1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Loại hình nội dung tiểu thuyết việt nam sau 1975

159 679 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Loại hình nội dung tiểu thuyết Việt Nam sau 1975
Tác giả Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Xuân Thiều, Nguyễn Trọng Oánh, Lê Lựu, Bảo Ninh, Chu Lai, Khuất Quang Thụy, Hồ Anh Thái, Dương Hướng, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Võ Thị Hảo
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 159
Dung lượng 531,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn

Trang 1

mở đầu

1 ý nghĩa khoa học của đề tài

1.1 Sau 1975, văn học Việt Nam dần thoát khỏi tính chất của văn học

chiến tranh, từng bớc vận động theo quy luật của văn học thời bình, hoà nhậpvới văn học khu vực và thế giới Trong hoàn cảnh mới, văn học nói chung,nhất là văn xuôi ngày càng phát triển phong phú, đạt đợc nhiều thành tựu

đáng ghi nhận Đặc biệt, với vị trí và u thế năng động của thể loại, tiểuthuyết ngày càng hấp dẫn các thế hệ nhà văn sáng tạo Trớc hết là sự tự đổimới của các nhà văn từng sáng tác khá vững vàng ở giai đoạn trớc, nhNguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Xuân Thiều, Nguyễn Trọng Oánh, Lê Lựu Tiếp đó là lớp nhà văn trởng thành sau cuộc chiến nh Bảo Ninh, Chu Lai,Khuất Quang Thụy, Hồ Anh Thái, Dơng Hớng, Tạ Duy Anh, Nguyễn BìnhPhơng, Võ Thị Hảo Càng về sau, trong sự tiếp xúc, giao lu với các thànhtựu văn học hiện đại phơng Tây và xuất phát từ chính sự đổi mới của đờisống xã hội, các cây bút tiểu thuyết càng tích cực và tỏ ra nhạy bén trongviệc làm mới chính mình Tác phẩm của họ làm nên diện mạo đa dạng, bềbộn của tiểu thuyết Việt Nam những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI.Một nghiên cứu hệ thống để có thể nắm bắt những đặc điểm tiểu thuyết ViệtNam đơng đại là việc làm cần thiết, góp phần phác thảo, nhận diện các xu h-ớng phát triển của tiểu thuyết nớc nhà

1.2 Nhiều cây bút phê bình, nghiên cứu tiểu thuyết đơng đại thờng

vận dụng những lý thuyết Kí hiệu học, Thi pháp học, Phân tâm học, đểkhảo sát, đánh giá những cách tân về bút pháp nghệ thuật, các phơng diệnhình thức tác phẩm Đây là hớng nghiên cứu gắn với các đặc trng văn họccũng nh những tính năng nghệ thuật của thể loại, mang lại không ít hiệu quả,phát hiện mới mẻ, rất đáng ghi nhận Tuy nhiên, các phơng diện hình thức,nội dung của văn học luôn gắn bó mật thiết, hữu cơ tạo thành chỉnh thể tácphẩm Việc đi sâu tìm hiểu nội dung của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 làcần thiết, góp phần tạo nên sự nhịp nhàng, toàn diện trong nhìn nhận, đánhgiá mảng sáng tác có quy mô lớn này Cùng với việc tìm hiểu các phơngdiện, cấp độ nội dung những sáng tác cụ thể, cần vơn tới khái quát các môhình nội dung, chỉ ra đợc những loại hình nội dung thể loại của tiểu thuyếtViệt Nam sau 1975 Đây là hớng nghiên cứu giàu tiềm năng, phù hợp với

Trang 2

mong muốn nhận diện, đánh giá sự vận động của tiểu thuyết Việt Nam đơng

đại Đồng thời, những nghiên cứu này cũng giúp mài sắc những nhận thức lýthuyết cũng nh khả năng vận dụng khái niệm “loại hình nội dung” trong phêbình, nghiên cứu văn học

1.3 Văn xuôi Việt Nam sau 1975 nói chung và tiểu thuyết nói riêng là

đối tợng nghiên cứu, giảng dạy Ngữ văn quan trọng ở các trờng Trung họcphổ thông, nhất là ở các trờng Cao đẳng, Đại học Nghiên cứu, nắm bắtnhững loại hình nội dung tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 là việc làm cầnthiết góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học với đối tợng quan trọng này

Nh vậy, đề tài “Loại hình nội dung tiểu thuyết Việt Nam sau 1975”vừa mang ý nghĩa lý luận, vừa mang ý nghĩa thực tiễn Đó là những lý dochúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài này

2 Lịch sử vấn đề

Nghiên cứu phê bình văn học trớc 1975 nói chung và tiểu thuyết nóiriêng chủ yếu dựa trên quan điểm xã hội học Các tác giả chủ yếu đánh giátác phẩm văn học về nội dung phản ánh trong mối quan hệ với hiện thực đờisống Những cách tân nghệ thuật không đợc đánh giá đúng mực bởi những engại về ranh giới với chủ nghĩa hình thức Với những chuyển đổi căn bảntrong nhận thức lý luận, nghiên cứu, phê bình văn học sau 1975 đã dần đisâu vào bản chất thẩm mĩ của văn học Nhìn chung có thể thấy, trong phêbình nghiên cứu văn học Việt Nam sau 1975, có không ít công trình, bài viếthớng tới những sáng tác mới mẻ, sự vận động bề bộn, phức tạp của tiểuthuyết nhằm thảo luận, nhận thức về thực tiễn văn học và dự báo xu hớngvận động thẩm mĩ đơng đại Đúng nh nhà nghiên cứu Nguyễn Bích Thu đã

nhận định trong Một cách tiếp cận tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới:

“Trong quá trình đổi mới, tiểu thuyết đã trải qua những bớc thăng trầm Sovới những loại hình văn xuôi khác, tiểu thuyết với những thành tựu và hạnchế của nó luôn là vấn đề nóng thu hút sự quan tâm và kích thích cảm hứng

đối thoại của cả giới sáng tác, lý luận, phê bình và công chúng.” [211 ; 15].Nhìn chung, tiếp cận tiểu thuyết hiện nay với cái nhìn cởi mở, hớng đến sựphát triển để hoà vào dòng chảy chung của văn học thế giới là điểm dễ thấy

ở các công trình

2.1 Những nghiên cứu về giá trị phản ánh hiện thực của tiểu thuyết Việt

Trang 3

Nam sau 1975

Bên cạnh việc tìm hiểu những cách tân về hình thức nghệ thuật, nhiềunhà nghiên cứu cũng làm rõ các biểu hiện đa dạng hóa đề tài, chủ đề, cảmhứng chủ đạo trong sáng tác của nhà văn, đi sâu tìm hiểu những đổi mớitrong nội dung tiểu thuyết sau 1975 Bớc vào thời kì xây dựng đất nớc tronghoàn cảnh hòa bình với những yêu cầu và thách thức mới, nhiều nhà nghiêncứu, phê bình đã tập trung khai thác sự đổi mới nhu cầu cũng nh những giátrị phản ánh hiện thực của tiểu thuyết Mối quan hệ giữa văn học nói chung

và tiểu thuyết nói riêng với đời sống đợc xem nh là mối quan hệ chủ yếunhằm nhận thức những vận động cách tân ở thể loại này Các tác giả vớicách tiếp cận khác nhau nhng đều thống nhất ở nhận định : trong sự vận

động đổi mới của văn học Việt Nam sau 1975, nhất là từ sau 1986 đã có sựlên ngôi của thể loại tiểu thuyết hiện đại Sự đối thoại của văn học đổi mớivới các giá trị văn học trớc 1975 đợc bộc lộ thành khuynh hớng phản sử thi,

ý thức tự “cởi trói” để hoà nhập với dòng chảy chung của văn học nhân loại.Cái nhìn mới về các sự kiện lịch sử, về chiến tranh, về ngời lính trớc hết xuấtphát từ bối cảnh cách tân sôi nổi ấy Từ đây, những câu chuyện của đời sốngthờng ngày tràn vào văn học, tạo nên nhiều ngã rẽ, không chỉ là những cáithuộc về lịch sử dân tộc, về chiến tranh chống xâm lợc

Chẳng hạn, trong bài Văn học Việt Nam trớc và sau 1975 - nhìn từ

yêu cầu phản ánh hiện thực, Phong Lê bày tỏ cái nhìn nhiều chiều về “cái

mới” trong văn học gắn liền với “cái mới” trong hiện thực cuộc sống sauchiến tranh với rộng lớn những tầng mảng phức tạp Theo nhà nghiên cứu,hiện thực lớn đòi hỏi những tác phẩm lớn : “lớn của tác phẩm phải đợc đotheo khả năng khái quát nghệ thuật, sức mạnh nghệ thuật và chân lý nghệthuật Mặt khác, chất lợng của sự khái quát này lại không phụ thuộc vào cácchiều kích to rộng của thế giới khách quan” ở bài viết này, cái mới trong

tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 cũng đợc nhìn nhận trong hệ thẩm mĩ mới với

sự đa dạng của các phạm trù thẩm mĩ, với sự trở lại vị trí chủ âm của cái hài,cái bi Đây là sự phát triển phù hợp với tự nhiên cũng nh sự phát triển củaquy luật thẩm mĩ, cho thấy “văn học dân tộc đang mở ra những cánh cửa mới

để đi vào một cuộc giao hòa với khu vực và nhân loại”

Phan Cự Đệ trong bài Tiểu thuyết Việt Nam đầu thời kỳ đổi mới đã

quan tâm đến sự thay đổi hớng tiếp cận hiện thực của tiểu thuyết Nhà

Trang 4

nghiên cứu đã đã nhìn nhận vấn đề theo hớng lạc quan về những đóng gópcủa tiểu thuyết trên phơng diện này : “Dờng nh tiểu thuyết trong ba mơi nămchiến tranh đã dành u thế cho phơng thức tiếp cận hiện thực (lịch sử - cụthể) Những tính cách luôn luôn đợc cắt nghĩa trong mối liên hệ chặt chẽ vớihoàn cảnh xã hội, với một thời điểm nhất định của lịch sử Chủ nghĩa hiệnthực đòi hỏi phải miêu tả chính xác những tính cách điển hình trong nhữnghoàn cảnh điển hình Trong thời kỳ đổi mới, chủ nghĩa hiện thực không thể

là một cấu trúc nghệ thuật khép kín, mà nó phải là một hệ thống mở, một hệthống đang phát triển Tiểu thuyết nói riêng, văn xuôi thời kỳ đổi mới nóichung rất đa dạng về phơng pháp sáng tác và phơng pháp tiếp cận hiện thực.Vấn đề là những phơng pháp sáng tác, những phơng thức tiếp cận đó đều cókhả năng phản ánh chân lý cuộc sống và tạo nên những cảm hứng thẩm mỹlành mạnh với ngời đọc”[46 ; 12] Nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ đã nhìn nhận

và đánh giá cao khả năng phản ánh hiện thực của tiểu thuyết thời kỳ đổi mới.Cuộc sống đổi thay phức tạp đòi hỏi văn học cũng phải làm mới mình, làmmới những nguyên tắc phản ánh đã trở nên không phù hợp Với kinh nghiệmnghiên cứu, phê bình dày dạn, có thể thấy nhận định của Phan Cự Đệ là rấtxác đáng

Nhà văn Nguyên Ngọc trong bài Văn xuôi Việt nam hiện nay - lôgic

quanh co của các thể loại, những vấn đề đang đặt ra và triển vọng chia sẻ

cách nhìn toàn diện về hiện thực cuộc sống mới, sự khác biệt giữa cuộc sốngchiến tranh và hòa bình: “Nếu nh trong chiến tranh chỉ có một câu hỏi duynhất thì bây giờ vô số câu hỏi muôn hình nghìn vẻ dấy lên từ những tầng sâucủa xã hội, tích lũy âm thầm trong những quá trình lịch sử phức tạp và lâudài, bày hết ra trớc con ngời” [111 ; 170] Cuộc sống mới đặt ra những nhucầu mới trong sáng tác và thực tế cho thấy đã có khoảng thời gian dài, tiểuthuyết của chúng ta bị bế tắc về lối viết Nhà văn yêu cầu : “Đã qua rồi thờikì của văn học sử thi đầy chất trữ tình cách mạng trong chiến tranh, mà mờinăm qua văn học sau chiến tranh vẫn còn trôi theo quán tính Phải hìnhthành cho đợc ngôn ngữ mới để nói về hiện thực mới vô cùng phức tạp củaxã hội và con ngời.” [111 ; 171]

Nghiên cứu ý thức cách tân trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975,

Nguyễn Bích Thu nhận định: trên phơng diện đề tài, tiểu thuyết thời kì đổimới đã tiếp cận và khai thác sâu hơn vào cái hiện thực hàng ngày, cái hiện

Trang 5

thực của đời sống cá nhân Các nhà tiểu thuyết đã nhìn thẳng vào nhữngmảnh vỡ, những bi kịch nhân sinh, mổ xẻ, phơi bày nó bằng cái nhìn trungthực táo bạo Các đề tài truyền thống hay hiện đại đều đợc đa vào trờng nhìnmới, hớng những gấp khúc trong đờng đời và thân phận con ngời thấm đẫmcảm hứng nhân văn [111 ; 226] Theo tác giả, văn học đổi mới là giai đoạnchuyển biến từ t duy sử thi sang t duy tiểu thuyết, từ cảm hứng lịch sử dântộc sang cảm hứng thế sự đời t ở giai đoạn lịch sử mới, ngời viết có nhữngchuyển hớng trong nhận thức, t duy về bản thể ngời Các nhà tiểu thuyết ViệtNam đã phá vỡ cái nhìn đơn phiến, để tạo ra một cái nhìn phức tạp hơn, đadiện hơn và vì thế sâu sắc hơn về con ngời

Các công trình nêu trên, ở mức độ nào đó đã cho thấy những đổi thaytrong hệ thống đề tài, chủ đề của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 so với cácthời kì trớc đó : sự xuất hiện những đề tài mới (tình yêu - tình dục, phụ nữvới vẻ đẹp phồn thực…), cách xử lý khác với những đề tài đã có từ trớc (đềtài nông thôn, đề tài chiến tranh, ngời lính…) Cảm hứng sáng tác có nhiềuthay đổi: từ cảm hứng ngợi ca, khẳng định chuyển sang suy t trớc hiện thựcphồn tạp T tởng chủ đề (cách giải quyết vấn đề) cũng thay đổi ý thức thẩm

mĩ mới đã đem lại cảm quan hiện thực mới, đã chi phối sâu sắc việc lựa chọn

đề tài cũng nh giải quyết vấn đề

2.2 Những nghiên cứu về đổi mới hình thức thể loại tiểu thuyết Việt Nam sau 1975

Bên cạnh xu hớng tìm hiểu tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 trong cáinhìn bao quát mối quan hệ văn học - hiện thực là xu hớng tìm hiểu sự vận

động của thể loại này từ góc độ nghệ thuật, hình thức thể loại Những trăn trởcách tân thể loại đã đợc các nhà văn nhận thức sâu sắc và mạnh dạn thểnghiệm qua thực tiễn sáng tác Cách tân thi pháp thể loại chính là đối tợng thuhút phần lớn các nhà nghiên cứu, phê bình tiểu thuyết Việt Nam sau 1975

Trong bài Nhìn lại các bớc đi - lắng nghe những tiếng nói [111 ; 70], La Khắc Hoà cho rằng, những đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam sau

55-1975, xét đến cùng và trớc hết là sự thay đổi trong quan niệm về bản thân thểloại Những đổi mới ấy đợc bộc lộ ở nhiều khía cạnh: mở rộng quan niệmhiện thực, đổi mới quan niệm nghệ thuật về con ngời, đổi mới nghệ thuậttrần thuật và ngôn ngữ, giọng điệu Tác giả đã “lắng nghe” và nhận thấy có

Trang 6

một “tiếng nói to” trong văn học, nhất là tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổimới, nói về cái sai, cái xấu, cái ác; nói về vẻ đẹp phồn thực của cuộc đời trầnthế ; tiếng nói thế sự làm nổi bật cái sự vô lí, phi lí hiện đang tồn tại trên đời.

