Luận văn
Trang 1TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH CÁC DÂN TỘC
Trang 2TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH CÁC DÂN TỘC
VIỆT NAM
Chuyên ngành: Văn học dân gian
Mã số: 62.22.01.25
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
PGS.TS.NGUYỄN THỊ BÍCH HÀ
HÀ NỘI - 2013
Trang 3iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
NGUYỄN THỊ NGỌC LAN
Trang 4iv
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
MỤC LỤC iv
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Mục đích nghiên cứu 13
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13
5 Phương pháp nghiên cứu 14
6 Đóng góp của luận án 15
7 Cấu trúc của luận án 16
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KIỂU TRUYỆN NGƯỜI EM 17
1.1. Diện mạo kiểu truyện người em 17
1.1.1 Nhận diện kiểu truyện người em 17
1.1.2 Cơ sở địa - văn hóa của kiểu truyện người em 20
1.2. Đặc điểm nhân vật trong kiểu truyện người em 26
1.2.1 Nhân vật chính 27
1.2.2 Nhân vật đối thủ 31
1.2.3 Nhân vật trợ giúp 34
1.3. Đặc điểm cấu tạo cốt truyện trong kiểu truyện người em 42
1.3.1 Cấu tạo cốt truyện đơn giản 43
1.3.2 Cấu tạo cốt truyện phức tạp 46
CHƯƠNG 2 DIỄN HÓA MÔ TÍP TRONG KIỂU TRUYỆN NGƯỜI EM 51
2.1. Mô típ “chiếm đoạt gia tài” 51
2.1.1 Cấu trúc của mô típ trong kiểu truyện 51
2.1.2 Sự diễn hóa của mô típ “chiếm đoạt gia tài” 53
2.2 Mô típ “lựa chọn hôn nhân” 58
2.2.1 Cấu trúc của mô típ trong kiểu truyện 58
2.2.2 Sự diễn hóa của mô típ “lựa chọn hôn nhân” 59
2.3 Mô típ “cướp vợ/chồng” 68
Trang 5v
2.3.1 Cấu trúc của mô típ trong kiểu truyện 68
2.3.2 Sự diễn hóa của mô típ “cướp vợ/chồng” 70
2.4 Mô típ “thử thách” 74
2.4.1 Cấu trúc của mô típ trong kiểu truyện 74
2.4.2 Sự diễn hóa của mô típ “thử thách” 76
2.5 Mô típ “bắt chước không thành công” 79
2.5.1 Cấu trúc của mô típ trong kiểu truyện 79
2.5.2 Sự diễn hóa của mô típ “bắt chước không thành công” 80
2.6 Mô típ “tặng thưởng” 85
2.6.1 Cấu trúc của mô típ trong kiểu truyện 85
2.6.2 Sự diễn hóa của mô típ “tặng thưởng” 86
2.7 Mô típ “trừng phạt” 90
2.7.1 Cấu trúc của mô típ trong kiểu truyện 90
2.7.2 Sự diễn hóa của mô típ “trừng phạt” 91
CHƯƠNG 3 KIỂU TRUYỆN NGƯỜI EM CỦA VIỆT NAM TRONG TƯƠNG QUAN VỚI TRUYỆN CÙNG KIỂU Ở CHÂU Á VÀ CHÂU ÂU 98
3.1. Ki ểu truyện người em của Việt Nam trong tương quan với truyện cùng kiểu ở một số quốc gia châu Á 100
3.1.1 Lược khảo kiểu truyện người em ở một số quốc gia châu Á 101
3.1.2 Các phương diện tương quan 105
3.2. Ki ểu truyện người em của Việt Nam trong tương quan với truyện cùng kiểu ở một số quốc gia châu Âu 122
3.2.1 Lược khảo kiểu truyện người em ở một số quốc gia châu Âu 122
3.2.2 Các phương diện tương quan 124
KẾT LUẬN 148
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
PHỤ LỤC 164
Trang 61
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam và thế giới, kiểu truyện người em là
một trong những kiểu truyện quen thuộc và tiêu biểu Sự tập hợp những truyện kể có cùng chủ đề và mô típ đã góp phần định dạng một kiểu truyện độc đáo, tạo nên màu sắc riêng biệt trong bức tranh toàn cảnh sống động, chân thực của truyện cổ tích Trí tưởng tượng không có giới hạn của nhân dân đã làm nên những câu chuyện hấp dẫn với sự đan xen giữa cái xác thực và cái hoang đường kỳ ảo, lãng mạn bay bổng mà vẫn giàu triết lý nhân sinh
1.1 Nằm trong nguồn mạch chung của thể loại, kiểu truyện người em là sản
phẩm sáng tạo tất yếu, thể hiện một kiểu nhận thức xã hội của con người trong thời đại cổ tích Đứng trước những biến động lớn lao đang diễn ra trong thực tại, con người từ chỗ ngỡ ngàng đã dần bộc lộ nhu cầu được khám phá, nhận thức Tuy nhiên, tại thời điểm đó con người chưa đủ khả năng khái quát và phân tích những vấn đề xã hội còn rất mới mẻ và phức tạp nên tất cả được quy về “sân khấu gia đình” để giải thích Vì lẽ đó, truyện cổ tích thường xoay quanh đề tài sinh hoạt gia đình, phản ánh
những xung đột gia đình Được tái hiện trong kiểu truyện người em, đời sống hiện
thực được mô tả với bao bất công, ngang trái Tập trung quyền lực trong gia đình,
những người anh (chị) là nhân vật bề trên với bản chất xấu xa, còn người em là nhân
vật thấp hèn nhưng hội tụ đầy đủ những phẩm chất tốt đẹp Mang đặc điểm khái quát hóa, sự đối lập giữa các thành viên trong gia đình thực chất là đối lập giữa các tầng lớp trong xã hội phân hóa giai cấp Sự đối lập ấy còn được thấy qua chung cục cuộc đời nhân vật: những người anh (chị) bao giờ cũng bị trừng phạt thích đáng còn người
em được hưởng hạnh phúc, giàu sang Kết thúc đó làm cho người nghe thấy thỏa mãn trước sự thắng thế tuyệt đối của cái thiện trước cái ác, hoàn toàn phù hợp với triết lý đạo đức dân gian Những biểu hiện độc đáo ở nhiều phương diện đã khẳng định giá
trị và vị trí của kiểu truyện người em bên cạnh các kiểu truyện khác trong kho tàng cổ
tích Việt Nam đồng thời cho thấy, đây thực sự là đối tượng khoa học cần phải được khám phá một cách cụ thể và nghiêm túc
1.2 Nhận ra sức hấp dẫn của kiểu truyện người em trong kho tàng truyện cổ
tích Việt Nam, các nhà nghiên cứu đã có những kiến giải mang tính chất gợi mở về một số khía cạnh nổi bật của kiểu truyện Tuy nhiên còn nhiều vấn đề cốt lõi như cốt truyện, nhân vật, mô típ… cần phải được đào sâu và mở rộng hơn nữa, nhằm đi đến
Trang 72 những phát hiện khoa học về cấu trúc tổng thể cũng như cấu trúc bộ phận của một kiểu truyện tiêu biểu Mặt khác, tìm hiểu những dấu hiệu cụ thể minh chứng cho tính độc đáo của kiểu truyện người em của các dân tộc Việt Nam đồng thời với việc mở rộng nội dung nghiên cứu theo hướng so sánh với truyện cùng kiểu của một số quốc gia khác trên thế giới cũng là cần thiết và phù hợp với xu hướng nghiên cứu văn hóa, văn học dân gian trong thời gian gần đây Sự gần gũi về chủ đề, nhân vật, kết cấu, mô típ… trong truyện cổ tích về người em của các quốc gia được lý giải bằng nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể bằng con đường giao lưu văn hóa hoặc cũng có thể bằng sự nội sinh do chính những điều kiện xã hội lịch sử tương đồng… Không chỉ tương đồng mà chính sự khác biệt cũng là một dấu hiệu thẩm mỹ liên quan đến đặc điểm sinh sống, đến văn hóa, lịch sử, tôn giáo tín ngưỡng của các quốc gia hay các
vùng lãnh thổ Phát hiện mối liên hệ trên nhiều phương diện trong kiểu truyện người
em của Việt Nam và một số quốc gia khác, giúp ta có một “cái nhìn tham chiếu” đầy
đủ, sáng tỏ về giá trị nội dung và hình thức của kiểu truyện Có thể thấy đây là một
hướng nghiên cứu mới mẻ và đúng đắn về kiểu truyện người em, cũng là lý do thôi
thúc chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài
1.3 Xuất phát từ thực tiễn giảng dạy, chúng tôi nhận thấy truyện cổ tích là một trong những thể loại được đưa vào giảng dạy với số lượng tương đối lớn trong các cấp học Đặc biệt trong chương trình đào tạo đại học, thuộc khối kiến thức chuyên ngành, môn văn học dân gian nói chung và thể loại cổ tích nói riêng luôn được chú trọng Tiếp cận một kiểu truyện độc đáo trong kho tàng cổ tích đồ sộ của dân tộc đồng thời đặt kiểu truyện này trong sự đối sánh với những truyện cùng kiểu ở một số quốc gia trên thế giới không đơn thuần là những “thao tác” khoa học thuần túy mà chính là một cách tự nâng cao năng lực nghiên cứu, cảm thụ văn học và trau dồi kiến thức phục vụ cho công tác giảng dạy môn văn học dân gian của bản thân tác giả luận
án trong trường đại học
Từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn tìm hiểu đề tài: Kiểu truyện người em
trong truyện cổ tích các dân tộc Việt Nam với mong muốn tìm đến những chứng cứ xác thực minh chứng cho sự đặc sắc của kiểu truyện Đồng thời đi từ một vấn đề cụ thể của truyện cổ tích, khám phá và tìm hiểu sâu sắc hơn những vấn đề khác của thể loại cũng là một việc làm ý nghĩa và cần thiết đối với chúng tôi trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy văn học dân gian
Trang 83
2 Lịch sử vấn đề
2.1. Sơ lược tình hình nghiên cứu kiểu truyện người em ở nước ngoài
Nghiên cứu các vấn đề của thể loại cổ tích nói chung, nhiều nhà khoa học thuộc các trường phái nghiên cứu khác nhau đã phát hiện ra sự tồn tại của những cốt truyện giống nhau không chỉ trong phạm vi một quốc gia hay khu vực mà trên khắp thế giới Đây là cơ sở quan trọng cho việc tiếp cận truyện cổ tích từ góc độ típ và mô típ - một xu hướng nghiên cứu tương đối phổ biến từ cuối thế kỷ XIX đến nay
Có thể kể đến Antti Aarne - một đại biểu của trường phái Phần Lan, với công
trình Verzeichnis der Märchentypen - Danh mục các thể loại cổ tích, đăng trên FF
năm 1910 [2;tr.86] Khảo sát một khối lượng lớn truyện cổ tích châu Âu, ông nhận ra những cốt truyện giống nhau được lặp đi lặp lại và gọi đó là típ Ông tiến hành lập một danh mục các típ, mỗi típ được đặt tên, đánh số và được trình bày sơ lược trong vài dòng ngắn gọn Cách làm đó đã gợi ý các nhà sưu tầm và nghiên cứu truyện cổ tích ở nhiều nước thêm vào các tuyển tập một bảng đánh số các típ theo hệ thống
Aarne Kế thừa và phát triển lý thuyết từ A.Aarne, Stith Thompson công bố cuốn The
type of the Folktale - A Classification and Bibliography , được gọi tắt là Từ điển A-T
(1928) Công trình này được mở rộng từ bảng chú dẫn của A.Aarne, trở thành công
cụ hữu ích cho công tác nghiên cứu truyện kể dân gian Tiếp đó xuất phát từ mối quan tâm tới mô típ - một cấp độ chi tiết cấu thành típ, S.Thompson biên soạn công
trình Motif - index of folk - literature, A Classification of Narrative Element in Folk -
Tale, Ballads, Myths, Fables, Medieval, Romances, Exempla, Local Legends gồm 6 tập (xuất bản từ 1932 - 1936, tái bản năm 1955 -1958) Dựa trên nguồn tư liệu đa dạng về các thể loại như truyện cổ tích, ballad, thần thoại, truyện ngụ ngôn… S.Thompson đã lập nên một bảng phân loại các mô típ trong 23 chương từ A đến Z như sau: chương A - các mô típ thần thoại về tạo hóa, vũ trụ, thần linh… ; chương B - các mô típ về các con vật thần thoại; chương C - các mô típ liên quan đến điều cấm kị hay bắt buộc; chương D - các mô típ ma thuật; chương E - các mô típ liên quan đến cái chết, linh hồn, đầu thai; chương F - các mô típ về những điều kỳ diệu; chương G - các mô típ về lực lượng đáng sợ như yêu tinh, phù thủy; chương H - các mô típ liên quan đến thử thách; chương J - các mô típ liên quan đến sự khôn ngoan và ngốc nghếch; chương K - các mô típ liên quan đến sự lừa dối, đánh lừa…; chương L - các
mô típ về sự đảo ngược của vận mệnh; chương M - các mô típ liên quan đến vệc phán
xử, mặc cả, hứa hẹn…; chương N - các mô típ về sự may rủi và số phận; chương P -
Trang 94 các mô típ về hệ thống xã hội, luật pháp…; chương Q - các mô típ về thưởng và phạt; chương R - các mô típ bị bắt và bỏ trốn; chương S: các mô típ về sự độc ác; chương T
- các mô típ liên quan đến giới tính; chương U - các mô típ có khuynh hướng thuyết giáo (trong truyện ngụ ngôn); chương V - các mô típ liên quan đến tôn giáo; chương
W - các mô típ miêu tả tính cách nhân vật; chương X - các mô típ hài hước; chương Z
- hỗn hợp các mô típ Trong khung phân loại của S Thompson xuất hiện khá nhiều típ truyện về người em, chẳng hạn típ 400 - The man on a quest for his lost wife, típ 552A - The girl who married with animal, típ 554 - The greatful animals, típ 570 - The Rabbit-herd, típ 707 - The birds of truth, típ 550 - Search for the golden birds, típ
