Tuy nhiên, tổng kết về các chương trình/dự án thu hồi đất và TĐC ở vùng DTTS và miền núi trong những năm qua đã chỉ ra nhiều bất cập như: còn thiếu sự tham gia của người dân trong nhiều
Trang 1ỦY BAN DÂN TỘC Chương trình Khoa học và Công nghệ cấp quốc gia giai đoạn 2016-2020
“Những vấn đề cơ bản và cấp bách về dân tộc thiểu số và chính sách dân tộc ở
Việt Nam đến năm 2030”, mã số CTDT/16-20
-
BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Tên Đề tài NHỮNG VẤN ĐỀ CẤP BÁCH TRONG THỰC HIỆN TÁI ĐỊNH CƯ
Ở VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI NƯỚC TA HIỆN NAY
Mã số: CTDT.47.18/16-20 -
Chủ nhiệm Đề tài: TS Nguyễn Lâm Thành
Tổ chức chủ trì đề tài: Trung tâm Thông tin Phát triển Nông nghiệp Nông thôn
Hà Nội, năm 2020
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT xi
GIỚI THIỆU 1
1 BỐI CẢNH VÀ TÍNH CẤP THIẾT 1
2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 4
2.1 Đối tượng nghiên cứu 4
2.2 Phạm vi nghiên cứu 4
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 5
3.1 Mục tiêu chung 5
3.2 Mục tiêu cụ thể 5
4 NỘI DUNG VÀ KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI 6
5 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 12
5.1 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến chính sách TĐC ở vùng DTTS và miền núi 12
5.1.1 Về các hình thức thực hiện TĐC: 12
5.1.2 Về những vấn đề trong thực hiện chính sách TĐC ở vùng DTTS và miền núi: 15
5.1.3 Nghiên cứu đề xuất những giải pháp, chính sách hoàn thiện chính sách TĐC: 27
5.2 Các phương pháp đánh giá hiệu quả, tác động của các chính sách TĐC 35
CHƯƠNG 1 40
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH TÁI ĐỊNH CƯ Ở VÙNG DTTS VÀ MIỀN NÚI 40
I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TĐC Ở VÙNG DTTS VÀ MIỀN NÚI 40
1.1 Khái niệm về vùng dân tộc thiểu số và miền núi 40
1.2 Khái niệm liên quan đến TĐC ở vùng DTTS và miền núi 43
1.3 Khái niệm về chính sách tái định cư ở vùng DTTS và miền núi 47
Trang 41.4 Khái niệm về vấn đề cấp bách trong TĐC vùng DTTS và miền núi 57
II ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ, TÁC ĐỘNG CỦA THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TĐC 60
2.1 Khái niệm và vai trò của đánh giá tác động chính sách 60
2.2 Phân loại các chính sách cần đánh giá tác động 61
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng, tác động trong đánh giá chính sách TĐC 63
2.4 Chỉ tiêu đánh giá chính sách TĐC ở vùng DTTS và miền núi 67
2.5 Lựa chọn phương pháp đánh giá tác động của chính sách TĐC 71
III KHUNG PHÂN TÍCH VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ 74
3.1 Các tiếp cận và khung phân tích 74
3.2 Nhóm chỉ tiêu đánh giá 79
3.3 Phương pháp nghiên cứu 81
3.3.1 Thu thập thông tin 81
3.3.2 Chọn mẫu nghiên cứu 82
3.3.3 Phân tích thông tin 88
IV KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẤP BÁCH CHÍNH SÁCH TĐC Ở VÙNG DTTS VÀ MIỀN NÚI 94
4.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc trong xử lý những vấn đề cấp bách trong TĐC thủy điện 94
4.2 Kinh nghiệm của Ấn Độ trong xử lý những vấn đề cấp bách trong TĐC thủy điện 97
4.3 Kinh nghiệm của Brazil trong xử lý những vấn đề cấp bách trong TĐC thủy điện 100
4.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 104
CHƯƠNG 2 106
CHÍNH SÁCH LIÊN QUAN ĐẾN TÁI ĐỊNH CƯ Ở VÙNG DTTS VÀ MIỀN NÚI TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY 106
I CÁC CHIẾN LƯỢC, QUY HOẠCH, ĐỀ ÁN CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC 106
II CÁC CHÍNH SÁCH CỤ THỂ VỀ TÁI ĐỊNH CƯ 109
Trang 52.1 Giai đoạn 1986 - 1993 109
2.2 Giai đoạn 1993 - 2003 112
2.3 Giai đoạn 2003 – 2013 115
2.4 Giai đoạn 2013 – nay 120
III PHÂN TÍCH HẠN CHẾ, BẤT CẬP CỦA CÁC CHÍNH SÁCH TĐC 127
3.1 Chính sách quy định về công bố thông tin, thu hồi bồi thường, định giá tài sản, đối với các hộ thuộc diện TĐC 127
3.1.1 Chính sách quy định về thông báo/ công bố thông tin 127
3.1.2 Chính sách quy định về thu hồi bồi thường 128
3.1.3 Chính sách quy định về định giá đất thu hồi 130
3.2 Chính sách về xây dựng dự án và thực hiện công tác tái định cư 132
3.3 Chính sách hỗ trợ người dân ổn định cuộc sống sau khi tái định cư 133
CHƯƠNG 3 137
KẾT QUẢ, HIỆU QUẢ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TĐC Ở VÙNG DTTS VÀ MIỀN NÚI 137
I TÌNH HÌNH KINH TẾ, XÃ HỘI VÙNG DTTS VÀ MIỀN NÚI 137
II TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI TẠI CÁC KHU TÁI ĐỊNH CƯ VÙNG DTTS VÀ MIỀN NÚI 139
2.1 Thực trạng kinh tế tại các khu TĐC vùng DTTS và MN 139
2.2 Thực trạng xã hội tại các khu TĐC vùng DTTS và MN 144
2.3 Thực trạng môi trường sống tại các khu TĐC vùng DTTS và MN 151
III KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TĐC 153
3.1 Thực trạng thực hiện các dự án, chương trình TĐC ở vùng DTTS và miền núi 153
3.1.1 Kết quả đạt được của các dự án, chương trình TĐC trên địa bàn cả nước 153
3.1.2 Kết quả thực hiện TĐC của các dự án tại các tỉnh vùng nghiên cứu 162
3.2 Kết quả thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường của chính sách TĐC 165
3.2.1 Mục tiêu kinh tế 165
Trang 63.2.2 Mục tiêu văn hóa, xã hội 174
3.2.3 Mục tiêu môi trường sống 181
3.2.4 Đánh giá nguyên nhân hạn chế trong thực hiện các mục tiêu chính sách 183
IV HIỆU QUẢ, TÁC ĐỘNG VÀ TÍNH BỀN VỮNG CỦA CHÍNH SÁCH TĐC 184
4.1 Hiệu quả của việc thực hiện chính sách tái định cư 184
4.1.1 Hiệu quả kinh tế 184
4.1.2 Hiệu quả về mặt văn hóa, xã hội 188
4.1.3 Hiệu quả môi trường 193
4.2 Đánh giá tác động và tính bền vững của việc thực hiện chính sách TĐC 194
4.2.1 Tác động và tính bền vững về kinh tế 194
4.2.2 Tác động và tính bền vững về văn hóa, xã hội 209
4.2.3 Tác động và tính bền vững về môi trường 217
V NHẬN DIỆN NHỮNG VẤN ĐỀ CẤP BÁCH TRONG CHÍNH SÁCH TĐC Ở VÙNG DTTS VÀ MIỀN NÚI 221
5.1 Kết quả mô hình kinh tế lượng về các yếu tố tác động tới những vấn đề cấp bách 221
5.1.1 Những yếu tố ảnh hưởng tới “cấp bách” về kinh tế 222
5.1.2 Những yếu tố ảnh hưởng tới “cấp bách” về xã hội 225
5.1.3 Những yếu tố ảnh hưởng tới “cấp bách” về môi trường 228
5.2 Nhận diện những vấn đề cấp bách 232
5.2.1 Mâu thuẫn xã hội do thay đổi chính sách và mức đền bù TĐC 232
5.2.2 Người dân chưa có vai trò trong quá trình thu hồi đất 233
5.2.3 Tỷ lệ nghèo đa chiều tăng và khả năng tái nghèo tại các khu, điểm TĐC cao 233
5.2.4 Thiếu đất sản xuất và khó tiếp cận các nguồn lực tại nơi TĐC 235
5.2.5 Khó khăn trong chuyển đổi nghề nghiệp, phát triển sinh kế của các hộ sau tái định cư 237
5.2.6 Chưa ổn định được nơi ở cho người dân các khu TĐC 238
Trang 75.2.7 Các công trình công cộng tại các khu TĐC xuống cấp và không đáp ứng
được nhu cầu sử dụng của người dân 239
5.2.8 Khó khăn trong hòa hợp dân tộc và bảo tồn bản sắc văn hóa của cộng đồng DTTS sau quá trình TĐC 241
5.2.9 Ô nhiễm môi trường sống tại các khu tái định cư 242
CHƯƠNG 4 243
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TĐC VÙNG DTTS VÀ MN 243
I DỰ BÁO XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NHỮNG VẤN ĐỀ CẤP BÁCH TRONG THỰC HIỆN TĐC 243
1.1 Về quan điểm, định hướng, chính sách, quy hoạch, kế hoạch của quốc gia liên quan đến vùng DTTS và TĐC 243
1.2 Về nhu cầu đất cho các dự án phát triển ở các vùng DTTS và miền núi đến năm 2030 246
II QUAN ĐIỂM VỀ TĐC Ở VÙNG DTTS VÀ MIỀN NÚI 248
III GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KHUNG CHÍNH SÁCH VỀ TĐC Ở VÙNG DTTS VÀ MIỀN NÚI ĐẾN NĂM 2030 250
3.1 Giải pháp hoàn thiện khâu lập quy hoạch, kế hoạch TĐC 250
3.2 Giải pháp phát triển bền vững cơ sở hạ tầng khu tái định cư 251
3.2.1 Quy định về tiêu chí cơ sở hạ tầng tái định cư 251
3.2.2 Nâng cấp, sửa chữa về cơ sở hạ tầng và dịch vụ công 252
3.2.3 Quy định về nhà ở của người TĐC 252
3.3 Giải pháp tăng cường sự tham gia của người dân và các bên liên quan 253
3.3.1 Tăng cường vai trò của người dân TĐC 253
3.3.2 Tăng cường vai trò của cộng đồng và các tổ chức xã hội 254
3.3.2 Tăng cường vai trò của phụ nữ 255
3.4 Chính sách bồi thường thường/đền bù 256
3.5 Chính sách hỗ trợ khôi phục sản xuất và phát triển kinh tế 258
3.5.1 Các chính sách hỗ trợ 258
3.5.2 Chính sách tín dụng cho người dân TĐC 260
3.5.3 Đổi mới trong công tác đào tạo nghề, chuyển đổi nghề nghiệp 261
Trang 83.6 Xây dựng quỹ hỗ trợ người dân hậu TĐC 262
3.7 Đề xuất hoàn thiện, sửa đổi một số chính sách tạo điều kiện đáp ứng các tiêu chí giảm nghèo đa chiều cho người TĐC 263
3.8 Bảo tồn duy trì văn hóa cộng đồng và hỗ trợ hội nhập cộng đồng vùng TĐC 264