Đó là những chiều kích khác nhau chi phối hệ thống đề tài của tiểu thuyếtViệt Nam sau 1975

Trong bài Về một hớng thử nghiệm của tiểu thuyết Việt Nam từ cuối

thập kỉ 80 đến nay, theo Nguyễn Thị Bình, “Đa số tiểu thuyết của chúng ta

cho đến nay vẫn chủ yếu cựa quậy trong cái khung thể loại truyền thống: coitrọng việc khám phá nội dung hiện thực qua các tính cách, số phận nhân vật,các mối quan hệ giữa con ngời với hoàn cảnh” [111 ; 212] Đồng thời, tácgiả tiếp cận các quan điểm mới về tiểu thuyết hiện đại, tìm hiểu và ghi nhậnmột số tác phẩm sáng tạo theo hớng thể nghiệm các hình thức tiểu thuyết tròchơi, giả thuyết Từ việc tạo ra hiện thực không đáng tin cậy, trao điểm nhìntrần thuật cho các nhân vật dị biệt hoặc kì ảo, đến việc sử dụng phổ biến bútpháp nhại, bút pháp huyền thoại, trào lộng đã cho thấy, tiểu thuyết ViệtNam dù mới chỉ là những thử nghiệm ban đầu nhng không phải không cónhững thành tựu đáng trân trọng

Nguyễn Thị Bình tiếp tục chú ý đến nét đổi mới thể loại khi tìm hiểu

T duy thơ trong tiểu thuyết Việt Nam đơng đại Theo tác giả, t duy thơ là nét

đặc trng chi phối việc xây dựng thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết, biểuhiện ở nhiều góc độ: sự nổi bật về nhịp điệu; hiện tợng “lạ hoá” đợc dùngphổ biến; hiện thực của những hoài niệm, tiếc nuối và suy cảm Nhà nghiêncứu cho rằng, với những biểu hiện của t duy thơ, “tiểu thuyết Việt Nam đơng

đại một mặt chứng tỏ khát vọng không ngừng khám phá những tiềm năngthể loại, mặt khác nó đánh dấu một sự chuyển đổi quan trọng trong ý niệm

về văn chơng” [21 ; 12]

Cũng trong nghiên cứu ý thức cách tân trong tiểu thuyết Việt Nam

sau 1975, Nguyễn Bích Thu nhận định: trong thực tiễn sáng tác, nhất là

những năm đầu thế kỉ XXI, các cây bút tiểu thuyết đã có ý thức tìm tòi đổimới nghệ thuật và kĩ thuật tiểu thuyết trên cơ sở gắn với nội dung nhân bản,xã hội để thúc đẩy xã hội phát triển, góp phần cách tân và hiện đại hóa vănxuôi Việt Nam hiện đại Trong những cách tân ấy có việc thay đổi lối viết và

sử dụng ngôn ngữ Theo nhà nghiên cứu, so với ngôn ngữ thi ca, ngôn ngữtiểu thuyết có phạm vi hoạt động tự do và linh hoạt hơn Miêu tả cuộc đời vàcon ngời nh nó vốn có, ngôn ngữ tiểu thuyết không chỉ đợc soi sáng bởi

Trang 7

ngôn ngữ tác giả mà còn đợc soi sáng bởi ngôn ngữ nhân vật Tính đối thoạinội tại là một yếu tố cơ bản trong ngôn ngữ tiểu thuyết Tác giả hoàn toànkhông trung lập mà cùng tranh luận với ngôn ngữ nhân vật Ngôn ngữ tiểuthuyết không bao giờ thoả mãn với một ý thức, một tiếng nói, luôn mangtính đa thanh [111 ; 226].

Từ luận án tiến sĩ, phát triển thành chuyên luận, cuốn sách Những

cách tân tiểu thuyết Việt Nam đơng đại của tác giả Mai Hải Oanh đã trình

bày một cách hệ thống những cách tân của tiểu thuyết đơng đại trên các

ph-ơng diện cốt truyện, kết cấu, nhân vật và giọng điệu Đây là công trình quymô nhất tìm hiểu những đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 từ góc

độ thể loại

Có thể thấy, các công trình nghiên cứu nêu trên đều thống nhất trongnhận định tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 có sự “lột xác” để đem lại chomình diện mạo mới Sự cách tân trong nghệ thuật tiểu thuyết đợc hầu hết cácnhà văn ý thức để tự đổi mới mình Cùng với nội dung, hình thức tiểu thuyếtViệt Nam đơng đại đã có sự đổi mới nhiều mặt, bớc đầu tiếp cận với xu hớngvăn chơng hiện đại, hậu hiện đại trên thế giới Những đổi mới trong kết cấu,cốt truyện, ngôn ngữ, giọng điệu, cách miêu tả, xây dựng nhân vật, đã chothấy ý thức cách tân của các nhà văn đối với chính những sáng tác của mình.Những đổi mới ấy gắn với nhu cầu thực tiễn tiếp nhận, xuất phát từ bản thân

đời sống phong phú, phức tạp và cũng từ bản thân sự vận động năng độngcủa thể loại

Nhìn chung, với vai trò chủ đạo trong dòng vận động đổi mới của vănhọc Việt Nam kể từ sau 1975, tiểu thuyết đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu

ở nhiều góc độ, trên nhiều phơng diện Nhìn tổng quan, có thể thấy dù ý kiếncủa các nhà phê bình, nghiên cứu có thể khác nhau, song khá hội tụ và làmnổi bật vị trí của thể loại Từ phác họa bối cảnh văn hoá lịch sử đến việcphân tích những tác phẩm cụ thể; từ cái nhìn bao quát đến chuyên biệt, cụthể, các tác giả phê bình, nghiên cứu đã tiếp cận, vận dụng những quan niệm

lý thuyết mới, đặt tiểu thuyết trong những trờng nhìn mới, từ đó khai thácnhững vỉa tầng ý nghĩa của mỗi sáng tác, những đặc điểm nổi bật của mỗinhà văn, khám phá những xu hớng vận động mới của thể loại Những thànhtựu phê bình, nghiên cứu ấy đã góp phần làm nổi bật diện mạo mới của tiểuthuyết trong bức tranh chung của văn học Việt Nam đơng đại

Trang 8

Các công trình, bài viết đã đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến các loạihình tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 Tuy nhiên, có thể thấy hầu hết những ýkiến đã có thờng mang tính nhận định khái quát, cha có công trình bài viếtnào bao quát trên diện rộng cũng nh những thể hiện chiều sâu làm rõ các loạihình nội dung tiểu thuyết, cha xâu chuỗi thành những luận điểm giàu ý nghĩa

lý thuyết và tiềm năng phơng pháp luận Giải quyết những vẫn đề còn đang

bỏ ngỏ đó cũng chính là nhiệm vụ mà chúng tôi đặt ra trong luận án

3 Đối tợng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Đối tợng nghiên cứu của đề tài là loại hình nội dung tiểu thuyết

Việt Nam sau 1975

3.2. Từ việc xác định đối tợng nh trên, luận án có nhiệm vụ nghiên

cứu những phơng diện loại hình nội dung tiểu thuyết Theo đó, chúng tôi sẽtập trung nghiên cứu để từng bớc đi đến chứng minh cho các giả thuyếtchính sau :

(1) Sự vận động của tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1975 gắn liền với bốicảnh văn hoá - xã hội mới, thị hiếu thẩm mĩ mới của công chúng, trình độthẩm mĩ của nhà văn và chịu tác động của lí thuyết cũng nh những thành tựucủa tiểu thuyết thế giới Trong đó, loại hình nội dung tiểu thuyết Việt Namsau 1975 đã có sự đổi mới so với tiểu thuyết giai đoạn trớc đó với sự khẳng

định vị thế của thể tài đời t (với những dấu ấn ngày càng phong phú, đậm nétcủa các thể tài thế sự, đời t)

(2) Qua các thành tựu tiêu biểu của tiểu thuyết sau 1975, có thể thấynhững vận động đổi mới về đề tài, chủ đề, cảm hứng t tởng và các giá trịthẩm mĩ theo hớng đa dạng hóa Đây chính là một phơng diện biểu hiện tính

đa dạng trong loại hình nội dung tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 so với cụcdiện của bản thân thể loại này trong suốt ba mơi năm chiến tranh

3.3 Nh vậy, phạm vi nghiên cứu của đề tài sẽ là :

- Về mặt lí thuyết, ngoài các công trình về tiểu thuyết của M Bakhtin,

M Kundera, các công trình giới thiệu và nghiên cứu về loại hình nội dungvăn học, về lịch sử phát triển của loại hình nội dung văn học, chúng tôi sửdụng quan niệm loại hình thể loại của G N Pospelov

- Về mặt tác phẩm, chúng tôi tập trung khảo sát các tiểu thuyết tiêubiểu của các tác giả đợc d luận phê bình, nghiên cứu đánh giá cao nh:

Trang 9

Nguyễn Khải, Lê Lựu, Ma Văn Kháng, Bảo Ninh, Chu Lai, Khuất QuangThuỵ, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Khắc Trờng, Dơng Hớng, Nguyễn Việt Hà,Nguyễn Bình Phơng, Tạ Duy Anh, Đào Thắng, Hồ Anh Thái, Nguyễn ThếHoàng Linh, Thuận, nhằm làm rõ những đặc điểm và sự đan xen các loạihình nội dung tiểu thuyết Việt Nam sau 1975.

- Phân tích sự vận động của các loại hình nội dung của tiểu thuyết ViệtNam sau 1975 Trong khi nghiên cứu, để làm sáng tỏ nguyên nhân của sự vận

động đổi mới tiểu thuyết, có thể chúng tôi sẽ bàn đến sự tác động của lí thuyếtcũng nh thành tựu sáng tác tiểu thuyết của nớc ngoài, nhng đây không phảimục đích chính của đề tài Vì vậy, về mặt này, chúng tôi chủ yếu dựa trênnhững kết quả tổng kết, nhận định của một số nhà nghiên cứu uy tín

4 Phơng pháp nghiên cứu

Chúng tôi sử dụng phơng pháp loại hình, thi pháp học hiện đại, tự sựhọc hiện đại, lí thuyết hệ thống, nh những phơng pháp chủ yếu trong quátrình nghiên cứu

- Phơng pháp loại hình : Đây là phơng pháp hình thành và phổ biến

vào thế kỷ XX trong nghiên cứu văn học Phơng pháp này chủ yếu đợc dùng

để phân loại các hiện tợng văn học trên cơ sở chứng minh các nhóm hiện ợng giống nhau theo một tiêu chuẩn nào đó Vận dụng phơng pháp loại hìnhkhi nghiên cứu nội dung tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 sẽ mở ra cơ hội môhình hóa các loại hình nội dung, từ đó nhận diện và đánh giá sự vận độngcủa thể loại này

t Phơng pháp tiếp cận thi pháp học : Thi pháp học hiện đại đã đợc ứng

dụng trong nhiều công trình nghiên cứu ở Việt Nam Văn học, qua sự cắt nghĩa thipháp đã bộc lộ đợc bản chất sáng tạo trong tính quan niệm, giá trị sâu sắc củabản thể văn chơng Những biểu hiện của thi pháp tác phẩm, tác giả, lịch sử vănhọc là căn cứ để xác định loại hình nội dung tiểu thuyết Việt Nam sau 1975

- Phơng pháp tiếp cận hệ thống : Nghiên cứu loại hình nội dung tiểu

thuyết Việt Nam 1975 cần một cái nhìn hệ thống, bởi lẽ mỗi một tác phẩm,mỗi giai đoạn văn học đều có sự đan cài của các thể tài Cái nhìn hệ thốngcũng sẽ giúp chúng tôi lí giải vận động của loại hình nội dung tiểu thuyếtViệt Nam sau 1975

Ngoài ra, các thao tác phân tích, so sánh, thống kê, bình luận, tổng

Trang 10

hợp cũng thờng xuyên đợc vận dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài này.

5 Đóng góp mới của luận án

(1) Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu, hệ thống loại hình nộidung tiểu thuyết Việt Nam sau 1975, góp phần miêu tả quá trình vận độngcủa thể loại

(2) Phân tích một cách hệ thống các loại hình tiểu thuyết Việt Namsau 1975 trên phơng diện nội dung với những biểu hiện đa dạng Luận án lígiải hợp lí sự vận động và phát triển của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975

(3) Những kết quả nghiên cứu có thể đợc sử dụng trong giảng dạy, họctập bộ môn Lý luận văn học và Văn học Việt Nam hiện đại

6 Cấu trúc luận án

Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, luận án gồm 4

ch-ơng :

Chơng 1 Bối cảnh lịch sử - văn hóa và loại hình nội dung tiểu thuyết

Việt Nam sau 1975 (từ trang13 đến trang 48)

Chơng 2 Sức sống của thể tài sử thi trong tiểu thuyết Việt Nam sau

Trang 11

Chơng 1 Bối cảnh lịch sử, văn hóa

và loại hình nội dung tiểu thuyết việt nam sau 1975 1.1 Bối cảnh lịch sử, văn hóa và sự vận động của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975

1.1.1 Bối cảnh lịch sử, văn hóa

Đại thắng mùa xuân năm 1975 kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiếnchống Mĩ cứu nớc, mở ra thời kỳ mới trong lịch sử dân tộc, đồng thời đa vănhọc, nghệ thuật bớc vào chặng đờng phát triển mới Cuộc chiến tranh vệquốc vĩ đại đã đi qua, sau những ngày tháng trờng kỳ trong đạn bom ác liệt,cả dân tộc ta cũng nh mỗi ngời dân trở lại cuộc sống bình thờng trong hoàncảnh hòa bình

Mời năm sau ngày Tổ quốc thống nhất, dới sự lãnh đạo của ĐảngCộng sản Việt Nam, chúng ta từng bớc xây dựng lại đất nớc theo định hớngxã hội chủ nghĩa, dần phục hồi và phát triển các ngành sản xuất, cải thiện đờisống vật chất và văn hoá của nhân dân lao động Trên thực tế, một mặt, donền kinh tế vốn nghèo nàn, lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá liên miên, cộngthêm chính sách cấm vận của Mĩ; mặt khác, do những hạn chế chủ quantrong cải tạo, xây dựng kinh tế, nhìn chung thời kì này đất nớc cha thoát khỏitình trạng khủng hoảng, trì trệ Đời sống văn hoá - văn học cũng không nằmngoài thực trạng đó T tởng xây dựng nền văn hoá mới, con ngời mới đợcquán triệt, song về cơ bản vẫn mang nặng tàn d giáo điều, lạc hậu

Chỉ đến Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam(1986) với những chủ trơng đổi mới toàn diện, đồng bộ từ kinh tế, chính trị

đến t tởng, xã hội thì văn hoá - văn học mới có những điều kiện thực sựchuyển biến Chủ trơng phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo

định hớng xã hội chủ nghĩa vận động theo cơ chế thị trờng, có sự quản lí củaNhà nớc là một quyết sách đúng đắn, tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đờisống xã hội, trong đó có việc hình thành một hệ giá trị văn hoá mới phù hợpvới quy luật vận động của đời sống, đáp ứng nhu cầu bức thiết của con ngờitrong hoàn cảnh mới Tiếp sau Đại hội VI của Đảng là Nghị quyết 05 của Bộchính trị, cuộc gặp của Tổng bí th Nguyễn Văn Linh với đại diện giới vănnghệ sĩ vào cuối năm 1987 đã mở ra cho văn học nghệ thuật dân tộc cơ hội

đổi mới thực sự, trên tinh thần đổi mới t duy, nhìn thẳng vào sự thật Cha bao

Trang 12

giờ vai trò, trách nhiệm của ngời cầm bút và tính chân thực của văn học lại

đợc đặt ra một cách rốt ráo và toàn diện đến thế

Qua các kì Đại hội tiếp theo, đờng lối phát triển kinh tế xã hội khôngngừng đợc bổ sung, hoàn thiện nhằm đa đất nớc ngày càng phát triển xứngtầm với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới Trên phơng diện tổngthể, định hớng phát triển một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộcgắn liền với sự phát triển chung của xã hội, trong đó con ngời đợc giải phóngkhỏi áp bức, bóc lột, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có

điều kiện phát triển toàn diện cá nhân đã đợc nhận thức và biểu hiện thànhnhững biến đổi thực tế Điều đó diễn ra đồng thời với con đờng kế thừa vàphát huy những giá trị truyền thống văn hoá tốt đẹp của tất cả các dân tộcanh em trong đại gia đình Việt Nam, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhânloại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh vì lợi ích và phẩm giá chânchính của con ngời Thành tựu đổi mới cũng cho thấy đó là hệ quả của việckết hợp hài hoà các lợi ích toàn xã hội với lợi ích của các tập thể, của mỗi cánhân; là hệ quả của sự phát huy dân chủ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế,văn hoá, xã hội

Có rất nhiều yếu tố tạo nên sức mạnh của công cuộc đổi mới văn họcViệt Nam từ sau 1975, trong đó không thể không khẳng định vai trò quantrọng của những định hớng phát triển văn học trong chiến lợc phát triển vănhóa của Đảng và Nhà nớc ta Một không khí dân chủ trong đời sống văn hóa

và văn học đã có tác động lớn lao đến đội ngũ những ngời sáng tác Giữa nhàvăn và bạn đọc dần tiệm cận mục tiêu xóa bỏ những ngăn cách, xây dựngquan hệ bình đẳng để rồi những va chạm, tác động của các yếu tố này trongmôi trờng dân chủ thúc đẩy sự phát triển của đời sống văn học Nhiệt tình

đổi mới xã hội, khát vọng dân chủ và tinh thần nhìn thẳng vào sự thật đã lànhững động lực cho văn học thời kỳ đổi mới phát triển mạnh mẽ, sôi nổi

Đây vừa là kết quả, vừa là động lực cho những tìm tòi cách tân trong sángtác, đồng thời gắn bó, tác động qua lại mạnh mẽ với thị hiếu thẩm mĩ và quátrình tiếp nhận của bạn đọc

Sự đổi mới ý thức nghệ thuật nằm ở chiều sâu của đời sống văn hóa,văn học T duy văn học mới dần hình thành, làm thay đổi các quan niệm vềchức năng văn học, về quan hệ giữa văn học và đời sống, nhà văn và bạn

đọc, sáng tác và tiếp nhận Chức năng thẩm mỹ của văn học đợc nhấn mạnh,

Trang 13

coi trọng hàng đầu Các chức năng đa dạng, phong phú của văn học đợc suyngẫm, bàn thảo mong đi đến những lý giải thấu đáo Văn học đợc nhìn nhận

nh là t duy về cái khả nhiên “Văn học không giản đơn chỉ là phản ánh cáckhả năng của hiện thực Làm nh thế văn học sẽ chẳng khác nào chính trị, t-

ơng lai học, xã hội học, Mọi ngời đều biết, t duy chẳng phải gì khác, mà làhành động xuyên qua hiện thực để tiến đến các khả năng bị che giấu trong

đó Nh thế, chỉ nói đến khả năng là cha đủ Điểm đặc thù của văn học còn làsáng tạo những cái khả nhiên của đời sống” [188 ; 21] Những khía cạnh,vấn đề về tính chân thực của văn học, về mối quan hệ giữa văn học và đờisống cũng liên tục đợc bàn luận, bổ sung, tái nhận thức “Chúng ta không thểnói một cách chắc chắn hoàn toàn những gì văn học biểu hiện là chân lý, bởi

đó là nhận thức của nhà văn trong những hoàn cảnh nhất định dới hình thức

h cấu và rất nhiều ngẫu nhiên Nhng ta có thể nói đó là những cái khả nhiên

do tác giả sáng tạo nhằm mở rộng tầm hiểu biết về cuộc sống, giải phóngcon ngời khỏi mọi thói quen trì trệ, mọi cái nhìn bên ngoài, kích thích sự chú

ý đến mọi biến dị và đa dạng của cuộc đời” [188 ; 22] Và đặc tr ng của vănhọc gắn liền với cơ chế của sự phản ánh thẩm mĩ cũng đợc soi sáng trongmối quan hệ đa chiều giữa chủ thể sáng tạo và chủ thể tiếp nhận Có thể nói,mọi phơng diện của đời sống văn học đã đợc nhìn nhận, đánh giá trongnhững quan niệm hiện đại, sản phẩm của một t duy mới về nghệ thuật

Đồng thời, những đổi mới t duy nghệ thuật bắt nguồn từ những đổithay quan niệm văn hóa cũng thúc đẩy mạnh mẽ những tìm tòi, thể nghiệm

về cách tiếp cận và thể hiện thực tại, cách tân thủ pháp nghệ thuật, phát huycá tính sáng tạo, kích thích tài năng và phong cách của các nhà văn Văn hóachính là một trụ cột của đời sống, vừa là động lực, vừa là mục tiêu hớng tớicủa sự nghiệp cách mạng trong thời kỳ đổi mới Môi trờng dân chủ vừa chophép, vừa đòi hỏi sự phong phú, đa dạng trong cách thức, nội dung phát triểnvăn hóa Văn học là một yếu tố năng động của văn hóa Trong môi trờngmới, những điều kiện cũng nh những “áp lực” ấy trở thành nội lực mạnh mẽcho những tìm tòi đổi mới văn học

Cuộc sống trong hoàn cảnh hòa bình đã hình thành lớp công chúng

độc giả với thị hiếu khác trớc Bớc ra khỏi cuộc chiến tranh, con ngời đốidiện với muôn vẻ của một hiện thực rộng lớn, phức tạp Những tác phẩm vănhọc quan niệm cuộc đời một chiều, đơn giản không thể thỏa mãn nhu cầu

Trang 14

phong phú muốn khám phá những bí ẩn của cuộc sống, con ngời Nhu cầu vềcác giá trị thẩm mĩ mới của đời sống thời bình rất phong phú, đa dạng Mỗingời, mỗi điều kiện, hoàn cảnh khác nhau đều có những nhu cầu riêng Điều

đó tác động, ảnh hởng đến cách thức cảm nhận, khám phá, diễn tả, đánh giá

về cuộc sống con ngời ở hiện tại cũng nh khi nhìn về quá khứ

Thị hiếu thẩm mĩ mới gắn liền với t duy mới về văn học, đòi hỏi vănhọc phải chân thật theo đúng nghĩa, đào sâu tận cùng bản thể cá nhân, nơi ẩnchứa những bí mật vô tận về con ngời Năm 1978, tham gia thảo luận cách

thức Viết về chiến tranh, đứng trớc thực trạng độc giả ngoảnh mặt với văn

học, Nguyễn Minh Châu đã mạnh dạn khuấy động bầu không khí quenthuộc của văn học viết về chiến tranh nh đã trở thành quán tính trong suốtnhiều thập kỷ Từ băn khoăn phải viết về chiến tranh nh thế nào, khi mà “tấtcả những vấn đề quy luật của chiến tranh đã phát triển trọn vẹn”, NguyễnMinh Châu đa ra câu trả lời: “phải viết về con ngời” với tất cả những tínhcách đa dạng bấy nay “tạm thời giấu mình trên trang sách” [28 ; 13] Có thểnói, chính thị hiếu thẩm mĩ của công chúng văn học thay đổi theo chiều h-ớng ngày càng phong phú, đa dạng là một trong những động lực quan trọng

để các cây bút bứt phá khỏi bi kịch đánh mất mình, tìm đến những trang viếtchân thực

Trong những năm tháng chiến tranh, độc giả hào hứng tiếp nhậnnhững tác phẩm văn học phản ánh cái chung, những sự kiện lịch sử dân tộc,những tấm gơng anh dũng, phi thờng Hòa bình lập lại, trớc sự đổi thay thịhiếu thẩm mĩ, thay vì phản ánh những số phận cá nhân khuất chìm trong sốphận của cả cộng đồng, các nhà văn lấy số phận cá nhân làm điểm khởi đầu,

là đích đến đồng thời là trung tâm của lăng kính nghệ thuật Càng về sau,trong bối cảnh đổi mới, khi kinh nghiệm thẩm mĩ của độc giả đợc nâng cao,thị hiếu thẩm mĩ đòi hỏi nhà văn không chỉ mang đến cho họ nội dung gì màcòn là viết nội dung nh thế nào thì văn học lại bớc vào cuộc chuyển mìnhmới, theo xu hớng hiện đại, rút ngắn khoảng cách để từng bớc hòa nhập nềnvăn học, văn hóa dân tộc vào dòng chảy chung của nhân loại

Trong bối cảnh văn hóa chung ấy, tiểu thuyết với đặc trng là một cấutrúc ngôn từ “động”, hớng đến tính chất “trò chơi” với khả năng tiếp cận thếgiới đa chiều đã khẳng định sức mạnh và vị thế của mình trong đáp ứngnhững mong muốn của công chúng bạn đọc Từ quan niệm tiểu thuyết tự

Trang 15

“bản thân nó phải là một thế giới thay vì chỉ phản ánh đời sống một cách đơngiản mà nó phải tạo ra nhiều cấp đối thoại” [4 ; 155], các cây bút đã cónhững cách tân rõ nét trên các phơng diện kết cấu tác phẩm Đó là kiểu kếtcấu phức hợp, những kết thúc mở, sự dung nạp các thể loại dị biệt, nội tâmhóa nhân vật, “chơi cấu trúc”, giải cấu trúc, Những tìm tòi đổi mới đã đểlại những thành tựu bớc đầu đợc đông đảo bạn đọc, sau những bỡ ngỡ, đã

nhiệt tình đón nhận Đó là trờng hợp các tiểu thuyết Thiên sứ, Kẻ mắc chứng

điên, Cơ hội của chúa, Cõi ngời rung chuông tận thế,

Đến với tiểu thuyết cùng với thị hiếu mới, nhu cầu đọc và cách đọcmới, độc giả đã thực sự tác động đến sự phát triển của văn học nói chung vàtiểu thuyết nói riêng Điều đó thúc đẩy sự tìm tòi, đổi mới của các cây búttiểu thuyết đơng đại Và ở một khía cạnh khác có thể khẳng định, chínhnhững tìm tòi đổi mới của các cây bút đã tác động tích cực làm thay đổi thịhiếu thẩm mĩ của độc giả Với ý thức cách tân mạnh mẽ, các nhà văn đãsáng tác những tác phẩm hớng đến nguyên tắc đa âm, mở rộng khả năng đốithoại Tính chất này góp phần tạo nên những tiềm năng ý nghĩa khác nhaucho tác phẩm, gợi nên những hồi âm khác nhau, thậm chí trái ngợc nhau ởngời đọc, đồng thời tạo nên những không gian “đồng sáng tạo” trong ý thứctiếp nhận Những tác phẩm ấy đã từng bớc phá vỡ quán tính đọc văn nh quátrình truy tìm chân lý duy nhất, khắc phục tính “đơn âm” nghèo nàn trong tiếpnhận thẩm mĩ Chẳng hạn, khó có thể giải đoán một cách “tận cùng” nội dung

t tởng của những tiểu thuyết nh Thiên sứ của Phạm Thị Hoài Có quá nhiều

biểu tợng, ký hiệu, mô hình trong tác phẩm cho phép và đòi hỏi ngời đọc tíchcực tiếp nhận, lý giải, tạo dựng cách hiểu hợp lý (Bé Hon - Thiên sứ, Quanglùn, Homo A, homo Z, homo spacien, cặp chị em song sinh Hằng - Hoài, nhàthơ Ph., lễ cầu hôn chị Hằng ) Nhà văn khẳng định quan niệm “Thế giới bâygiờ là đa nguyên Tôi không có cách nào khác để kiểm soát hiện thực tốt hơn

là thiết lập những mô hình - tác phẩm của tôi là những mô hình” [53 ; 42]

T-ơng tự nh Thiên sứ, có thể kể Những thiên đờng mù của DT-ơng Thu HT-ơng, Nỗi

buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Chính tính chất nhiều tầng bậc của các lớp

nghĩa tác phẩm đã góp phần dần thay đổi quan niệm đọc văn nói chung vàtiểu thuyết nói riêng của công chúng tiếp nhận Trong tơng tác nhiều chiềucủa đời sống văn học, những cách tân tiểu thuyết đã đợc cộng hởng bởi thịhiếu của độc giả hiện đại

Trang 16

1.1.2 Nhu cầu đổi mới nhìn từ góc độ lí thuyết

1.1.2.1 Quá trình phát triển tự thân của văn học

Từ phía ngời sáng tạo, ý thức lao động nghệ thuật và mong muốn khắcphục hiện trạng nghèo nàn về nghệ thuật khám phá đời sống đã đặt ra nhữngbức xúc tìm tòi đổi mới Trớc đây, cuộc sống thời chiến đầy rẫy khó khăn,gian khổ nhng xét ở một mặt nào đó lại định hình những nét chung, ổn định,

dễ nắm bắt Cuộc sống thời bình với vô vàn tâm trạng phức tạp, những sốphận cá nhân đa dạng đòi hỏi văn học phải có những bớc chuyển thực sựtrong nhìn nhận và biểu hiện con ngời Trớc sự đổi thay mạnh mẽ và toàndiện của đời sống, nhiều nhà văn tự thấy không thể viết theo khuynh hớngthẩm mĩ trớc đó, cần phải đổi mới sáng tác, đổi mới t duy, đổi mới quanniệm và hình thức thể hiện Nguyễn Minh Châu có thể xem là nhà văn đi đầutrong công cuộc biến chuyển lớn lao này Cùng với những suy ngẫm, gửi

gắm qua mỗi tác phẩm của mình những ý tởng đổi mới, trong bài viết Hãy

đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa từng đợc coi là một

hiện tợng chấn động đời sống văn học, Nguyễn Minh Châu kiên quyết giã từ

“tấm chăn mịn màng minh họa một chiều”, giã từ lối viết minh họa chỉ quenvới việc “cài hoa, kết lá, vờn mây” cho những khuôn khổ đã có sẵn NguyễnMinh Châu khẳng định, cổ vũ nhà văn “quyết tâm làm mới lại mình với thái

độ chân thành, cởi mở để cùng nhau xây dựng một giai đoạn văn học vànghệ thuật mới” [26 ; 15] Sự đổi mới ý thức nghệ thuật của đội ngũ sáng tạobắt nguồn từ sự đổi thay các giá trị đời sống đã thực sự mở đờng cho mộtgiai đoạn đổi mới mạnh mẽ trong lịch sử văn học dân tộc

Từ phía ngời tiếp nhận, trớc những nhu cầu đa dạng của một cuộcsống khác trớc, thị hiếu thẩm mĩ đã thay đổi Sự đổi thay ấy là hệ quả củavận động tất yếu trên nhiều phơng diện Trong một bài viết, Nguyên Ngọctừng phát biểu: “Trong chiến tranh, mọi quan hệ xã hội và con ngời dồn lại

và thu hẹp vào một quan hệ duy nhất: sống - chết Ngời ta phải sống phi ờng, phi thờng có thể là cao cả, nhng phi thờng cũng đồng thời là triệt tiêu đibao nhiêu quan hệ bình thờng mà vô cùng phong phú và phức tạp của conngời, đẩy tất cả các quan hệ ấy về phía sau (…) Ngọn lửa chiến tranh thiêucháy cả những nhỏ nhen, nhiêu khê của cuộc sống thờng ngày Hoà bình thìkhác hẳn Hoà bình tức là trở lại đối mặt với cái bình thờng hằng ngày, cáibình thờng mà muôn thủa, tất cả những nhiêu khê của cuộc sống bị che lấp

Trang 17

th-trong chiến tranh bây giờ thức dậy, vây quanh con ngời từng giờ ở khắp mọinơi.” [111 ; 169 – 170] Khác với thời kỳ chiến tranh, khi hoà bình lập lại,con ngời còn có nhu cầu đợc cân bằng giữa giá trị xã hội với giá trị tự nhiên,giữa lí tởng với nhu yếu thông thờng, riêng t Trong bối cảnh đó, nhu cầuthẩm mĩ tất yếu sẽ thay đổi.

