1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Dinh dưỡng và tăng trưởng trong các bệnh mạn tính

35 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Dinh dưỡng và tăng trưởng trong các bệnh mạn tính
Tác giả Corina Hartman, Mabrouka A. Altowati, S. Faisal Ahmed, Raanan Shamir
Người hướng dẫn Koletzko B, Ed, Shamir R, Ed, Turck D, Ed, Phillip M, Ed
Trường học Sackler School of Medicine, Tel Aviv University
Chuyên ngành Dinh dưỡng và tăng trưởng
Thể loại Bài báo
Năm xuất bản 2014
Thành phố Basel
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ chế rối loạn chức năng tăng trưởng Suy chức năng bẩm sinh thúc đẩy suy tăng trưởng chiều cao ở bệnh nhi Crohn và kháng hormone tăng trưởng trong viêm ruột ở chuột Bối cảnh: Một nghi

Trang 1

Koletzko B, Shamir R, Turck D, Phillip M (eds): Nutrition and Growth: Yearbook 2014

World Rev Nutr Diet Basel, Karger, 2014, vol 109, pp 54–88 ( DOI: 10.1159/000356108 )

Developmental Endocrinology Research Group, Royal Hospital for Sick Children, G lasgow, UK

Dinh dưỡng và tăng trưởng trong các bệnh

mạn tính

Cả hai bệnh cấp tính và mạn tính đều có thể ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng và tăng trưởng Bệnh cấp tính gây ảnh hưởng đảo ngược lên tỷ lệ tăng cân trong khi bệnh mạn tính có thể dẫn đến những thay đổi tăng cân và chiều cao với tác dụng tiềm tàng lâu dài bao gồm đáp ứng kém với điều trị bệnh và giảm chiều cao cuối cùng khi trưởng thành Hỗ trợ dinh dưỡng thì cần thiết trong nhiều tình trạng lâm sàng khác nhau, từ trẻ

em biếng ăn liên quan đến bệnh truyền nhiễm cấp tính cho đến trẻ em bị suy dinh dưỡng mắc bệnh mạn tính Sử dụng hỗ trợ dinh dưỡng thích hợp được quy định bởi sự hiểu biết về nhiều thay đổi diễn ra trong chế độ ăn uống, tốc độ chuyển hóa và những thay đổi trong hoạt động thể chất Hỗ trợ dinh dưỡng thích hợp sẽ vừa ngăn ngừa giảm cân trong thời gian ngắn, vừa thúc đẩy tăng trưởng thích hợp trong thời gian dài Bệnh mạn tính cũng có thể ảnh hưởng đến tiến độ tuổi dậy thì do đó có thể dẫn đến một số tác động bao gồm kém tăng trưởng Chương này trình bày một tập các ấn phẩm của năm vừa qua, tập trung vào việc hỗ trợ dinh dưỡng và tăng trưởng ở một số trong những bệnh mạn tính phổ biến nhất của trẻ em

Trang 2

D’Mello S 1 , Trauernicht A , Ryan A , Bonkowski E , Willson T , Trapnell BC , Frank SJ , 1 1 1 1,3 2 4

AL, USA; 5 Department of Pediatrics, Emory University School of Medicine, Atlanta, GA, USA

In amm Bowel Dis 2012; 18: 236–245

Bệnh viêm ruột Cơ chế rối loạn chức năng tăng trưởng

Suy chức năng bẩm sinh thúc đẩy suy tăng trưởng chiều cao ở bệnh nhi Crohn

và kháng hormone tăng trưởng trong viêm ruột ở chuột

Bối cảnh: Một nghiên cứu trước đây của cùng các tác giả cho biết rằng, bệnh nhân có tự kháng thể yếu

tố kích thích cụm đại thực bào tế bào hạt gia tăng(GM-CSF Ab) thì có nhiều khả năng trải qua bệnh ruột hồi phức tạp đòi hỏi phải phẫu thuật Mục đích của báo cáo này là điều tra bất kỳ mối liên hệ nào giữa GM-CSF Ab và gien nguy cơ CARD15 (C15 + GMAb +) với chậm tăng trưởng ở bệnh Crohn (CD), và kháng hormone tăng trưởng (GH) trong một mô hình viêm hồi tràng ở chuột

Kết luận: Nghiên cứu cho thấy những khiếm khuyết miễn dịch bẩm sinh mà là do sự hiện diện của

GM-CSF Ab ở vật chủ thiếu CARD15 thì có liên quan đến suy giảm tăng trưởng ở bệnh Crohn (CD) và kháng GH gan trong viêm ruột chuột Suy phát triển ở những bệnh nhân Crohn và kháng GH ở mô hình động vật đã xảy ra trong trường hợp không có sự khác biệt về tình trạng viêm hoặc cân nặng, cho thấy hiệu quả chuyên biệt của tình trạng C15 + + GMAb

Phương pháp: 229 trẻ em mắc bệnh Crohn (CD) được tuyển dụng ở hai địa điểm, có kiểu gien

CARD15, GM-CSF Ab huyết thanh, GH-binding protein (GHBP), chiều cao (HtSDS) và cân nặng (WtSDS) z-scores được đánh giá lúc chẩn đoán Có 45 bệnh nhân vừa mang gien nguy cơ CARD15 vừa gia tăng GM-CSF Ab (C15 + GMAb +) và 184 bệnh nhân có một thứ hoặc không có, và được dùng như nhóm chứng Tuổi lúc chẩn đoán, tuổi lúc thu thập mẫu máu, giới tính, và tần suất mắc bệnh từ mức trung bình đến nặng lúc chẩn đoán thì tương tự giữa các nhóm Bệnh viêm hồi tràng được gây ra ở chuột thiếu CARD15 bằng trung hòa GM-CSF và tiếp xúc với NSAID Sự phong phú thụ thể GH (GHr) và sự kích hoạt Stat5 phụ thuộc GH được xác định bằng Western blot và biểu hiện IGF-1 mRNA bằng PCR real-time

Kết quả: Bệnh nhân có cả hai GM-CSF Ab/CARD15 tăng cao đã giảm HtSDS trung bình (-0,48) vào

lúc chẩn đoán so với -0.07 trong nhóm đối chứng (p < 0,05) Tỷ lệ chậm tăng trưởng (HtSDS -1) và suy tăng trưởng (HtSDS -1.8) thì cao hơn ở nhóm C15+GMAb+ (38 và 16%, theo thứ tự) khi so với nhóm chứng (18 và 6%) Không thấy sự khác biệt ở WtSDS giữa các nhóm GHBP lưu hành, như là một chỉ số đại diện cho sự phong phú GHR ở mô, thì giảm đáng kể ở nhóm C15+GMAb+ Trong phân tích đơn biến, tình trạng C15+GMAb+ có mối liên quan mạnh với vị trí ruột non Tình trạng C15+GMAb+ thì không liên quan với WtSDS Trong phân tích đa biến từng bước, sự gồm cả vị trí ruột non thì làm giảm ảnh hưởng của tình trạng C15+GMAb+ đối với HtSDS, trong khi sự gồm cả WtSDS thì làm giảm ảnh hưởng của vị trí ruột non đối với HtSDS Sự phong phú GHR ở gan và GH cảm ứng của Stat5 tyrosine phosphoryl hóa và biểu hiện IGF-1 mRNA ở chuột đực thiếu CARD15 với viêm hồi tràng thì giảm

Trang 3

Bối cảnh: Bệnh nhân được chẩn đoán viêm ruột (IBD) có những phản ứng miễn dịch khác nhau đối với

kháng nguyên vi sinh vật, bao gồm sự hình thành kháng thể với protein C bên ngoài màng tế bào Escherichia coli (OmpC) và Saccharomyces cerevisiae (ASCA); và tự kháng nguyên đối với kháng thể kháng bạch cầu trung tính quanh nhân (pANCA) / tự kháng thể nhân bạch cầu trung tính chuyên biệt (NSNA) Những phản ứng miễn dịch huyết thanh này có thể tương quan với vị trí bệnh và có thể được

sử dụng để dự đoán tiến triển của bệnh Một sự gia tăng số lượng đáp ứng miễn dịch trong huyết thanh

và mức độ tăng của phản ứng thì tương quan thuận với mức độ nghiêm trọng của bệnh Trong nghiên cứu này, các tác giả đánh giá đáp ứng miễn dịch huyết thanh và đo nhân trắc học tại thời điểm chẩn đoán ban đầu cho các bệnh nhi Crohn (CD)

Phương pháp: Báo cáo hồi cứu này đã xem xét chiều cao và trọng lượng z-score ở 102 trẻ em (tuổi

trung bình 11,9 tuổi) có bệnh Crohn trước khi chẩn đoán và so sánh dữ liệu nhân trắc học giữa các nhóm theo sự hiện diện của các kháng thể chuyên biệt tại thời điểm chẩn đoán

Kết quả: Các tác giả đã chỉ ra rằng cân nặng và chiều cao trung bình z-score thì thấp hơn ở những bệnh

nhân có nồng độ ASCA dương tính, so với những bệnh nhân không có bất kỳ kháng thể nào

Kết luận: Các bệnh nhân mới được chẩn đoán Crohn có kháng thể ASCA dương tính có chiều cao và

cân nặng trung bình z-scores thấp hơn Các tác giả cho rằng một số nhóm trẻ em bệnh Crohn có thể có nguy cơ cao về sự suy giảm tăng trưởng trước khi chẩn đoán

Trauernicht AK, Steiner SJ

Division of Pediatric Gastroenterology/Hepatology/Nutrition, James Whitcomb Riley Hospital for Children, Indiana University School of Medicine, Indianapolis, IN, USA