3.9 Giải pháp hoàn thiện chính sách bảo vệ môi trường sống khu TĐC 265
VI KIẾN NGHỊ 266
KẾT LUẬN 268
HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI 272
TÀI LIỆU THAM KHẢO 273
PHỤ LỤC 287
Ma trận tổng hợp các tồn tại, hạn chế của chính sách tái định cư 287
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Các công trình thủy điện được lựa chọn 83
Bảng 2: Số lượng mẫu phân theo nhóm 84
Bảng 3: Phân bổ mẫu PV hộ theo nhóm đối tượng 86
Bảng 4: Tỷ lệ nghèo của các hộ vùng DTTS năm 2015 145
Bảng 5: Hiện trạng nhà ở của người DTTS vùng tái định cư 147
Bảng 6: Loại nhiên liệu (năng lượng) chính mà hộ sử dụng thắp sáng 148
Bảng 7: Loại nhiên liệu (năng lượng) chính mà hộ sử dụng nấu ăn 148
Bảng 8: Tỷ lệ duy trì nhạc cụ, bài hát, điệu múa truyền thống 151
Bảng 9: Hiện trạng nhà vệ sinh của người dân vùng tái định cư 153
Bảng 10: Tổng hợp số dự án thủy lợi, thủy điện có di dân, tái định cư 154
Bảng 11: Kết quả giao đất tại các khu, điểm TĐC tính đến năm 2018 159
Bảng 12: Số lượng dự án và diện tích đất bị thu hồi từ 1986-nay 162
Bảng 13: Hình thức bồi thường, hỗ trợ thu hồi đất 166
Bảng 14: Hiện trạng tỷ lệ % đất được cấp sổ đỏ 170
Bảng 15: Tỷ lệ hộ được cấp sổ đỏ đối với diện tích đất ở, đất vườn 171
Bảng 16: Các chính sách hỗ trợ của nhà nước được tiếp cận 172
Bảng 17: Tỷ lệ hộ có tiền tiết kiệm 174
Bảng 18: Tỷ lệ các loại nhà sử dụng của người dân TĐC theo tỉnh 180
Bảng 19: Chi tiết thu nhập từ NLTS của các hộ TĐC và đối chứng 187
Bảng 20: So sánh thu nhập và diện tích đất nông nghiệp của các hộ TĐC theo tỉnh 188
Bảng 21: Thực trạng duy tu, bảo dưỡng các công trình CSHT tại khu TĐC 190
Bảng 22: So sánh tỷ lệ nhận xét tốt và rất tốt về trường học, tỷ lệ vay để đầu tư cho học hành của các hộ TĐC 192
Bảng 23: Số lượng mẫu dùng để chạy mô hình PSM 195
Trang 10Bảng 24: Mô tả thống kê của các yếu tố ảnh hưởng đến đời sống hai nhóm hộ 196
Bảng 25: Kết quả ước lượng mô hình hồi quy Binary Logistic 197
Bảng 26: Kết quả đánh giá tác động của Chính sách TĐC đến thu nhập hộ 198
Bảng 27: So sánh chi tiêu cho lương thực hiện tại và 5 năm trước của hộ TĐC 204
Bảng 28: Tỷ lệ hộ TĐC có tài sản phục vụ sản xuất và thu nhập từ NLTS theo địa bàn từng tỉnh 208
Bảng 29: So sánh tần suất họp cộng đồng và thủ tục pháp lý và hành chính 214
Bảng 30: Tỷ lệ đánh giá mâu thuẫn trong cộng đồng tăng so với 5 năm trước 217
Bảng 31: Quy mô mẫu sử dụng trong mô hình kinh tế lượng 222
Bảng 32: Các biến độc lập trong mô hình Logit về cấp bách kinh tế 222
Bảng 33: Kết quả ước lượng mô hình hồi quy Logit về cấp bách kinh tế 224
Bảng 34: Các biến độc lập trong mô hình Logit về cấp bách văn hóa xã hội 225
Bảng 35: Kết quả ước lượng mô hình hồi quy Logit về cấp bách văn hóa xã hội 227 Bảng 36: Mô tả thống kê của các biến độc lập trong mô hình Logit về cấp bách môi trường 228
Bảng 37: Kết quả ước lượng mô hình hồi quy Logit về cấp bách môi trường 231
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1: Quy trình xây dựng dự án luật, pháp lệnh của Quốc hội 55
Hình 2: Quy trình xây dựng chính sách ở cấp dưới luật ở Việt Nam 55
Hình 3: Ảnh hưởng quá trình thực hiện Chính sách TĐC 66
Hình 4: Khung phân tích nghiên cứu những vấn đề cấp bách trong tái định cư tại vùng DTTS và miền núi 78
Hình 5: Tổng diện tích các cây trồng chính tại các khu tái định cư trong cả nước 140
Hình 6: Thu nhập bình quân của người DTTS ở các vùng TĐC 143
Hình 7: Cơ cấu thu nhập của người DTTS tại các vùng có dự án TĐC 143
Hình 8: Hiện trạng sử dụng các thiết bị của hộ DTTS vùng tái định cư 144
Hình 9: Hiện trạng nhà truyền thống của các vùng TĐC 147
Hình 10: Thông tin liên lạc, hộ DTTS ở vùng TĐC có xem truyền hình, nghe đài 149
Hình 11: Khoảng cách tới các cơ sở dịch vụ công, chợ của người DTTS vùng TĐC (bình quân km) 150
Hình 12: Nguồn nước ăn của người dân vùng DTTS tái định cư 152
Hình 13: Phân loại các loại thủy điện theo phân loại của UNIDO tại Việt Nam 155
Hình 14: Lựa chọn hình thức tái định cư của các hộ điều tra 164
Hình 15: Thành phần dân tộc của các hộ điều tra 164
Hình 16: Diện tích đất bị thu hồi bình quân/hộ 165
Hình 17: Tỷ lệ giao đất cho hộ TĐC so với quy hoạch 167
Hình 18: Diện tích đất bình quân của các hộ TĐC và hộ đối chứng 168
Hình 19: Hiện trạng đất ở và vườn bình quân của hộ (m2) 168
Hình 20: Diện tích đất sản xuất trồng trọt bình quân (m2) 170
Hình 21: Cơ quan chịu trách nhiệm thông báo 175
Hình 22: Trách nhiệm của các đơn vị liên quan trong thực hiện thu hồi đất 176
Trang 12Hình 23: Hình thức xử lý khi người dân không đồng ý di dời 177
Hình 24: Tỷ lệ hài lòng với trả lời thắc mắc của cơ quan quản lý 179
Hình 25: Tỷ lệ các chính sách nào vẫn chưa thực hiện xong 183
Hình 26: Nguyên nhân nhiều chính sách chưa thực hiện xong 184
Hình 27: Đánh giá của hộ TĐC về thu nhập so với nơi ở cũ 185
Hình 28: Thu nhập bình quân từ NLTS và phi NLTS của các hộ (triệu đồng/hộ/năm) 186
Hình 29: Đánh giá về hiệu quả của các hạng mục đã đầu tư so với nơi ở cũ 189
Hình 30: Đánh giá về chất lượng dịch vụ công ở mức tốt và rất tốt so với 5 năm trước 191
Hình 31: Tỷ lệ hộ nghèo của các hộ điều tra năm 2018 201
Hình 32: Cơ hội kiếm việc làm thêm tại nơi ở mới so với nơi cũ 202
Hình 33: Tỷ lệ tiết kiệm, vay vốn, đầu tư của hộ sau tái định cư 206
Hình 34: Thời gian từ khi thông báo tới khi thu hồi đất 209
Hình 35: Đánh giá về điều kiện môi trường sống tại khu TĐC so với nơi ở cũ 210
Hình 36: Đánh giá điều kiện dịch vụ công tại khu TĐC so với nơi ở cũ 211
Hình 37: Đánh giá về những khó khăn của hộ gia đình tại các khu TĐC 212
Hình 38: Đánh giá về cảnh quan tự nhiên của khu TĐC so với nơi ở cũ 219
Trang 14GIỚI THIỆU
1 BỐI CẢNH VÀ TÍNH CẤP THIẾT
Vùng DTTS và miền núi là vùng giàu tài nguyên (rừng, sông ngòi, khoáng sản ) có nhiều lợi thế để phát triển các ngành kinh tế như: thủy điện, khoáng sản, lâm nghiệp Trong những năm qua để phát triển kinh tế, chúng ta đã có nhiều chương trình, dự án thu hồi đất để xây dựng các công trình thủy điện, đường giao thông, thủy lợi (hồ đập) làm ảnh hưởng tới đời sống của hàng chục nghìn người sống ở các vùng dự án Các chính sách của Đảng và Nhà nước khi thực hiện thu hồi đất và TĐC luôn đảm bảo nguyên tắc cuộc sống cho người dân có nơi ở mới ít nhất phải bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ
Cụ thể, để đảm bảo nguyên tắc phát triển bền vững trong các chương trình/dự
án thu hồi đất và TĐC ở vùng DTTS và miền núi, Nhà nước đã ban hành một hệ thống các chính sách, quy định về TĐC trong hầu hết các cấp văn bản hiện hành như: Luật xây dựng, Luật đất đai 2013, Nghị định số 43/2014/NĐ- CP về việc quy định chi tiết về thi hành Luật Đất đai số 45/2013/QH13; Nghị định số 44/2014/NĐ-CP về giá đất; Nghị định số 47/2014/NĐ-CP về bồi thường, hỗ trợ, và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất; Thông tư số 37/2014/BTNMT về Hướng dẫn chi tiết về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất; và Thông tư số 36/2014/TT-BTNMT quy định chi tiết phương pháp định giá đất; xây dựng, điều chỉnh bảng giá đất; định giá đất cụ thể và
tư vấn xác định giá đất Ngoài ra, với mỗi một chương trình/dự án đều có những chính sách đặc thù do Chính phủ, các Bộ ngành, UBND các tỉnh, thành phố quy định riêng Đánh giá chung cho thấy, các chính sách của Việt Nam liên quan đến thu hồi đất cơ bản có sự tương thích với chính sách TĐC không tự nguyện của Ngân hàng thế giới
Trang 15Tuy nhiên, tổng kết về các chương trình/dự án thu hồi đất và TĐC ở vùng DTTS và miền núi trong những năm qua đã chỉ ra nhiều bất cập như: còn thiếu sự tham gia của người dân trong nhiều hoạt động, công tác đền bù, bồi thường nhiều nơi chưa công bằng và không hợp lý, hỗ trợ hậu TĐC mang tính ngắn hạn, mức hỗ trợ thấp hơn so với nhu cầu thực tế, các hỗ trợ chuyển đổi nghề hay đa dạng hóa sinh
kế còn hạn chế và ít thành công, nhiều hỗ trợ đã được chủ đầu tư cam kết nhưng không thực hiện ảnh hưởng đến niềm tin của người dân; thiết kế và triển khai chương trình TĐC chưa xem xét đến phong tục, tập quán, văn hóa của các cộng đồng bị ảnh hưởng; CSHT tại khu TĐC chưa được xây dựng hợp lý và nhanh xuống cấp, thiếu đất sản xuất và chất lượng thấp, không tương đồng với đất sản xuất ở nơi ở cũ; tình trạng đói nghèo ngày càng phổ biến và có xu hướng gia tăng; văn hóa và phong tục truyền thống bị biến đổi; nhiều mâu thuẫn và tệ nạn xã hội nảy sinh, v.v (UBDT,
2014)