Từ kinh tế tập trung, bao cấp chuyển sang kinh tế thị trờng, thị hiếu thẩm mĩ tất yếu đổi thay Kinh tế thị trờng, với quy luật vận hành của nó đã

tác động đến toàn bộ đời sống xã hội Tự do cạnh tranh, thơng mại hoá cáclĩnh vực đời sống xã hội, hiệu quả kinh tế trở thành thớc đo năng lực con ng-ời đều có những tác động tích cực và tiêu cực đến ý thức xã hội Trong tác

động tích cực của nó, kinh tế thị trờng khiến ngời ta buộc phải ý thức caohơn về chất lợng đích thực của cuộc sống, phải quan tâm đến những nhu cầu,thị hiếu khác nhau của con ngời Đồng thời, kinh tế thị trờng cũng tạo ra tínhthực dụng trong quan niệm về giá trị đời sống Tiền bạc len lỏi vào mọi quan

hệ xã hội Tâm lí sòng phẳng, lạnh lùng xuất hiện phổ biến trong quan hệngời với ngời

Sự phân hoá xã hội cũng trở nên mạnh mẽ hơn trong sự phát triển củakinh tế thị trờng Sự hình thành các đô thị hiện đại, nhu cầu sống thị dân hiện

đại, trí thức hiện đại đợc tích cực hoá trong xu thế tất yếu của thơng mạihoá Và khi giá trị kinh tế trở thành tiêu chí thì an sinh xã hội luôn có nguycơ, sự phát triển bền vững đợc đặt ra Có thể nói, ở các mặt tích cực và tiêucực, quy luật kinh tế thị trờng đã tác động mạnh đến sự hình thành thị hiếuthẩm mĩ mới

Từ quan hệ hầu nh chỉ khép kín trong hệ thống các nớc xã hội chủ nghĩa đến chủ trơng mở cửa, hội nhập toàn diện với thế giới, tất yếu nảy

sinh nhu cầu thay đổi thị hiếu thẩm mĩ Sự sụp đổ của Liên Xô và các nớc xã

hội chủ nghĩa Đông Âu không những đã không khiến chúng ta lạc hớng màcòn đã tạo ra những chuyển biến quan trọng trong thái độ đối với các giá trịvăn hoá, t tởng phong phú của thế giới, đặc biệt là phơng Tây hiện đại Đờnglối phát triển kinh tế - xã hội, đờng lối ngoại giao đúng đắn trong bối cảnhquốc tế ngày càng tăng cờng hội nhập, liên kết đa chiều, đa phơng đợc xác

định đã tác động lớn đến sự hình thành hệ giá trị thẩm mĩ mới trong đờisống Sự mở mang đối sánh, sự du nhập ngày càng phong phú các trào lu t t-ởng triết học, mĩ học đã giúp cho trình độ ý thức xã hội không ngừng đợc

Trang 18

nâng cao Nhận thức về giá trị của cuộc sống con ngời, cả trên phơng diện cánhân lẫn phơng diện xã hội, cả quá trình nhận thức lại quá khứ, truyền thốnglẫn hiện tại, tơng lai đã ngày càng thoát khỏi ý thức hệ giáo điều, lạc hậu

để bồi đắp tiềm lực văn hoá, bản lĩnh văn hoá theo hớng tiên tiến, đậm đàbản sắc dân tộc

Tóm lại, bối cảnh lịch sử - xã hội mới từ sau 1975, nhất là từ 1986 đã tấtyếu tạo ra sự thay đổi thị hiếu thẩm mĩ của cả xã hội Một hệ giá trị thẩm mĩphong phú, đa dạng, đáp ứng nhu cầu nhiều mặt của đời sống con ngời, phùhợp với sự phát triển hiện đại của xã hội Việt Nam đã và đang tiếp tục đợc sinhthành Đây là tiền đề thiết yếu tạo ra sự thay đổi hệ thống giá trị thẩm mĩ trong

đời sống văn học Hệ giá trị thẩm mĩ trong nghệ thuật phản ánh lý tởng thẩm

mĩ của thời đại Và xét từ góc độ lý thuyết tiếp nhận, sự thay đổi lý tởng thẩm

mĩ, thị hiếu thẩm mĩ của độc giả chính là động lực cho sự đổi mới văn học.Tiền Trung Văn đã có một khái quát về sự chuyển đổi trong ý thức tiếp nhậncủa thời kỳ hậu chiến đối với văn học Trung Quốc, mà chúng tôi nhận thấynhiều điểm tơng đồng với cục diện vận động của văn học Việt Nam sau 1975 :

“khi ý thức quần thể chính trị liên tục bị giải thể, lại hình thành cực nhanhloại ý thức mang đặc trng quần thể khác, có điều đây là loại ý thức quần thểthẩm mĩ, cũng chính là ý thức thẩm mĩ văn học đại chúng” [224 ; 12]

Từ giữa những năm 80 của thế kỉ XX, cùng với sự xuất hiện và phát triểncủa kinh tế thị trờng, ở Việt Nam đã hình thành một nền văn hoá đại chúng mới.Văn học với tính đại chúng cũng đã xuất hiện Tính đại chúng của văn học từthời đổi mới bộc lộ ở “tính thơng phẩm”, “tính tiêu dùng”, “tính thế tục”, “tínhthông tục”, “tính phục chế” và “tính lu hành rộng rãi” [224 ; 11] Tính đại chúngcủa văn học đổi mới khác với tính đại chúng của văn học chiến tranh cách mạng.Văn học chiến tranh cách mạng vơn tới tính đại chúng ở mục tiêu “phục vụchính trị, cổ vũ chiến đấu”, “hớng về đại chúng, trớc hết là công nông binh” [224

; 14] Trong hoàn cảnh chiến tranh, tính đại chúng của ý thức quần thể chính trị

nh thế đã tỏ rõ sức mạnh tập hợp, đoàn kết nhân dân chung sức vì nhiệm vụ cụthể trớc mắt Nhng sau 1975, ngay cả khi cơ chế kinh tế thị trờng cha xuất hiệnthì văn học mang quán tính ý thức quần thể chính trị đã gặp phải tình trạng ghẻlạnh của công chúng Đại chúng hoá theo ý thức quần thể chính trị đã không cònphù hợp với sự vận động tất yếu của đời sống kinh tế, văn hoá thời bình Bớc vàothời kì đổi mới, tính đại chúng của văn hoá - văn học gắn liền với quy luật của

Trang 19

kinh tế thị trờng đã trở thành một trong những điểm thay đổi quan trọng khiếncho văn học, nhất là văn xuôi phát huy hết sức mạnh từ đặc trng thẩm mĩ của nó.Một hệ quả của tính đại chúng là sự phân hoá của quan niệm văn học và thị hiếuthẩm mĩ của độc giả từ đơn nhất chuyển sang đa dạng

Sự đa dạng của quan niệm văn học, thị hiếu thẩm mĩ của độc giả trongbối cảnh văn hoá thời kinh tế thị trờng đã đợc kích hoạt tích cực với sự mởrộng giao lu đa dạng với văn hoá, văn học, t tởng triết học, mĩ học… nớcngoài, nhất là phơng Tây hiện đại Văn học xuất hiện tính đa khuynh hớng,

đa dạng hoá cái nhìn và thể nghiệm nghệ thuật Bên cạnh những sáng tác

“bác học”, ngời ta còn chấp nhận sự tồn tại của văn chơng thông tục Nhàvăn và độc giả ngày càng có đợc hành lang rộng rãi hơn, tự do hơn trongsáng tạo và thởng thức

Các giá trị thẩm mĩ trở nên đa dạng trong bối cảnh văn hoá - văn họcchịu những tác động, chi phối đa dạng của quy luật phát triển của xã hộihiện đại Sự đổi mới không chỉ biểu hiện ở chỗ nhà văn chủ động khắc phụcnhững mặt khuyết thiếu của văn học trớc 1975 (mặc dù trong thời điểm

“phản sử thi” ý thức này là cần thiết và tất yếu sẽ xảy ra), mà còn là sự vận

động tự thân của quan niệm văn học, đòi hỏi của tính đại chúng mới, sự ảnhhởng của văn hoá - văn học nớc ngoài Tất cả diễn ra trong một thế cục ngàycàng đa dạng cả về đờng lối và thực tiễn

Cùng với sự xuất hiện của lớp bạn đọc mới, những đổi thay từ thị hiếuthẩm mĩ, lý tởng thẩm mĩ đã tạo ra hiện trạng vênh lệch giữa tầm đón đợicủa độc giả và các tác phẩm văn học Đáp ứng những nhu cầu thẩm mỹ mới

là vấn đề sống còn của đời sống văn học, tạo ra sức mạnh tự thân của quátrình đổi mới văn học Việt Nam sau khi hòa bình lập lại

1.1.2.2 Sự tiếp xúc với lí thuyết "ngoại sinh"

Bên cạnh việc tiếp xúc với các tác phẩm văn học nớc ngoài bằng nhiềunguồn khác nhau, không thể phủ nhận vai trò quan trọng của các tác phẩm lýluận văn học nớc ngoài đợc giới thiệu đối với công cuộc đổi mới văn học nóichung, văn xuôi và tiểu thuyết nói riêng Nhờ chủ trơng mở cửa, tăng cờnggiao lu mà nhiều lý thuyết, trờng phái văn học thế giới, nhất là phơng Tây đã

đợc dịch và giới thiệu ở Việt Nam Trong đó, Thi pháp học đợc giới thiệu vàvận dụng rất sớm, từ những năm 80 và đẩy mạnh trong những năm 90, với

Trang 20

các công trình của Trần Đình Sử (Thi pháp thơ Tố Hữu, Dẫn luận thi pháp

học, Thi pháp văn học trung đại, Thi pháp Truyện Kiều), Đỗ Đức Hiểu (Đổi mới phê bình văn học, Thi pháp hiện đại), Đến nay các khái niệm và các

phạm trù của thi pháp học đã trở nên quen thuộc với giới nghiên cứu, phêbình

Ngoài ra cũng phải kể đến Ký hiệu học đợc Hoàng Trinh giới thiệu và

vận dụng vào việc phân tích ca dao và thơ (Ký hiệu học và phê bình văn

học) Trơng Đăng Dung giới thiệu lý thuyết tiếp nhận, Nguyễn Văn Dân

dịch và giới thiệu văn học phi lý phơng Tây, Đỗ Lai Thúy giới thiệu nhiều

quan niệm và cách thức nghiên cứu phê bình văn học nớc ngoài (Sự đỏng

đảnh của phơng pháp), Phơng Lựu giới thiệu Lý luận - phê bình văn học

ph-ơng Tây thế kỷ XX, lý luận văn học cổ điển Trung Quốc Lý luận về tiểu

thuyết của M Bakhtin, M Kundera đã đến với giới nghiên cứu và côngchúng văn học Việt Nam qua các bản dịch của Phạm Vĩnh C, Trần Đình Sử,Lại Nguyên Ân, Nguyên Ngọc Một số công trình dịch nguyên gốc các tácphẩm thuộc các trào lu, trờng phái văn học hiện đại, hậu hiện đại ở phơng

Tây, chẳng hạn Độ không của lối viết (1996), Văn học là gì? của J P Sartre

(1999) … thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và đông đảo bạn đọc

Với sự mở rộng tiếp cận những lý thuyết, quan niệm văn học nớcngoài, phơng pháp phê bình, nghiên cứu văn học đã có sự đổi mới rõ rệt và trởnên đa dạng T duy lý luận văn học vốn ngự trị trong giai đoạn văn học trớc

đó đã thay đổi căn bản Phơng pháp xã hội học vẫn đợc vận dụng, nhất làtrong việc nghiên cứu văn học sử, nhng đã hầu nh giảm hẳn lối vận dụng máymóc, dung tục Thi pháp học, nh trên đã nói trở thành một hớng khá phổ biến

và đã có không ít sự vận dụng thành công Ký hiệu học, phân tâm học, cấutrúc luận tuy cha thực sự đợc biết đến rộng rãi, nhng cũng đã có những côngtrình vận dụng, thể nghiệm đáng chú ý Phê bình mĩ học, phê bình tiểu sử

đóng góp những thành tựu đáng kể Gần đây, những thể nghiệm nghiên cứu,phê bình văn hóa học, nhân học đã bắt đầu đợc quan tâm

Nhìn chung có thể nhận diện một số vấn đề căn bản của sự tiếp xúcvới những lý thuyết “ngoại sinh” cùng những tác động của nó đến lý luận,phê bình, đội ngũ sáng tác và các phơng diện khác của đời sống văn học Nổibật nhất trong công cuộc du nhập của lý thuyết từ bên ngoài vào đời sống

Trang 21

văn học Việt Nam là các lý thuyết hiện đại, hậu hiện đại phơng Tây Cáccông trình về thi pháp học phơng Tây của Đỗ Đức Hiểu, Hoàng Trinh và thipháp học Xô Viết của Trần Đình Sử thực sự có những tác động lớn đến quanniệm về đặc trng văn học của cả ngời tiếp nhận và ngời sáng tạo Nhữngcông trình kết hợp giữa việc dịch và giới thiệu, bình luận t liệu gốc cũngchiếm một vị trí quan trọng Phạm Vĩnh C, Đỗ Lai Thúy, Trịnh Bá Đĩnh, Tr-