551 - The sons on a quest for a wonderful remedy for their father, típ 545 - The cats castle, típ 780 - The singing bone,…
Nghiên cứu truyện cổ tích về người em, đáng chú ý nhất là công trình nổi tiếng
Nhân vật truyện cổ tích hoang đường xuất xứ của hình tượng (1958) của E.M
Mêlêtinxki Bàn về Nguồn gốc của truyện cổ tích về người em và vai trò của nó trong
việc hình thành truyện anh hùng ca thần thoại [63;tr.90-207], E.M.Mêlêtinxki đã phân tích cơ sở làm nảy sinh truyện cổ tích về người em và khẳng định: “Việc lý tưởng hoá người em trong truyện cổ tích thần thoại là một hiện tượng xã hội Đó là một sự biểu hiện riêng biệt khuynh hướng dân chủ nhằm đối lập lại tình trạng bất công đã xuất hiện trong thời kỳ tan rã của chế độ thị tộc”
Trước đó, theo tổng kết của E.M.Mêlêtinxki, vấn đề lý tưởng hóa người em không được đặt ra trong nghiên cứu của một số trường phái văn học Trường phái thần thoại chỉ coi “người con trai út hay người con gái út trong truyện cổ tích như những buổi bình minh ban mai che khuất các vì sao đêm là các anh hay các chị của mình Họ không có ý muốn giải thích việc lý tưởng hóa người em” hay trường phái vay mượn cũng “tỏ ra thờ ơ với vấn đề này” Còn với một đại diện của trường phái Phần Lan là V.Anđerson, ông cũng chỉ ra sự hạn chế trong luận điểm của V.Anđerson
và quả quyết: “Anđerson còn lâu mới nhìn thấy ý nghĩa xã hội trong chủ đề người em” E.M.Mêlêtinxki cho rằng trường phái nhân chủng học là trường phái đầu tiên đề cập đến vấn đề lý tưởng hóa người em Ông đặc biệt chú ý tới các tài liệu nhân chủng
học nói về phong tục minôrat như Eltôn với Nguồn gốc lịch sử nước Anh, Macskallôt với The childhood of fiction, Phreder với Truyện dân gian trong lời di huấn của
Vetkhôn…
Trên cơ sở đó, nhà nghiên cứu nhận định: Nhân vật người em trở thành trung tâm của việc hình thành và phát triển của đề tài truyện cổ tích thần kì ở các dân tộc đã
Trang 105 trải qua quá trình tan rã của chế độ thị tộc phụ hệ, quá trình tan rã của công xã gia đình và sở hữu công xã Trong quá trình tan rã ấy, người anh thường hành động như những kẻ chiếm đoạt sở hữu công xã, còn người em trở thành khốn khổ Ông lý giải hiện tượng này bằng những lập luận thuyết phục: “Với việc tăng cường vai trò gia đình trong sản xuất xã hội chế độ mẫu hệ bắt đầu có chiều hướng tan rã, người đàn ông trở thành chủ gia đình Người đàn ông đã được coi là kẻ thừa kế ngay trước lúc chuyển hoàn toàn việc tính họ hàng theo bên cha”
Việc tách ra khỏi gia đình lớn để ở riêng của các cá nhân, kéo theo việc phân chia gia tài với mục đích đảm bảo quyền lợi của bản thân đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát sinh chế độ minôrat (đứng về phía người em) và chế độ maiôrat (đứng
về phía người anh) trong việc phân chia tài sản Đầu tiên “bên cạnh các người con trai của các em gái, người con trai út dần dần cũng được coi là người thừa kế di sản Việc tranh chấp di sản của người con trai út với các con cái của người em gái cha đã báo trước sự chiến thắng của chế độ tư hữu gia đình đối với chế độ sở hữu họ hàng” Về sau cùng với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của hình thái gia đình phụ hệ, người anh cả được đưa lên vị trí hàng đầu, chỉ sau người cha Khi tách ra ở riêng, phần tài sản mà họ được chia trở thành tài sản tư hữu thực sự Sự thống nhất kinh tế của gia đình lớn đã bị phá vỡ Khi phân chia khối tài sản chung, những người con lớn thường lợi dụng nguyên tắc gia trưởng để chiếm phần hơn, đặc biệt là sau khi cha mẹ mất đi
Có thể nói phong tục maiôrat đã thể hiện sự bất bình đẳng trong việc khẳng định quyền thừa kế tài sản của các thành viên trong cùng một gia đình đồng thời biến người em thành con người khốn khổ chịu nhiều bất hạnh thua thiệt nhất Lúc này sự phân biệt trưởng thứ đã khá rõ ràng Anh trở thành chủ - kẻ thống trị còn em là kẻ đi
ở, làm thuê Đi vào truyện cổ tích, người em giống như người mồ côi, người con riêng… trở thành nhân bật bất hạnh Và “những hạng người bị thất thế, bị thiệt thòi
kể trên xuất hiện ngày càng đông với sự phát triển của chế độ tư hữu, với sự phân hóa giai cấp ngày càng sâu sắc trong xã hội Những hạng người ấy, là nguồn gốc của những nhân vật truyện cổ tích…” Phân tích của E.M.Mêlêtinxki mang tính lý luận
sâu sắc, cho chúng tôi hình dung tương đối đầy đủ về nguồn gốc hình thành kiểu
truyện người em cũng như hình tượng nhân vật trung tâm - người em út
Thuyết minh cho những vấn đề thi pháp truyện cổ tích thần kì, trong tập giáo
trình Sáng tác thơ ca dân gian Nga, tập 1 (xuất bản tại Liên Xô năm 1978, giới thiệu
ở Việt Nam năm 1983) A.M.Nôvicôva bàn về xung đột xã hội trong truyện cổ tích
thần kì, cũng chú ý đến nguyên nhân làm nảy sinh kiểu truyện người em Theo đó:
Trang 116
“Thời kỳ tan rã của chế độ công xã nguyên thủy được đánh dấu bởi sự xuất hiện chế
độ sở hữu tư nhân nó là nguyên nhân của sự khẳng định quyền con trưởng và phá vỡ
sự bình đẳng về vật chất và tinh thần Quá trình tan rã của thị tộc được phản ánh trong truyện cổ tích dưới dạng sự tan rã của gia đình Truyện cổ tích kể về sự thù địch giữa
anh em với nhau về quyền thừa kế…” đồng thời nhà nghiên cứu cũng nhận thấy kiểu
truyện người em “có trong truyện cổ tích các dân tộc trên toàn thế giới… chốt chặt vào chủ đề người em út là một chuỗi những mô típ ổn định: việc chia gia tài không công bằng, thắng lợi của người em trong cuộc đua tranh, sự nham hiểm và ganh ghét của người anh” [66;tr.291] Tác giả xác định truyện cổ tích về người em ở Nga được phân thành hai nhóm Nhóm thứ nhất gồm những biến thể của chủ đề chia gia tài không công bằng Nhóm thứ hai, người em thường phải đối diện với sự phản trắc của người anh Tác giả còn liên hệ: “có tính chất song trùng, gần gũi với các truyện cổ tích về người con trai út là các truyện cổ tích về người con gái út… Cơ sở xung đột của các truyện cổ tích thuộc nhóm này là lòng ganh ghét của các người chị Mô típ chính của các truyện về người con gái út là mô típ kết hôn với con thú thần kì”
[66,tr.293] Bước đầu khảo sát tư liệu về kiểu truyện người em, chúng tôi cũng thấy rõ
những dấu hiệu này trong truyện cổ tích Việt Nam
2.2. Tình hình nghiên cứu kiểu truyện người em ở Việt Nam
Mang trong mình những đặc điểm tương đồng và khác biệt về cả nội dung và
hình thức so với các kiểu truyện, kiểu truyện người em với nhân vật trung tâm là
người em út cũng từng bước thu hút được sự chú ý của các nhà folklore
2.2.1 Nhìn lại lịch sử nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy một vài khía cạnh nổi
bật thuộc kiểu truyện người em như nguồn gốc nảy sinh, phương thức biểu hiện, ý
nghĩa phản ánh, đặc điểm hình tượng đã được các nhà nghiên cứu đề cập rải rác trong một số giáo trình, tạp chí chuyên ngành
Năm 1973, Đinh Gia Khánh trong giáo trình Văn học dân gian tập II (in lại trong Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Giáo dục, 1998) đã nhận ra nét bản chất
trong nghệ thuật của truyện cổ tích khi cho rằng: “truyện cổ tích phản ánh cuộc sống với những mâu thuẫn của nó, phản ánh những con người với những sự việc khác nhau do hoàn cảnh, do thành phần giai cấp tạo nên Để phục vụ cho mục đích phản ánh đó, truyện cổ tích thường đưa ra những tình thế tương phản” và “cũng để biểu hiện được những mâu thuẫn và phức tạp của cuộc sống, truyện cổ tích hay sử dụng sự nhắc lại như là một phương pháp nghệ thuật Sự nhắc lại có tác dụng khác
Trang 127 nhau” [45;tr.341] Để minh chứng, tác giả dẫn ví dụ truyện Phượng hoàng và cây khế
- một truyện cổ tích tiêu biểu trong kiểu truyện người em Ông phân tích sự tương
phản giữa hai nhân vật bằng cách chỉ ra sự đối lập về hoàn cảnh và tính cách giữa họ: người em nghèo nhưng không thiết tha đến của cải còn người anh giàu nhưng lại tham lam Được đặt trong hoàn cảnh như nhau: cả hai cùng bắt gặp chim đến ăn khế, cùng được chim đưa ra đảo lấy vàng nhưng một đằng giả dối, tham lam, một đằng thật thà, trung hậu nên dẫn tới cách họ xử lý hoàn cảnh khác nhau Như vậy sự nhắc lại ở đây rõ ràng có tác dụng nêu bật tâm lý của nhân vật này bằng cách đối chiếu với tâm lý của nhân vật kia Tuy chỉ dẫn ra một trường hợp nhưng có thể thấy đây là công thức chung của kiểu truyện
Từ năm 1974 đến năm 1989, trong hơn 15 năm, diện mạo của kiểu truyện
người em được phác họa có phần rõ nét hơn Cao Huy Đỉnh trong Tìm hiểu tiến trình
văn học dân gian Việt Nam (1974) nói đến: “Một kiểu truyện cổ tích phổ biến về người em hiền lành, chăm chỉ lao động nhất định sẽ được hưởng hạnh phúc đối lập với người anh độc ác, gian tham nhất định phải đền tội…” đồng thời chỉ ra đặc tính của các nhân vật đối lập: “Thường thường, người anh (chị) cả bao giờ cũng lười biếng, độc ác, tham lam Còn người em, nhất là em út (trai hay gái) bao giờ cũng hiền lành, thật thà, ngoan ngoãn và dũng cảm Mọi liên hệ ruột thịt đã bị phá vỡ hoàn toàn
vì những tính xấu đó của người anh (chị) cả Nhân dân muốn xây dựng lại những tình cảm tự nhiên đó - đã mất từ khi có chế độ tư hữu - bằng cách lý tưởng hóa người em
út hay cô gái út” [24;tr.62] Trong mục Đặc điểm truyện cổ tích Việt Nam in cuối tập V
- Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (1982), nhà nghiên cứu Nguyễn Đổng Chi nhận
định: một trong những đối tượng mà truyện cổ tích bênh vực chính là người em và những vấn đề phức tạp nhưng lại phổ biến thuộc phạm vi gia đình như mâu thuẫn quyền lợi anh - em “còn thấy lặp đi lặp lại nhiều lần” [121;tr.461]. Khi tham gia biên
soạn Từ điển văn học, tập 1 (1983) tác giả Chu Xuân Diên trong mục Cây khế cũng
nói đến số phận người em út trong mối quan hệ xung đột với người anh cả, coi đây là
“loại xung đột gia đình nảy sinh khi công xã thị tộc mẫu hệ tan rã, chế độ gia đình phụ hệ và gia đình riêng ra đời làm cơ sở cho sự hình thành quyền anh cả trong lĩnh vực thừa kế tài sản” [14;tr.112] Võ Quang Nhơn với Văn học dân gian các dân tộc ít
người Việt Nam (1983, in lại trong Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Giáo dục, 1998)
đã dành tới hơn một trang phân tích nguồn gốc, sự hình thành của “loại truyện về các nhân vật bất hạnh” Ông cho rằng: “Cùng với sự giải thể của gia đình lớn về mặt xã hội, xuất hiện sự tích luỹ tài sản tư hữu theo từng gia đình riêng lẻ Cơ sở xã hội và
Trang 138 kinh tế sâu xa ấy tạo điều kiện cho sự xuất hiện một loạt truyện dân gian khá phổ biến
ở các dân tộc ít người Đó là truyện về các nhân vật như người em út, người con riêng” và phỏng đoán “có thể hạt nhân đầu tiên, đơn giản nhất của loại truyện về
người mồ côi là kiểu truyện về những người anh em mồ côi… Trong những truyện
này, ban đầu hai anh em ăn ở hòa thuận với nhau thương yêu đùm bọc nhau Nhưng
về sau, hoặc do nhân vật thứ ba trong gia đình nhỏ là người chị dâu xúi giục, xúc xiểm, hoặc do lòng tham của người anh mà người em bị ruồng rẫy, xua đuổi ra khỏi cuộc sống êm ấm của gia đình nhỏ… Một điều đã trở thành quy luật, là các tác giả dân gian xây dựng truyện thường tập trung những nét tốt đẹp để ca ngợi phẩm chất cao quý của người em Đó là những con người cần cù lao động, trung hậu, thực thà, tốt bụng Vì vậy họ được lực lượng từ thiện giúp đỡ” [45;tr.627]. Nguyễn Ngọc
Thường trong bài báo Về mối quan hệ giữa motip và cốt truyện (1987) đã phát hiện ra
sự khác biệt giữa hai dạng truyện chứa đựng “mô típ anh - em” Dạng thứ nhất: “anh
em tình nghĩa thủy chung, do anh lấy vợ mà nảy sinh mâu thuẫn bộ ba Truyện kết thúc bi thảm nhưng nặng tình nặng nghĩa” Dạng thứ hai: “tố cáo thái độ tham lam, độc ác của người anh và chị dâu đối với em: người em bị anh chiếm hết tài sản để lại,