Dig Dis Sci 2012; 57: 1020–1025

Bình luận Một số báo cáo đã điều tra các cơ chế có thể có liên quan đến suy giảm tăng trưởng ở trẻ

em bệnh Crohn Tuy nhiên, nhiều lỗ hổng vẫn còn tồn tại trong kiến thức của chúng ta

về biến chứng quan trọng này Nghiên cứu đã luôn thể hiện rằng vị trí bệnh ở ruột non đoạn gần có liên quan với giảm tăng trưởng chiều cao [1, 2] Nam giới cũng có liên quan với một khuynh hướng giảm tăng trưởng chiều cao [1, 2] Trong nghiên cứu này, suy tăng trưởng ở những bệnh nhân và kháng GH trong mô hình động vật đã xảy ra trong trường hợp không có sự khác biệt ở cytokine viêm (TNF- và IL-6) hoặc trọng lượng giữa hai nhóm Chức năng hàng rào tự vệ ở ruột non đã được đề xuất để trực tiếp gây ra kháng (Growth hormone - GH và chậm tăng trưởng Các tác giả nhấn mạnh rằng trong bệnh lý viêm ruột (IBD), các yếu tố phụ thuộc bệnh nhân cũng có thể làm thay đổi sự độc lập phát triển của viêm Mối liên hệ giữa hệ tiêu hóa và tăng trưởng cũng có thể tồn tại trong các điều kiện khác bệnh lý viêm ruột (IBD)

Kháng thể trong huyết thanh và dữ liệu nhân trắc học lúc chẩn đoán bệnh nhi Crohn

điểm chẩn đoán và những phản ứng miễn dịch huyết thanh ở trẻ em với IBD Mặc dù có thể là thông tin này cho phép cải thiện thiết kế điều trị để tối ưu hóa kết quả tăng trưởng một cách cá nhân, nhưng có một nhu cầu để thực hiện một số nghiên cứu theo chiều dọc cho việc xác nhận ý tưởng này Những dữ liệu này cũng nhấn mạnh sự cần thiết để hiểu rõ hơn tương tác giữa các dấu hiệu lưu hành của viêm và kiểm soát nội tiết và cận tiết tố tăng trưởng

Trang 4

Bối cảnh: Khoảng một phần ba số trẻ em bệnh Crohn bị tổn thương phát triển chiều cao, gây ra một

phần bởi suy dinh dưỡng và một phần do tác động trực tiếp của tình trạng viêm lên sự tăng trưởng Trẻ

em bệnh Crohn hoạt động có mức độ cytokine cao và thấp IGF-1 Nghiên cứu in vitro đã cho thấy mối liên quan mạnh giữa các cytokine viêm, IGF-1 và kém tăng trưởng, và đã báo cáo tình trạng không nhạy cảm chức năng của GH thứ phát với giảm phản ứng của IGF-1 với GH Kiểm soát tình trạng viêm / sự giảm đáng kể nồng độ cytokine và sự gia tăng IGF-1 sau đó vì vậy là những bước đầu tiên trong việc cải thiện tăng trưởng Tuy nhiên, ở một số trẻ em, viêm vẫn còn khó chữa mặc dù đã sử dụng liệu pháp tiên tiến và không có sự đồng ý điều trị thúc đẩy tăng trưởng cho chúng Gần đây, yếu tố recombinant IGF-1

ở người (rhIGF-1) đã được sử dụng như một liệu pháp thúc đẩy tăng trưởng cho trẻ có hội chứng không nhạy cảm GH Nhóm các nhà nghiên cứu đã đưa ra giả thuyết: nồng độ IGF-1 ở trẻ em có Crohn dạng hoạt động và sự tăng trưởng chiều cao yếu có thể được phục hồi bằng cách sử dụng rhIGF-1 Sự khó khăn đó là khôi phục mức độ IGF-1 trong mức bình thường thì không đơn giản và khó, và duy trì IGF-1 theo thời gian thì có liên quan với sự gia tăng ung thư đại tràng ở người lớn bệnh to cực Về lý thuyết, điều này có thể đại diện cho một mối nguy cơ kèm theo cho trẻ em bệnh Crohn, đã tiếp xúc với viêm mạn tính cũng là một yếu tố nguy cơ ung thư ruột Các tác giả đưa ra nguyên lý rằng, việc phát triển một

mô hình toán học cho điều trị IGF-1 có thể vạch ra tốt hơn một phác đồ dùng thuốc khôi phục nồng độ IGF-1 đến mức bình thường mà không có thêm nguy cơ ung thư

Phương pháp: Đây là một nghiên cứu can thiệp dược động học ở 8 trẻ em > 10 tuổi mắc bệnh Crohn

dạng hoạt động (C-reactive protein > 10 mg / l hoặc tốc độ lắng hồng cầu > 25 mm / h) và tốc độ chiều cao SDS < -2 SDS RhIGF-1 mỗi liều dưới da (120 g / kg) đã được cho vào hai lần nhập viện: đầu tiên

là một liều duy nhất và lần thứ hai trong vòng 5 ngày với hai liều mỗi ngày Điểm kết thúc là một sự gia tăng đáng kể trong IGF-1huyết thanh

Kết quả: Hai lần mỗi ngày rhIGF-1 dưới da đã dẫn đến sự gia tăng đáng kể của IGF-1 lưu hành trong

một thời gian lâu dài với biến đổi thấp giữa các đỉnh điểm Trong phân tích đồng biến, hoạt động bệnh

đã làm giảm đáng kể sản xuất IGF-1 nội sinh

Kết luận: Liều IGF-1 sử dụng một mô hình toán học bao gồm tuổi, cân nặng và hoạt động bệnh, đã bình

thường hóa mức độ IGF-1 trong hơn 95% trẻ em bị Crohn và đã đạt được mức độ dưới + 2,5 SDS trung bình dân số bình thường, một mức độ không liên quan với nguy cơ ung thư

Rao A 1 , Standing JF , Naik S , Savage MO , Sanderson IR 2 1 3 1

BMJ 2013; 3: 1–11

Nghiên cứu dược động học

Mô hình toán học để phục hồi nồng độ IGF-1 ở trẻ em bệnh Crohn bị suy

tăng trưởng: một nghiên cứu dược động học

Trang 5

Nghiên cứu này là nghiên cứu can thiệp đầu tiên trên điều trị IGF-1 ở trẻ em bệnh Crohn Các tác giả đã sử dụng một mô hình toán học để xác định liều rhIGF-1 duy trì mức độ IGF-1 huyết thanh trong phạm vi sinh lý Lịch trình dùng thuốc phản ánh sự phụ thuộc tuổi của IGF-1 lưu hành ở trẻ em bình thường, và tình trạng kháng GH ở trẻ em bệnh Crohn là 21 + 1 µg / kg / điểm PCDAI cho 10 - 12 tuổi và 41 + 1,4 µg / kg / điểm PCDAI cho 12 - 14 tuổi Những liệu pháp thúc đẩy tăng trưởng như rhGH, rhIGF-1 hoặc kết hợp

cả hai hiện đang được khai thác như những phương pháp có thể thúc đẩy tăng trưởng ở trẻ em mắc bệnh liên quan đến chậm tăng trưởng, và nghiên cứu này có thể hỗ trợ trong việc thiết kế các thử nghiệm lâm sàng trong tương lai Nghiên cứu cũng cho thấy mức

độ bệnh lý ruột mất đi protein được đo bằng 1-antitrypsin trong phân đã không làm thay đổi IGF-1 hoặc IGFBP-3 Sử dụng rhIGF-1 cho trẻ em có mức độ IGFBP-3 giảm có thể dẫn đến tăng IGF-1 tự do, nhưng điều này đã không được đánh giá trong nghiên cứu này Tuy nhiên, các tác giả cho rằng mức độ IGFBP-3 đã không giảm nặng nề vì nó vẫn còn 2 SDs bình thường ngay cả trong các trường hợp bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất

Bình luận

Dinh dưỡng và tăng trưởng

Tiến triển lâm sàng trong hai năm sau khóa học dinh dưỡng qua đường ruột

hoàn toàn trên 109 bệnh nhi bệnh Crohn

Cameron FL 1 , Gerasimidis K , Papangelou A , Missiou D , Garrick V , Cardigan T , Buchanan E , 2 2 2 1 1 1

Children, Glasgow, UK; L ife Course Nutrition and Health, Centre for Population and Health

Sciences, Institute of Health and Wellbeing, College of Medicine, Veterinary and Life Sciences, University of Glasgow, Glasgow, UK

Aliment Pharmacol Ther 2013; 37: 622–629

Bối cảnh: Dinh dưỡng qua đường ruột hoàn toàn (Exclusive enteral nutrition - EEN) ngày càng được

xem là một phương pháp ban đầu có hiệu quả để kiểm soát tình trạng viêm ở trẻ em có bệnh Crohn hoạt động Nghiên cứu này điều tra kết quả ngắn hạn và dài hạn của EEN trên cả hai: quá trình lâm sàng của bệnh và các chỉ số tăng trưởng

Phương pháp: Trong nghiên cứu này, ghi nhận 109 trường hợp (68 nam) là bệnh nhân mới được chẩn

đoán Crohn với độ tuổi trung bình 11,2 tuổi, đã hoàn thành một khóa học 8 tuần của EEN, được nghiên cứu hồi cứu Số liệu về nhân khẩu học, tăng trưởng, đặc điểm bệnh tật và các dấu hiệu viêm (albumin, CRP, ESR và tiểu cầu) được thu thập lúc bắt đầu khóa EEN và 1, 2, 6, 12 và 24 tháng sau khi bắt đầu điều trị

