Luận văn
Trang 11.1 Một số khái niệm của lý thuyết hội thoại liên quan đến lời độc thoại nội tâm 20
1.3 Tiêu chí nhận diện lời độc thoại nội tâm nhân vật trong truyện ngắn
Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ 39
Chơng 2: Các hành động ngôn ngữ của lời độc thoại
nội tâm nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Minh
2.4 Thống kê, miêu tả các hành động ngôn ngữ của lời độc thoại nội tâm nhân
vật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị
2.5 Những nhân tố chi phối việc lựa chọn hành động ngôn ngữ của lời độc
Trang 2thoại nội tâm 97
Chơng 3: Ngữ nghĩa lời độc thoại nội tâm nhân vật
trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy
3.2 Các nhân tố chi phối ngữ nghĩa lời độc thoại nội tâm 1133.3 Các nhóm ngữ nghĩa của lời độc thoại nội tâm 132
Chơng 4: Vai trò của lời độc thoại nội tâm trong
truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy thiệp,
4.1 Vai trò biểu hiện tâm lý và tính cách nhân vật trong tính đối thoại của
4.2 Vai trò định hớng hành động nhân vật trong cấu tạo lập luận của lời độc
4.3 Vai trò thể hiện phạm vi hiện thực trong tác phẩm qua sắc thái giới tính
4.4 Vai trò khắc họa phong cách ngôn ngữ tác giả của lời độc thoại nội tâm 1914.5 Vai trò thể hiện sự đổi mới thi pháp truyện ngắn của lời độc thoại nội tâm 195
Trang 3
Mục lục các bảng thống kê
TrangBảng 2.1 Tần số xuất hiện của lời độc thoại nội tâm 74Bảng 2.2 Các hành động ngôn ngữ của lời độc thoại nội tâm nhân vật trong truyện
ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ 75Bảng 2.3 Các hành động ngôn ngữ tiêu biểu trong lời độc thoại nội tâm 98Bảng 2.4 So sánh tơng quan số lợng giữa hành động hỏi và hành động khẳng
Bảng 3.1.b Các nội dung độc thoại trong không gian gia đình 121
Bảng 3.3 Trạng thái tâm lý chủ thể khi độc thoại nội tâm 128Bảng 3.3.a Các loại trạng thái tâm lý dơng tính 128
Bảng 3 4 Các nhóm ngữ nghĩa của lời độc thoại nội tâm 134Bảng 3.4.a Các phơng diện tìm hiểu về bản thân của chủ thể độc thoại 135Bảng 3.4.b Các mối quan hệ giữa chủ thể độc thoại với những ngời xung quanh 143Bảng 3.4.c Những sự vật, hiện tợng khách quan đợc đề cập trong lời độc
Bảng 3.4.d Các nội dung triết lý nhân sinh trong lời độc thoại nội tâm 152
Trang 4Bảng 3.4.đ Các sắc thái tình yêu trong lời độc thoại nội tâm 154
Bảng 4.2 Tổ chức lập luận trong lời độc thoại nội tâm 175Bảng 4.3 Số lợng hành động hỏi trong lời độc thoại nội tâm của nhân vật nam và
Bảng 4.4 Số lợng hành động khẳng định, hành động phủ định trong lời độc
Bảng 4.5 Các từ, cụm từ biểu thị khả năng trong lời độc thoại nội tâm các
Bảng 4.6 Các từ, cụm từ biểu thị cách diễn đạt khẳng định/ phủ định trong
lời độc thoại nội tâm các nhân vật nam của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn
Trang 5B¶ng chó thÝch viÕt t¾t
TT Néi dung viÕt t¾t Ký hiÖu viÕt t¾t
Trang 6Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Lời nói là khái niệm có ý nghĩa tiền đề, là đối tợng nghiên cứu trung tâm
của ngữ dụng học Không nghiên cứu ngôn ngữ ở dạng tĩnh với những quy luật vàcấu trúc cứng nhắc, bất biến, ngữ dụng học chú trọng đến việc sử dụng ngôn ngữtrong hoạt động giao tiếp, xem xét mối quan hệ giữa ngôn ngữ với những ngữ cảnh
và ngời dùng khác nhau Hớng tiếp cận này cho phép ngữ dụng học có thể nhận ranhững dạng thức, quy luật hành chức sinh động và đa dạng của ngôn ngữ
1.2 Khi giao tiếp, lời nói đợc tổ chức thành hai dạng: lời đối thoại và lời độc
thoại nội tâm (ĐTNT) Lời đối thoại luôn thể hiện mối quan hệ tơng tác giữa ngờinói và ngời nghe trực tiếp, hiện diện trực quan trong quá trình nói năng Do vậy, nó
là nguồn t liệu quan trọng để ngữ dụng học tìm ra những nguyên tắc, đặc tính hànhchức của ngôn ngữ Trong đời sống thực, lời ĐTNT thờng diễn ra ngầm ẩn, không h-ớng đến ngời nghe nào khác ngoài chính bản thân chủ thể độc thoại Nó là dạng lờithoại đợc ngời nói sử dụng để giao tiếp với chính mình - ngời nghe đặc biệt Những
đặc điểm này khiến việc nghiên cứu lời ĐTNT từ lý thuyết hội thoại hầu nh còn bỏtrống
1.3 Lời ĐTNT tồn tại khá phổ biến trong thực tế sử dụng ngôn ngữ để giao
tiếp, nhng nó chỉ hiện diện rõ ràng, cụ thể ở tác phẩm nghệ thuật (kịch, tiểu thuyết,truyện ngắn) Sự tái hiện ĐTNT vào tác phẩm nghệ thuật tất yếu không thể đảm bảotuyệt đối tính khách quan, nguyên bản của dạng lời nói này nhng trên một mức độnhất định, các nhà văn luôn phải tôn trọng các đặc tính bản chất, các nguyên tắc nảysinh và sự hành chức của nó Vì thế, khi cha có điều kiện vật chất hoá lời ĐTNT ở
đời sống thực, lời ĐTNT trong tác phẩm nghệ thuật là một nguồn t liệu đủ tin cậycho phép việc nghiên cứu về nó có thể đạt đợc những kết quả cơ bản bớc đầu Đồngthời, tìm hiểu dạng lời nói này trong tác phẩm văn học cũng là tìm hiểu cách thức tổchức ngôn ngữ nghệ thuật của nhà văn, góp phần nhận diện phong cách ngôn ngữtác giả
1.4 Sau 1975, văn học Việt Nam chuyển sang một thời kỳ phát triển mới, có
những chuyển đổi mạnh mẽ về t tởng và phơng pháp sáng tác Các tác phẩm tậptrung thể hiện cuộc sống của con ngời cá nhân, những hậu quả mà chiến tranh để lạitrong thời bình Trong sự đổi mới đó, thể loại truyện ngắn đã đạt đ ợc nhiều thànhquả nhất
Nguyễn Minh Châu là một trong những nhà văn tiên phong của tiến trình đổimới văn học Truyện ngắn của ông, ngay từ những năm đầu của thập niên 80 (thế kỷ20), đã bộc lộ rõ khát vọng khám phá đời sống nội tâm con ngời trong thời đại mới,
đặc biệt là ngời lính trở về sau chiến tranh Lời ĐTNT nhân vật là một phơng tiện
Trang 7ngôn ngữ đợc ông sử dụng rất hiệu quả để phản ánh phạm vi hiện thực này, gópphần tạo nên dấu ấn phong cách độc đáo của tác giả.
So với Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp và Nguyễn Thị Thu Huệ lànhững nhà văn thuộc về thế hệ sau Trong những năm 90 (thế kỷ 20), đây là hai tácgiả truyện ngắn nổi tiếng Ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp rất sắc sảo, thểhiện nổi bật trong lời thoại nhân vật Ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệgiàu nữ tính, phù hợp với việc tái hiện cuộc sống tâm hồn, tình cảm của các nhân vậtnữ Khảo sát lời ĐTNT nhân vật trong truyện ngắn của họ sẽ cho phép sự nghiên cứu
về dạng lời nói này trở nên toàn diện, đầy đủ hơn
Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra nói trên, chúng tôi lựa chọn
đề tài: Khảo sát lời độc thoại nội tâm nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ.
thuyết phơng Tây hiện đại nh: Ulysse (James Joyce); Đi tìm thời gian đã mất (M Proust); Thời gian khổ (Dickens) đã sử dụng ĐTNT với t cách là một ph“ph ơng tiện”
đã tới kịp vừa may để diễn đạt căn bệnh mới của thế kỷ trong tiểu thuyết mới [25, tr.69] Sự xuất hiện của ĐTNT một cách dày đặc và mới lạ trong tiểu thuyết hiện đại
đã thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu ở ngoài nớc cũng nh trong nớc
2.1.1 Những kết quả nghiên cứu về độc thoại nội tâm ở ngoài nớc
Vấn đề đầu tiên mà các nhà nghiên cứu ở nớc ngoài đặt ra là xác định t cáchtồn tại của ĐTNT trong tiểu thuyết và truyện ngắn Có thể khái quát kết quả nghiêncứu về vấn đề này thành hai xu hớng cơ bản: ĐTNT với t cách là một kỹ thuật, mộtthủ pháp của nhà văn trong xây dựng tác phẩm và ĐTNT với t cách là một dạng lờithoại, đợc nhân vật sử dụng để thực hiện sự giao tiếp
Tiêu biểu cho xu hớng thứ nhất là quan điểm của hai tác giả Wiliam Flin
Thrall và Mario Klarer Trong cuốn A handbook to literature (Cẩm nang văn học) tác giả Wiliam Flin Thrall nhìn nhận ĐTNT chỉ là một kỹ thuật, trong đó, luồng suy nghĩ của một nhân vật trong một tiểu thuyết hoặc truyện ngắn đợc bộc lộ Nó ghi lại trải nghiệm cảm xúc bên trong của nhân vật trên từng cấp độ hoặc là sự phối hợp nhiều cấp độ tình cảm Theo ông, ĐTNT không phải là lời thoại mà là một hình thức phi thoại (non - verbalize), đợc dùng để diễn đạt cảm giác hoặc tình cảm không diễn tả bằng lời [131, tr.243] Thống nhất với quan điểm này, Mario Klarer cũng
Trang 8khẳng định ĐTNT là một kỹ thuật miêu tả trong đó một nhân vật đợc đặc trng hoá riêng biệt bằng suy nghĩ của chính nhân vật đó mà không có thêm bất cứ lời bình luận nào Nó bị chi phối bởi tâm lý và liên quan đến luồng suy nghĩ của nhân vật
[127, tr.142] Nh vậy, ĐTNT đã đợc nhìn nhận nh một cách thức, một thủ pháp củanhà văn để biểu đạt suy nghĩ, tình cảm, cảm giác bên trong, ngầm ẩn của nhân vật
ĐTNT không đợc xem là dạng lời thoại do nhân vật trực tiếp nói ra để thực hiện sựgiao tiếp trong một ngữ cảnh nhất định
Tiêu biểu cho xu hớng thứ hai là cách nhìn nhận của nhà ngôn ngữ học V.B
Kasevich trong giáo trình Những yếu tố cơ sở của ngôn ngữ học đại cơng Khi nói về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và t duy, ông đã nhận ra sự tồn tại của những kiểu t duy
mà ở đó hình thức lời nói đợc sử dụng nhng dờng nh đã bị rút gọn: nó chỉ giữ lại
không đợc thể hiện bằng lời nói [51, tr.18] Từ đó, dẫn đến một thực tế thờng gặp
trong đối thoại là ở những tình huống khá quen thuộc thì những cái đợc coi là đãbiết sẽ đợc bỏ qua, không đợc ngời nói và ngời nghe đa vào trong phát ngôn củamình Điều đặc biệt là tác giả Kasevich cho rằng: quá trình “phép nén” các phơng tiện
ngôn ngữ nh thế lại càng hiển nhiên hơn trong trờng hợp các độc thoại tởng tợng,
từ phía ngời đối thoại [51, tr.18] Nh vậy, ông đã khẳng định: cả lời đối thoại và lời
độc thoại đều có thể có những đặc điểm hành chức giống nhau để tiến hành giao tiếp
có hiệu quả Không chỉ thừa nhận sự tồn tại của ĐTNT, Kasevich còn chỉ ra mộttrong những quy luật quan trọng của nó: ĐTNT là dạng lời nói không chịu sự chiphối từ một ngời nghe phân biệt nh đối thoại Xem xét ĐTNT trong mối quan hệ vớingời nghe, Kasevich đã khẳng định ĐTNT là một dạng lời thoại đợc con ngời sửdụng để giao tiếp
Vấn đề thứ hai mà các nhà nghiên cứu nớc ngoài quan tâm khi tìm hiểu về
ĐTNT trong tiểu thuyết là xác định ĐTNT, phân biệt nó với khái niệm dòng ý thức.Hai khái niệm này có mối quan hệ gần gũi với nhau, ranh giới giữa chúng trong tiểu
thuyết nhiều khi khó phân biệt Tác giả Tamara Motilova trong bài Độc thoại nội tâm và dòng tâm t đã đồng nhất hai khái niệm và cho rằng:
Nó xuất hiện nh diễn từ không biểu đạt thành lời của các nhân vật hoặc nh diễn từ của tác giả, nhân danh mình mà nói, nhng có thể coi nh đã mợn từ vựng và giọng
điệu của nhân vật; hoặc nh đối thoại bên trong, ở đó, giọng nói của nhân vật bị xẻ làm đôi thành hai giọng phân biệt và đối nghịch; nó xuất hiện dới hình thức một chuỗi kết luận có tổ chức cũng nh qua những ý kiến mơ hồ và hỗn loạn [dẫn theo
25, tr 69-70].
Trang 9Theo quan niệm trên, tác giả Motilova đã chỉ ra những hình thức tồn tại của
ĐTNT Thứ nhất, đó là dạng ĐTNT có sự lai ghép, vay mợn giữa ngôn ngữ nhà văn
và ngôn ngữ nhân vật Thứ hai, đó là những lời đối thoại bên trong của nội tâm nhânvật Thứ ba, đó là những ý kiến mơ hồ và hỗn loạn Hình thức cuối cùng (những ýkiến mơ hồ và hỗn loạn) mà Motilova nói đến thực ra chính là dòng ý thức
Trong khi đó, một số nhà nghiên cứu Xô viết trớc đây lại hớng đến sự phânbiệt giữa ĐTNT và dòng ý thức Phân tích việc sử dụng hai loại phơng tiện này trongtác phẩm của Stendhal và Tolstoi, M.B Khrapchenko chỉ rõ:
Tính chất phân tích của lời lẽ nội tâm nhân vật trong Đỏ và đen là cho lời lẽ đó có một số đặc điểm của sự tề chỉnh, duy lý chặt chẽ, đôi khi đầy bi tráng Theo ý nghĩa này, độc thoại nội tâm trong các tác phẩm của Stendhal khác biệt khá cơ bản với lời lẽ nội tâm các nhân vật của Tolstoi, lời lẽ này đợc xây dựng nh thể là sự hiển hiện dòng t tởng tự nhiên, tuỳ tiện, sự vận động của tình cảm”[dẫn theo 25, tr.79]
M.B Khrapchenko đã dựa vào cấu trúc của “phlời lẽ nội tâm nhân vật” để chỉ ra
sự phân biệt Lời lẽ nội tâm trong tác phẩm Stendhal có cấu trúc tề chỉnh, duy lýchặt chẽ, tức là có tính tổ chức rõ rệt, còn trong tác phẩm của Tolstoi, nó là mộtdòng t tởng tự nhiên, tuỳ tiện, tuôn chảy miên man theo sự vận động của tình cảm vàtâm lý nhân vật Nói cách khác, đó chính là sự khác biệt cơ bản giữa lời ĐTNT vàdòng ý thức
Theo một xu hớng khác, nhà nghiên cứu Jean Cardot quan niệm: ĐTNT khi
đạt tới một cách viết ngày càng mang tính chất điện tín, ngắt quãng; sự đứt đoạn của dòng chảy ngôn từ: những gián đoạn thờng xuyên ám chỉ tình trạng thiếu vắng lời đáp lại [dẫn theo 25, tr.83], sẽ trở thành dòng ý thức Khi đó, ĐTNT trong tiểu
thuyết không thể lẫn với độc thoại của kịch vì tính chất phi logic và rời rạc của phátngôn Ông không đồng nhất hai khái niệm ĐTNT và dòng ý thức nhng cũng khôngchỉ ra sự phân biệt giữa chúng Trong quan niệm của ông, dòng ý thức là mức độ
phát triển cao nhất của ĐTNT Th viện điện tử questia.com cũng cho rằng: Các nhà“ph
văn cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 đã đi tìm các khả năng mới của ĐTNT, tạo ra hiệu quả về tính chất phi võ đoán và tự do của độc thoại Đầu thế kỷ 20, hình thức ĐTNT
có vẻ hoàn toàn tuỳ tiện, đợc xử lý đến mức cực đoan: ĐTNT cũng chính là dòng ý thức của nhân vật”…[102, ngày 16/12/2007].
