Mike Poßner Lời mở đầu: Cùng chúng tôi cung cấp dinh dưỡng cho tương lai tốt hơn Nhiều nghiên cứu khác nhau đã chỉ ra rằng chế độ dinh dưỡng trong 1.000 ngày đầu tiên của cuộc sống, hay
Trang 1Hội thảo NNI
Châu Âu
Dinh dưỡng và tăng
trưởng trong 1000 ngày đầu tiên với ảnh hưởng lâu dài
NRC, Vers-chez les-Blanc / Lausanne
Tháng 6, ngày 10-12, 2013
Trang 2Mike Poßner
Lời mở đầu: Cùng chúng tôi cung cấp dinh dưỡng cho tương lai tốt hơn
Nhiều nghiên cứu khác nhau đã chỉ ra rằng chế độ dinh dưỡng trong 1.000 ngày đầu tiên của cuộc sống, hay nói cách khác, trong thời gian mang thai và trong hai năm đầu tiên của cuộc sống, có thể ảnh hưởng lâu dài lên sự phát triển khỏe mạnh của trẻ, từ đó đặt sự phát triển sớm trong thời thơ ấu này vào trọng tâm đặc biệt.
Làm thế nào chúng ta có thể cùng nhau làm việc để thực hiện các phát hiện khoa học mới nhất cho việc nuôi dưỡng một thế hệ khỏe mạnh? Hội nghị NNI (Nestle Nutrition Institute) nhắm mục tiêu chủ đề từ các góc độ khác nhau, với các diễn giả nổi tiếng trên thế giới trình bày những hiểu biết và phát triển mới nhất.
Hội nghị đượchoan nghênh lần này cũng cung cấp nhiều cơ hội cho các cuộc thảo luận giữa những người tham dự quốc tế, đã tham gia trao đổi quan điểm
và ý tưởng sôi nổi và rất thành công về khái niệm mới đối với sự phát triển khỏe mạnh.
Chúng ta biết rằng ngoại di truyền (epigenetics) giữ một vai trò Dinh dưỡng trong thời kỳ mang thai ảnh hưởng lên cả kết quả thai kỳ và kết quả sức khỏe sau này của trẻ nhũ nhi 1.000 ngày đầu tiên là cơ hội quý giá cho lập trình dinh dưỡng sớm theo cơ chế ngoại di truyền, ảnh hưởng đến kết quả sức khỏe suốt đời do thay đổi biểu hiện gien lâu dài.
"Chúng ta cùng nhau cung cấp dinh dưỡng cho một tương lai tốt hơn": câu này nhấn mạnh tầm quan trọng của giai đoạn 1.000 ngày đầu tiên quyết định này Nó cũng là một lời kêu gọi hành động: thứ nhất, hành động trong nghiên cứu để hiểu rõ hơn về cơ chế; thứ hai, hành động của ngành công nghiệp để phát triển các khái niệm dinh dưỡng hiện đại Và cuối cùng, hành động của các chuyên gia y tế để tư vấn cho các gia đình trong giai đoạn này.
Chúng ta cần phải hiểu rõ hơn tầm quan trọng của 1.000 ngày đầu tiên này.
Và chúng tôi cần phải chia sẻ bí quyết với bạn.
Hơn 100 bác sĩ nhi khoa và các nhà khoa học Châu Âu đã chấp nhận lời mời từ Viện Dinh Dưỡng Nestlé để chia sẻ và thảo luận những hiểu biết mới nhất về ảnh hưởng lâu dài của dinh dưỡng và tăng trưởng trong 1.000 ngày đầu tiên Các điểm trọng tâm bao gồm những hiểu biết mới về ảnh hưởng của cơ chế tác động di truyền học lên sự phát triển và sức khỏe suốt đời, cũng như các nghiên cứu mới về giả thuyết hàm lượng protein thấp và tầm quan trọng của chế phẩm sinh học.
Nhà xuất bản: Viện Dinh dưỡng Nestlé · Biên tập: Tiến sĩ Mike Poßner, Herbert Lechner MA · Biên tập tiếng Anh: Howard Fine
Thiết kế và Đồ họa: Jörg Bauerkämper · Thực hiện: lechnerpress, 86.413 Marklkofen, Aigen 1 · Thanh toán : Nestlé, istockphoto.com
© Nestlé Nutrition Institute Deutschland
Giám đốc Y khoa Châu Âu Viện Dinh dưỡng Nestlé
3
Trang 3Phần I: Các định hướng chung của lập trình
3
Jörg Dötsch
Ferdinand Haschke
Frank Rümmele
Kim F Michaelsen, Đan Mạch
20
Nick Embleton
26
Các câu hỏi của kỳ thi năm nay
cũng giống như năm ngoái !
Một học sinh hỏi Albert Einstein:
Đúng, nhưng năm nay tất cả
các câu trả lời đều khác nhau
Albert Einstein trả lời:
Lời nói đầu Dinh dưỡng và tăng trưởng trong 1,000 ngày đầu tiên với ảnh hưởng lâu dài
Kiểm duyệt:
Kiểm duyệt:
Kiểm duyệt:
Kiểm duyệt:
Tác động của các can thiệp chế độ ăn uống lên kết quả thai kỳ Những hiểu biết cơ học vào lập trình từ các mô hình thử nghiệm
Phần II: Tăng trưởng và dinh dưỡng
Ảnh hưởng lâu dài của việc cho con bú sữa mẹ Protein - một quá trình điều khiển sự tăng trưởng của con người Nhu cầu protein khác nhau ở trẻ nhũ nhi và cung cấp protein
Phần III: Protein đặc biệt trong dinh dưỡng trẻ nhỏ
Cung cấp protein cho trẻ sơ sinh non tháng và sự tăng trưởng khỏe mạnh Vai trò của protein thủy phân trong dinh dưỡng trẻ nhỏ
Cho ăn bổ sung - Ảnh hưởng của protein lên sự tăng trưởng và sức khỏe sau này ở các quốc gia thu nhập thấp và cao
Phần IV: Vai trò của hệ vi sinh đường ruột trong giai đoạn trẻ nhỏ
Ảnh hưởng của probiotics trong dinh dưỡng sớm ở trẻ nhũ nhi
Cơ chế hoạt động của probiotics
Diễn giả
”
”
”
”
Trang 4Bắt đầu từ những tuần đầu thai kỳ, nồng độ đường máu của mẹ ở giới hạn trên của bình thường thì đi kèm với cân nặng khi sinh gia tăng Chúng tôi đưa ra giả thuyết rằng một chế độ ăn uống với chỉ số đường huyết thấp trong khi mang thai có thể ngăn chặn sự tái phát của thai to ?
7 Những định hướng chung của chương trình
-Jenkins, 1981
0 15 30 45 60
4.5 4.0 3.5 3.0 2.5 2.0 1.5 1.0 0.5 0
Tác giả
Flonnuala McAuliffe,
Đại học Cao đẳng Dublin,
Bệnh viện Sản Quốc gia
Béo phì và thai kỳ là một vấn đề mà chúng ta
sẽ thấy xuất hiện ngày càng nhiều hơn (Biểu
tình trạng thừa cân hoặc là béo phì Điều này
làm tăng nguy cơ bất lợi cho thai phụ và thai
nhi (Flick và cộng sự, 2010) Ở người mẹ có
một tỷ lệ tiền sản giật cao hơn, đái tháo đường
thai kỳ – đái tháo đường tuýp 2 (Type-2
Diabe-tes Mellitus - T2DM) và can thiệp phẫu
thuật tại thời điểm sinh như mổ bắt con và
sinh dụng cụ Có một tỷ lệ cao hơn của xuất
huyết, thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch và
duy trì cân nặng sau khi sinh - nhiều phụ nữ sẽ
thừa cân sau thai kỳ, làm tăng nguy cơ đái
tháo đường tuýp 2 T2DM
Chế độ ăn uống phương Tây giàu carbohydrat được cho là một trong những yếu tố góp phần thừa cân và béo phì Đường glucose là chất nền năng lượng chủ yếu được chuyển trực tiếp từ mẹ sang thai nhi không đòi hỏi cơ chế vận chuyển Nồng độ đường máu ở mẹ bên dưới nồng độ chẩn đoán của bệnh đái tháo đường thì có liên quan với cân nặng khi sinh gia tăng và những kết quả bất lợi (HAPO 2008)
Trong nghiên cứu ROLO (Walsh và cộng sự, 2012), được tiến hành tại bệnh viện Sản Quốc gia Dublin, chúng tôi đã phân tích hiệu quả can thiệp của một chế độ ăn chỉ số đường huyết thấp lên chứng thai to (cân nặng khi sinh > 4kg) và tăng cân khi mang thai Tiêu chuẩn thu nhận của nghiên cứu ROLO là phụ
nữ khỏe mạnh, người có thai lần hai với cân nặng khi sinh lần trước > 4.000g; tiêu chuẩn loại trừ là đái tháo đường thai kỳ trước đó
Chúng tôi đã tuyển chọn ngẫu nhiên những người tham gia ở buổi tư vấn tiền sản đầu tiên
Kết quả chính là cân nặng khi sinh, kết quả phụ là tăng cân thai kỳ
Chế độ ăn uống của mẹ, đặc biệt là loại carbohydrate và thành phần của nó có ảnh hưởng đến nồng độ đường máu của mẹ, nhưng không phải tất cả các loại thực phẩm
có carbohydrate được tạo ra như nhau Biểu
đồ 2 cho thấy diện tích gia tăng dưới đường cong glucose máu được đo sau khi uống 50 gram thực phẩm thử nghiệm Điều này có thể quan trọng trong thai kỳ bởi vì nếu mẹ tiêu hóa các bữa ăn chỉ số đường huyết (GI) cao,
mẹ sẽ bị đường máu lên cao và chuyển đường qua thai nhi, và thai nhi bị đường cao
Các vấn đề đối với con
Nguyên nhân gây béo phì ?
Tác động của các can thiệp chế độ
ăn uống lên kết quả thai kỳ
Nghiên cứu ROLO
Chế độ ăn uống với chỉ số glycemic thấp trong thời kỳ mang thai có thể ngăn ngừa sự tái phát của thai to?
Biểu đồ 2
2.5 2.0 1.5 1.0 0.5 0
Vấn đề có thể phát sinh cho con bao gồm
chứng béo bẩm sinh (bé > 4 kg khi sinh), đẻ
khó ngôi vai, và tổn thương khi sinh (Farah và
cộng sự, 2009) Ngoài ra còn có một nguy cơ dị
tật bẩm sinh như dị tật ống thần kinh, những
bất thường về tim hay các vấn đề khác, trong
đó có bất thường về thận, não úng thủy, và
thoát vị rốn Sự chết ngay sau sinh (stillbirth)
thì hay xảy ra và các vấn đề tăng trưởng bị
trầm trọng thêm khi người mẹ quá cân hoặc
béo phì
Các biến chứng cho bé không chỉ giới hạn
riêng trong thai kỳ: cũng có khả năng béo phì
thời thơ ấu xảy ra nhiều hơn trong cuộc sống
sau này Nguy cơ béo phì trong cuộc sống sau
này có thể được dự đoán sớm khi sinh ra
Biểu đồ 1
Dự báo béo phì toàn cầu
Nguồn: Tổ chức Y Tế Thế Giới 2005
Thừa cân Béo phì
Chỉ số đường huyết
Diện tích gia tăng dưới đường cong glucose máu được đo sau khi uống 50 gram thực phẩm thử nghiệm
GI cao
GI thấp
Thời gian (phút)
Chúng tôi sẽ theo dõi các trẻ em trong nghiên cứu ROLO vào lúc 6 tháng, 24 tháng và 5 năm
Sau 5 năm, chúng tôi sẽ thu thập thông tin chế độ ăn uống và nhân trắc học của các bà
mẹ và con cái Chúng tôi cũng sẽ đo độ dày nếp gấp da và trở kháng điện sinh học
Kết quả phụ: Có tăng cân ít hơn một cách đáng kể khi mang thai và ít dung nạp glucose ở nhóm can thiệp (Biểu đồ 3).