ơng Đăng Dung, Nguyễn Văn Dân… là những dịch giả tiêu biểu cho khuynhhớng này

Các công trình lý thuyết đợc dịch và giới thiệu ở Việt Nam trong thời

kỳ này không chỉ tác động, kích thích đổi mới ngành lý luận phê bình vănhọc, mà cũng ảnh hởng trực tiếp đến đời sống văn học ở cả phía ngời đọc vànhững ngời cầm bút Về điểm này chúng tôi tán đồng nhận định xác đángcủa nhà nghiên cứu Phơng Lựu: “Về t duy nghệ thuật của nhà văn, trớc đâychỉ thấy t duy hình tợng, nay đợc chứng minh rõ ràng đó chỉ là cơ sở, cònphải tiếp tục thu nạp những yếu tố của các loại t duy khác nh thể nghiệm,logic đa trị, trực giác, vô thức… để tạo cho đợc một loại t duy mang tínhchỉnh thể, mở ra những khả năng tối đa cho việc xây dựng những hình tợngsinh động và sâu sắc về muôn mặt cuộc đời Để đi đến kết luận đó, đã phảikhai thác từ những ý kiến và quan niệm từ nhiều nguồn khác nhau” [116].Chính sự mở rộng và tích cực tiếp xúc ở nhiều cấp độ, phơng diện của nềnvăn học trong bối cảnh lịch sử, văn hóa mới đã thúc đẩy sự phát triển của vănhọc nói chung và tiểu thuyết nói riêng Các mối quan hệ bản chất của đờisống văn học đã đổi khác tất nhiên sẽ dẫn tới sự thay đổi loại hình nội dungcác tác phẩm văn học

1.1.3 Khái quát sự vận động của tiểu thuyết trong diện mạo chung của văn học Việt Nam sau 1975

1.1.3.1 Văn học với sự nở rộ của văn xuôi

Bớc ra khỏi chiến tranh, văn học đối mặt với đòi hỏi khai phá, biểuhiện hiện thực cuộc sống bộn bề những sự kiện, những vấn đề của đời thờng

Từ khoảng đầu những năm 80, cuộc sống thời bình đã thực sự trở lại, các nhàvăn đã tỏ ra nhạy cảm khi đi sâu vào những nẻo khuất trong cuộc sống nhânsinh phồn tạp Từ thể tài lịch sử dân tộc vốn giữ vai trò chủ đạo và chi phốimọi bình diện của đời sống văn học, các nhà văn đã chuyển sự quan tâm

Trang 22

sang thể tài thế sự, đời t

Trớc xu thế văn hóa mới với những đòi hỏi bức thiết về tính chânthực và hiện đại của văn học, văn xuôi thể hiện rõ u thế trong cách “nhìnthẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” đã bớc vào thời kỳbùng nổ và hứa hẹn những thành tựu xứng tầm Với sự đổi mới sâu sắctrong quan niệm về hiện thực, văn xuôi đã vợt qua tình trạng bị lệ thuộc vào

đề tài, vào một sự “định vị” sẵn có, mở ra khả năng vô hạn trong sự khámphá và thể hiện hiện thực đời sống muôn mặt và muôn vẻ Và khi đã v ợtthoát khỏi sự “bao cấp” về đề tài, chủ đề, văn xuôi đợc khai phóng nhữngkhả năng bản chất trên hành trình khám phá sự phức tạp, đa chiều của thế

sự và những bí ẩn không cùng trong tâm hồn con ngời, đáp ứng những nhucầu, thị hiếu thẩm mĩ mới mẻ của ngời đọc Văn xuôi nói chung, tiểuthuyết nói riêng thời kỳ đổi mới vận động theo hai xu hớng: xu hớng phản

sử thi và xu hớng hiện đại, tiệm cận với những thành tựu văn học đơng đạithế giới

Khuynh hớng phản sử thi tụ hợp các cây bút tiểu thuyết tiêu biểu củavăn học sử thi giai đoạn trớc - những ““ca sĩ” đã dũng cảm “vặn cổ bài cacủa chính mình” [140], chuyển sang chú ý khai thác cuộc đấu tranh giữa cáithiện và cái ác, cái xấu và cái đẹp trong niềm tin về sự thắng lợi của cái

đẹp, cái thiện Về vấn đề này, Lã Nguyên có một ý kiến đáng lu ý: “Chắc aicũng thấy, trong sáng tác của một loạt nhà văn nh Lê Lựu, Nguyễn Khắc Tr-ờng, Nguyễn Mạnh Tuấn, Ma Văn Kháng, Nguyễn Minh Châu,…, hệ thốngnhân vật thờng đợc chia thành hai tuyến “chính diện” và “phản diện” ở một

số tác phẩm, nếu nhân vật không chia thành hai tuyến đối lập nh thế thì ngời

kể chuyện lập tức đợc biến thành hình tợng lí tởng Kết cấu ấy nh nói với

ng-ời đọc, cái xấu, cái ác vẫn là cái phi tồn tại, mặt tối của hiện thực xã hội đợc

nhà văn khai thác chẳng qua là để kể cho ta nghe câu chuyện về một thế giớinơi cái “chính” dứt khoát thắng đợc cái “tà”, sau trận sóng thần, lũ quét,dòng sông cuộc đời lại thênh thang chảy về đại dơng “chân”, “thiện”, “mĩ”

Ta hiểu vì sao, tác phẩm của họ thờng đợc kết thúc theo kiểu có hậu Trongcảm quan của nhiều tác giả văn học thời đổi mới, ngôi nhà mà ta đang c ngụtuy có dột nát, nghiêng lệch, nhng chỉ cần tu chỉnh, sửa sang là nền cốt lạivững chắc, chẳng phải di dời đi đâu Tôi xếp những tác giả ấy vào hàng ngũ

những cây bút góp phần đổi mới văn học theo xu hớng phản sử thi” [140].

Trang 23

Trong khi đó, một số cây bút tiểu thuyết khác thực sự bứt mình trongnhững thể nghiệm vợt thoát, chối bỏ t duy nghệ thuật truyền thống để khámphá, biểu hiện hành trình của con ngời hiện đại Tiêu biểu cho xu hớng này

có thể kể đến Nguyễn Bình Phơng, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Việt Hà, HồAnh Thái, Thuận “Tuy cùng khai thác một loại chất liệu, nhng NguyễnHuy Thiệp, Phạm Thị Hoài và nhiều nhà văn cùng thời lại kể cho côngchúng những câu chuyện hoàn toàn khác nhau Chẳng những thế, chuyện kểcủa Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài còn bộc lộ một tâm trạng, thể hiệnmột kiểu cảm quan đời sống mà ta không thể tìm thấy trong các câu chuyệncủa Ma Văn Kháng, Nguyễn Minh Châu, hay trong sáng tác của NguyễnMạnh Tuấn, Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trờng,…” [140] Đây chính là xu hớnghiện đại của văn xuôi Việt Nam sau 1975 trên hành trình đổi mới cùng nhucầu bức thiết nhằm bắt kịp với sự phát triển của văn học thế giới

1.1.3.2 Sự vận động của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975

Trong diện mạo chung của văn xuôi đơng đại, tiểu thuyết Việt Nam thờihậu chiến trải qua những thăng trầm trong quá trình đổi mới Độ lùi tơng đối vềthời gian đã cho phép hình dung các giai đoạn phát triển chính của tiểu thuyếtViệt Nam sau 1975

Khoảng 10 năm sau chiến tranh là giai đoạn “giao thời”, cũng nh vănhọc nói chung, tiểu thuyết dù cố gắng sáng tạo vẫn cha vợt thoát từ trờng củavăn học 1945 - 1975 Những cây bút tiểu thuyết đã thành danh trong giai đoạntrớc là lực lợng chính yếu làm nên thành tựu tiểu thuyết giai đoạn này Theo

“quán tính” thời chiến tranh, tiểu thuyết Việt Nam những năm 1975 - 1986vẫn thờng nghiêng về các sự kiện lịch sử - xã hội, về sự bao quát hiện thựctrong một diện rộng, cảm hứng sử thi vẫn chiếm vị trí đáng kể trong t duy

nghệ thuật của nhà văn qua các tác phẩm: Năm 1975 Họ đã sống nh thế (Nguyễn Trí Huân), Miền cháy (Nguyễn Minh Châu), Trong cơn gió lốc (Khuất Quang Thuỵ), Đồng bạc trắng hoa xoè (Ma Văn Kháng) Tính chất

chuyển tiếp từ nền văn học cách mạng trong chiến tranh sang nền văn họccủa thời kỳ hậu chiến thể hiện rõ ở cả đề tài, cảm hứng, các phơng thức nghệthuật Nửa cuối thập kỷ 70, tiểu thuyết Việt Nam về cơ bản vẫn tiếp tục pháttriển theo những quy luật và với những cảm hứng chủ đạo thời chống Mỹcứu nớc Khuynh hớng sử thi vẫn đợc tiếp tục nhng mờ nhạt dần với một loạitiểu thuyết, kí sự, hồi ký về chiến tranh Có thể kể một số tác phẩm tiêu biểu:

Trang 24

Năm 1975 họ đã sống nh thế (Nguyễn Trí Huân), Họ cùng thời với những ai

(Thái Bá Lợi), Đất miền Đông (Nam Hà), Tháng ba ở Tây Nguyên (Nguyễn Khải), Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Miền cháy (Nguyễn Minh Châu)

Tất nhiên, tiểu thuyết sử thi ra đời sau 1975 cũng có những khác biệt nhất

định so với loại hình ấy ở giai đoạn trớc Bên cạnh nhu cầu tái hiện lịch sử,nhà văn có điều kiện tập trung vào xây dựng tính cách nhân vật, phân tích và

lí giải về các sự kiện, biến cố lịch sử Từ đỉnh cao của chiến thắng trọn vẹn,nhìn lại và tái hiện những khó khăn, tổn thất, thậm chí cả những thất bại tạmthời của ta trong cuộc chiến tranh, cũng chính là cách khẳng định những giátrị lớn lao của sự hy sinh và ý nghĩa vĩ đại của chiến thắng Bên cạnh đó, một

số cây bút đã đề cập kịp thời những vấn đề mới nảy sinh trong buổi giao thời

từ chiến tranh sang hoà bình Cuộc sống ở mọi nơi hiện ra không chỉ có niềmvui của hoà bình, chiến thắng, đoàn tụ mà còn với bao phức tạp, khó khăn và

cả những mâu thuẫn mới nảy sinh (Những khoảng cách còn lại của Nguyễn Mạnh Tuấn, Miền cháy của Nguyễn Minh Châu) Bớc vào những năm đầu

thập kỷ tám mơi, tình hình kinh tế - xã hội của đất nớc gặp nhiều khó khănchồng chất và rơi vào khủng hoảng ngày càng trầm trọng Đây là khoảngthời gian mà Nguyên Ngọc gọi là "khoảng chân không" trong văn học Nhngcũng chính trong những năm này đã diễn ra sự vận động ở chiều sâu của đờisống văn học, với những trăn trở vật vã, tìm tòi thầm lặng mà quyết liệt ởmột số nhà văn mẫn cảm với đòi hỏi của cuộc sống và có ý thức trách nhiệmcao về ngòi bút của mình Những tìm tòi bớc đầu ấy đã mở ra cho văn họcnhững hớng tiếp cận mới với hiện thực nhiều mặt, đặc biệt là hiện thực đờithờng với những vấn đề đạo đức - thế sự đang nổi cộm, đòi hỏi văn học phảinhận thức, khám phá

Giai đoạn phát triển thứ hai của tiểu thuyết sau 1975 là khoảng 10 nămtiếp theo, 1986 - 1995 Những thành tựu mới mẻ của các cây bút truyện ngắn,tiêu biểu là sáng tác của Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh

nh sự dần tích lũy những kinh nghiệm nghệ thuật cho sự phát triển của tiểuthuyết giai đoạn này, theo hớng nhận thức lại hiện thực với cảm hứng phêphán mạnh mẽ trên tinh thần nhân bản Đáp ứng yêu cầu nhìn thẳng vào sựthật, nhiều cây bút đã nhìn lại hiện thực của thời kỳ vừa qua, phơi bày nhữngmặt trái còn bị che khuất, lên án những lực lợng, những t tởng và thói quen

đã lỗi thời, trở thành vật cản trên bớc đờng phát triển của xã hội Tiểu thuyết

Thời xa vắng của Lê Lựu đợc coi là tác phẩm khơi dòng cho khuynh hớng

Trang 25

này, đã trở thành sự kiện văn học nổi bật những năm 1986 - 1987 Tiếp đó làhàng loạt tiểu thuyết và truyện ngắn xuất hiện trong những năm cuối thập kỷ

80, đầu 90: Bến không chồng của Dơng Hớng, Đám cới không có giấy giá

thú của Ma Văn Kháng, Những thiên đờng mù của Dơng Thu Hơng, Bớc qua lời nguyền của Tạ Duy Anh Chiến tranh cũng đợc nhận thức lại từ sự tác

động ghê gớm của nó đến tính cách và số phận con ngời, với bao nỗi éo le,

bi kịch xót xa, nỗi buồn dai dẳng (Cỏ lau và Mùa trái cóc ở miền Nam của Nguyễn Minh Châu, Thân phận của tình yêu của Bảo Ninh…) Sự khủng hoảng của xã hội qua việc thay đổi các giá trị và lối sống đợc phơi bày (Tớng

về hu, Không có vua của Nguyễn Huy Thiệp) Những bức tranh hiện thực với

nhiều mảng tối trớc đây thờng bị khuất lấp, nay đã hiện ra trên nhiều trang

tiểu thuyết (Bến không chồng của Dơng Hớng, Mảnh đất lắm ngời nhiều ma của Nguyễn Khắc Trờng, Đám cới không có giấy giá thú của Ma Văn

Kháng…) với bao điều xót xa và cả sự nhức nhối mà các tác giả muốn thứctỉnh trong mỗi ngời đọc cũng nh toàn xã hội, để có thể dứt khoát vợt qua cái

"thời xa vắng" vốn cha xa là mấy Tiếp tục hớng tiếp cận đời sống trên bìnhdiện thế sự - đời t đã đợc mở ra ở nửa đầu những năm 80, nhiều cây bút đãthể hiện mọi khía cạnh của đời sống cá nhân và những quan hệ thế sự đandệt nên cuộc sống đời thờng phồn tạp Một số tiểu thuyết đợc đánh giá lànhững báo hiệu cho một thời kỳ nở rộ của tiểu thuyết trong giai đoạn tiếp theo

Có thể kể đến Cù lao Tràm, Mùa lá rụng trong vờn, Thời xa vắng

Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới chỉ thực sự phát triển mạnh mẽ vớinhững thành tựu đáng kể từ khoảng đầu những năm 90 của thế kỷ XX Bắt đầu

từ Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, có thể nói tiểu thuyết bắt đầu bớc vào

giai đoạn thu hoạch của mình với hàng loạt các cây bút đã thành danh và khẳng

định đợc mình trong địa hạt này Có thể kể đến Chu Lai, Dạ Ngân, Tạ DuyAnh, Nguyễn Bình Phơng, Hồ Anh Thái, Phạm Thị Hoài, Châu Diên, Thuận,

Bao quát trên những nét lớn sự vận động và phát triển của tiểu thuyếtViệt Nam sau 1975 có thể nhận diện những khuynh hớng vận động cơ bản Sau

1975, khuynh hớng sử thi vẫn đợc tiếp tục trong khoảng mời năm đầu sau chiếntranh với một loạt tiểu thuyết về chiến tranh Có thể kể đến một số tác phẩm

tiêu biểu : Miền cháy (Nguyễn Minh Châu), Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh),

