nhất định, giá cả sản phẩm hoặc một tài khoảnnhất định, ví dụ thanh tra chống chuyển giá, thanh tra các doanh nghiệp lỗ, thanhtra về chi phí sản xuất một số mặt hàng Nhà nước kiểm soát giá…Loại hình thanhtra này thường được bắt nguồn từ đề xuất của bộ phận kiểm soát hồ sơ khai thuế,hoặc do CQT cấp trên chỉ đạo, hoặc theo yêu cầu của cơ quan chức năng…
Thanh tra theo chuyên đề không bao gồm các phép thử hay các bước tuần tựthanh tra cần thiết cho phép CBTT đánh giá được tổng thể mức độ tuân thủ haykhông tuân thủ pháp luật thuế của NNT được thanh tra Thông thường thanh trabao gồm việc rà lại các chứng từ liên quan trực tiếp đến vấn đề nghi ngờ
Thanh tra theo chuyên đề tốn ít nguồn lực thanh tra hơn thanh tra toàn diện,giúp CQT tìm ra các gian lận, sai sót, chống thất thu thuế theo từng lĩnh vựcchuyên sâu, chuyên ngành, nhằm tăng tính tuân thủ của NNT trong các ngành,lĩnh vực thanh tra theo chuyên đề Tuy nhiên kết quả thanh tra sẽ không cho thấyđược bức tranh toàn cảnh về tình hình tuân thủ khai nộp thuế của NNT do phạm vithanh tra bị hạn chế, chỉ thanh tra một khía cạnh, lĩnh vực hay một yếu tố
- Theo địa điểm tiến hành thanh tra thuế
Theo tiêu chí này, thanh tra thuế được chia thành hai loại là thanh tra tạiCQT và thanh tra tại cơ sở của đối tượng thanh tra:
Thanh tra tại trụ sở CQT (hay còn gọi là thanh tra tại bàn) có địa điểm tiến
hành tại trụ sở CQT Theo hình thức thanh tra này, mà CQT không đến làm việc
Trang 36trực tiếp tại cơ sở NNT mà tiến hành các bước thanh tra tình hình tuân thủ phápluật của NNT ngay tại trụ sở CQT, dựa trên những dữ liệu, thông tin và hồ sơ hiện
có của mình về NNT trên hệ thống để kiểm tra tính đúng, sai trong việc thực thiluật thuế về các nội dung: sự khớp đúng của hồ sơ khai thuế; tính đầy đủ của hồ sơ;
sự sai sót trong tính toán số thuế phải nộp….Quá trình thanh tra, CQT có thể thôngbáo yêu cầu NNT lên làm việc tại trụ sở CQT để đối chiếu số liệu, sổ sách và giảitrình những chênh lệch, nghi vấn của CQT Kết thúc thanh tra, CQT yêu cầu NNTphải chỉnh sửa, hoàn thiện hồ sơ cho đúng quy định
Thanh tra tại trụ sở CQT tốn kém ít chi phí, thời gian đi lại trong quá trìnhthanh tra Việc kiểm tra, đối chiếu được chủ động do đoàn thanh tra tận dụng được
cơ sở vật chất sẵn có và hồ sơ sẵn có tại CQT Việc phối hợp với các phòng banliên quan trong việc truy vấn lịch sử tuân thủ, lịch sử hành vi của NNT cũng thuậntiện hơn
Thanh tra theo hình thức này phụ thuộc vào nguồn dữ liệu hiện có của CQT,kết quả phân tích đánh giá chưa thực sự chính xác, chỉ áp dụng đối với yêu cầuthanh tra đơn giản Đồng thời do NNT không thể mang đầy đủ sổ sách, chứng từ kếtoán và các tài liệu liên quan khác lên trụ sở của CQT nên CBTT khó có chứng cứ
cụ thể, xác đáng để phân tích, kết luận thanh tra Do không trực tiếp thanh tra tại cơ
sở của NNT nên CQT không thấy được hiện trạng thực tế của tài sản cố định, tìnhhình sản xuất kinh doanh và không kịp thời phát hiện ra các bằng chứng gian lậncủa NNT Các rủi ro phát hiện qua hình thức thanh tra này thường không nghiêmtrọng và có giá trị truy thu không nhiều
Thanh tra tại cơ sở NNT: Đây là hình thức thanh tra mà CQT kiểm tra, xem
xét, rà soát lại toàn bộ chứng từ, hồ sơ có liên quan đến tình hình tuân thủ pháp luậtcủa NNT tại cơ sở của NNT mà CQT nghi ngờ có những rủi ro về thuế lớn, có dấuhiệu gian lận, trốn thuế cần phải thu thập những bằng chứng thực tế, xác đáng đểkết luận Khi thanh tra tại cơ sở NNT, CBTT kiểm tra các tài liệu không có ở CQT
mà chỉ có ở doanh nghiệp để xác minh, đối chiếu hồ sơ, chứng từ nhằm tìm ra bằngchứng thanh tra, trao đổi với NNT, quan sát, đánh giá, yêu cầu cung cấp thông tin
Loại hình thanh tra này thường áp dụng trong trường hợp thanh tra tại trụ sởCQT không đáp ứng được yêu cầu, vẫn còn nhiều nghi vấn sai phạm, do đó, CQTphải chuyển sang thanh tra tại cơ sở NNT để khẳng định nghi ngờ, tìm được nhiềubằng chứng sai phạm, xác đáng, tăng tính răn đe, phòng ngừa
Trang 37Thực hiện việc thanh tra tại cơ sở NNT cho CQT bằng chứng xác thực, kếtluận thanh tra khách quan hơn, cuộc thanh tra được tiến hành đầy đủ, toàn diện vàthu thập được những chứng cứ xác đáng Hình thức này cho phép CBTT tiếp cậntrực tiếp với tài sản, máy móc, tài liệu sổ sách chứng từ, quỹ tiền mặt thực tế… tạidoanh nghiệp, có thể quan sát, thẩm định, ra biên bản trực tiếp Tuy nhiên, thanhtra tại cơ sở NNT tốn kém thời gian, nhân lực và vật lực cho CQT.