Những bất cập trên đã gây ra phát triển thiếu bền vững ở nhiều vùng DTTS và miền núi, đi ngược lại với quan điểm về chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, chưa đảm bảo được các tiêu chí trong chiến lược phát triển giai đoạn 2011 - 2020 với mục tiêu tăng trưởng bền vững, có hiệu quả, đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia
Hiện nay các nghiên cứu trong nước và nước ngoài về thực trạng chính sách TĐC ở vùng DTTS và miền núi phần nhiều mới chỉ đề cập đến một mặt, một nội dung của vấn đề mà đề tài nghiên cứu Những vấn đề còn thiếu sót, bất cập trong chính sách chưa được xem xét tổng thể và phân tích toàn diện theo hệ thống, chủ yếu vẫn chỉ tập trung đánh giá theo từng chính sách riêng lẻ Vấn đề về tổ chức thực hiện chính sách và cơ chế phối hợp giữa các chính sách trong thực hiện TĐC vẫn chưa được nghiên cứu; quy trình tổ chức thực hiện được thể hiện trong một số văn bản
Trang 16chính sách và đã bộc lộ nhiều bất cập nhưng thiếu các nghiên cứu đưa ra các bằng chứng khoa học cụ thể Nhiều vấn đề như ngân sách và chính sách dành cho đền bù khi thực hiện thu hồi đất và TĐC; tính bền vững (về kinh tế, xã hội, môi trường) của các chương trình TĐC; chính sách hậu TĐC thể hiện trách nhiệm của nhà nước, chủ đầu tư đối với cộng đồng bị ảnh hưởng, v.v còn chưa được nghiên cứu sâu và đưa
ra được các giải pháp hiệu quả Các đề xuất chính sách và giải pháp của nhiều nghiên cứu chưa được chuyển hóa vào các chính sách, chương trình hành động của chính quyền trung ương và địa phương
Tác động của các chương trình thu hồi đất và TĐC ở vùng DTTS và miền núi
sẽ còn diễn ra lâu dài, ảnh hưởng lớn tới đời sống kinh tế - xã hội – môi trường của các hộ DTTS đã tái định cư cũng như trong các dự án sắp tới Vì vậy, cần thiết phải
có một nghiên cứu tổng thể về hệ thống các chính sách TĐC hiện nay để khắc phục những hạn chế, bất cập trong thực hiện TĐC, hoàn thiện các khoảng trống về chính sách và có cơ sở để sửa đổi hoặc ban hành mới các chính sách đảm bảo cho sự phát triển bền vững của các hộ TĐC Trong bối cảnh Chính phủ đang xây dựng các chương trình và chính sách lớn của quốc gia cho giai đoạn 2021-2030, như Chương trình Nông thôn mới, Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo, Chương trình MTQG phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021 – 2030 rất cần có những góp ý nhằm đổi mới phương thức và cách tiếp cận trong chính sách TĐC để đảm bảo hài hòa lợi ích của quốc gia với lợi ích của cộng đồng, cá nhân người dân TĐC, đặc biệt ở các vùng DTTS và miền núi Để có cơ sở khoa học cho
những góp ý chính sách trên, Đề tài “Những vấn đề cấp bách trong thực hiện tái
định cư ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi nước ta hiện nay” được lựa chọn nhằm
đánh giá lại thực trạng, kết quả, hiệu quả và tác động của các chương trình TĐC ở vùng DTTS và miền núi, từ đó đưa ra các đề xuất sửa đổi, bổ sung chính sách cho các chương trình TĐC ở vùng DTTS và miền núi đảm bảo mang lại cuộc sống ở nơi
ở mới tốt hơn cho những người dân bị tác động
Trang 172 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các chương trình, dự án, chính sách của Đảng và Nhà nước về thực hiện tái định cư cho các công trình thủy điện, thủy lợi ở vùng DTTS và miền núi
2.2 Phạm vi nghiên cứu
a) Phạm vi nội dung
Qua xem xét các nghiên cứu đã thực hiện trên thế giới và ở Việt Nam, hiện có
ba hình thức TĐC phổ biến đó là: (i) TĐC do nhà nước thu hồi đất để xây dựng các công trình phát triển kinh tế xã hội; (ii) TĐC do di cư theo các chương trình của Chính phủ hoặc di cư tự phát; (iii) TĐC do biến đổi khí hậu, thiên tai
Mỗi hình thức TĐC có quy mô ảnh hưởng khác nhau, ở vùng DTTS và miền núi từ năm 1986 đến nay diễn ra cả 3 hình thức TĐC trên Tuy nhiên, TĐC do di cư
và biến đổi khí hậu thường ở quy mô nhỏ và mức độ ảnh hưởng trong phạm vi hẹp, thường áp dụng phương pháp TĐC tại chỗ Trong khi hình thức TĐC do nhà nước thu hồi đất phục vụ phát triển kinh tế xã hội là hình thức tác động lớn nhất tới cộng đồng dân cư (đặc biệt là TĐC do thu hồi đất để xây dựng các công trình thủy điện
và thủy lợi) với quy mô, tầm ảnh hưởng rộng lớn, phải di dời nhiều cộng đồng dân
cư tới những vùng mới làm tác động tới đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường của những cộng đồng này và cộng đồng nơi chuyển đến
Vì vậy, với nguồn lực và thời gian thực hiện có hạn, Đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu TĐC tại vùng DTTS và miền núi do nhà nước thu hồi đất để phục vụ xây dựng các công trình phát triển kinh tế, xã hội, cụ thể gồm: tập trung nghiên cứu các
mô hình TĐC của các công trình thủy điện và thủy lợi
Trang 18b) Phạm vi không gian
Đề tài sẽ thực hiện nghiên cứu chính nội dung các vấn đề tái định cư trên địa bàn cả nước Trên cơ sở kết quả khảo sát tại 10 tỉnh của 4 vùng là (i) Miền núi phía Bắc (Sơn La, Lai Châu, Tuyên Quang); (ii) Duyên hải miền Trung (Quảng Nam, Thanh Hóa, Nghệ An, Bình Thuận); (iii) Đông Nam Bộ (Bình Phước); (iv) Tây Nguyên (Gia Lai, Lâm Đồng) là nơi tập trung nhiều công trình thủy điện, thủy lợi quy mô lớn
c) Phạm vi về thời gian
Đề tài sẽ tiến hành rà soát lại các chính sách TĐC từ năm 1986 đến nay, trên
cơ sở phân tích những thực trạng số liệu về đời sống kinh tế, xã hội, môi trường sống của các khu TĐC ở giai đoạn hiện tại để đưa ra các giải pháp để hoàn thiện chính sách phù hợp cho giai đoạn 2021-2030
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 3.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu những vấn đề cấp bách trong chính sách tái định cư ở vùng dân tộc thiểu số (DTTS) và miền núi nước ta từ năm 1986 đến nay để làm rõ kết quả, hiệu quả, tác động của các chính sách tái định cư từ đó đề xuất quan điểm, giải pháp, góp phần hoàn thiện chính sách tái định cư ở vùng DTTS và miền núi nước ta đến năm 2030
3.2 Mục tiêu cụ thể
1) Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về những vấn đề cấp bách trong thực hiện tái định cư ở vùng DTTS và miền núi; xác định khung lý thuyết nghiên cứu những vấn đề cấp bách trong thực hiện tái định cư ở vùng DTTS và miền núi; kinh
Trang 19nghiệm của một số quốc gia trên thế giới trong thực hiện tái định cư ở vùng DTTS
và miền núi
2) Đánh giá thực trạng đời sống kinh tế, việc làm, thu nhập, kết cấu hạ tầng kỹ thuật, sinh kế, đời sống văn hóa, các vấn đề xã hội, quan hệ dân tộc, môi trường… của người dân sau khi tái định cư ở vùng DTTS&MN
3) Đánh giá kết quả, hiệu quả các cơ chế, chính sách nhằm giải quyết, bảo đảm lợi ích cho người dân sau khi tái định cư (đền bù, duy trì và bảo đảm sinh kế, việc làm, thu nhập; bảo đảm văn hóa, giáo dục, y tế và các dịch vụ xã hội cơ bản khác; đảm bảo môi trường sống…); đánh giá tính bền vững của các mô hình tái định cư ở vùng DTTS&MN
4) Nhận diện những vấn đề cấp bách trong thực hiện tái định cư ở vùng DTTS
và miền núi nước ta hiện nay (Các vấn đề về thực trạng đời sống KT-XH và các vấn
đề chính sách…)
5) Dự báo xu hướng vận động và tác động của những vấn đề cấp bách trong thực hiện tái định cư ở vùng DTTS và miền núi trong thời gian tới
6) Đề xuất những quan điểm, giải pháp, góp phần hoàn thiện chính sách tái định
cư ở vùng DTTS và miền núi nước ta đến năm 2030
4 NỘI DUNG VÀ KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Để hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu được xác định ở trên, Đề tài có tám nội dung lớn được đề cập trong bốn Chương như sau:
Nội dung 1: Xác định khung lý thuyết về những vấn đề cấp bách trong thực hiện tái định cư ở vùng DTTS và miền núi, xác định công cụ đánh giá hiệu quả, tác động của chính sách TĐC ở vùng DTTS và Miền núi
Thông qua nghiên cứu tài liệu thứ cấp, nội dung này làm rõ các vấn đề cơ bản sau đây:
Trang 20- Làm rõ các khái niệm phục vụ nghiên cứu của Đề tài: (1) Khái niệm về vùng DTTS và MN; (2) Khái niệm về vấn đề cấp bách trong chính sách TĐC; (3) Hệ thống hóa các khái niệm về tái định cư, phân loại tái định cư ở vùng DTTS và miền núi; (4) Hiệu quả của chính sách TĐC, tác động của chính sách TĐC
- Làm rõ lý luận về quan điểm, cách tiếp cận trong chính sách tái định cư do thu hồi đất tại vùng DTTS và miền núi
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện các chính sách, chương trình tái định cư do thu hồi đất ở vùng DTTS và miền núi
- Xây dựng khung phân tích, đánh giá hiệu quả, tác động của các chương trình tái định cư do thu hồi đất ở vùng DTTS và miền núi