Kết quả: Trong tổng số có 65 bệnh nhân đã thuyên giảm, 32 được cải thiện, và 12 không có cải thiện

sau 8 tuần EEN Đến 4 tuần, trọng lượng SDS, BMI SDS và tất cả các dấu hiệu viêm đã cải thiện Sự tái phát bệnh đã xảy ra ở 63/109 (58%) trong thời gian theo dõi, và 44/63 (70%) đã đáp ứng với một khóa học thứ hai EEN Mặc dù sử dụng EEN đã gia tăng tốc độ chiều cao đến 6 tháng ở những người đáp ứng, nhưng nó không có liên quan với sự cải thiện ở HtSDS trong 24 tháng Sử dụng azathioprine trong vòng

6 tháng chẩn đoán đã không cho thấy bất kỳ lợi ích nào về kết quả cải thiện chiều cao lúc 24 tháng

Kết luận: Một khóa học 8 tuần EEN đã dẫn đến sự cải thiện các thông số cân nặng lên đến 2 năm nhưng

không cải thiện z-score chiều cao

Trang 6

Kết luận: Các tác giả đã chứng minh rằng điều trị bằng kháng thể đơn dòng đối với TNF- thì có liên

quan đến bình thường hóa một phần thời gian tuổi dậy thì bắt đầu ở chuột cái bị viêm đại tràng do DSS

 

Kết quả: Thời gian mở âm đạo ở nhóm DSS + TNF- và nhóm đối chứng + TNF- thì tương tự nhau

và xảy ra sớm hơn so với nhóm DSS + kháng thể đối chứng Ngoài ra, nhóm DSS + kháng thể TNF-

có một mức độ LH cao hơn sau kích thích GnRH, và interleukin-6 hệ thống thấp hơn so với nhóm DSS + kháng thể đối chứng Không thấy sự khác biệt ở tăng cân, tăng trưởng, hoặc điểm số viêm mô học đại tràng giữa ba nhóm trong quá trình thử nghiệm

Phương pháp: Viêm đại tràng gây ra bởi Dextran natri sunfat (DSS) ở chuột cái 23 ngày tuổi và các

nhóm điều trị được chia thành ba nhóm: đối chứng + kháng thể TNF- , viêm ruột do DSS + kháng thể đối chứng, và viêm ruột do DSS + kháng thể TNF- Tất cả các nhóm được theo dõi thời gian mở âm đạo cho đến ngày 33 của cuộc sống, khi đó chúng bị giết để lấy huyết thanh và thu thập ruột già

Bối cảnh: Chậm dậy thì là một mối quan tâm chung đối với trẻ em bị viêm ruột (IBD) đặc biệt là Crohn,

và có liên quan với sự tăng trưởng không đầy đủ, sự khoáng hóa xương bị khiếm khuyết và kém tự tin Hiện nay, các tác nhân sinh học là tác nhân chính ở trẻ em với các dạng IBD nghiêm trọng hơn đề kháng với điều trị thông thường Các tác nhân sinh học là protein được thiết kế có tác dụng trung hòa hoặc ngăn chặn một cách chọn lọc những tác động của các cytokine khác nhau Một trong những tác nhân thường được sử dụng là infliximab, một kháng thể đơn dòng đối với yếu tố hoại tử khối u - (TNF- ) Một số nghiên cứu đã báo cáo rằng việc sử dụng infliximab có liên quan đến cải thiện tăng trưởng ở trẻ

em bệnh Crohn mà bệnh của chúng được cải thiện Tuy nhiên, điều trị infliximab có ảnh hưởng đến thời gian của tuổi dậy thì hay không thì chưa rõ ràng Nghiên cứu thực nghiệm này được thiết kế để xác định xem liệu các kháng thể TNF- có bình thường hóa tiến triển tuổi dậy thì ? Và infliximab có gây ra bất

kỳ sự thay đổi nào trong chức năng của trục vùng dưới đồi-tuyến yên-tuyến sinh dục (HPG) ở chuột cái viêm đại tràng ?

Nghiên cứu hồi cứu tương đối lớn này khẳng định những quan sát trước đây cho rằng mặc dù thuyên giảm bệnh (theo đánh giá của đánh giá bệnh nhân toàn cầu kết hợp với các thông số lâm sàng), có cải thiện cân nặng và cải thiện tốc độ chiều cao ngắn hạn, nhưng việc sử dụng EEN có thể không liên quan với sự cải thiện bền vững ở HtSDS trong thời gian dài Do đó, cần phải tiếp tục điều tra các dạng thúc đẩy tăng trưởng mới cho những đứa trẻ này Các tác giả cũng chỉ ra rằng sự cải thiện các dấu hiệu cân nặng và viêm nhiễm đã hiện diện cho đến 4 tuần, do đó câu hỏi đặt ra có cần thiết phải đến 8 tuần EEN

DeBoer MD, Steinman J, Li Y

Division of Pediatric Endocrinology, University of Virginia, Charlottesville, VA, USA

J Gastroenterol 2012; 47: 647–654

Bình luận

Sinh học và tăng trưởng

Bình thường hóa một phần thời gian dậy thì ở chuột cái viêm đại tràng DSS được điều trị bằng kháng thể kháng TNF-

Trang 7

Bối cảnh: Hiệu quả của infliximab đối với cả việc gây ra và duy trì bệnh Crohn ở trẻ em từ mức trung

bình đến nghiêm trọng thì được công nhận rộng rãi Tuy nhiên, ảnh hưởng của nó lên sự tối ưu hóa phát triển chiều cao dường như là biến đổi Một số nghiên cứu đã chứng minh một sự gia tăng ngắn hạn ở tốc

độ tăng chiều cao trong khi điều trị infliximab, trong khi những nghiên cứu khác cho thấy không có thay đổi đáng kể trong một thời gian theo dõi tương tự Một trong những kết quả thứ phát của nghiên cứu này

là kiểm tra kết quả dài hạn của kháng thể TNF- trên sự phát triển của trẻ em với IBD

Bình luận

Assa A 1,4 , Hartman C , Weiss B , Broide E , Rosenbach Y , Zevit N , Bujanover Y , Shamir R 1,4 2,4 3,4 1,4 1,4 2,4 1,4

1 Institute of Gastroenterology, Nutrition and Liver Disease, Schneider Children’s Medical Center,

và viêm ruột Các mức độ gia tăng của LH trong mô hình viêm đại tràng DSS được điều trị bằng kháng thể TNF- thì hấp dẫn và các tác giả đã không có một lời giải thích hợp lý cho điều này Ảnh hưởng này đã không thấy được ở nhóm đối chứng cho thấy viêm đại tràng có thể tăng nhạy cảm trục hạ đồi tuyến yên để kích thích GnRH Trục hạ đồi-tuyến yên-tuyến sinh dục thì dưới sự kiểm soát phản hồi âm tính bằng cách lưu hành những steroid sinh dục, và có thể, việc đáp ứng với GnRH tăng lên có thể phản ánh trực tiếp sự

ức chế tổng hợp steroid sinh dục ở cấp độ của các cơ quan tiết steroid ngoại vi bằng các cytokine Các nhà nghiên cứu cho rằng ở người việc sử dụng các chất sinh học có thể liên quan với tiến triển tuổi dậy thì hoặc tăng cường hoạt động tuyến sinh dục, nhưng điều này đòi hỏi phải điều tra thêm nữa

Kết quả lâu dài của việc điều trị chất đối kháng yếu tố hoại tử u (TNF- )

ở bệnh nhi Crohn

Phương pháp: Trong nghiên cứu đa trung tâm này, 102 trẻ em IBD được điều trị bằng kháng thể

có độ tuổi trung bình là 13,4 ± 3,9 tuổi, trong một thời gian trung bình là 15 (2-90) tháng được nghiên cứu hồi cứu Các tác giả ghi nhận tỷ lệ đáp ứng lâu dài, yếu tố dự đoán cho mất đáp ứng cũng như hiệu quả của điều trị trên các thông số nhân trắc học

Kết luận: Phù hợp với dữ liệu hiện nay, nghiên cứu đã cho thấy các tác nhân sinh học có hiệu quả và an

toàn trong dài hạn Hơn nữa, đáp ứng lâm sàng có liên quan đến cải thiện cân nặng và BMI

Kết quả: Một đáp ứng có lợi ngắn hạn đối với bệnh đã được quan sát thấy ở 91/102 (89%) của các nhóm

sau khi gây bệnh, và một phản ứng kéo dài hơn 6 tháng xảy ra ở 84/102 (84%) Z-score BMI trung bình

đã cải thiện đáng kể ở những người đáp ứng (-0.8 đến -0.4, p = 0,04) so với người không đáp ứng Một khuynh hướng nâng cao tốc độ tăng trưởng cũng được nhận thấy ở người đáp ứng so với người không đáp ứng Chỉ có những người nam đáp ứng mới cho thấy sự gia tăng đáng kể về tốc độ tăng chiều cao trong khi điều trị

Trang 8

Khả năng cải thiện tăng trưởng của các tác nhân sinh học và hiện tượng chậm phát triển

ở trẻ em bệnh Crohn tiếp tục là một lĩnh vực gây nhiều tranh cãi Dữ liệu tăng trưởng từ nghiên cứu này cần được diễn giải thận trọng vì thiếu thông tin tăng trưởng tuổi dậy thì Ngoài ra, một tỷ lệ lớn các bệnh nhân nghiên cứu trong nhóm thì đang dùng glucocorticorticoids mà nó cũng có thể ảnh hưởng đến sự tăng trưởng