Những người tham gia ở nhóm can thiệp đã dự một buổi giáo dục chế độ ăn uống trong thai kỳ sớm trong các nhóm nhỏ 2-6 người Mỗi buổi kéo dài khoảng hai giờ Những người phụ nữ này đầu tiên đã được cho lời khuyên về hướng dẫn ăn uống lành mạnh cho thai kỳ, tập trung vào chỉ số đường huyết Sau đó, họ được khuyến khích hoán đổi thay thế carbohydrate chỉ số GI cao bằng carbohydrate chỉ số GI thấp
Họ cũng nhận được thông tin bằng văn bản và công thức nấu ăn có GI thấp Những người tham gia trong nhóm đối chứng đã nhận được chăm sóc tiền sản theo thường lệ, không có tư vấn chế độ ăn uống chính thức cũng không có
tư vấn về tăng cân trong thai kỳ
24 / 321 (7.5%)
41/352 (11.6%) 54/350
(15.4%)
79/371 * (21.3%) * 67/320
(20.9%)
100/352 (28.4%) * 42/350
(12%)
52/371 (14%) 7/350
(2%)
9/371 (2.4%) 12/350
(3.4%)
18/371 (4.9%)
RDA
Calcium (mg) 877.4 1.200 16%
Sắt (mg) 11.1 15.7 14%
A-xít Folic (µg) 272.9 500 4 % Vitamin D (µg) 2.6 10 0.8%
McGowan, McAuliffe, Eur J Clin Nut , 2011
Can thiệp
Chúng tôi thu thập thông tin liên quan đến thực phẩm trong mỗi ba tháng thai kỳ cho đến lúc sinh Chúng tôi đã thấy một sự thay đổi đáng kể trong tiêu thụ thực phẩm có chỉ số GI cao Tiêu thụ trái cây là 91 % so với 85% (nhóm can thiệp so với nhóm chứng) tại T3, ăn chay là
98 % so với 94% ở T3, tiêu thụ bơ là 67 % so với 77% ở T3, và tiêu thụ cá có dầu tăng lên đáng kể
từ 15% ở T1 đến 21% ở T2 trong nhóm can thiệp
Rõ ràng, chúng tôi đã thu thập một khối lượng lớn thông tin về nhóm phụ nữ mang thai này
Nhiều chất dinh dưỡng thiết yếu được tiêu thụ với số lượng thấp hơn RDA cho thai kỳ một cách đáng kể (Biểu đồ 4).
Mối quan hệ thì liên tục giữa đề kháng insulin
và sự điều hòa đi lên của các con đường viêm;
phụ nữ ở mức trên cùng của dãi phân bố trọng lượng thì có nguy cơ lớn nhất của rối loạn điều hòa viêm và chuyển hóa Trong khi mang thai, một sự suy giảm độ nhạy cảm
Mới đây chúng tôi thấy dấu hiệu viêm ở nhóm không đái tháo đường này và phát hiện ra một mối quan hệ mạnh giữa TNF- và đề kháng insulin Mối quan hệ tồn tại trong mỗi thể loại BMI: tương quan mạnh hơn ở những phụ nữ thừa cân và béo phì Chúng tôi không tìm thấy mối quan hệ giữa kích thước của mẹ hay thai nhi và TNF-
Kết quả
Không có sự khác biệt giữa hai nhóm về đặc điểm của người mẹ ở lúc khởi đầu
Không có sự khác biệt ở GI lúc khởi đầu;
nhưng sau khi đưa chế độ ăn uống GI thấp vào, nhóm can thiệp có chỉ số GI thấp hơn
ở ba tháng thai kỳ lần thứ hai (56,1 so với 57,8) và lần thứ thứ ba (56,0 so với 57,7)
Kết quả chính: Không thấy sự khác biệt ở cân nặng khi sinh, tỉ lệ centiles cân nặng khi sinh và các chỉ số cân nặng giữa hai nhóm
Dinh dưỡng và các dấu hiệu viêm
insulin thì có liên quan với sự gia tăng đồng thời trong phản ứng viêm: điều này có thể giải thích mối liên hệ giữa đái tháo đường thai kỳ
và hội chứng chuyển hóa sau đó và bệnh tim mạch
Một tổng quan hệ thống (systemmetic review) được công bố gần đây ở BJOG (Thangaratinam và cộng sự 2012) đã xem xét ảnh hưởng của can thiệp chế độ ăn uống và tập thể dục trong khi mang thai Ba loại can thiệp được đánh giá: chế độ ăn uống, tập thể dục, hoặc tiếp cận hỗn hợp Mỗi can thiệp có liên quan với tăng cân ít hơn khi mang thai so với nhóm chứng, nhưng sự can thiệp chế độ
ăn uống dẫn đến sự giảm lớn nhất trong tăng cân khi mang thai (lên đến 5 kg) Đối với kết quả bất lợi ở bà mẹ và thai nhi, có làm giảm nguy cơ tiền sản giật và đẻ khó ở nhóm can thiệp
Không có khác biệt đáng kể giữa hai nhóm ở cân nặng tuyệt đối khi sinh, phân vị (centile) cân nặng khi sinh hoặc chỉ số cân nặng Tăng cân trong thai kỳ ít hơn đáng kể ở phụ nữ nhóm can thiệp (12,2 so với 13,7kg, sự khác biệt trung bình 1,3, khoảng tin cậy 95 % 1,3, -2,4, p = 0,01) Cũng có một tỷ lệ không dung nạp glucose thấp hơn ở nhóm can thiệp, 20,9
% so với 28,4 % ở nhóm chứng đã có đường huyết lúc đói lớn hơn 5,1mmol / L hoặc nghiệm pháp thử thách glucose trong 1 giờ lớn hơn 7.8mmol / L (p = 0,02)
Ăn uống và tập thể dục
Biểu đồ 3
Nhóm can thiệp so với nhóm chứng
Nhóm can thiệp Chế độ ăn GI thấp
Nhóm chứng Đường huyết lúc đói vào 28
tuần > 5,1 mmol/L Nghiệm pháp dung nạp Glucose > 7,8 mmol/L
Đường huyết lúc đói vào 28 tuần > 5,1 mmol/L hoặc NPDN Glucose > 7,8 Nghiệm pháp dung nạp Glucose > 8,3 mmol/L Đái tháo đường thai kỳ Tiêu chuẩn Carpenter và Coustan Đái tháo đường thai kỳ Tiêu chuẩn Hiệp Hội ĐTĐ thai kỳ Hoa Kỳ
Biểu đồ 4
Các vi chất dinh dưỡng - dấu hiệu quan trọng
Chất dinh dưỡng
Giá trị trung bình
Phụ nữ đáp ứng RDA
Nhiều chất dinh dưỡng thiết yếu được tiêu thụ với số lượng thấp hơn đáng kể RDA cho thai kỳ
Kết luận
Một chế độ ăn có chỉ số đường huyết thấp trong thai kỳ không làm giảm tỷ lệ trẻ có cân nặng lớn khi sinh so với tuổi thai trong nhóm có nguy cơ thai to.
Tuy nhiên, nó có một tác động thuận đáng kể lên tăng cân khi mang thai và sự không dung nạp glucose ở bà mẹ.
α
α
”
”
Trang 59 Những định hướng chung của lập trình
này là do các tế bào biểu hiện các gien khác với DNA ở các loại tế bào khác nhau và ở các cấp
độ khác nhau Cái gọi là "cơ chế tác động di truyền" sẽ điều tiết các quá trình này
HNF4a là một yếu tố sao chép phát triển đóng một vai trò quan trọng trong phát triển của tuyến tụy nội tiết HNF4a cũng đóng một vai trò quan trọng trong điều hoà chức năng tế bào beta ở người lớn bởi vì nó điều chỉnh sao chép mã của một số gien liên quan đến các cơ chế cảm biến glucose Các đảo tuyến tụy của đái tháo đường tuýp 2 có HNF4a nhiều hơn một nữa so với các đảo ở cá nhân dung nạp glucose
Sử dụng mô hình protein thấp ở bà mẹ, chúng tôi đã mô tả rằng có một sự giảm ở cả mức độ mRNA và protein của gien quan trọng này Hai điểm cơ chế tác động di truyền chính điều chỉnh sao chép gien ở động vật có vú là methyl hóa DNA và sửa đổi histone (Biểu đồ 2).
Nhưng trong bộ gien có các khu vực điều hòa khác chẳng hạn như vùng "tăng cường" là những vùng tương tác với vùng phát động và kích hoạt nó Khi chúng ta nhìn vào vùng tăng cường HNF4a, chúng ta thấy giảm ở hai điểm hoạt động và thấy sự phong phú ở một trong
những điểm ức chế (Biểu đồ 3)
Vì vậy, đầu tiên chúng ta nhìn vào methyl hóa DNA để xem cách thế nào chế độ ăn uống của
mẹ ảnh hưởng đến quá trình methyl hóa của vùng phát động của HNF4a Phù hợp với việc giảm mức độ mRNA, chúng ta đã thấy sự gia tăng methyl hóa DNA, nhưng tầm quan trọng
Sản phẩm gien chức năng có tác dụng đó là protein của một gien đặc biệt Để có được protein chức năng, một số quá trình phải xảy ra
Thứ nhất, gien thích hợp phải được sao chép thành RNA thông tin (mRNA) Sau đó các mRNA được dịch sang các sản phẩm protein chức năng Vì vậy, cả hai quá trình sao chép và phiên dịch đều là những quá trình được điều hòa chặt chẽ Bạn có thể thấy làm thế nào mà môi trường sớm có thể tác động lên mức độ của các protein đặc biệt, bằng cách hoặc là điều chỉnh tốc độ sao chép DNA, hoặc là điều chỉnh bản dịch, hoặc cả hai Nếu quá trình hoạt động
ở mức sao chép, bạn sẽ thấy một sự khác biệt ở mRNA và protein Nếu nó hoạt động ở mức độ phiên dịch, bạn sẽ không nhất thiết nhìn thấy một sự khác biệt ở mRNA, nhưng bạn sẽ thấy một sự khác biệt ở các protein (Biểu đồ 1).
Tập trung đầu tiên là về vai trò tiềm năng của
những thay đổi cơ cấu vĩnh viễn Nếu như,
trong một giai đoạn phát triển quan trọng,
các cơ quan được tiếp xúc với nồng độ dưới
mức tối ưu cũa những nội tiết tố và các chất
dinh dưỡng chuyên biệt cần thiết cho sự phát
triển của chúng
Điều này sẽ tác động vĩnh viễn đến cấu trúc
của chúng và do đó cũng tác động đến chức
năng của chúng
Lĩnh vực cơ chế tiềm năng cuối cùng là vai trò đóng góp của lập trình theo cơ chế tác động
di truyền học của biểu hiện gien Thay đổi quá trình methyl hóa và các mẫu sửa đổi histone
có thể hình thành cơ sở cho các bộ nhớ tế bào
của sự khác biệt này thì tương đối nhỏ Vì vậy, chúng ta nhìn vào biến đổi histone đầu tiên trong vùng phát động Khá đáng thất vọng, chúng ta thấy không có sự khác biệt giữa hai điểm hoạt động này
Điều luôn quan trọng là phối hợp những phát hiện của chúng ta từ các mô hình động vật đến nghiên cứu con người và ngược lại Và nó luôn rất có ý nghĩa khi chúng ta thấy những điều tương tự xảy ra ở người
Cân nặng khi sinh là một chỉ số rất thô cho sự trải qua trong tử cung Chúng ta cần những dấu điểm tốt hơn về nguy cơ bệnh Nếu cái gì
đó là một dấu điểm tốt, nó phải là cái gì được thể hiện trong một mô tiếp cận về mặt lâm sàng Mô nhau thai thì được quan tâm đặc biệt vì nó có sẵn rất sớm trong cuộc sống và
Một nghiên cứu của Đại học Copenhagen đã thử nghiệm một nhóm những người đàn ông Đan Mạch 19 tuổi được sinh ra có cân nặng khi sinh thấp Những người đàn ông trẻ này đã có một đường huyết lúc đói bị tổn thương, nhưng không bị đái tháo đường Đường huyết lúc đói bị tổn thương là một yếu tố dự báo tốt cho phát triển bệnh đái tháo đường trong tương lai Chúng tôi đã nghiên cứu mẫu sinh thiết mô mỡ từ các cá nhân và quan sát thấy sự giảm trong biểu hiện của một bảng protein truyền tín hiệu insulin rất chuyên biệt, bao gồm P110beta như chúng tôi đã dự đoán
từ các mô hình động vật (Biểu đồ 4)
Thời gian này, chúng ta đang tập trung vào các phân tử liên quan đến tín hiệu insulin ở
mô mỡ PI3-kinase là một trong những thành phần quan trọng của các con đường vô cùng phức tạp truyền tín hiệu hoạt động của insulin Trong mô mỡ có hai đồng dạng của tiểu đơn vị xúc tác của PI3-kinase - P110alpha
và P110beta Ở con cái tiếp xúc với một chế độ
ăn protein thấp trong tử cung và trong quá trình cho con bú, không có sự khác biệt trong các tiểu đơn vị xúc tác P110alpha, nhưng có sự khác biệt lớn trong các tiểu đơn vị xúc tác P110beta Những khác biệt này hiện diện ở mức độ protein, nhưng không hiện diện ở mức độ mRNA Trong tình huống này, chúng tôi đang nhìn vào một cơ chế lập trình sau sao chép
Trong thuật ngữ đơn giản, những gì chúng ta cho là do cơ chế tác động di truyền học đó là các tế bào có chứa DNA như nhau nhưng có thể có những kiểu hình rất khác nhau Ví dụ, DNA trong các tế bào não của chúng ta thì chính xác giống như là chuỗi DNA trong các tế bào chất béo của chúng ta Nhưng các tế bào não thì rất khác với các tế bào chất béo Điều
Những nghiên cứu gần đây ở người và mô
hình động vật đã cho thấy rằng chế độ ăn
uống trong thời kỳ bào thai và sớm sau khi
sinh thì đặc biệt quan trọng vì nó có thể có
ảnh hưởng lâu dài đến nguy cơ của một cá
nhân phát triển các điều kiện chuyển hóa như
bệnh đái tháo đường tuýp 2 và bệnh béo phì
Mặc dù sự tập trung ban đầu đã hướng về
những tác động có hại của thiếu dinh dưỡng
trong tử cung và sinh con nhẹ cân, nhưng
trong ánh sáng của dịch bệnh béo phì ngày
càng tăng, sự chú ý gia tăng đang được hướng
vào việc hiểu biết các hậu quả của mẹ thừa
dinh dưỡng trong khi mang thai và cho con
bú trên sức khỏe dài hạn ở con cái Tầm quan
trọng của môi trường sớm sau khi sinh cũng
đang ngày càng được công nhận, với sự tăng
trưởng nhanh chóng sau khi sinh có liên quan
với bệnh béo phì sau này - độc lập với sự tăng
trưởng trong tử cung Tiếp theo những
nghiên cứu quan sát cho thấy mối liên quan
giữa mô hình tăng trưởng sớm và sức khỏe
chuyển hóa dài hạn, lĩnh vực này hiện đang
tiến bộ nhanh chóng trong việc tìm hiểu cơ
chế phân tử nằm sau lập trình như vậy
-Vùng kích hoạt
C LP * p < 0.05 ** p < 0.01 so với sự kiểm soát
1.2 1.0 0.8 0.6 0.4 0.2 0
1.2 1.0 0.8 0.6 0.4 0.2 0
1.2 1.0 0.8 0.6 0.4 0.2 0
1.5
1.0
0.5
0 1.2
1.0 0.8 0.6 0.4 0.2 0
2.0 1.6 1.2
0.4 0
1.2 1.0 0.8 0.6 0.4 0.2 0
1.5
1.0
0.5
0
∗
∗
∗∗
140 120 100 80 60 40 20 0 GLUT4 p85 p110 beta IRS-1
C LBW
* p < 0.05 ** p < 0.01 so với sự kiểm soát
∗
∗∗
mRNA
mRNA DNA
protein
Phức hợp bản sao
Nucleosome Chủ động sửa đổi histone
Áp sửa đổi histone Methyl hóa AND Sao chép Không sao chép
Có thể truy cập/ Chủ động
Cô đặc / im lặng
MỞ
TẮT
Những hiểu biết cơ học vào sự lập trình
từ các mô hình thử nghiệm
Tác giả
Susan E Ozanne,
Đại học Cambridge,
Phòng thí nghiệm nghiên
cứu chuyển hóa, Bệnh viện
Addenbrookes.