Nội dung 2: Tổng quan kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới trong thực hiện chính sách tái định cư do thu hồi đất đai ở vùng DTTS và miền núi, và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Tổng quan kinh nghiệm quốc tế sẽ tập trung vào các vấn đề sau: thực trạng thu hồi đất để xây dựng các công trình thủy điện; chính sách tái định cư; hiệu quả và tác động của các chương trình/ dự án tái định cư; giải pháp về chính sách đối với các chương trình/dự án tái định cư; tổng kết bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Nội dung 3: Tổng quan thực trạng đời sống kinh tế, xã hội và môi trường của người dân tại một số chương trình, dự án tái định cư do thu hồi đất ở vùng DTTS và miền núi từ năm 1986 đến nay
Phần này nhấn mạnh vào một số trọng tâm sau đây: các chương trình, dự án tái định cư do thu hồi đất tại vùng DTTS và miền núi từ năm 1986 đến nay, thực trạng kinh tế, xã hội (văn hóa, tín ngưỡng, tổ chức cộng đồng….), môi trường sống của
Trang 21người dân chịu ảnh hưởng từ các chương trình, dự án tái định cư do thu hồi đất ở vùng DTTS và miền núi
Nội dung 4: Hệ thống hoá các chính sách liên quan đến tái định cư do thu hồi đất tại vùng DTTS và miền núi từ năm 1986 đến nay
Dựa trên phân chia giai đoạn và nhóm các loại chính sách, Đề tài hệ thống hóa các loại hình chính sách TĐC đã áp dụng ở từng giai đoạn: (i) giai đoạn 1986-1993; (ii) giai đoạn 1993-2003; (iii) giai đoạn 2003-2013; (iv) giai đoạn 2013 đến nay
- Hệ thống hóa các quan điểm, chủ trương, định hướng của các chính sách liên quan đến tái định cư do thu hồi đất để thực hiện các dự án thủy điện và các công trình khác ở vùng DTTS và miền núi
- Hệ thống hóa các chính sách liên quan đến thu hồi đất và tái định cư đối với các công trình thủy điện và các công trình khác
- Phân tích tính đồng bộ, phù hợp, kịp thời của các chính sách liên quan đến thu hồi đất và tái định cư đối với các công trình thủy điện và các công trình khác; giai đoạn trước tái định cư (quy hoạch, kế hoạch tái định cư, thu hồi đất, v.v.); trong quá trình tái định cư (chính sách bồi thường từ khâu xây dựng chính sách bồi thường đến giám sát thực hiện bồi thường), hỗ trợ di chuyển, ổn định đời sống, xây dựng cơ sở
hạ tầng, v.v.); giai đoạn hậu tái định cư (chính sách chia sẻ trách nhiệm và lợi ích của chủ đầu tư và người dân tái định cư, chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, đào tạo nghề, chuyển đổi nghề, phát triển văn hóa – xã hội, tôn giáo tín ngưỡng, đảm bảo
an ninh quốc phòng, v.v.)
Nội dung 5: Đánh giá kết quả, hiệu quả các cơ chế, chính sách nhằm giải quyết, đảm bảo lợi ích của người dân sau tái định cư do thu hồi đất; và đánh giá tính bền vững của các mô hình tái định cư do thu hồi đất ở vùng DTTS và miền núi từ năm
1986 đến nay
Trang 22Trên cơ sở phương pháp, chỉ tiêu đánh giá kết quả, hiệu quả, tác động của các chính sách TĐC vào vùng DTTS và MN được xây dựng ở Nội dung 1, để thực hiện:
- Đánh giá kết quả của các cơ chế chính sách nhằm đảm bảo lợi ích của người dân sau tái định cư thu hồi đất (thủy điện và các công trình khác) ở vùng DTTS và miền núi: kinh tế (đền bù, duy trì và bảo đảm sinh kế, việc làm, thu nhập); Văn hóa, giáo dục,
y tế và các dịch vụ xã hội cơ bản khác; môi trường
- Đánh giá hiệu quả của các cơ chế, chính sách tái định cư do thu hồi đất (thủy điện và các công trình khác) ở vùng DTTS và miền núi: hiệu quả kinh tế (sản xuất nông nghiệp, an ninh lương thực, sinh kế thay thế, tiếp cận thị trường, …); hiệu quả
xã hội (nhu cầu cơ bản về nhà ở, hành chính, y tế, giáo dục, kết nối và tổ chức cộng đồng, không gian sống, văn hóa truyền thống, phong tục tập quán,…); hiệu quả môi trường (môi trường sống, môi trường sinh thái, tài nguyên rừng, tài nguyên nước)
- Đánh giá tác động và tính bền vững của các chương trình/dự án/chính sách tái định cư do thu hồi đất (thủy điện và các công trình khác) ở vùng DTTS và miền núi: tác động và tính bền vững kinh tế của hộ gia đình và cộng đồng tại khu vực tái định cư (thu nhập, việc làm, sinh kế bền vững…); tác động và tính bền vững về đời sống văn hóa của người dân và cộng đồng (văn hóa, tín ngưỡng, sức khỏe, tiếp cận dịch vụ công, không gian sống, …); tác động và tính bền vững tại môi trường sống của người dân và cộng đồng (môi trường sống, tài nguyên rừng, tài nguyên nước, đa dạng sinh học…)
Nội dung 6: Nhận diện những vấn đề cấp bách trong thực hiện tái định cư do thu hồi đất ở vùng DTTS và miền núi hiện nay (Các vấn đề về thực trạng đời sống KT-XH và các vấn đề chính sách)
Trang 23Dựa trên các phân tích ở Nội dung 3, 4 và 5, nội dung này tập trung vào xác định cụ thể và phân tích các vấn đề cấp bách trong thực hiện Chính sách TĐC ở vùng DTTS và miền núi
- Vấn đề cấp bách trong thực thi chính sách giai đoạn trước tái định cư (chính sách về quy hoạch tái định cư, chính sách thu hồi đất v.v.) đối với một số chương trình, dự án thủy điện và công trình khác
- Vấn đề cấp bách trong thực thi chính sách trong quá trình tái định cư (chính sách bồi thường, về hỗ trợ di chuyển, ổn định đời sống, cơ sở hạ tầng, v.v.) đối với một số chương trình, dự án thủy điện và công trình khác
- Vấn đề cấp bách trong thực thi chính sách trong giai đoạn hậu tái định cư (chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, đào tạo nghề, chuyển đổi nghề, phát triển văn hóa – xã hội, tôn giáo tín ngưỡng, an ninh quốc phòng, v.v.) đối với một số chương trình, dự án thủy điện và công trình khác
Nội dung 7: Dự báo xu hướng vận động và tác động của những vấn đề cấp bách trong thực hiện tái định cư do thu hồi đất ở vùng DTTS và miền núi trong thời gian tới
Nội dung này tập trung vào giải quyết các vấn đề chủ yếu sau đây: Các định hướng chủ trương chính sách, các chương trình, quy hoạch, kế hoạch phát triển thủy điện và các công trình khác ở vùng DTTS và miền núi đến năm 2030; Những ảnh hưởng dự kiến đối với đời sống xã hội của đồng bào DTTS và miền núi trong thời gian tới; Các định hướng phát triển kinh tế - xã hội của vùng đồng bào DTTS và miền núi đến năm 2030; Những ảnh hưởng dự kiến của các chủ trương, định hướng phát triển của nhà nước đối với đời sống xã hội của đồng bào DTTS và miền núi trong thời gian tới; Dự báo về xu hướng, quy mô tái định cư tại khu vực người DTTS
và miền núi trong thời gian tới thông qua dự báo nhu cầu thực hiện các dự án phát
Trang 24triển kinh tế xã hội tại vùng DTTS và miền núi; Dự báo những vấn đề đặt ra trong công tác tái định cư cho người dân vùng DTTS và miền núi (các vấn đề về đất ở và đất sản xuất, xóa đói giảm nghèo, giải quyết các mâu thuẫn, xung đột trong quá trình thực hiện TĐC) trong thời gian tới
Nội dung 8: Đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện chính sách tái định cư do thu hồi đất ở vùng DTTS và miền núi đến năm 2030
Dựa trên tổng hợp phân tích từ các Nội dung (1) đến Nội dung (7), Đề tài sẽ đưa ra các kết luận đánh giá về hiệu quả và tác động của chính sách TĐC ở vùng DTTS và Miền núi từ năm 1986 đến nay, rút ra bài học thành công và thất bại trong việc xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện chính sách TĐC Đồng thời, dựa trên phân tích bối cảnh trong nước và quốc tế và việc học tập có chọn lọc kinh nghiệm từ các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, Đề tài sẽ đề xuất các quan điểm, định hướng và giải pháp, chính sách phù hợp về TĐC, góp phần phát triển bền vững vùng DTTS và Miền núi trong thời gian tới
Trên cơ sở của những nội dung này, ngoài phần giới thiệu và kết luận, Đề tài được kết cấu gồm 4 chương
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách TĐC ở vùng DTTS và miền núi Chương này tổng quan khung lý thuyết và thực tiễn, trong đó làm rõ về mặt khái niệm, các đặc tính của chính sách TĐC ở vùng DTTS và Miền núi Từ đó
đề xuất khung phân tích, phương pháp đánh giá và bộ chỉ số dùng để đánh giá kết quả, hiệu quả và tác động của chính sách TĐC ở vùng DTTS và miền núi Chương này cũng đề cập đến kinh nghiệm quốc tế về các chính sách TĐC ở vùng DTTS và miền núi của một số quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil và rút ra các bài học cần thiết cho Việt Nam
Trang 25- Chương 2: Chính sách liên quan đến tái định cư do thu hồi đất tại vùng DTTS
và miền núi từ năm 1986 đến nay Chương này tập trung vào tổng quan các chính sách và đánh giá quá trình thực hiện chính sách TĐC, theo các giai đoạn khác nhau