Kết quả của nghiên cứu này cho thấy rằng việc sử dụng adalimumab có thể hữu ích trong việc cải thiện tăng trưởng chiều cao ở trẻ em bệnh Crohn Bằng cách nhìn vào kết quả, sự cải thiện tốc độ tăng trưởng trong nhóm nghiên cứu này có thể được ghi cho cả hai: kiểm soát viêm và tiến triển của tuổi dậy thì, bởi vì sự gia tăng ở HtSDS có nhiều khả năng ở những người đạt được thuyên giảm, cũng như ở những trẻ trước tuổi dậy thì và trong tuổi dậy thì Tuy nhiên, nó chưa chắc chắn từ nghiên cứu này và các nghiên cứu khác cho dù cải thiện ở sự phát triển chiều cao ngắn hạn này được duy trì trong một khoảng thời gian dài, và cho dù có một cải thiện ở chiều cao cuối cùng, mà đây là mục tiêu cuối cùng ở bất kỳ bệnh nhân nào bị tổn thương tăng trưởng Người ta dự đoán rằng những nỗ lực trong tương lai sẽ được hướng dẫn để khám phá tác dụng của các tác nhân sinh học trên chiều cao cuối cùng ở người lớn bệnh Crohn khởi phát từ trẻ

Malik S 1,2 , Ahmed SF , Wilson ML , Shah N , Loganathan S , Naik S , Bourke B , Thomas A , 1 3 4 5 6 7 8

Akobeng AK , Fagbemi A , Wilson DC , Russell RK

1 Bone & Endocrine Research Group, Royal Hospital for Sick Children, Yorkhill, Glasgow, UK;

Bối cảnh: Adalimumab là một liệu pháp kháng TNF đã được chứng minh là có hiệu quả cho việc tạo ra

và duy trì sự thuyên giảm cho người lớn bị bệnh Crohn (CD) Nghiên cứu lâm sàng của adalimumb trên trẻ em thì tương đối hạn chế; chưa có nghiên cứu nào xem xét hiệu quả của adalimumb lên sự tăng trưởng Trong nghiên cứu hồi cứu đa trung tâm này các tác giả đã đánh giá ảnh hưởng của điều trị adalimumab lên sự tăng trưởng và hoạt động bệnh ở trẻ em bệnh Crohn

Kết luận: Nghiên cứu này cho thấy đáp ứng lâm sàng với điều trị adalimumab có liên quan với sự cải

thiện tăng trưởng chiều cao ở trẻ em bệnh Crohn

Phương pháp: Sự tăng trưởng và hoạt động bệnh của 36 trẻ bệnh Crohn bắt đầu với adalimumab ở độ

tuổi trung bình là 14,7 tuổi (11,3-16,8), đã được thu thập vào 6 tháng trước đó (T-6), tại lúc bắt đầu (T0)

và 6 tháng sau khi bắt đầu adalimumab (T+ 6)

Kết quả: Sự thuyên giảm xảy ra ở 28/36 trẻ em (78%) 15 trẻ em (42%) thấy sự cải thiện trong tăng

trưởng của chúng, thay đổi trung bình chiều cao z-score ( HtSDS) đã tăng từ -0,3 tại T0 đến +0,3 tại T6 Sự cải thiện ở HtSDS có nhiều khả năng ở trẻ đạt được thuyên giảm ( HtSDS), đã tăng từ -0,2 tại T0 đến +0,2 ở T 6 Ở những người trong tuổi dậy thì Tanner giai đoạn II-III, HtSDS trung bình đã cải thiện từ -0,4 tại T0 đến +0,2 ở T6 Ở những người có cơ địa ức chế miễn dịch, HtSDS tăng từ -0.2 tại T0 đến +0,1 ở T6 Khi adalimumab được chỉ định vì dị ứng infliximab, HtSDS trung bình tăng từ -0.3 tại T0 đến +0.3 tại T6 Sự thay đổi trong chiều cao SDS cũng được cải thiện ở những trẻ đang dùng prednisolone khi bắt đầu adalimumb

Bình luận

Trang 9

Bình luận

Bối cảnh: Dữ liệu từ các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng mặc dù những cải tiến trong điều trị, dinh

dưỡng và việc giảm sử dụng điều trị glucocorticoid (GC), nhưng có một mối quan tâm bền bỉ là sự tăng trưởng kém vẫn còn tồn tại Cơ chế chậm phát triển ở trẻ em bệnh IBD thì đa yếu tố, bao gồm dinh dưỡng kém, viêm mạn tính, và sử dụng steroid lâu dài Các yếu tố này ảnh hưởng đến tăng trưởng thông qua sự xáo trộn của trục GH-IGF ở cấp ngoại vi hoặc trung ương Cải thiện tăng trưởng thông qua thao tác của trục GH-IGF có thể cung cấp một lựa chọn điều trị mà cần thăm dò tiếp tục Tuy nhiên, việc đánh giá tỷ lệ suy giảm tăng trưởng ở trẻ em nhận được điều trị tiên tiến có thể cần thiết trước khi đưa ra các nghiên cứu về các hình thức thay thế của điều trị nội tiết thúc đẩy tăng trưởng

Phương pháp: Nghiên cứu này là một phân tích hồi cứu dữ liệu tăng trưởng và điều trị của 116 trẻ em

bệnh Crohn (tuổi trung bình lúc chẩn đoán là 10,8 tuổi), tại thời điểm chẩn đoán (T0), 1 năm (T1), 2 năm (T2) và 3 năm (T3) sau khi chẩn đoán và tại thời điểm theo dõi tối đa (MF)

Kết luận: Các tác giả kết luận rằng tầm vóc ngắn và tăng trưởng chậm tiếp tục được gặp phải trong

nhóm nhỏ trẻ em bệnh Crohn mặc dù có những tiến bộ trong điều trị Họ cho rằng sự thay đổi ở HtSDS

có thể là một thông số mạnh hơn ở trẻ mắc bệnh mạn tính khi có một tỷ lệ cao trẻ em trong độ tuổi quanh dậy thì

Kết quả: Có một sự giảm đáng kể trong z-score chiều cao trung bình (HtSDS) giữa T0 và T1 Không

thấy sự khác biệt đáng kể ở HtSDS sau đó Hơn nữa, không thấy sự thay đổi ở HtSDS tại T1, T2, T3 và

MF Tuy nhiên, có sự gia tăng đáng kể ở HVSDS trung bình (10th, 90th) từ -1,4 7,4 đến 7,4) đến -0,6 7,5 đến 6,1) giữa T1 và T2, từ -0,6 đến -0,1 giữa T2 và T3 và từ -0,1 đến 0,6 giữa T3 và MF Có mối liên quan nghịch giữa HtSDS và việc sử dụng prednisolone, azathioprine, methotrexate và cân nặng SDS Mối liên quan nghịch cũng được tìm thấy giữa HtSDS và sử dụng prednisolone và một mối liên quan thuận giữa HVSDS theo tuổi và WtSDS

Malik S 1,2 , Mason A 1 , Bakhshi A 3 , Young D 4 , Bishop J 2 , Garrick V 2 , McGrogan P 2 , Russell RK 2 , Ahmed FS 1

1 Department of Child Health, University of Glasgow, Bone and Endocrine Research Group, Royal

Arch Dis Child 2012; 97: 698–703

Tăng trưởng ở trẻ em nhận điều trị hiện đại chuyên biệt bệnh đối với

bệnh Crohn

Mặc dù phần lớn trẻ bệnh Crohn không phải là có tầm vóc thấp đặc biệt và có sự cải thiện tăng trưởng trong năm đầu tiên sau khi chẩn đoán, nhưng nghiên cứu này cung cấp bằng chứng rõ ràng rằng: mặc dù có những tiến bộ trong điều trị, nhưng tầm vóc thấp và tăng trưởng chậm tiếp tục được gặp phải trong một nhóm nhỏ của trẻ em bệnh Crohn HtSDS trung bình của dân số cũng như tỷ lệ trẻ em có HtSDS <-2 thì tương tự như báo cáo trong các nghiên cứu khác gần đây Quan sát của chúng tôi là, HtSDS đã không cải thiện mặc dù sự cải thiện đáng kể ở HVSDS thì tương tự như những phát hiện trong báo cáo trước đây và có thể gợi ý rằng: việc giảm tốc độ tăng trưởng, được phản ánh bằng cách cải thiện HV, thì không đủ để cải thiện chiều cao tổng thể nhưng chỉ ngăn ngừa một cách đơn giản bất kỳ sự suy giảm chiều cao nào thêm nữa Nhiều nghiên cứu

về sự phát triển ở trẻ có tình trạng phức tạp như IBD đã khám phá mối liên quan giữa tăng trưởng và các yếu tố bệnh, bao gồm cả điều trị bằng thuốc Nghiên cứu nhấn mạnh rằng việc điều tra các mối liên quan như vậy cần một thời gian dài theo dõi vì sự lựa chọn

và thời gian trị liệu IBD phụ thuộc vào sự hiện diện cấp tính và tiến bộ tiếp theo