Những thay đổi về cấu trúc
Tăng tốc lão hóa tế bào
Một cơ chế tiềm năng khác là vai trò của tăng tốc lão hóa tế bào Một trong những yếu tố đoạn cuối NST chỉ điểm tốt nhất cho sự lão hóa
tế bào là chiều dài Đoạn nhiễm sắc thể ở phần cuối NST của chúng ta rút ngắn theo mỗi sự phân chia tế bào Khi chúng trở nên ngắn nghiêm trọng, chúng báo hiệu cho các tế bào ngừng phân chia Gần đây người ta thấy rằng đoạn cuối NST sẽ ngắn lại khi đáp ứng với stress oxy hóa Chúng ta đã cho thấy làm thế nào chế
độ ăn của mẹ có thể ảnh hưởng đến chiều dài đoạn cuối NST trong một số mô, bao gồm các đảo tuyến tụy không chỉ đóng một vai trò quan trọng trong việc điều hòa cân bằng nội môi glucose, mà còn vì tuyến tụy rất dễ bị oxy hóa
Nếu bạn nhìn vào chuột con hồi phục khi tiếp xúc với một chế độ ăn uống protein thấp làm hạn chế sự phát triển của chúng trong tử cung, nhưng sau đó đã tăng trưởng rất nhanh chóng trong cuộc sống sớm sau khi sinh, bạn sẽ thấy nhiều đoạn cuối nhiễm sắc thể ngắn hơn và ít đoạn cuối nhiễm sắc thể dài hơn so với nhóm chuột trẻ đối chứng được ghép cặp theo tuổi
Điều này về mặt chức năng thì có ý nghĩa vì nó được đi kèm với cảm ứng sớm ở những yếu tố trung gian trong quá trình lão hóa tế bào bao gồm cả p21 và p16 Các dữ liệu trên p16 thì đặc biệt đáng chú ý vì p16 được coi là một trong những dấu hiệu của sự lão hóa tốt nhất trong số rất nhiều loài, kể cả con người
Lập trình theo cơ chế tác động di truyền học của biểu hiện gien
HNF4a như là một yếu tố dự báo
Lập trình biểu hiện gien sau sao chép
Các mô hình động vật và nghiên cứu ở người
Những dấu điểm dự báo
thường là rất dễ tiếp cận về mặt lâm sàng Sử
d ụ n g c á c m ẫ u t ừ k h ả o s á t p h ụ n ữ Southampton, chúng tôi quan sát thấy một sự tương quan mạnh mẽ giữa cân nặng khi sinh và biểu hiện P110beta nhau thai
Chúng tôi không thể đảm bảo rằng mỗi người phụ nữ bắt đầu mang thai có chỉ số BMI khỏe mạnh, vì vậy lựa chọn đầu tiên của chúng tôi là can thiệp vào các bà mẹ trong quá trình mang thai Nhưng điều này thì phức tạp bởi vì dinh dưỡng bào thai thì không giống như dinh dưỡng bà mẹ, do đó biện pháp can thiệp sau khi sinh có thể thực tế hơn Tuy nhiên chúng tôi vẫn cần phải xác định khoảng thời gian khi sự can thiệp của chúng tôi có hiệu quả tối đa cũng như xác định các cá nhân sẽ được hưởng lợi nhiều nhất từ sự can thiệp như vậy
Chúng ta có thể can thiệp thế nào?
Kết luận
Dinh dưỡng và tăng trưởng sớm ảnh hưởng lên sự phát triển sức khỏe lâu dài Nhiều cơ chế thì có liên quan
Hiểu biết thêm về cơ chế có thể mang lại khả năng can thiệp nhắm đến mục tiêu.
Những thay đổi lập trình trong biểu hiện gien
tế bào chất
Sự phiên dịch
α
HNF4 và những điều chỉnh histone
Vùng tăng cường
Những protein truyền tín hiệu mô mỡ
ß
Không thấy sự khác nhau ở biểu hiện thụ thể insulin, PKC2, GSK3a, GSK3 , PGC1, ShC, AKt1 hoặc AKt2 giữa các nhóm
Ngoại di truyền (epigenetic) và sự sao chép gien
Trang 611 Tăng trưởng và Dinh dưỡng
Ảnh hưởng lâu dài của
việc cho con bú sữa mẹ
Tác giả
Jean-Charles Picaud
Trưởng Bộ phận Sơ sinh
Bệnh viện Croix Rousse, Lyon;
Chủ Tịch Hiệp hội Ngân hàng Sữa Mẹ Pháp.
Cho con bú sữa mẹ cũng có thể mang lại lợi ích lâu dài đối với sức khỏe
của trẻ em và các bà mẹ của chúng (Biểu đồ 1) Tuy nhiên, vẫn còn có sự
khác biệt giữa các nghiên cứu khác nhau và không có kết luận cuối cùng
nào có thể đưa ra liên quan đến, ví dụ như, liên quan đến mối quan hệ
giữa tỷ lệ tử vong tim mạch sau này với lịch sử cho con bú sữa mẹ
Những nghiên cứu nhỏ hơn thường báo cáo một hiệu quả bảo vệ lớn
hơn đối với việc cho con bú sữa mẹ; sự điều chỉnh yếu tố gây nhiễu là
một nguồn gốc của tính không đồng nhất giữa các kết quả nghiên cứu
Những yếu tố hoạt tính sinh học trong sữa mẹ cung cấp sự bảo vệ, thúc
đẩy phát triển miễn dịch, và tạo thuận lợi cho phát triển của dung nạp
miễn dịch và đáp ứng viêm thích hợp Sự bảo vệ chống lại bệnh nhiễm
trùng đường hô hấp, tiêu hóa thì thể hiện rõ ở các nước đang phát triển
Một đánh giá của 21 nghiên cứu (Duijts 2009) đã tiến hành ở các nước
công nghiệp đã phát hiện ra rằng tất cả các nghiên cứu đã báo cáo một
hiệu quả bảo vệ đáp ứng liều / thời gian bảo vệ trên nhiễm trùng đường
tiêu hóa và hô hấp Nhưng những tác dụng bảo vệ có tiếp tục sau giai
đoạn cho con bú hay không? Điều này đã được đề xuất trong nhóm
Dundee (Wilson 1998), nhưng không được xác nhận trong các nghiên
cứu thuần tập Southampton Millennium (Quigley 2007) Hiệu quả bảo
vệ của việc cho con bú sữa mẹ làm giảm đáng kể nguy cơ nhập viện vì
Vấn đề là, hầu hết các nghiên cứu này là nghiên cứu quan sát với các
định nghĩa và phân loại khác nhau Những yếu tố khác nhau có thể làm
mờ các mối liên quan giữa việc cho con bú sữa mẹ và kết quả đi theo Sự
nhầm lẫn trong phân loại của các cá nhân liên quan đến định nghĩa tiếp
xúc với sữa mẹ hoặc thay thế sữa mẹ là một vấn đề quá khó khăn: Liệu
chúng ta xử lý riêng việc cho con bú sữa mẹ hay hỗn hợp của bú sữa mẹ
và sữa công thức? Sự khác biệt trong bối cảnh gia đình (giáo dục, tình
trạng kinh tế xã hội) có khả năng tác động đến các khía cạnh khác của
cuộc sống như chế độ ăn uống và các mô hình của hoạt động thể chất
Sự khác nhau phụ thuộc quốc gia và nền văn hóa thì tồn tại ở các nước
có thu nhập cao so với các nước thu nhập thấp, cũng như liên quan đến
ảnh hưởng trên thực hành nuôi dưỡng trẻ (Brion 2011, mùa thu năm
2011) Những thay đổi quan trọng đã xảy ra trong thành phần của sản
phẩm thay thế sữa trong 40 năm qua Thực hành ăn dặm đa dạng cũng
có thể đóng một vai trò
Ảnh hưởng lên viêm và nhiễm trùng
vì tiêu chảy hoặc nhiễm trùng đường hô hấp dưới (hiệu quả không đáng kể đối với cho bú mẹ một phần), nhưng hiệu quả giảm đi dần sau khi ngừng cho con bú sữa mẹ
Một số nhà nghiên cứu hy vọng rằng các yếu tố trong giai đoạn đầu cuộc sống sẽ ảnh hưởng đến nguy cơ bệnh viêm ruột (IBD) ở tuổi trưởng thành, nhưng không thấy mối tương quan như vậy trong một quần thể lớn hơn 140.000 phụ nữ ở Mỹ Không có mối quan hệ giữa các yếu tố đầu đời (bú sữa mẹ, sinh non, cân nặng) và nguy cơ viêm loét đại tràng khởi phát ở người lớn và bệnh Crohn (Khalili 2013)
Mối quan hệ giữa bú sữa mẹ và nguy cơ bệnh dị ứng là một chủ đề gây tranh cãi Không có tác dụng bảo vệ cho bệnh chàm, trong khi các kết quả cho bệnh hen suyễn là nghịch lý: bú sữa mẹ bảo vệ chống lại bệnh thở khò khè sớm trong những năm đầu tiên của cuộc sống, nhưng làm tăng nguy cơ hen suyễn trong cuộc sống sau này (Matheson 2012)
Không có đủ dữ liệu để hỗ trợ các kết luận về dị ứng thức ăn
Mặc dù các hạn chế đáng kể về phương pháp luận trong hầu hết các nghiên cứu thất bại điều chỉnh đầy đủ các yếu tố gây nhiễu, dường như
bú sữa mẹ có khả năng có những ảnh hưởng có lợi khác trên hệ thống
hô hấp, có thể cải thiện tình trạng ảnh hưởng hô hấp của ô nhiễm không khí trên trẻ em Một nghiên cứu của 31.040 trẻ em Trung Quốc trong độ tuổi từ 2-14 từ bảy thành phố để giám sát ô nhiễm không khí đã phát hiện ra rằng việc cho con bú sữa mẹ (> 3 tháng) thì có liên quan với mối tương quan nhỏ hơn giữa ô nhiễm không khí và điều kiện hô hấp (Dong 2013) Hiệu quả này thì có tính bảo vệ ở trẻ em nhỏ hơn
Ở trẻ sơ sinh đủ tháng, nguy cơ viêm da dị ứng giảm đáng kể 42%
(khoảng tin cậy 95 %, 8% đến 59 %) đã được báo cáo ở trẻ em có tiền sử gia đình dị ứng , bú mẹ hoàn toàn trong ít nhất ba tháng so với trẻ được
bú mẹ ít hơn ba tháng Mối quan hệ giữa bú sữa mẹ và nguy cơ hen suyễn ở trẻ lớn hơn và thanh thiếu niên vẫn chưa rõ ràng Một tác dụng bảo vệ vừa phải của bú sữa mẹ trong ít nhất ba tháng đã được báo cáo ở các đối tượng không có tiền sử gia đình bệnh hen suyễn, với một hiệu quả cao hơn (Gdalevich 2001/van Odijk 2003)
Phòng ngừa dị ứng
Vấn đề là hầu hết các nghiên cứu
sử dụng các định nghĩa và các cách phân loại khác nhau
-•
•
•
0.4 0.6 0.8 1 1.2 1.4 1.8 2
Martin-Boyd Orr (All)
Wingard (M)
Hertfordshire (M)
Martin-Caerphilly (M)
Wingard (F)
Hertfordshire (F)
Combined
Huyết áp cao, cholesterol cao và bệnh đái tháo đường tuýp 2 có liên quan đến tăng nguy cơ bệnh tim mạch Cholesterol huyết thanh thì có liên quan với nguy cơ mắc bệnh tim thiếu máu cục bộ
Bệnh đái tháo đường tuýp 2 có thể được lập trình sớm trong cuộc sống (Owen 2004) Một số lượng nhỏ (10) nghiên cứu chất lượng cao (Horta 2013) cho thấy hiệu quả khác nhau tùy thuộc vào độ tuổi của các đối tượng Một tác dụng bảo vệ thì đặc biệt rõ ràng ở thanh thiếu niên
Thành phần cholesterol cao trong sữa mẹ Tiêu thụ cholesterol nhiều hơn trong giai đoạn trẻ nhỏ sẽ điều tiết giảm HMG-CoA của gan (hygroxymethyl glutaryl coenzym A) và giảm tổng hợp cholesterol, nhưng không thấy khác biệt đáng kể trong tổng số cholesterol huyết thanh giữa trẻ nhỏ bú sữa mẹ và những trẻ khác Không có một hiệu quả lập trình dài hạn của việc cho con bú sữa mẹ lên mỡ máu
Mối liên hệ giữa bú sữa mẹ và béo phì vẫn còn bàn cãi Tầm quan trọng của mối tương quan giảm đi khi tất cả yếu tố gây nhiễu đưa vào phân tích Giảm 4% nguy cơ thừa cân ở người lớn đã được báo cáo cho mỗi tháng bổ sung bú sữa mẹ trong giai đoạn trẻ nhỏ Tuy nhiên, sự diễn giải thận trọng là cần thiết vì khả năng có các yếu tố gây nhiễu Hầu hết các nghiên cứu được thực hiện ở các nước có thu nhập cao, nơi mà thời gian cho con bú sữa mẹ thì kéo dài hơn ở những gia đình có cha mẹ học vấn cao hơn và kiếm được thu nhập cao hơn (Biểu đồ 3).
