1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Về cách giải nghĩa từ tiếng việt (qua quyển từ điển đại nam quốc âm tự vị của huỳnh tịnh của)

103 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN THỊ PHƯỢNG UYÊN VỀ CÁCH GIẢI NGHĨA TỪ TIẾNG VIỆT QUA QUYỂN TỪ ĐIỂN ĐẠI NAM QUỐC ÂM TỰ VỊ CỦA HUỲNH TỊNH CỦA LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGHÀNH: NGÔN NGỮ HỌC MÃ SỐ: 60.22.01 NHDKH:

Trang 1

NGUYỄN THỊ PHƯỢNG UYÊN

VỀ CÁCH GIẢI NGHĨA TỪ TIẾNG VIỆT (QUA QUYỂN

TỪ ĐIỂN ĐẠI NAM QUỐC ÂM TỰ VỊ CỦA HUỲNH

TỊNH CỦA)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGHÀNH: NGÔN NGỮ HỌC

MÃ SỐ: 60.22.01 NHDKH: TS ĐỖ THỊ BÍCH LÀI

TP HỒ CHÍ MINH – 2012

Trang 2

2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài ………5

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài ………9

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiển ……… 11

5 Phương pháp nghiên cứu ……… 11

6 Bố cục luận văn ………13

CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ THUYẾT CƠ SỞ 1 Khái niệm từ điển, từ điển học, phân loại từ điển ……… 14

1.1 Từ điển ………14

1.2 Từ điển học ……… 18

2 Khái niệm từ, ngữ Phân loại từ xét về mục đích cấu tạo ……… 20

2.1 Khái niệm Từ, phân loại từ ……… 20

2.2 Khái niệm Ngữ ……… 22

2.3 Khái niệm về Câu ……… 24

2.4 Khái niệm về Thành ngữ ……… 24

3 Nghĩa của từ và phương pháp miêu tả nghĩa của từ ………25

3.1 Nghĩa của từ ……….25

3.2 Phương pháp miêu tả nghĩa của Từ ……… 26

4 Đôi điều giới thiệu về tác giả Huỳnh Tịnh Của và hoàn cảnh ra ………… 27

đời của tác phẩm Đại Nam Quốc Âm Tự Vị 4.1 Giới thiệu về Huỳnh Tịnh Của ……… 27

4.2 Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm Đại Nam quấc âm tự vị ……… 28

TIỂU KẾT ………32 CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC VÀ CẤU TẠO CỦA CÁC

MỤC TỪ TRONG QUYỂN TỪ ĐIỂN ĐẠI NAM QUẤC ÂM TỰ VỊ

Trang 3

2 Cấu tạo của các mục từ có trong quyển từ điển ……… 40

2.1 Phạm vi mục từ ………40

2.2 Các loại mục từ ………42

2.2.1 Mục từ là từ đơn ……… 44

2.2.2 Mục từ là một từ ghép ……… 48

2.2.3 mục từ là láy ……… 49

2.2.4 Mục từ là một từ ngẫu hợp ………49

2.2.5 Mục từ là một ngữ ……… 50

2.3 Chính tả ……….52

Tiểu kết CHƯƠNG III: CÁCH GIẢI NGHĨA TỪ TIẾNG VIỆT TRONG QUYỂN TỪ ĐIỂN ĐẠI NAM QUẤC ÂM TỰ VỊ 1 Nguyên tắc giải nghĩa chung của quyển từ điển ……… 62

1.1 Giải nghĩa bằng một từ ……… 62

1.2 Giải nghĩa bằng một ngữ ………65

1.3 Giải nghĩa bằng một câu ……….70

2 Cách giải nghĩa các nhóm từ cụ thể trong đại nam quốc âm tự vị ………….75

2.1 Nhóm từ cổ ………78

2.2 Nhóm từ đã có sự biến đổi so với hiện tại ……… 80

2.3 Giải nghĩa các thành ngữ - tục ngữ ……… 83

3 Nhận xét chung về cách giải nghĩa từ tiếng việt ở giai đoạn cuối ………93 thế kỷ XIX qua cách giải nghĩa của Đại Nam quấc âm tự vị