Trang 10

Bình luận chung: Trong năm vừa qua một số nghiên cứu đã đánh giá suy giảm tăng trưởng cũng như

kết quả của các can thiệp điều trị nhằm cải thiện tăng trưởng ở trẻ em bệnh IBD Do đưa đến sự thiếu hụt chiều cao kéo dài ở trẻ bệnh IBD, có một nhu cầu cải thiện hơn nữa trong điều trị tập trung vào tăng trưởng Các bác sĩ và các nhà điều tra cần chú ý đến hơn các khía cạnh tuổi dậy thì, đặc biệt là ở nhóm có các điều kiện mà thường xuất hiện trong thời gian dậy thì, vì một số lượng đáng kể của tăng trưởng xảy

ra ở tuổi dậy thì Có ý kiến cho rằng sự phát triển và tiến triển dậy thì không bị ảnh hưởng đáng kể ở trẻ

em bệnh IBD được điều trị bằng các phương thức điều trị hiện tại., Do đó, nó sẽ có ích khi điều tra cho

dù sự phát triển ở tuổi dậy thì có tối ưu hay không Các nghiên cứu được thực hiện trong năm qua cũng nhấn mạnh sự khác nhau lớn giữa các nhà điều tra, đó là cách thức họ mô tả sự phát triển và tiến triển tuổi dậy thì Có một nhu cầu cho sự nhất quán và hòa hợp hơn trong kết quả báo cáo Cuối cùng, những nghiên cứu này không thể được thực hiện mà không có sự hợp tác chặt chẽ giữa một nhóm đa ngành của các chuyên gia từ các lĩnh vực bao gồm nhân trắc, nội tiết, y học dinh dưỡng và tiêu hóa

Lời cảm ơn: MAA được tài trợ bởi Bộ Giáo Dục Đại học của Chính phủ Libya S.F.A được hỗ trợ bởi

Văn phòng trưởng khoa học gia của Scotland và ISPEN

Mục tiêu: Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá tác động của tình trạng dinh dưỡng sớm trong cuộc

đời lên thời gian và tốc độ tăng trưởng chiều cao, chức năng phổi, biến chứng của xơ hóa nang (CF), và

sự sống còn qua 18 tuổi

Kết quả: Nhóm nghiên cứu gồm 3.142 bệnh nhân Trung bình, bệnh nhân CF đạt được WAP> 50% ở độ

tuổi 4 đã đạt đến HAP cao hơn nhiều vào giai đoạn sớm trong cuộc đời, và duy trì lợi thế chiều cao của chúng đến khi trưởng thành so với nhóm bệnh nhân CF có WAP < 50% ở độ tuổi 4 Đạt được điều này ở HAP theo WAP vào độ tuổi 4 đã gia tăng và được duy trì trong suốt thời thơ ấu, cho thấy mối liên quan

Phương pháp: Nghiên cứu bao gồm các dữ liệu lấy từ bộ phận bệnh nhân đăng ký CFF đối với những

bệnh nhân sinh ra giữa năm 1989 và năm 1992 Các bệnh nhân được phân tầng theo đỉnh percentile cân nặng theo tuổi (WAP) ở độ tuổi 4-5 tuổi thành 4 nhóm: <10th percentile, 10th đến < 25th percentile, 25th đến < 50th percentile, 50th percentile Kết quả được đánh giá qua năm 2009 ở tuổi 18 và so sánh giữa chiều cao theo tuổi percentile (HAP), dự đoán thể tích thở trong 1 giây (FEV1)%, và sự sống còn được thực hiện qua các tầng Kết quả khác gồm BMI, đợt bệnh phổi cấp, xơ hóa nang liên quan đến đái tháo đường (CFRD), nhiễm trùng Pseudomonas aeruginosa, và sự sống còn

Y en EH 1 , Quinton H , Borowitz D 2 3

1 Department of Pediatrics, Harvard Medical School, Division of Gastroenterology and Nutrition,

2

Children’s Hospital Boston, Boston, MA, USA; D artmouth Medical School, Lebanon, NH, USA;

3 Department of Pediatrics, State University of New York at Buffalo School of Medicine and

Biomedical Sciences, Women and Children’s Hospital of Buffalo, Buffalo, NY, USA

J Pediatr 2013; 162: 530–535.e1

Xơ hóa nang

Tình trạng dinh dưỡng tốt hơn trong thời thơ ấu có liên quan đến kết quả lâm sàng được cải thiện và sự sống còn ở những bệnh nhân bị xơ hóa nang

Trang 11

Mục đích: Kết quả chính của nghiên cứu là đánh giá mô hình tăng trưởng theo chiều dọc trong một

nhóm lớn các bệnh nhân Pháp bệnh CF và xác định mức độ mà sự phát triển ở tuổi dậy thì ảnh hưởng lên chiều cao cuối cùng Ngoài ra, nghiên cứu này nhằm mục đích khám phá những mối quan hệ tiềm năng giữa tăng trưởng, tình trạng dinh dưỡng và chức năng hô hấp ở trẻ em bệnh CF

Phương pháp: Nghiên cứu bao gồm các dữ liệu từ bộ phận đăng ký CF người Pháp thu thập từ năm

1999 đến năm 2004 Tám nhóm bệnh nhân trong độ tuổi 8-15 vào năm 1999 đã được lựa chọn Đặc điểm cá nhân (tuổi, chiều cao, cân nặng) và chức năng phổi, được đánh giá bởi FEV1 được ghi lại Các phương tiện chiều cao cá nhân trong mỗi nhóm tuổi được sử dụng để xây dựng các đường cong chiều cao theo giới tính

Kết quả: Nghiên cứu đã đánh giá mẫu gồm 729 trẻ em CF trong 1.108 trẻ em sinh ra giữa năm 1984 và

năm 1991 và tiếp theo là đăng ký từ 1999-2004 331 em gái có đường cong chiều cao rất gần với đường cong trung bình cho đến 12 tuổi, khi đường cong xuống đến đường cong tham chiếu -1 SD Điểm z score trung bình của chiều cao trung bình là -0,32 lúc 8 tuổi và -0,53 lúc 11 tuổi Điểm z score sau đó giảm đến mức tối thiểu là -0,88 ở tuổi 15, và vẫn đang chịu dưới -0,50 sau độ tuổi này Chiều cao cuối cùng 160,4 cm đã đạt được ở tuổi 19, trễ hơn nhiều so với tuổi chiều cao cuối cùng trong quần thể tham khảo đó là đạt được ở tuổi 16 Tuổi bắt đầu dậy thì cũng tương tự như tham khảo, nhưng đỉnh tốc độ chiều cao (PHV) thì thấp hơn, mặc dù xảy ra ở tuổi tương tự như các em gái tham khảo, và sức bật chiều cao dậy thì chiếm 16,7% của chiều cao cuối cùng người trưởng thành (so với 18,6% ở các em gái khỏe mạnh) Đường cong chiều cao trung bình của trẻ em trai (n = 389) cho thấy phát triển bình thường cho đến 14 tuổi, và sau đó hạ cấp xuống -1 SD so với đường cong tham chiếu Chiều cao cuối cùng ở các em trai đã đạt được ở tuổi 19, tương tự như tuổi chiều cao cuối cùng của các em trai khỏe mạnh Chiều cao cuối cùng trung bình ở các em trai bệnh CF thì thấp hơn so với dân số tổng thể (z-score -0,73) Tuổi bắt đầu dậy thì cũng tương tự như ở các em trai tham khảo (13 tuổi), nhưng PHV thấp hơn và sức bật chiều cao dậy thì chiếm 15,5% của chiều cao cuối cùng của các em trai bệnh CF (18,4% ở các em trai khỏe mạnh) Không thấy mối tương quan giữa BMI và PHV (r = 0,03, p = 0,71 ở các em gái; r = 0,05, p = 0,44

ở các em trai) Không thấy mối quan hệ hoặc giữa chức năng phổi thể hiện bằng FEV1 và tăng trưởng ở trẻ em trai (r = 0,09, p = 0,16), nhưng có một mối quan hệ thuận yếu nhưng quan trọng giữa tăng trưởng

Kết luận: Bệnh nhân trong percentiles cân nặng và chiều cao cao nhất ở độ tuổi 4 đã đạt được chiều cao

tốt hơn cho đến 18 tuổi, có ít đợt phổi cấp tính, mất ít ngày hơn trong bệnh viện, và đã cải thiện sự sống còn

Bournez M 1 , Bellis B , Huet F 2 1

1 Department of Paediatrics, University Hospital, Dijon, France; National Institute of Demographic 2

Studies, Paris, France

Arch Dis Child 2012; 97: 714–720

Sự tăng trưởng trong thời gian xơ hóa nang tuổi dậy thì: đánh giá hồi cứu của một nhóm nghiên cứu người Pháp

Trang 12

Kết luận: Nghiên cứu theo dõi chiều dọc nhóm bệnh nhân người Pháp này cho thấy sự khởi đầu của tuổi

dậy thì ở trẻ em bệnh CF thì có thể so sánh với trẻ em khỏe mạnh, nhưng PHV thì giảm và đóng góp ít hơn vào chiều cao cuối cùng người trưởng thành Chiều cao cuối cùng thì thấp hơn đáng kể so với chiều cao cuối cùng dân số tham chiếu, mặc dù nó vẫn ở trong mức bình thường Sự tăng trưởng và chức năng phổi không có tương quan ở các em trai, tuy nhiên có một tương quan yếu nhưng có ý nghĩa giữa chức năng phổi và sự tăng trưởng ở các em gái, mà điều này có thể được giải thích bởi tiêu hao năng lượng lúc nghĩ ngơi ở các em gái thì lớn hơn hơn các em trai sau khi bứt phá giai đoạn dậy thì

Mục tiêu: Sử dụng dữ liệu ở bộ phận đăng ký CFF Hoa Kỳ về nhân trắc và theo dõi của bệnh nhân, các

tác giả đánh giá mối quan hệ giữa tốc độ chiều cao trước tuổi dậy thì và dậy thì (thời gian và cường độ) với chiều cao trưởng thành cuối cùng ở trẻ em bệnh CF