Phát triển não bộ cũng có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác, ví dụ như chất lượng của chế độ ăn dặm Chỉ số IQ đầy đủ và bằng lời nói thì cao hơn, và hiệu năng bộ nhớ tốt hơn, đã được nhận thấy ở trẻ em được nuôi dưỡng lúc 6 và 12 tháng theo một mô hình chế độ ăn uống "hướng
Một số nghiên cứu đã báo cáo hiệu quả học tập tốt hơn ở tuổi vị thành niên hoặc thanh thiếu niên của các đối tượng nuôi bằng sữa mẹ Khi trẻ
đủ tháng ở các nước phát triển được nghiên cứu với sự điều chỉnh chuyên biệt ở trí thông minh của mẹ, có ít hoặc không có bằng chứng thấy được trong mối tương quan giữa bú sữa mẹ trong giai đoạn nhũ nhi và hiệu quả nhận thức trong thời thơ ấu Tác dụng có lợi có thể được tuyên bố nhiều hơn ở trẻ non tháng và trẻ hạn chế tăng trưởng Tuy nhiên, một tổng quan hệ thống gần đây đã xác nhận mối tương quan thuận giữa con bú sữa mẹ và chỉ số IQ sau này trong cuộc sống (Horta năm 2013, Biểu đồ 2)
Phát triển nhận thức
Tăng lipid máu và bệnh đái tháo đường tuýp 2
Kết luận
Cho con bú sữa mẹ có tác dụng mang lại lợi ích cho sức khỏe
bà mẹ và trẻ em trên toàn cầu.
Tác động tích cực ngắn hạn thì được biết rõ, nhưng cũng có những lợi ích sức khỏe đáng kể trong quá trình trưởng thành
Về một số trong những hiệu quả này, cần thêm các cuộc điều tra nữa để xác định liệu những lợi ích mang lại có khác nhau đối với các tiểu quần thể chuyên biệt
Hình ảnh: 4x6@istockphoto.com
dẫn trẻ nhỏ" với mức tiêu thụ cao của trái cây, rau và thực phẩm chuẩn bị sẵn sàng trong nhà (Gale 2011, Fisk 2011)
Thừa cân và béo phì
Biểu đồ 1
Lợi ích của bú sữa mẹ - Bạn có thể chỉ ra đến bao nhiêu?
Nguy cơ đái tháo đường thấp
Bảo vệ chống tiêu chảy và rối loạn tiêu hóa
Bảo vệ chống nhiểm trùng ngực và thở khò khè Bảo vệ chống nhiễm trùng tai Phát triển tinh thần tốt hơn Tạo răng tốt hơn
Xương khỏe hơn trong tương lai
Giảm mùi hôi của tã lót Tã Giảm nguy cơ ung thư vú sớm
Biểu đồ 3
Chỉ có 16 nghiên cứu được xem xét (Horta 2013) gồm số lượng lớn các đối tượng và được kiểm soát gây nhiễu bởi kinh tế xã hội, cân nặng khi sinh hoặc tuổi thai và nhân trắc học cha mẹ đã mang lại một OR = 0,88 gộp lại [khoảng tin cậy 95%: 0,83; 0,93] Những nghiên cứu có chất lượng cao hơn đã gợi ý một sự giảm nhẹ ở trẻ em, mà điều này có ý nghĩa
ở mức độ dân số
Not adjusted for maternal IQ
Subtotal (I-squared= 82.0 %, p=0.000)
Adjusted for maternal IQ
Gibson-Davis (A) 2006
Subtotal (I-squared=72.0 %, p= 0.001)
Overall (I-squared= 88.0 %, p= 0.000)
Horta 2013
Biểu đồ 2
Phát triển nhận thức
Ghi chú: Cân nặng từ phân tích kết quả ngẫu nhiên
Giá trị trung bình thấp hơn ở những đối tượng bú sữa mẹ
Giá trị trung bình cao hơn ở những đối tượng bú sữa mẹ
Bú sữa mẹ và tỉ lệ tử vong bệnh tim mạch
355 người trưởng thành từ nghiên cứu Cohort Boyd Orr (UK)
Có ít chứng cứ đối với bú sữa mẹ liên quan với:
Tỉ lệ tử vong do tất cả nguyên nhân (chỉ số rủi ro: 1,04 [Khoảng tin cậy 95%: 0,90 - 1,20])
Tỉ lệ tử vong do bệnh tim mạch (1,04 [0,83 – 1,30])
Tỉ lệ tử vong do bệnh thiếu máu cơ tim (1,02 [0,77 – 1,36])
So với bú bình
Chỉ số tỉ lệ gộp: 1,06 (Khoảng tin cậy 95%: 0,94 - 1,20), p = 0,3
”
”
Trang 713 Tăng trưởng và Dinh dưỡng
Protein thì hết sức quan trọng đối với mọi sinh
vật sống và được xem như là các thành phần cơ
bản của cấu trúc và chức năng tế bào Theo
nhiều ấn phẩm xuất bản trong lĩnh vực dinh
dưỡng trẻ nhỏ đã nhấn mạnh protein hơn bất kỳ
chất dinh dưỡng nào khác Nghiên cứu và mối
quan tâm lâm sàng về cung cấp protein ở trẻ
nhỏ đã có truyền thống tập trung vào nguy cơ
thiếu hụt và công tác phòng chống và điều trị
chúng Vì một nguồn cung cấp protein thấp hơn
nhu cầu sẽ có ảnh hưởng xấu lên tăng trưởng và
phát triển, cho nên sự tiêu thụ protein hào
phóng theo truyền thống đã được phát huy
trong giai đoạn trẻ nhỏ Nhưng khái niệm "càng
nhiều càng tốt" có thể không phải luôn luôn
đúng Chúng tôi đi theo giả thuyết cho rằng một
lượng protein dư thừa trong năm đầu tiên của
cuộc sống gắn liền với sự tăng trưởng nhanh
chóng trong giai đoạn trẻ nhỏ cũng như tăng
cao nguy cơ béo phì và bệnh tật có liên quan sau
này trong cuộc sống, "Giả thuyết Protein sớm"
đối với cơ hội cho công tác phòng ngừa đã có trong thời kỳ mang thai và thời thơ ấu Bà mẹ béo phì tại thời điểm thụ thai, đái tháo đường thai kỳ, tăng cân nhiều trong thời kỳ mang thai
và một số chế độ ăn uống trong thai kỳ tất cả dẫn đến cân nặng khi sinh của trẻ lớn hơn, béo phì ở trẻ sơ sinh cao hơn và tăng tỷ lệ béo phì lâu dài Rõ ràng, có nhiều cơ hội tồn tại cho các can thiệp dự phòng trước và trong khi mang thai, nhưng hiệu quả và an toàn của chúng cần phải được đánh giá đúng
tăng trưởng của con người mà hoạt động của nó qua trung gian thông qua sự hình thành của yếu
tố tăng trưởng như insulin IGF-1 Sự tăng trưởng bật lên ở tuổi dậy thì được gây ra bởi các tác dụng đồng hóa bổ sung của hormone giới tính
Ngược lại, sự tăng trưởng nhanh chóng trong giai đoạn nhũ nhi thì được kích thích bởi việc cung cấp các chất dinh dưỡng kích thích sự bài tiết các yếu tố tăng trưởng insulin và IGF-1 (Biểu
đồ 1).
quan sát và một số đa phân tích nhận thấy việc cho con bú sữa mẹ liên quan đến việc giảm nguy
cơ vừa phải nhưng kiên định đối với bệnh béo phì, ngay cả sau khi điều chỉnh các yếu tố gây nhiễu có liên quan Kích thước hiệu quả bảo vệ được báo cáo trong đa phân tích là khoảng 15-20%, nó sẽ đại diện cho lợi ích sức khỏe cộng đồng chủ yếu ở mức độ dân số rộng lớn Điều này sẽ cung cấp một lý lẽ mạnh mẽ để tăng cường những nỗ lực của chúng tôi để hỗ trợ, thúc đẩy và bảo vệ việc cho con bú sữa mẹ
Giả thuyết của chúng tôi đã được xác nhận có liên quan đến sự tác động lên các yếu tố tăng trưởng: IGF-1 huyết tương và bài tiết C- peptide trong nước tiểu thì thấp hơn đáng kể ở nhóm protein thấp so với các nhóm protein cao, và có phần gần hơn đến mức độ nhận thấy được ở trẻ
bú sữa mẹ (mặc dù không giống hệt nhau) Cân nặng theo chiều dài vào lúc 2 tuổi thì khác nhau đáng kể giữa các nhóm nuôi ăn Vào lúc 2 tuổi, trẻ em nuôi bằng sữa công thức protein cao hơn trong năm đầu tiên thì nặng hơn đáng kể so với trẻ bú sữa mẹ trước đây Tuy nhiên, trẻ em được nuôi bằng công thức protein thấp hơn trong giai đoạn nhỏ thì đạt đến cùng trọng lượng với nhóm bú sữa mẹ vào lúc 2 tuổi, và do đó được bảo vệ không tăng cân quá mức Các mức độ IGF-1 ở trẻ nhỏ đã dự đoán sự phát triển trọng lượng cơ thể ở sáu tháng và hai tuổi Theo dõi các trẻ em ở độ tuổi đi học sớm cho thấy có một
sự khác biệt bền bỉ (dữ liệu chưa được công bố)
phần chế độ ăn uống thêm và các chất chuyển hóa, định nghĩa các cửa sổ tuổi đặc biệt nhạy cảm đối với sự can thiệp dự phòng, và làm rõ hơn nữa các cơ chế tiềm ẩn Vì vậy, chúng tôi thực sự rất biết ơn đối với cơ hội để giải quyết một số vấn đề trong dự án nghiên cứu được hỗ trợ bởi Ủy ban châu Âu, "Dự án dinh dưỡng sớm" với ngân sách > 11 triệu Euro trong thời gian 5 năm (www.project- earlynutrition.eu) Các tập đoàn dinh dưỡng sớm tập hợp các tổ chức nghiên cứu trong Liên minh Châu Âu, Hoa Kỳ và
Úc để hợp tác chặt chẽ trong nghiên cứu lập trình dinh dưỡng trước và sau khi sinh cho lợi ích sức khỏe lâu dài, tập trung vào các chương trình của béo phì và tình trạng béo phì (mỡ cơ thể -body fatness) Dự án sẽ khám phá những cơ chế tiềm ẩn của lập trình và thu được bằng chứng từ các nghiên cứu thuần tập tiến cứu theo chiều dọc và từ các thử nghiệm can thiệp ngẫu nhiên trong thời kỳ mang thai và thời thơ ấu Hơn nữa,
nó được lên kế hoạch để đối chiếu có hệ thống các dữ liệu sẵn có về lập trình sớm cho sức khỏe lâu dài và để lấy được khuyến nghị chế độ ăn uống dựa trên chứng cứ cho phụ nữ trước và trong khi mang thai và cho con bú, và cho trẻ nhũ nhi và trẻ nhỏ, mà lưu ý đến tác động lên sức khỏe lâu dài Chúng tôi nhắm đạt được mục tiêu này trong năm 2017
Giảm protein trong nuôi ăn cho trẻ sơ sinh thì tương đối dễ dàng thực hiện, không tốn kém, và không yêu cầu phải thay đổi lối sống, trong khi
nó có thể có hiệu quả to lớn đối với ngăn ngừa béo phì sau này Vì vậy, chúng tôi tin rằng phải thận trọng để tránh ăn một nguồn cung cấp protein quá cao trong năm đầu tiên của cuộc sống bằng cách thúc đẩy cho con bú sữa mẹ, bằng cách tránh sữa bò (cow’s milk) là một thức uống trong năm đầu tiên của cuộc sống bởi vì sữa bò có hàm lượng protein rất cao, và bằng cách chọn công thức khởi đầu và công thức tiếp theo với số lượng protein hạn chế nhưng chất lượng protein cao (Biểu đồ 4) Nhiều câu hỏi vẫn còn cần được giải quyết Những câu hỏi này bao gồm, ví dụ như, mức độ kiên trì của tác dụng bảo
vệ với độ tuổi ngày càng tăng, các nguyên nhân
và tác động của sự khác biệt giới tính được đánh dấu quan sát trong đáp ứng IGF, sự tương tác của chế độ ăn uống sau khi sinh với các yếu tố ảnh hưởng đến cha mẹ và trước khi sinh, việc nhận diện các nhóm nhỏ tiềm năng nhạy cảm đặc biệt được xác định bởi kiểu gien hoặc yếu tố
dự đoán khác, vai trò điều tiết hoặc các thành
Trong khi những trẻ nhũ nhi không thể được chọn ngẫu nhiên về mặt đạo đức cho bú sữa mẹ hoặc sữa bột công thức để thiết lập bằng chứng vững chắc cho một tác dụng phòng ngừa của việc cho con bú sữa mẹ, điều có thể là kiểm tra các yếu tố cơ bản được đề nghị để giảm nguồn cung cấp protein cho bằng với sữa mẹ trong một nghiên cứu ngẫu nhiên sử dụng sữa công thức cho trẻ sơ sinh với thành phần protein khác nhau Một lượng tiêu thụ protein dư thừa ở trẻ nhỏ dùng sữa công thức có thể làm tăng nồng
độ của các axit amin giải phóng insulin trong huyết tương và mô, nồng độ insulin và IGF-1, và
do đó làm tăng sự tăng cân sớm và béo phì sau
đó (Biểu đồ 2).