- Chương 3: Kết quả, hiệu quả và tác động của chính sách TĐC ở vùng DTTS
và miền núi Đây là chương chính của Đề tài, tập trung đánh giá về kết quả, hiệu quả
và tác động của các chính sách TĐC
- Chương 4: Quan điểm, giải pháp cơ chế chính sách phù hợp về TĐC, góp phần phát triển bền vững vùng DTTS và miền núi trong giai đoạn tới Chương này phân tích bối cảnh trong và ngoài nước, vấn đề cấp bách cần giải quyết và đưa ra các quan điểm, giải pháp hoàn thiện chính sách TĐC ở vùng DTTS và miền núi và kiến nghị
tổ chức thực hiện Cũng trong chương này, Đề tài cũng dự báo về xu hướng, quy mô tái định cư tại khu vực người DTTS và miền núi thông qua dự báo nhu cầu thực hiện các dự án phát triển kinh tế xã hội tại vùng DTTS và miền núi trong thời gian tới
5 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 5.1 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến chính sách TĐC ở vùng DTTS và miền núi
Tổng hợp các nguồn tài liệu là các bài báo, các nghiên cứu trong nước và nước ngoài về TĐC, chính sách TĐC và các tác động của thực hiện các chương trình TĐC
đã chỉ ra rất nhiều vấn đề Một số điểm đáng chú ý như sau:
5.1.1 Về các hình thức thực hiện TĐC:
Theo nghĩa rộng, mục tiêu của các dự án phát triển là phải thúc đẩy lợi ích và giảm nhẹ các hậu quả tiêu cực đối với các cộng đồng liên quan và bị ảnh hưởng bởi các dự án đó Về nguyên tắc, khi tiến hành giải tỏa đất cho các dự án, cần phải lựa chọn các phương án sao cho việc thu hồi đất, tái định cư có ảnh hưởng tối thiểu lên
Trang 26đời sống của các hộ dân Việc bồi thường, hỗ trợ tái định cư phải giúp cho người dân
có đời sống tốt hơn trước, các sinh kế phải được ổn định lâu dài
Cơ sở pháp lý cho việc thu hồi đất và tái định cư, được nghiên cứu và đưa ra bởi Ngân hàng Thế giới (Tái định cư không tự nguyện, 2001) thống nhất các nguyên tắc chính trong bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo các điểm chính như sau: (i) công bằng và hài hòa về lợi ích giữa nhà nước, nhà đầu tư và người dân bị ảnh hưởng, (ii) những người bị ảnh hưởng là người có đóng góp cho dự án, vì vậy phải xem tái định cư là một phần của dự án khi xem xét tính khả thi
Trên thế giới, trong những năm qua tỷ lệ dân cư bị di dời liên quan đến các chương trình phát triển ngày càng cao do nhu cầu về cơ sở hạ tầng tăng nhanh và do các dự án (DA) phát triển, đặc biệt ở các nước đang phát triển Các chương trình tái định cư (TĐC) bắt buộc phải di dời toàn bộ dân cư đến khu vực TĐC mới, làm phá hủy cấu trúc xã hội và công việc của những quần thể dân cư Các DA lớn thông thường ảnh hưởng sâu sắc đến người dân do mất đất sản xuất nông nghiệp, nhà cửa, vườn và các sinh kế khác Chính vì thế, trong những năm qua đã có rất nhiều các nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới về các chính sách TĐC điển hình như hình thức tái định cư “tự nguyện” hay “bắt buộc” (Afolayan and Adelekan, Vai trò của biến đổi khí hậu về di cư và sức khỏe con người tại châu Phi, 1998) dựa trên sự lựa chọn mà người di cư có được Ví dụ như việc di cư do nạn đói thì thường được coi là do bị “bắt buộc” di cư hơn là “tự nguyện”, trong khi di cư đến các nước phát triển để có thuận lợi hơn về tài chính thì được coi là di cư tự nguyện
Nghiên cứu của Michael Cernea về rủi ro và các mô hình tái định cư cho cộng đồng phải di dời, 1997 đã chỉ ra di cư bắt buộc và tái định cư gây ra bởi các chương trình phát triển đã, đang xảy ra ngày càng nhiều trên thế giới và do đó hình thành nên nhu cầu về một giải pháp mang tính chính sách chung nhằm giải quyết tình trạng này Trong sổ tay chuẩn bị kế hoạch tái định cư của Ngân hàng Thế giới, 2002 đã
Trang 27tổng kết ra có 4 hình thức TĐC bắt buộc chính, bao gồm: TĐC nông thôn (Rural resettlement), TĐC thành thị (Urban resettlement), TĐC tuyến tính (Linear resettlement) và TĐC khu vực cụ thể (site specific resettlement) Mỗi hình thức TĐC
có những vấn đề khác nhau Đồng thời, Ngân hàng thế giới cũng đưa ra một khung chính sách chung đối với TĐC gọi chung là OP 4.12 của trong tài liệu này quy định rất cụ thể về các chính sách an toàn để giải quyết và giảm thiểu các nguy cơ ảnh hưởng đến kinh tế, xã hội và môi trường do TĐC không tự nguyện gây ra
Mục tiêu của chính sách TĐC bắt buộc của Ngân hàng thế giới (2002) bao gồm: (i) TĐC không tự nguyện cần được tránh hoặc được giảm đến mức tối thiểu, bằng cách đưa ra nhiều phương án có thể lựa chọn trong quá trình thiết kế thay thế
kỹ thuật và lựa chọn vị trí, ở đó mặc dù không tránh được thu hồi đất, nhưng có thể giảm thiểu tác động; (ii) trong trường hợp TĐC không tự nguyện là không thể tránh khỏi, các chương trình TĐC cần được thực hiện như những chương trình phát triển bền vững, xem xét các lợi ích của dự án đối với những người dân bị ảnh hưởng bằng cách chia sẻ lợi ích của dự án; (iii) Những người bị di dời phải được tham vấn rõ ràng và được tham gia vào các chương trình lập kế hoạch và thực hiện dự án (iv) Những người bị ảnh hưởng cần được hỗ trợ để bảo đảm điều kiện sống và mức sống của mình ít nhất tương đương hoặc tốt hơn trước khi bắt đầu thực hiện dự án (v) Người bị ảnh hưởng của dự án cần được hỗ trợ trong nỗ lực của họ để cải thiện sinh
kế và mức sống hoặc ít nhất là khôi phục lại được ít nhất tương đương với mức sống trước khi di chuyển hoặc với mức sống trước khi bắt đầu thực hiện dự án
Sổ tay chuẩn bị kế hoạch tái định cư của Ngân hàng Thế giới [2003] đều đã tổng kết ra một số mô hình tái định cư: theo khu vực địa lý có 4 hình thức TĐC bắt buộc chính, bao gồm: TĐC nông thôn (Rural resettlement), TĐC thành thị (Urban resettlement), TĐC theo tuyến (Linear resettlement) và TĐC theo khu vực cụ thể (site specific resettlement)
Trang 28Trong các nghiên cứu, Phạm Sỹ Liêm [2015] về “cần đổi mới chính sách tái
định cư”; Lã Văn Lý [2009] về “Chính sách di dân, tái định cư phục vụ các công trình quốc gia ở vùng dân tộc và miền núi - những vấn đề cấp bách đặt ra cần giải quyết” đã tổng kết những mô hình tái định cư tại Việt Nam chia thành các nhóm: (i)
Nếu xét theo nguyện vọng của người dân thì có 3 hình thức TĐC là: TĐC tự giác, TĐC tự phát, TĐC cưỡng bức; (ii) Xét về tính chất thì TĐC có 2 hình thức: (1) TĐC bắt buộc, thực hiện các dự án có mục đích chung, vì lợi ích cho nhà nước (2) TĐC
tự nguyện
5.1.2 Về những vấn đề trong thực hiện chính sách TĐC ở vùng DTTS và miền núi:
- Nghiên cứu những vấn đề khó khăn ảnh hưởng đến kinh tế của hộ TĐC:
Các nghiên cứu của Nguyễn Lâm Thành và các cộng sự [2004] về “chính sách bồi
thường, TĐC cho đồng bào dân tộc thiểu số của các công trình thủy điện ở miền Trung và Tây Nguyên” đã chỉ ra một số hạn chế như: (i) Chưa đáp ứng về nhu cầu đất ở, nhà ở và cơ sở hạ tầng; (ii) Chưa đáp ứng về nhu cầu đất sản xuất; (iii) Chưa
đáp ứng về sinh kế và việc làm Đặng Nguyên Anh [2007], về “chính sách Di dân
Tái định cư các công trình thủy điện ở Việt Nam từ góc độ nghiên cứu xã hội”; Lã
Văn Lý [2009] về “Chính sách di dân, tái định cư phục vụ các công trình quốc gia
ở vùng dân tộc và miền núi - những vấn đề cấp bách đặt ra cần giải quyết” đã chỉ ra
cơ cấu vốn đầu tư hỗ trợ phát triển sản xuất để ổn định đời sống cho người dân TĐC chưa hợp lý Các dự án TĐC tập trung nguồn lực vốn đầu tư vào kết cấu hạ tầng là chủ yếu, phần đầu tư hỗ trợ sản xuất phục hồi thu nhập chưa được quan tâm đúng mức Mặt khác, việc khôi phục lại đời sống của những hộ bị ảnh hưởng đòi hỏi thời gian lâu dài Tuy nhiên, các chính sách hỗ trợ lâu dài để khôi phục thu nhập và đời sống chưa được đề cập và chưa có nguồn tài chính đảm bảo trong nhiều năm
Nguyễn Thị Hoàng Hoa [2009] về “Thực trạng và giải pháp di dân tái định cư từ
Trang 29các công trình phát triển tài nguyên nước” cho biết TĐC tạo ra không ít thách thức,
đặc biệt với những địa bàn sản xuất mới, cách biệt với khu dân cư do khoảng cách tăng lên, người dân mất nhiều thời gian đi lại hơn để đến được ruộng của mình hoặc bãi đánh bắt thủy sản Nhiều khu TĐC được quy hoạch chưa đảm bảo đủ đất sản xuất cho người dân, hoặc có đủ đất nhưng không sản xuất được Nguyễn Văn Quân
và các cộng sự [2011] về “công tác tái định cư dự án thủy điện Sơn La dưới góc độ
phong tục tập quán canh tác của đồng bào dân tộc vùng Tây Bắc”; UNDP [2014]
báo cáo về “Di cư, tái định cư và biến đổi khí hậu tại Việt Nam”; Lâm Thị Thu Sửu
và các cộng sự [2015] về “quá trình phê duyệt và thực thi các dự án thủy điện ở lưu
vực sông Vu Gia - Thu Bồn, tỉnh Quang Nam và sông Long Đại, tỉnh Quảng Bình”;