TIỂU KẾT

Trang 5

cổ xưa đến tận ngày nay Ngôn ngữ cũng cần có sự phát triển và không thể tồn tại lằm ngoài quy luật phát triển, sự biến đổi của ngôn ngữ diễn ra tuần tự dần dần và chịu sự ảnh hưởng từ sự biến đổi xã hội Tiếng việt không nằm ngoài quy luật biến đổi ấy, bắt đầu từ thời kỳ ngàn năm bắc thuộc,Việt Nam chịu ảnh hưởng nền văn hóa Trung Hoa,

tư tưởng Nho gia nên chữ viết của người Việt lúc bấy giờ là chữ Hán và đến sau khoảng thế kỷ thứ 10 thì xuất hiện thêm chữ Nôm, một dạng chữ tượng hình dễ viết dễ nhớ hơn chữ hán Tuy có nhiều ưu điểm hơn nhưng chữ Nôm vẫn chỉ sử dụng giới hạn trong một bộ phận nhất định và không được các học giả tri thức yêu chuộng, chữ Nôm tồn tài song song với chữ Hán nhưng vẫn không thể chiếm ưu thế hơn chữ Hán Đến thế kỷ 16 khi các giáo sĩ Tây phương đầu tiên đến Việt Nam và giao tiếp với ngôn ngữ Việt, rồi vì nhu cầu mà bắt đầu ghi lại tiếng Việt dưới dạng chữ La tinh Từ những mẫu

tự La Tinh đầu tiên đã tạo tiền đề để sau một thế kỷ chữ quốc ngữ đã ra đời phát triển rực rở dưới sự đón nhận rộng rãi từ mọi tầng lớp nhân dân đánh bật chữ Hán và chữ Nôm trở thành ngôn ngữ chính thức mà ngày nay ta hay gọi là chữ quốc ngữ Cũng giống như mọi ngôn ngữ, chữ quốc ngữ đi từ thô sơ ban đầu đến sự hoàn thiện như ngày nay là cả một quá trình,tìm hiểu về cách giải nghĩa của từ tiếng việt giai đoạn đầu

chính là cách ta nhìn nhận rỏ hơn về quá trình phát triển của tiếng Việt

Trang 6

Trong buổi bình minh của nền văn học chữ Quốc Ngữ, khi mà chữ Hán – Nôm vẫn chiếm vị thế tộc tôn trên văn đàn, chữ Quốc Ngữ còn bị khoát áo ngoại xâm, bị giới tri thức Nho gia thời bấy giờ đồng loạt bài trừ, những ai có ý định tiếp nhận hay sử dụng chữ Quốc Ngữ đều bị cho là có xu hướng thân Tây, bán nước Trong hoàn cảnh

ấy Huỳnh Tịnh Của cùng với Trương Vĩnh Ký hai học giả tiếp nhận nền giáo dục Tây phương hiện đại nhận thức rỏ sử tiến bộ và ưu việt của chữ Quốc Ngữ đã dũng cảm đứng lên làm ngọn cờ tiên phong đưa chữ Quốc Ngữ tiếp cận gần hơn với người Việt bản địa, đóng góp rất nhiều công lao trong việc phổ biến chữ Quốc Ngữ vào quảng đại quần chúng Không nhìn nhận sự việc theo quan điểm chính trị, chúng ta phải khẳng định Huỳnh Tịnh Của và Trương Vĩnh Ký thật sự là hai người có công rất lớn đối với

sự ra đời và thông dụng của chữ Quốc Ngữ ngày nay Vậy mà trong khi học giả Trương Vĩnh Ký được khá nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và nhận định khá đầy đủ, số lượng sách báo nói về nhà văn Ki- Tô giáo này cũng nhiều thì Huỳnh Tịnh Của được nhắc đến ít hơn, sơ sài hơn và cho đến hiện giờ số lượng những bài nghiên cứu tường tận về cuộc đời và sự nghiệp biên khảo của ông cũng còn rất hạn chế Do đó công lao của ông cho văn hóa dân tộc còn chưa được tôn vinh đúng mức