em chỉ được một vật ít giá trị (cây khế, con dao) Người em nhờ cần cù, nhân đạo cộng với thế lực thần linh trở nên giàu có, còn người anh tham lam bị trừng trị” Tác giả lý giải thêm: “mâu thuẫn ấy là xung đột giữa thành viên trưởng với thành viên thứ trong gia đình (thị tộc) Đó là xung đột quyền lợi giữa người bóc lột với người bị bóc lột mà tác giả truyện cổ tích đứng về phía những người bất hạnh” [94]
Năm 1995, với bài viết Hướng dẫn tìm hiểu truyện “Cây khế” tác giả Đỗ Bình
Trị cũng khẳng định: “Cơ sở xã hội - lịch sử của nhân vật người em út và xung đột anh em trong truyện cổ tích là sự xuất hiện và tồn tại quyền thừa kế tài sản của con trưởng (maiôrat) cùng với gia đình phụ quyền và chế độ tư hữu” Về kết cấu của truyện, ông coi đây thuộc dạng kết cấu đồng quy: “Theo dạng kết cấu này, hai nhân vật, đối lập hoàn toàn về phẩm chất, cùng gặp một hoàn cảnh y như nhau, nhưng xử
sự khác hẳn nhau về phẩm chất, cuối cùng đi đến những chung cục trái ngược nhau”
[77;tr.216]
Năm 1998, trong công trình Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sỹ trong truyện
cổ Việt Nam và Đông Nam Á , tác giả Nguyễn Bích Hà có liên hệ đến kiểu truyện
người em và đưa ra nhận xét: “Những người anh hoặc người chị luôn luôn được đặt trong cùng một thử thách với người em Qua thử thách mà họ bộc lộ sự khác hẳn nhau về tính cách, đạo đức, tài năng… Người em luôn nhường nhịn, độ lượng còn
Trang 149 người anh tham lam, độc ác, ích kỷ… Kết thúc truyện người anh hoặc chị có chết cũng không bao giờ do chính người em trả thù Theo nguyên tắc kết cấu của kiểu truyện này thì người em dù có bị anh chị hành hạ đến đâu chăng nữa thì cũng tha bổng cho người anh hay chị hoặc giúp họ khi có dịp” [33;tr.137] Tuy nhiên, mở rộng
tư liệu khảo sát chúng tôi thấy xuất hiện sự trả thù trực tiếp của người em đối với anh,
dù tỉ lệ không nhiều
Năm 1999, trên Tạp chí Văn hoá dân gian, số 2, Chu Xuân Diên có bài viết Về
cái chết của mẹ con người dì ghẻ trong truyện “Tấm Cám” (in lại trong Văn hoá dân
gian mấy vấn đề phương pháp luận và nghiên cứu thể loại) Ở mục IV, khi nói về “sự
bắt chước không thành công” trong truyện Tấm Cám, tác giả có liên hệ đến kiểu
truyện người em: “Trong truyện cổ tích mô típ sự bắt chước không thành công được dùng phổ biến trong các chủ đề xung đột anh em, chị em Trong loại truyện phân chia tài sản không công bằng khá phổ biến trong nhiều dân tộc ở Đông Nam Á (kể cả Nam Trung Quốc vốn thuộc khu vực văn hóa Đông Nam Á tiền sử) nhân vật người anh ghen ghét muốn trở nên giàu có như người em, đã bắt chước không thành công những điều người em đã từng làm một cách thành công” Theo tác giả: “sở dĩ như vậy là do lòng tham của người anh, hoặc do không làm đúng theo lời chỉ bảo “thiêng liêng” (lời dặn của thần chẳng hạn) hoặc đối xử thô lỗ với kẻ giúp sức có phép thần (như con chim thần chẳng hạn) Như vậy trong mô típ sự bắt chước không thành công của truyện cổ tích, ta thấy có sự nhấn mạnh vào yếu tố đạo đức” [15;tr.519] Đây là một trong những gợi ý giúp chúng tôi nhìn nhận đầy đủ hơn ý nghĩa phản ánh của mô típ
“bắt chước không thành công” - một mô típ rất đặc trưng trong kiểu truyện người em
Năm 2002, trong Những đặc điểm thi pháp của các thể loại văn học dân gian
(tái bản lần thứ nhất) Đỗ Bình Trị khái quát: “xung đột xã hội trong truyện cổ tích, đặc biệt trong truyện cổ tích thần kì, thường diễn ra trong phạm vi những quan hệ gia đình Ta hiểu vì sao nhân vật bất hạnh luôn luôn là những thành viên lép vế nhất trong gia đình gia trưởng ngày xưa: người em út, người con riêng” [96;tr.13] Đồng quan điểm, nhóm tác giả Phạm Thu Yến, Lê Trường Phát, Nguyễn Bích Hà khi biên
soạn Giáo trình văn học dân gian (dành cho hệ đào tạo từ xa) cũng chỉ rõ: “Nhóm
truyện người em là nhóm truyện mà mâu thuẫn và đấu tranh xã hội được ẩn dưới quan hệ giữa những người anh (hay chị) với người em út, em nuôi trong gia đình Sự đối lập của họ hầu như không được trình bày trực diện, thường được giải thích bằng
sự đối xử không công bằng giữa các thành viên trong gia đình” [107;tr.73]
Tháng 5/2008, trên tạp chí Văn học và Ngôn ngữ, tác giả Phan Xuân Viện có
Trang 1510
bài viết: Trình giảng tác phẩm văn học dân gian với hiện tượng vượt khung/giao
thoa Đặt vấn đề về hiện tượng vượt khung/giao thoa giữa các thể loại, tiểu loại, tác giả phân tích sự giao thoa giữa tiểu loại “cổ tích thần kì” và “cổ tích thế tục” qua một
số truyện cổ tích về người em út, tác giả đã xác định được các yếu tố thi pháp nổi bật của kiểu truyện: kết cấu, đề tài - cốt truyện, hệ thống nhân vật… đồng thời xác lập một số mô típ phổ biến như: mô típ nhân vật trợ thủ thần kì, mô típ bắt chước không thành công [104]
Sự nhìn nhận và đánh giá khách quan về kiểu truyện người em như trên, bước
đầu đã chứng tỏ sự chú ý của các nhà nghiên cứu trong nước đối với kiểu truyện Tuy nhiên các ý kiến nhìn chung còn khá sơ lược, thiên về giới thuyết, khái quát mà chưa
có sự phân tích kỹ lưỡng
2.2.2. Trong khoảng chục năm trở lại đây, những vấn đề cụ thể của kiểu
truyện người em như nhân vật, cốt truyện, mô típ… trở thành đối tượng nghiên cứu chính, được khai thác có hệ thống và toàn diện hơn trong một số khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sỹ ở các cơ sở đào tạo trong nước
Năm 2002, đề tài Kiểu nhân vật người em trong truyện cổ tích các dân tộc
Việt Nam , được Nguyễn Thị Huyền Hậu khai thác trong khóa luận tốt nghiệp trường
Đại học Sư phạm Hà Nội Theo tác giả, khái niệm “người em” không nằm trong thi pháp thể loại mà biểu hiện trong nội dung và quan hệ của con người cụ thể: “Là nhân vật văn học, nó mang tính loại hình, biểu tượng trước khi mang giá trị phản ánh và giá trị nghệ thuật: có anh có chị thì nhân vật được gọi là em Hoàn cảnh, quan hệ của anh, chị với em ở mỗi gia đình là rất khác nhau và phản ánh vào trong văn chương cũng muôn màu muôn vẻ như vậy”. Từ đó tác giả xác định một số dạng quan hệ anh chị em thường gặp trong truyện cổ dân gian, như dạng “anh (chị) em xung đột gay gắt về quyền lợi, trong đó người em đại diện cho chính nghĩa, còn phía anh (chị) là kẻ ác, phi nghĩa… Đây là mô hình quan hệ cho ta hình tượng xã hội đậm nét hơn ở một giai đoạn mà đời sống đã phát triển tới trình độ khá cao về vật chất lẫn tinh thần” Bằng việc khảo sát 45 truyện cổ tích, tác giả khóa luận đã có những phát hiện về đặc điểm nhân vật người em, sự phát triển của hình tượng nhân vật trong kết cấu tác phẩm đồng thời chỉ ra ý nghĩa của kiểu nhân vật này trong truyện cổ tích các dân tộc
Năm 2003, kiểu truyện người em được triển khai trong khóa luận tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 - Tìm hiểu kiểu truyện người em út trong truyện cổ
Trang 1611
tích thần kì Việt Nam của sinh viên Nguyễn Thanh Vân Trên cơ sở tư liệu 35 truyện, tác giả đã khảo sát một số mô típ của kiểu truyện như mô típ chia gia tài, mô típ thử
thách, mô típ thưởng - phạt… và coi đó là hạt nhân tạo dựng cốt truyện của kiểu
truyện người em Tuy nhiên với dung lượng hạn hẹp của một khóa luận tốt nghiệp đại học, tác giả cũng mới chỉ dừng lại ở mức độ nhận diện mà chưa đi sâu phân tích nguồn gốc, sự diễn hóa của các mô típ cũng chưa nhìn ra vai trò của chúng đối với kết cấu của kiểu truyện
Cũng trong năm 2003, luận văn thạc sĩ Kiểu truyện “người em út” trong kho
tàng truyện cổ tích Việt Nam của Lê Thị Thanh An được bảo vệ tại trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Tp Hồ Chí Minh Kế thừa nền tảng lý thuyết từ hai
công trình Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sỹ trong truyện cổ Việt Nam và Đông
Nam Á[33] và Nhân vật xấu xí mà tài ba trong truyện cổ tích Việt Nam [42], tác giả đã triển khai nội dung luận văn theo trình tự xác định “các motif chính trong kết cấu của kiểu truyện”; xác định “kết cấu của kiểu truyện người em út” thông qua “sự tồn tại
của các motif riêng lẻ; hai nhân vật chính của kiểu truyện người em và sự xâu chuỗi
các motif vào cốt truyện” đồng thời chỉ ra “lược đồ kết cấu của kiểu truyện người em
út” Tác giả còn so sánh kiểu truyện người em ở Việt Nam với 17 truyện cùng kiểu ở
một số nước trên thế giới Như vậy, một số vấn đề căn bản của kiểu truyện đã được đặt ra và bước đầu luận văn đã có “những lý giải về một kiểu truyện quen thuộc và phổ biến không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước trên thế giới về một số phương diện như nguồn gốc hình thành, motif chủ yếu và các motif khác, cấu trúc bộ phận và cấu trúc của toàn kiểu truyện…”[3;tr.129] Tuy nhiên trong luận văn, tác giả mới chỉ
quan tâm tới những truyện kể có chủ đề anh - em phân chia gia tài (50 truyện của
Việt Nam và 17 truyện của nước ngoài) Thiết nghĩ, để có một sự khẳng định chắc chắn và thuyết phục về kiểu truyện cần phải khảo sát một số lượng truyện “đầy đặn”
và chứa đựng nhiều chủ đề hơn nữa
Ở các công trình trên, các tác giả đã đạt được những kết quả nhất định trong việc xác định kiểu nhân vật, hình thức kết cấu và một số mô típ chính của kiểu truyện Song phạm vi tư liệu chỉ giới hạn ở những truyện kể mô tả xung đột anh trưởng - em út với một số lượng còn hạn chế (35 - 50 truyện) nên kết quả nghiên cứu chưa đủ để bao quát cho toàn bộ diện mạo của kiểu truyện Đây là “khoảng trống” cần được “lấp đầy” vì muốn tìm hiểu cặn kẽ hơn về kiểu truyện nhất thiết phải đi từ kết quả khảo sát cụ thể
Nghiên cứu kiểu truyện người em từ góc độ so sánh, năm 2005, tác giả
Trang 1712
Nguyễn Bích Hà công bố bài viết: Vận dụng lý thuyết văn học so sánh, tìm hiểu kiểu
truyện người em trong truyện cổ tích Việt Nam và châu Âu trên Tạp chí Nghiên cứu
văn học Việc vận dụng lý thuyết văn học so sánh đã giúp tác giả tìm ra những nét tương đồng (chủ đề) và khác biệt (nhân vật, hoàn cảnh thử thách, xử lý hoàn cảnh, kết
thúc kiểu truyện, mô hình kết cấu) trong kiểu truyện người em ở Việt Nam và châu
Âu Những phát hiện và kiến giải thuyết phục của tác giả đã gợi ý cho chúng tôi khám phá kiểu truyện từ góc độ này
Năm 2009, Bùi Trần Quỳnh Ngọc có bài So sánh kiểu truyện về người em
trong kho tàng cổ tích Việt Nam và Anh - Tạp chí Văn hoá dân gian, số 1, đã xác
lập khái niệm truyện cổ tích về người em: “Truyện cổ tích về người em, về nguyên tắc, phải là truyện kể về sự đối kháng giữa các anh em, kể về sự bất công của các người anh đối với người em, mưu mô tham lam hoặc phản bội của người anh đối với người em” [70;tr.54] Đồng thời tác giả phân tích những điểm tương đồng, khác
biệt về kiểu truyện người em trong truyện cổ tích hai nước trên các phương diện: đề
tài, nhân vật và một số mô típ tiêu biểu như: mô típ thử thách, mô típ về sự lặp lại,
mô típ thưởng phạt
Năm 2010, tiếp tục quan tâm tới truyện cổ tích về người em út, trên tạp chí
Asian Ethnology Bùi Trần Quỳnh Ngọc có bài viết The Social Contract and Symbolic
Structure in Three Vietnamese Tales of the “Last Born” Dẫn chứng và phân tích ba
truyện cổ tích tiêu biểu của Việt Nam (Cây khế, Hà rầm hà rạc, Nhân tham tài nhi tử điểu tham thực nhi vong) tác giả chứng minh truyện về người em út phản ánh sự thay
đổi của cấu trúc xã hội truyền thống, từ chế độ người con út thừa kế sang chế độ người con trưởng thừa kế Với sự gia tăng của chế độ phụ hệ, người con út dần dần trở thành đối tượng yếu thế nhất trong gia đình trên phương diện tài sản Những hành động đối lập giữa họ với người anh đã tạo ra sự thưởng - phạt rất thích hợp của câu chuyện và điều này phản ánh quan niệm đạo đức Không chỉ giới hạn trong ba truyện