Phương pháp: Sử dụng các phép đo chiều cao, các tác giả đã xây dựng đường cong tốc độ chiều cao

tuổi dậy thì (PHV) cho các bệnh nhân CF Sử dụng các tiêu chuẩn theo chiều dọc của PHV cho trẻ em Bắc Mỹ khỏe mạnh được phát triển bởi Tanner và Davies, PHV đã được phân loại vào bình thường (PHV không bị chậm hay không giảm), chậm (PHV bị chậm nhưng không giảm), giảm (PHV giảm nhưng không bị chậm), và bị chậm và giảm Kiểu hình CF, tình trạng dinh dưỡng trước tuổi dậy thì và tiềm năng chiều cao tối đa đã được giới thiệu như là các biến

Kết quả: Trong số 4.198 cá nhân bệnh CF sinh năm 1984-1987, 309 chết, 951 bị mất theo dõi trước 18

tuổi, và 1.076 có dưới 3 số đo chiều cao mỗi năm trong độ tuổi 10-18, còn lại 1.862 bệnh nhân bao gồm trong nghiên cứu PHV ở trẻ em với CF xảy ra trễ (0,5 năm trễ ở nam và 0,6 năm trễ ở nữ) và cho thấy giảm độ lớn (ít hơn 1,1 cm ở nam và 1,3 cm ở nữ) Kết quả từ những đường cong cá nhân phù hợp cho thấy rằng PHV thì bình thường trong 60,3%, chậm trễ trong 9,4%, giảm trong 20,8%, và bị chậm và giảm trong 5,3% Trong số còn lại 4,2%, PHV có thể không được xác định chắc chắn Nhiều em trai có PHV bình thường hơn em gái, p = 0,002 Độ lớn PHV và tổng số đạt được từ độ cao dậm nhảy ở tuổi dậy thì thì khác nhau và phụ thuộc vào việc dậy thì có bị chậm và / hoặc suy giảm hay không Xem xét chiều cao của cha mẹ, 80% trẻ em trai với CF và 77% các em gái với CF có chiều cao ở bên dưới percentiles chiều cao trung bình của cha mẹ chúng Phân tích đa biến cho thấy tuổi PHV, cường độ PHV, và chiều cao trước tuổi dậy thì ở độ tuổi 7 là yếu tố dự báo mạnh mẽ của chiều cao trưởng thành (tất cả với p

<0,001) Cụ thể, PHV về sau có liên quan với cường độ nhỏ hơn của PHV nhưng lớn hơn chiều cao trưởng thành Cường độ PHV lớn hơn có liên quan với chiều cao trưởng thành lớn hơn sau khi điều chỉnh tuổi PHV

Kết luận: Sử dụng mô hình đường cong tăng trưởng bán tham số mới lạ, nghiên cứu này cho thấy 23%

trẻ em trai với CF và 30% trẻ em gái với CF đã bị suy giảm cường độ PHV ở bên dưới 5th percentiles của trẻ em khỏe mạnh Bên cạnh đó, trẻ em CF sinh ra trong giữa thập niên 1980 đã trải qua PHV dậy thì chậm so với trẻ em khỏe mạnh và có chiều cao cuối cùng thấp hơn, phần lớn (80% em trai và 70% em gái) đã không đạt được tiềm năng di truyền của chúng Chiều cao trước tuổi dậy thì ở độ tuổi 7 được nhận thấy là một yếu tố quyết định mạnh của chiều cao người trưởng thành ở cả hai giới Vì khả năng lớn nhất để đạt được tăng trưởng tối ưu ở độ tuổi 6 thì thông qua tối đa hóa sự tăng cân trong những năm đầu tiên của cuộc sống, nghiên cứu này nhấn mạnh hơn nữa tầm quan trọng của việc duy trì tăng trưởng đầy đủ trong suốt trước tuổi vị thành niên

Zhang Z 1 , Lindstrom MJ , Lai HJ 2 1,2,3

1 Departments of Nutritional Sciences, Biostatistics and Medical Informatics, and Pediatrics, 2 3

University of Wisconsin-Madison, Madison, WI, USA

J Pediatr 2013; 163: 376–382.e1

Tốc độ chiều cao dậy thì và các mối liên quan với chiều cao tiền dậy thì và trưởng thành ở bệnh xơ hóa nang

Trang 13

Mục đích: Mục đích của nghiên cứu này là điều tra sự tiến triển của tình trạng dinh dưỡng trong thời

gian theo dõi dài hạn một nhóm CF ở bệnh viện CF cho người lớn ở Toronto

Kết luận: Nghiên cứu nhóm dựa trên dân số theo chiều dọc này cho thấy một sự chuyển đổi đáng kể

trong khoảng thời gian 25 năm trong việc phân phối các chỉ số BMI ở người lớn với CF Trong một nghiên cứu thuần tập hiện đại của các cá nhân với CF, có ít đối tượng hơn bị suy dinh dưỡng và nhiều đối tượng hơn bị thừa cân so với 20 năm trước đó Nghiên cứu cho thấy những cải thiện trong tình trạng dinh dưỡng thì có liên quan với những cải thiện trong chức năng phổi, nó thì tốt hơn trong các phân nhóm BMI trung bình của dân số CF

Phương pháp: Nghiên cứu khảo sát tình trạng dinh dưỡng được đánh giá là WHO BMI và mối quan hệ

giữa BMI và chức năng phổi ở 909 cá nhân với CF FEV1 được biểu hiện như một tỷ lệ phần trăm của giá trị dự đoán bình thường đối với chiều cao và giới tính (FEV1% được dự đoán), chiều cao và cân nặng được đo vào mỗi lần khám Các đối tượng được xếp vào 4 nhóm người dựa trên năm sinh (<1960, 1960-1969, 1970-1979, >1979) và BMI được chia ra theo năm mà số đo lâm sàng đã được thực hiện (<1990, 1991-1999,> 2000) Do sự phân bố lệch của BMI và tuổi tác, các biến này đã được biến chuyển dạng logarit

Kết quả: Nghiên cứu cohort bao gồm 909 cá nhân được theo dõi từ 1985-2011 BMI trung bình đã tăng

từ 20,7 ± 2,7 trước 1990 đến -22,3 ± 3,4 trong thập niên gần đây nhất (2000-2011) Tỷ lệ các đối tượng thiếu cân cũng đã giảm từ 20,6% trước 1990 đến 11,1% trong thập niên gần đây nhất Tỷ lệ các đối tượng đủ cân giảm ít (72,4% trong năm 1980, 72,6% trong năm 1990, đến 70,5% trong những năm 2000), trong khi tỷ lệ thừa cân / béo phì tăng từ 7,0% trong năm 1980 lên 15,8% trong những năm 1990

và 18,4% trong nhóm cohort gần đây nhất (xu hướng p <0,001) Các mô hình đa biến cho thấy, tổng thể, chỉ số BMI tăng đến 0,4% / năm từ 1985 đến 2011 Tỷ lệ BMI tăng ở các đối tượng PS (Pancreatic Status) thì lớn hơn nhiều so với các đối tượng PI (3,8% so với 0,4% / năm, p <0.001) BMI của 651 cá nhân được đánh giá từ năm 2000 đến 2011 cho thấy rằng 17% các đối tượng CF bị nhẹ cân, 60% có trọng lượng phù hợp, 18% bị thừa cân, và 3,8% bị béo phì Sau khi điều chỉnh tuổi, chiều cao, giới tính, CFRD, tình trạng tuyến tụy, và nhóm sinh, chức năng phổi cho thấy sự cải thiện khi BMI tăng lên Độ lớn của sự cải thiện FEV1 thì khác nhau trên các phân loại BMI: trong nhóm thiếu cân, tăng 10% ở chỉ

số BMI dẫn đến một sự gia tăng tương đối 4% ở FEV1; trong các đối tượng trong mức BMI đủ có sự gia tăng tương đối 5% ở FEV1, và trong nhóm thừa cân có sự gia tăng 2% ở FEV1 Trung bình, FEV1 giảm với tỷ lệ 1% / năm, và không có khác biệt đáng kể trong tỷ lệ FEV1 giảm ở ba phân loại chỉ số BMI Dự báo độc lập có ý nghĩa khác của FEV1, đã được nhận diện trong mô hình đa biến, bao gồm tuổi [tuổi lớn hơn có liên quan với FEV1% thấp hơn (đã dự đoán; p <0.001), tình trạng tụy (đối tượng PS có FEV1%

dự đoán cao hơn), và sự hiện diện của CFRD (đối tượng CFRD có FEV1% dự đoán thấp hơn)]

Stephenson AL 1–4 , Mannik LA , Walsh S , Brotherwood M , Robert R , Darling PB , Nisenbaum R , 1 1 1 1 2,4 2,4

Moerman J , Stanojevic S

1 The Adult Cystic Fibrosis Program, St Michael’s Hospital, Toronto, ON, Canada; T he Keenan 2

Research Centre in the Li Ka Shing Knowledge Institute of St Michael’s Hospital, Toronto, ON,

Canada; T he Research Institute, The Hospital for Sick Children, Toronto, ON, Canada; Departments

of Medicine and Nutritional Sciences and Institute of Health Policy, Management, and Evaluation, Dalla Lana School of Public Health, University of Toronto, Toronto, ON, Canada