Huỳnh Tịnh Của đóng góp rất nhiều tác phẩm hay cho nền văn học đầu thế kỷ XIX, đáng kể nhất chính là bộ tự điển Đại Nam Quốc Âm Tự Vị tác phẩm đưa tên tuổi của ông trở thành bất tử Đại Nam Quốc Âm Tự Vị ra đời vào năm 1898 những năm cuối cùng của thế kỷ XIX nên có rất nhiều học giả đã xếp bộ tự điển này vào giai đoạn đầu thế kỷ XX để tiện bề so sánh với các bộ tự điển ra đời cùng thời kỳ này cách nhau chỉ đỗ vài thập kỷ Tuy nhiên là tác phẩm tự điển giải nghĩa tiếng Việt bằng tiếng Việt đầu tiên của Việt Nam, Đại Nam Quốc Âm Tự Vị có cái nhìn hướng nghiên cứu xác hơn, gần hơn với ngôn ngữ tiếng Việt những năm cuối thế kỷ XIX và những năm đầu của thế kỷ XX so với các tác phẩm cùng thời, đặc biệt là vốn phương ngữ Nam Bộ và thành ngữ - tục ngữ phong phú được sử dụng trong tác phẩm là một kho tàng vô giá cho những học giả muốn nghiên cứu về phương ngữ Nam Bộ thời kỳ đầu

Trang 7

Tiếng Việt là ngôn ngữ muôn hình vạn trạng, sự kỳ diệu và phức tạp của tiếng Việt thể hiện qua cách biến hóa của 26 chữ cái Sự hình thành phát triển của các từ ngữ thật kỳ diệu, có những chữ ra đời ngay từ ngày đầu trải qua ba thế kỷ vẫn không hề có

sự thay đổi về cả cách viết lẫn ý nghĩa ban đầu của nó và cũng có rất nhiều chữ tiếng Việt ngày nay ta sử dụng ý nghĩa hiện tại của nó đã xa rời hoàn toàn với nghĩa ban đầu,

có rất nhiều từ ngữ xưa mà ngày nay ta không còn dùng đến nữa hay những từ mà đôi lúc ta tưởng là mới hóa ra ông cha ta đã dùng nó từ rất lâu Sự kỳ diệu khi nghiên cứu lịch sữ của ngôn ngữ, từ sự hình thành, ra đời, phát triển và biến đổi của ngôn ngữ cho đến việc vay mượn, sự đồng hóa ngôn ngữ ngoại lai Tất cả những yếu tố đó như những mãnh ghép đa dạng ghép thành một bức tranh ngôn ngữ hiện đại đầy màu sắc

mà ở đây chúng tôi chỉ có thể đi vào tìm hiểu sơ lược về những mãnh ghép đầu tiên về

sự hình thành và biến đổi của tiếng việt ở giai đoạn cuôi thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX thông qua việc khảo sát bộ tự điển mà theo chúng tôi là đại diện tiêu biểu nhất cho hình ảnh ngôn ngữ thời kỳ này, bộ Đại Nam Quốc Âm Tự Vị

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Việc nghiên cứu từ điển nói chung và từ điển xuất bản ở Việt Nam nói riêng đã được giới ngôn ngữ học quan tâm đến rất nhiều, việc khảo sát, nghiên cứu, nhận xét về một quyển từ điển nào đó hầu như là một công việc luôn đi sát theo sau khi có một quyển từ điển được ấn hành Có rất nhiều tác giả lớn, nhiều quyển từ điển có giá trị về mặt nghiên cứu lịch sữ cũng như ứng dụng thực tế như cuối thế kỷ XIX đến nữa đầu thế kỷ XX thì ta có những nhà từ điển lớn : J.Bonnet, M.Genibrel, Huỳnh Tịnh Của, Đào Văn Tập, Thanh Nghị, Văn Tân, Hội Khai Trí Tiến Đức…giai đoạn nữa sau thế

kỷ XX đến hiện nay thì có: Hoàng Phê, Vương Lộc, Đỗ Hữu Châu, Hoàng Văn Hành, Chu Bích Thu, Nguyễn Văn Tình, Nguyễn Ngọc Trâm, Đào Thản, Bùi Khắc Việt, Nguyễn Văn Khang, Nguyễn Đức Tồn, Lê Khả Kế, Phạm Hùng Việt, Nguyễn Văn Tu, Nguyễn Nhã Bản…đã có nhiều công trình nghiên cứu bàn luận về các tác phẩm từ điển

ra đời ở Việt Nam

Trang 8

Đại Nam Quốc Âm Tự Vị là tác phẩm từ điển giải thích tiếng Việt đầu tiên ra đời vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khi mà phong trào sử dụng chữ quốc ngữ đang được cổ súy và phát triển rầm rộ Trước khi có bộ từ điển này thì ta chỉ có một vài quyển từ điển đối dịch tiếng Việt như: Dictionnarie Annamitico – Tatium ( 1899) của J.Bonnet, Dictionnarie Annamite – Francais ( 1896) của M.Genibrel và Annam – Lusitan – Latin xuất bản ở Roma năm 1651 ( thường gọi là từ điển Việt – Bồ - La), đây

là quyển từ điển đối dịch tiếng Việt cổ nhất thường do các cố đạo Tây Ban Nha sử dụng trong việc truyền giáo ở Việt Nam ngày trước