Thợng Đức (Nguyễn Bảo), Ngày rất dài (Nam Hà), Lạc rừng (Trung Trung

Trang 26

Đỉnh), Khuynh hớng sử thi tuy có sự mờ nhạt dần, nhng cũng đã góp vào bứctranh chung của tiểu thuyết những thành tựu nhất định, trong đó có một số tácphẩm đã thu hút đợc sự chú ý rộng rãi của công chúng Tuy nhiên, tiểu thuyết

sử thi sau 1975 đã có những đổi mới nhất định so với giai đoạn trớc đó Bêncạnh nhu cầu tái hiện lịch sử, nhà văn có điều kiện tập trung vào xây dựng tínhcách nhân vật, phân tích và lý giải về các sự kiện, biến cố lịch sử

Trong sự vận động của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 nổi lên khuynh

h-ớng tiểu thuyết lịch sử Từ điển thuật ngữ văn học quan niệm : “Các tác phẩm

viết về đề tài lịch sử này có chứa đựng các nhân vật và các chi tiết h cấu, tuynhiên nhân vật chính và sự kiện chính thì đợc sáng tạo trên các sử liệu xác thựctrong lịch sử, tôn trọng lời ăn tiếng nói, trang phục, phong tục, tập quán phùhợp với giai đoạn lịch sử ấy Tác phẩm văn học lịch sử thờng mợn chuyện xanói chuyện đời nay, hấp thu những bài học quá khứ, bày tỏ sự đồng cảm vớinhững con ngời và thời đại đã qua, song không vì thế mà hiện đại hóa ngời xa,phá vỡ tính chân thực lịch sử của thể loại này” [60 ; 302] Nh vậy, tiểu thuyếtlịch sử mang những đặc trng sau : 1/ viết về đề tài lịch sử trong quá khứ ; 2/ nhàvăn sáng tác trên cơ sở nguồn dữ liệu lịch sử nhằm đảm bảo tính chân thực lịch

sử ; 3/ nhà tiểu thuyết có quyền h cấu để làm cho tác phẩm sinh động; 4/ tiểuthuyết lịch sử dù nói chuyện xa nhng vẫn hớng đến biện giải những vấn đề hiệntại So với giai đoạn trớc đó, tiểu thuyết lịch sử đã có bớc phát triển mạnh mẽ vềchất lợng Trong văn học giai đoạn trớc, tiểu thuyết lịch sử biểu hiện cái nhìnthống nhất cách đánh giá đồng chiều với những nhận định đã trở thành chân lýlịch sử Trong tiểu thuyết lịch sử sau 1975, quan niệm và cách đánh giá mang

đậm dấu ấn cá nhân Các tác phẩm Sông Côn mùa lũ (Nguyễn Mộng Giác), Hồ

Quý Ly, Mẫu thợng ngàn (Nguyễn Xuân Khánh), Giàn thiêu (Võ Thị Hảo),

đã gây ấn tợng mạnh không chỉ bởi dung lợng đồ sộ mà còn bởi sự nhạy cảm,

sự mạnh dạn thể nghiệm tiềm năng thể loại của các tác giả

Nhận thức lại chính là một khuynh hớng nổi bật khác trong tiểu thuyếtViệt Nam sau 1975 Các vấn đề của đời sống đã đợc nhận thức lại trên tinh thần

hiện đại mà tiểu thuyết giai đoạn trớc đã bỏ qua Tiểu thuyết Thời xa vắng của

Lê Lựu có thể xem là tác phẩm khơi dòng cho khuynh hớng này Tiếp đó là

hàng loạt các tiểu thuyết trong những năm cuối thập kỷ 80 và 90 nh: Bến không

chồng của Dơng Hớng, Đám cới không có giấy giá thú (Ma Văn Kháng), Những thiên đờng mù (Dơng Thu Hơng), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh),

Trang 27

Chim én bay (Nguyễn Trí Huân), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai) vẫn là những

mảng hiện thực từng đợc quan tâm Tuy vậy, tiểu thuyết giai đoạn này đã nhìnnhận lại các giá trị quá khứ Giờ đây các nhà tiểu thuyết nhìn nhận các giá trịtrong thế bình đẳng nh nó vốn có Tác giả Mai Hải Oanh định danh khuynh h-ớng này là những tiểu thuyết tự vấn và phân tích những khía cạnh chủ yếu của

nó Theo tác giả, các tiểu thuyết này tập trung: “Thứ nhất, nhìn nhận lại nhữngsai lầm, ấu trĩ trong quá khứ nh các cuộc vận động chính trị, chiến tranh, cảicách ruộng đất đã khiến bao ngời rơi vào bi kịch dở khóc dở cời [ ] Thứ hai,khuynh hớng tự vấn đặt ra nhiều câu hỏi nhức buốt về con ngời trong xã hộihiện đại: con ngời sẽ tồn tại ra sao trớc những tác hại của xã hội tiêu dùng, lốisống thực dụng, sức mạnh kim tiền trong thời buổi kinh tế thị trờng [ ] Thứ

ba, nhiều tác phẩm lên tiếng châm biếm những nét tâm lí không lành mạnhtrong bản tính ngời Việt, giải phẫu những nhân cách méo mó, những vấn nạn

đạo đức, thái độ phủ nhận quyền cá nhân của con ngời ” [170 ; 69 - 70] Cóthể nói tiểu thuyết tự vấn là một khuynh hớng quan trọng trong vận động đổimới của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975

1.2 Tiếp cận loại hình nội dung của thể loại tiểu thuyết

1.2.1 Về loại hình nội dung của tiểu thuyết

1.2.1.1 Về thể loại tiểu thuyết

Tiểu thuyết là khái niệm thể loại chỉ những tác phẩm “tự sự cỡ lớn cókhả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thờigian” [60 ; 328] M Bakhtin trong một phần quan trọng các công trình củamình đã tập trung phân tích và biện giải sâu sắc về những đặc trng của t duytiểu thuyết Nhà bác học này cho rằng: “có ba đặc điểm cơ bản làm cho tiểuthuyết khác biệt về nguyên tắc so với tất cả các thể loại khác : 1/ tính bachiều có ý nghĩa phong cách học tiểu thuyết, gắn liền với ý thức đa ngữ đợcthể hiện trong tiểu thuyết; 2/ sự thay đổi cơ bản các toạ độ thời gian của hìnhtợng văn học trong tiểu thuyết; 3/ chính là khu vực tiếp xúc tối đa với cáihiện tại (đơng đại) ở thì không hoàn thành của nó.” [60 ; 328]

Trong tơng quan so sánh thể loại, các đặc trng tiểu thuyết đợc minh

định từ vấn đề “khoảng cách sử thi” Đặc biệt, trong khi phân tích mối quan

hệ với thời hiện tại, tác giả đã có một lu ý đáng chú ý : “cũng có thể tri giác

“thời đại của chúng ta” nh một thời đại sử thi anh hùng, từ giác độ ý nghĩa

Trang 28

lịch sử của nó, tri giác từ xa, từ cự ly thời gian (không phải bằng con mắtmình, con mắt ngời đơng thời, mà dới ánh sáng tơng lai); cũng có thể tri giácquá khứ một cách thân mật (nh cái hiện tại của ta) Nhng làm nh thế tức làchúng ta tri giác không phải hiện tại trong hiện tại và không phải quá khứtrong quá khứ: chúng ta ly gián mình ra khỏi “thời đại của chúng ta”, khỏikhu vực nó tiếp xúc bình dị với ta.” [11 ; 36 - 37] Nh vậy, chính cảm quannghệ thuật với sự xoá bỏ khoảng cách cấm kị trong một loạt những mối quan

hệ đặc trng của văn học đã hình thành một t duy văn học mới mẻ, với khảnăng tái sinh mạnh mẽ nh chính tính năng sản của thể loại vốn đợc xem lànằm ở đờng biên của cấu trúc các thể loại chính thống này theo nh mô hình

lễ hội Cácnavan [189 ; 12] Tiểu thuyết bao hàm những sự dang dở, diễn tiếncủa thời hiện tại cha hoàn thành Và cũng bởi vậy, cảm quan đời t và chấtvăn xuôi phồn tạp chính là những đặc trng căn bản của tiểu thuyết

Quan niệm dân chủ và sự “tiêu diệt khoảng cách sử thi” mang lạimột kiểu t duy nghệ thuật đặc biệt, t duy đối thoại mà bản thân nó có khảnăng “mang một chiều sâu nhân văn mới hẳn so với nghệ thuật truyềnthống mà chúng ta có thể gọi chung là kiểu t duy nghệ thuật độc thoại”[60 ; 333] Dựa trên sự phân tích và chứng minh từ trờng hợp tiểu thuyếtcủa Đoxtoiepxki, "lý thuyết đối thoại của M Bakhtin đã nêu lên bản chất

đối thoại của ý thức và ngôn ngữ, vạch ra các hình thức đối thoại, từ đó, đặtnền móng cho việc phân tích ngôn ngữ theo những bình diện mới" [60 ;333] Đặc biệt M Bakhtin đã phân biệt hai loại đối thoại, bao gồm đốithoại lớn (đối thoại quy mô rộng - large-scale dialogue) với đối thoại củanhân vật (đối thoại tiểu tiết - micro-tipe dialogue) [225 ; 11] "Đối thoại lớn

là đối thoại có tính bản chất giữa đời sống loài ngời và bản thân t tởng củaloài ngời, tức là quan hệ đối thoại bình đẳng của các t tởng loài ngời trongcuộc sống [ ] Đối thoại này vợt lên trên các đối thoại cụ thể Đối thoại lớncòn là quan hệ đối thoại giữa tác giả và nhân vật [ ] Sự đối thoại xâmnhập trong từng phát ngôn, trong từng từ đợc gọi là "tiểu đối thoại" [183 ;345]

M Kundera trong những luận điểm của mình cũng khẳng định, hình ợng tiểu thuyết là hình tợng có tính nớc đôi của cuộc sống nhân thế mà nó

t-trình bày chứ không phải chứng minh Nó chỉ t-trình bày chứ chẳng phải "đi

chứng minh" cho bất cứ một cái gì trong cuộc sống nhân thế có tính nớc đôi

ấy Thành ra luận lí có tính quyết định luận không bao giờ đủ khả năng để

Trang 29

phán định chính xác, trọn vẹn cái tôi tởng tợng Khi phải phán định, luận lý

chỉ có thể ở trong tình thế nhập nhằng "hoặc là thế này hoặc là thế kia",

"hoặc là tốt, hoặc là xấu", "hoặc là thiện, hoặc là ác" Tình trạng nhậpnhằng, "hoặc là" nh thế là tình trạng bất lực của luận lý đối với hình tợngtiểu thuyết Tình trạng bất lực ấy do khả năng sống hồn nhiên, sinh động, mơ

hồ và đặc biệt là đa nghĩa của hình tợng tiểu thuyết Khả năng ấy làm nên

ma lực mãi mãi hấp dẫn của tiểu thuyết

Tóm lại, tiểu thuyết là thể loại khai thác đối tợng ở thời “hiện tại chahoàn thành” Tiểu thuyết không tồn tại những phán xét cuối cùng về chân lý

đời sống Với tinh thần dân chủ nh một đặc trng bản chất của thể loại, tiểuthuyết mang “tính mở”, có thể thu hút, làm mới nhiều thể loại văn học khác.Bên cạnh đó, tinh thần dân chủ của tiểu thuyết là tiền đề cho sự đối thoạibình đẳng giữa các giọng điệu, lập trờng tác giả và giọng điệu, lập trờngnhân vật với t cách là những chủ thể t tởng ngang hàng, không bên nào cóquyền áp đặt bên nào

1.2.1.2 Về khái niệm loại hình nội dung

Thể loại là một vấn đề quan trọng khi xem xét sự vận động của lịch sửvăn học Và “theo quan điểm hiện nay, thể loại văn học không chỉ là hiện t-ợng phân hóa về phơng thức phản ánh, phơng thức tổ chức tác phẩm, mà trớc

hết là một quan điểm đối với đời sống đã đợc cố định hóa” [187 ; 65].

Pospelov khi chú ý đến nội dung thể loại đã phân biệt ba thể tài cơ bản khixem xét toàn bộ lịch sử phát triển của văn học nói chung và tự sự nói riêng

Khi bàn đến các thể tài tự sự, Pospelov khẳng định “do tính chất rộngrãi của việc miêu tả tính cách trong các tác phẩm tự sự, nên so sánh với kịch

và trữ tình, chủ đề thể tài của tự sự bộc lộ đặc biệt rõ rệt Chủ đề này biểuhiện trong những hình thức thể tài hết sức khác nhau, dù có gần gũi với nhau

về nội dung” [177 ; 394] Pospelov cũng đa ra những tiêu chí để phân loạicác thể tài thuộc các loại hình nội dung của tác phẩm tự sự Theo Pospelov,trong tiến trình văn học nhân loại đã xuất hiện ba thể tài chính tơng ứng với

ba loại hình nội dung đời sống của con ngời Mỗi một loại hình nội dung đờisống của con ngời đợc quan niệm nh một kiểu quan hệ của con ngời với thếgiới

Trang 30

Kiểu quan hệ thứ nhất: Kiểu quan hệ lịch sử dân tộc (thể tài sử thi) làkiểu quan hệ giữa con ngời của cộng đồng này với con ngời thuộc cộng đồngkhác, dân tộc này với dân tộc khác Pospelov cho rằng: “ở giai đoạn phát

triển ban đầu, trong loại hình tự sự đã xuất hiện các thể tài lịch sử dân tộc

miêu tả con ngời trong quá trình tham gia tích cực vào các sự kiện của đờisống dân tộc Mối liên hệ này bộc lộ đặc biệt rõ rệt trong các tình huống lịch

sử cụ thể: trong chiến tranh giải phóng dân tộc, trong phong trào cách mạng;

đó cũng thờng là những cái lõi cốt truyện của các tác phẩm loại này Trongtính cách của các nhân vật chính, cái đợc nhấn mạnh là những hành động vàkhát vọng của họ gắn liền với lý tởng tập thể chung của dân tộc” [177 ; 395]

Có thể thấy, thể tài lịch sử - dân tộc “đề cập đến quá trình hình thành dântộc, đấu tranh để bảo vệ và xây dựng đất nớc, quốc gia, đề cập tới các sựkiện đấu tranh giai cấp, chiến tranh, cách mạng, có ảnh hởng tới vận mệnhdân tộc” [183 ; 65]

Kiểu quan hệ thứ hai: Kiểu quan hệ thế sự (thể tài thế sự - phong tục)

Đây là kiểu quan hệ giữa tầng lớp này với tầng lớp khác, bộ phận ngời nàyvới bộ phận ngời khác trong những mối quan hệ dân sự Pospelov nêu rõ:

“Về sau, trong loại hình tự sự bắt đầu phát triển các thể tài thế sự Nếu trong

các thể tài lịch sử - dân tộc, qua các nhân vật anh hùng, xã hội đợc trình bàytrong sự phát triển, trong cuộc đấu tranh để thực hiện các nhiệm vụ của toànthể dân tộc, thì trong các thể tài thế sự, tức là các thể tài ra đời muộn hơn, cái

đợc tái hiện chủ yếu là trạng thái tơng đối ổn định của toàn thể xã hội haymột môi trờng xã hội cụ thể nào đó Và tình trạng này bao giờ cũng đợc tácgiả đánh giá nh thế nào đấy; các tác phẩm mô tả phong tục thấm nhuần cảmhứng t tởng khẳng định hoặc phủ định” [177 ; 398] Điều đó có nghĩa, khicác vấn đề quốc gia đã định hình, tức những xung đột mang tầm dân tộc đã