Thử nghiệm dự án béo phì trẻ em (CHOP) là một nghiên cứu can thiệp đa trung tâm, ngẫu nhiên,
mù đôi có sự tham gia của 1.678 trẻ khỏe mạnh sinh ra đủ tháng ở năm quốc gia châu Âu (Bỉ , Đức, Ý , Ba Lan và Tây Ban Nha) Sự can thiệp là cung cấp sữa công thức cho trẻ nhũ nhi và sữa công thức tiếp theo sau đó với hàm lượng đạm hoặc cao hơn hoặc thấp hơn trong suốt thời gian năm đầu tiên của cuộc sống Điều quan trọng, mật độ năng lượng của các sản phẩm ghép cặp là như nhau, được thực hiện bằng cách điều chỉnh chút ít tổng hàm lượng chất béo Một nhóm tham khảo bao gồm trẻ nhũ nhi
bú sữa mẹ mà được bú mẹ hoàn toàn trong ít nhất ba tháng (Biểu đồ 3).
Cho con bú sữa mẹ cung cấp ít protein hơn các công thức trẻ nhỏ sử dụng thông thường Điều này thì có liên quan với một tốc độ tăng trưởng hơi khác nhau ở trẻ nhỏ bú sữa mẹ và bú bình được báo cáo trong nhiều nghiên cứu Vào cuối năm đầu đời, những trẻ đã được nuôi chủ yếu bằng sữa mẹ thì thon thả đáng kể hơn trẻ chủ yếu nuôi bằng sữa công thức thông thường Dữ liệu gần đây cho thấy trẻ bú sữa mẹ trong giai đoạn nhũ nhi cũng có liên quan với ít lắng đọng
mỡ trong cơ thể ở độ tuổi đi học Phù hợp với những dữ liệu này, nhiều nghiên cứu thuần tập
Sự tiêu thụ carbohydrate trong chế độ ăn và lượng đường trong máu ảnh hưởng đến bài tiết insulin Ngoài ra protein tạo nên một hiệu quả mạnh mẽ trên sự trung gian của các yếu tố tăng trưởng, đã được ghi nhận trong nghiên cứu ở người và thực nghiệm Axit amin kích thích con đường mTOR Trong các mô hình thử nghiệm, các tác dụng kích thích tối đa trên mTORC1 chỉ
có thể được thực hiện bằng hoạt động đồng thời của các yếu tố tăng trưởng cùng với các axit amin
Nhiều nghiên cứu quan sát đã mô tả rằng tỷ lệ cao của tăng cân ở thời kỳ nhũ nhi và năm thứ hai trong cuộc đời thì có liên quan với một khả năng gia tăng đáng kể bệnh béo phì ở trẻ em, thanh thiếu niên và tuổi trưởng thành (Brands, năm 2012) Dựa trên những nghiên cứu quan sát ở Mỹ, Stettler đề xuất rằng tăng cân nhanh chóng trong giai đoạn trẻ nhũ nhi sẽ giải thích 30% nguy cơ béo phì trong dân số (Stettler, 2003) Những quan sát này dẫn đến kết luận rằng sự vừa phải trong tăng cân nhanh và sớm
có thể có lợi cho phòng ngừa chứng béo phì sau này
Energy Kcal/100 ml 69.9 69.8 72.7 72.5 Proteins g/100 ml 1.25 2.05 1.6 3.2 Proteins g/100 Kcal 1.77 2.9 2.2 4.4 Proteins % energy 7.1 11.7 8.8 17.6
Protein - một yếu tố thúc đẩy
tăng trưởng của con người
Tác giả
Berthold Koletzko,
Bác sĩ Bệnh viện Nhi Hauner
Đại học Munich,
Trung tâm Y Khoa
Tỷ lệ béo phì đã gia tăng rõ rệt ở trẻ em và
người lớn từ những năm 1980, dẫn đến một
gánh nặng rất cao đối với các rối loạn đi kèm
như bệnh đái tháo đường, bệnh tim mạch, tình
trạng cơ xương, một số dạng ung thư, và nhiều
rối loạn khác Ở châu Âu ngày nay, có 33 triệu
bệnh nhân đái tháo đường, và nhiều đến 8 %
trong tổng chi phí chăm sóc sức khỏe chỉ dành
cho điều trị bệnh đái tháo đường tuýp 2 Tại
Hoa Kỳ, một phần sáu ngân sách y tế dành cho
việc điều trị các bệnh do béo phì gây ra Phòng
ngừa ban đầu hiệu quả của béo phì là rất cần
thiết, và ngày càng tăng các điểm bằng chứng
Phòng ngừa béo phì
Một mô hình cho bộ điều biến tăng trưởng của con người đã được đề xuất bởi Karlberg trong những năm 1980, mô hình tăng trưởng cho các trẻ nhỏ - trẻ lớn - tuổi dậy thì (ICP) Ông đề xuất rằng tăng trưởng ở trẻ em xảy ra trong ba giai đoạn khác biệt với các hiệu ứng chồng chéo của
ba yếu tố điều hòa quan trọng Trong thời thơ
ấu, tăng trưởng được điều hòa bởi hormone
Phòng ngừa tăng trưởng nhanh
Giả thuyết protein sớm
Thử nghiệm dự án béo phì trẻ em
Kết luận
Cho con bú sữa mẹ: Tích cực thúc đẩy, bảo vệ và hỗ trợ việc cho con
bú sữa mẹ mà điều này sẽ làm giảm nguy cơ béo phì sau này.
Tránh cung cấp protein quá độ
để bình thường hóa sự tăng cân sớm và để giảm nguy cơ béo phì sau này.
Đối với trẻ nhỏ không bú sữa mẹ (không bú mẹ hoàn toàn), chọn sữa công thức có hàm lượng protein tương đối thấp nhưng chất lượng protein cao.
Không cung cấp sữa bò (cow's milk) như là thức uống mà cung cấp protein nhiều hơn sữa
mẹ hoặc sữa công thức hiện đại cho trẻ nhỏ.
Hormone phát triển người Cung cấp chất nền Yếu tố phát triển giống như Insulin (IGF-1) Insulin
Kết hợp với IGFBP-3 Thụ thể IGF-1 Thụ thể Insulin Đồng hóa và tăng trưởng: tiêu thụ Glucose và Axit amin phân hủy Protein; tổng hợp DNA; phát triển và tăng sinh tế bào; kháng quá trình chết tế bào)
Cung cấp protein cao Nồng độ axit amin sinh insulin trong máu và mô cao Gia tăng bài tiết Insulinvà IGF-1 Tăng cân
đến 2 tuổi
Hoạt động sinh mô mỡ Nguy cơ lâu dài của béo phì và các rối loạn đi kèm
Thành phần của sữa nuôi trẻ
Công thức trẻ nhũ nhi Protein thấp
Protein thấp Protein cao
Protein cao
Công thức tiếp theo Đơn vị
70 (6.7) 1.2 (0.2) – –
Adult intervention
Biểu đồ 4
Sữa người
Trung bình (SD)
Cơ hội lớn cho sự tăng cường sức khỏe
Mẹ & Trẻ nhũ nhi Thời thơ ấu
Trưởng thành
Can thiệp muộn lại lợi ích giới hạn
Can thiệp sớm
có thể phòng ngừa sớm khởi phát và béo phì sau đó Vòng đời
Độ lớn của bệnh chuyển hóa
Trang 815 Tăng trưởng và Dinh dưỡng
Bằng cách nào chúng ta có thể làm giảm tiêu
thụ lượng protein ở trẻ nhỏ đặc biệt là vào cuối
thời kỳ nhũ nhi? Việc giảm protein sẽ được
mong muốn bởi vì chúng tôi tin rằng làm như
vậy, chúng tôi có thể giúp trẻ tránh béo phì sau
này Cho con bú sữa mẹ, và bú càng lâu càng tốt,
là một câu trả lời rất dễ dàng Nhưng vì nhiều lý
do khác nhau, không phải tất cả trong số đó đều
được biết, rất nhiều phụ nữ lựa chọn để nuôi con
trẻ bằng sữa công thức Tăng trưởng nhanh
chóng ở trẻ nhũ nhi thì có liên quan với nguy cơ
thừa cân và béo phì trong cuộc sống sau này
Đây là điều chính đáng, nhưng chưa được
chứng minh, rằng sự tăng trưởng chậm lại ở trẻ
nhũ nhi có thể làm giảm nguy cơ béo phì sau
này
Vì vậy, đề tài của tôi là làm thế nào để giảm lượng
protein trong SCT đến mức thấp nhất mà vẫn
còn đủ Một phát hiện quan trọng của 2 nghiên
cứu này là hàm lượng protein của sữa công thức
mới với lượng protein thấp hơn thì đủ để hỗ trợ
tăng trưởng bình thường cho trẻ nhũ nhi
Chúng ta biết rằng hàm lượng protein trong sữa
mẹ thì cao trong hai tháng đầu sau sinh và sau
đó giảm Điều này là do nhu cầu protein của trẻ nhỏ sinh đủ tháng rất cao trong 2-3 tháng đầu sau khi sinh Chúng ta có thể ước tính chính xác lượng protein trung bình của trẻ nhỏ bú sữa mẹ bằng cách nhân hàm lượng protein của sữa với khối lượng trung bình của sữa được tiêu thụ
Đồ thị đối với trẻ bú sữa công thức thì hoàn toàn khác Hàm lượng protein của sữa công thức điển hình ở Mỹ là 2,15 Vì vậy, sữa công thức đáp ứng nhu cầu cao nhất trong những tháng đầu tiên của cuộc sống Ở Mỹ, chúng tôi chỉ có một loại sữa công thức được sử dụng cho em bé trong suốt năm đầu đời Như được thể hiện rõ ràng bằng biểu đồ, từ tháng thứ hai và dần dần sau
đó, em bé tiêu hóa các protein dư thừa (Biểu đồ 2).