Hiện nay, đa số các nhà nghiên cứu ở nớc ngoài đều xem ĐTNT là một kháiniệm phân biệt với độc thoại của kịch và với dòng ý thức, mặc dù giữa chúng cónhững mối quan hệ, những điểm giống nhau nhất định Đây chính là tiền đề lýthuyết quan trọng nhất để chúng tôi triển khai sự nghiên cứu về lời ĐTNT nhân vậttrong tác phẩm văn học
2.1.2 Những kết quả nghiên cứu về độc thoại nội tâm ở trong nớc
Trang 10ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu chuyên biệt về ĐTNT có số lợng rấthạn chế Tuy nhiên, các tác giả nh: Đặng Anh Đào, Nguyễn Thái Hoà, Trần Đình Sử
đều có những sự chú trọng nhất định đến ĐTNT khi nói về sự đổi mới thi pháptruyện và tiểu thuyết hiện đại
Tác giả Đặng Anh Đào trong Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phơng Tây hiện
đại đã dành hẳn mục VII, phần I với hơn 16 trang để nói về ĐTNT và dòng tâm t,
chỉ ra sự khác nhau giữa chúng với độc thoại Không đi vào phân biệt hai khái niệm
ĐTNT và dòng tâm t (dòng ý thức), nhng tác giả Đặng Anh Đào đã phân tích và nêulên những đặc điểm quan trọng của ĐTNT Khi phân biệt độc thoại và ĐTNT, bà
khẳng định: Độc thoại đ“ph ợc nói đến ở kịch, đôi khi trong tiểu thuyết, trong khi khái
những điểm giống nhau: chúng đều là sự tái hiện những ý nghĩ của nhân vật, đều cótính chất hớng nội Điểm phân biệt mà tác giả Đặng Anh Đào chỉ ra đó là: độc thoạigắn liền với hành động hơn, thiên về hành động hơn so với ĐTNT Còn ĐTNT vào
dòng tâm t thì thờng có tính chất kìm hãm hành động, thiên về xu thế miêu tả hơn là
tự sự rõ nét hơn Thế giới bên trong là đối tợng miêu tả chủ yếu của ĐTNT [25, tr.74]
Chú trọng đến việc nhận diện ĐTNT trong hệ thống ngôn từ của tác phẩm
văn học, tác giả của Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phơng Tây hiện đại đã đa ra
những luận điểm cụ thể Bà xác định, ĐTNT thuộc phạm vi ngôn từ của nhân vật, tấtnhiên, cũng không thể đối lập hoàn toàn nó với ngôn từ ngời kể chuyện, nhất làtrong những trờng hợp ngời kể chuyện ở ngôi thứ nhất hoặc nhờng lời cho nhân vật
Điều kiện để loại câu nửa trực tiếp này trở thành ĐTNT hoặc dòng tâm t
phải khoác giọng điệu và từ vựng của nhân vật, dù chủ thể vẫn nhân danh chính
của nhân vật ngay tại cái vỏ ngôn từ”[25, tr.70] Còn đối với ĐTNT đợc biểu hiện trực tiếp thì lời phát ngôn đợc đặt ở ngôi thứ nhất (ta) hoặc ngôi thứ hai (tơng đơng với mày), giọng điệu và từ vựng của nhân vật phải đi thẳng vào văn bản Sự chú ý
của tác giả Đặng Anh Đào đến ngôi nhân xng của ĐTNT cho thấy, bà đã xét ĐTNTtrong mối quan hệ giữa lời nói với chủ thể phát ngôn,
Nghiên cứu về Những vấn đề thi pháp của truyện, tác giả Nguyễn Thái Hoà
đi vào miêu tả những khái niệm cơ sở của thi pháp học thể loại truyện (trong đó có
ĐTNT và dòng ý thức) từ góc nhìn ngôn ngữ học Ông xem ĐTNT cũng là một hìnhthức đối thoại Nhân vật tự phân thân thành vai nói và vai nghe để thực hiện quátrình trò chuyện với chính bản thân mình Do vậy, tác giả Nguyễn Thái Hoà đã nhận
ra những biểu hiện mang ý nghĩa ngữ dụng về bản chất hành động của dạng lời nóinày Khi chỉ ra các dấu hiệu nhận biết ĐTNT, ông thờng dựa vào những phơng tiện,
Trang 11những cấu trúc thể hiện các loại hành động ngôn ngữ khác nhau trong lời nói củanhân vật
Những dấu hiệu đánh dấu độc thoại nội tâm của nhân vật thờng thấy là: (X) tự hỏi “ở đó giọng nói của ng rằng, cho rằng nh thế là … có sao không nhỉ v.v ” … có thể gọi là độc thoại lập luận; Chao ơi! Mình mà , Khốn thay, mình lại , Còn gì hơn với mình , gọi là
“ở đó giọng nói của ng …” “ở đó giọng nói của ng …” “ở đó giọng nói của ng …”
độc thoại cảm thán; giá nh “ở đó giọng nói của ng , hồi đó, nhớ lại hồi xa v.v ” … có thể gọi là độc thoại hồi ức; một ngày nào đó mình sẽ “ở đó giọng nói của ng …” “ở đó giọng nói của ngớc gì có , …” v.v … là độc thoại cầu khiến v.v … [43, tr.78]
Trong trờng hợp có sự chập đôi giữa ĐTNT của nhân vật với lời kể của ngời
kể chuyện, ranh giới giữa chúng sẽ trở nên rất khó xác định Tác giả Nguyễn TháiHoà cho rằng đó là một thủ pháp của truyện và ngời ta thờng gọi đó là lời kể giántiếp tự do Ông không đồng nhất hai khái niệm ĐTNT và truyện ngắn tâm t (dòng ýthức) và chỉ ra sự khác nhau giữa chúng Có chung nguồn gốc là kể lại ý nghĩ vàcảm xúc của nhân vật ở ngôi thứ ba nhng ĐTNT chỉ xuất hiện trong một số tìnhhuống đối thoại nhất định còn truyện kể tâm t (psycho-narration) là dòng chảy triềnmiên của ý thức, là giọng chủ đạo của lời kể
Các nhà ngôn ngữ học Việt Nam cũng đã đa ra những nhận xét, kiến giải bớc
đầu về ĐTNT Bản chất giao tiếp của ĐTNT đợc khẳng định rõ ràng với luận điểm
của tác giả Đỗ Hữu Châu trong giáo trình Đại cơng ngôn ngữ học, tập 2, Ngữ dụng học Nói đến sự trao lời của vận động hội thoại, ông phân tích cả ở lời đối thoại và
lời ĐTNT Sự trao lời trong đối thoại diễn ra giữa Sp1 (vai nói) và Sp2 (vai nghe) - là
hai ngời khác nhau Còn ở những trờng hợp độc thoại, độc thoại không phải đơn thoại và là độc thoại đời thờng không phải trên sân khấu, thì ngời nói chỉ là một nh-
ng sự trao lời vẫn diễn ra nhờ vào sự phân đôi nhân cách: nhân cách nghe và nhân cách nói [15, tr.206] Ví dụ ông dẫn để phân tích là ĐTNT của nhân vật Hàn trong truyện ngắn Một truyện xuvơnia (Nam Cao): Hắn tự bảo: Cuốn tiểu thuyết của đời“ph
định Với quan điểm của tác giả Đỗ Hữu Châu, những nhân tố cơ bản của quá trìnhgiao tiếp: vai nói, vai nghe đợc xác định cả trong lời ĐTNT
Một số luận văn, luận án nh: Cấu trúc độc thoại trong ngôn ngữ kể chuyện của Nam Cao (Lu Thị Oanh); Hội thoại trong truyện ngắn Nam Cao (Các hình thức thoại dẫn) (Mai Thị Hảo Yến); Khảo sát các hình thức dẫn thoại (trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp) (Nguyễn Thị Thanh Huyền), dù nghiên cứu các đối tợng
thuộc những phạm vi khảo sát khác nhau nhng đều có một phần nội dung đề cập đến
ĐTNT với t cách là một dạng lời thoại thực sự của nhân vật Xuất phát từ quan điểm:
ĐTNT là dòng suy nghĩ của con ng
tâm lý thầm kín, không phát ra thành lời”, Lu Thị Oanh gọi tất cả những đoạn văn
Trang 12có sự xuất hiện của suy nghĩ bên trong của nhân vật là những đoạn ĐTNT Trong đó
có thể là những phát ngôn thực sự mà nhân vật trực tiếp nói ra, cũng có thể là những
đoạn văn xen lẫn lời độc thoại với lời dẫn chuyện… Luận văn này xem xét những Luận văn này xem xét những
đoạn văn ĐTNT - một phần trích bất kỳ trong văn bản phản ánh dòng suy nghĩ chảy
âm thầm trong óc con ngời Từ đó, ĐTNT đợc phân tích trên những phơng diện đặctrng của ngữ pháp văn bản, với những vấn đề nh: cấu trúc hình thức của đoạn văn
ĐTNT (diễn dịch, quy nạp, đề thuyết, liệt kê); cách thức nhập đề, cách thức kết thúc
đoạn văn độc thoại Đồng thời với việc khảo sát tần số xuất hiện, tác giả luận văncũng nêu lên giá trị biểu hiện của các đoạn độc thoại nội tâm: khẳng định chủ đề và
t tởng tác phẩm, khẳng định phong cách tác giả về mặt ngôn ngữ Có thể thấy, tácgiả Lu Thị Oanh đã đi từ cấu trúc của đoạn văn ĐTNT để xác định ý nghĩa, vai trònghệ thuật của nó đối với những vấn đề cơ bản của phong cách học
Hai tác giả Mai Thị Hảo Yến và Nguyễn Thị Thanh Huyền lại khai thác mộthớng đi khác Mục đích của họ là nghiên cứu về lời dẫn thoại trong truyện ngắn mộttác giả cụ thể Muốn phân lập các hình thức dẫn thoại thì vấn đề đặt ra trớc hết làphải xác định các dạng lời thoại đợc sử dụng trong tác phẩm Đó là những lời đốithoại giữa một ngời nói với một ngời nghe phân biệt, và đối thoại nội tâm cũng làmột dạng lời thoại, có những đặc điểm dẫn thoại riêng Đặc biệt, Mai Thị Hảo Yếncòn chú ý đến các loại hành động ngôn ngữ xuất hiện ở lời dẫn của ĐTNT Mặc dùkhông chỉ ra một cách trực tiếp, nhng sự phân tích của tác giả đã cho thấy: lời
ĐTNT có thể ứng với việc sử dụng những hành động ngôn ngữ nhất định Chẳng
hạn: ĐTNT trực tiếp ứng với hành động ngôn ngữ hỏi trong truyện ngắn Nam“ph “ph ”
kê về các hành động ngôn ngữ đợc dẫn ở ĐTNT trực tiếp (trang 193), ở ĐTNT giántiếp tự do (trang 209) và ở ĐTNT trực tiếp tự do (trang 203) thực ra chính là sự liệt
kê những hành động ngôn ngữ đợc sử dụng trong lời độc thoại qua truyện ngắn NamCao Dễ dàng nhận thấy ở ba bảng thống kê này số lợng hành động ngôn ngữ chỉdừng lại ở một số loại hạn chế chứ không phong phú, đa dạng nh lời đối thoại
Những công trình, bài viết nói trên đều đã đa ra những nhận xét, đánh giákhác nhau góp phần làm sáng rõ khái niệm, đặc điểm cũng nh sự nhận diện về
ĐTNT Những kết quả này giúp chúng tôi có đợc cái nhìn khái quát, tổng hợp để từ
đó xác định hớng nghiên cứu cụ thể của luận án
2.2 Hớng nghiên cứu độc thoại nội tâm của luận án
Các công trình nghiên cứu về ĐTNT ở trong nớc và ngoài nớc đều tiến hànhtrên t liệu là các tiểu thuyết và truyện ngắn Điều này cho thấy, dù ĐTNT tồn tại tựnhiên trong đời sống con ngời nhng nó chỉ thể hiện trực quan, xác thực trong tác
Trang 13phẩm văn học Sự ảnh hởng, chi phối của ngôn ngữ và ý thức nhà văn đến ĐTNTnói riêng và ngôn ngữ tác phẩm nói chung là không thể phủ nhận, song về cơ bản,khi đề cập đến ĐTNT, các nhà nghiên cứu đều xem nó là phạm trù thuộc về ngônngữ nói năng của nhân vật, có sự độc lập nhất định với ngôn ngữ nhà văn hoặc ngônngữ ngời kể chuyện Từ đó, ĐTNT đã đợc xem xét nh một dạng lời nói trực tiếp, đợcnhân vật sử dụng để thể hiện các mối quan hệ giao tiếp của nó với các nhân vậtkhác
Mối quan hệ giữa ĐTNT với dòng ý thức là một vấn đề phức tạp làm nảy sinhnhiều ý kiến khác nhau, thậm chí đối lập nhau Đa số các nhà nghiên cứu xác định,
ĐTNT và dòng ý thức có những điểm giống nhau nhng vẫn là hai khái niệm phânbiệt, có những đặc điểm khác nhau về cấu trúc, tổ chức ngôn ngữ, nội dung… Luận văn này xem xét những
ĐTNT đợc tổ chức dới dạng một lời thoại, gắn với một ý thức giao tiếp, mục đíchgiao tiếp rõ ràng, cụ thể của nhân vật còn dòng ý thức là sự tuôn chảy miên man, vô
định những suy nghĩ bên trong, khi nhân vật gần nh rơi vào trạng thái vô thức
Đặc biệt, những ý kiến, nhận xét của một số nhà nghiên cứu trong nớc nh
Đặng Anh Đào, Nguyễn Thái Hoà, Đỗ Hữu Châu đã xem xét ĐTNT trên các phơngdiện nh hành động ngôn ngữ, vai nói, vai nghe… Luận văn này xem xét những cho phép khẳng định: ĐTNT cũng
là một dạng lời thoại, một hình thức sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp của con ngời.Bởi vậy, hoàn toàn có thể nghiên cứu nó dới ánh sáng của lý thuyết hội thoại, từ góc
độ ngữ dụng học Luận án tiến sỹ của Mai Thị Hảo Yến đã chỉ ra khá nhiều loạihành động ngôn ngữ đợc sử dụng trong lời ĐTNT nhân vật và việc nhận diện cáchành động này cũng dựa vào những cấu trúc, phơng tiện ngôn ngữ nh ngời ta từngtiến hành với lời đối thoại
Nh vậy, các công trình nghiên cứu đi trớc chủ yếu hớng đến những phơngdiện lý luận chung về ĐTNT nh khái niệm, tiêu chí nhận diện Một số luận văn, luận