ổn định thì các vấn đề quan hệ giữa giai cấp, thành thị và nông thôn, quan hệgiữa các tầng lớp ngời trong xã hội và cách ứng xử của họ, các vấn đề đạo

đức, luân lý, văn hóa đợc đề cập và khai thác Đó chính là những tác phẩmthuộc thể tài đạo đức - thế sự Các tính cách trong thể tài thế sự “thờng mangtính đại diện rất rõ, các nhân vật của nó là những đại biểu của môi trờngmình, là sự thể hiện các khuyết điểm hoặc phẩm chất tốt đẹp của môi trờngxã hội ấy” [177 ; 398]

Trang 31

Kiểu quan hệ thứ ba: Kiểu quan hệ đời t (thể tài tiểu thuyết) Đây làkiểu quan hệ giữa cá nhân với cá nhân ở góc độ đời t “Khác với các tác

phẩm thế sự, trong các thể tài đời t việc miêu tả hoàn cảnh xã hội, tình

trạng này nọ của xã hội chỉ là cái nền để trên đó tác giả thể hiện cái chính,tức là sự phát triển tính cách của những con ngời cá biệt trong quan hệ của

nó với hoàn cảnh ở đây các tính cách đợc miêu tả trong sự hình thành, sựphát triển bên ngoài hoặc bên trong của chúng Vì vậy, ngay cả các cốttruyện cũng thờng phục tùng sự phát triển của những xung đột giữa cácnhân vật; các cốt truyện này chuẩn bị cơ sở cho sự biến đổi bên trong củacác tính cách” [177 ; 401 - 402] Thể tài đời t thờng phát triển, nở rộ khivăn học quan tâm khám phá đời sống cá nhân của con ngời, quan tâm đến

sự hình thành nhân cách, những khao khát, những tình cảm của từng cánhân

Nh vậy, từ quan điểm của Pospelov, chúng tôi nhận thấy các nguyêntắc khi phân tích loại hình nội dung trong văn học :

(1) Thể tài văn học không đồng nhất với thuật ngữ thể loại Về vấn đềnày, chúng tôi đồng tình với nhận định của nhà nghiên cứu Trần Đình Sử:

"Khi M Bakhtin đem đối lập sử thi với tiểu thuyết là ông đối lập hai loạihình văn học Do đó, khái niệm sử thi ở đây không hề đồng nhất với sử thi cổ

đại với tính chất tự sự khách quan, dung lợng lớn, kể hết mọi biểu hiệnphong phú của đời sống nh bách khoa toàn th Sử thi ở đây hiểu là khuynh h-ớng u tiên cho chủ đề dân tộc, mâu thuẫn địch - ta, xây dựng những con ngờitiêu biểu cho ý chí phẩm chất cao đẹp của dân tộc" [190 ; 10] Loại hình nộidung thể hiện trớc hết ở cách nhìn, điểm nhìn Có thể nói, mỗi loại hình nộidung văn học thể hiện một loại hình về nhãn quan, thế giới quan trong cảmnhận văn học Sử thi là cách nhìn từ lợi ích cộng đồng của dân tộc Thế sự làcách nhìn từ mối quan hệ giữa các tầng lớp ngời trong xã hội, các vấn đềthiện - ác, giàu - nghèo, Trong khi đó, đời t là cách nhìn từ sự tồn tại củacá nhân, cá thể con ngời

(2) Các thể tài không tồn tại hoàn toàn tách biệt mà luôn có sự đanbện, cùng tồn tại suốt chiều dài lịch sử văn học Chúng tôi tán đồng quanniệm của Trần Đình Sử cho rằng : “ở các tác phẩm lớn thờng có sự kết hợpcác nét nội dung thể tài ấy với nhau, trong đó có một hay hai nét chiếm uthế, tạo thành loại tác phẩm đa diện” [193 ; 66] Chính ở những nét nội dungchiếm u thế ấy trong tơng quan với các thể tài khác tạo ra diện mạo phát

Trang 32

triển mà qua đó chúng ta có thể nắm bắt đợc những quy luật vận động củalịch sử văn học.

(3) Mỗi một thể tài nh vậy dới ánh sáng riêng của nó phát hiện cácloại hình tính cách, gắn với một số cảm hứng, hệ thống biện pháp, phơngtiện nghệ thuật nhất định Với t cách là khái niệm chỉ loại hình nội dung tácphẩm văn học, thể tài văn học đợc minh định qua cảm hứng nghệ thuật, xung

đột và nhân vật trong tác phẩm tự sự

1.2.1.3 Các loại hình nội dung thể loại tiểu thuyết

Xét về mặt đề tài, sử thi chủ yếu nói về lịch sử dân tộc, cuộc chiếngiữa các dân tộc với nhau "Tình huống phù hợp nhất với thơ sử thi đó là cácxung đột của trạng thái chiến tranh Thực vậy, trong chiến tranh, chính làtoàn bộ dân tộc đang vận động Nó bị kích thích phải hành động bởi vì nóphải bảo vệ toàn bộ mình" [63 ; 594] Tiểu thuyết chủ yếu nói về thế sự, đời

t, về các chuyện nhân tình thế thái ở đời hoặc những chuyện tình cảm riêng

t của con ngời Yếu tố đời t càng phát triển thì chất tiểu thuyết càng tăng.Ngợc lại, yếu tố lịch sử dân tộc càng phát triển thì chất sử thi càng đậm đà.Trong tiểu thuyết sử thi có sự kết hợp cả ba đề tài trên Nội dung thế sự, đời

t đợc phô diễn trên sân khấu, nhng nằm trong bối cảnh phông nền của nộidung lịch sử dân tộc

Đối tợng miêu tả của sử thi là những sự kiện đã hoàn tất trong quá khứdân tộc, đợc lu giữ lâu bền, đa dạng trong ký ức cộng đồng ở đó, mọi thứ đãhoàn tất và các thế hệ con cháu về sau không can thiệp vào đợc Đối tợngmiêu tả ấy tách hẳn với thời hiện tại của ngời kể chuyện bằng một "khoảngcách sử thi tuyệt đối" Ngời kể chuyện thờng thể hiện tình cảm tôn trọng,sùng kính những giá trị đã đợc lịch sử cộng đồng sắp đặt, khẳng định Tiểuthuyết lại khác, thậm chí mang đặc điểm ngợc hẳn lại với sử thi Theo M.Bakhtin: "Tiểu thuyết hình thành chính trong quá trình phá bỏ khoảng cách

sử thi, trong quá trình thân mật hóa con ngời và thế giới bằng tiếng cời, hạthấp đối tợng miêu tả nghệ thuật xuống cấp độ hiện thực đơng thời dang dởkhông hoàn thành và luôn biến động" [11 ; 75] Vẫn theo M Bakhtin, có thểmiêu tả thời hiện tại trong sử thi với điều kiện là, phải đặt điểm nhìn từ tơnglai để nhìn về hiện tại "Tất nhiên, có thể tri giác cả "thời đại của chúng ta"

nh một thời đại sử thi anh hùng, từ giác độ ý nghĩa lịch sử của nó, tri giác từ

Trang 33

xa, từ cự ly thời gian (không phải bằng con mắt mình, con mắt ngời đơngthời, mà dới ánh sáng tơng lai)” [11 ; 75] Nh vậy, chúng ta vẫn có thể tạo ra

đợc "khoảng cách sử thi" khi miêu tả hiện thực đơng thời Nhng không phảihiện thực đơng thời nào cũng tạo ra thái độ thành kính Bởi vậy cần có sựchọn lọc đối tợng "Hiện thực đơng thời chỉ có thể xâm nhập các thể loại caothợng ở những giai tầng có ngôi bậc cao nhất và cũng đã đợc cự ly hóa do vịtrí của chúng trong chính hiện thực" [11 ; 43] Trong cuộc chiến tranh ViệtNam 1945 - 1975, hình ảnh tiêu biểu cho "giai tầng có thứ bậc cao nhất" làngời chiến sĩ cách mạng vô sản "Ơi anh giải phóng quân / Kính chào anhcon ngời đẹp nhất!" (Tố Hữu) Hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ đã đợc mọi ngờitrong cộng đồng dân tộc, nhân dân thành kính ngỡng mộ ngay trong thờihiện tại Bởi vậy, dù phản ánh hiện thực đang diễn ra, tác phẩm vẫn tạo rakhoảng cách sử thi Tuy nhiên, khoảng cách này không quá xa vời nh trong

sử thi cổ điển Mặc dù tác giả thờng tha thiết ngợi ca, ít nhất cũng khôngdám suồng sã với nhân vật chính diện, nhng cũng không nhằm phát hiện,khắc họa những nét quen thuộc, gần gũi của nhân vật

Sử thi cổ điển thờng khai thác chất liệu từ truyền thuyết dân tộc là sảnphẩm của toàn dân, chứ không phải cảm nhận hay tởng tợng của riêng nhàthơ Bởi vậy, trong sử thi cổ điển, tác giả thờng không đợc phép đa ra những ýkiến riêng của mình Hêghen nói: "Nhà thơ trình bày trớc mắt chúng ta cả mộtthế giới khách quan những biến cố và những hành động không cho phép ngời

đọc thơ có một thái độ nào khác ngoài thái độ thụ động với những điều anh ta

kể lại Anh ta càng không nêu bật mình thì điều đó càng tốt" [63 ; 462] Nhàthơ phải ẩn náu mình sau sự kiện, và dờng nh ngay cả ngôn từ trong tác phẩmcũng không phải là của ông ta Còn tiểu thuyết thì ngợc lại, mang đậm dấu ấntác giả Ngời ta khuyến khích mỗi nhà tiểu thuyết phải có phong cách riêngcủa mình Nhà tiểu thuyết đợc phép sáng tạo ra những lối diễn đạt lạ thờng,những nhân vật dị dạng, những tính cách lạ đời Cốt truyện tiểu thuyết là donhà văn sáng tạo ra trên cơ sở kinh nghiệm cá nhân Bởi vậy nội dung của nó

có thể xa lạ, không trùng với ký ức chung của dân tộc Nếu nh xem sử thi là

"thực" thì tiểu thuyết là "bịa nh thật"

Sử thi xây dựng cơ cấu tác phẩm theo dòng sự kiện, dọc theo các biến

cố lịch sử Chính các xung đột dân tộc, thời đại, xã hội này với xã hội khác

Trang 34

là bộ xơng sống của sử thi Trong khi đó, những xung đột xã hội đầy kịchtính lại không phải là điều bắt buộc đối với tiểu thuyết Anh hùng ca là logiccủa sự phát triển các biến cố lịch sử, còn tiểu thuyết là logic vận động củatính cách Trong tiểu thuyết, chính số phận nhân vật và logic của sự phát triểntính cách sẽ quy định cốt truyện Tiểu thuyết sử thi dung nạp cả hai cách trên,xây dựng cốt truyện theo dòng biến cố lịch sử, nhng trên cơ sở đó triển khaicác dòng tính cách nhân vật Sự phát triển các tính chất này có thể thuận hoặcnghịch chiều lịch sử Thông thờng, trong tiểu thuyết sử thi cách mạng, nhânvật chính phát triển tính cách theo chiều tiến bộ của lịch sử, còn nhân vật phảndiện thờng theo chiều hớng tiêu cực, dần bị phủ định, đào thải

Do "áp lực sử thi", sự quy định của "cái khung sử thi", tác phẩm sử thithờng kết thúc theo lối có hậu, xung đột đợc giải quyết theo quan điểm cộng

đồng, thiện thắng ác, mọi thứ đợc hoàn tất Tiểu thuyết thờng kết thúc theolối mở, cha hoàn tất, xung đột chính có thể cha giải quyết Còn trong tiểuthuyết sử thi, cuối tác phẩm, xung đột chính phải đợc giải quyết theo hớngtiến bộ của lịch sử, theo mong muốn của cộng đồng Tuy nhiên các xung độtnhỏ có thể vẫn tồn tại Dòng tính cách ngợc chiều lịch sử có thể vẫn tiếp tụcchảy nhng bị suy yếu dần và tiềm ẩn Đó là lối kết thúc vừa khép vừa mở củatiểu thuyết sử thi

Sử thi là "thi ca lý tởng", thờng miêu tả cuộc sống trong tính thi vị,bày tỏ cảm hứng mạnh mẽ trớc cái đẹp, cái cao cả, cái hùng vĩ Với ý thức

là sự phát ngôn của cộng đồng, là thể loại cao quý, mang phong cách cao cả,

sử thi không dung nạp vào mình các thể loại "thấp hèn", những yếu tố mỹhọc đa dạng, không thuần khiết Ngợc lại, tiểu thuyết có khả năng dung nạpcác thể loại khác, hòa trộn trong vẻ bề bộn của mình các sắc màu thẩm mỹ

đa dạng Nó không ngại ngùng, né tránh miêu tả cái bi, cái hài, cái lố bịch,cái tầm thờng, cái gớm ghiếc, cái dị dạng Nó có mặt mạnh trong việc miêutả các đề tài dung tục nh chuyện lừa đảo làm tiền, những cuộc tình ô trọc,những chuyện vặt vãnh trong nhà ngoài chợ Nó không ngại miêu tả tỉ mỉnhững sự vật xấu xa, bẩn thỉu, hỗn độn Đó là "chất văn xuôi" của cuộcsống, là cái thực tại "nôm na thô thiển" đối lập với những "thế giới nên thơ",

"thời đại anh hùng" của sử thi (Hêghen) Kết hợp các khả năng của sử thi vàtiểu thuyết, nói chung, các nhà tiểu thuyết sử thi dẫn bạn đọc đi trên ranh

Trang 35

giới giữa cái thật và cái giả, cái thiện và cái ác, cái đẹp và cái xấu, dù đíchmong muốn cuối cùng đạt đến vẫn là bến bờ Chân - Thiện - Mỹ.