2.1.6 Quy trình thanh tra thuế
Thanh tra thuế là một chức năng thiết yếu của thuế và trong quản lý thuế, làmột khâu trong quy trình hoạt động quản lý thuế, vì vậy đòi hỏi thanh tra thuế phảituân thủ những nguyên tắc và trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật
Quy trình thanh tra thuế là trình tự các bước công việc phải tiến hành để
thực hiện một cuộc thanh tra thuế cụ thể Yêu cầu của quy trình là nhất thiết cáccông việc phải được thực hiện theo thứ tự các bước từ khâu chuẩn bị thanh tra vàtiến hành thanh tra, kết thúc thanh tra
Quy trình thanh tra thuế có tác dụng tạo sự thống nhất trong việc thực hiệncông tác thanh tra trong toàn ngành thuế, thể hiện sự chuyên nghiệp trong tổ chứccông việc trong từng khâu, từng bước của thanh tra thuế theo phương thức quản lýhiện đại, đồng thời nâng cao ý thức của CBTT trong việc thực hiện nhiệm vụ đượcgiao góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế
Trên cơ sở các quy định của Luật Thanh tra chuyên ngành, Luật Quản lýthuế và khoa học về nghiệp vụ thanh tra cũng như thực tiễn công tác thanh tra, mộtcuộc thanh tra thuế thông thường được tiến hành theo các bước sau đây:
Bước 1: Thu thập thông tin, dữ liệu về người nộp thuế:
Các nguồn thông tin;
Xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung
Bước 2: Lập kế hoạch thanh tra:
Tiêu thức đánh giá rủi ro
Lập danh sách NNT rủi ro
Phê duyệt và ban hành kế hoạch thanh tra
Bước 3: Phân tích hồ sơ trước khi thanh tra.
Phân tích dọc, ngang, tỷ suất cơ bản
Nhận biết các dấu hiệu vi phạm
Trang 38Bước 4: Tiến hành thanh tra tại cơ sở NNT.
Công bố Quyết định thanh tra
Tập hợp thông tin, tài liệu cơ bản phục vụ thanh tra
Áp dụng các kỹ thuật thanh tra
Lập và ghi chép tài liệu thanh tra
Thu thập bằng chứng thanh tra
Kết thúc thanh tra
Bước 5: Sau thanh tra.
Hoàn thiện báo cáo thanh tra (kết quả thanh tra, tình huống thanh tra, kỹnăng phát hiện, đánh giá hiệu quả phân tích rủi ro…)
Ghi nhận những lưu ý sau thanh tra, so sánh kết quả thực tế đạt được với kếhoạch đề ra
Nêu ra các bài học kinh nghiệm
Quản lý các thông tin bảo mật
Hoàn thiện hồ sơ tài liệu lưu trữ
Đôn đốc thực hiện kết luận thanh tra
Giải quyết khiếu nại
Bước 6: Thống kê báo cáo đánh giá trong thanh tra.