án ngôn ngữ học đã ít nhiều đề cập đến sự hành chức của ĐTNT với t cách là mộtdạng lời thoại đợc nhân vật sử dụng để giao tiếp trong tác phẩm văn học Tuy nhiên,trong những công trình này, ĐTNT không phải là đối tợng nghiên cứu chính mà chỉ
là một khái niệm có liên quan, do đó, kết quả nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở nhữngnhận xét, mô tả bớc đầu
Những kết quả nghiên cứu về ĐTNT của các tác giả đi trớc là những gợi mởtiền đề rất quan trọng, đặt cơ sở về lý luận và thực tiễn cho quá trình tìm hiểu lời
ĐTNT của chúng tôi Trong luận án này, chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu lời ĐTNT
nh một đối tợng chuyên biệt, xem xét nó với t cách là một dạng lời thoại trực tiếpcủa nhân vật Tiếp cận lời ĐTNT dới ánh sáng của lý thuyết dụng học, luận án hớngtới việc chỉ ra một số đặc điểm hành chức cơ bản của lời ĐTNT nh: việc sử dụng cácloại hành động ngôn ngữ, sự chi phối của các nhân tố ngữ cảnh đến ngữ nghĩa của
Trang 14lời và vai trò của lời ĐTNT đối với một số phơng diện nghệ thuật của tác phẩm vănhọc
3 Đối tợng nghiên cứu và nguồn dẫn liệu
3.1 Đối tợng nghiên cứu
Luận án khảo sát và nghiên cứu lời ĐTNT nhân vật trong 94 truyện ngắn của
ba tác giả: NMC, NHT, NTTH
Trong truyện ngắn, lời nói bên trong của nhân vật có thể đợc biểu đạt giántiếp qua ngôn ngữ tác giả hoặc ngời dẫn chuyện, qua hình thức lai ghép nửa trực tiếpgiữa ngôn ngữ tác giả với ngôn ngữ nhân vật Chúng tôi chỉ khảo sát những lời
ĐTNT do nhân vật trực tiếp thực hiện trong một ngữ cảnh cụ thể để đảm bảo tối đatính khách quan và nguyên bản của t liệu
3.2 Nguồn dẫn liệu
Đề tài giới hạn phạm vi khảo sát ở truyện ngắn Việt Nam đơng đại, giai đoạnnhững năm 80 - 90 của thế kỷ 20 Chúng tôi triển khai đề tài trên nguồn dẫn liệu làtruyện ngắn NMC, NHT, NTTH, chú trọng đến lời thoại nhân vật trong hoạt độnggiao tiếp, mà cụ thể là lời ĐTNT, đợc nhân vật thực hiện trong những tình huống vàngữ cảnh khác nhau của đời sống Trong truyện ngắn ba tác giả, chúng tôi đã thống
kê đợc 467 ngữ cảnh có chứa lời ĐTNT của nhân vật Dựa trên số lợng này, chúngtôi đi vào miêu tả đặc điểm ý nghĩa, sự hành chức cũng nh vai trò của lời ĐTNTnhân vật trong truyện ngắn
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án là:
- Nhận diện, xác định lời ĐTNT nhân vật trong truyện ngắn của NMC, NHT,NTTH
- Thống kê, miêu tả các hành động ngôn ngữ trong lời ĐTNT nhân vật và cácnhân tố chi phối việc lựa chọn hành động ngôn ngữ khi nhân vật ĐTNT
- Miêu tả các nhóm ngữ nghĩa của lời ĐTNT và chỉ ra các nhân tố chi phốingữ nghĩa của lời
- Khái quát những đặc điểm nổi bật của lời ĐTNT trong truyện ngắn NMC,NHT, NTTH, cũng nh chỉ ra vai trò của chúng đối với lý thuyết hội thoại nói chung,vai trò quan trọng của lời ĐTNT đối với việc thể hiện những phơng diện cơ bản củatác phẩm văn học nh: nhân vật, phong cách ngôn ngữ của nhà văn, nội dung tácphẩm và thi pháp truyện
5 Phơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, luận án sử dụng phối hợp một số phơng pháp nghiêncứu sau đây:
5.1 Phơng pháp thống kê - phân loại - miêu tả
Trang 15Luận án thống kê số lợng lời ĐTNT trong truyện ngắn từng tác giả Trênnguồn t liệu này, chúng tôi tiến hành phân loại lời ĐTNT dựa trên những cơ sở, tiêuchí cụ thể: tần số xuất hiện của lời, các loại hành động ngôn ngữ, các nhóm ngữnghĩa… Luận văn này xem xét những Dựa vào số lợng lời ĐTNT nhân vật đợc phân loại, luận án đi sâu vào miêutả đặc điểm về ngữ nghĩa, các hành động ngôn ngữ phổ biến cũng nh các nhân tố
ngữ cảnh chi phối đến sự hành chức của lời ĐTNT
Các nhận định, đánh giá đợc luận án rút ra đều dựa trên sự miêu tả, phân tích
số liệu cụ thể Tần số lặp lại cao hay thấp của số liệu thống kê là cơ sở quan trọngphản ánh tính quy luật của đối tợng, giúp chúng tôi chỉ ra và lý giải những đặc điểmhoạt động của lời ĐTNT trong giao tiếp
5.2 Phơng pháp so sánh
Nghiên cứu về lời ĐTNT trên t cách lời thoại, luận án luôn đặt nó trong mốiquan hệ so sánh với lời đối thoại Đây là đối tợng so sánh chủ yếu cho thấy sự thốngnhất và đối lập giữa hai dạng lời nói Sự so sánh chủ yếu thực hiện trên những phơngdiện nh: hành động ngôn ngữ, ngữ nghĩa của lời, các nhân tố chi phối việc lựa chọnhành động ngôn ngữ và ngữ nghĩa… Luận văn này xem xét những Những nhận xét rút ra đợc từ sự so sánh này sẽgóp phần khẳng định thêm một số vấn đề lý thuyết của ngữ dụng học
Mặt khác, khi cần so sánh để làm nổi bật những đặc điểm của lời ĐTNT nhânvật trong truyện ngắn NMC, NHT, NTTH, chúng tôi sẽ mở rộng phạm vi khảo sát tliệu Lời ĐTNT trong truyện ngắn Nam Cao (trớc Cách mạng), truyện ngắn Hồ AnhThái, Nguyễn Ngọc T, Phan Thị Vàng Anh và trong một số truyện ngắn của ErnestHeminguay, Marcel Proust … Luận văn này xem xét những là những cứ liệu so sánh chủ yếu
5.3 Phơng pháp phân tích ngữ nghĩa - hoạt động
Trong luận án này, ngữ nghĩa của lời ĐTNT đợc xem xét không chỉ ở bìnhdiện hệ thống - cấu trúc mà đợc tiến hành cả ở bình diện chức năng, bình diện sửdụng, lời nói Ngữ nghĩa trực tiếp của từ, ngữ, câu (suy ra từ quan hệ cấu trúc nội tạicủa chúng), đợc đặt vào mối quan hệ với nhận thức, với những yếu tố của ngữ cảnh
và tình huống để tìm ra ngữ nghĩa đích thực, cụ thể
Để nêu lên những đặc điểm về ngữ nghĩa của lời ĐTNT, luận án cũng khôngdừng lại ở việc chỉ ra ngữ nghĩa từng lời ĐTNT riêng lẻ, rời rạc mà sẽ quy nghĩa đó
về những phạm vi hiện thực khái quát hơn
5.4 Phơng pháp phân tích - tổng hợp
Cùng với các phơng pháp trên, đề tài sử dụng đồng thời phơng pháp phân tích
lý giải các biểu hiện của những hành động nói cụ thể trong lời ĐTNT nhân vật, giảithích vì sao nhân vật lại thờng sử dụng các nhóm hành động điển hình, vai trò của
Trang 16việc sử dụng chúng trong mối quan hệ với chủ đích sáng tạo của nhà văn Qua đó,
đề tài đi đến khái quát, tổng hợp một số đặc tính nổi bật của lời ĐTNT trong truyệnngắn NMC, NHT, NTTH, chỉ ra những đóng góp trong việc sử dụng phơng tiệnngôn ngữ - lời ĐTNT - của ba nhà văn đối với truyện ngắn Việt Nam những năm 80
- 90 (thế kỷ 20)
6 Đóng góp của đề tài
Tiến hành thực hiện đề tài Khảo sát lời độc thoại nội tâm nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ, chúng
tôi xác định những đóng góp của luận án trên một số phơng diện sau đây:
Thứ nhất, luận án chủ yếu đi sâu tìm hiểu lời ĐTNT dới ánh sáng của lýthuyết hội thoại và ngữ dụng học, nghiên cứu nó với t cách là một dạng lời thoại đợccon ngời sử dụng để giao tiếp Do đó, lời ĐTNT sẽ đợc xem xét trên những phơngdiện quan trọng nhất của lời nói: việc sử dụng hành động ngôn ngữ và ngữ nghĩa.Những nhận xét, đánh giá về hai phơng diện này sẽ cho thấy những quy luật hành
chức đặc thù của lời ĐTNT
Thứ hai, từ những kết quả nghiên cứu đạt đợc, luận án sẽ khẳng định thêmmột số vấn đề của lý thuyết hội thoại: vai trò của nhân tố ngời nghe, sự chi phối củanhững nhân tố ngoài ngôn ngữ đến việc sử dụng ngôn ngữ, bản chất hành động củalời nói… Luận văn này xem xét những Đồng thời, mối quan hệ gắn bó giữa ngôn ngữ học và những khoa học liênngành nh văn hoá học, thi pháp học, lý luận văn học, xã hội học, tâm lý học cũng đ-
ợc thể hiện sáng rõ hơn
Thứ ba, những phơng diện quan trọng của tác phẩm văn học nh: nhân vật,phong cách ngôn ngữ tác giả, thi pháp truyện… Luận văn này xem xét những sẽ đợc nhìn nhận từ đặc điểm hànhchức của lời ĐTNT - một hình thức giao tiếp bằng ngôn ngữ
Cấu trúc luận án gồm 4 chơng:
Chơng 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chơng 2: Các hành động ngôn ngữ của lời độc thoại nội tâm nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ Chơng 3: Ngữ nghĩa lời độc thoại nội tâm nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ
Chơng 4: Vai trò của lời độc thoại nội tâm nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ
Trang 17Chơng 1 Cơ sở lý luận của đề tài
1.1 Một số khái niệm của lý thuyết hội thoại liên quan đến lời độc thoại nội tâm
ĐTNT là một dạng thức tổ chức ngôn ngữ thành lời nói của con ngời để thựchiện sự giao tiếp Do vậy, ĐTNT vẫn có mối quan hệ chặt chẽ với những khái niệmcơ bản của lý thuyết hội thoại Việc phân tích các khái niệm: cuộc thoại, lợt lời, ngữcảnh giao tiếp, vai nói và vai nghe sẽ tạo nên tiền đề lý luận làm sáng rõ những đặc
điểm hành chức của lời ĐTNT
1.1.1 Cuộc thoại, lợt lời
1.1.1.1 Cuộc thoại
Cuộc thoại là khái niệm cơ bản của lý thuyết hội thoại vì nó bao gồm tất cảcác nhân tố của quá trình giao tiếp nh: ngời nói, ngời nghe, lời thoại, ngữ cảnh… Luận văn này xem xét những
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu và Bùi Minh Toán thì cho đến nay việc định ranh giới“ph
cuộc thoại cha có gì là thực dứt khoát với những tiêu chí đủ tin cậy Tuy nhiên, các cuộc thoại là có thật và yêu cầu nghiên cứu buộc ngời nghiên cứu phải quyết định
những tiêu chuẩn cần và đủ để có một cuộc thoại:
Để có một và chỉ một cuộc thoại, điều kiện cần và đủ là có một nhóm nhân vật có
“ở đó giọng nói của ng
thể thay đổi nhng không đứt quãng trong một khung thời gian – không gian có thể không gian có thể thay đổi nhng không đứt quãng nói về một vấn đề có thể thay đổi nhng không đứt quãng”[17, tr.298]
Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học định nghĩa cuộc thoại nh sau:
Đơn vị hội thoại lớn nhất, bao trùm nhất đ
“ở đó giọng nói của ng ợc xác định theo các tiêu chí về:
- Nhân vật hội thoại.
- Thời gian và địa điểm hội thoại.
- Chủ đề hội thoại.
Trang 18- Các dấu hiệu định ranh giới nh: mở đầu, kết thúc ” [117, tr.64-65].
Đối với các cuộc ĐTNT, các tiêu chí nh: nhân vật, thời gian, địa điểm và chủ
đề luôn đợc xác định một cách rõ ràng, cụ thể Nhng là dạng giao tiếp chỉ có mộtnhân vật, các dấu hiệu của sự mở đầu và kết thúc một cuộc ĐTNT rất khó nhận diện.Nhân vật không cần thiết phải đa ra những lời chào, rào đón, ớm hỏi (những dấuhiệu thờng thấy để mở đầu cho một cuộc nói chuyện song phơng) cũng nh những lờinói, thái độ, cử chỉ cho thấy cuộc thoại kết thúc Tuy nhiên, trong truyện ngắn, cáccuộc ĐTNT hoàn toàn có thể đợc xác định nhờ vào việc xem xét định hớng tác độngcủa lời nói nhân vật đến ngời khác Trớc một sự tình, một hiện tợng, nhân vật đa ralời nói của mình (không kể là nói thầm hay nói thành tiếng) mà lời nói đó không h-ớng đến ngời tiếp nhận, không tạo ra sự phản ứng, hồi đáp từ phía ngời tiếp nhận thì
đó là một cuộc ĐTNT Sự xác định này, do vậy, luôn phải dựa vào những lời vănmiêu tả, tờng thuật của tác giả hoặc ngời dẫn chuyện ở thời điểm trớc và sau khicuộc ĐTNT diễn ra
1.1.1.2 Lợt lời
Tác giả Đỗ Hữu Châu định nghĩa: Chuỗi đơn vị ngôn ngữ đ“ph ợc một nhân vật hội thoại nói ra, kể từ lúc bắt đầu cho đến lúc chấm dứt để cho nhân vật hội thoại kia nói chuỗi của mình là một lợt lời (turn at talk; tour de parole) [15, tr.205] Ví
dụ:
- Con gái tôi đâu?
- Sao chị biết nó là con gái?
- Lúc lôi ra khỏi bụng tôi, tôi nghe loáng thoáng nó là con gái.
- Cháu đang ở dới phòng trẻ sơ sinh [XV, tr.346].