Trong giai đoạn nữa đầu thế kỷ XX, cùng thời với quyển Đại Nam Quốc Âm Tự

Vị của Huỳnh Tịnh Của còn có bốn quyển từ điển tiêu biểu là: Việt Nam Tự Điển (

1931) của Hội Khai Trí Tiến Đức; Tự Điển Việt Nam Phổ Thông (1951) của Đào Văn

Tập; Tự Điển Việt Nam của Lê Văn Đức; Việt Nam Tân Từ Điển( 1952) của Thanh Nghị; Những quyển từ điển này đều mắc nhiều lỗi khác nhau và chưa đạt đến trình độ

là một quyển từ điển giải thích nghĩa tiếng Việt hoàn chỉnh tuy nhiên nó cũng có những đóng góp to lớn tích cực cho công cuộc xây dựng và biên soạn bộ từ điển tiếng Việt hoàn chỉnh về sau

1.Từ Điển Tiếng Việt đây là công trình của một nhóm nghiên cứu do Văn Tân chủ biên, xuất bản đầu tiên năm 1967 và tái bản có bổ sung và chỉnh lý vào năm 1994

2 Tự Điển Việt Nam của Lê Văn Đức, xuất bản năm 1970

3 Từ Điển Tiếng Việt của Viện nghiên cứu ngôn ngữ học, quyển này được biên soạn dưới sự chỉ đạo của GS Hoàng Phê, xuất bản năm 1988 và sau đó tái bản có chỉnh lý nhiều lần Đây được xem là quyển từ điển có uy tín nhất trong giai đoạn hiện nay

Giai đoạn từ nữa cuối thế kỷ XX đến hiện nay, ngành từ điển học phát triển rầm

rộ, số lượng các tác phẩm từ điển ra đời ngày một nhiều và phong phú trên tất cả các lĩnh vực không chỉ đáp ứng nhu cầu tra cứu mà góp phần trong công tác hướng dẫn, giảng dạy Các nhà biên soạn từ điển đương đại đã đáp ứng đầy đủ nhu cầu của đại đa

Trang 9

số đọc giả và người nghiên cứu từ điển Tuy nhiên do sự hạn chế về dung lượng nên trong luận văn này chúng tôi chỉ xin dẫn ra ba quyển từ điển giải thích mà chúng tôi cho là hoàn chỉnh nhất hiện nay

Còn về các bài nghiên cứu của các tác giả đương đại luận văn xin liệt kê ra đây một số tác phẩm tiêu biểu sau:

1 Hoàng Phê, Nguyễn Ngọc Trâm, Một số vấn đề về từ điển học ( Qua việc biên

soạn Từ điển tiếng Việt) Tạp chí Ngôn ngữ số 3 năm 1993

2 Vương Lộc, Một vài nhận xét về từ điển giải thích của ta, Tạp chí Ngôn ngữ số

3, năm 1993

3 Đỗ Hữu Châu, Một số ý kiến về việc giải nghĩa từ trong Từ điển tiếng Việt, Tạp

chí Ngôn ngữ số 2, năm 1969

4 Đọc Từ điển tiếng Việt phổ thông Tập I, Tạp chí Ngôn ngữ số 3 năm 1991

5 Đại từ điển tiếng Việt, Một công trình nghiêm túc và thiết thực, Báo Nhân dân

19/3/1999

6 Nguyễn Văn Tình, Từ điển tiếng Việt năm 2000, những thành tựu đáng ghi

nhận, Báo Nhân dân ngày 12/12/2000

7 Nguyễn Ngọc Trâm, Một vài nhận xét về cấu trúc vĩ mô của Từ điển giải thích

tiếng Việt ,( trong Một số vần đề về từ điển học), Nxb KHXH HN, 1997

8 Chu Bích Thu, Một số nét về cấu trúc vĩ mô của Từ điển giải thích trong Một số

Trang 10

12 Lê Khả Kế, Một vài suy nghĩ về Từ điển song ngữ, (trong Một số vấn đề về từ

điển học), Nxb KHXH HN , 1997

13 Nguyễn Văn Tu, Về việc giải thích từ nhiều nghĩa trong Từ điển tiếng Việt, Tạp

chí Ngôn ngữ số 2 , 1969

14 Hoàng Văn Hành ( Chủ biên)

- Từ điển Từ Láy tiếng Việt, Nxb Giáo dục Hà Nội, 1994

- Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ, Nxb KHXH HN, 1994

15 Hoàng Phê, Phân tích ngữ nghĩa, Tạp chí Ngôn ngữ số 5, 1975

16 Phạm Hùng Việt, Về việc biên soạn từ điển cở lớn trên cơ sở ứng dụng thông

tin để xây dựng ngân hàng dữ liệu và hổ trợ cho công tác biên soạn, Tạp chí

1 Phạm Xuân Chương, Nhận xét về cấu tạo và cách đối dịch trong quyển Từ

điển giải thích thuật ngữ Công nghệ thông tin Anh – Anh – Việt, Luận văn thạc sĩ,

trường Đại học KHXH&NV, 2006

2 Nguyễn Bích Vân, Khảo sát về cấu tạo và cách giải nghĩa của quyển Từ điển

Y học Anh – Việt, Luận văn thạc sĩ, trường Đại học KHXH&NV, 2004

3 Nguyễn Thị Thanh Thúy, Trường từ vựng - ngữ nghĩa và cách đối dịch trong

quyển Từ điển Máy tính Anh – Anh – Việt, Luận văn thạc sĩ, trường Đại học

KHXH&NV, 2007

4 Đặng Thái Minh, Từ điển Điện tử tần số tiếng Việt, với các tiện ích phục vụ

ngôn ngữ học so sánh, Luận án tiến sĩ, trường Đại Học KHXH&NV, 1999

Trang 11

5 Trương Thùy Hương, Khảo sát về cấu tạo và cách đối dịch của quyển Từ điển

Danh từ từ thư viện thông tin Anh – Việt, Luận văn thạc sĩ, trường Đại Học

KHXH&NV, 2006

6 Lê Thị Diệu Anh, Xây dựng Từ điển Ẩn dụ tiếng Việt, Luận văn thạc sị, trường

Đại Học KHXH&NV, TPHCM, 2009

7 Lê Thị Minh Nghuyệt, Cấu trúc vị mô và cấu trức vi mô của Từ điển song ngữ,

chuyên nghành Y học, Luận văn thạc sĩ, trường Đại Học KHXH&NV-TPHCM, 2004

8 Nguyễn Thị Hường, Về vấn đề xây dựng Từ điển đối chiếu thuật ngữ Y học Anh

- Việt và Việt - Anh, Luận văn thạc sĩ, trường Đại Học KHXH&NV TPHCM, 2003

Riêng về các tác phẩm nghiên cứu về Huỳnh Tịnh Của và đại Nam Quốc Âm Tự

Vị thì cho đến nay ngoài công trình nghiên cứu; Huỳnh Tịnh Của và công trình biên

soạn bộ Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Nguyễn Văn Y ra thì chỉ còn một số bài viết hay

một số tác phẩm khái quát chung chung về cuộc đời, sự nghiệp và một số tác phẩm tiêu biểu của ông chứ chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về vấn đề Cấu tạo và cách giải nghĩa của các từ trong quyển từ điển Đại Nam Quấc Âm Tự Vị Vì vậy có thể nói luận văn của chúng tôi là công trình đầu tiên nghiên cứu về đối tượng này

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

Để đánh giá đúng về một quyển từ điển nào đó ta phải xem xét nó trên nhiều yếu tố khác nhau, có nhiều học giả, tác giả, nhà biên soạn từ điển đã đưa ra nhiều tiêu chí để đánh giá khác nhau Luận văn xin trích ra đây quan điểm đánh giá của tác giả Chu Bích Thuỷ, trong 12 tiêu chí chung nhất mà tác giả đưa ra chúng tôi đã thu thập và trình bày một cách ngắn gọn thành 6 tiêu chí sau đây:

1 Có bảng từ đầy đủ nhất theo yêu cầu của người dùng

2 Có những thông tin bách khoa cung cấp kiến thức chung cho người dùng

3 Có cách giải thích dễ hiểu, có ví dụ minh hoạ cách sử dụng trong ngữ lưu

4 Có các thông tin về chính tả, cách phát âm, về phong cách sử dụng

Trang 12

5 Có các giải thích về ngữ cố định ( Thành ngữ, Tục ngữ)

6 Có các thông tin về ngữ pháp như từ loại, về các phụ lục cần thiết như đơn vị

đo lường, dụng cụ phương tiện

Xuất phát từ quan điểm đánh giá như vậy về đối tượng nghiên cứu, luận văn của chúng tôi hướng đến những mục đích và nhiệm vụ chính sau đây:

1 Khảo sát, phân tích, nhận xét về phương diện cấu tạo của quyển từ điển, cụ thể là: khảo sát, phân tích, nhận xét các loại mục từ, số lượng mục từ, chính tả của quyển từ điển

2 Khảo sát, phân tích, nhận xét và thông qua đó hướng tới mục đích làm sáng tỏ

về cách giải nghĩa của quyển từ điển Đại Nam Quấc Âm Tự Vị, cụ thể là xem xét vấn

đề này trên phương diện cách thức giải nghĩa

3 Từ kết quả nhận xét trên, đưa ra nhận định về cách giải nghĩa chung cho từ tiêng vIệT cuối thế kỷ XIX

Từ ba nhiệm vụ trên đây luận văn của chúng tôi sẽ tiếp tục thực hiện thêm một nhiệm vụ nữa, đó chính là từ những nghiên cứu của mình chúng tôi sẽ đi đến nhận định

về công lao của soạn giả Huỳnh Tịnh Của trong hoạt động làm phong phú hơn cho vốn

từ vựng nước nhà Tuy nhiên do sự giới hạn về dung lượng công trình và thời gian thực hiện cũng như hạn chế về mặt năng lục của người thực hiện nên nhiệm vụ này chỉ

có tính chất bước đầu

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Khi bàn về cách giải nghĩa của từ tiếng Việt cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX thông qua quyển từ điển Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Của, luận văn chủ yếu muốn hướng đến việc xây dựng cách giải nghĩa của từ tiếng Việt nữa cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX trên cơ sở nghiên cứu quyển Từ điển Đại Nam Quấc Âm Tự

Vị của Huỳnh Tịnh Của Trong quá trình nghiên, cứu luận văn còn nghiên cứu tổng quan về cấu trúc của quyển từ điển và cấu tạo của các mục từ có trong quyển từ điển trên

Trang 13

Tuy nhiên, muốn nhận định đúng mức giá trị của bộ từ điển này, luận văn sẽ đặt

nó vào vị trí thời gian và không gian khi nó xuất hiện, nếu trong quá trình nghiên cứu chúng tôi có so sánh nó với một vài bộ từ điển ra đời sau này thì cũng chỉ là muốn làm cho mọi người hiểu rỏ nghĩa của một số từ cổ, từ lạ mà ngày nay gần như không còn dùng đến hoặc nghĩa của nó đã biến đổi nhiều và cũng muốn nhận rỏ cái tài làm tự điển của nhà văn biên khảo Huỳnh Tịnh Của chứ không bao giờ nên căn cứ vào đó mà phê phán giá trị tác phẩm

Để giúp mọi người có một cái nhìn tương đối đầy đủ, chính xác mà không phải mất qua nhiều thời gian, mỗi điểm nhận xét về cấu tạo hay cách giải nghĩa của tác phẩm chúng tôi chỉ đưa ra một số dẫn chứng tiêu biểu vừa đủ, không quá dài để mọi người hiểu rỏ hơn về cách cấu tạo và cách giải nghĩa từ tiếng Việt mà tác giả sử dụng trong quyển từ điển này

4 Ý nghĩa lý luận và thực tiển

Việc nghiên cứu về cách giải nghĩa của từ tiếng Việt cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX thông qua quyển từ điển Việt Nam Quấc Âm Tự Vị có những ý nghĩa lí luận

và thực tiển sau:

4.1 Ý nghĩa lí luận

Các kết quả nghiên cứu của luận văn có thể góp phần khẳng định thêm lý thuyết xây dựng từ điển, các công việc và nhiệm vụ cần thiết nhất cho việc biên soạn một tác phẩm từ điển

4.2 Ý nghĩa thực tiển

Qua kết quả khảo sát, phân tích và nhận xét của công trình này, có thể có những điều bỏ ích cho việc sửa chữa, bổ sung về hai phương diện cấu tạo và cách giải nghĩa của quyển từ điển đó

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này chúng tôi có sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

5.1 phương pháp thống kê

Trang 14

Trong luận văn này chúng tôi sủ dụng phương pháp thống kê đối với các nhiệm vụ: thống kê mục từ, thống kê các loại mục từ xét về mặt cấu tạo, về cách giải nghĩa