cổ tích của Việt Nam, tác giả còn so sánh với một số truyện kể của nước ngoài và nhận ra sự tương tự về chủ đề và cốt truyện trong truyện về người em ở nhiều nơi
Như vậy, kiểu truyện người em đã được khai thác ở hầu hết các khía cạnh quen
thuộc của thể loại: lý giải nguồn gốc, xác định kết cấu, phân tích nhân vật, nhận diện
mô típ… song rõ ràng là, với mục tiêu nghiên cứu khác nhau nên nhiều biểu hiện quan trọng của kiểu truyện còn chưa được quan tâm đúng mức Từ thực tế đó, chúng
tôi cho rằng kiểu truyện người em còn có thể khám phá từ nhiều góc độ hơn nữa,
nhằm làm sáng tỏ những giá trị được bảo lưu từ ngàn đời của kiểu truyện trong kho
Trang 1813 tàng truyện cổ dân gian quý giá của dân tộc
3 Mục đích nghiên cứu
3.1 Nghiên cứu kiểu truyện người em trên cơ sở khảo sát và phân loại tư liệu
truyện cổ tích các dân tộc, nhằm chứng minh sự “bao phủ” rộng rãi của kiểu truyện
ở khắp các vùng văn hóa trong cả nước, cũng như thấy được diện mạo, đặc điểm, đặc trưng của nó bên cạnh những kiểu truyện khác trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam
3.2 Nghiên cứu kiểu truyện người em, còn để hiểu sâu sắc hơn những giá trị
nhiều mặt được tích hợp trong kiểu truyện, đồng thời cũng là cơ hội hiểu sâu sắc hơn nội dung phản ánh đa dạng, phương thức tái tạo hiện thực độc đáo trong truyện
cổ tích nói chung
3.3 Nghiên cứu kiểu truyện người em, từ cái nhìn so sánh nhằm thấy được
những nét riêng trong phương thức xây dựng nhân vật, cấu tạo cốt truyện của cổ tích Việt Nam trong bức tranh chung của cổ tích thế giới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Ngay từ những thao tác đầu tiên, tiến hành khảo sát tư liệu phục vụ cho công việc nghiên cứu chúng tôi đã nhận ra sự hiện diện vô cùng phong phú của truyện cổ tích về người em Từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau, chúng tôi đã thống kê được 185 truyện đề cập tới mối quan hệ anh (chị) - em (tên truyện và nguồn tư liệu được trình bày trong Phụ lục 1 của luận án) Mối quan hệ đó biểu hiện qua hai khuynh hướng:
Thứ nhất là quan hệ tốt đẹp, có trong 50/185 truyện: anh (chị) - em sống hoà
thuận, tương thân tương ái, chia ngọt sẻ bùi hay đoàn kết chống lại thế lực hắc ám…
Thứ hai là quan hệ đối kháng, có trong 135/185 truyện: anh (chị) tham lam,
độc ác - em nhân hậu, ngay thẳng, thật thà Trong đối sánh với người anh (chị) người
em luôn chịu nhiều đau khổ, bất hạnh…
Trong luận án, chúng tôi chỉ lựa chọn những truyện kể phản ánh mối quan hệ đối kháng làm đối tượng khảo sát và nghiên cứu chính
4.2 Những truyện kể thuộc phạm vi nghiên cứu của chúng tôi, phần lớn nằm trong tiểu loại cổ tích thần kì - một tiểu loại, vốn đã được thừa nhận là tiêu biểu bậc nhất của thể loại Khuynh hướng nổi bật của truyện cổ tích thần kì, như nhận định của các nhà nghiên cứu, không phải là trình bày “cái đang có”, “cái đã có” mà hướng tới
“cái sẽ có”, “cái có thể có” Vì thế, dưới sự tác động của yếu tố thần kì, tiến trình cốt
Trang 1914 truyện chủ yếu diễn ra theo chiều hướng kết thúc có hậu và nhân vật trung tâm là những con người bất hạnh, được lý tưởng hóa Việc xác định đúng đặc trưng tiểu loại,
trong trường hợp này sẽ giúp chúng tôi có những phân tích, lý giải chính xác về kiểu
truyện người em
Bên cạnh đó, chiếm một số lượng ít hơn rất nhiều (6/135 truyện), là những truyện kể thuộc tiểu loại cổ tích sinh hoạt (truyện số 44, 45, 52, 89, 92, 131 – Phụ lục 2) Chủ đề chính của chúng vẫn là phản ánh mối quan hệ đối kháng giữa anh (chị) -
em trong gia đình nhưng để hóa giải xung đột truyện, tác giả dân gian không còn sử dụng yếu tố thần kì như một phương tiện nghệ thuật Vì vậy, tính chất hiện thực, đời thường ở những truyện kể thuộc tiểu loại này đậm nét hơn so với truyện kể thuộc tiểu loại cổ tích thần kì
Dựa trên kết quả khảo sát tư liệu về kiểu truyện như trên, phần lớn các nội dung nghiên cứu trong luận án được chúng tôi triển khai, dựa trên nguồn tư liệu liên quan đến tiểu loại cổ tích thần kì
4.3 Đề tài có tên Kiểu truyện người em trong truyện cổ tích các dân tộc Việt
Nam, song thực tế cho thấy Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, việc khai thác vốn truyện kể của tất cả các dân tộc là hết sức khó khăn Tương tự, việc tiếp cận vốn truyện cổ của tất cả các quốc gia trên thế giới cũng là điều không hề dễ dàng Vì vậy, chúng tôi chủ yếu triển khai nội dung các chương trên cơ sở thống kê nguồn truyện
cổ tích các dân tộc thiểu số đã được dịch sang tiếng phổ thông và truyện cổ tích của một số quốc gia châu Á và châu Âu đã được dịch ra tiếng Việt và tiếng Anh, bao gồm: 135 truyện của Việt Nam, 45 truyện của châu Á và 70 truyện của châu Âu
4.4 Nghiên cứu của chúng tôi, tập trung vào các phương diện cụ thể làm nên
diện mạo và đặc điểm của kiểu truyện người em trong truyện cổ tích các dân tộc Việt
Nam; từ cái nhìn tổng thể, chúng tôi đi sâu vào phương diện cấu trúc cơ bản của kiểu truyện, là các mô típ đặc trưng; cuối cùng, so sánh để tìm ra nét tương đồng và đặc
thù giữa kiểu truyện người em của Việt Nam với một số quốc gia châu Á và châu Âu
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thống kê, phân loại: được chúng tôi sử dụng trong quá trình khảo sát, thống kê, phân loại và mô tả đặc điểm tư liệu, đi đến những số liệu tin cậy, làm cơ sở vững chắc cho công việc nghiên cứu các nội dung của luận án
5.2 Phương pháp tiếp cận hệ thống: chúng tôi quan niệm kiểu truyện người em
là một hệ thống hoàn chỉnh, vì vậy phương pháp này giúp chúng tôi tiếp cận từng bộ
Trang 2015 phận cấu thành nên hệ thống cấu trúc của kiểu truyện, sự tương tác giữa các thành tố (nhân vật, cốt truyện, mô típ), tính toàn vẹn của kiểu truyện
5.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp: được vận dụng trong việc phân tích nhân vật (diễn biến số phận, hành động của các nhân vật; mối quan hệ của nhân vật chính với nhân vật đối thủ, nhân vật trợ giúp…); phân tích ý nghĩa văn học, ý nghĩa dân tộc học, văn hóa học… của các mô típ; phân tích vai trò kết nối của các mô típ trong toàn bộ kết cấu kiểu truyện; phân tích sự tương đồng và khác biệt của kiểu truyện trong quá trình so sánh… Từ đó tổng hợp, rút ra nhận xét, đánh giá
5.4 Phương pháp so sánh - loại hình: là phương pháp hiệu quả, giúp chúng tôi
tiến hành so sánh đối chiếu “truyện với truyện” thuộc kiểu truyện người em của Việt
Nam và của một số quốc gia châu Á và châu Âu, để phát hiện ra tính phổ biến rộng rãi, mối tác động ảnh hưởng qua lại của kiểu truyện; so sánh nhằm phát hiện và lý giải những vấn đề nguồn gốc xã hội, cội nguồn văn hóa, môi trường nảy sinh… của
kiểu truyện; so sánh để thấy được nét gặp gỡ, giao thoa trong kiểu truyện người em
của các dân tộc do chịu (hoặc không chịu) ảnh hưởng về văn hóa, xã hội, lịch sử…
5.5 Phương pháp liên ngành: kết hợp phương pháp nghiên cứu của các ngành dân tộc học, văn hóa học, ngữ văn học… để tìm hiểu những “dấu vết” cổ xưa, nội dung phản ánh, ý nghĩa biểu đạt… của kiểu truyện
Sử dụng các phương pháp trên trong quá trình thực hiện luận án, chúng tôi mong muốn đạt được những kết quả nghiên cứu khả quan, đáp ứng tốt mục tiêu nghiên cứu đã đề ra
6 Đóng góp của luận án
6.1 Nghiên cứu một cách hệ thống về kiểu truyện người em, luận án góp thêm
một tiếng nói khẳng định vị trí của kiểu truyện trong kho tàng truyện cổ tích các dân tộc Việt Nam Qua việc khảo sát, thống kê và phân tích, giải mã các ý nghĩa cơ bản
của cốt truyện, nhân vật và các mô típ trong kiểu truyện người em, từ các góc độ: ngữ
văn học, thi pháp học, dân tộc học, văn hóa học… luận án đã chỉ ra và khẳng định các giá trị văn học, văn hóa, lịch sử, xã hội, tôn giáo tín ngưỡng… mà truyện cổ tích các dân tộc Việt Nam đã chứa đựng, biểu trưng…
6.2 Luận án đã mở rộng, liên hệ so sánh truyện cổ tích về người em của Việt Nam với truyện của một số quốc gia cùng khu vực và trên thế giới để phát hiện giá trị độc đáo riêng biệt, bản sắc cũng như những nét chung, tương đồng mang tính toàn cầu của kiểu truyện này
Trang 2116 6.3 Luận án góp phần đổi mới phương pháp nghiên cứu văn học dân gian hiện nay Các phương pháp nghiên cứu như phương pháp liên ngành, phương pháp so sánh loại hình… được vận dụng kết hợp một cách linh hoạt, hiệu quả đã cho chúng tôi đi đến những kết luận có cơ sở khoa học, đáng tin cậy trong luận án Kết quả của
đề tài luận án có thể giúp ích cho các nhà nghiên cứu và giảng dạy văn học dân gian
về tư liệu cũng như một số luận điểm khoa học trong việc nghiên cứu thể loại truyện
cổ tích, một thể loại hết sức phong phú về nội dung cũng như về số lượng
7 Cấu trúc của luận án
Luận án ngoài các phần: Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Nội dung chính gồm ba chương:
− Chương 1 Tổng quan về kiểu truyện người em
− Chương 2 Diễn hóa mô típ trong kiểu truyện người em
− Chương 3 Kiểu truyện người em của Việt Nam trong tương quan với truyện
cùng kiểu ở châu Á và châu Âu
Trang 2217
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ KIỂU TRUYỆN NGƯỜI EM
Như bất kỳ kiểu truyện nào trong kho tàng cổ tích dồi dào của dân tộc, kiểu
truyện người em là sản phẩm của sự cộng đồng sáng tạo, phản ánh đầy đủ, rõ nét hiện thực và ước mơ của quần chúng nhân dân Mang trong mình những giá trị to lớn về
nội dung và nghệ thuật, kiểu truyện người em là một tập hợp truyện kể, mô tả sinh
động số phận của người em út bất hạnh trong gia đình phụ quyền Chúng tôi tiến hành thống kê và bước đầu đã tìm thấy một số lượng lớn bản kể thuộc kiểu truyện trong vốn truyện cổ tích của nhiều dân tộc trên khắp cả nước Nhiều đơn vị truyện tồn tại độc lập song cũng không ít truyện tồn tại dưới dạng “dị bản” - một hiện tượng phổ
biến không chỉ đối với riêng kiểu truyện người em Chính vì vậy trên cơ sở xác lập
khái niệm về kiểu truyện, chúng tôi bắt tay vào việc khảo sát nguồn tư liệu phong
phú, mong tìm đến một cái nhìn bao quát về diện mạo và đặc điểm nổi bật của kiểu
truyện người em
1.1. Diện mạo kiểu truyện người em
1.1.1. Nhận diện kiểu truyện người em
Trong luận án, chúng tôi dùng khái niệm kiểu truyện với ý nghĩa tương
đương với típ (type) Ở Việt Nam, khái niệm típ, được hiểu khá thống nhất, Vũ Anh
Tuấn trong luận án PTS: Khảo sát cấu trúc và ý nghĩa của một số típ truyện kể dân
gian Tày ở vùng Đông Bắc Việt Nam (1991) dùng khái niệm “típ truyện” với nội hàm: “Típ có nghĩa là khi nhận ra giữa một tập hợp mẫu kể có những điểm nổi bật thì đem xếp chung vào một loại Sau đó nghiên cứu những chỗ giống nhau đó rút ra các đặc điểm chung Dựa vào các đặc điểm chung này, có thể mở rộng phạm vi bằng cách tập hợp toàn bộ những dị bản có thể gộp lại được”[98;tr.13] Nguyễn Tấn Đắc trong bài viết Nghiên cứu truyện dân gian Đông Nam Á bằng motif và type (1998), cũng lý giải cặn kẽ nội hàm của khái niệm Theo đó, trong ngôn ngữ thông thường, típ được dùng để “chỉ một lớp vật thể có những đặc điểm chung Nó được dịch là kiểu, kiểu mẫu, đại diện điển hình” Trên cơ sở đó, khoa văn học dân gian đã dùng thuật ngữ típ để chỉ một tập hợp những mẫu truyện kể dân gian có chung một cốt kể (narrative) Cụ thể hơn, típ chỉ một tập hợp của nhiều mẫu truyện chứ không chỉ từng truyện riêng lẻ, và những mẫu truyện đó phải có chung một cốt kể Vậy típ