Protein thấp thì sao? Nestlé đã tiến hành một nghiên cứu ở Chile với trẻ em sinh ra từ mẹ có chỉ số BMI lớn hơn 25 Bắt đầu từ tháng ba, những đứa trẻ được chọn ngẫu nhiên để được nuôi bằng công thức có hàm lượng protein thấp hơn hoặc cao hơn Trẻ bú sữa mẹ ở nhóm tham khảo Trẻ được nuôi ăn công thức cho đến 12 tháng; một cuộc kiểm tra tiếp theo được thực hiện ở 24 tháng Biểu đồ 3 cho thấy hàm lượng protein của hai công thức liên quan đến nhu cầu protein
công thức Như vậy rõ ràng rằng công thức protein thấp hầu như chỉ giảm tốc tăng cân chỉ ở những em bé được sinh ra từ các bà mẹ thừa cân
và chính những em bé to khi sinh (Biểu đồ 4)
Công thức protein thấp thì an toàn cho tất cả các
bé trong độ tuổi từ ba tháng trở lên
Axit amin chuỗi nhánh trong huyết tương thì cao nhất với công thức giàu protein (Biểu đồ 5),
một phát hiện giống hệt với các dự án béo phì Châu Âu (Biểu đồ 5). Urê máu thì tương tự nhau giữa nhóm protein thấp và nhóm bú sữa mẹ IGF-1 cao hơn đáng kể trong công thức protein cao so với sữa công thức protein thấp và nhóm
bú sữa mẹ
Chúng tôi đã tiến hành một nghiên cứu tương
tự ở Hoa Kỳ, với sự khác biệt quan trọng là các bà
mẹ đã không được lựa chọn Chúng tôi thấy rằng một số lượng lớn các bà mẹ bị thừa cân hoặc béo phì tại Hoa Kỳ Công thức protein thấp thì tương tự như công thức nuôi ăn ở Chile, nhưng công thức protein cao hơn thì có protein thấp hơn so với công thức Chile và tương tự như
đa số công thức cho trẻ tại Hoa Kỳ Sự khác biệt giữa hai công thức nuôi ăn trong nghiên cứu của Hoa Kỳ thì ít hơn Đây có thể là lý do tại sao chúng ta thấy tác dụng hơi khác nhau Chúng tôi vẫn chưa hoàn toàn phân tích dữ liệu tăng trưởng, nhưng tôi có thể cho bạn thấy sự tăng trưởng tổng thể: ở đây, không giống như các nghiên cứu ở Chile, chúng ta thấy rằng các em
bé bú sữa mẹ thì nhỏ hơn so với trẻ ở hai nhóm sữa công thức Sự khác biệt giữa các nhóm sữa công thức thì nhỏ và trở nên quan trọng chỉ sau
12 tháng
Tăng cân từ ba đến sáu tháng thì thấp hơn đáng
kể đối với trẻ đã được cho ăn bằng công thức protein thấp hơn Sự khác biệt về trọng lượng giữa hai nhóm công thức trở nên dần dần lớn hơn và đạt 517 g ở độ tuổi lên hai - và sự can thiệp kết thúc vào lúc 12 tháng! Vì vậy, hiệu quả
đã tiếp tục sau khi can thiệp, như đã vậy trong nghiên cứu bệnh béo phì châu Âu Nồng độ axit amin chuỗi nhánh và IGF-1 thì cao hơn đáng kể vào lúc sáu tháng ở trẻ được cho ăn sữa công thức protein cao hơn Có thể là con của các bà
mẹ béo phì nhất bị ảnh hưởng một cách khác biệt không? Chúng tôi thấy rằng nếu chỉ số BMI của người mẹ lớn hơn 30 (40% các bà mẹ), thì sự khác biệt trong việc tăng cân do hàm lượng protein thấp so với hàm lượng protein cao thì lớn hơn nhiều Gần như tất cả sự khác biệt trong việc tăng cân cho nhóm xảy ra ở trẻ có mẹ có chỉ
số BMI cao Những trẻ trên mức 75th percentile đối với cân nặng lúc ba tháng đã bị ảnh hưởng mạnh mẽ hơn nhiều bởi protein thấp, trên thực
tế, chúng là những người duy nhất cho thấy sự ảnh hưởng của hàm lượng protein trong công
Trẻ thực sự nhận được bao nhiêu protein?
Chúng tôi có một số nghiên cứu, ví dụ như, nghiên cứu của Đức DONALD Các nghiên cứu khác cho thấy một khoảng tương tự Lượng tiêu thụ protein mà trẻ nhận được sau sáu tháng lúc nào cũng cao hơn đáng kể so với giới hạn mức trên, mà đã đáp ứng các nhu cầu của 97% trẻ
Vậy protein đến từ đâu? Nguồn của nó là công thức giàu protein, sữa bò, và thịt (một mức độ nào đó)
Vì vậy, chúng ta có thể nói rằng trong phần sau của năm đầu đời, tất cả trẻ nhỏ nhận được nhiều protein hơn là chúng cần Cái gì có thể là lý do cho điều này? Có phải vì mẹ nghĩ rằng trẻ cần protein? Hoặc có thể là em bé thèm protein nhiều hơn? Có lẽ em bé cũng giống như hầu hết trẻ em và người lớn: tất cả chúng ta ăn nhiều protein hơn chúng ta thực sự cần Có thể là em
bé thích protein hơn và bằng cách nào đó có thể thể hiện sở thích này?
Hai đường này thì tương tự một cách đáng kể
Sự tương tự của chúng củng cố niềm tin của chúng tôi rằng ước tính thực sự chính xác
Nhưng chúng tôi cũng có thể nói rằng chúng thì khác nhau: lượng tiêu thụ protein của trẻ bú sữa
mẹ thì hơi thấp hơn so với chúng tôi ước tính theo phương pháp thừa số Điều này hoàn toàn
có thể là lượng tiêu thụ protein của trẻ bú sữa
mẹ thì ở phía bên thấp Điều này có ý nghĩa tiến triển bởi vì người mẹ phải bảo tồn càng nhiều protein càng tốt Nó sẽ là bất lợi cho người mẹ
để nuôi đứa bé nhiều protein hơn so với trẻ thực
sự cần
Chúng ta cũng có thể ước tính nhu cầu protein của trẻ nhỏ bằng cách tiếp cận gọi là "hệ số"
Chúng tôi tính toán sự phát triển dần lên trung bình, chúng tôi điều chỉnh các thiệt hại không thể tránh khỏi và sự hấp thu kém hiệu quả, và chúng tôi đến với những con số như thế này ở đường màu xanh Lượng tiêu thụ protein ở trẻ nhỏ bú sữa mẹ được chỉ định bởi các đường màu
đỏ (Biểu đồ 1).
1
2
3
2.40 2.20 1.80 1.60 1.40 1.20 1.00 0.80 0.60 0.40 0.20 0.00 0–1 1–2 2–3 3–4 4–5 5–6 6–9 9–12
2.50
2.00
1.50
1.00
0.50
0.00
0–1 1–2 2–3 3–4 4–5 5–6
4.50 4.00 3.50 3.00 2.50 2.00 1.50 1.00 0.50 0.00
1 2 3 4 5 6 7 8 9
2.70 1.80 1.65
10 11 12
EXPL
Pickwick USA 500
450 400 350 300
p < 001 p < 001
Sữa người
Pickwick Chile 27
25 23 21 19 17 15 13 Protein thấp Protein cao Protein thấp Protein cao
Protein thấp Protein cao
Cân nặng 3 tháng < 75% WHO > 75% WHO
Mẹ BMI 25–30 BMI > 30
N=32 N=34 N = 6 N = 7
p = 0.035
Sự khác biệt giữa các nhu cầu protein
ở trẻ nhỏ và cung cấp protein
Tác giả
Ekhard E Ziegler,
Bộ môn Nhi,
Đại học Iowa,
Thành phố Iowa
Trẻ cần bao nhiêu protein?
Nhưng chúng tôi không tìm thấy bất kỳ khác biệt nào trong biểu đồ này Một nhóm được dẫn đầu bởi Kay Dewey trong năm 1995 đã ước tính phương sai và đã đưa ra một giới hạn mức trên là 97%, mà họ gọi là "tiêu thụ an toàn" Đây là lượng tiêu thụ đáp ứng các nhu cầu của 97%
trong tất cả các trẻ nhũ nhi Lượng tiêu thụ trung bình đáp ứng nhu cầu của một nửa số trẻ nhũ nhi, nhưng lượng tiêu thụ dọc theo đường màu xanh lá cây thì quá nhiều đối với hầu hết trẻ nhũ nhi (Biểu đồ 2).
Tiêu thụ protein cao
Tiêu thụ protein thấp
”
”
Làm thế nào là lượng protein cao có liên quan đến tình trạng béo phì sau này? Tôi suy đoán:
lượng protein cao kích thích thực phẩm
(= năng lượng) tiêu thụ
Tóm tắt nghiên cứu Pickwick ở Chi Lê
Công thức có hàm lượng protein thấp (1,65 g/100 kcal) hỗ trợ tăng trưởng bình thường
Công thức protein thấp làm chậm tốc độ tăng trưởng so với sữa công thức có hàm lượng protein cao hơn
Công thức protein thấp làm chậm sự tăng trưởng đặc biệt là ở trẻ lớn và trẻ có mẹ thừa cân là người có nguy cơ gia tăng bệnh béo phì sau này
Nghiên cứu Pickwick tại Hoa kỳ
Kết luận
Lượng tiêu thụ protein cao trong giai đoạn nhũ nhi thì có liên quan với bệnh béo phì ở trẻ em
Công thức có hàm lượng protein thấp hơn làm thay đổi các dấu hiệu huyết thanh đối với những trẻ bú sữa mẹ
Công thức có hàm lượng protein thấp làm giảm tốc tăng cân ở trẻ
có bà mẹ thừa cân và béo phì.
Công thức protein thấp chủ yếu làm chậm sự tăng trưởng của trẻ nhũ nhi lớn cân và / hoặc phát triển nhanh.
Nhu cầu Protein
Giai thừa Sữa mẹ
Nhu cầu
An toàn Hoa Kỳ
Khoảng cách tháng tuổi (tháng) Tuổi (tháng) Khoảng cách (tháng)
Nghiên cứu Pickwick ở Chi Lê
Yêu cầu
An toàn
Biểu đồ 4
Tăng cân từ 3 đến 6 tháng tuổi
Biểu đồ 5
Axit Amin chuỗi nhánh
6 tháng tuổi
Trang 9Cuộc sống chu sinh tương ứng với một thời kỳ quan trọng của sự phát triển, và bất kỳ thiếu hụt dinh dưỡng nào trong thời kỳ này có thể ảnh hưởng đáng kể lên sức khỏe sau đó, đã được xác nhận qua nhiều nghiên cứu trên động vật Sự hạn chế tăng trưởng ngoài tử cung ở trẻ sinh non thường có liên quan với hạn chế tăng trưởng chiều cao quan trọng mà điều này có thể tồn tại từ nhỏ đến tuổi trưởng thành Hạn chế tăng trưởng cơ quan cũng thường được quan sát thấy ở não, thận và tuyến tụy, với những ảnh hưởng tiềm tàng đáng kể cho sức khỏe sau này
Những protein đặc biệt trong dinh dưỡng trẻ em
Nguồn cung cấp protein cho trẻ sinh non
và sự tăng trưởng khỏe mạnh
Thibault Senterre,
Đại Học Liege,
Bệnh viện Trung Tâm,
Khu vực Citadelle
Tác giả
Nuôi ăn trẻ sinh non lúc nào cũng được mô tả
như là sự thách thức, và sự tiêu thụ dinh dưỡng
thì thường xuyên ở dưới mức đề nghị Đồng
thời, sự hạn chế tăng trưởng ngoài tử cung cũng
thường xuyên được quan sát và có tương quan
với sự hỗ trợ dinh dưỡng kém Một số nghiên
cứu ở trẻ sinh non đã chỉ ra rằng số lượng và chất
lượng dinh dưỡng có thể ảnh hưởng đáng kể lên
tăng trưởng dài hạn, cấu trúc não, chức năng
nhận thức thần kinh, và tình trạng chuyển hóa
Do đó điều hết sức quan trọng để giúp trẻ sơ
sinh non tháng phát triển và tăng trưởng đầy đủ
đó là lưu tâm đến tốc độ tăng trưởng trong ba
tháng cuối thai kỳ thì hoàn toàn khác với tỷ lệ
tăng trưởng trong những tháng đầu tiên của
cuộc sống (Biểu đồ 1).
Sự tăng trưởng của thai nhi trong tử cung đại
diện cho mô hình hiện tại đối với sự phát triển
sau khi sinh ở trẻ non tháng Nhu cầu dinh
dưỡng của trẻ sinh non có nguồn gốc từ các
nghiên cứu về dinh dưỡng của bào thai lớn dần
lên và cân bằng chuyển hóa Sự tăng cân có thể
không được sử dụng duy nhất để đánh giá sự
tăng trưởng sau khi sinh bởi vì tăng khối lượng
nạc cơ thể là sự tham khảo lý tưởng cho sự tăng
trưởng đầy đủ sau khi sinh, đặc biệt là khi xem
xét nhu cầu protein và năng lượng (Biểu đồ 2).