Lê Thị Nguyện và các cộng sự [2015] về “những tác động từ Công trình Thủy điện
- Thủy lợi Thừa Thiên Huế đến cuộc sống của cộng đồng cư dân ở các khu tái định cư”; Lê Anh Tuấn [2015] về “sông ngòi miền Trung - Tây Nguyên và quy hoạch thủy điện” mặc dù ở các giai đoạn khác nhau nhưng các nghiên cứu đều chỉ ra các hạn
chế về thiếu đất canh tác cho các hộ dân ở các khu TĐC, đất trồng trọt được giao không đủ diện tích ở rất nhiều công trình thủy điện, hoặc giao đất với chất lượng không thể canh tác được Minh chứng rõ hơn từ nghiên cứu của Nguyễn Văn Quân
và các cộng sự [2011] về “công tác tái định cư dự án thủy điện Sơn La dưới góc độ
phong tục tập quán canh tác của đồng bào dân tộc vùng Tây Bắc” tại một số điểm
TĐC của thủy điện Sơn La cho thấy người dân có rất ít đất để sản xuất Điển hình như người dân tại điểm TĐC Huổi Lực chủ yếu là nương rẫy cố định, không có đất nương rẫy luân canh và đất chuyên lúa, người dân điểm TĐC Huổi Lóng tuy không còn đất chuyên lúa song còn có nhiều đất lâm nghiệp đây là điều kiện thuận lợi để
bà con mở rộng diện tích khai hoang thêm nương rẫy và trồng rừng sản xuất Diện tích đất trồng lúa nước rất ít, không đáng kể tại khu TĐC thị xã Mường Lay khiến người dân TĐC đã phải chuyển từ canh tác lúa nước sang canh tác nương rẫy cố định với rất ít diện tích Bình quân diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 0,22 ha/hộ, đất
Trang 30lâm nghiệp là 0,84 ha/hộ rất ít, kết quả là sản lượng lương thực thấp hơn rất nhiều so với trước đây
Ngoài ra, một vấn đề nổi cộm khác về kinh tế cũng được nghiên cứu là giá bồi thường đất bị thu hồi thấp hơn giá thị trường (giá đất do UBND cấp tỉnh quy định thường chỉ bằng 20 - 70% giá đất trên thị trường), chất lượng đất thấp, sinh kế từ rừng bị mất do nơi ở mới không còn rừng để giao cho các hộ dẫn đến hầu hết các hộ gia đình có nguồn thu nhập dựa trên sản xuất nông nghiệp sau khi TĐC thu nhập của
họ giảm đi đáng kể Vấn đề này thể hiện rõ trong các nghiên cứu của Đinh Thu Trang
[2012] “đánh giá ảnh hưởng của tình trạng hai giá đất đến công tác thu hồi đất, giải
phóng mặt bằng”; Phan Trung Hiền [2013] về “Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư nhìn
từ phía người dân có đất bị thu hồi trên địa bàn Cần Thơ” đã chỉ ra giá đất trong bồi
thường hỗ trợ TĐC hiện nay hầu như chỉ được quyết định bởi hệ thống cơ quan hành chính nhà nước Ngoài Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền phê duyệt bảng giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình, không có bất kỳ bên thứ ba có thể can thiệp vào bảng giá của UBND cấp tỉnh ban hành, kể cả Tòa án Tuy nhiên, trên thực
tế thang giá đất do tỉnh tính toán thường thấp hơn khá nhiều so với giá đất thực tế
chuyển nhượng trên thị trường Nguyễn Thị Minh Phượng [2014] về “Chính sách di
dân tái định cư tại các dự án thủy điện trên địa bàn Nghệ An”; Nguyễn Đình Bổng
[2015] “Chính sách đất đai về đất ở tái định cư nông thôn” đã chỉ ra TĐC ở vùng
miền núi được thực hiện khi thu hồi đất cho các dự án hạ tầng cấp quốc gia cũng như cấp địa phương như cầu, đường, cảng, sân bay, đặc biệt là các công trình hồ chứa nước cho thủy lợi, thủy điện; bảo vệ và phát triển rừng; khu công nghiệp; khu dân
cư nông thôn mới, v.v Các bất cập thường xảy ra trong các dự án TĐC ở miền núi gồm: (i) Quy hoạch chi tiết các khu TĐC được lập, thẩm định, phê duyệt rất chậm; công tác điều tra có nhiều sai sót, có nơi tính khả thi không cao (như thiếu nguồn nước, thiếu đất sản xuất); việc tính toán bồi thường thiếu thỏa đáng Điều này thể hiện ở các số liệu chỉ báo quy hoạch chưa cập nhật đầy đủ và chính xác tình hình
Trang 31thực tế của các dự án TĐC dẫn đến dự án phải bổ sung kéo dài, phát sinh nhiều về thời gian và tài chính, xây dựng xong vẫn không hoàn chỉnh; (ii) Các nhà ở được bố trí tập trung như khu đô thị, vừa không phù hợp thói quen sinh sống của người dân vừa xa nơi sản xuất; (iii) Việc sản xuất tại nơi ở mới thiếu tổ chức, hướng dẫn, hoặc nếu có thì làm lấy lệ Nhiều nơi dân nghèo hơn sau TĐC do công tác TĐC thiếu lồng ghép nội dung chuẩn bị phương kế sinh sống cho người dân Người dân chỉ được quy hoạch chỗ ở, thiếu đất sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp hoặc có đất sản xuất nhưng ở rất xa nơi định canh định cư, hệ thống giao thông đi lại để sản xuất tiêu thụ, trao đổi hàng sản xuất ra cũng không đồng bộ, mất nhiều thời gian đi lại
Nguyễn Tiến Dũng, Đặng Khắc Ánh [2016] về “Đánh giá hiệu quả của Chính sách
Tái định cư ở Khu vực miền núi cho đồng bào dân tộc thiểu số” cũng có những nhận
định tương tự, cụ thể đã chỉ ra một số nguyên nhân dẫn tới những bất cập của các chính sách TĐC: (i) Thứ nhất, việc quy hoạch các khu TĐC thường được tiến hành chậm và chưa phù hợp Công tác quy hoạch các khu TĐC còn manh mún, chưa gắn kết hài hòa lợi ích trong mối quan hệ vùng, chưa đảm bảo phát triển bền vững cho người dân di dời; (ii) Thứ hai, quỹ đất TĐC thường không đủ và bố trí rất khó khăn, đặc biệt là với các dự án lớn với số lượng dân cần di dời nhiều (iii) Thứ ba, do việc
lơ là của chính quyền và thiếu sự phối hợp giữa chính quyền nơi TĐC, doanh nghiệp
và các cơ quan có liên quan nên việc sản xuất và sinh sống của những người dân TĐC tại nơi ở mới sau khi tiến hành TĐC thường không được tổ chức, hướng dẫn
cụ thể (iv) Thứ tư, chính sách ở các công trình, dự án TĐC có sự khác nhau, tạo nên
sự thiếu thống nhất trong việc quản lý và thực thi chính sách, nảy sinh tư tưởng so sánh quyền lợi trong người dân, ảnh hưởng đến công bằng xã hội Nhà nước ban hành các chính sách riêng cho mỗi công trình dự án dẫn đến các chính sách phục hồi sinh kế sau TĐC tại các công trình, dự án đến nay thiếu thống nhất Phạm Thị Hồng
Nhung, Trần Nam Thắng [2017] về “Thay đổi tiếp cận đất đai cho người tái định cư
do xây dựng đập thủy điện tại quận Bình Thạnh” cho rằng do thiếu các chính sách
Trang 32hỗ trợ sau TĐC, người dân phải tự mình thay đổi cuộc sống và thích ứng với điều kiện mới trong khi trình độ và trình độ học vấn của họ còn thấp Điều này dẫn đến giảm thu nhập và an ninh lương thực, thất nghiệp gia tăng, tệ nạn xã hội liên quan đến thanh niên tăng lên Ngoài ra, do quá trình xây dựng khu TĐC chưa phù hợp, hầu hết các hộ gia đình có nguồn thu nhập dựa trên sản xuất nông nghiệp sau khi TĐC đã không có đất sản xuất để bù đắp cho khu đất trước kia họ đã mất Việc thiếu kiến thức và cơ hội sản xuất kinh doanh khiến người dân sử dụng số tiền đền bù thiếu hiệu quả, chưa phục vụ đúng mục tiêu phát triển kinh tế của hộ gia đình
Các nghiên cứu về thế giới cũng chỉ ra các vấn đề khó khăn về kinh tế đối với người dân TĐC như: Ngân hàng Thế giới [2009] về “Chương trình phát triển dân tộc thiểu số và sinh kế tái định cư” đã chỉ ra TĐC nếu không được kiểm soát tốt sẽ khiến cho các hệ thống sản xuất bị phá vỡ; con người phải đối mặt với sự bần cùng hoá khi những tài sản, công cụ sản xuất hay nguồn thu nhập của họ bị mất đi; người dân phải
di dời tới những môi trường mới mà ở đó các kỹ năng của họ trở nên ít phù hợp hơn
và mức độ cạnh tranh về tài nguyên lại trở nên căng thẳng hơn Nghiên cứu cũng chỉ
rõ các dự án TĐC tập trung nguồn lực vốn đầu tư vào kết cấu hạ tầng là chủ yếu, phần đầu tư hỗ trợ sản xuất phục hồi thu nhập chưa được quan tâm đúng mức
Nguyễn Quang Tuyến [2013] về “Kinh nghiệm của một số nước về bồi thường khi
nhà nước thu hồi đất“ đã chỉ ra: tại Trung Quốc, thu hồi đất cho lợi ích công đã gây
ra nhiều vấn đề lớn cho người dân sinh sống tại vùng đó, nên Chính phủ đã đẩy mạnh việc thực hiện thu hồi đất một cách hợp pháp và trách nhiệm bồi thường của bên sử dụng đất sau khi thu hồi
- Nghiên cứu về những vấn đề đối với đời sống văn hóa, xã hội của người
dân vùng TĐC: các nghiên cứu của Nguyễn Lâm Thành [2005] “Nghiên cứu một
số mô hình tái định cư đối với đồng bào dân tộc thiểu số liên quan đến các công trình thủy điện” về một số mô hình TĐC đồng bào DTTS của các công trình thủy
Trang 33điện ở Việt Nam đã chỉ ra một số hạn chế của chính sách đền bù và TĐC như: (i) chính sách đền bù và TĐC mới chỉ dừng lại ở việc đền bù đất và các tài sản bị thiệt hại Đối tượng là người dân trực tiếp bị mất đất và tài sản Các thiệt hại vô hình khác, thiệt hại về thu nhập, về kinh tế v.v chưa được tính đến đầy đủ mà đây lại chính là điểm rất quan trọng trong đời sống của người dân TĐC; (ii) qui định cụ thể về chính sách ở các điểm lại có sự khác nhau đã tạo nên sự không thống nhất trong việc quản