Từ các con số thống kê có tính định lượng sẽ đưa ra những nhận xét có tính định chất

về vấn đề được đặt ra

5.2 phương pháp miêu tả phân tích cấu trúc ngữ pháp

Một trong những nhiệm vụ của luận văn là khảo sát mặt cấu tạo của quyển từ điển, vì vậy ngữ liệu của quyển từ điển cũng được xử lý từ góc độ cấu tạo, cấu trúc ngữ pháp cho nên luận văn của chúng tôi đã vận dụng phương pháp miêu tả, phân tích cấu trúc ngữ pháp

5.3 phương pháp phân tích ngữ nghĩa

Muốn khảo sát, phân tích, nhận xét về các vấn đề giải nghĩa, cách thức giải nghĩa trong quyển từ điển nói trên chúng tôi còn vận dụng phương pháp phân tích ngữ nghĩa trong quá trình xử lý tư liệu từ đó đưa ra kết luận về đối tượng

5.4 phương pháp so sánh đối chiếu

Đề tài nghiên cứu mà luận văn chúng tôi hướng đến là cách giải nghĩa của tiếng Việt cuối thế kỷ XIX thông qua quyển từ điển Đại Nam Quốc Âm Từ Vị Tuy rằng đây

là một quyển từ điển giải thích đơn ngữ nhưng do tác phẩm này ra đời vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX nên từ ngữ và cách giải nghĩa trong quyển từ điển này còn có nhiều từ rất lạ và hiện nay có khi không còn dùng đến hay một số nét nghĩa đã phai nhạt ít nhiều vì vậy luận văn sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu ngữ nghĩa với một vài từ điện hiện đại nhằm mục đích giúp người đọc hiểu rỏ hơn nghĩa của các từ cổ

và cách thấy được sử chuyển biến của ngôn từ

Một trong những nguyên tắc cơ bản trong nghiên cứu đó chính là không bao giờ suy diễn bất kỳ điều gì mà không căn cứ trên những dữ kiện xác thực, trình bày thành thực những gì mình tim hiểu được, nêu ra những quan điểm nghiên cứu của bản thân trên cơ sở tìm hiểu, tiếp thu kiến thức giáo khoa và thông tin có sẳn

6 Bố cục của luận văn

Trang 15

Luận văn của chúng tôi gồm 120 trang, ngoài phần dẫn nhập và phần kết luận ra luận văn có ba chương chính như sau:

Chương I có tiêu đề là: “Một số vần đề chung về lý thuyết cơ sở” Trong đó

chúng tôi trình bày một số khái niệm chung về từ, cách giải nghĩa của từ, khái niệm về

từ điển, từ điển học và giới thiệu sơ lược về quyển từ điển Đại Nam Quấc Âm Tự Vị

Chương II có tiêu đề: “Tổng quan về cấu trúc của quyển từ điển Đại Nam

Quấc Âm Tự Vị Và cấu tạo của các mục từ trong quyển từ điển đó” Trong đó

chúng tôi trình bày các vấn đề về bẳng từ, mục từ, chính tả, về cấu tạo của quyển từ điển và các trường từ vựng ngữ nghĩa có trong quyển từ điển

Chương III có tiêu đề là: “Cách giải nghĩa từ tiếng Việt qua quyển từ điển

Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Của” Trong đó, chúng tôi trình bày các

phương pháp giải nghĩa theo nghĩa chung của quyển từ điển, giải nghĩa các trường hợp

từ cổ, từ địa phương, các thành ngữ tục ngữ có trong quyển từ điển Nêu ra một số đánh giá mang tính cá nhân về cách cấu tạo và cách giải nghĩa của bộ tự điển

Trang 16

CHƯƠNG IMỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LÝ THUYẾT CƠ SỞ

1 KHÁI NIỆM VỀ TỪ ĐIỂN, TỪ ĐIỂN HỌC VÀ PHÂN LOẠI TỪ ĐIỂN

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã lựa chọn và nhất chí với quan điểm của tác giả Nguyễn Thiện Giáp trình bày trong quyển Cơ sở ngôn ngữ học đại cương (2008), Nxb KHXH, ngoài ra cũng tham khảo thêm ý kiến của các tác giả; Mai Ngọc Trừ, Vũ