là một cốt với tất cả những dị bản của nó, và trở thành một kiểu truyện [21;tr.49]
Một dấu hiệu dễ nhận thấy, kiểu truyện bao giờ cũng được hình thành từ các
Trang 2318
mô típ , do đó có thể hiểu một cách đơn giản kiểu truyện là một tập hợp những truyện
kể có những mô típ cùng loại hình Sự tập hợp đó tạo thành một kiểu truyện độc lập
và được phân biệt với các kiểu truyện khác bởi các mô típ cốt lõi và ý nghĩa phản ánh riêng biệt của chúng Việc xác lập nội hàm khái niệm kiểu truyện có ý nghĩa định hướng cho chúng tôi trong việc lựa chọn tư liệu cũng như nắm bắt đối tượng khoa học cần nghiên cứu
Trong kiểu truyện người em, những mâu thuẫn và đấu tranh xã hội được ẩn
dưới quan hệ giữa các cá nhân diễn ra trong phạm vi gia đình Một bên là anh hoặc chị được đề cao với nguyên tắc “người lớn tuổi” và bên kia là người em út “thấp cổ
bé họng” Vì thế, kiểu truyện người em, được xây dựng với nguyên tắc cơ bản là phản
ánh mối xung đột giữa anh (chị) - em trong gia đình, tố cáo thái độ bất bình đẳng của anh (chị) đối với em trong việc phân chia gia tài, hoặc âm mưu phản bội, giết chết
người em vì người em đạt được những điều mà anh (chị) không đạt được
Khái niệm kiểu truyện người em, như đã trình bày giúp chúng tôi có cơ sở để nhận diện rõ ràng hơn về kiểu truyện Theo đó, chúng tôi xác định kiểu truyện người
em phải là tập hợp những truyện kể chứa đựng các dấu hiệu cơ bản sau:
a) Trong truyện, nhân vật người em phải là nhân vật chính - nhân vật chính
diện Sở dĩ chúng tôi xác lập tiêu chí cụ thể này là do kiểu nhân vật người em hoàn
toàn không chỉ thuộc về kiểu truyện người em mà còn có mặt trong một số kiểu truyện khác Trong kiểu truyện người con riêng, người em đóng vai trò nhân vật
phản diện, là đối thủ của nhân vật chính diện Xung đột giữa họ diễn ra trong phạm
vi gia đình và cũng mang tính chất quyết liệt một mất một còn Để thực hiện đến cùng mục đích của mình, người em thường ra tay bức hại người chị chết đi sống lại
nhiều lần (Tấm Cám - Việt, Ý Ưởi Ý Noọng - Thái, Tua Gia Tua Nhi - Tày…) Vì
vậy kiểu nhân vật đó mang chức năng nhân vật ác, đại diện cho cái ác tột cùng trong
truyện cổ tích Hay trong kiểu truyện người mang lốt, người em lại đóng vai trò nhân vật phụ (Sọ Dừa - Việt, Chàng rùa - Khơ Mú, Chàng Cóc - Xơ đăng…)
Trong quan hệ với người mang lốt - nhân vật chính, người em gái út nhân hậu là
“đối tượng mơ ước, người mà nhân vật chính luôn mơ ước lấy làm vợ” [42;tr.23] và
“cuộc hôn nhân sẽ không tiến triển được nếu không có vai trò của những người con gái xinh đẹp này Mặc dù không phải là nhân vật chính nhưng cô gái đã góp phần thúc đẩy cho cuộc hôn nhân nhanh chóng đi tới kết quả tốt đẹp của nó” [42;tr.97] Đó
là điểm khiến cho người em gái út trong kiểu truyện này khác biệt với người em gái
Trang 2419
út trong kiểu truyện người em, cho dù họ đều được đặt trước thử thách hôn nhân, lấy
con vật làm chồng
Từ tiêu chí trên, chúng tôi xác định một số truyện kể nằm giữa ranh giới kiểu
truyện người em và kiểu truyện người mang lốt như: Bảy chị em - Giáy; Chàng Tơ Rá
Trang Lan - Cơ ho; Người vợ cá - Mông… cũng thuộc đối tượng khảo sát của luận
án Trong truyện, nhân vật người em là nhân vật chính và thường có mối quan hệ hôn
nhân với người mang lốt Vì thế, người mang lốt trong những truyện kể này không phải là nhân vật chính, không được miêu tả diễn biến số phận, theo chiều hướng: ra đời thần kì → gặp thử thách (bộc lộ tài năng hoặc khả năng đặc biệt) → kết hôn →
trút lốt kiểu như Sọ Dừa (truyện Sọ Dừa) cô vợ cóc (truyện Người lấy cóc) anh chồng
dê (truyện Lấy chồng dê)… Ở đây, người mang lốt (rắn, trăn, thuồng luồng, cá) đóng
vai trò nhân vật phụ và chỉ được “nhắc tới” như một lý do tạo nên sự khác biệt về phẩm chất đạo đức hoặc là nguyên cớ gây ra sự đối kháng giữa anh (chị) - em trong gia đình Việc mở rộng “biên độ” tư liệu như vậy sẽ cho chúng tôi một cái nhìn bao
quát hơn về nhân vật, cốt truyện và những phạm vi phản ánh khác trong kiểu truyện
người em
b) Trong truyện, người em luôn luôn được đề cao, lý tưởng hóa “không phải
khi anh ta đã được hưởng những quyền lợi nào đấy mà khi anh ta đã trở thành khốn khổ trong quá trình lịch sử”[63;tr.190] Đồng thời truyện phải mô tả quan hệ anh
(chị) - em trong phạm vi gia đình, mối quan hệ đó được xác lập trên cơ sở gần gũi
về mặt huyết thống hoặc kết nghĩa anh (chị) em nuôi Cần phải nói thêm rằng,
không phải truyện cổ tích nào miêu tả quan hệ anh (chị) - em cũng thuộc kiểu truyện
người em và không phải truyện cổ tích nào có nhân vật người em cũng thuộc kiểu truyện này
c) Đặc biệt, người em phải được đặt trong sự đối sánh với một (hoặc nhiều)
người anh (chị) nhằm bộc lộ sự đối lập về bản chất giữa họ: anh (chị) tham lam, độc
ác - em thơm thảo, hiền lành Xét theo tiêu chí này thì những truyện có nhân vật anh
(chị) - em thuận hòa thương yêu, giúp đỡ nhau (Hai anh em mồ côi - Cor; Tá Lì Khí
- Hà Nhì; Sự tích tiếng kêu ác! ác! - Mường…); hoặc tài năng, đoàn kết chống lại thế lực thống trị, quái vật (Ba anh em - Mông; Ba anh em - Pu Péo; Ba anh em khỏe
- Hà Nhì…); vì hiểu lầm mà chia rẽ (Trầu Cau; Sao hôm sao mai - Việt; Bô lô Đu
lơ - Cơ tu… ) sẽ không thuộc kiểu truyện người em - đối tượng nghiên cứu của
chúng tôi
Trang 2520
Chúng tôi đã nhận diện và thống kê được 135 truyện thuộc kiểu truyện người
em trong kho tàng cổ tích các dân tộc Việt Nam Chắc chắn đó chưa phải là tất cả song với số lượng truyện đã sưu tầm, hy vọng chúng tôi sẽ có đủ cơ sở để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu
1.1.2. Cơ sở địa - văn hóa của kiểu truyện người em
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em Trong đó dân tộc Việt (Kinh) đông nhất chiếm khoảng 87% dân số cả nước, còn lại 53 dân tộc thiểu số chiếm khoảng 13% dân số Các dân tộc ở Việt Nam sinh sống đan xen trên khắp các địa bàn từ miền ngược đến miền xuôi, từ rẻo cao cho đến đồng bằng, tạo nên sự thống nhất về lãnh thổ cư trú Đó là sự sinh tụ lâu đời trên một khu vực địa lý là hành lang của châu Á nhìn ra Thái Bình Dương, theo trục Bắc Nam với hướng mở rộng về phía Nam Điều kiện tự nhiên vừa có tính thống nhất vừa có tính khu biệt đã tạo ra cho Việt Nam những thông số chung của văn hóa dân tộc quốc gia, tạo nên cơ tầng văn hóa bản địa Đông Nam Á và những bản sắc văn hóa tộc người vừa phong phú vừa đậm đà bao gồm cả yếu tố phổ biến và yếu tố đặc thù [111;tr.55]. Như vậy, mặc dù phân chia thành các nhóm dân tộc nhưng lại có chung một cơ tầng văn hóa - văn hóa Nam Á nên giữa các dân tộc từ lâu đã hình thành mối quan hệ nhiều mặt hết sức bền chặt và gần gũi Bên cạnh đó, Việt Nam còn được thừa hưởng một nền văn hóa cổ xưa rực rỡ, thời Đá - Đồng tiền Đông Sơn và Đông Sơn, nền văn hóa Nam phương
mà W.G Solhheim, một nhà khảo cổ học nổi tiếng đã nhận xét là “những di tích văn hóa của các dân tộc mà tổ tiên họ đã biết phương pháp trồng cây, chế tạo đồ đá mài
và đồ gốm sớm hơn các dân tộc Cận Đông, Ấn Độ, Trung Hoa đến cả ngàn năm” [166; tr.7] Đồng thời, từ rất sớm Việt Nam đã đón nhận nhiều dòng người, nhiều dòng văn hóa đa dạng từ rất nhiều nơi Đây là những yếu tố làm nên nét tương đồng trong vốn văn hóa nói chung và truyện cổ tích của các dân tộc nói riêng Với 135 truyện
thuộc kiểu truyện người em được chúng tôi lựa chọn làm đối tượng nghiên cứu, có thể
minh chứng rõ ràng cho vấn đề này Thao tác lập bảng phân vùng văn hóa, thành phần dân tộc và ngữ hệ, cho phép chúng tôi nhìn nhận về sự hiện diện rộng rãi của
kiểu truyện người em trong kho tàng cổ tích các dân tộc Việt Nam
Thứ nhất, việc phân vùng văn hóa mà chúng tôi tiến hành, chỉ nhằm xác định
địa bàn cư trú chủ yếu của mỗi dân tộc Sự phân vùng hoàn toàn mang tính chất
tương đối vì trong thực tế, đồng bào các dân tộc thiểu số ngoài việc cư trú trên một số địa bàn chủ yếu như đã xác định còn sinh sống xen kẽ ở khắp nơi trong cả nước
Trang 2621 Chẳng hạn người Chăm không chỉ có mặt ở Duyên hải Nam Trung Bộ mà còn định
cư ở cả Đồng bằng sông Cửu Long Cũng vậy, người Việt (Kinh) không phải chỉ định
cư ở khu vực Đồng bằng sông Hồng mà còn sinh sống ở tất cả các vùng miền khác trong cả nước Mục đích của chúng tôi khi tiến hành phân vùng địa lí, là thử làm một phép so sánh tỉ lệ phân bố của kiểu truyện ở mỗi vùng miền
Vùng văn hóa ( 1 )
(Địa bàn cư trú chủ yếu) Dân tộc (
2 ) Ngữ hệ ( 3 ) Số lượng
(Truyện)
Miền núi phía Bắc
(1) Phân vùng văn hóa trong bảng được dựa vào cách phân loại trong cuốn Chấn hưng các vùng và tiểu vùng
văn hóa ở nước ta hiện nay [103]
(2) Tên gọi thành phần các dân tộc được chúng tôi viết theo bảng Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam
in trong cuốn Dân tộc học đại cương [30]
(3) Các ngữ hệ được xác định theo cuốn Dân tộc học đại cương [30]
Trang 2722
Căn cứ vào kết quả được thống kê từ bảng trên, có thể thấy kiểu truyện người
em có mặt ở hầu hết các vùng trong cả nước Tuy nhiên sự hiện diện của kiểu truyện
ở các vùng có tỉ lệ không đồng đều, cụ thể:
− Khu vực Đồng bằng sông Hồng có 28 truyện của 1 dân tộc
− Khu vực Miền núi phía Bắc có 63 truyện của 12 dân tộc
− Khu vực Bắc Trung bộ và Nam Trung bộ có 32 truyện của 10 dân tộc
− Khu vực Trường Sơn - Tây Nguyên có 10 truyện của 5 dân tộc
− Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có 2 truyện của 1 dân tộc
Thứ hai , kiểu truyện người em được tìm thấy trong vốn truyện cổ của 29/54
dân tộc Nhân đây, chúng tôi xin được giải thích về tên gọi (tộc danh) của các dân tộc được chúng tôi sử dụng trong luận án Về tên gọi của các dân tộc, chúng tôi lựa chọn cách viết theo quy ước chung: Xơ đăng thay cho Xê đăng; Chăm thay cho Chàm… Riêng đối với dân tộc Hmông, chúng tôi lựa chọn cách viết là Mông Theo lý giải của một số nhà nghiên cứu, trong hệ ngôn ngữ Mông - Dao, từ “người” được phát âm là Môngz Trong hệ thống âm tiết tiếng Việt không có phụ âm ghi được chính xác âm tiết Mông (Môngz) nên các nhà ngôn ngữ đã mượn phụ âm “Hm” của hệ thống phụ
âm tiếng Mông để ghi từ “Môngz” và đi vào Danh mục các thành phần dân tộc Việt
Nam thành Hmông hoặc Hơ mông Nhưng trong thực tế, các cách gọi tộc danh là
Trang 2823 Mèo hay Hmông, Hơ mông đều bị người Mông ghét bỏ và phản ứng dữ dội Họ chỉ muốn gọi tên dân tộc mình là Mông (có nghĩa là Người) Vì vậy mà Hội nghị cốt cán dân tộc Mông do Ủy ban Dân tộc của Chính phủ tổ chức năm 1978, đã thống nhất tên gọi là dân tộc Mông [60;tr.251] Trong trường hợp một dân tộc nhưng có nhiều tên gọi khác nhau: dân tộc Mông còn được gọi là Mèo; Xơ đăng còn được gọi là Ka dong;
Cơ ho còn được gọi là Xrê… chúng tôi cũng thống nhất chỉ dùng một cách gọi duy nhất tránh nhầm lẫn, ảnh hưởng tới kết quả khảo sát
Cũng từ bảng khảo sát, có thể thấy số lượng truyện của từng dân tộc có tỉ lệ
chênh lệch khá cao:
− Nhiều nhất thuộc dân tộc Việt (28 truyện), Mông (21 truyện)
− Ít nhất thuộc dân tộc Cao Lan, Hà Nhì, Raglai, Cơ ho, Ba na, Mnông, Tà ôi,
Mạ (1 truyện)
Thứ ba , tư liệu kiểu truyện người em tồn tại ở cả bốn ngữ hệ của Đông Nam Á nhưng số lượng truyện thuộc mỗi ngữ hệ cũng có tỉ lệ khác biệt:
− Ngữ hệ Thái 17 truyện của 5 dân tộc;
− Ngữ hệ Hán - Tạng 3 truyện của 2 dân tộc;
− Ngữ hệ Nam Á 100 truyện của 18 dân tộc;
− Ngữ hệ Nam Đảo 15 truyện của 4 dân tộc
Tỉ lệ truyện khác nhau giữa các khu vực, các dân tộc, các ngữ hệ là một hiện tượng đặc biệt không thể phủ nhận Hiện tượng này có liên quan gì đến điều kiện địa
lý - văn hóa của các tộc người?