Về hình tợng con ngời trong các thể loại có thể thấy, con ngời sử thi làcon ngời bổn phận, là những anh hùng cao cả có sứ mệnh phấn đấu vì lợi íchcộng đồng, mang gơng mặt tập thể và thuộc về quần chúng, có số phận trùngkhít với bộ cánh xã hội của họ Khác biệt với đặc điểm đó, con ngời tiểuthuyết thờng là những "nhân vật không tơng hợp với số phận và vị thế của

nó Con ngời hoặc là lớn hơn số phận mình, hoặc là nhỏ bé hơn tính cách củamình" [11 ; 72] Trong tiểu thuyết, con ngời cá nhân cá thể thờng bất hòa vớitập thể Có khi đó là những ngời tốt nhng vẫn bị xã hội vùi dập, có khi lại là

kẻ xấu mà vẫn đợc xã hội trọng vọng Tiểu thuyết miêu tả, thể hiện con ngời

tự do cá nhân với những cung bậc dục vọng đời thờng, không lý tởng hóa vìcộng đồng hoặc để phù hợp lợi ích cộng đồng "Nhân vật tiểu thuyết không

đợc "anh hùng" cả theo nghĩa sử thi lẫn theo nghĩa bi kịch của từ ấy: nó phảikết hợp trong nó cả những nét chính diện lẫn phản diện, cả thấp kém lẫn caothợng, cả nực cời lẫn trang nghiêm" [11 ; 31] Trong tiểu thuyết sử thi thờihiện đại, hình tợng con ngời vừa mang dấu ấn sử thi, vừa mang đặc điểm tiểuthuyết: nhân vật chính thờng phải là con ngời sử thi, nhng có thể bộc lộnhững nét, dáng, tính cách, đặc điểm cá nhân cá thể của con ngời tiểu thuyết.Nhìn theo tuyến nhân vật, thành phần nòng cốt của phe chính diện là hình t-ợng con ngời sử thi Tuy nhiên cũng có thể có cả con ngời tiểu thuyết, nhngtrong sự vận động của tác phẩm, dần đợc chuyển hóa thành con ngời sử thi

Nhân vật sử thi là con ngời "ngoại hiện", "ruột để ngoài da" "Nó đợc

"ngoại hóa" hoàn toàn, giữa bản chất thật của nó và sự biểu hiện bên ngoàicủa nó không có sự khác biệt nào" "ở con ngời ấy chẳng có gì phải tìm tòi,

ức đoán, không thể lột mặt nạ nó" [11 ; 68] Đó là những con ng ời hoàn tất,trọn vẹn, bất biến về tính cách và nhất quán về hành động Trong khi đó, tínhcách của con ngời tiểu thuyết rất phức tạp, thay đổi theo hoàn cảnh, luôntrong thế vận động Đó là "con ngời nếm trải" sống với nội tâm kín đáo vàmang "mặt nạ nhân cách" Tiểu thuyết "khảo cứu con ngời một cách tự do vàsuồng sã: lộn trái nó, vạch trần sự không phù hợp giữa vẻ bề ngoài và bềtrong, giữa khả năng và sự thực hiện khả năng" [11 ; 72] Con ngời trong tiểuthuyết sử thi, về cơ bản là con ngời hành động Nội tâm cũng đợc nhắc đếnnhng không lấn át hành động Sự trùng hợp giữa tính cách và hành độngcũng tùy theo hoàn cảnh Nhân vật tuy lộ liễu, "ồn ào" với "phe ta" nhng có

Trang 36

thể "ngụy trang" kín đáo với "phe nó" Lúc này thì hành động sôi nổi nhnglúc khác lại suy t trầm lắng Tác giả có thể khai thác thế giới nội tâm ở cácnhân vật phụ, nhất là phụ nữ, nhng không nên lạm dụng nó khi miêu tả nhânvật anh hùng.

1.2.2 Về loại hình nội dung tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975

Có thể thấy rõ là trong tiểu thuyết Việt Nam 1945-1975, những nhóm

thể tài thế sự và đời t ít phát triển Chiếm vị trí chủ đạo là nhóm thể tài lịch

sử dân tộc Do vậy tính chất sử thi là đặc điểm nổi bật, quyết định của giai

đoạn văn học này

Thể tài thế sự trong tiểu thuyết giai đoạn này tơng đối phát triển hơn

so với thể tài đời t Truyền thống văn xuôi phong tục của các nhà văn vẫn

đ-ợc gọi là các nhà "hiện thực phê phán" trớc cách mạng hầu nh đđ-ợc tiểuthuyết giai đoạn này công khai thừa nhận và kế tục ngay từ đầu Khá nhiềunhà văn thuộc xu hớng này nhanh chóng chuyển thành nhà văn của thời đạimới (Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nam Cao, Nguyên Hồng, Mạnh Phú

T, Nguyễn Đình Lạp, Tô Hoài, Bùi Hiển, Kim Lân,…) đã đem kinh nghiệmnghệ thuật vốn có vào việc thể hiện thực tế mới Những kinh nghiệm ấy lại

đợc nhà văn lớp sau tiếp tục và phát triển Tuy nhiên, điều quan trọng cầnxem xét là vai trò và chức năng của yếu tố thế sự trong các tiểu thuyết ba m-

ơi năm chiến tranh Rõ ràng với văn học giai đoạn này, nhất là ở các giai

đoạn 1945 - 1954, hoặc 1965 - 1975, nhiệm vụ nghệ thuật hàng đầu đợc đặt

ra là trình bày xã hội và con ngời đơng thời trong cuộc đấu tranh để thựchiện những nhiệm vụ của toàn dân tộc (tức là nội dung của thể tài lịch sử dântộc) chứ không phải là trình bày trạng thái dân sự của xã hội đơng thời,nghiên cứu phân tích các quan hệ dân sự của con ngời đơng thời (tức lànhững nội dung quan trọng nhất của thể tài thế sự) Tuy thế, nhiệm vụ nàyvẫn có chỗ đứng của nó Tiểu thuyết trong yêu cầu tả thực một cách lịch sử

cụ thể rất cần vẽ ra khung cảnh, môi trờng sinh hoạt, không khí đời sống Dùrằng trên cái nền ấy sẽ diễn ra những xung đột liên quan đến vận mệnh dântộc, lợi ích dân tộc chứ không phải sẽ diễn ra những xung đột dân sự bêntrong nội bộ cộng đồng Chức năng mô tả môi trờng này khiến cho yếu tốthế sự đợc huy động ở mức khá cao, nhất là với tay nghề thành thạo và rất cótruyền thống của những nhà văn phong tục Nhiều trang mô tả không khínhững môi trờng đời sống khác nhau cho đến nay vẫn còn nguyên vẹn giá trịtạo hình đặc sắc mà có lẽ các bộ ảnh t liệu hoặc các cách mô tả của dân tộc

Trang 37

học, xã hội học, phong tục học, dù phong phú đến đâu cũng không thể thaythế đợc (Ví dụ không khí những ngày đầu cách mạng và kháng chiến trongcác ký sự và truyện của Nam Cao, Nguyễn Huy Tởng, Kim Lân, Tô Hoài,Nguyễn Đình Thi; không khí nông thôn miền Bắc thời đầu hợp tác hóa trongtruyện của Nguyễn Khải, Nguyễn Kiên, Chu Văn, Ngô Ngọc Bội…).

Yếu tố thế sự không chỉ có vai trò trong việc phác họa môi trờng Vớicác tiểu thuyết những năm 1960 ở miền Bắc hoặc những năm 1980 ở cả Bắclẫn Nam, yếu tố thế sự, những quan hệ đấu tranh trong nội bộ xã hội, nhữngtình thế phức tạp trong quan hệ đời sống đợc chú ý mô tả nhiều hơn bởi nó làphơng diện để trình bày tính chất khó khăn và phức tạp trong việc thực hiệncác nhiệm vụ cách mạng, trình bày những hiện tợng tiêu cực xã hội để ý thức

đợc nó và đấu tranh chống lại nó Do vậy, yếu tố thế sự ngay trong trờng hợptrở thành mặt chủ đạo ở một tác phẩm cụ thể nào đó vẫn có một sự liên hệnhất định với chủ đề chính trị thuộc phạm vi thể tài lịch sử - dân tộc Chínhbởi liên hệ ấy nên có hiện tợng là ở không ít tác phẩm, việc nghiên cứu phântích các mâu thuẫn, tơng quan thì rất sắc sảo, nhng việc giải quyết chúng thìlại thờng xuê xoa, qua loa (kêu gọi nén quyền lợi riêng, khắc phục bản thân),hoặc dựa vào các biến động lịch sử bên ngoài để ấn định sự chuyển biến củanhân vật, để kết thúc các xung đột Nghĩa là, cách này cách khác, những nộidung thuộc thể tài thế sự của tác phẩm đã đợc giải quyết bằng áp lực của cácdữ kiện thuộc thể tài lịch sử - dân tộc

Có thể thấy rõ áp lực của cái khung thể tài lịch sử - dân tộc (áp lực của

thể tài sử thi) trong một loạt tác phẩm Chẳng hạn, trong truyện ngắn Làng

của Kim Lân, những xung đột sinh hoạt thế sự giữa nhân vật ông Hai với

"mụ chủ" (mâu thuẫn giữa ngời tản c và ngời chủ căn nhà cho ở nhờ) đợckhắc họa rất sống động Nhng việc giải quyết toàn bộ câu chuyện lại đợcchuyển vào chỗ xác minh "điểm danh dự" trong tâm lý nhân vật: cái làng của

ông Hai không theo Tây Và sự xác minh ấy hình nh giải quyết đợc mọi xung

đột : ngay "mụ chủ" cũng trở nên vui vẻ Trong tiểu thuyết Đi bớc nữa của

Nguyễn Thế Phơng, vấn đề cô Hoan có "đi bớc nữa" đợc hay không hình nhphụ thuộc vào việc cả cái làng ấy có "đi bớc nữa" (đi lên chủ nghĩa xã hội) đ-

ợc hay không Cái khung của thể tài lịch sử - dân tộc, cái khung sử thi ở đây

có ý nghĩa vạn năng Nhờ đó nhà văn có thể đa ra đợc những giải pháp cho rất

Trang 38

nhiều cốt truyện có tính chất đời t hoặc sinh hoạt thế sự Những giải pháp đó

là độc đáo, xét về kiểu t duy nghệ thuật

Những tiểu thuyết cũng nh truyện ngắn, truyện vừa và thậm chí nhữngbài thơ trữ tình viết về những sinh hoạt đời thờng với các mô-típ chủ đề ânnghĩa cách mạng, ân nghĩa của cuộc đời mới, nh đã nói tới ở trên, thật racũng chủ yếu đợc triển khai trong thể tài thế sự Cảm giác về một cuộc đờingọt ngào yên ấm thấm nhuần các sáng tác này, khiến ta nghĩ đó nh nhữngdạng thơ điền viên mới, những dạng mục ca mới Tuy vậy, dù sự diễn đạt cókín đáo đến đâu thì những sáng tác ấy vẫn không giấu đợc liên hệ về ý nghĩa

bề sâu của nó với dòng chủ đề bao quát chung: những cảnh sống yên ấm ấy

là ân nghĩa ân tình của cách mạng, là sản phẩm của những đổi thay cáchmạng trong đời sống dân tộc ý nghĩa chính trị của sự thể hiện nghệ thuật ở

đây, dù ẩn sâu thế nào thì cũng vẫn là hiển nhiên Ngợi ca cách mạng, ngợi

ca cuộc sống mới của dân tộc do cách mạng mang lại - đó là chức năng củanhững sáng tác thế sự điền viên này Nó cho ta thấy thể tài thế sự ở đây cũng

đợc gián tiếp bao hàm vào thể tài lịch sử dân tộc

Thể tài đời t, sự miêu tả cuộc đời và số phận những con ngời xét riêng

không phải là hoàn toàn vắng mặt trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1945

- 1975 Những chuyện đổi đời nhờ cách mạng, những chuyện vơn mình, ởng thành của con ngời trong môi trờng cách mạng và kháng chiến, hoặcngay cả những chuyện "gác tình riêng vì nghĩa lớn",… đều phải động đến,phải khai thác những yếu tố đời t Tuy nhiên, điều đáng quan tâm ở đây làtính chức năng của yếu tố đời t trong các sáng tác này Viết những chuyện

tr-đổi đời, vơn mình, trởng thành của con ngời trong xã hội là để làm rõ cônglao, làm rõ ân nghĩa của cách mạng, kháng chiến, của chế độ mới Thể hiệncác chuyện "gác tình riêng…" dù rất riêng t không phải là để nói tính cáchhay số phận cá nhân mà là để nói ý chí quyết tâm chiến đấu, để nói lẽ sốngcách mạng, đạo lý cách mạng Những biểu hiện của đề tài đời t nh vậy trởthành yếu tố chức năng để triển khai những chủ đề văn học bao quát hơn,những chủ đề gắn chặt với lợi ích dân tộc, với lịch sử dân tộc đơng đại, vớinội dung chính trị của thời đại Ngoài chức năng phối thuộc, lệ thuộc đó, thểtài đời t rất ít phát triển với t cách là một thể tài độc lập

Trang 39

Tình trạng ít phát triển của yếu tố đời t có một hệ quả dễ hiểu trongtiểu thuyết giai đoạn này: chất thực sự tiểu thuyết của những tác phẩm, gọi làtiểu thuyết ấy còn khá yếu ớt T duy tiểu thuyết có một phơng diện quantrọng là rất gắn bó với việc khám phá cuộc đời, tính cách và số phận con ng-

ời cá nhân cá thể Trong khi đó, những quan tâm xuyên suốt và bao trùm củacác nhà văn, của nền văn học mới lại là số phận và cuộc sống của cả dân tộc,của cả cộng đồng

Trong hệ thống thể loại văn xuôi sau 1975, tiểu thuyết với u thế trongcách tiếp cận và biểu hiện hiện thực cuộc sống nh vậy đã thực sự đóng vaitrò chủ đạo trong vận động đổi mới văn học Các nhà văn đều nhận thức chỉ

có tiểu thuyết với những đặc trng ở bình diện tiếp xúc và biểu hiện cái hiệntồn, khả năng dung nạp những thể loại khác mới có thể bắt kịp với nhữngbức xúc đổi mới Các ý kiến đều đồng thuận nhận thấy: thời kỳ đổi mớichính là “thời đại của tiểu thuyết” Tuy nhiên, loại hình nội dung tiểu thuyếtsau 1975 đã vận động và tạo lập một diện mạo khác so với giai đoạn ba mơinăm chiến tranh Sức ảnh hởng của thể tài sử thi đã không còn bao trùmtrong tiểu thuyết giai đoạn trớc và cùng với đó là sự khẳng định vị trí của cácthể tài thế sự, đời t Chúng tôi sẽ tập trung phân tích trong những chơng tiếptheo của luận án

Đến đây có thể kết luận, văn học Việt Nam sau 1975 không chỉ pháttriển theo những quy luật nội tại, vốn có của bản thân nó mà đã nhanh nhạy tr-

ớc những yêu cầu của đời sống, tiếp xúc mạnh mẽ, chủ động với những yếu tốngoại sinh Sự tiếp xúc đa dạng hơn trong một môi trờng văn hóa cởi mở và hộinhập đã làm thay đổi thị hiếu thẩm mĩ của ngời đọc và ngời cầm bút, thúc đẩyquá trình cách tân, hiện đại hóa của văn học Hơn bao giờ hết, ý thức kết hợpgiữa truyền thống và hiện đại, với ý thức đa văn học Việt Nam hội nhập với vănhọc thế giới đang đặt ra một cách mạnh mẽ

Văn xuôi nói chung và tiểu thuyết nói riêng với những u thế đặc biệttrong khả năng thâm nhập, khám phá và biểu hiện đời sống nở rộ những thànhtựu đáng kể và xác lập vai trò chủ đạo trong diện mạo văn học Việt Nam sau

1975 Loại hình nội dung là một hớng nghiên cứu giàu tiềm năng với việc mở

ra cơ hội nhìn nhận, hiểu rõ hơn sự vận động lịch sử của văn học Tiểu thuyếtViệt Nam giai đoạn 1945 -1975 đã chứng kiến sự bao trùm của loại hình sử thilên hệ thống các thể tài khác Cảm hứng sử thi đã thu hút vào mình các thể tàithế sự và đời t Xét dới góc độ thể loại, rõ ràng tiểu thuyết sử thi đã gây ra

Trang 40

những “áp lực” rất lớn đối với sự thể nghiệm bản chất thể loại tiểu thuyết Tiểuthuyết sử thi đã phát triển rực rỡ và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ lịch sử của

nó Tuy nhiên, tận cùng của sự phát triển thể loại tiểu thuyết phải là các vấn đề

đời t Sau 1975, tiểu thuyết hội tụ đầy đủ các yếu tố để vận động và phát triển,hòa nhập với sự phát triển của tiểu thuyết hiện đại, đơng đại thế giới

Ngày đăng: 04/12/2013, 13:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w