Cuộc đối thoại trên gồm có bốn lợt lời Nhìn chung, khi đối thoại, các nhânvật giao tiếp thờng sử dụng một số hoặc nhiều lợt lời để triển khai nội dung cuộcthoại Ngợc lại, khi ĐTNT, nhân vật thờng chỉ đa ra một lợt lời Đây là dấu hiệuhình thức phản ánh định hớng giao tiếp của ĐTNT: tự trò chuyện với bản thân,không hớng đến ngời nghe Tuy nhiên, khi đợc tổ chức nh một cuộc đối thoại nộitâm ngầm ẩn thì cuộc độc thoại sẽ bao gồm nhiều lợt lời Có hai cách thức để tạonên các lợt lời trong một cuộc độc thoại Cách thứ nhất là chủ thể độc thoại lần lợt,luân phiên vào vai ngời nói và ngời nghe để trao đổi Cuộc ĐTNT của ngời vợ trong
truyện ngắn Trẻ con không đợc ăn thịt chó của Nam Cao rất tiêu biểu cho cách thức này: Sao lại có sự long trọng ấy? “ph (… Luận văn này xem xét những à, thôi phải có lẽ hôm nay là giỗ của ông) …
hôm nay?” [I, tr.142] Cách thứ hai là chủ thể độc thoại tự phân thân thành hai con
ngời hoàn toàn khác nhau, sử dụng những cặp đại từ nhân xng tơng ứng để đối đáp:
“ph… Luận văn này xem xét những Bây giờ anh nói với tôi một điều gì đi, khuyên tôi một nhời đi! Không Tôi” “ở đó giọng nói của ng ” “ở đó giọng nói của ng
Trang 19có phải cút khỏi đây không? Không Anh cứ đến đây Tôi cắt cho anh kỹ lắm, anh ” “ở đó giọng nói của ng
nh vậy đều đợc chúng tôi xem xét với t cách nh một lợt lời ĐTNT thông thờng
Khái niệm về cuộc thoại và lợt lời của lý thuyết hội thoại là cơ sở quan trọng
để chúng tôi có đợc sự nhận diện chính xác đơn vị tính cho đối tợng nghiên cứu: mộtlợt lời ĐTNT đợc gọi là một lời ĐTNT và một cuộc độc thoại có thể có nhiều lời
ĐTNT (nh ở hai ví dụ nêu trên)
1.1.2 Ngữ cảnh giao tiếp, vai nói và vai nghe
1.1.2.1 Ngữ cảnh giao tiếp
Khái niệm ngữ cảnh giao tiếp có rất nhiều cách hiểu khác nhau
Tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng: Ngữ cảnh là những nhân tố có mặt trong“ph
cảnh sẽ bao gồm những nhân tố chi phối đến diễn ngôn trong cuộc giao tiếp cả vềhình thức và nội dung Do đó, ngữ cảnh sẽ là một tổng thể nhiều hợp phần khácnhau về nhân vật giao tiếp và hiện thực ngoài diễn ngôn, tức là tất cả những yếu tố
nh vai nói, vai nghe, không gian, thời gian, mối quan hệ và hiểu biết hiện thực củavai nói, vai nghe… Luận văn này xem xét những Đây là cách hiểu khá rộng về ngữ cảnh
Trong giáo trình Từ vựng học tiếng Việt, tác giả Nguyễn Thiện Giáp chỉ ra sự phân biệt giữa ngữ cảnh và hoàn cảnh nói năng Ngữ cảnh là những từ bao quanh“ph
hay đi kèm theo một từ, tạo cho nó tính xác định về nghĩa Hoàn cảnh nói năng là cái tình huống, cái bối cảnh phi ngôn ngữ mà từ xuất hiện: ai nói, nói bao giờ, nói ở
đâu, nói với ai, vì sao nói [30, tr.369] Khái niệm ngữ cảnh ở đây đợc hiểu theo một
phạm vi rất hẹp, chỉ là những đơn vị từ ngữ đi kèm, bao quanh một từ để cho ngời ta
có thể hiểu đợc chính xác ý nghĩa cụ thể của từ đó
Khi nói về các yếu tố và các chức năng trong mô hình giao tiếp của Jakobson,
tác giả Diệp Quang Ban giải thích về yếu tố ngữ cảnh nh sau: Ngữ cảnh mà lời nói“ph
đề cập là vật, việc, hiện tợng, không gian, thời gian đợc phản ánh trong lời nói, cho
thích này về ngữ cảnh có nhiều điểm tơng đồng với khái niệm hoàn cảnh nói năng
mà Nguyễn Thiện Giáp đã nói đến ở trên
Tác giả Đỗ Thị Kim Liên cho rằng, ngữ cảnh gồm 2 phần: a Ngữ cảnh chính
là thời gian, không gian, cảnh huống bên ngoài cho phép một câu nói trở thành hiện thực, nói đợc hay không nói đợc đồng thời giúp ta xác định tính đơn nghĩa của phát ngôn [62, tr.27] và b ngữ cảnh chính là ngôn cảnh, tức là điều kiện trớc và sau phát ngôn để cho phép hiểu đúng nghĩa của từ hay phát ngôn cụ thể [62, tr.29].
Những khái niệm của những tác giả đi trớc đợc chúng tôi vận dụng để đi đếnmột cách hiểu về ngữ cảnh của lời ĐTNT: đó là những điều kiện về không gian, thời
Trang 20gian, sự việc, hiện tợng trong hiện thực và những điều kiện về tâm lý, hiểu biết củachủ thể độc thoại cho phép một lời ĐTNT có thể xuất hiện hợp lý và ý nghĩa của nó
đợc hiểu một cách đúng đắn, chính xác
1.1.2.2 Vai nói và vai nghe
Trong một cuộc giao tiếp, nhân vật giao tiếp dùng ngôn ngữ để tạo ra các lờinói, các diễn ngôn để tác động vào nhau Các nhân vật giao tiếp đợc phân thành vai
nói và vai nghe Vai phát ra diễn ngôn tức là vai nói (viết), kí hiệu bằng Sp1“ph
(speaker 1) và vai tiếp nhận diễn ngôn, tức vai nghe (đọc), kí hiệu bằng Sp 2 (speaker 2) [15, tr.15] Khi đối thoại trực tiếp, hai vai nói, nghe thờng xuyên luân
chuyển, Sp1 sau khi nói xong chuyển thành vai nghe Sp2 và ngợc lại
Trong ĐTNT, việc xác định vai nói, vai nghe có những điểm đặc thù, hoàntoàn phân biệt với đối thoại Khi nhân vật đa ra một lời thoại hớng tới chính bản thânmình để trò chuyện, nó đồng thời đóng cả vai nói và vai nghe Do đó, về bản chất,hiệu lực tác động của lời ĐTNT sẽ hớng vào chính vai nói, thay đổi nhận thức, tìnhcảm… Luận văn này xem xét những của vai nói Tuy nhiên, trong một số trờng hợp, nội dung, hiệu lực hành độngngôn ngữ của lời ĐTNT hớng đến một đối tợng hoàn toàn phân biệt với vai nói
Chẳng hạn, khi nhân vật Mại trong truyện ngắn cùng tên của NTTH thầm nói: Chị“ph
hành động xin lỗi này rõ ràng không phải hớng vào vai nghe của lời ĐTNT (Mại)
mà hớng vào đối tợng khác (hai em) Nhng trên thực tế, hai em không chịu tác động
hiệu lực của hành động, vì họ không phải là ngời tiếp nhận lời Với những trờng hợp
nh vậy, hiệu lực của lời cũng chỉ thể hiện hiệu quả tác động của nó ở chính vai nói:Mại sẽ cảm thấy đỡ ân hận hơn và có trách nhiệm phải làm những việc cần thiết đểsửa lỗi
1.2 Độc thoại nội tâm trong truyện ngắn
1.2.1 Các khái niệm: độc thoại, độc thoại nội tâm và dòng ý thức
1.2.1.1 Khái niệm độc thoại (monologue)
Độc thoại là khái niệm trớc hết đợc sử dụng trong kịch - một loại hình nghệ
thuật sân khấu Có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, độc thoại gọi là monologos, và đợc
định nghĩa một cách đơn giản: lời nói của một ngời đơn độc (khi chỉ có một mình)
Trong Từ điển sân khấu, tác giả Patrice Paris (1980) đã đa ra khái niệm về
độc thoại sân khấu (cụ thể là kịch) Ông cho rằng: Độc thoại là những lời nói của“ph
một nhân vật không trực tiếp hớng đến ngời đối thoại để nhận đợc câu trả lời” [129,
tr.260] Với cách hiểu này, độc thoại đợc xác định tơng đối rõ ràng trên hai mặt:hình thức và mục đích Về hình thức, nó là lời do nhân vật nói ra, về mục đích, nókhông hớng đến ngời đối thoại và không chờ đợi câu trả lời từ ngời đó Việc xác
định độc thoại nh vậy đã ngầm đặt độc thoại trong mối tơng quan với đối thoại Vì
Trang 21vậy, ngay sau phần định nghĩa, Patrice Paris chỉ rõ: Lời độc thoại phân biệt với lời “ở đó giọng nói của ng
đối thoại ở sự vắng mặt của việc trao đổi bằng lời nói và ở chiều dài quan trọng của một trờng thoại có thể tách rời ra trong bối cảnh liên quan đến sự xung đột và tranh
nghĩa độc thoại dựa trên cái nhìn so sánh với đối thoại: Khác với đối thoại, độc “ở đó giọng nói của ng thoại là sự thể hiện lời nói trớc hết hớng bản thân mình mà không tính đến phản ứng
xuất hiện những lời nói của nhân vật với chính mình Những lời nói đó có thể đợcthực hiện khi nhân vật đang chỉ có một mình trên sân khấu và có thể cả trong khinhân vật đang tiến hành đối thoại với ngời khác ở trờng hợp thứ hai, nhân vật táchmình khỏi bối cảnh cụ thể đang diễn ra để nói những điều mà nó không thể hoặckhông muốn bộc lộ với các nhân vật khác Tuy nhiên, dù ở trờng hợp nào, khi biểudiễn, lời nói độc thoại của nhân vật trên sân khấu phải đủ lớn về âm thanh, âm lợng
dể khán giả có thể tiếp nhận, hiểu đợc nội dung của nó Ngoài hình thức tự thể hiện
độc thoại của chính nhân vật, ngời ta còn sử dụng hình thức nói vọng sau cánh gà đểdiễn tả những suy nghĩ bên trong khi một nhân vật đợc đặt vào tình huống độcthoại Nhấn mạnh đặc trng này của độc thoại sân khấu, tác giả Đặng Anh Đào
(2001) chỉ rõ: Trong kịch, những lời nói một mình đ “ở đó giọng nói của ng ợc phát ngôn có âm thanh trên
mặt của một ngời nghe trực tiếp trong độc thoại sân khấu chỉ có tính tơng đối Thựcchất độc thoại là một loại hành động cụ thể để nhân vật bộc lộ tính cách, nội tâmcủa mình nhằm phát triển nội dung kịch bản Chính vì vậy, Patrice Paris đã nói đếntính phi thực tế của độc thoại: “ở đó giọng nói của ng… khi mà con ng ời chỉ có một mình thì xem nh là không thể nói chuyện thành tiếng đợc, tất cả sự trình diễn của một nhân vật trao gửi những tình cảm của mình cho chính mình dễ trở nên nực cời, xấu hổ và thờng không
Thể loại kịch hiện thực hoặc tự nhiên chủ nghĩa chỉ thừa nhận độc thoại khi mà nó
đã đợc đặt vào một tình huống đặc biệt (mơ ngủ, mộng du, say rợu, sự tuôn trào tình cảm … ) Trong những tr ờng hợp khác, độc thoại chỉ rõ tính nhân tạo của kỹ xảo sân khấu và vai diễn ớc lệ để sự vận hành của vở kịch tốt hơn [129, tr.260].
Tóm lại, khi một nhân vật độc thoại trên sân khấu, nó không hớng đến nhữngnhân vật khác (cũng tồn tại trong vở kịch đó) và tự trình bày bằng lời nói những suynghĩ bên trong của chính mình Lời độc thoại thờng đợc nói ra từ đầu đến cuối ,không bị ảnh hởng bởi ngời đối thoại và không chờ đợi sự trao đổi, đáp lời từ ngời
đó Từ đặc điểm quan trọng này, độc thoại đợc hiểu ở một phạm vi giao tiếp rộnghơn, không chỉ giới hạn trong không gian sân khấu
Trang 22ở phạm vi rộng, độc thoại là một khái niệm dùng để chỉ tất cả những phátngôn và văn bản đợc tác giả (ngời nói và ngời viết) trình bày liên tục, trọn vẹn nộidung của chúng mà không trực tiếp (hoặc rất ít) nhận đợc sự phản hồi, trao đổi từphía ngời nhận Theo đó, độc thoại sẽ xuất hiện trong các hoàn cảnh nh: lời giảngbài của giáo viên, lời thuyết trình, phát biểu trong mittinh, diễn thuyết, bản tin của
đài phát thanh và truyền hình đợc phát thanh viên trình bày, các công trình khoahọc… Luận văn này xem xét những Có thể dẫn ra một ví dụ tiêu biểu cho cách hiểu này: “ở đó giọng nói của ng Các công trình khoa học hiện đại đợc trình bày chủ yếu là trong hình thức độc thoại Hình thức độc thoại phù hợp trong mức độ lớn với nội dung và nhiệm vụ của công trình khoa học.
Có bốn kiểu độc thoại trong lời nói khoa học: miêu tả, tờng thuật, biện luận và phê bình - luận chiến”[57, tr.67] Theo Từ điển bách khoa toàn th mở Wikipedia (2006), thì độc thoại là những lời nói liên tục, một chiều, ít có sự phụ thuộc trở lại của ngời khác và của nội dung, tình huống, hoàn cảnh trực tiếp [113, ngày 03/05] Tuy nhiên,
một phát ngôn hay văn bản trong giao tiếp bao giờ cũng hớng tới một đối tợng tiếpnhận cụ thể Vì thế, dù ngời nói (ngời viết) trình bày từ đầu đến cuối những nội dungphát biểu của mình và không bị ngời nghe (ngời đọc) phản ứng, hồi đáp nhng những
đặc điểm về tính cách, nhận thức, nhu cầu, tình cảm của ngời tiếp nhận vẫn cónhững ảnh hởng nhất định Tác giả phát ngôn (văn bản) phải lựa chọn những nộidung, cách thức biểu đạt phù hợp để đạt tới tính hiệu quả trong giao tiếp Độc thoại
ở đây chủ yếu đợc nhấn mạnh ở mặt hình thức của nó, ở tính liên tục trong cáchtrình bày nội dung của nó Đó là những cuộc giao tiếp mà chỉ có một ngời nói, mộtngời truyền tải thông tin còn ngời nghe (ngời đọc) đóng vai trò duy nhất là tiếp nhậnthông tin
Có thể thấy rằng, độc thoại trên sân khấu và độc thoại ở những phạm vi rộngnói trên không hoàn toàn giống nhau, về cả nội dung, hình thức và mục đích thểhiện
Về nội dung, độc thoại sân khấu diễn tả những suy nghĩ, cảm xúc ngầm ẩncủa cá nhân nhân vật Những suy nghĩ, cảm xúc này thờng xuất phát trong nhữngtình huống liên quan đến sự xung đột, mâu thuẫn, kịch tính của vở kịch Nội dung
độc thoại đóng vai trò quan trọng đối với việc thúc đẩy diễn biến các tình huống, sựkiện ngay sau đó Ngợc lại, độc thoại ở phạm vi rộng quan tâm đến nhiều vấn đềthuộc các lĩnh vực khác nhau: chính trị, xã hội, khoa học, lịch sử, văn học, nghệthuật, kinh tế… Luận văn này xem xét những Những nội dung này bộc lộ cách đánh giá, quan điểm riêng của ng-
ời nói (ngời viết) nhng vẫn mang tính xã hội hoá rõ rệt Đó là những vấn đề chiếm
đ-ợc sự quan tâm, mong muốn nhận thức của một số lợng cá thể nhất định trong cộng
đồng
Trang 23Về hình thức, độc thoại sân khấu luôn đợc thể hiện dới dạng các phát ngôn.