Am J Clin Nutr 2013; 97: 872–877

Xu hướng theo chiều dọc về tình trạng dinh dưỡng và mối quan hệ giữa chức

năng phổi với BMI trong xơ hóa nang: một nghiên cứu cohort dựa trên dân số

Trang 14

Mục đích: Mối quan hệ giữa tình trạng dinh dưỡng và sự sống còn ở những bệnh nhân CF đã được

nghiên cứu nhiều Mục đích nghiên cứu này là đánh giá mối quan hệ giữa còi cọc (như một số đo của suy dinh dưỡng mạn tính) và tỷ lệ tử vong trong một nghiên cứu bệnh chứng lồng nhau trên nhóm dân

số CF

Phương pháp: Nghiên cứu bệnh chứng hồi cứu này bao gồm một nhóm 393 bệnh nhân CF lớn hơn 6

tuổi, 193 bệnh nhi (dưới 18 tuổi) và 200 bệnh nhân người lớn được theo dõi tại Trung tâm khu vực CF ở Palermo và tại Trung tâm vệ tinh ở Messina qua tháng 12 năm 2007 Các trường hợp nghiên cứu bao gồm 95 bệnh nhân tử vong, 47 trẻ em và 48 người lớn Nhóm chứng là 298 bệnh nhân còn sống, 146 trẻ

và 152 lớn hơn 18 tuổi Vóc người thấp bé (còi cọc) được xác định bởi chiều cao <5th percentile Cơ thể suy mòn được xác định bởi chỉ số khối cơ thể (BMI) <10 th percentile ở bệnh nhân trẻ em, và <18,5 ở người lớn

Kết quả: Tỷ lệ còi cọc là 24,4%, tương tự như ở nam và nữ (24,5 và 24,3%, theo thứ tự) Tỷ lệ suy mòn

là 35,3%; ở nữ không cao hơn đáng kể so với ở nam giới (38,3 và 32,3%, theo thứ tự) Trong phân tích

đa biến, còi cọc, cơ thể suy mòn và FEV1 dự đoán nguy cơ tử vong một cách có ý nghĩa Còi cọc (OR 2,22, độ tin cậy 95% 1,10-4,46), suy mòn (OR 5.27, độ tin cậy 95% 2,66-10,41), và FEV1 <40% dự đoán (OR 10,60; độ tin cậy 95% 5,43-20,67) đã làm tăng nguy cơ tử vong ở nhóm nghiên cứu này

Kết luận: Trong nghiên cứu này, còi cọc, suy mòn và FEV1 là những yếu tố dự đoán độc lập cho nguy

cơ tử vong

Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm mục đích đánh giá: (1) tỷ lệ thiếu cân [chẩn đoán bằng chỉ số khối cơ thể

(BMI) phần trăm percentile] và thiếu hụt khối lượng mỡ tự do (FFM), (2) mối liên quan của sự thiếu hụt FFM với những thay đổi trong thành phần cơ thể và tăng tỷ lệ mắc bệnh (giảm chức năng phổi, mất mật

độ khoáng xương), và (3) sử dụng chỉ số BMI percentile như dự đoán sự thiếu hụt FFM và tỉ lệ mắc bệnh

Phương pháp: 77 trẻ em, tuổi từ 8-21, bệnh CF được đánh giá trong nghiên cứu hồi cứu này Chiều cao

và cân nặng thu thập được và BMI percentile được tính toán Khối mỡ tự do (FFM), khối mỡ (FM),

1 Clinical and Biomolecular Hepato-Gastroenterology of Pediatric and Adult Age, University Hospital

1 Center for Translational Research in Aging and Longevity, Donald W Reynolds Institute on Aging,

2

University of Arkansas for Medical Sciences, Little Rock, AR, USA; Pediatric Pulmonology, University

of Arkansas for Medical Sciences and Arkansas Children’s Hospital, Little Rock, AR, USA

Clin Nutr 2012; 31: 927–933

Còi cọc là một yếu tố dự báo độc lập với tỉ lệ tử vong ở những bệnh nhân bị

xơ hóa nang

Sử dụng phần trăm percentile chỉ số khối cơ thể để xác định sự suy giảm khối lượng

mỡ tự do ở trẻ em bị xơ hóa nang

Trang 15

thành phần khoáng xương (BMC) và mật độ (BMD) đã thu được bằng phương pháp DXA (dual-energy x-ray absorp- tionmetry)

Kết luận: FFM cạn kiệt ở trẻ em với CF thì phổ biến và vẫn chưa được phát hiện khi sử dụng điểm cắt

10% BMI, chỉ ra rằng một phần lớn bệnh nhân FFM cạn kiệt ẩn sẽ bị bỏ qua khi suy dinh dưỡng chỉ được định nghĩa bởi các tiêu chí này Giá trị FFM thấp thì liên quan với giảm chức năng phổi và mất chất khoáng của xương cho thấy tầm quan trọng lâm sàng của đa thành phần cơ thể ở trẻ em với CF

Mục tiêu: Nghiên cứu này điều tra ảnh hưởng của biến đổi gien lên tình trạng dinh dưỡng của trẻ em

bệnh xơ hóa nang (CF)

Kết quả: Dữ liệu chiều cao và cân nặng theo chiều dọc được thu thập đối với 1.124 đối tượng bệnh CF

từ 800 gia đình (130 cặp song sinh đồng hợp tử và 952 anh chị em ruột) Chiều cao z-score trung bình

Phương pháp: Dữ liệu chiều cao và cân nặng theo nghiên cứu chiều dọc đã được thu thập trong năm

2000-2010 từ một nghiên cứu trên anh chị em ruột sinh đôi bệnh CF Các thành viên gia đình đều có cùng kiểu gien CFTR BMI và điểm z score cho cân nặng và chiều cao được tính toán Một kiểu hình đã nhận được bằng cách tính toán điểm z score BMI trung bình mỗi quý từ 5-10 tuổi (BMI-z5to10) Giới tính, nhóm sinh, tuổi lúc chẩn đoán CF, chẩn đoán bằng cách sàng lọc trẻ sơ sinh, đồng hợp tử F508del, suy tuyến tụy (PI, Pancreatic Insufficiency), bệnh sử của phân su ruột (MI), sự hiện diện của mổ dạ dày, FEVq6to10, và loại bảo hiểm được đánh giá để đóng góp vào sự biến đổi trong chỉ số BMI- z5to10

Kết quả: 24 trẻ em (31%) bị suy dinh dưỡng, theo định nghĩa của FFMI và / hoặc tiêu chuẩn BMI%;

16% có chỉ số BMI% thấp và thấp FFMI; 14% có BMI bình thường và FFMI thấp (sự suy giảm ẩn), và 1% có BMI% thấp và FFMI bình thường Nhìn chung, 30% bệnh nhân được đặc trưng bởi sự suy giảm FFM Sự nhạy cảm của BMI% để phát hiện FFM cạn kiệt là 52% và độ đặc hiệu là 98% BMC (tỷ lệ phần trăm của dữ liệu chuẩn) thì giảm ở nhóm có chỉ số BMI% và FFMI thấp (p <0,001) và ở nhóm FFMI cạn kiệt ẩn (p <0,05), so với nhóm có chỉ số BMI% và nhóm FFMI bình thường BMD của toàn

bộ cơ thể và z-score cột sống thì thấp hơn (p <0,01) ở những người có chỉ số BMI% và FFM thấp, so với BMI% và FFM bình thường Bên dưới 20th BMI%, tỷ lệ phần trăm của bệnh nhân có z-score BMD <-1

SD đã tăng dốc trong khi không thấy sự khác biệt về tỷ lệ bệnh nhân có mật độ xương giảm ở nhóm 49th BMI% FEV1 và dung tích sống (FVC) thì giảm trong cả hai nhóm: nhóm FFM cạn kiệt ẩn (p

20-<0,05) và nhóm BMI% và FFM thấp (p <0,01) FEV1 có tương quan đáng kể với FFM (% tiêu chuẩn, r

= 0,39, p <0.001) và FM (% tiêu chuẩn, r = 0,30, p <0,01) nhưng không phải với FM / FFM (r = 0,21) Với sự suy giảm trong chỉ số BMI%, cũng có một sự giảm dần FEV1 trung bình Bên dưới 20th chỉ số BMI%, FEV1 trung bình giảm xuống dưới 80% dự đoán, một ngưỡng cho chức năng phổi bất thường ở trẻ em với CF Điều tra điểm cắt BMI% mà sẽ dự đoán FFM cạn kiệt và kết quả lâm sàng nghèo nàn đã cho thấy sự giảm dần ở FFM% với sự suy giảm ở chỉ số BMI% Bên dưới 20th chỉ số BMI%, có giảm FFM% bên dưới 90% của giá trị tiêu chuẩn tương ứng với FFMI < 5th percentile 57% bệnh nhân ở nhóm 10-20th BMI% có FFM cạn kiệt, so với 18% ở nhóm 20-30th chỉ số BMI% Gần như tất cả bệnh nhân (92%) có BMI% <10 thì suy giảm FFM

Bradley GM 1 , Blackman SM , Watson CP , Doshi VK , Cutting GR 1 2 2 1,2

1 Department of Pediatrics, Johns Hopkins University, Baltimore, MD, USA; McKusick-Nathans 2

Institute of Genetic Medicine, Johns Hopkins University, Baltimore, MD, USA

Am J Clin Nutr 2012; 96: 1299–1308

Biến đổi di truyền lên tình trạng dinh dưỡng trong bệnh xơ hóa nang

Trang 16

cho tất cả các đối tượng là -0.58 (trong khoảng -4.61 đến 2,46), tương ứng với 28th percentile CDC; score cân nặng trung bình là -0.42 (trong khoảng -6.23 đến 2.38), tương ứng với 34th percentile CDC Z-score BMI trung bình là -0.07 (trong khoảng -3.89 đến 2.30), tương ứng với 47th percentile CDC Không có khác biệt đáng kể ở z-score BMI trung bình giữa các cặp song sinh đồng hợp tử và anh chị em ruột, và các cặp sinh đôi dị hợp tử và anh chị em ruột Tất cả biến số trong mô hình vẫn là các yếu tố dự đoán độc lập của BMI-z5to10 trong các mô hình đa biến Các kiểu hình z-score BMI được điều chỉnh