Có thể thấy, mỗi cộng đồng quốc gia thường bao gồm nhiều cộng đồng tộc
người, nhiều ngôn ngữ, nhiều yếu tố văn hóa… Mỗi cộng đồng tộc người với những
biểu hiện riêng biệt về ngôn ngữ, văn hóa, được coi là một dân tộc (tộc người) Do đó tộc người hay dân tộc (ethnic) là: “một cộng đồng mang tính tộc người có chung một tên gọi, một ngôn ngữ (trừ trường hợp cá biệt) được liên kết với nhau bằng những giá trị sinh hoạt văn hóa, tạo thành một tính cách tộc người, có chung một ý thức tự giác tộc người, tức là có chung một khát vọng được cùng chung sống, có chung một số phận lịch sử thể hiện ở những ký ức lịch sử (truyền thuyết, lịch sử, huyền thoại, kiêng cữ) [102;tr.73] Bên cạnh đó, còn có sự đan xen, giao thoa giữa các tộc người trên cùng một địa bàn, một khu vực cư trú, tất yếu sẽ nảy sinh mối quan hệ chính - phụ, mạnh - yếu Đó là quy luật làm nảy sinh hiện tượng: “Trong các tiểu vùng và các khu vực thường có những bộ phận văn hóa giữ vai trò chủ đạo mang tính nổi trội, đủ sức lấn
Trang 2924
át, hay chi phối các bộ phận văn hóa khác” [60;tr.268] Vì thế, không khó để nhận ra tính nổi trội của tiểu vùng văn hóa này so với tiểu vùng văn hóa khác hay giữa dân tộc này với dân tộc khác Cũng vì thế mà cùng một khu vực địa lý - văn hóa, tỉ lệ
phân bố của kiểu truyện người em cũng rất khác nhau
Theo kết quả khảo sát, người Việt có tới 28/135 truyện Các truyện còn lại thuộc về vốn truyện cổ tích của đồng bào các dân tộc thiểu số Riêng khu vực Miền núi phía Bắc, chúng tôi đã tìm thấy 51 truyện của 12 dân tộc So với các khu vực khác, nhất là với khu vực Trường Sơn - Tây Nguyên, tỉ lệ đó là khá cao Nhìn nhận hiện tượng này theo quan điểm của các nhà dân tộc học khi nghiên cứu trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các tộc người ở Việt Nam, có thể lý giải: “Do sự phát triển không đồng đều giữa các cư dân đồng bằng và miền núi, giữa người Kinh với các dân tộc anh em khác; do hậu quả của 80 năm đô hộ của thực dân Pháp, bức tranh phân hóa xã hội ở các tộc người nước ta hết sức đa dạng [30;tr.42] Trong bức tranh toàn cảnh đó, người Việt có trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao nhất Sự phân hóa giai cấp trong các xã hội tộc người miền núi phía Bắc như Tày, Thái, Mường, Mông, Dao… đã xuất hiện và cũng khá phổ biến Trong gia đình, tư tưởng phụ quyền giữ vai trò chính thống, có thể thấy biểu hiện khá rõ qua đời sống sinh hoạt của một số dân tộc Chẳng hạn như người Tày, một dân tộc có lịch sử cội nguồn từ rất sớm Sống
ở miền trung du và miền núi lâu đời, quan hệ gia đình của người Tày hàng nghìn năm
đã hình thành nên những đặc trưng riêng Quan hệ gia đình theo kiểu phụ hệ và sống theo hình thức đại gia đình, nhiều thế hệ cùng chung sống dưới một mái nhà (nhà to
có nhiều gian) và có nền kinh tế chung Trong gia đình, người ta thường nhấn mạnh vai trò trụ cột của người chồng, người cha Trước kia, trong xã hội phong kiến tư tưởng “trọng nam khinh nữ” còn khá nặng nề, con cái dứt khoát phải theo họ bố và con trai trưởng có tiếng nói quyết định sau người cha Vì thế, trong sinh hoạt hay lao động, người chồng - người cha cùng với người con trai trưởng thường đảm nhận các công việc quan trọng hay nặng nhọc của gia đình, dòng tộc và cộng đồng Tương tự, gia đình của người Nùng cũng tồn tại theo hình thức các gia đình lớn tập trung nhiều thế hệ Con cháu đến tuổi trưởng thành, lấy vợ lấy chồng vẫn sống chung với đại gia đình bao gồm cụ kỵ, ông bà, cha mẹ, con cái Các con chỉ tách ra ở riêng sau khi người con trai út trong gia đình kết hôn và thông thường chỉ vợ chồng con trai cả ở cùng cha mẹ Tư tưởng lễ giáo phong kiến khá đậm nét trong sinh hoạt của gia đình người Nùng Người đàn ông có tiếng nói quan trọng nhất trong gia đình, làm chủ gia đình, làm chủ tài sản và tham gia vào những việc lớn của cộng đồng dòng họ Người
Trang 3025 phụ nữ chịu sự chi phối của người đàn ông, chăm lo việc nhà và đặc biệt không có
quyền thừa kế tài sản… Đó là cơ sở thực tế, giải thích vì sao truyện cổ tích kể về
người em - “nạn nhân của sự phá bỏ tinh thần dân chủ” lại trở thành chủ đề được
“nhắc lại” nhiều đến như vậy trong truyện cổ tích của dân tộc Việt và một số dân tộc miền núi phía Bắc
Trong số truyện kể của các đồng bào dân tộc thiểu số, dân tộc Mông có tỉ lệ truyện lớn nhất Đây là một trong những dân tộc có số lượng đông nhất khu vực Miền núi phía Bắc với sự bảo lưu văn hóa truyền thống đậm nét Trong quan hệ gia đình, người Mông thường gắn kết với nhau theo hình thái gia đình phụ quyền Vai trò quyết định mọi việc thường thuộc về người chồng, người cha Nhiệm vụ của đàn ông và đàn bà cũng được xác định rõ ràng, thể hiện qua những tập tục đời thường Người Mông nếu đẻ con trai họ sẽ lấy nhau thai chôn ở chân cột chính với mong muốn đứa bé sau này sẽ trở thành trụ cột trong gia đình Ngược lại nếu đẻ con gái, nhau thai sẽ được chôn ở gầm giường với mong muốn đứa bé sau này sẽ làm tốt công việc chăm sóc con cái, trông coi nhà cửa, vun vén gia đình… Trong quan hệ hôn nhân, tục đa thê, tục “cướp vợ”, tục hôn nhân anh em chồng vẫn tồn tại ở nhiều vùng người Mông Theo tục lệ, nếu chẳng may chồng chết mà người vợ muốn đi bước nữa thì có thể kết hôn với em chồng, dù em chồng đã có vợ con Phải chăng đây là dấu vết xưa cũ còn lưu lại trong truyện cổ tích Mông, và góp phần lý giải vì
sao trong kiểu truyện người em mối quan hệ anh (chị) em thường bị đổ vỡ, sứt mẻ từ
chính nguyên nhân cướp vợ (chồng)?
Còn đối với các dân tộc ở khu vực Trường Sơn - Tây Nguyên, do trình độ xã hội phát triển chậm hơn, mới ở vào thời kỳ manh nha có giai cấp, nên sự phân tầng phức tạp, sự phân hóa giai cấp chưa diễn ra như ở các dân tộc miền núi phía Bắc Trong xã hội có sự chênh lệch giàu nghèo nhưng chưa có quan hệ bóc lột Mặt khác, các dân tộc thiểu số ở Việt Nam cư trú trải dài theo dọc biên giới từ Bắc chí Nam nên ngoài việc ảnh hưởng lẫn nhau, còn chịu ảnh hưởng từ các quốc gia bên ngoài Các dân tộc phía Bắc chịu ảnh hưởng của văn hóa Hán, các dân tộc ở Trường Sơn - Tây Nguyên, tính bản địa hay tính nội sinh của văn hóa tộc người được bảo lưu khá trọn
vẹn song không loại trừ sự ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ Vì vậy, kiểu truyện người
em - một sản phẩm nhận thức xã hội, thể hiện sự thắng thế của tư tưởng phụ quyền, lại xuất hiện mờ nhạt trong truyện cổ tích của các dân tộc này Hay như 4 dân tộc cùng thuộc nhóm ngữ hệ Nam Đảo (như bảng khảo sát) bao gồm Chăm, Gia rai, Raglai và Chu ru thì dân tộc Chăm có trình độ phát triển cao nhất Vì vậy kết quả
Trang 3126 khảo sát chúng tôi thu được, dân tộc Chăm có tới 10/15 truyện, trong khi Gia rai, Raglai, Chu ru có số lượng truyện rất ít (1 - 2 truyện) Rõ ràng những biểu hiện thực
tế đã chi phối trực tiếp tới tinh thần sáng tạo truyện cổ tích của nhân dân lao động và
kiểu truyện người em được xem là những tia hồi quang được khúc xạ từ chính hiện thực rộng lớn ấy Song tỉ lệ truyện dù chênh lệch đến mấy, thì ở truyện kể của mỗi dân tộc ta cũng nhìn thấy bóng dáng con người và cuộc sống thực tại của họ Cuộc sống ấy đi vào truyện cổ tích được phản ánh và lý giải bằng chất liệu văn học, trở nên sống động, đậm đà bản sắc, thể hiện lối cảm lối nghĩ của đồng bào các dân tộc thiểu
số trên khắp cả nước
Sự phân tích trên cho thấy, chính điều kiện địa lý - văn hóa là một trong những
tiền đề quan trọng cho sự hình thành kiểu truyện người em trong kho tàng truyện cổ
tích của các dân tộc Việt Nam Các dân tộc với trình độ phát triển khác nhau và sống trong những điều kiện tự nhiên khác nhau lại có được sự giống nhau về vốn truyện kể dân gian, cũng là hiện tượng khá thú vị
1.2. Đặc điểm nhân vật trong kiểu truyện người em
Nhân vật được xem là hình thức cơ bản để qua đó văn học miêu tả thế giới một cách hình tượng, hay nói một cách cụ thể hơn, nhân vật là: “hình tượng nghệ thuật về con người, là một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ Bên cạnh con người, nhân vật văn học có khi là các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường được gán cho những đặc điểm giống con người”
[7;tr.249]
Từ nội hàm của khái niệm, chúng tôi soi chiếu vào thực tế tư liệu và xác định
hệ thống nhân vật của kiểu truyện người em qua các mối quan hệ đối lập, đối chiếu,
tương phản, bổ sung Nhân vật là con người, được nhận diện qua mối quan hệ anh (chị) em ruột, anh (chị) em nuôi, chị dâu em chồng như: người em trai út, người em gái út, người anh trai, người chị gái, người chị dâu… Nhân vật trợ giúp khá đông đảo với các dạng: bụt, tiên, thần, con vật, đồ vật… Bên cạnh đó, đặc điểm loại hình nhân vật và cách thức tổ chức quan hệ giữa các tuyến nhân vật, cũng góp phần không nhỏ trong việc bộc lộ nội dung phản ánh hiện thực của kiểu truyện
Trong kiểu truyện người em, người em út hoặc người anh trai, chị gái, chị dâu
là tên gọi chung của những nhân vật đồng dạng, mang nét tương đồng căn bản về tính
cách, hành động, số phận, được gọi là kiểu nhân vật Việc khảo sát được tiến hành ở
phương diện này không chỉ có ý nghĩa xem xét vai trò của nhân vật trong quá trình
Trang 3227 hình thành và phát triển cốt truyện mà còn có ý nghĩa rất lớn trong việc tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người và lý tưởng thẩm mỹ của nhân dân trong truyện cổ tích Mối quan hệ giữa các lực lượng nhân vật, tùy thuộc vào mục đích phản ánh và “tái tạo” hiện thực được truyện cổ tích lý giải từ hai góc độ: hòa thuận hoặc xung đột, đối kháng Như đã trình bày trong phạm vi nghiên cứu, chúng tôi chỉ xem xét kiểu nhân vật người em trong quan hệ đối kháng với người anh (chị) Từ kết quả khảo sát, chúng tôi định dạng các kiểu nhân vật trong kiểu truyện, tỉ lệ xuất hiện và đặc điểm khái quát của hình tượng như sau:
1.2.1 Nhân vật chính
Nhân vật chính trong truyện cổ tích thường được biết đến với đặc điểm nguồn
gốc thấp hèn (nhân vật bất hạnh) hoặc ra đời thần kì (nhân vật kỳ tài) Có thể thấy, trong kiểu truyện người em, nhân vật chính đại đa số có nguồn gốc xuất thân thấp
hèn, thậm chí tỉ lệ này là tuyệt đối trong những truyện có nhân vật chính là người em trai út
Sự nổi bật của hình tượng người em út trong truyện cổ tích của nhiều dân tộc
là một hiện tượng văn học, mang ý nghĩa phản chiếu thực tại xã hội đậm nét Cùng với người con riêng, người em út trở thành kiểu nhân vật mồ côi quen thuộc của truyện cổ tích với đặc điểm thân phận - “nhỏ bé”, “thấp hèn”, “dưới đáy” Song mang chức năng nhân vật thiện có phẩm chất tốt đẹp, người em út làđại diện tiêu biểu cho
lý tưởng đạo đức và lý tưởng thẩm mỹ của nhân dân, giúp họ thể hiện một cách sâu sắc nhất mối đồng cảm với những con người bất hạnh đồng thời bày tỏ thái độ phản đối những mối quan hệ đối kháng đang hình thành trong xã hội
1.2.1.1. Nhân vật người em trai út
Xuất hiện trong 100/135 truyện, nhân vật người em trai út được đặt trong
mối quan hệ với một (hoặc hai) người anh trai, là thành viên yếu thế nhất, “thấp cổ