Đó là những lời thoại của nhân vật, dùng để giao tiếp với chính mình trong một ngữcảnh cụ thể Mặc dù lời độc thoại có thể tồn tại ở hình thức nói (trình diễn trên sânkhấu) hoặc ở hình thức viết (trong kịch bản) nhng nó là sản phẩm nói năng mang
đậm tính cảm xúc cá nhân, là sự phản ứng trực tiếp của nhân vật trong một tìnhhuống, hoàn cảnh cụ thể Cấu trúc hình thức của độc thoại sân khấu có thể chỉ làmột vài từ, một vài câu hoặc dài hơn là một trờng thoại (đoạn lời nói dài gồm nhiềucâu) Ví dụ:
Pôliniut (nói một mình): - Nói thế là nghĩa gì? Vẫn cứ lải nhải nhắc đến con gái ta Thoạt đầu hắn không nhận đợc ra ta, lại ngộ nhận ta là một anh lái cá Bệnh của hắn đã nặng lắm rồi Thật thế, tuổi hoa niên của ta cũng đã từng phải chịu trăm
đắng ngàn cay vì chuyện tình ái, cũng rất giống hắn lúc này Ta phải hỏi chuyện hắn nữa mới đợc [XIX, tr.199].
Vua: - … Thế nào, hoàng điệt Hamlet, con ta …
Hamlet (nói một mình): - Hoàng điệt thì hơn đấy, nhng con thì cha đợc đâu!
Về mục đích, độc thoại sân khấu là một kỹ thuật, một thủ pháp vận hành vởkịch Khi độc thoại, nhân vật thờng ở trong những tình huống có tính xung đột, mâuthuẫn Độc thoại xuất hiện nh một cách thức để nhân vật quyết định hớng hành
động, ứng xử của mình, từ đó thúc đẩy diễn biến của các sự kiện tiếp theo Vì thế,
độc thoại sân khấu hớng đến việc phản ánh các suy nghĩ, tình cảm bên trong nộitâm, thể hiện tính cách nhân vật
Mục đích của những phát ngôn và văn bản ở phạm vi rộng chủ yếu là đểthông tin, trình bày vấn đề một cách đầy đủ, thuyết phục Các phát ngôn và văn bảnphải cung cấp cho ngời tiếp nhận những nhận thức, thông tin mới mẻ, cần thiết.Hình thức độc thoại cho phép ngời nói (ngời viết) chủ động trong việc lựa chọn nộidung, định hớng, phơng pháp biểu đạt để đạt đợc mục đích đó
Trang 24Trong hai cách hiểu độc thoại nói trên, độc thoại theo quan niệm của sânkhấu có mối quan hệ chặt chẽ với ĐTNT.
1.2.1.2 Khái niệm độc thoại nội tâm (monologue intérieu)
a) Những định nghĩa tiêu biểu về ĐTNTcủa các tác giả đi trớc
Trên thế giới, thuật ngữ ĐTNT đợc sử dụng thống nhất Tên gọi của khái
niệm này theo trình tự tiếng Pháp, Anh, Nga là: monologue intérieu; interior monologue; vnoutreni monolog Thực ra độc thoại còn có một tên gọi khác là soliloque (Pháp) hay soliloquy (Anh) Tuy nhiên, theo chúng tôi, cách gọi monologue intérieu phản ánh chính xác hơn bản chất của ĐTNT: monologue: lời
độc thoại; intérieu: ở trong, thuộc phạm vi tinh thần, nội tâm Tiền tố mono trong tiếng Pháp có nghĩa là một, chẳng hạn: monobloc: liền một khối; monocorde: một dây; monodie: hát một giọng… Luận văn này xem xét những Tiền tố soli cũng mang nét nghĩa là một nhng sự kết hợp của nó với những hậu tố khác thiên về sắc thái nghĩa là cô độc, đơn độc, chẳng hạn: soliste: độc tấu; solitaire: cô đơn, độc thân; solitude: sự cô độc, quạnh hiu… Luận văn này xem xét những
Cô độc, đơn độc là một tính chất của trạng thái tâm lý Nó cũng là một trạng tháitâm lý xuất hiện khi con ngời độc thoại nhng không phải là trạng thái tâm lý duynhất Khi độc thoại nội tâm, ngời nói có thể ở trong những tâm trạng khác nhau Vìthế, việc sử dụng cách gọi này tuy gợi sự liên tởng chi tiết về cơ chế tâm lý của độcthoại nhng không bao hàm hết đợc những biểu hiện đa dạng và phức tạp của nó Mặt
khác, cách gọi monologue còn đạt đợc sự thống nhất về mặt thuật ngữ với đối thoại (dialogue) - một khái niệm có mối tơng quan chặt chẽ với độc thoại.
Mặc dù ĐTNT là một đối tợng đợc quan tâm và nghiên cứu khá nhiều, nhất
là từ những năm đầu thế kỷ 20 cho đến nay, nhng nội dung khái niệm chính xác về
nó còn cha tơng xứng Sự tồn tại phức tạp của ĐTNT trong tác phẩm văn học khiếncác nhà nghiên cứu chủ yếu tập trung vào mục đích nhận diện loại lời nói này Vìthế, nhiều công trình, bài viết đã đặt vấn đề xác định ĐTNT bằng cách phân biệt nóvới độc thoại, dòng ý thức hoặc chỉ ra những dấu hiệu, những tiêu chí phân lập độcthoại nội tâm với các dạng lời nói khác trong tác phẩm Dới đây là một số địnhnghĩa tiêu biểu về ĐTNT
Tác giả Katie Wales trong cuốn The dictionary of stylicstics và các tác giả cuốn The Encyclopedia of langague and linguistics cho rằng: “ở đó giọng nói của ng Độc thoại nội tâm là một hình thức mở rộng của ý nghĩ trực tiếp tự do (free direct thought), nó là một cố gắng nhằm thể hiện quá trình suy nghĩ vốn là một quá trình hỗn độn, vốn là sự kế
119, tr.72] Trong định nghĩa này, các tác giả nhìn nhận ĐTNT nh là sản phẩm củaquá trình suy nghĩ, một yếu tố hiện thực hoá tính chất vô hình, khó nắm bắt của ýnghĩ Thực tế, khi tồn tại trong tiểu thuyết, ĐTNT có khả năng phản ánh rõ rệt
Trang 25những suy nghĩ nội tâm của nhân vật, nhng nó không dừng lại ở phạm vi này Mộtphát ngôn ĐTNT bao giờ cũng đã đợc tổ chức, cấu trúc gắn với nhu cầu và động cơgiao tiếp bằng ngôn ngữ của con ngời Nó vợt ra khỏi khuôn khổ của ý nghĩ, đợcnhân vật sử dụng để thực hiện một mục đích giao tiếp cụ thể Khi độc thoại, nhânvật không chỉ suy nghĩ mà còn tìm cách thể hiện những suy nghĩ đó bằng một cấutrúc ngôn từ phù hợp với ngữ cảnh.
Nhấn mạnh vào hình thức tồn tại của ĐTNT, tác giả Tamara Motilova khẳng
25, tr.69-70]
Hình thức ngôn từ của ĐTNT đã đợc tác giả Motilova nhận diện đó là những
diễn từ không biểu đạt thành lời hoặc là sự phân đôi giọng nói của nhân vật tạo nênhình thức đối thoại bên trong… Luận văn này xem xét những Đây là một sự nhận diện quan trọng vì nó cho thấy
ĐTNT có thể có những hình thức biểu hiện khác nhau Bên cạnh những diễn từngầm ẩn do chính nhân vật nói ra còn có những diễn từ mà ở đó, tác giả m ợn từvựng và giọng điệu của nhân vật Tác giả cũng chỉ ra tính đối thoại bên trong của
độc thoại nội tâm, khi giọng nói của nhân vật bị xẻ làm đôi, thành hai giọng phânbiệt và đối nghịch Tác giả Nguyễn Thái Hoà cũng căn cứ vào đặc tính này để đa ra
một cách hiểu về ĐTNT: Thực ra, độc thoại nội tâm cũng là hình thức đối thoại “ở đó giọng nói của ng của nhân vật, trong đó ngời đối thoại cũng chính là mình, nói cách khác đó là một
sự phân thân: mình nói chuyện với mình, một mình đóng cả hai vai ngời nói và ngời
ĐTNT đợc xác định nh một thuật ngữ văn học trong Từ điển văn học (bộ mới) Trong mục từ độc thoại nội tâm, tác giả Lại Nguyên Ân đã đề cập đến khái
niệm, lịch sử xuất hiện và phát triển, vai trò, vị trí của ĐTNT trong tiểu thuyết hiện
đại (trang 445 – không gian có thể 446) ĐTNT đợc nêu rõ: Khái niệm chỉ phát ngôn của nhân vật “ở đó giọng nói của ng nói với bản thân mình, trực tiếp phản ánh quá trình tâm lý bên trong, là kiểu độc thoại thầm (hoặc lẩm bẩm), mô phỏng hoạt động suy nghĩ - cảm xúc của con ngời trong dòng chảy trực tiếp của nó” [75, tr.445].
Định nghĩa mà tác giả Lại Nguyên Ân đa ra đã nói đến những phẩm chất cơ
bản, quan trọng nhất của ĐTNT Thứ nhất, ĐTNT là những phát ngôn của nhân vật, nghĩa là thừa nhận tính thoại của ĐTNT Với t cách một phát ngôn, ĐTNT bao giờ
cũng gắn với một ngữ cảnh giao tiếp cụ thể Thứ hai, khi ĐTNT, nhân vật thực hiện
Trang 26sự giao tiếp, trao đổi với bản thân mình, không hớng đến một ngời nghe phân biệt
nh đối thoại Do đó, hình thức tồn tại chủ yếu của ĐTNT là những lời nói thầm,ngầm ẩn trong nội tâm nhân vật Thứ ba, những biểu hiện của quá trình tâm lý bêntrong, những hoạt động suy nghĩ - xúc cảm của con ngời chính là nội dung phản ánhtrực tiếp của ĐTNT Dạng lời nói ngầm ẩn cho phép ĐTNT đi sâu vào nội dung nàyvới độ chân xác cao nhất
Trên phơng diện ngôn ngữ học, tác giả Nguyễn Nh ý đã định nghĩa độc thoại
dựa trên sự đối lập với đối thoại Khác với đối thoại, độc thoại là sự thể hiện lời “ở đó giọng nói của ng nói trớc hết hớng tới bản thân mình mà không tính đến phản ứng của ngời đối thoại.
Độc thoại đợc đặc trng bởi một cấu tạo cú pháp phức tạp hơn và thể hiện nội dung
thấy độc thoại có những đặc điểm nổi bật sau đây:
Độc thoại là một dạng thoại nhng khác đối thoại ở tính hớng nội (hớng đếnchính bản thân mình) để thực hiện sự giao tiếp
Độc thoại có cấu tạo cú pháp phức tạp hơn đối thoại
Độc thoại thể hiện nội dung, chủ đề rộng hơn đối thoại
Nhìn chung, các định nghĩa nói trên, ở mức độ này hay mức độ khác đều đãchỉ ra những dấu hiệu hình thức và nội dung để xác định ĐTNT, phân biệt nó với đốithoại Từ những tiền đề quan trọng này, khi nghiên cứu ĐTNT từ bình diện ngữdụng học, chúng tôi xin đa ra một khái niệm về ĐTNT để làm việc trong luận án
b) Khái niệm độc thoại nội tâm để làm việc trong luận án
Từ góc độ ngữ dụng học, luận án này trớc hết xác định ĐTNT cũng là mộtdạng lời thoại đợc nhân vật sử dụng nh một hình thức giao tiếp thực sự trong tácphẩm văn học, tồn tại bình đẳng với lời đối thoại, chứ không phải là một phơng tiện,một thủ pháp của nghệ thuật kể chuyện Do đó, dù sự phân biệt giữa hai dạng lời nóinày rất rõ ràng nhng ngời ta có thể dựa vào khái niệm đối thoại để đa ra một địnhnghĩa về ĐTNT vì chúng đều là những hình thức giao tiếp bằng ngôn ngữ của conngời Với ĐTNT, các nhân tố cơ bản của hoạt động giao tiếp nh: ngữ cảnh, ngữnghĩa, ngời nói, ngời nghe hoàn toàn đợc xác định và mang những đặc điểm riêngbiệt
Từ sự phân tích trên, chúng tôi đa ra khái niệm ĐTNT để làm việc trong luận
án: ĐTNT là một dạng lời thoại đợc ngời nói sử dụng để thực hiện sự giao tiếp với chính mình, không trực tiếp hớng đến ngời nghe thứ hai Nó thờng diễn ra ngầm ẩn
một ngữ cảnh nhất định, với một cấu trúc cú pháp phù hợp.