Báo cáo kết quả thanh tra (một cuộc thanh tra)
Thống kê hành vi vi phạm và các tình huống thanh tra
Báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch thanh tra
Những nội dung vướng mắc và đề xuất cải cách về cơ chế, chính sách Phương hướng thanh tra thời gian tới
Trong các bước của quy trình thanh tra, Bước 2- Lập kế hoạch thanh tra và Bước 4- Tiến hành thanh tra tại cơ sở NNT là rất quan trọng, mang tính chất quyết
định tới hiệu quả hoạt động thanh tra thuế
Tuy nhiên, sự phân chia thành các bước trong quy trình thanh tra chỉ mangtính chất tương đối vì các bước này có mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau, bước trướctạo tiền đề để tiến hành bước sau, bước sau nhằm tiếp tục và hoàn thiện bước trước
và có những việc được thực hiện ở bước này, cũng là yêu cầu của bước kia, cónhững nội dung ở bước sau đã được hình thành trong khi tiến hành bước trước
Trang 392.1.7 Các phương pháp thanh tra thuế
Phương pháp thanh tra thuế được hiểu là cách thức, biện pháp mà CQT(đoàn thanh tra, CBTT) áp dụng khi tiến hành thanh tra thuế nhằm thực hiện mụctiêu quản lý Có một số phương pháp thanh tra chủ yếu sau:
Phương pháp phân tích rủi ro
Phân tích rủi ro là phân tích những dấu hiệu, xu hướng phát triển có khả nănggây thất thu thuế và không tuân thủ pháp luật thuế Phân tích rủi ro cần một khối lượnglớn thông tin lịch sử và dữ liệu tài chính của NNT nhằm mục đích đối chiếu
Thanh tra thuế trên cơ sở phân tích rủi ro là phương pháp CQT áp dụng kỹthuật phân tích rủi ro về thuế của NNT trong thanh tra thuế ở các nội dung tínhthuế, khai thuế, nộp thuế nhằm sàng lọc, phát hiện những NNT có rủi ro về thuế
cao nhất để đưa vào diện thanh tra (Xem Mô hình 2.1 Lựa chọn đối tượng thanh tra theo phân tích rủi ro)
Để phân tích được rủi ro về thuế, CQT phải thu thập, lưu giữ các thông tin
có hệ thống về NNT, từ những thông tin này CQT tiến hành đánh giá mức độ rủi
ro, xếp hạng rủi ro theo các mức độ từ cao xuống thấp dựa trên các tiêu chí xácđịnh rủi ro Với những NNT bị xếp hạng rủi ro cao sẽ phải tiến hành thanh tra,kiểm tra trước; nếu rủi ro rất cao thì phải thanh tra kỹ lưỡng hơn Với những NNT
có độ rủi ro thấp, thường xuyên chấp hành tốt pháp luật thuế, không nợ thuế quáhạn, số thuế nộp thường xuyên cao và ổn định thì ít tiến hành thanh tra
Mô hình 2.1: Lựa chọn đối tượng thanh tra theo phân tích rủi ro
Trang 40Thanh tra thuế trên cơ sở phân tích rủi ro được thực hiện qua các phân tíchdọc, ngang, phân tích tỷ suất các Báo cáo tài chính, tờ khai thuế, lịch sử tuân thủcủa NNT
Phân tích chiều dọc: là việc lấy số liệu của tiêu chí cần so sánh chia cho sốliệu của tiêu chí tổng (thường là tiêu chí Tổng Tài sản- Tổng Nguồn vốn trên bảngCân đối kế toán hoặc Tổng doanh thu trên Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh)của một báo cáo tài chính nhằm xác định tỷ trọng của từng yếu tố cấu thành lêntổng để thấy được sự biến đổi của các tiêu chí so với tỷ trọng có tính phổ biến, từ
đó đánh giá được biến đổi bất thường nào gây nên rủi ro về thuế
Phân tích chiều ngang: là việc lấy số liệu kỳ phân tích chia cho số liệu kỳtrước của cùng một tiêu chí nhằm so sánh sự biến động của tiêu chí qua các năm,qua đó tìm ra sự biến động có tính chất bất thường gây nên những rủi ro về thuế
Phân tích tỷ suất: CBTT sử dụng các tỷ suất như nhóm tỷ suất thanh khoản,nhóm tỷ suất khả năng hoạt động, nhóm tỷ suất khả năng sinh lời, nhóm tỷ suất cơcấu tài sản-nguồn vốn Một số tỷ suất thông dụng thường để dùng để phân tích rủi
ro như: biến động của tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, thay đổi hệ số nợ, khảnăng thanh toán nhanh …
Phân tích mức độ tuân thủ về kê khai-nộp thuế của NNT là phân tích tình
hình tuân thủ nộp hồ sơ khai thuế; tỷ lệ nợ đọng trên tổng số thuế phải nộp, mức độchấp hành các quyết định của CQT về truy thu, xử phạt thuế, lịch sử hành vi viphạm về thuế… Phương pháp phân tích mức độ tuân thủ nghĩa vụ thuế cho phépCBTT có thể đánh giá được khả năng tuân thủ của NNT đến đâu, từ đó xác địnhđược mức độ rủi ro cao hay thấp của NNT
Sau đó CQT chấm điểm đối với từng loại rủi ro của NNT theo từng tiêu chíkhác nhau và tổng hợp điểm số Thông thường NNT được chọn để thanh tra lànhững NNT có tỷ lệ rủi ro cao về thuế
Thanh tra thuế trên cơ sở phân tích rủi ro không đưa vào kế hoạch thanh tratràn lan mọi NNT, mà có sự lựa chọn, cân nhắc NNT rủi ro để đưa vào diện thanhtra theo các tiêu chí xác định rủi ro, phân tích và đánh giá mức độ rủi ro, ảnh hưởngcủa rủi ro, từ đó có biện pháp xử lý rủi ro nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của nóđến hiệu quả thanh tra thuế cũng như hiệu quả quản lý thuế