bé họng” nhất trong gia đình phụ quyền Họ được biết đến là những “con người nhỏ bé” tội nghiệp, đáng thương, bị đẩy vào tình trạng khốn khổ về kinh tế, thiếu thốn về vật chất và đau xót hơn họ mất đi sự gần gũi với người thân ruột thịt: “lên rừng khóc rừng, xuống suối khóc suối, than thân trách phận, gọi hồn cổ thụ rậm rạp
che kín cả ánh sáng mặt trời, không còn biết sớm hay tối nữa” (Hổ, gấu và lợn rừng
- Giáy); “người em thui thủi vào rừng đốn củi hoặc xuống lạch mò cua, bắt cá đem
vào sóc đổi lấy gạo, rau sống qua ngày” (Cối xay thần - Khơ me)… Nỗi thống khổ
mà người em phải gánh chịu là một minh chứng xác thực cho việc đề cao vai trò
Trang 3328 của người con trưởng và hạ thấp vai trò của người con út trong gia đình phụ hệ Khi
đề cập đến hiện tượng mang tính chất phổ biến này, rõ ràng tác giả dân gian đã có một cái nhìn tương đối thẳng thắn và khách quan về những vấn đề nhức nhối đang diễn ra trong thực tại xã hội, đặc biệt về thân phận của những “con người nhỏ bé”
mà người em là một ví dụ tiêu biểu Trong quan hệ với những kẻ “bề trên”, họ trở thành “bề dưới” có địa vị thấp kém Cùng là con trong gia đình do một bố một mẹ sinh ra vậy mà họ phải chấp nhận sự đối xử bất công như một lẽ đương nhiên Mối quan hệ anh em, càng trở nên lỏng lẻo hơn sau khi cha mẹ qua đời Những người anh bất chấp đạo lý, bất chấp tình thân ra sức đày đọa những đứa em nhỏ bé, hiền lành Họ sống bên cạnh người anh, không phải với tư cách người em mà với địa vị
của một kẻ đi ở, làm thuê: bắt em làm đày tớ cho mình mới cho ăn (Hai anh em mồ
côi - Pu Péo); bắt em làm đủ mọi việc, thậm chí không cho em ăn uống gì, đến nỗi
em phải ăn rận trừ bữa (Người em tài giỏi - Mông)… Không chỉ chịu sự ghẻ lạnh, hành hạ bạc đãi, người em còn là nạn nhân của sự bóc lột, chiếm đoạt gia tài Xét
về địa vị và hoàn cảnh sống, trong tương quan so sánh với người anh, người em là
kẻ nghèo hèn, không tài sản, không nơi nương tựa, có địa vị vô cùng thấp kém Tuy nhiên, được xây dựng theo xu hướng lý tưởng hóa, người em trở thành một hình mẫu hội tụ đầy đủ phẩm chất đạo đức mà dân gian muốn đề cao như một tấm gương cho thiên hạ soi chung
Nét phẩm chất nổi bật và đáng quý nhất của người em trai út là hiền lành, thật
thà, trung thực Dù bị hành hạ, ức hiếp đến đâu, người em cũng chấp nhận thua thiệt
về mình không một lời ta thán Sau này trước những việc làm đầy toan tính của người anh, người em càng thể hiện rõ bản chất vô tư, trong sáng Thấy em tự nhiên giàu có, người anh với bản chất tham lam đã không ngăn nổi tò mò lẫn ham muốn nên lân la hỏi chuyện và người em ngây thơ cả tin, đã thật thà kể hết đầu đuôi câu chuyện Sự
“lặp lại” chi tiết này trong nhiều truyện, rõ ràng liên quan đến thi pháp nhân vật truyện cổ tích Nhân vật trong truyện cổ tích được xây dựng như những nhân vật chức năng, theo kiểu đơn tính cách và tuyệt đối hóa, đã tốt thì tốt từ đầu đến cuối và người
em là một kiểu nhân vật như vậy Tính cách của nhân vật người em trong kiểu truyện thực chất là sự nhấn mạnh và đề cao những phẩm chất đạo đức tốt đẹp mà nhân dân muốn hướng tới trong đời sống thực tế, đồng thời bộc lộ lý tưởng thẩm mỹ, khát vọng cải tạo xã hội của họ Con đường để cải tạo xã hội và san bằng mọi bất công ngang trái, theo quan niệm của dân gian, chỉ có thể là bằng đạo đức và đạo đức được coi là cái gốc của mọi sự tốt xấu trên đời Trên cơ sở đó, triết lý lòng tốt, triết lý ở hiền luôn
Trang 3429 tồn tại trong nếp sống, nếp nghĩ của nhân dân Trong cộng đồng làng xã, người với người thân mật gần gũi, ôn hòa: “Bán anh em xa mua láng giềng gần” còn trong gia đình luôn chủ trương: “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”, “Đắng cay cũng thể ruột rà”… Chính sự linh hoạt trong ứng xử đã tạo nên lối sống “tối lửa tắt đèn có nhau” rất trọng tình của người lao động Vì vậy, không phải ngẫu nhiên nhân vật chính diện trong truyện cổ tích lại thường được ngợi ca ở phương diện lòng tốt, ở hiền Trong
nhiều trường hợp, người em ngây thơ, cả tin đến mức ngốc nghếch, dại khờ Nghe lời
anh, em cặm cụi tát nước để anh bắt cá nhưng bắt được bao nhiêu anh lại cho vào giỏ
của mình bấy nhiêu (Cá bống thần - Vân Kiều); nghe lời anh lên rừng lấy trứng rắn
về cưới vợ, bị anh bỏ mặc trong rừng (A xanh - Xơ đăng)… Ở đây tính cách của
người em bị đẩy đến mức cực đoan nhằm đặc tả: nhân vật càng hiền lành, tốt bụng thì
sự đổi thay số phận của họ lại càng rạng rỡ
Nhìn chung sự phát triển hình tượng người em trai út được xây dựng hoàn toàn phù hợp với nhu cầu thẩm mỹ của dân gian Giai đoạn đầu của cuộc đời, nhân vật là người bất hạnh, chịu nhiều đau khổ oan ức nhưng ở giai đoạn sau họ đổi đời sống hạnh phúc, giàu có Để thực hiện ý đồ sáng tạo theo khuynh hướng lãng mạn đó, tác giả dân gian đã dùng trí tưởng tượng bay bổng hư cấu nên yếu tố thần kì - phương tiện trợ lực nhân vật chính diện vượt qua thử thách
1.2.1.2. Nhân vật người em gái út
Xuất hiện với tỉ lệ ít hơn nhiều so với nhân vật người em trai út Kiểu nhân vật này có trong 35/135 truyện và chủ yếu gắn với nhóm truyện mô tả xung đột chị em gái (có 1 truyện, người em gái út được đặt trong sự đối lập với người chị dâu)
Người em gái út được nhìn nhận là cô gái có ngoại hình, diện mạo xinh đẹp
Nếu người em trai út không được miêu tả vẻ đẹp ngoại hình thì người em gái út lại được chú trọng ở chính đặc điểm này, chẳng hạn: “Xađie là em, rất xinh đẹp… Cô Xađie ít khi cười Nhưng khi cô đã cười thì cho đến màu đỏ hoa pang cũng không sánh nổi vành môi; mặt trăng đêm giữa tháng còn thua khuôn mặt rạng rỡ của cô khi ấy” (Rú roọc Xađie - Vân Kiều); cô út “xinh đẹp, tươi tắn, y hệt mặt trăng những
ngày sáng tỏ” (Cô gái lấy chồng trăn - Xơ đăng); “Piarơ Chôn có tóc như dòng suối,
có má như bếp lửa đỏ, có tiếng ca như chim hót” (Nàng Piarơ Chôn - Tà ôi)…
Không chỉ đẹp người mà còn đẹp cả nết, người em gái út là người nhân hậu,
hiếu thảo nhất trong số các cô con gái của một gia đình Truyện ít khi đề cập đến sự đối lập về hoàn cảnh sống giữa chị - em (có phần khác với truyện về quan hệ anh -
Trang 3530 em) mà thường mở đầu bằng việc giới thiệu hoàn cảnh làm nảy sinh sự đối lập về hành động giữa đôi bên, để từ đó làm nổi bật phẩm chất của người em gái út Người
em gái út và các cô chị phải đứng trước sự lựa chọn hôn nhân Chẳng hạn, trong một truyện kể: vì muốn đắp phai dẫn nước vào ruộng, người cha lo lắng, thốt lên một câu:
“Ai giúp tôi làm được con phai này không bị vỡ, tôi có bảy cô con gái, muốn lấy cô nào tôi cho không” Ngay lập tức, một chàng trai (thuồng luồng hóa thành) xuất hiện
giúp ông lão với điều kiện ông phải gả cho một cô con gái (Bảy chị em - Giáy) Việc
bắt buộc phải lựa chọn người chồng trong hoàn cảnh này đương nhiên khiến cho các
cô chị gái hoặc hoảng sợ hoặc coi thường người chồng tương lai Họ né tránh trách nhiệm, đùn đẩy phần việc khó khăn nhất cho cô em út Vì thế, với tấm lòng hiếu thảo,
cô út thường chấp nhận cuộc hôn nhân với người chồng vật
Hình tượng nhân vật người em gái út ở đây có nét đồng nhất với người em gái
út trong kiểu truyện người mang lốt (Sọ Dừa - Việt; Chàng rể cóc - Cao Lan; Chàng
rùa - Mông…) Trong kiểu truyện người mang lốt, người em gái út cũng từng đứng
trước lựa chọn hôn nhân (lấy người chồng là một con vật hoặc xấu xí dị dạng) Trong
số các cô gái, chỉ có cô út nhân hậu, tốt bụng và có con mắt “tinh đời” ưng thuận lấy người mang lốt làm chồng, trong khi các cô chị lắc đầu quầy quậy, một mực chối từ… Tuy nhiên, ở nhiều truyện kể về người mang lốt, người em gái út đã có một khoảng thời gian tiếp xúc với nhân vật xấu hình dị dạng, thậm chí còn phát hiện ra
những biểu hiện đặc biệt của anh ta nên việc phải lựa chọn hôn nhân diễn ra dường như không quá khó khăn Điều đó có phần khác với truyện kể thuộc kiểu truyện
người em, các cô em gái út trước đó, không có một chút thông tin nào về người chồng tương lai nên việc phải kết hôn cũng gây bất ngờ cho họ không kém gì các cô chị
Khi bàn về Những truyện cổ tích về đứa trẻ mồ côi nghèo trong văn học dân
gian Mêlanêzi, Palêoaziat và thổ dân châu Mĩ da đỏ, E.M.Mêlêtinxki đã liên hệ với hình tượng con hải báo con bất hạnh thường được kể trong truyện cổ tích Trucôt Con hải báo con bất hạnh là con trai của Vô - rôn đi các làng để hỏi vợ, nhưng các cô gái đều miệt thị chế nhạo, lột da lưng của nó Phần cuối của câu chuyện kể rằng con hải báo biến thành chàng trai xinh đẹp và lấy cô gái duy nhất không xua đuổi anh ta
Người em gái út trong kiểu truyện người em chính là “cô gái duy nhất” không bày tỏ
thái độ coi thường rẻ rúng đối với chàng trai mang hình hài dị thường Trong khi các
cô chị bày tỏ thái độ cự tuyệt, không chịu kết hôn thì cô út chấp nhận phần thua thiệt
về mình một cách hoàn toàn tự nguyện
Việc sáng tạo hình tượng người em gái út đối lập với các cô chị đã cho thấy xu
Trang 3631 hướng đề cao người em gái út trong truyện cổ tích Nguyễn Thị Huế trong một công
trình nghiên cứu chuyên sâu đã gọi dạng nhân vật này là nhân vật người con gái đẹp - đối tượng mơ ước của nhân vật xấu xí mà tài ba Hình tượng người em gái út mang
đầy tính chất lý tưởng và ước mơ Sự ngây thơ, trong sáng của cô khi đứng trước việc chấp nhận lấy một người có ngoại hình dị thường làm chồng vừa thể hiện lòng nhân hậu, bao dung vừa bộc lộ khát vọng về hạnh phúc lứa đôi bình dị, không vị kỉ, không toan tính
1.2.2 Nhân vật đối thủ
1.2.2.1 Nhân vật người anh trai (chị gái)
Với nếp tư duy trọng tình, tình cảm huyết thống luôn luôn được đề cao trong đời sống sinh hoạt của người bình dân Sự gắn bó sẻ chia, cùng nhau gánh vác trọng trách đối với gia đình, dòng tộc làm nên những biểu hiện văn hóa ứng xử vô cùng tốt đẹp giữa các cá nhân trong cùng một gia đình Trong truyện cổ tích không phải hiếm những câu chuyện kể về mối quan hệ anh em, chị em thuận hòa đầm ấm Tinh thần huyết thống, ý thức gìn giữ mối quan hệ thân tộc gần gũi đã in dấu sâu đậm trong những truyện cổ tích dạng này Mối quan hệ tốt đẹp giữa các thành viên trong gia đình chỉ bị rạn nứt khi tổ chức gia đình riêng hình thành và phá vỡ tinh thần huyết thống Nói cách khác, ý thức tư hữu cùng với việc đề cao vai trò của thành viên lớn tuổi vô hình chung đã tạo ra một khoảng cách khá lớn về địa vị và quyền lợi giữa họ với người em út
Những người anh, người chị xuất hiện trong kiểu truyện người em đóng vai trò
là nhân vật đối thủ của nhân vật chính Tương phản hoàn toàn với người em út, họ là những kẻ xấu xa, lười biếng, tham lam Đặc điểm này được đặc tả qua những hành
động, việc làm cạn tình cạn nghĩa đối với người em ruột thịt Người chị lười biếng nhưng cậy thế làm chị nên chiếm hết của cải và bắt em phải dệt vải cho mình Dệt được bao nhiêu vải, người chị mang ra chợ bán lấy tiền bỏ túi (Chiếc thoi vàng - Tày); anh cả chị dâu trong nhà đầy ngô lúa, quanh nhà sẵn lợn gà nhưng anh đuổi
Trâu Trua đi không nuôi (Chiếc cối xay - Mông); người anh dồn hết công việc nặng