Cách hiểu trên nhấn mạnh hai điểm quan trọng nhất: đó là t cách lời thoại của
ĐTNT và định hớng giao tiếp của nó Là lời thoại, ĐTNT luôn gắn với một chủ thể
Trang 27phát ngôn trực tiếp, cụ thể Khi thực hiện một lời ĐTNT, ngời nói sẽ phải sử dụngmột loại hành động ngôn ngữ để đạt đợc mục đích giao tiếp đã đặt ra Về định hớng,
ĐTNT không hớng tới và cũng không chờ đợi sự hồi đáp, phản ứng từ một ngờinghe phân biệt nh đối thoại Khi độc thoại, ngời nói tự trò chuyện với chính mình.Hai đặc điểm này sẽ chi phối đến mọi phơng diện của ĐTNT, tạo nên những đặcthù của nó trong hành chức
1.2.1.3 Độc thoại nội tâm và dòng ý thức
a) Khái niệm dòng ý thức (courant de conscience hoặc flux de conscience) Trong tiếng Pháp, courant có nghĩa là dòng, còn flux có nghĩa là dòng chảy, dòng (dòng nớc), conscience là ý thức, lơng tâm, tâm t Khi tồn tại trong nội tâm
con ngời, suy nghĩ và cảm xúc thờng tuôn trào theo mạch, liên kết thành một chuỗi
dài phụ thuộc vào ý thức cá nhân Do đó, theo chúng tôi, việc dịch thuật ngữ dòng ý thức từ courant de conscience hay flux de conscience đều hợp lý
Dòng ý thức (còn gọi là dòng tâm t) chính là sự phát triển, sự đổi mới nghệthuật viết ĐTNT của các tiểu thuyết gia thế kỷ XX
Các nhà viết tiểu thuyết ngày nay đã khiến dòng suy nghĩ đợc hình dung lại ngay trên lối viết Bởi vậy, nhiều khi giọng điệu và từ vựng của nhân vật đợc khôi phục nguyên xi, chẳng những các ý nghĩ thầm kín, mơ hồ, lộn xộn nhất của nhân vật đợc ghi lại, mà cách viết bất chấp cú pháp, quy ớc văn phạm còn là một cố gắng mới
mẻ của nhà văn nhằm thể hiện trung thành ý nghĩ của nhân vật …” [25, tr.77]
Vì thế, theo tác giả Đặng Anh Đào, dòng ý thức có một sức mạnh nổi bật là
phản ánh đợc tính chất tức thì, tại đây - bây giờ của ý nghĩ Nó không cho phép “ở đó giọng nói của ng thông báo cho chúng ta những sự kiện, mà thông báo một ý nghĩ giữa lúc ý nghĩ đó
đã đợc tổ chức trong một cấu trúc chặt chẽ, có quy luật ngữ pháp, ngữ nghĩa phù hợpvới nội dung và ngữ cảnh - các phát ngôn - và hớng tới một mục đích giao tiếp cụthể, thì dòng ý thức là những suy nghĩ tự nhiên, bỏ qua những quy ớc văn phạm, cúpháp Nó miêu tả thực trạng t duy nguyên bản của nhân vật, cho nên, tính lan man,lộn xộn mơ hồ, thậm chí hỗn độn, đứt đoạn trong suy nghĩ và xúc cảm đợc tôn trọngtuyệt đối Từ đó, trong tiểu thuyết phơng Tây hiện đại xuất hiện lối viết sao chép lạinhững chuỗi suy nghĩ của nhân vật - những đoạn văn dài không có chấm phẩy, bỏqua các quy tắc ngữ pháp, ngữ nghĩa của câu và văn bản Chẳng hạn, dòng ý thức
của Marion Blum trong tiểu thuyết Ulysses (James Joyce): “ở đó giọng nói của ng… và một Bông Hoa trên núi ờ phải khi mình cài hoa hồng lên tóc giống nh con gái miền Ăngdaluđi hay mình lẽ ra đã cài một bông hoa màu đỏ ờ phải và khi anh ta hôn mình dới bức tờng thành kiểu Môrơ mình tự nhủ anh ta hay một anh chàng khác cũng thế thôi và lúc bấy giờ mình đa mắt ra ý bảo anh ta hãy cứ nài nữa đi ờ phải và bấy giờ anh hỏi
Trang 28xem mình có muốn ờ phải muốn nói ờ đợc không bông hoa núi của ta và trớc tiên mình quàng tay quanh ngời anh ấy ờ phải và mình đã kéo anh ấy lên mình để anh hít cặp vú mình thơm phức ờ phải và trái tim anh ấy đạp nh điên và ờ phải mình nói
ờ phải em muốn lắm ờ phải…” [25, tr.75-76].
Nhìn chung, với dòng ý thức, các nhà tiểu thuyết cố gắng xoá đi sự can thiệp,dấu ấn ngôn ngữ của họ trong tác phẩm để thể hiện ở mức độ cao nhất tính tự nhiên,chân thật trong ý nghĩ nhân vật Sự tuôn trào tự do của ý nghĩ tạo nên những dòngchảy ý thức triền miên Vì thế, dòng ý thức của nhân vật thờng chiếm dung lợng vănbản rất lớn Chẳng hạn, đoạn văn trong ví dụ trên là mẩu cuối của một dòng ý thức
kéo dài gần 50 trang trong tiểu thuyết Ulysses.
Tác giả Nguyễn Thái Hoà gọi những truyện kể về dòng ý thức nh thế là truyệntâm t Ông cho rằng: “ở đó giọng nói của ng… trong truyện tâm t , không có (hoặc ít có) những sự kiện hành
động trực tiếp, mà chỉ có những sự kiện tâm lý vận động theo thời gian Từ đó, con
con ngời trở nên sắc nhạy đến mức tới hạn; sự phá vỡ cấu trúc trần thuật truyền thống, sự xáo trộn các bình diện thời gian - đôi khi mang tính chất của sự thể
b) Phân biệt độc thoại nội tâm và dòng ý thức
Nh vậy, giữa ĐTNT và dòng ý thức có những điểm tơng đồng và phân biệt.
Điểm tơng đồng dễ nhận thấy là chúng đều phản ánh những trạng thái tâm lý bêntrong, ngầm ẩn của con ngời Trong tiểu thuyết, chúng là những phơng tiện đắc lựcthể hiện suy nghĩ, xúc cảm nội tâm nhân vật
Sự phân biệt giữa ĐTNT và dòng ý thức thể hiện chủ yếu trên ba điểm:
(1) Về cấu trúc hình thức
ĐTNT là những phát ngôn đợc cấu trúc chặt chẽ theo những quy luật ngữpháp, ngữ nghĩa nhất định để có thể thực hiện chức năng giao tiếp của ngôn ngữtrong một ngữ cảnh cụ thể, còn dòng ý thức là những suy nghĩ, ý nghĩ tự do, kế tiếpcủa nhân vật trong những trạng thái tâm lý đặc thù (hồi tởng, chìm trong tiềm thức,nửa tỉnh nửa mê… Luận văn này xem xét những) Vì vậy, khi xuất hiện ở tiểu thuyết, ĐTNT là một dạng của lờithoại, còn dòng ý thức là những đoạn văn tự bộc lộ một quá trình tâm lý phức tạpcủa chính nhân vật
(2) Về nội dung thể hiện
ĐTNT là những suy nghĩ, nhận xét, đánh giá, cảm giác… Luận văn này xem xét những của nhân vật trongnhững tình huống, sự kiện nhất định Nó bộc lộ những hồi đáp, phản ứng diễn ratrong nội tâm trớc sự tác động của ngữ cảnh tại một thời điểm cụ thể Ngợc lại, dòng
Trang 29ý thức là dòng chảy triền miên của suy nghĩ, hồi tởng, cảm xúc… Luận văn này xem xét những Các sự kiện tâm
lý diễn ra trong thời gian dài, dới sự chi phối của t duy và cảm xúc Trong dòng ýthức, nhân vật gần nh thoát khỏi ngữ cảnh, thời gian hiện tại, hoàn toàn chìm sâuvào thế giới nội tâm của mình
(3) Về hình thức diễn đạt
Là một dạng lời thoại, ĐTNT đợc nhân vật sử dụng để thực hiện một mục
đích giao tiếp cụ thể Nó đợc diễn đạt dới một hình thức ngôn từ chặt chẽ, tuân thủnhững quy tắc ngữ pháp, ngữ nghĩa nhất định phù hợp với mục đích giao tiếp mà ng-
ời nói muốn hớng tới Trong khi đó, dòng ý thức là những suy nghĩ triền miên, lanman của nhân vật Vì vậy, khi xuất hiện trong tiểu thuyết, hình thức của dòng ý thức
là những đoạn văn bất chấp quy tắc văn phạm, cú pháp, diễn đạt nội dung một cáchlộn xộn, nhằm thể hiện sự tôn trọng tuyệt đối tính tự nhiên của cảm xúc và suy nghĩ
Tóm lại, độc thoại, ĐTNT và dòng ý thức là những khái niệm có nhiều điểmtơng đồng và có mối quan hệ liên cận chặt chẽ Tuy nhiên, luận án này chỉ tập trungnghiên cứu ĐTNT với t cách là một dạng lời thoại nhân vật trong tác phẩm nghệthuật (cụ thể là truyện ngắn của NMC, NHT, NTTH)
1.2.2 Lời độc thoại nội tâm của nhân vật và lời tác giả
Ngôn ngữ tác phẩm văn học, trong đó có lời ĐTNT của nhân vật, thực chất làcách thức, giọng điệu nói năng của tác giả về hiện thực đời sống Để hiện thực đờisống đợc phản ánh một cách chân thực, tự nhiên, tác giả phải đóng vai trò tờng thuậtkhách quan, không can thiệp vào hệ thống sự kiện, cốt truyện cũng nh sự tồn tại củacác nhân vật Chính vì vậy, khi hiện diện trong tác phẩm văn học, lời ĐTNT cũng
nh lời đối thoại của nhân vật luôn gắn bó chặt chẽ với những đặc điểm tính cách,tâm lý, hoàn cảnh sống của nhân vật chứ không phải của con ngời tác giả
Tuy nhiên, ĐTNT là dạng lời nói ngầm, hớng vào chính chủ thể độc thoại đểthực hiện sự giao tiếp Những suy nghĩ, cảm xúc của chủ thể mang đậm tính chủquan, không bị chi phối bởi mối quan hệ tơng tác với một ngời nghe thứ hai nh trong
đối thoại Chính đặc trng này khiến cho lời ĐTNT của nhân vật dễ dàng đợc tác giảlựa chọn để bộc lộ t tởng, tình cảm và nhận thức của mình về hiện thực Ngời ta cóthể nhận thấy sự gửi gắm này qua thái độ đồng tình, đồng cảm ngầm ẩn của tác giảkhi để cho nhân vật phát biểu một triết lý, bày tỏ một cảm xúc trong lời ĐTNT
Chẳng hạn, lời ĐTNT của Sinh trong Giao thừa (NMC): Chao ôi, quả thật con cái “ở đó giọng nói của ng
là cái món nợ lớn nhất ở cõi đời này, và những ngời nh vợ chồng bà cụ Đàm không
đợc gánh chịu cái món nợ ấy lại còn là một điều bất hạnh hơn nữa” [III, tr.145] Hay sự băn khoăn của tôi trong Những ngời thợ xẻ (NHT): Này hoa ban, một “ở đó giọng nói của ng nghìn năm sau thì mày có trắng thế không?” [XVI, tr.281] Đặc biệt, khi nhân vật
có những đặc điểm cá nhân giống với con ngời tác giả trong đời thực (nghề nghiệp,
Trang 30giới tính, tính cách, hoàn cảnh sống… Luận văn này xem xét những) và tự xng “phtôi” trong tác phẩm thì ngời đọccàng dễ nhận thấy sự mợn vai nhân vật để phát ngôn của tác giả Nhân vật phát biểusuy nghĩ về nghề nghiệp, về cuộc sống, về tình yêu, hạnh phúc… Luận văn này xem xét những với những dấu ấncá nhân tác giả rất rõ nét trong nội dung của lời, trong ngôn ngữ, giọng điệu Quan
sát dáng vẻ tự tin, vô t của một cô gái, tôi trong Những ngời thợ xẻ quan niệm: “ở đó giọng nói của ng
Điều ấy ngu xuẩn biết bao Phải, ngu xuẩn Cả cô gái tôi đã từng yêu cũng thế Nàng cứ tởng tự tin và tự do là điều hay hớm cho mình Trăm lần không, vạn lần không Với phụ nữ, tự tin với tự do nghĩa là bất trắc, là hiểm hoạ, là thiếu thốn, thậm chí còn là khả năng bất hạnh và điếm nhục” [XVI, tr 271]
Trong những lời độc thoại nói trên, vai phát ngôn trực tiếp là nhân vật nhngnội dung, giọng điệu và ngôn ngữ đã có sự “phxâm nhập” của nhà văn Với hình thứcphát ngôn này, những quan niệm, t tởng, suy nghĩ của nhà văn đợc bộc lộ một cáchkhách quan và tự nhiên hơn Mặc dù vậy, trong tác phẩm văn học, nhà văn vẫn hớng
đến việc xây dựng những nhân vật với t cách là một cá nhân tồn tại tơng đối độc lập,
có đời sống và những mối quan hệ riêng biệt Do đó, khi nhân vật trực tiếp thể hiệnsuy nghĩ nội tâm của mình, chúng tôi vẫn xem đó là lời ĐTNT của nhân vật, phânbiệt với lời ĐTNT của tác giả (sự phân biệt này sẽ đợc chúng tôi đề cập cụ thể trongmục 1.3.4, trang 55 của luận án)
1.2.3 Các dạng độc thoại nội tâm của nhân vật trong truyện ngắn
Cũng nh lời đối thoại, lời ĐTNT của nhân vật trong truyện ngắn có thể đợc giọng điệu kể chuyện của tác giả Theo nguồn t liệu của th viện điện tử questia com,
tác giả Wiliam Flint Thrall đã đề cập rất cụ thể về các dạng tồn tại của lời ĐTNT Ôngcho rằng:
Có hai dạng khác biệt của ĐTNT: trực tiếp - tác giả dờng nh không tồn tại và suy nghĩ bên trong của chính nhân vật đợc diễn tả trực tiếp, nh là ngời đọc tình cờ nghe
đợc một phần của luồng suy nghĩ và tình cảm đang chảy trong tâm tởng của nhân vật; và gián tiếp - tác giả nh là ngời lựa chọn, ngời giới thiệu, ngời dẫn dắt và ngời bình luận [131, tr.243]
Dựa vào mối quan hệ giữa chủ thể thể hiện phát ngôn và phát ngôn, chúng tôi
cũng thấy lời ĐTNT có hai dạng tồn tại cơ bản: ĐTNT trực tiếp và ĐTNT gián tiếp.
1.2.3.1 Độc thoại nội tâm trực tiếp
ĐTNT trực tiếp là những lời độc thoại nguyên bản của nhân vật, không qua
sự xâm nhập, tái hiện của ngời thứ hai, đợc nhân vật trực tiếp thể hiện bằng ngônngữ, giọng điệu của chính nó
(1) Phải hất mụ ta đi thôi! Anh tự nhủ… Luận văn này xem xét những [XV, tr.185]
(2) Rồi bình tâm trở lại, nó nhìn bà mẹ rất đơn giản ấy mà thơng hại: Thôi, “ở đó giọng nói của ng giấu đi là vừa, mẹ hiểu quá chắc cũng chẳng làm gì đợc, và ngây ngô quá, cha chắc
Trang 31đã khổ, chuyện lớn sẽ thành trò đùa, bố sẽ quen đi, rồi sẽ không ai sợ ai trong nhà này cả” [IX, tr.34].
Trong truyện ngắn, ĐTNT trực tiếp có thể đợc báo hiệu, dẫn dắt bằng các
hình thức dẫn thoại nhng cũng có thể xuất hiện tự do, tiếp nối sau những lời tờngthuật, kể chuyện thông thờng của tác giả mà không cần đến bất kỳ hình thức dẫnthoại nào
(3) Bà quản tủm tỉm cời, nghĩ bụng:
- Rõ thật là trẻ con [I, tr.89].
(4) Chị cu lại lên mâm Chị nhắc cái niêu nhẹ nhõm Chị nghiêng nó ra ánh
trăng, nhìn Còn ba hột cơm ranh! ăn chẳng bõ dính răng [I, tr.118].