Hỗ trợ dinh dưỡng không đầy đủ dẫn đến lượng
tiêu thụ dưới mức nhu cầu Tổng của các khoản
thiếu hụt hàng ngày thường xuyên sẽ dẫn đến
kết quả sự thiếu hụt tích lũy rất lớn, điều này liên
quan với giới hạn tăng trưởng ngoài tử cung
đáng kể, đặc biệt là khi xem xét tiêu thụ protein
Nhu cầu đối với trẻ sinh non
Thiếu hụt dinh dưỡng
Thực hành hiện nay cố gắng cải thiện hỗ trợ dinh dưỡng, nhưng hầu hết các nghiên cứu vẫn còn báo cáo sự tiêu thụ ở bên dưới mức khuyến nghị Một cuộc khảo sát lớn gần đây của châu Âu tiến hành ở Đức, Pháp, Ý và Anh cho thấy ý định bắt đầu thực hành dinh dưỡng đường tĩnh mạch thì vẫn thường là không phù hợp với các khuyến nghị châu Âu hiện nay trong các đơn vị chăm sóc tích cực sơ sinh đáp ứng với cuộc khảo sát (74% các đơn vị trong bốn quốc gia) Thật vậy, cuộc khảo sát cho thấy chỉ có 60% các chuyên gia sơ sinh trả lời bắt đầu cho ăn protein vào ngày đầu tiên của cuộc sống; chỉ có 40% bắt đầu với 1,5 g / kg / ngày; và chỉ có 40% bắt đầu với 1 g / kg / ngày lipid (Lapillonne, BMJ năm 2013)
Thanh thiếu niên đã từng được sinh ra rất non tháng thì có chiều cao thấp hơn và thường xuyên có chu vi vòng đầu nhỏ hơn và giảm thể tích não toàn bộ, giảm khối lượng chất xám và giảm khối lượng vùng đồi thị hơn so với trẻ đủ tháng (Nosarti, Brain 2002) Nó cũng đã được chỉ
ra rằng kết quả phát triển thần kinh thì bị ảnh hưởng đáng kể trong quá trình tăng trưởng sau khi sinh, với một tác động bất lợi lớn của việc hạn chế tăng trưởng ngoài tử cung (Látal - Hajnal, J Pediatrics 2003) Can thiệp dinh dưỡng ngắn hạn trong một vài tuần có thể có một tác động đáng kể lên cấu trúc não Trong một nghiên cứu ngẫu nhiên can thiệp ở trẻ sinh non tháng, thể tích ở động vật có đuôi bị ảnh hưởng bởi dinh dưỡng sớm và có liên quan chọn lọc với
IQ ngôn ngữ ở nam giới (Isaacs, Pediatr Res 2008)
Chúng tôi vừa mới công bố một chính sách dinh dưỡng tối ưu cho trẻ sơ sinh có cân nặng khi sinh dưới 1.250g Chính sách này bao gồm việc sử dụng một giải pháp dinh dưỡng đường tĩnh mạch tiêu chuẩn độc nhất, sẵn sàng để sử dụng
và có sẵn 24/7 Phác đồ thì đơn giản dễ hiểu và thực hiện bởi các bác sĩ nội trú và các bác sĩ tại khoa Chế độ bắt đầu với năng lượng 44 kcal / kg / ngày và axit amin 2,4 g / kg / ngày, sau đó dần dần tăng lên đến 120 kcal / kg / ngày và 4,1 g / kg / ngày của các axit amin trong tuần đầu tiên của cuộc sống Sự giảm cân đã được quan sát thấy ở những trẻ này trong ba đến bốn ngày đầu tiên
ngày tới, và ổn định trong tuần thứ hai của cuộc sống Các biến thể của urê huyết theo lượng tiêu thụ protein ở các giai đoạn khác nhau trong hai tuần đầu tiên của cuộc sống không tìm thấy mối tương quan thuận giữa tiêu thụ protein và mức
độ urê huyết Trong thực tế, urê huyết chủ yếu phụ thuộc vào creatinine huyết và hydrat hóa cơ thể Tăng urê máu thì khá tương tự như các nghiên cứu khác với tiêu thụ protein cao từ ngày đầu tiên của cuộc sống và phản ánh đầy đủ quá trình oxy hóa protein, hydration và độ non nớt của thận
thường xuyên tiến triển và nghiêm trọng trong tuần đầu tiên của cuộc sống với những bất thường quan trọng ở nồng độ các chất điện giải trong huyết tương
Sự tiêu thụ protein và năng lượng là những động lực chính của sự tăng cân Một số nghiên cứu đã nêu bật vai trò quan trọng của chỉ số protein-năng lượng trong chất lượng tăng trưởng sau khi sinh Protein rất cần thiết cho cơ thể bồi đắp khối lượng nạc và yêu cầu tiêu thụ năng lượng đầy đủ Nếu tiêu thụ năng lượng gia tăng mà không tăng tiêu thụ protein, điều này dẫn đến gia tăng quan trọng khối mỡ mà có thể làm tăng cân Trong khi sự tiêu thụ protein và chỉ
số protein-năng lượng có liên quan thuận với tăng khối nạc cơ thể, tăng khối lượng mỡ có liên quan thuận với tiêu thụ năng lượng và bị ảnh hưởng tiêu cực bởi chỉ số protein năng lượng
(Biểu đồ 3).
Mặc dù nhiễm toan chuyển hóa có liên quan với tiêu thụ protein cao trong quá khứ, sự thiếu hụt ban đầu cơ bản sau khi sinh đã nhanh chóng biến mất trong tuần đầu tiên của cuộc sống và không thấy mối tương quan Chỉ có 30% trẻ nhỏ phát triển nhiễm toan chuyển hóa (thiếu hụt cơ bản > 5 mmol / l) sau ba ngày của cuộc sống, và chỉ có 2% có nhiễm toan chuyển hóa nặng (thiếu hụt cơ bản > 10 mmol / l) Quan sát này hoàn toàn khác với những gì gần đây đã được báo cáo của Kermovant và cộng sự (JPGN 2012), người đã lưu ý tình trạng toan chuyển hóa của cuộc sống, tương ứng với sự thích nghi sinh
lý của thành phần cơ thể sau khi sinh (Ví dụ, mất nước ngoại bào tương ứng với 5-10% trọng lượng sơ sinh) Tăng cân sau sinh xảy ra sau đó và trọng lượng lúc sinh đã được lấy lại sau 7-8 ngày
ở mức trung bình Mô hình tăng trưởng này có thể được coi là tối ưu vì nó tương tự như mô hình quan sát ở trẻ đủ tháng Sự tiến hóa trọng lượng z-score thì giảm trong 3-4 ngày đầu tiên với giảm cân sinh lý, nhưng sau đó đã không còn giảm, có nghĩa là tăng cân tương tự như tăng cân của thai nhi
Hai nghiên cứu quan sát gần đây cho thấy tuần đầu tiên của cuộc sống cũng rất quan trọng
Điều này có nghĩa rằng bất kỳ suy giảm hoặc chậm trễ nào trong việc khởi xướng hỗ trợ dinh dưỡng sớm có thể là bị ảnh hưởng xấu đi và có thể góp phần vào bệnh lý sau khi sinh và sự tổn thương phát triển tâm thần và tâm lý vận động
Vào năm 2011, Ehrenkranz và cộng sự (Pediatr Res) đã cho rằng mức độ nghiêm trọng của các bệnh lý quan trọng như loạn sản phế quản và nhiễm trùng huyết trong những tuần đầu tiên của cuộc sống và sự phát triển sau này thì có liên quan với con số hỗ trợ dinh dưỡng sớm cung cấp trong tuần đầu tiên Vào năm 2009, Stephens và cộng sự (Nhi khoa) đã ước tính tăng lượng tiêu thụ protein đến 1 g / kg mỗi ngày và tăng cường năng lượng khẩu phần 10 kcal / kg mỗi ngày trong tuần đầu tiên của cuộc sống có thể làm tăng chỉ số phát triển tâm thần vào lúc
18 tháng đến 8,6 và 4,2 điểm theo thứ tự
Hầu hết các nghiên cứu gần đây với việc tiêu thụ dinh dưỡng ở trẻ rất nhẹ cân đã chứng minh cânbằng nitơ dương tính, tăng tổng hợp protein, và cải thiện tăng trưởng mà không có tác dụng phụ đáng kể Những hướng dẫn hiện tại bao gồm cách tiếp cận này không còn được coi là "tấn công ồ ạt" mà trên thực tế là tối ưu và được khuyến nghị
Rất ít bất thường sinh học đã được quan sát trong nghiên cứu này Urê huyết tăng lên trong 3-4 ngày đầu tiên của cuộc sống, giảm trong 3-4
Tiêu thụ qua dinh dưỡng đường ruột cũng thường bên dưới mức khuyến nghị Trong một cuộc khảo sát lớn khác gần đây của Mỹ, sự tiêu thụ thì gần với khuyến nghị nhưng không hoàn toàn đáp ứng chúng; những thực hành này có liên quan với tốc độ tăng trưởng không đủ trong tháng đầu tiên của cuộc sống (Martin, tạp chí Nhi khoa năm 2009) Sữa mẹ phải được bổ sung
để đáp ứng với nhu cầu dinh dưỡng cao của trẻ sinh non Ngoài ra, một cuộc khảo sát tại các nước đã phát triển ở các nơi khác nhau của thế giới gần đây đã mô tả rằng nhiều chuyên gia sơ sinh chờ đợi một thời gian dài trước khi làm giàu sữa mẹ (fortifying human milk) (Klingenberg, ADC- FNN 2011) Hơn nữa, sự làm giàu sữa mẹ (human milk forti cation) cổ điển không chú ý đến sự thay đổi nhiều trong thành phần sữa mẹ, đặc biệt là sự thay đổi trong protein và chất béo
≥
Hiệu quả phát triển thần kinh
Nghiên cứu dinh dưỡng ở trẻ < 1.250g
”
”
Một trẻ non tháng là một cấp cứu về dinh dưỡng cho đến khi đủ tháng
Sự dung nạp chuyển hóa
Dinh dưỡng, chỉ số protein-năng lượng và sự tăng trưởng
Kết luận
Mặc dù với những khuyến cáo hiện thời, nhưng nguồn cung cấp dinh dưỡng không đầy đủ và hạn chế sự tăng trưởng sau khi sinh ngày nay vẫn còn phổ biến.
Hiện nay, những thực hành như vậy có thể được coi là suy dinh dưỡng vì chúng
có liên quan rõ ràng với những kết quả phát triển bất lợi.
Cung cấp protein cao cần được đẩy mạnh ở trẻ non tháng từ ngày đầu tiên của cuộc sống và trong suốt thời gian nhập viện sau khi sinh để tăng cường sự đồng hóa và gia tăng khối nạc cơ thể.
Thiếu dinh dưỡng và hạn chế sự tăng trưởng sau khi sinh là có thể tránh được.
Cho con bú sữa mẹ cần được đẩy mạnh.
Những nghiên cứu thêm nữa, bao gồm cả nghiên cứu dài hạn, thì cần thiết để cải thiện cung cấp dinh dưỡng.
26–30 tuần 16–18 g/kg/d LBM tăng 14% duy trì protein
3.8–4.2 g/kg/d PER: ~3.3 g/100kcal
4.0–4.4 g/kg/d PER: ~3.4 g/100kcal 30–36 tuần 14–15 g/kg/d LBM tăng15% duy trì protein PER: ~2.8 g/100kcal3.4–3.6 g/kg/d PER: ~3.3 g/100kcal3.8–4.2 g/kg/d
36–40 tuần 13 g/kg/d LBM tăng 17% duy trì protein
2.8–3.2 g/kg/d PER: 2.4–2.6 g/100kcal
3.0–3.4 g/kg/d PER: 2.6–2.8 g/100kcal
Rigo 2005 Lập trình nghiên cứu BW 1354g, GA 30.5 wks Chuyển thể từ Rigo 2005
30 25 20 15 10 5 0
Cân nặng (g/kg/day) LBM tăng (g/kg/day) FM tăng (g/kg/day) FM tăng (% WG)
118 kcal/kg/d, Prot: 2.7 g/kg/d, 2.27 g/100 kcal (N=107)
113 kcal/kg/d, Prot: 3.6 g/kg/d, 3.21 g/100 kcal (N= 85)
143 kcal/kg/d, Prot: 3.4 g/kg/d, 2.39 g/100 kcal (N=79)
142 kcal/kg/d, Prot: 4.1 g/kg/d, 2.88 g/100 kcal (N=15)
Tuổi thai (tuần)
21 18 15 12 9 6 3 0
26 28 30 32 34 36 38 40 42 44 46 48 50 52 54 Trọng lượng cơ thể và k
7 6 5 4 3 2 1 0
Biểu đồ 1
Sự tăng trưởng chu sinh
Mô hình tham khảo = Tăng trưởng bào thai trong tử cung bình thường & trẻ đủ tháng
Tăng cân Khối nạc cơ thể Gia tăng Protein Cân nặng cơ thể Khối mỡ
Nhu cầu cho trẻ đủ tháng tăng trưởng
Tăng trưởng bào thai theo PMA Nhu cầu Protein trong trường hợp không cần bắt kịp đà tăng trưởng
Nhu cầu Protein trong trường hợp cần bắt kịp
đà tăng trưởng*
PMA : tuổi tính theo kỳ kinh cuối; LBM: khối nạc cơ thể; PER: chỉ số đạm-năng lượng
* Nhu cầu bắt kịp đà tăng trưởng nếu cân nặng Z-score < -2 hoặc mất 1 Z-score từ lúc sinh
Sự tăng trưởng theo khẩu phần ở trẻ non tháng
Trang 1019 Những protein đặc biệt trong dinh dưỡng trẻ em
Lý do sử dụng các công thức sữa bò có protein
thủy phân cho trẻ nhỏ để ngăn ngừa dị ứng đó
là, cơ địa dị ứng gia đình làm tăng nguy cơ dị ứng
cho con lên đến 80% Tiếp xúc sớm với tác nhân
gây dị ứng là một yếu tố nguy cơ cho các dị ứng
sau đó Tải kháng nguyên đường miệng ở trẻ
không bú sữa mẹ so với trẻ bú sữa mẹ thì cao
hơn 106 lần vì protein sữa bò còn nguyên vẹn
trong sữa công thức dựa trên sữa bò thông
thường Vì vậy, mục tiêu là giảm tính kháng
nguyên của protein trong công thức và có thể
đưa đến sự dung nạp bằng đường miệng
Nhưng giảm nhiều hay ít thế nào thì tốt nhất?