Z-đã được tạo ra đối với giới tính nữ, nhóm sinh, PI, và bệnh sử của MI (BMI- ) và trong một phân tích zadj

thứ phát đối với BMI-zadj cộng thêm đối với FEVq6to10 (BMI-zadjFEV), trong đó xem xét ảnh hưởng của chức năng phổi lên BMI đối với những phân tích liên kết và di truyền tiếp theo Có một mức độ cao phù hợp đối với BMI ở những cá nhân có cùng 100% gien, đối với song sinh đồng hợp tử (0,80-0,85 cho 58-

65 cặp) Các nhóm sinh đôi dị hợp tử có hệ số tương quan thấp hơn (0,58-0,66 cho 21 cặp đôi dị hợp tử; 0,41-0,57 cho 13 cặp đôi dị hợp tử đồng giới tính), điều này đã chỉ ra một sự phù hợp thấp hơn trong nhóm sinh đôi này có cùng trung bình 50% gien Hệ số tương quan của nhóm sinh đôi dị hợp tử là 0,5 (0,25-0,31 cho 122-148 cặp) Những kết quả liên kết của các cá nhân với PI (BMI-zadj-PI; 358 cặp anh chị em ruột) đã cho thấy 2 đỉnh đáng kể toàn bộ gien trên nhiễm sắc thể 1p36.1 (LOD: 5.3) và 5q14 (LOD: 5.1) Hạn chế phân tích đối với 219 cặp song sinh đồng hợp tử cho các đột biến F508del (BMI-) đã duy trì đỉnh trên nhiễm sắc thể 1p36.1 (LOD: 4,6) nhưng giảm bằng chứng cho mối liên kết

zadj-F508del

trên nhiễm sắc thể 5q14 (LOD: 3.4) Điều chỉnh chỉ số BMI cho chức năng phổi (BMI-zadjFEV-PI; 350 cặp anh chị em ruột) đã làm giảm điểm LOD cho các vị trí trên nhiễm sắc thể 1p36.1 (LOD: 3,4) nhưng tăng bằng chứng cho mối liên kết ở khu vực lân cận từ nhiễm sắc thể 1p31-22 ( LOD: 2.4); liên kết trên nhiễm sắc thể 5q14 (LOD: 5,2) thì không bị ảnh hưởng Định lượng vị trí điểm (QTL) di truyền ở 1p36.1 và 5q14 sau khi hiệu chỉnh sai lệch tiềm ẩn đã đại diện cho 16% và 15% phương sai chỉ số BMI

Kết luận: Đây là nghiên cứu đầu tiên trên tình trạng dinh dưỡng của trẻ sinh đôi và anh chị em ruột có

bệnh CF, điều này cho thấy những gien khác với CFTR ảnh hưởng đến sự thay đổi trong chỉ số BMI Cụ thể, kết quả nghiên cứu này đã gợi ý rằng những gien được sửa đổi nằm ở vị trí 1p36.1 có ảnh hưởng đến

cả hai: tình trạng dinh dưỡng và chức năng phổi, trong khi nhiễm sắc thể 5q14 bao gồm một gien làm thay đổi tình trạng dinh dưỡng thì độc lập với mức độ nghiêm trọng bệnh phổi

Mục tiêu: Tổng quan hệ thống Cochrane nhằm đánh giá những lợi ích của tư vấn chế độ ăn hoặc bổ

sung dinh dưỡng đường uống trong ít nhất 1 tháng ở bệnh nhân CF trên những kết quả khác nhau, tức là tăng cân và tăng trưởng, thành phần cơ thể (kết quả chính), chức năng phổi, tác dụng phụ trên đường tiêu hóa hoặc mức độ hoạt động (kết quả thứ cấp)

Phương pháp: Các tác giả đã tìm kiếm các đăng ký thử nghiệm CF Cochrane đối với những thử

nghiệm ngẫu nhiên hoặc bán ngẫu nhiên có đối chứng, so sánh việc sử dụng các chất bổ sung năng lượng đường uống để tăng lượng calori mà không có sự can thiệp cụ thể

Kết quả: Việc tìm kiếm tài liệu đã nhận diện 21 thử nghiệm Chỉ có ba thử nghiệm (131 bệnh nhân) thỏa

các tiêu chuẩn [3-5] và được đưa vào đa phân tích cuối cùng Không có khác biệt đáng kể giữa các nhóm tại bất kỳ thời điểm nào liên quan đến thay đổi về cân nặng, percentile cân nặng, chiều cao, percentile

Smyth RL 1 , Walters S 2

1 Institute of Child Health, UCL, London, UK; c/o CFGD Group, Institute of Child Health, 2

University of Liverpool, Liverpool, UK

Cochrane Database Syst Rev 2012; 10: CD000406

Bổ sung năng lượng đường uống cho bệnh xơ hóa nang

Trang 17

chiều cao, cân nặng so với chiều cao hoặc chỉ số khối cơ thể (BMI) (kết quả chính) Không có khác biệt giữa can thiệp (bổ sung bằng miệng) và nhóm không can thiệp liên quan đến các kết quả thứ phát bao gồm tổng lượng calo (ăn uống hoặc bổ sung), protein, chất béo, hành vi ăn hoặc các biện pháp về chất lượng của cuộc sống Thể tích thở trong 1 giây (FEV1) (% dự đoán) đã được giảm đáng kể sau 3 tháng ở nhóm đối chứng nhưng không phải lúc 6 và 12 tháng Sự thay đổi ở thể tích dung tích sống (FVC) (chỉ được báo cáo bởi Poustie và cộng sự [5]) thì không khác biệt đáng kể giữa các nhóm ở 3, 6 hoặc 12 tháng Nghiên cứu duy nhất [5] đánh giá sự hiện diện tác dụng phụ của việc bổ sung đường miệng đã báo cáo không có sự khác biệt về tiêu chảy, chán ăn, đầy hơi bụng, các cơn của hội chứng tắc ruột xa và bất kỳ tác dụng phụ khác giữa các nhóm can thiệp và không can thiệp

Mục tiêu: Mục tiêu chính của nghiên cứu là đánh giá khả năng bổ sung dinh dưỡng bằng cách sử dụng

một ống thông dạ dày (GT) để cải thiện tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em có CF và BMI thấp Hơn nữa, nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của vị trí GT và bổ sung dinh dưỡng lên chức năng phổi, số ca nhập viện

có bệnh phổi tăng nặng thêm và các biến chứng trong và sau khi đặt GT

Kết quả: Đặt GT thì không có biến chứng trong 15/20 trẻ và công thức protein toàn phần đã được trao

cho 18/20 trẻ GT đã phân phối khoảng 50% trong 110-200% khuyến cáo chế độ ăn uống (DRI) Việc

bổ sung GT toàn bộ đã được phân phối liên tục qua đêm Một liều men tuyến tụy đã được cho vào đầu và

Phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu này đã đánh giá 40 bệnh nhân (20 trẻ em với GT và 20 đối chứng) từ

2-20 tuổi với các dữ liệu ít nhất là 1 năm sau khi đặt GT Mỗi một trong những "trường hợp " (trẻ em với GT) được cặp kết hợp với một đứa trẻ CF không có GT (“đối chứng”) Các trường hợp và đối chứng được kết hợp với tuổi ± 2,5 năm, giới tính, tình trạng tuyến tụy, BMI phần trăm percentile ± 10%, và khi

có sẵn, FEV1 ± 20% Dữ liệu về kỹ thuật đặt GT, biến chứng trong và sau khi đặt GT và bổ sung dinh dưỡng thông qua GT được thu thập trong nhóm “trường hợp” Đối với nhóm chứng, việc sử dụng bổ sung dinh dưỡng bằng miệng, dùng chất kích thích ngon miệng và / hoặc thuyên chuyển khoa tiêu hóa cho đặt GT bất cứ lúc nào trong thời gian theo dõi 1 năm đã được ghi nhận Dữ liệu dinh dưỡng và chức năng phổi (bao gồm chiều cao, cân nặng, chỉ số BMI, và phần trăm FEV1 dự đoán) đã thu được trong lần tuyển dụng, 6 tháng (± 3 tháng) và 1 năm theo dõi (± 3 tháng) Số lần nhập viện cần thiết cho đợt phổi nặng trong thời gian theo dõi 1 năm cũng đã được ghi nhận

Kết luận: Tổng quan hệ thống này cho thấy rằng việc sử dụng ngắn hạn bổ sung bằng miệng không

chứng minh được tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em với CF và suy dinh dưỡng từ nhẹ đến trung bình Vì không có khác biệt về tình trạng dinh dưỡng hoặc chức năng phổi với việc sử dụng các chất bổ sung dinh dưỡng bằng miệng (đã được báo cáo), người ta có thể kết luận rằng chỉ có lời khuyên chế độ ăn uống cũng là một cách tiếp cận thỏa đáng cho quản lý những người có CF và suy dinh dưỡng vừa phải Tổng quan hệ thống này đã đặt ra câu hỏi về các tiện ích của việc thực hành kê toa bổ sung dinh dưỡng bằng miệng cho việc chăm sóc dinh dưỡng và phục hồi chức năng cho trẻ em với CF

Bradley GM 1 , Carson KA , Leonard AR , Mogayzel PJ Jr , Oliva-Hemker M 2 1 3 1

1 Division of Pediatric Gastroenterology and Nutrition, Johns Hopkins University School of Medicine,

Ngày đăng: 12/05/2021, 00:11

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w