Tính sở hữu trực tiếp của những lời ĐTNT ở đây bộc lộ rõ ở cách sử dụng đại
từ xng hô Nhân vật là chủ thể phát ngôn đồng thời là ngời thể hiện trực tiếp nên nó
thờng xuyên dùng những đại từ nhân xng ngôi một, số ít: mình, tôi, tao; các đại từ thân tộc hoặc tên riêng có chức năng tự xng: ông, bà, con … ĐTNT trực tiếp bao giờ
cũng phản ánh chính xác, sinh động đặc điểm nói năng, thói quen sử dụng ngôn ngữcủa nhân vật Khi tờng thuật ĐTNT trực tiếp, tác giả (hoặc ngời dẫn chuyện) phải
đảm bảo tính khách quan, chân thực của nó Những đặc điểm cấu trúc, ngữ pháp, sắcthái cảm xúc và ngữ nghĩa của phát ngôn đợc giữ nguyên, nh nó vốn tồn tại trongnội tâm nhân vật Chính vì thế, ĐTNT trực tiếp luôn xuất hiện tức thời trong mộtngữ cảnh cụ thể Nó là những phản ứng hồi đáp của nhân vật trớc sự tác động củahiện thực
1.2.3.2 Độc thoại nội tâm gián tiếp
ĐTNT gián tiếp là những lời ĐTNT của nhân vật nhng không đợc nhân vậttrực tiếp nói ra mà phải thông qua ngôn ngữ tờng thuật, tái hiện của tác giả hoặc ng-
ời kể chuyện Với dạng ĐTNT gián tiếp, ý nghĩa thậm chí ngôn từ, cách nói năngcủa nhân vật vẫn bộc lộ rõ nét, nhng đó không thể là những lời thoại nguyên vẹn,
đích thực Để thuật lại ĐTNT của ngời khác, tác giả hoặc ngời kể chuyện ở mức độnày hay mức độ khác buộc phải sử dụng ngôn ngữ của mình, xâm nhập vào phátngôn, thay đổi cấu trúc ngữ pháp, đại từ xng hô trong phát ngôn đó Vì thế, khác với
ĐTNT trực tiếp, chủ thể của ĐTNT gián tiếp thờng đợc gọi ở ngôi thứ ba, với những
đại từ xng hô phổ biến nh: hắn, y, thị, ông, bà …
(5) Nhng bỗng hắn lại hơi ngần ngại: biết đâu cái lão cáo già này nó chả lại lừa hắn vào nhà rồi lôi thôi? ồ mà thật, có thể nh thế lắm! Này, nó hãy lôi ngay mấy cái mâm cái nồi hay đồ vàng đồ bạc ra khoác vào cổ hắn, rồi cho vợ ra kêu làng lên, rồi cột cổ hắn vào, chần cho một trận om xơng, rồi vu cho ăn cớp thì
Trang 32Chính vì sự lai ghép giữa ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ kể chuyện nh vậytrong khi tờng thuật ĐTNT nên ngời ta còn gọi đây là dạng ĐTNT nửa trực tiếp.Trên phơng diện thi pháp của truyện, cách thức tờng thuật ĐTNT này có khả năngrút ngắn khoảng cách giữa lời nhân vật và lời kể, tạo nên sự di động điểm nhìn trầnthuật (từ ngời kể chuyện sang chính nhân vật) Nhờ đó, giọng điệu kể chuyện trởnên linh hoạt, các sự kiện diễn ra tự nhiên hơn
Tuy nhiên, trên phơng diện hội thoại, một lời thoại nào đó của nhân vật chỉthực sự mang đầy đủ các phẩm chất giao tiếp khi nó do chính nhân vật trực tiếp nói
ra, bộc lộ một cách tức thời, hiện hữu các đặc điểm nói năng, xúc cảm cá nhân Việctờng thuật lại, xâm nhập vào phát ngôn (chẳng hạn thay đổi đại từ xng hô… Luận văn này xem xét những) khôngthể đảm bảo đợc tính nguyên bản, sinh động của nó Hơn nữa, đối với ĐTNT - mộtdạng lời nói ngầm ẩn, hết sức riêng t - thì sự xâm nhập, pha trộn ở dạng gián tiếp cóthể khiến ngời ta không nhận diện đợc đầy đủ, trọn vẹn một số đặc tính giao tiếpquan trọng của lời Chính vì vậy, với mục đích khảo sát lời ĐTNT của nhân vậttrong quá trình hành chức, xem ĐTNT là những lời thoại đích thực đợc nhân vật sửdụng để giao tiếp, chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu dạng ĐTNT trực tiếp
1.3 Tiêu chí nhận diện lời độc thoại nội tâm nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ
Lời thoại và lời ĐTNT của nhân vật là một trong những thành phần cơ bảncủa lời văn nghệ thuật Về nguyên tắc, chúng luôn đợc nhà văn lựa chọn, tổ chứctheo một ý đồ nghệ thuật nhất định để làm nổi bật tính hình tợng của tác phẩm Do
đó, khi xuất hiện trong truyện ngắn, lời thoại nói chung và lời ĐTNT nói riêng thờng
đợc tờng thuật bằng nhiều cách thức khác nhau, tạo nên sự phong phú, đa dạng củalời văn nghệ thuật Nhng chính sự phong phú, đa dạng đó khiến cho việc nhận diệnlời ĐTNT trở nên khá phức tạp Nguyên tắc cơ bản nhất của chúng tôi khi xác định
ĐTNT trong truyện ngắn là phải kết hợp nhiều tiêu chí khác nhau, chứ không phảicăn cứ vào một hay một số tiêu chí riêng lẻ
Khảo sát lời ĐTNT của nhân vật trong truyện ngắn NMC, NHT, NTTH,chúng tôi đa ra 4 tiêu chí:
Trong truyện ngắn, nhà văn có thể sử dụng những dấu hiệu hình thức nhất
định để chỉ dẫn cho ngời đọc sự tồn tại của lời ĐTNT Theo khảo sát của chúng tôi,
Trang 33lời ĐTNT có thể đợc nhận ra qua hai loại dấu hiệu hình thức: hình thức ký hiệu trênvăn bản và hình thức dẫn thoại
1.3.1.1 Hình thức ký hiệu trên văn bản
Thông thờng, với lời đối thoại ngời ta thờng tách nó khỏi lời văn miêu tả, trầnthuật bằng cách xuống dòng và sử dụng dấu gạch ngang đầu dòng để đánh dấu sựxuất hiện của nó
(6) Cái Hơng chạy tới trớc một hàng bún riêu cua
- Phai, mày làm gì ở đây?
Với lời ĐTNT, ngời ta không phải xuống dòng mà có thể dẫn tiếp nối ngaysau những lời văn miêu tả, trần thuật Ký hiệu thông thờng để phân biệt nó với cácdạng lời văn khác là dấu ngoặc kép (“ph… Luận văn này xem xét những”)
(7) Ông Diểu đặt tay lên mình con khỉ và thấy nó nóng hầm hập Dễ đến “ở đó giọng nói của ng hơn yến…” [XVI, tr.91]
(8) Em đã có anh Em sẽ giữ anh cho mình, thế là đủ cho cả cuộc đời. “ở đó giọng nói của ng ” My
lẩm bẩm và cời Nụ cời vô thởng vô phạt [VIII, tr.366]
Tuy nhiên, trong truyện ngắn hiện đại, với ý thức tổ chức lời văn nghệ thuật
đa dạng, biến hoá, những ký hiệu hình thức trên không còn đợc sử dụng thờngxuyên Nhà văn có thể dùng ký hiệu của lời đối thoại để đánh dấu của sự tồn tại củalời ĐTNT và ngợc lại Thậm chí trong một số trờng hợp, ngời ta còn sử dụng đồngthời cả hai ký hiệu nói trên để tờng thuật một dạng lời thoại
(9) - Ta có mê không? - “ở đó giọng nói của ng Ông Diểu nhìn quanh - tất cả nh trong mộng mị? ”
[XVI, tr.90]
(10) - Những cái anh dân thủ đô Hà Nội này - lão đạp những bớc nh vồ nện xuống mặt nhựa vừa gật gù nghĩ một mình - sao mà ngời nào cũng y nh ngâm lâu ngày trong bể nớc mới vớt lên? [IV, tr.178]
Vì vậy, những ký hiệu hình thức này không còn là dấu hiệu đặc trng để xác
định lời ĐTNT trong truyện ngắn Chúng chỉ phát huy vai trò chỉ dẫn lời ĐTNT ởmột số lợng giới hạn
1.3.1.2 Hình thức dẫn thoại của độc thoại nội tâm
Hình thức dẫn thoại là những cách thức tái hiện hành động nói năng và lờinói của nhân vật Trong truyện ngắn, tác giả có thể dùng một cụm từ, một cấu trúc C
- V trọn vẹn để tờng thuật lại lời thoại của nhân vật Tổ hợp bao gồm lời dẫn của tácgiả và lời thoại nhân vật đợc gọi là thoại dẫn Chẳng hạn:
(11) Tôi im lặng và nghĩ: ở đời, ngời ta cứ sống đợc là vì họ có ảo vọng và ngộ nhận [VIII, tr.88].
Một thoại dẫn thờng có cấu trúc:
Trang 34Lời dẫn (Lời ngời dẫn)
Lời đợc dẫn (Lời thoại của nhân vật)
Mô hình này chỉ mang tính ổn định tơng đối, vì vị trí của lời dẫn và lời đợcdẫn có thể thay đổi Lời dẫn có thể ở trớc, ở sau hoặc chen giữa lời đợc dẫn
Đối với các hình thức dẫn thoại, chúng tôi chỉ mô tả những cách thức báohiệu lời thoại trong lời dẫn, bỏ qua lời đợc dẫn (lời thoại của nhân vật) Trong truyệnngắn NMC, NHT, NTTH, các tác giả đã sử dụng những hình thức dẫn thoại sau đây
để báo hiệu sự xuất hiện của lời ĐTNT
a) Sử dụng nhóm động từ cảm nghĩ: nghĩ bụng, nghĩ, thầm nghĩ…
Đây là những động từ miêu tả quá trình t duy bên trong của nhân vật về một
đối tợng cụ thể Các ý nghĩ đợc sắp xếp thành một đơn vị cấu trúc tiêu biểu cho hoạt
động giao tiếp, đó là lời thoại
(12) Nàng nghĩ: Chỉ có cáu giận một cái gì đó, ngời ta mới có thể vo gạo
mạnh nh thế, nhất là ở tay một đứa bé yếu ớt [VIII, tr.45].
Không phải bất cứ khi nào nhân vật suy nghĩ đều đồng nghĩa với sự xuất hiện
lời ĐTNT Nhiều trờng hợp, động từ nghĩ chỉ đơn thuần nói về trạng thái nhận thức
của nhân vật
(13) Chợt nghĩ đến chuyện này, Huân thấy khổ tâm và day dứt trong lòng vô
day dứt vẫn không hết, vẫn không tiệt nọc [IV, tr.217].
Tuy nhiên, đây vẫn là loại động từ phổ biến đợc sử dụng để cấu tạo hình thứcdẫn thoại cho ĐTNT trong truyện ngắn NMC, NHT, NTTH Tính nhận thức, tínhngầm ẩn của hoạt động cảm nghĩ là những phẩm chất phù hợp với đặc thù của
ĐTNT
b) Sử dụng nhóm động từ nói năng: nhủ, bảo, kêu, nói…
Đây là những động từ chuyên dụng miêu tả hoạt động nói năng của con ngời.Vì thế, chúng thờng xuyên xuất hiện trong lời dẫn thoại ở cả hai dạng: đối thoại và
Trang 35Nhìn chung, hình thức dẫn thoại theo mô hình này bao giờ cũng báo hiệu mộtcách chắc chắn, chính xác sự tồn tại của lời ĐTNT ngay sau đó.
c) Sử dụng nhóm động từ ngữ vi: hỏi, khuyên, mắng, phong…
Nhóm động từ ngữ vi chính là những động từ nói năng đặc biệt Chúng vừa
miêu tả hoạt động nói của nhân vật vừa gọi tên loại hành động ngôn ngữ mà nhân
vật thực hiện bằng chính phát ngôn đó Sự kết hợp của chúng với các yếu tố chỉ dẫn
tính hớng nội: tự, ngầm, thầm… Luận văn này xem xét những sẽ tạo nên hình thức dẫn thoại hết sức đặc thù của
ĐTNT
(15) Tôi tự hỏi: Chẳng lẽ cái nhan sắc đang độ trẻ con nh đúc từ trời biển
trong suốt, nên thơ này lại đợc tách ra từ da thịt của một ngời đàn bà hàng chài xấu
xí và đau khổ? [IV, tr.83]
Việc sử dụng tên gọi các loại hành động để cấu tạo nên lời dẫn thoại vừa cóchức năng báo hiệu sự xuất hiện của ĐTNT vừa khẳng định bản chất hành động củangôn ngữ ở dạng lời nói bên trong này
d) Sử dụng nhóm động từ chỉ hành động nói theo một cách thức nào đó: lẩm bẩm, thì thầm, lầm rầm, lầu bầu…
Những hành động nói năng này có cách thức chung là chủ thể thờng phát âmvới âm lợng nhỏ, thậm chí không rõ ràng, với tâm lý là không muốn ngời thứ hainghe thấy Vì thế, dù phát ngôn đợc nói ra thành tiếng nhng những lời dẫn thoạimiêu tả cách thức nói năng nh vậy thờng cho phép lời độc thoại xuất hiện một cáchhợp lý
(16) Tôi cời và thì thầm với mình: Ôi, tôi yêu cuộc sống này, yêu đêm nay “ở đó giọng nói của ng
Có thể thấy rõ tính độc thoại của những phát ngôn này bằng việc xem xét khảnăng tác động của nó đến ngời thứ hai Trong đa số các trờng hợp, những lời thoại đ-
ợc dẫn dắt bằng nhóm động từ trên không tạo ra sự tác động đến ngời thứ hai Ngờikhác không nghe thấy và cũng không có phản ứng hồi đáp nh trong đối thoại
đ) Sử dụng nhóm từ ngữ miêu tả tâm trạng, sự thay đổi tâm trạng, nhận thức của chủ thể
Lời ĐTNT thờng phản ánh hiện trạng nhận thức, tình cảm, tâm lý… Luận văn này xem xét những của chủthể trong những ngữ cảnh nhất định Vì thế, một cách thức báo hiệu sự hiện diện của
ĐTNT đợc sử dụng tơng đối phổ biến là miêu tả sự thay đổi tâm trạng, cảm xúc vànhận thức nhân vật trong lời dẫn thoại Thông thờng, đó là những trạng thái tâm lý
tiêu cực nh: buồn não nề, kinh ngạc đến sững sờ, hồi hộp, đau đớn, cay đắng, xót xa, băn khoăn…
Trang 36(17) Tim Sao rung loạn xạ trong ngực nh muốn bắn tung ra ngoài Mình sẽ
ôm lấy ngời ấy, sẽ giữ ngời ấy cho mình Mình sẽ không để tuột đi đâu, dù là ai
đó Lời ĐTNT là kết quả cuối cùng trong quá trình giao tiếp với hiện thực, với ngữcảnh của chủ thể Tuy nhiên, đây không phải là hình thức dẫn thoại đặc thù của
ĐTNT Trong truyện ngắn, việc miêu tả tâm trạng, cảm xúc, nhận thức nhân vậtdiễn ra thờng xuyên nhng không nhất thiết chỉ hớng đến mục đích dẫn dắt lời độcthoại
Để chỉ dẫn sự tồn tại của ĐTNT, các tác giả đã dùng nhiều hình thức báohiệu khác nhau Mỗi loại hình thức đều có những phơng tiện ngôn ngữ riêng, có uthế riêng Nhng xét về tổng thể, hình thức dẫn thoại của ĐTNT trong truyện ngắnthống nhất với nhau trên ba điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, đó đều là những yếu tố hình thức hoàn toàn nằm ngoài lời ĐTNT.Chúng chỉ có vai trò dẫn dắt, báo hiệu sự tồn tại của lời Đặc điểm, cấu tạo, vị trí củachúng không ảnh hởng đến cấu trúc và ngữ nghĩa của lời thoại
Thứ hai, trong số các dấu hiệu hình thức đã nêu, hình thức dẫn thoại sử dụng
động từ nói năng và nêu tên loại hành động ngôn ngữ trong lời có tính chất chỉ dẫn
ĐTNT đặc thù hơn cả Sự kết hợp của những động từ chỉ hoạt động, hành động nói
và các yếu tố phụ chỉ tính hớng nội (tự, thầm, ngầm … là một cấu trúc phù hợp với )
bản chất của dạng lời nói bên trong
Thứ ba, những hình thức dẫn thoại nói trên đợc phân lập khi khảo sát nhữnglời ĐTNT có lời dẫn Trong khi đó, với truyện ngắn hiện đại, một số lợng rất lớn lời
ĐTNT có thể xuất hiện mà không cần đến bất kỳ hình thức, dấu hiệu dẫn dắt nào.Hơn nữa, nhiều hình thức dẫn thoại lại không đạt đợc tính đặc thù (chẳng hạn: các
động từ cảm nghĩ, cách thức nói năng, miêu tả tâm trạng chủ thể… Luận văn này xem xét những) Do đó, tiêu chíhình thức không thể là tiêu chí duy nhất, nhất thiết phải có để xác định lời ĐTNTtrong truyện ngắn
1.3.2 Tiêu chí cấu trúc
Trang 37Khi đa ra khái niệm về lời ĐTNT ở mục 1.2.1.2.b trang 26 của luận án,
chúng tôi đã xác định: lời ĐTNT là một dạng của lời thoại, đợc con ngời sử dụng đểgiao tiếp Bởi vậy, cấu trúc của nó, trớc hết phải đáp ứng đầy đủ những đặc điểm cấutrúc của một lời thoại Đây là tiêu chí cơ bản để xác định lời ĐTNT vì tiêu chí nàykhông chỉ khẳng định bản chất giao tiếp mà còn giúp chúng ta phân biệt lời ĐTNTvới các dạng lời văn khác cũng đợc nhà văn sử dụng để miêu tả tâm lý con ngờitrong tác phẩm văn học
Nếu quan niệm cấu trúc là tổ chức nội tại, là mối quan hệ của các yếu tố trongmột đơn vị ngôn ngữ nào đó thì lời ĐTNT có những đặc điểm cấu trúc sau đây:
- Lời ĐTNT luôn gắn với một chủ thể phát ngôn nhất định
- Lời ĐTNT thực hiện một loại hành động ngôn ngữ nhất định
- Lời ĐTNT hớng đến một ngời nghe cụ thể
Sự có mặt của những yếu tố này và tính đặc thù trong tổ chức nội tại củachúng sẽ khẳng định t cách hành chức của ĐTNT: đó là những lời thoại đợc dùng đểthực hiện chức năng giao tiếp của ngôn ngữ
1.3.2.1 Lời độc thoại nội tâm luôn gắn với một chủ thể phát ngôn trực tiếp
Tính sở hữu trực tiếp của chủ thể bộc lộ rõ ở việc sử dụng từ xng hô Tronglời ĐTNT, từ xng hô phải là những đại từ ngôi một, số ít
Nhìn chung, các đại từ nhân xng trong đối thoại đều đợc sử dụng trong độc
thoại Đại từ phổ biến, thờng gặp nhất là mình Theo tác giả Trơng Thị Diễm, trong
đối thoại, đại từ mình đợc dùng ở nhiều ngôi: ngôi 1 số ít (Mời bạn về nhà mình1 chơi); ngôi thứ hai số ít (Mình2 nói với ta mình2 hãy còn son); ngôi thứ hai số nhiều (Mình3 về mình3 có nhớ ta); ngôi gộp (thứ nhất và thứ hai) (Thôi muộn rồi, mình4
về thôi em); và đợc dùng nh đại từ phân thân (Lấy mình5 làm văn chơng / Tự đá mình5 trên giấy) [20, tr.41].