nhọc cho em nhưng vẫn sợ thiệt nên vội bàn với vợ cho vợ chồng người em ra ở riêng
(Cây khế - Việt)… Những hành động đó đã chứng tỏ quyền con trưởng của người anh
(chị) và khiến cho người em út trở thành thành viên lép vế nhất
Hình tượng nhân vật người anh trưởng hay người chị lớn, được xây dựng dựa trên quan niệm đề cao nguyên tắc gia trưởng trong xã hội phụ quyền, vì thế không
Trang 3732 khó để nhận ra bóng dáng của thực tại Sự vận động biến đổi các hình thái xã hội đã khiến cho nhân vật bề trên, đặc biệt là người anh trưởng được nhìn nhận với tư cách
là người thực hiện quyền thừa kế tài sản, sau khi cha mẹ mất đi Điều này được giải
thích bằng sự phân chia tài sản không công bằng trong truyện cổ tích, người anh
(chị) giàu có bao nhiêu thì người em nghèo khó bấy nhiêu Hơn nữa, người anh (chị)
còn được mô tả là những kẻ mưu mô xảo quyệt Bắt đầu việc chia gia tài, người anh
giao hẹn: “của cha mẹ để lại, có giống đực, giống cái và giống con Giống cái và giống con thì phần tao, giống đực khỏe mạnh thì phần cho mày” Rốt cuộc, tài sản mà
người em được hưởng chỉ là một cái “đực rựa” (Hà rầm hà rạc - Việt) Sự xảo quyệt
được ẩn sau những lời lẽ đầy thành ý của người anh và người em đương nhiên chỉ biết nhẫn nhịn chịu đựng thiệt thòi Luôn luôn tìm đủ mọi cách để lợi dụng người em
là bản chất cố hữu của tất cả các ông anh bà chị Ở đây những người anh, người chị luôn mang đặc điểm tính cách của nhân vật phản diện trong truyện cổ tích, như một
sự mặc định: đã là anh, là chị thì phải tham lam, xảo quyệt trong khi không phải người anh người chị nào ở ngoài đời cũng xấu xa như vậy
Trong nhiều trường hợp, người anh (chị) còn hành xử một cách độc ác, dã
man đối với người em Chỉ vì muốn cướp đàn lợn mà người anh nỡ ra tay chọc mù
mắt em (Người anh tham lam - Mông) Tàn nhẫn hơn họ sẵn sàng tìm mọi cách giết
em để cướp vợ (chồng) Cuộc sống lứa đôi hạnh phúc của người em luôn là niềm mơ ước của những người anh, người chị Vì thế họ đã không ngần ngại đẩy em xuống sông, xuống vực sâu, thậm chí lừa em chui vào áo quan đóng chặt nắp chôn sống
(Người vợ cá - Mông; Piềng Riềng - Vân Kiều…) Hành động bức hại thêm một lần
khẳng định tính chất khốc liệt trong quan hệ anh (chị) - em khi mà mối ràng buộc về mặt huyết thống đã ngày càng trở nên lỏng lẻo, rạn nứt
1.2.2.2 Nhân vật người chị dâu
Bên cạnh nhân vật người anh, người chị trong quan hệ đối lập với người em trai hoặc em gái, không ít truyện còn đề cập đến vai trò của người chị dâu Người chị dâu được biết tới với vai trò của “kẻ thứ ba ngoại tộc”, như một chất “xúc tác” bào mòn mối quan hệ anh em, có thể trước đó còn rất ấm áp, thân tình
Tương tự với nhân vật người mẹ kế trong kiểu truyện người con riêng, sự xuất hiện của nhân vật người chị dâu trong kiểu truyện người em cũng phản ánh đậm nét
đặc điểm xã hội thời đại cổ tích Hình thái hôn nhân nội tộc, hôn nhân quần hôn, tạp hôn của chế độ công xã nguyên thủy trước đó, đã khiến cho gia đình nguyên thủy cổ
Trang 3833 điển không có sự hiện diện của người chị dâu Mối quan hệ vợ chồng được hình thành trên mối quan hệ anh, chị, em gần gũi về huyết thống, làm nên một sự “cố kết” chặt chẽ giữa các thành viên trong gia đình Chỉ tới khi hình thành chế độ hôn nhân ngoại tộc, hôn nhân cá thể, mối quan hệ ấy mới trở nên lỏng lẻo và người chị dâu trở thành kẻ “xa lạ” với các thành viên còn lại Rõ ràng là với hình thức hôn nhân mới
mẻ này, người ngoại tộc như người mẹ kế, người chị dâu khi gia nhập vào gia đình
“nội tộc” họ đã vấp phải sự tẩy chay, loại trừ của các thành viên cũ Đó là lý do khiến cho bản thân họ được mô tả như những kẻ “vi phạm chế độ hôn nhân cổ truyền” với
âm mưu chiếm đoạt vị thế quan trọng trong gia đình Các anh em trai luôn thương yêu, quan tâm đùm bọc lẫn nhau và cái gốc của mối quan hệ bền chặt ấy, chính là tinh thần huyết thống Tuy nhiên, thứ tình cảm đó cũng được “khuôn” vào những điều kiện, tiền đề nhất định Đó là khi họ (nhất là người anh) chưa lấy vợ, tức là chưa hình thành gia đình riêng lẻ Vì thế không phải ngẫu nhiên, chúng tôi nhận thấy những truyện cổ tích nói về mối quan hệ anh em hòa thuận, vắng bóng nhân vật người chị dâu Việc người anh kết hôn và cùng với sự góp mặt của người chị dâu trong gia đình, đã khiến cho mối quan hệ anh em trở nên xa cách Ở mức độ nhẹ, tình cảm của anh đối với em trở nên nhạt nhẽo, vô tình Còn ở mức độ nghiêm trọng hơn, người anh trai trở thành “phương tiện” để người chị dâu thực hiện âm mưu đen tối đối với người em chồng
Mang đặc tính loại biệt của nhân vật phản diện trong truyện cổ tích, người chị
dâu hiện ra với đầy đủ những nét bản chất xấu xa, là kẻ vô tình vô nghĩa, coi nhẹ tình
cảm huyết thống Sợ phải chia gia tài cho em, chị dâu tìm mọi cách đuổi em ra khỏi
nhà Để đạt mục đích, người chị dâu ra sức xúc xiểm, ly gián quan hệ anh em (Người
lấy vợ chồn - Xơ đăng; Hai anh em mồ côi - Giáy…), thậm chí vu oan cho em có hành động vô lễ với chị dâu, khiến em bị anh trai đuổi đi (Anh em mồ côi - Mông;
Chàng trồng bí - Nùng…) Những hành động tệ bạc của người chị dâu đối với em chồng được mô tả với nhiều cấp độ khác nhau, lúc âm thầm, lúc trực diện nhưng hành động nào cũng táng tận lương tâm Mong muốn nhận được sự giúp đỡ từ anh chị, người em đã ngỏ lời xin hạt giống để gieo trồng nhưng trước khi cho em, người chị
dâu đã ngấm ngầm rang (luộc) hạt giống (Nhân tham tài nhi tử điểu tham thực nhi
vong - Việt; Người tham vỡ bụng - Mông…) Người chị dâu có khi còn là kẻ độc ác,
tàn nhẫn, tự tay bức hại em chồng Cô em chồng đen đủi gầy còm, lại không may bị lòa từ thuở lọt lòng đã trở thành cái gai trong mắt người chị dâu “bụng xanh mặt trắng” Không muốn nuôi nấng cô em tàn tật, bất chấp sự can ngăn của người chồng,
Trang 3934 chị dâu đã tìm đủ mọi cách làm hại em chồng Nàng Lòa ngây thơ bị chị dâu đẩy xuống vực sâu, được con ngựa mù và anh chàng thong manh cứu giúp Nhờ may mắn, chăm chỉ làm ăn vợ chồng cô em tội nghiệp trở nên vô cùng giàu có Đây lại là nguyên nhân khiến cho người chị dâu một lần nữa nảy sinh dã tâm: “máu tham lại nổi lên, mụ bèn tức tốc sang xem thật giả và hỏi cách làm giàu… mụ ngốt của, lại nảy ý
hại em chồng để chiếm đoạt gia tài” (Nàng Lòa, con ngựa mù và chàng thong manh -
Mông) Sự dối trá, tham lam và tàn ác của người chị dâu trong câu chuyện có thể coi
là sự đặc tả rõ nét nhất bản chất của kiểu nhân vật “bề trên” trong truyện cổ tích nói
chung và kiểu truyện người em nói riêng
Trong gia đình phụ quyền, người phụ nữ thường có vị thế thấp kém hơn người đàn ông, tiếng nói của họ vì thế cũng trở nên kém trọng lượng hơn Mặc dù vậy cũng không thể phủ nhận ảnh hưởng nhất định của họ đối với gia đình, dòng tộc Đặc biệt
là với vai trò con dâu, nhất là dâu trưởng họ có quyền can thiệp tương đối sâu vào công việc nhà chồng Việc quán xuyến, cắt đặt việc nhà, cho người con dâu trưởng quyền năng của một vị “nội tướng” chuyên “tay hòm chìa khóa” cũng đồng thời hình thành trong họ ý thức gìn giữ gia sản nhà chồng Tuy nhiên đi vào truyện cổ tích, giống như hình tượng người anh tham lam, độc ác, người chị dâu cũng trở thành một kiểu nhân vật mang tính chất loại hình, được xây dựng, trước hết thể hiện phản ứng của con người trước những biến đổi trong thực tại xã hội
Có thể nói, mối quan hệ đối lập, tương phản là mối quan hệ phổ biến nhất
trong kiểu truyện người em, được bộc lộ rõ ràng qua những nhân vật đã được xác
định trên đây Sự phản ánh hiện thực trong các mâu thuẫn, xung đột và sự vận động dẫn đến việc tổ chức các nhân vật được đặt ra khá thường xuyên trong kiểu truyện
Đó là sự đối lập giữa các phạm trù đạo đức: thiện - ác, tốt - xấu, trung thực - xảo quyệt… mà đại diện cho mỗi nét tính cách là một kiểu nhân vật cụ thể Mối quan hệ nhân vật, ở đây, không phải chỉ là một phạm trù xã hội học mà gắn liền với sự đối lập của các cá nhân về phương diện địa vị, hành động, phẩm chất… Chính mối quan
hệ đó là cơ sở tạo nên các tuyến nhân vật khác nhau trong cùng một cốt truyện
1.2.3 Nhân vật trợ giúp
Là nhân vật phụ trong hệ thống nhân vật truyện cổ tích nói chung và kiểu
truyện người em nói riêng, nhân vật trợ giúp trực tiếp (hoặc gián tiếp) đứng về phía người em - nhân vật chính Đó có thể là lực lượng thần kì trong nhóm truyện cổ tích thần kì, cũng có thể là con người trong nhóm truyện cổ tích sinh hoạt
Trang 4035
Nhân vật trợ giúp thần kì xuất hiện trong kiểu truyện người em với một tần số
dày đặc, góp phần làm nên vẻ đẹp cũng như sự hấp dẫn kỳ diệu của mỗi câu chuyện
và “lý tưởng thẩm mỹ toát ra từ những biến hóa thần kì của bản thân nhân vật hoặc của những vật thiêng, những ý niệm thiêng được coi là lực lượng phù trợ của những con người bất hạnh” [10] Có mặt trong những hoàn cảnh, tình huống khác nhau, lực lượng thần kì có vai trò nhất định trong việc phát triển tình tiết và giải quyết xung đột truyện Dễ dàng nhận ra, xung đột giữa hai lực lượng trong truyện cổ tích luôn luôn được giải quyết bằng sự can thiệp của lực lượng thần kì Kiểu “nhân vật” đặc biệt này
rõ ràng không tồn tại trong thế giới thực tại nhưng lại cực kỳ phổ biến trong thế giới vừa “huyễn hoặc” vừa “xác thực” của truyện cổ tích, phần nào giúp con người thỏa
mãn những ước mơ mà họ chưa đạt được trong thực tế Trong kiểu truyện người em,
lực lượng thần kì được mô tả sinh động với các hình thức:
a) Lực lượng thần kì là thần, tiên, bụt
Thần bao gồm các dạng với những tên gọi khác nhau: Dàng, trời - ông mặt
trời, thần, thần núi - sơn thần, thần sét - thiên binh, thần đất - thổ địa, thần rừng, ông Tà Dựa trên những “mảnh vỡ” thần thoại về thế giới thần linh, truyện cổ tích
đã kế thừa và sáng tạo một kiểu nhân vật thần kì độc đáo và khác về chất so với thần thoại cho dù dấu vết thần thoại còn khá đậm nét Những vị thần mưa, thần sét, thần đất, thần rừng… không còn mang chức năng, hành trạng gắn với thế giới tự nhiên kỳ vỹ mà mang dáng dấp rất đời thường, gần gũi với con người Thần biết thấu hiểu, biết sẻ chia với nỗi bất hạnh của con người, biết phân biệt phải trái, tốt xấu, biết đứng về phía người tốt và có tác động tích cực đến cuộc đời nhân vật Nghe tiếng sáo vi vu, day dứt của người em đang gặp nạn như muốn giãi bày nỗi niềm u uẩn, trời bèn sai thiên binh xuống trần tìm người thổi sáo và hỏi cho rõ
nguồn cơn (Người vợ cá - Mông); mỗi lần bị anh lấy mất của, người em khóc chán
lại đem khèn ra thổi, gửi gắm nỗi lòng cay cực của mình theo tiếng gió Dàng nghe thấy tiếng khèn buồn như “tiếng con vượn ốm lạc đàn” bèn bảo con gái xuống dưới
trần bầu bạn, giúp đỡ (Sự tích chim thù thì - Vân Kiều)… Rõ ràng nhân vật thần
không còn là hiện thân của tự nhiên, thể hiện sức mạnh điều tiết tự nhiên như trong thần thoại Ở đây hình tượng thần được hiện thực hóa, gần gũi với con người, và dường như khoảng cách giữa thần và con người đang dần dần được thu hẹp lại
Bên cạnh thần, tiên cũng là nhân vật trợ giúp thường xuyên hiện diện trong
kiểu truyện người em Kiểu nhân vật này vốn là sản phẩm của trí tưởng tượng dân