lý và thực thi chính sách, dễ tạo nên những mâu thuẫn so sánh chính sách giữa các vùng, tham gia của người dân TĐC và cấp cơ sở còn nhiều hạn chế; (iii) Các yếu tố
tự nhiên, kinh tế xã hội theo đặc thù từng vùng, nhóm dân tộc chưa được khảo sát kỹ
và tính toán đầy đủ, cân nhắc trước khi đưa ra các phương án TĐC tạo lập môi trường sống mới để bảo đảm yếu tố phù hợp của các cộng đồng dân cư Rất nhiều chương trình TĐC của chính phủ đã được đánh giá chưa thành công, chủ yếu là do khó khăn trong việc giúp những người mới đến hòa nhập với các cộng đồng dân tộc thiểu số tại nơi ở mới, chi phí TĐC cao, đặc biệt trong cung cấp các dịch vụ và cơ sở hạ tầng
và thiếu đất canh tác Ngoài ra, ở nhiều vùng TĐC cơ sở hạ tầng đặc biệt là nhà ở lại được thiết kế không phù hợp với đặc tính văn hóa và thói quen sinh hoạt của người dân tộc thiểu số, trong khi đó các cơ sở hạ tầng khác (như trường học, trạm y tế, đường giao thôn, điện, nước,…) lại bị xây dựng chậm, thiếu và chất lượng kém đã làm ảnh hưởng rất lớn tới kết quả của các chương trình di dân
Đỗ Văn Hòa [2006] về “Chính sách tái định cư các dự án thủy điện theo định
hướng phát triển bền vững” khi nghiên cứu về cộng đồng người dân TĐC với các
đặc điểm dân tộc, văn hóa và tập quán, đã chỉ ra nhược điểm của các chương trình TĐC ở vùng DTTS và miền núi đã quy hoạch sắp xếp dân cư đan xen giữa các hộ dân tộc thiểu số khác nhau cùng sống chung trong một cộng đồng, điều này làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn và sự đoàn kết trong cộng đồng Vì các cộng đồng có mối quan
hệ ràng buộc lẫn nhau về văn hóa tín ngưỡng và mỗi cộng đồng có những đặc trưng
văn hóa, sinh hoạt riêng Đặng Nguyên Anh [2007] về “Chính sách Di dân Tái định
Trang 34cư các công trình thủy điện ở Việt Nam từ góc độ nghiên cứu xã hội” đã nhận định
chính sách khuyến khích TĐC xen ghép giữa các cộng đồng trong một vùng là không phù hợp Đặc điểm văn hóa của các dân tộc sẽ gây nguy cơ xung đột về văn hóa và phong tục tập quán giữa các cộng đồng, ảnh hưởng tới chủ trương thực hiện chính sách đoàn kết các dân tộc của Đảng và Nhà nước Nguyễn Thị Hoàng Hoa [2009] về
“Thực trạng và giải pháp di dân tái định cư từ các công trình phát triển tài nguyên
nước” đưa ra một ví dụ khác là về việc quy hoạch các khu TĐC chưa phù hợp với
văn hoá truyền thống và phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số là người dân tộc Thái tối kỵ việc đốc nhà chọc thẳng ra sông, chắn ngang khe suối hay đường cái lớn, cầu thang, bếp của họ không được hướng về phía nhà v.v.nhưng hầu như các khu TĐC do các chủ đầu tư xây dựng đền bù đều làm ngược lại Bùi Minh Thuận
[2015] về “Tái định cư và sự thay đổi văn hóa – xã hội của người thái ở bản Mà, xã
Thanh Hương, huyện Thanh Chương” cho rằng TĐC không chỉ đơn thuần là bố trí
chỗ ở mới cho những người bị mất đất mà còn phải xem xét đến rất nhiều các yếu tố khác liên quan như: cơ sở hạ tầng (về nhà ở, điện, đường, trường học, y tế, nước ), việc làm, sinh kế Ngoài ra, còn yếu tố rất quan trọng khác cũng cần được xem xét
đó là vấn đề bảo tồn các yếu tố về văn hóa cộng đồng, sự hòa nhập với cộng đồng
bản địa Nguyễn Tiến Dũng, Đặng Khắc Ánh [2016] về “Đánh giá hiệu quả của
chính sách tái định cư ở khu vực miền núi cho đồng bào dân tộc thiểu số” cho biết
nếu những yếu tố này không được đảm bảo sẽ dẫn đến tình trạng việc người dân bỏ khu vực TĐC quay trở lại nơi sinh sống cũ ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các dự
án hoặc di dân tự do sang địa bàn khác gây ra nhiều bức xúc và khó quản lý cho các
cơ quan quản lý Nhìn chung, các nghiên cứu đã nêu ra các vấn đề liên quan đến quy hoạch sắp xếp dân cư đan xen giữa các hộ dân tộc thiểu số khác nhau cùng sống chung trong một cộng đồng, điều này làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn và sự đoàn kết trong cộng đồng; hay nhà ở được thiết kế không phù hợp với đặc tính văn hóa và thói quen sinh hoạt của người dân tộc thiểu số, trong khi đó các cơ sở hạ tầng khác
Trang 35(như trường học, trạm y tế, đường giao thôn, điện, nước,…) lại bị xây dựng chậm, thiếu và chất lượng kém đã làm ảnh hưởng rất lớn tới kết quả của các chương trình
di dân
Ngoài ra, các nghiên cứu cũng chỉ ra các yếu tố xã hội theo đặc thù từng vùng, nhóm dân tộc chưa được khảo sát kỹ và tính toán đầy đủ, cân nhắc trước khi đưa ra các phương án TĐC tạo lập môi trường sống mới để bảo đảm yếu tố phù hợp của các cộng đồng dân cư Các khu TĐC chưa tính các yếu tố đặc điểm quần cư đặc thù, đặc biệt với các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số
và văn hóa truyền thống đặc trưng riêng Chính vì thế, ở các vùng TĐC thiếu không gian sinh hoạt cộng đồng, tín ngưỡng và tính đoàn kết trong cộng đồng bị suy giảm nghiêm trọng Đây là vấn đề được chỉ ra trong các nghiên cứu của Nguyễn Văn Quân
và các cộng sự [2011] về “công tác tái định cư dự án thủy điện Sơn La dưới góc độ
phong tục tập quán canh tác của đồng bào dân tộc vùng Tây Bắc”, cụ thể nhà ở trong
các điểm TĐC của thủy điện Sơn La được chia lô, xây dựng nhà ở theo kiểu ô bàn
cờ, nhà bám mặt đường như khu đô thị Điều này đang rất không phù hợp với phong tục tập quán của các dân tộc như người như người Thái, Dao, H’Mong ở đây Phạm
Quang Hoan [2013] về “Nghiên cứu bảo tồn văn hóa các dân tộc vùng lòng hồ và
vùng tái định cư nhà máy thủy điện Sơn La”; Lê Anh Tuấn [2014] về “đời sống của người Katu sau tái định cư thủy điện A Vương: Thực trạng và những vấn đề đặt ra”
mô tả tại khu TĐC, mỗi hộ không kể đông hay ít người được nhận 1 ngôi nhà sàn bê tông và tôn, có diện tích 5x7 m; một công trình phụ (2x4 m) gồm 1 phòng bếp, 1 phòng kho, 1 nhà vệ sinh Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra sự tách biệt môi trường rừng, sự gián đoạn tổ chức lễ hội, sự khó khăn bất an của môi trường TĐC,… đã tác động đến thói quen, nhu cầu về ẩm thực của người dân, từ cơ cấu bữa ăn, đến nguyên liệu, kỹ thuật chế biến Sự đơn giản trong điều kiện khó khăn túng thiếu là đặc điểm
ẩm thực vùng TĐC hiện nay Những “bữa no” trong đám cưới, trong đâm trâu,… đã
gần như không còn ở các dân tộc vùng TĐC Nguyễn Ngọc Thanh [2015] về “Nghiên
Trang 36cứu bảo tồn văn hóa các dân tộc vùng lòng hồ và vùng tái định cư thủy điện Lai Châu” về bảo tồn văn hóa các dân tộc tại lòng hồ và vùng TĐC nhà máy thủy điện
Sơn La và Thủy điện Lai Châu cũng chỉ ra hạn chế của các chương trình này đã chưa tính đến các yếu tố văn hóa của các dân tộc như tín ngưỡng, phong tục, nhà ở, văn hóa cộng đồng… Chính vì thế, ở các vùng TĐC thiếu không gian sinh hoạt cộng đồng, tín ngưỡng và tính đoàn kết trong cộng đồng bị suy giảm nghiêm trọng
Nguyễn Thị Minh Phượng [2014] về “chính sách di dân tái định cư tại các dự án
thủy điện trên địa bàn Nghệ An”; Nguyễn Đình Bổng [2015] về “chính sách đất đai
về đất ở tái định cư nông thôn” đã chỉ ra TĐC ở vùng miền núi được thực hiện khi
thu hồi đất còn một số bất cập thường xảy ra như các nhà ở được bố trí tập trung như khu đô thị, vừa không phù hợp thói quen sinh sống của người dân vừa xa nơi sản xuất Các khu TĐC quy hoạch kiểu rập khuôn dẫn đến tình trạng khu TĐC nông thôn, miền núi giống với nhà phố vùng đồng bằng và thiếu hẳn các không gian công cộng phục vụ cho các sinh hoạt cộng đồng truyền thống như nhà Rông cho đồng bào Tây Nguyên, đình chùa, nhà thờ cho người dân theo các tín ngưỡng khác Thậm chí một số còn rất thiếu các công trình hạ tầng thiết yếu như trường học, bệnh viện, trạm
y tế do thiếu trong quy hoạch hoặc đã có trong quy hoạch nhưng chưa được đầu tư
xây dựng Nguyễn Thị Hoàng Hoa, “Thực trạng và giải pháp di dân tái định cư từ
các công trình phát triển tài nguyên nước”, [2009] cho biết một số khu TĐC của các
công trình thuỷ điện do các cơ quan chức năng; các chủ đầu tư thực hiện công tác TĐC chưa quy hoạch đầy đủ cơ sở hạ tầng phục vụ đời sống của đồng bào các dân tộc Chẳng hạn hệ thống y tế và trường học còn rất thiếu (Điều này đang làm cho việc tiếp cận dịch vụ công của người dân ở các khu này đang rất khó khăn Ngoài ra, chính sự buông lỏng trong quản lý cùng với những nguyên nhân khác khiến công trình xuống cấp nhanh Do mặt bằng của một số khu TĐC không đủ, nên các nhà đầu tư thường san ủi, hoặc lợi dụng các sườn đồi làm đường giao thông, nên mỗi khi mùa mưa đến thì đường sá thường bị sạt lở, xói mòn gây khó khăn cho sinh hoạt đi