Trong độc thoại, đại từ chỉ đợc dùng ở một ngôi duy nhất: ngôi 1, số ít Khác
với các đại từ tôi, tao, tớ, đại từ mình ngoài chức năng tự xng còn mang một sắc thái
đặc thù: hớng về bản thể, chỉ rõ tính hớng nội Điều này có thể đợc giải thích: mình vốn là một danh từ chỉ cơ thể ngời Chính vì vậy, khi độc thoại nội tâm, mình trở
thành loại đại từ nhân xng phù hợp hơn cả để nhân vật tự xng với chính bản thânmình
(19) “ở đó giọng nói của ngMình có thể đứng bên Phận thế này mãi! , anh nghĩ, bỗng mỉm c ” ời… Luận văn này xem xét những[IV, tr.121]
Trong một số trờng hợp khác, chủ thể lời độc thoại có thể dùng tên riêng, các
danh từ thân tộc nh: ông, bà, em, con, chị… Luận văn này xem xét những để tự xng Giống nh đối thoại, cách xnghô này chỉ thực hiện đợc khi chủ thể đặt mình trong mối quan hệ tơng tác với một
Trang 38nhân vật phân biệt nào đó Điều này bộc lộ rõ qua các cặp từ xng hô tơng ứng trongphát ngôn.
(20) Tôi lẩm bẩm nh bị hụt hơi: con lúc sống không giúp gì đợc mẹ, chỉ làm
(21) - Chắc cái lão ma bùn này định làm quà nhng quên mất - Bà Hai Thoan cời độ lợng - Thôi thế là hai đứa bé con giúp việc cho bà cũng có quà Tết rồi đây …
[XVIII, tr.573]
Sự tồn tại của các đại từ nhân xng ngôi một số ít trong lời độc thoại là một cơ
sở khẳng định tính sở hữu trực tiếp của chủ thể phát ngôn
Điều đáng chú ý là trong lời ĐTNT, hiện tợng vắng mặt các đại từ nhân xnglại diễn ra thờng xuyên Là lời nói hớng vào chính mình, ĐTNT có thể bỏ qua việc
tự xng mà vẫn cho thấy sự hiện diện rõ ràng của chủ thể
(22) Phải đi Kẻ Lủ “ở đó giọng nói của ng ” [XVIII, tr.342].
(23) Thôi, chiều muộn rồi, phải về thôi [VIII, tr.71].
Với hai lời ĐTNT nói trên, việc tái lập, bổ sung đại từ nhân xng là hoàn toàn
có thể Chủ thể đã dùng lời độc thoại để nói đến những hành động, việc làm cầnthiết của chính mình trong từng ngữ cảnh nhất định Việc không sử dụng đại từ nhânxng là một sự giản lợc hợp lý nhằm đạt tới tính ngắn gọn, hiệu quả của lời thoạitrong hành chức
Đại từ nhân xng ngôi một, số ít thể hiện rõ rệt mối quan hệ sở hữu trực tiếpgiữa chủ thể phát ngôn và phát ngôn Vì thế, đây là một yếu tố quan trọng giúp phânbiệt lời độc thoại trực tiếp, đích thực của nhân vật với những lời độc thoại đ ợc miêutả, trần thuật gián tiếp qua ngôn ngữ tác giả hoặc ngời trần thuật trong truyện ngắn.Khi đợc tác giả hoặc ngời trần thuật kể lại, ĐTNT không tồn tại với t cách là một lờithoại tức thời, trực tiếp của nhân vật mà chỉ là những lời nói (suy nghĩ) đợc tái hiệnqua một chủ thể khác Theo đó, đại từ xng hô đợc sử dụng không phải là ngôi 1, số
ít mà thờng là ngôi 3 để chỉ một đối tợng gián tiếp, vắng mặt: y, thị, hắn, nó … hoặc
đại từ ngôi 2 để gọi một đối tợng khách quan: nàng, cô, anh …
(24) ừ nhỉ, con nhóc nghĩ, đây chẳng phải là cái giây phút cuối cùng đã “ở đó giọng nói của ng ”
đến lợt chị Phấn nó đợc ở trong gia đình nó hay sao? [IV, tr.15]
(25) Nàng nghe Chợt thẫn ngời tự hỏi: Nàng đi tìm cái gì nhỉ? Ngời ta Cái chuyện lấy vợ lấy chồng dễ thế Sao nàng lại khó? [VIII, tr.43]
Mặc dù đợc báo hiệu bằng những hình thức dẫn thoại thờng thấy của ĐTNT
(nghĩ, tự hỏi) nhng do sự xuất hiện của đại từ xng hô nó, nàng nên (24) và (25) vẫn
không phải là ĐTNT nguyên bản mà chỉ là lời đợc kể lại qua một chủ thể khác
Tóm lại, các đại từ nhân xng ngôi 1, số ít là dấu hiệu đầu tiên cho thấy tính
chất thoại “ở đó giọng nói của ng ” của lời ĐTNT.
Trang 391.3.2.2 Lời độc thoại nội tâm hớng đến một ngời nghe cụ thể
Trong đối thoại, ngời nói và ngời nghe là những nhân vật giao tiếp phân biệt,
độc lập cả về t cách phát ngôn và đặc điểm thể chất Do vậy, sự tơng tác giữa ngời nói
và ngời nghe, hiệu lực ở lời cũng nh các cặp từ xng hô đợc sử dụng sẽ phản ánh rất rõràng bản chất giao tiếp của lời nói Lời ĐTNT diễn ra ngầm ẩn, không có một ngờinghe hoàn toàn phân biệt nh thế Tuy nhiên, độc thoại vẫn là một hình thức sử dụngngôn ngữ để giao tiếp của con ngời Hành động ngôn ngữ mà lời ĐTNT thực hiệncũng tạo ra một hiệu lực ở lời tác động đến một đối tợng tiếp nhận nhất định Do đó,trong ĐTNT, nhân tố ngời nghe vẫn tồn tại, tất nhiên với những đặc điểm và t cáchkhác với đối thoại
Nếu quan niệm ngời nghe là đối tợng trực tiếp nhận phát ngôn thì trong độcthoại luôn có một ngời nghe đặc biệt: đó chính là bản thân ngời nói Độc thoại chủyếu tồn tại ở dạng lời nói ngầm, vì vậy, chỉ có ngời nói mới lĩnh hội, tri giác đợcnhững phát ngôn do mình tạo ra Để thực hiện ĐTNT, ngời nói phải tự phân đôi
thành hai nhân cách giao tiếp: một nhân cách nghe và một nhân cách nói Ngời ta
không thể hỏi, ớc, chửi, cảm thán… Luận văn này xem xét những mà không hớng đến một đối tợng tiếp nhận nhất
định, với một mục đích ở lời cụ thể Chẳng hạn, khi thực hiện hành động ra lệnhtrong lời ĐTNT, nhân vật đòi hỏi, bắt buộc mình phải tiến hành ngay công việc mà
nó cho là cần thiết, không thể trì hoãn… Luận văn này xem xét những
(26) Khuya quá rồi Phải về thôi Tiếc vô cùng cũng phải về [VIII, tr.304].
Khi đa ra lời ĐTNT sử dụng hành động hỏi, ngời nói tự đặt mình vào tình thếphải đi tìm câu trả lời, phải giải đáp một vấn đề cha rõ ràng, minh xác
(27) Không biết chuyến tàu có thể ra tới đây tr “ở đó giọng nói của ng ớc khi cơn giông ập đến không? [IV, tr.93].
Sự phân thân ngời nói và ngời nghe trong ĐTNT có thể đợc thực hiện trênnhững mức độ khác nhau
ở mức độ thấp, ngời nghe chỉ là đối tợng tiếp nhận phát ngôn hoàn toàn thụ
động, không có phản ứng hồi đáp cụ thể, rõ ràng sau khi nhận phát ngôn trao lời củangời nói Đa số các cuộc ĐTNT chỉ tồn tại duy nhất một lợt lời, cho dù lợt lời đó tạo
ra một hiệu lực tác động rất mạnh đến ngời nghe nh: hiệu lực của hành động chửi,hành động hỏi, hành động ra lệnh… Luận văn này xem xét những
(28) Sao lại thế? Tại sao không có bàn tay? Mà thiếu mắt thì nhìn bằng cái gì?[VIII, tr.380]
Sự phân đôi nhân cách ở đây chỉ tồn tại trong ý thức của ngời nói Ngời nghecha trở thành một chủ thể giao tiếp độc lập, đích thực
ở mức độ trung bình, chủ thể độc thoại luân phiên vào vai ngời nói và ngờinghe để thực hiện một cuộc giao tiếp thực sự Sau khi đa ra một phát ngôn trao lời,
Trang 40ngời nói lại xuất hiện trong t cách ngời nghe, hồi đáp bằng một phát ngôn đáp lờingay sau đó
(29) Hình nh “ở đó giọng nói của ng vì mình mà con mình bỏ đi chăng? Không, mình thơng yêu nó lắm cơ mà, mình chăm sóc nó nhiều nhất trong bốn đứa con, đến nỗi vợ mình cũng phải có ý kiến cơ mà?”[III, tr.75]
Hành động phủ định đợc thực hiện ngay sau hành động hỏi trong (29) chứng
tỏ ranh giới phân biệt giữa ngời nói và ngời nghe đã trở nên rõ ràng hơn Ngời nghechủ động hồi đáp, trả lời những nội dung cần thiết mà ngời nói đặt ra Tuy vậy, sựtồn tại của ngời nghe ở đây vẫn chỉ mang ý nghĩa hình thức, vì lời trao và lời đáp làcách tự hỏi rồi tự trả lời của chính chủ thể độc thoại
ở mức độ cao, ngời nói và ngời nghe trong ĐTNT trở thành hai chủ thể giaotiếp thực sự khi nhân vật tởng tợng ra một cuộc đối thoại giữa mình và ngời khác.Nhân vật phải đóng vai hai con ngời khác hẳn nhau về t cách, địa vị xã hội cũng nhnhững đặc điểm tinh thần: nhận thức, tình cảm, tính cách, quan niệm sống… Luận văn này xem xét những ĐTNTdiễn ra nh một cuộc đối thoại đích thực với những lợt lời trao đáp luân phiên, sửdụng các cặp đại từ xng hô tơng ứng, quan hệ tơng tác giữa ngời nói và ngời nghethể hiện rất rõ ràng
(30) - Đồ dối trá! Mày hãy nhìn coi, bà mẹ tao khóc đã loà cả hai mắt kia! Bây giờ thì tấm hình tao đã đợc trng trên các tạp chí hội hoạ của khắp các nớc Ng-
- Tôi là một nghệ sỹ chứ có phải đâu là một anh thợ vẽ truyền thần, công việc ngời nghệ sỹ là phục vụ cả một số đông ngời, chứ không phải chỉ phục vụ một ngời! Anh chỉ là một cá nhân, với một cái chuyện riêng của anh, anh hãy chịu để
công việc của chúng ta thêm?
- A ha! Vì mục đích phục vụ số đông của ngời nghệ sỹ cho nên anh có
đi! [III, tr.101]
Trên văn bản, những lời ĐTNT nh vậy có hình thức tổ chức không khác gìmột cuộc đối thoại Sự phân biệt vai nói vai nghe ở đây đạt đến khoảng cách cầnthiết để tạo nên vị thế giao tiếp độc lập cho đôi bên Điều đó phản ánh thực trạng nộitâm với những mâu thuẫn, đối lập gay gắt trong con ngời chủ thể, giữa những cátính, nhân cách không thể dung hoà
Xét đến cùng, sự phân biệt vai nói, vai nghe trong lời ĐTNT dù diễn ra ở mức
độ nào thì cũng chỉ là sự phân biệt về nhận thức, suy nghĩ, xúc cảm, tâm trạng … Luận văn này xem xét những