Tùy thuộc vào mức độ thủy phân, chúng tôi có
những công thức thủy phân một phần (pHF,
partially hydrolyzed) và thủy phân toàn phần
(tích cực) (eHF, extensively hydrolyzed) (Biểu đồ
1)
?
CMF pHF-W eHF-W eHF-C
1,20 1,00 0,80 0,60 0,40
IT T (N=2252) mIT T (N=1615) PP (N=988) sinh ra đầu tiên tiếp theo năm thứ ba
25 20 15 10 5 0
0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Tuổi (năm)
45 35 25 20 15 10 9 7 0
CMF eHF-W pHF-W eHF-C
CMF eHF-W pHF-W eHF-C
Tác giả
Vai trò của protein thủy phân
trong dinh dưỡng trẻ em
Andrea Von Berg,
Viện Nghiên Cứu
Phòng ngừa dị ứng
và Bệnh hô hấp,
Khoa Nhi,
Bệnh viện Marien, Wesel
Tổng cộng có 2.252 trẻ em có nguy cơ cao được
tuyển chọn cho nghiên cứu GINI ngẫu nhiên
tiến cứu (nghiên cứu can thiệp dinh dưỡng ở trẻ
em Đức), đây là nghiên cứu mù đôi cho đến khi
ba tuổi Can thiệp với ba công thức thủy phân
khác nhau so với công thức sữa bò thông
thường: đạm Whey thủy phân một phần - pHF-
whey (pHF-W-Nestlé Beba HA), eHF-whey
(eHF-W-HIPP-HA / Nutrilon Pepti) và eHF-casein
(eHF-C- Mead – Johnson Nutramigen) Đề
cương bao gồm những khuyến nghị nuôi ăn
cho ít nhất bốn tháng bú sữa mẹ và / hoặc chỉ với
công thức nghiên cứu ngẫu nhiên, và các cuộc
viếng thăm thường xuyên đến các trung tâm
nghiên cứu để khám lâm sàng và lấy mẫu máu
cho đến khi ba tuổi Các công thức đã được chia
đều giữa bốn nhóm nghiên cứu, và một số
lượng tương đương của trẻ em trong mỗi nhóm
Kết quả sau ba năm cho thấy hiệu quả phát triển trong năm đầu tiên và tỷ lệ trở nên tương tự như nhau trong bốn nhóm nghiên cứu sau năm đầu tiên Hai công thức: pHF-W và eHF-C, đã phát triển một hiệu quả đáng kể trong năm đầu tiên (Biểu đồ 2) Những kết quả này thì không thực sự mới: chúng xác nhận cho những nghiên cứu trước đó Tuy nhiên, thật đáng ngạc nhiên để thấy rằng công thức eHF-W không có tác dụng
Bởi vì công thức pHF-W và eHF-C có hiệu quả, nhưng không phải là eHF-W, có nghĩa là hiệu quả không phụ thuộc vào mức độ thủy phân cũng không vào đạm whey hay casein Chúng tôi cũng thấy không có ảnh hưởng lên bệnh hen suyễn Khi chúng tôi nhìn vào sự nhạy cảm của trứng gà, sữa bò và tác nhân dị ứng trong không khí vào lúc ba tuổi, ảnh hưởng duy nhất là giảm đáng kể với tác nhân dị ứng sữa bò với đạm Whey thủy phân một phần pHF-W Điều này có thể được giải thích như gây ra sự dung nạp bằng đường miệng
được bú sữa mẹ hoàn tòan, (tất cả 900 trẻ em trong bốn tháng và 640 cho sáu tháng)
Để trả lời những câu hỏi liên quan đến hiệu quả lâu dài của các công thức, chúng tôi đã theo các trẻ sáu và mười tuổi
Vào sáu tuổi, không có tác dụng lên bệnh hen suyễn và các triệu chứng của bệnh hen suyễn, tức là thở khò khè Vào mười tuổi, có sự gia tăng nhẹ nhưng không đáng kể ở bệnh suyễn trong
phân tích ITT Nhưng chúng ta biết rằng ở độ tuổi đi học, hen suyễn có thể cao hơn ở trẻ em
bú sữa mẹ trước đây Trong phân tích mITT - với những trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn - chúng tôi đã
có những kết quả giống với phân tích PP
Biểu đồ 5 cho thấy các loại bệnh chàm khác nhau vào lúc sáu tuổi: bệnh chàm được bác sĩ chẩn đoán khởi đầu dai dẵng, sớm và muộn
Bệnh chàm dai dẳng giảm đáng kể trong các công thức đạm Whey thủy phân một phần -pHF-W và eHF-C so với công thức sữa của bò thông thường Chúng ta biết rằng bệnh chàm dai dẳng ở năm hoặc sáu tuổi là bệnh chàm nặng nhất và chủ yếu liên quan đến dị ứng
Nhìn vào mức độ nghiêm trọng của bệnh chàm, chúng tôi phân biệt theo SCORAD với các mức nhẹ, vừa và nặng Các công thức
pHF-W và eHF-C có bệnh chàm nặng ít một cách đáng kể (gần một nửa) so với công thức sữa bò
Phân biệt trong bệnh chàm có và không có dị ứng, kết quả thì tương tự
Không có sự khác nhau trong phát triển BMI theo nhóm công thức vào sáu tuổi so với trẻ bú sữa mẹ Chúng tôi kết luận rằng nuôi trẻ nhỏ bằng các công thức thủy phân thì thì an toàn tuyệt đối đối với sự phát triển của BMI Câu hỏi khác là số lượng cần điều trị (NNT) NNT tại ba, sáu và mười tuổi thì rất tốt Lúc mười tuổi, nó là
7 trong nhóm eHF-C, 11 trong nhóm đạm Whey thủy phân một phần pHF-W và 12 trong nhóm
manifestation - AM: AD, mề đay, dị ứng thức
ăn, hen suyễn, sốt mùa hè / viêm mũi dị ứng])
Chúng tôi đã phân tích hiệu quả chi phí của công thức thủy phân trẻ em để ngăn ngừa viêm
da dị ứng ở trẻ em Dựa trên dữ liệu từ nghiên cứu GINI lên đến sáu tuổi, chúng tôi đã xem xét các chi phí cho bảo hiểm và các chi phí xã hội Trong năm đầu tiên, các công thức eHF-C và đạm Whey thủy phân một phần pHF-W thì có hiệu quả về chi phí ; lúc 6 tuổi, cả hai công thức thậm chí còn tiết kiệm chi phí, với một hiệu quả tốt hơn cho công thức đạm Whey thủy phân một phần pHF-W
Chúng tôi đã thực hiện ba phân tích khác nhau cho phân tích mười năm:
Phân tích theo quy trình PP cho tỷ lệ mắc phải tích lũy của chẩn đoán bác sĩ về bệnh chàm dị ứng cho thấy một sự giảm đáng kể ở ba đến sáu tuổi Hiệu quả trong các nhóm công thức tồn tại gần như giống nhau lúc mười tuổi Ảnh hưởng yếu nhất là trong phân tích theo phân
bố ngẫu nhiên ban đầu ITT: sở dĩ như vậy là bởi
vì nó bao gồm tất cả các trẻ bỏ giữa chừng, không tuân thủ và bú sữa mẹ hoàn toàn Khi chúng tôi loại trừ những trẻ bú sữa mẹ trong phân tích ITT điều chỉnh (mITT), kết quả đã khá gần với phân tích theo quy trình PP Điều này có nghĩa rằng cho con bú sữa mẹ rõ ràng là góp phần tác động ít hơn trong dân số ITT
(Biểu đồ 4).
cho đến khi mười tuổi Nó cho thấy rõ ràng rằng sự gia tăng trong các công thức nghiên cứu thì gần như song song sau một tuổi Điều này có nghĩa là không có hiệu quả phản hồi,
mà tôi xem đây là một phát hiện rất quan trọng
Trẻ em được theo dõi bởi bảng câu hỏi ISAAC sửa đổi vào lúc một, hai, ba, bốn, sáu đến mười tuổi và bởi sự thăm khám thực thể đều đặn Kết quả là các bệnh dị ứng được bác sĩ chẩn đoán và phụ huynh báo cáo (viêm da dị ứng [atopic dermatitis AD] và biểu hiện dị ứng [allergic
Nghiên cứu GINI
Hiệu quả dài hạn
Có ảnh hưởng lâu dài không ?
Về bệnh chàm: tỷ lệ tích lũy,
tỷ lệ mắc, hiện tượng phục hồi ?
Về dị ứng đường hô hấp - bệnh hen suyễn và viêm mũi dị ứng ?
Về sự nhạy cảm ?
Về sự tăng trưởng ?
Có ý định điều trị: Tất cả trẻ em chủ yếu
là ngẫu nhiên (n = 2.252)
Điều chỉnh ý định điều trị: Tất cả trẻ em loại trừ những trẻ không nhận bất kỳ công thức nghiên cứu nào trong sáu tháng đầu tiên của cuộc sống bởi vì chúng đã được
bú sữa mẹ hoàn toàn (n = 1.615)
Theo đề cương (theo quy trình): Tất cả các trẻ được nuôi với công thức nghiên cứu (hoàn toàn hoặc một phần) trong bốn tháng đầu năm, những trẻ này phù hợp với đề cương nghiên cứu (n = 988)
Hen suyễn và viêm mũi dị ứng
Khởi đầu, thời hạn và mức độ
Kết luận
Công thức sữa bò với protein thủy phân cho trẻ nhũ nhi thì có hiệu quả trong phòng ngừa lâu dài bệnh chàm, nhưng không hiệu quả với bệnh hen suyễn hoặc viêm mũi dị ứng, cũng không nhạy cảm
ở trẻ em có nguy cơ cao.
Sự khác biệt về độ lớn của hiệu quả dường như không (duy nhất) phụ thuộc vào mức độ thủy phân hoặc vào nguồn protein, mà là về quá trình thủy phân của chính nó.
Về sử dụng lâm sàng, chỉ có những công thức có hiệu quả được báo cáo bằng văn bản thì nên được sử dụng.
Điều tác động lên các thành phần khác của công thức (như thành phần lipid hoặc probiotic hoặc thay đổi nồng độ protein) có trên hiệu quả quan sát được thì không được biết.
Phòng ngừa bằng chế độ ăn uống qua đường miệng với công thức thủy phân thì giới hạn đối với bệnh chàm trong nghiên cứu GINI Các cách tiếp cận khác thì cần thiết cho sự phòng ngừa các bệnh dị ứng đường hô hấp.
Thủy phân một phần pHF
Kháng nguyêngiảm
Đưa đến dung nạp
Thủy phân toàn phần eHF
Hầu như không có kháng nguyên
Không có phản ứng
Phòng ngừa nhạy cảm
và bệnh dị ứng
Tỉ lệ mắc tích lũy của bệnh chàm dị ứng đến 3 tuổi
Tỉ lệ mắc tích lũy được điều chỉnh của bệnh chàm
dị ứng được chẩn đoán bởi bác sĩ cho đến 10 tuổi
Nguy cơ tương đối của tỉ lệ mắc tích lũy viêm da
dị ứng AD từ lúc sinh đến 10 tuổi
duy trì eczema đến khi 5 hoặc 6 tuổi duy trì eczema đến khi 3 hoặc 4 tuổi eczema liên tục eczema sau khởi phát bệnh chàm
% 40 30 20 10 0 CMF pHF-W eHF-W eHC-C Không tuân thủ
Can thiệp Có
Tiền sử gia đình tích cực
eHF-W Ảnh hưởng thậm chí còn mạnh mẽ hơn trong những năm trước đó
Hiệu quả chi phí
Biểu đồ 5
Bệnh chàm được bác sĩ chẩn đoán khởi phát sớm, muộn, kéo dài ở trẻ nuôi bằng sữa công thức