Trang 37lại của người dân Thực tế, trong 5 năm qua, các hộ TĐC công trình thủy điện không thể ổn định đời sống do gặp nhiều khó khăn về nơi cư trú và đất sản xuất Cơ sở hạ tầng tại các khu TĐC thủy điện này chưa đáp ứng được nhu cầu thiết yếu của người dân (hệ thống bể chứa nước sinh hoạt) chỉ đáp ứng được 50% số hộ Nguyễn Tiến
Dũng, Đặng Khắc Ánh [2016] về “đánh giá hiệu quả của Chính sách Tái định cư ở
Khu vực miền núi cho đồng bào dân tộc thiểu số” một lần nữa đánh giá về chính sách
TĐC tại khu vực miền núi đã chỉ ra vấn đề mấu chốt của công tác di dân TĐC là kiến tạo cuộc sống mới bền vững cho người dân di dời nhưng thực tế hầu hết các chi phí của công tác TĐC đang tập trung cho công tác giải phóng mặt bằng, xây dựng
hạ tầng (chiếm đến gần 85%), phần lớn các chủ đầu tư mới chỉ chú ý đến việc đến
bù sử dụng đất, các tài sản thiệt hại trực tiếp như nhà cửa, đất đai canh tác, cây trồng,… mà ít quan tâm tới các yếu tố văn hóa, truyền thống Nhiều khu TĐC do thiếu việc điều tra đánh giá về phong tục tập quán, văn hoá của các vùng TĐC nên người dân thuộc diện TĐC đến nơi ở mới không có điều kiện phát triển sản xuất, không thích nghi được với phong thổ, khí hậu, văn hoá truyền thống ở nơi ở mới Quy hoạch chưa tính các yếu tố đặc điểm quần cư đặc thù, đặc biệt với các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và văn hóa truyền thống đặc trưng riêng
Vấn đề này cũng đã được Ngân hàng Thế giới [2009] chỉ ra rằng TĐC khiến cho các thiết chế cộng đồng và các mạng lưới an sinh xã hội bị suy giảm; các quan
hệ huyết thống trở nên phân tán; những đặc tính văn hoá, uy lực của truyền thống,
và tiềm năng trợ giúp lẫn nhau bị suy giảm hoặc mất đi Childs-Johnson, Cohen và Sullivan [1996] cũng cho biết Trung Quốc khi bắt đầu xây dựng thủy điện Tam Hiệp
đã không tính đến việc bảo tồn các giá trị văn hóa của những dân tộc sống tại khu
vực lòng hồ Phonevilay Sinavong [2014] về “Dự án tái định cư nông thôn và văn
hóa tại Lào” cũng đề cập các yếu tố văn hóa (biểu tượng, lãnh tụ tinh thần, niềm tin,
giá trị, tâm linh ) thường là yếu tố nhạy cảm và dễ bị ảnh hưởng bởi ác dự án TĐC
Trang 38- Nghiên cứu những vấn đề về môi trường sống của người TĐC: Vấn đề
đảm bảo môi trường tại các khu TĐC và công tác bảo vệ rừng ở những khu vực này trong những năm qua đang gặp rất nhiều khó khăn Do họ được chuyển tới nơi ở mới, cách xa những khu rừng, nguồn nước sinh hoạt thiếu, vấn đề ô nhiễm môi trường gia tăng do sống thành các khu vực tập trung, trong khi đó việc quy hoạch các khu TĐC lại ít chú ý tới hệ thống xử lý nước và rác thải; các bằng chứng cho thấy cơ sở hạ tầng tại nhiều khu TĐC thủy điện chưa đáp ứng được nhu cầu thiết yếu của người dân, đặc biệt một số nơi hệ thống bể chứa nước sinh hoạt chỉ đáp ứng được 50% số hộ, v.v những vấn đề này đã được chỉ ra trong nghiên cứu của Phạm Hoài
Nam, Trương Quang Học [2015] về “Những vấn đề môi trường bức xúc do các hoạt
động phát triển ở Tây Nguyên” Nhìn chung, các vấn đề môi trường bức xúc ở vùng
TĐC không chỉ tác động đến môi trường sống của người dân mà sự bất ổn về môi trường sẽ dẫn tới phức tạp về mặt xã hội, chính trị, an ninh trong khu vực Sử dụng hợp lý tài nguyên, quy hoạch phát triển theo cách tiếp cận dựa trên hệ sinh thái là cách đi đúng đắn để phát triển bền vững khu vực này Phan Đình Nhã [2013] về
“Tổng hợp kết quả nghiên cứu về tình hình thiếu đất và thực thi chính sách giải quyết
đất đai cho đồng bào dân tộc thiểu số miền núi” cho biết đối với công tác thu hồi đất
và bồi thường hỗ trợ TĐC cho các hộ nông nghiệp miền núi, đặc biệt là các dự án thuỷ điện, việc lựa chọn địa điểm của các dự án di dân TĐC từ trước đến nay thường
áp dụng chiến lược sinh kế dựa vào đất sản xuất nông nghiệp (đặc biệt là đất lúa nước) mà chưa chú trọng đến nguồn tài nguyên rừng có vài trò quan trọng đối với các hộ DTTS sống phụ thuộc vào đất lâm nghiệp, khai thác các sản phẩm sẵn có của
tự nhiên Nghiên cứu của Trần Đức Sáng [2014] về “Thực trạng và những vấn đề
đặt ra trong quản lý xã hội và phát triển bền vững tại một số khu tái định cư ở Quảng Nam và Thừa Thiên Huế” cho biết cơ sở hạ tầng tại các khu TĐC thủy điện này chưa
đáp ứng được nhu cầu thiết yếu của người dân (hệ thống bể chứa nước sinh hoạt) chỉ
đáp ứng được 50% số hộ UNDP [2014] về “Báo cáo về di cư, tái định cư và biến
Trang 39đổi khí hậu tại Việt Nam” cho biết vấn đề đảm bảo môi trường tại các khu TĐC và
công tác bảo vệ rừng ở những khu vực này trong những năm qua đang gặp rất nhiều khó khăn Do họ được chuyển tới nơi ở mới, cách xa những khu rừng, nguồn nước, vấn đề ô nhiễm môi trường gia tăng do sống ở nơi tập trung, trong khi đó các khu TĐC lại không chú ý tới hệ thống xử lý nước và rác thải Theo báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sơn La (2016) vấn đề môi trường tại các khu, điểm TĐC
là vấn đề rất lớn, đa dạng, diễn ra ở phạm vi rộng, thời gian kéo dài, đối tượng tác động lớn Đến nay, tỉnh Sơn La đã hoàn thành công tác di dân TĐC, ổn định được đời sống dân cư Tuy nhiên, vấn đề môi trường trong di dân TĐC của dự án chưa được đề cập đến nhiều Các khu, điểm di dân TĐC chưa được đánh giá tác động về môi trường, chưa xây dựng và thực thi các giải pháp bảo vệ môi trường trong quá trình xây dựng cũng như định cư lâu dài Chính vì thế, các khu TĐC của thủy điện Sơn La hiện nay tình trạng ô nhiễm môi trường đặc biệt là ô nhiễm do nước thải sinh hoạt đang rất đáng báo động Nguyễn Thị Mai Hương và các cộng sự [2016] về
“Phân tích nguyên nhân mất rừng, suy thoái rừng làm cơ sở đề xuất giải pháp quản
lý và bảo vệ rừng tỉnh Đắk Nông” cho biết một vấn đề cấp bách khác đang diễn ra ở
những vùng TĐC ở vùng DTTS và miền núi là khó khăn trong bảo vệ rừng Rất nhiều công trình TĐC chậm cấp đất sản xuất sản xuất cho các hộ trong khi họ vẫn cần phải tìm cách để kiếm kết sinh nhai Chính vì thế, việc người dân lấn rừng là điều khó tránh Do khó khăn về quỹ đất, nên nhiều nơi phải di chuyển hộ TĐC đến vùng cao, có điều kiện tự nhiên, đất xấu và đặc biệt là tách rời với tập quán của đồng bào dân tộc dựa vào đất và rừng Mất rừng tự nhiên là mất đi nơi gắn bó với truyền thống sinh kế-văn hóa-xã hội của các dân tộc Tây Nguyên Từ vấn đề này, sẽ nảy sinh những mâu thuẫn, khó tránh khỏi va chạm như tranh chấp trong sử dụng tài nguyên, phân chia lợi ích giữa các bên
Trên thế giới, điển hình nhất tại Trung Quốc là chính sách TĐC khi xây dựng
đập thủy điện Tam Hiệp, theo Li Heming, Paul Waley và Phil Rees [2001] về “Tái
Trang 40định cư ở Trung Quốc: Kinh nghiệm quá khứ và đập Tam Hiệp” và Peter Bosshard
[2009] về “Những bài học từ đập Tam Hiệp”, dự án đã phủ kín 13 thành phố, 140
thị trấn và 1350 làng và làm hơn triệu người mất nhà cửa, tác động rất lớn tới môi trường sinh thái sự thay đổi mức nước làm gây ra các trận lở đất thường xuyên, xói mòn làm ảnh hưởng tới một nửa diện tích hồ chứa Nhưng vì những người trực tiếp
bị ảnh hưởng lại bị loại ra khỏi quá trình ra quyết định, chương trình này thường không đề cập tới nhu cầu và mong muốn của họ, và gây ra sự nghèo đói và phẫn nộ lớn trong quần chúng
5.1.3 Nghiên cứu đề xuất những giải pháp, chính sách hoàn thiện chính sách TĐC:
Tổng hợp các nghiên cứu cho thấy, đã có rất nhiều các nhóm giải pháp được
đề xuất như:
- Giải pháp nhằm nâng cao đời sống kinh tế, tăng thu nhập của hộ TĐC trong
nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới [2009] chỉ rõ để đạt được mục tiêu phục hồi sinh
kế ngoài việc đền bù, cần phải đưa ra các biện pháp cung cấp hỗ trợ chuyển đổi và trợ giúp phát triển đời sống như chuẩn bị về đất đai, tín dụng, đào tạo kỹ năng và công ăn việc làm Bởi lẽ, thực tế cho thấy các khoản bồi thường cho tài sản bị mất thường không đủ để đảm bảo phục hồi sinh kế thành công Với khu miền núi, cần phải áp dụng hướng phát triển nông nghiệp thân thiện với môi trường, không chỉ để bảo vệ môi trường mà còn bảo vệ sinh kế cho tương lai Điều này có thể thực hiện bằng các xây dựng các thửa ruộng bậc thang, giúp cải thiện sản lượng mùa màng đồng thời tránh phá hoại rừng Kế hoạch phát triển sinh kế cộng đồng phải dựa trên chiến lược song hành: thúc đẩy và phát triển hệ thống canh tác hiện tại cho hầu hết các hộ nông dân và đa dạng hóa các ngành nghề ngoài nông nghiệp thông qua các buổi đào tạo nghề cho lớp thanh niên và giúp đỡ các doanh nghiệp nhỏ tạo công ăn việc làm, giữ lại các nguồn nhân lực Do đó đã giúp những người có trình độ cao