Đức Nghiệu và Hoàng Trọng Phiến đã trình bày trong quyển Cơ sở ngôn ngữ học và

tiếng Việt (2006), Nxb Giáo Dục, về các khái niệm sau đây: Từ, Ngữ, Câu, Thuật ngữ,

Từ điển giải thích, Từ điển đối chiếu

1.1 Từ Điển

1.1.1 Định nghĩa

Theo tác giả Phạm Hùng Việt (trong chuyên đề Một số vấn đề về từ điển và từ

điển học, giảng dạy tại lớp Cao học chuyên nghành Ngôn ngữ học), trên thế giới có rất

nhiều định nghĩa về từ điển, có thể dẫn ra đây một vài định nghĩa sau:

- Từ điển là loại sách xử lí từng đơn vị từ vựng của một ngôn ngữ (hoặc đặc trưng nào đó của một số từ ngữ), được sắp xếp theo một trật tự nhất định để dễ tra tìm, thường là trật tự chữ cái, mô tả từ ngữ về chữ viết, phát âm, nguồn gốc và lịch sử, hoặc một mặt nào đó Ở những từ điển loại lớn, ngoài thông tin được cung cấp còn kèm theo

ví dụ trích dẫn văn học

- Từ điển là một tập hợp các đơn vị từ vựng của ngôn ngữ hoặc một lĩnh vực hoạt động của con người, được sắp xếp theo trật tự chữ cái, mỗi đơn vị được cung cấp một lượng thông tin nào đó về ý nghĩa, đồng thời cung cấp cách sử dụng phổ biến

- Từ điển là sách tra cứu của các từ (hoặc hình vị, tổ hợp, kết hợp cố định…) được sắp xếp theo một trật tự nhất định (với các loại từ điển khác nhau), giải thích ý

Trang 17

nghĩa các đơn vị, cung cấp các thông tin khác về chúng, dịch chúng sang ngôn ngữ khác hoặc cung cấp thông tin về đối tượng mà chúng biểu thị

- Quyển sách giải thích và liệt kê các từ của một ngôn ngữ hoặc dịch các từ đó

ra một hoặc nhiều ngôn ngữ khác và thường sắp xếp theo thứ tự a, b, c

Ở Việt Nam, nhiều tác giả đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về từ điển như:

Từ điển là sách tra cứu các từ ngữ, xếp theo thứ tự nhất định

(Từ điển tiếng Việt thông dụng, Nguyễn Như Ý Chủ biên, Nxb Giáo Dục, tái bản lần thứ 4, 2005.)

Trong luận văn này, chúng tôi nhất trí với định nghĩa của tác giả Hoàng Phê trong quyển Từ điển tiếng Việt

(Viện ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng – Trung tâm từ điển, 2005)

Từ điển là sách tra cứu tập hợp các đơn vị ngôn ngữ (thường là đơn vị từ vựng)

và sắp xếp theo một thứ tự nhất định, cung cấp một số kiến thức cần thiết đối với từng đơn vị

1.1.2 Phân loại từ điển

Từ điển thường được chia làm nhiều loại, nhưng có hai loại từ điển phổ biến là

từ điển giải thích và từ điển đối chiếu

Từ điển giải thích: hay còn gọi là từ điển một ngôn ngữ Nhiệm vụ của từ điển này là giải thích ngữ nghĩa, cách sử dụng các từ trong một ngôn ngữ, ví dụ như từ điển giải thích tiếng Việt, từ điển giải thích tiếng Anh, từ điển giải thích tiếng Nga, v.v…

Từ điển đối chiếu: đây là loại từ điển đối chiếu các từ của một ngôn ngữ nào đó với một hoặc nhiều ngôn ngữ khác Từ điển đối chiếu hai ngôn ngữ gọi là từ điển song ngữ, từ điển đối chiếu ba ngôn ngữ gọi là từ điển tam ngữ, từ điển đối chiếu nhiều ngôn ngữ gọi là từ điển đa ngữ Ngoài ra từ điển đối chiếu còn có thể đối chiếu từ toàn dân với từ địa phương, v.v…

1.1.3 Đặc điểm của từ điển

Trang 18

Các định nghĩa trên đây có cách trình bày, diễn đạt, phân tích khác nhau, nhưng đều tập trung phản ánh một số đặc điểm của từ điển Cũng theo tác giả Phạm Hùng Việt, từ điển có những đặc điểm chính sau đây:

a) Đặc điểm về mục đích sử dụng:

Từ điển là sách tra cứu hoặc còn gọi là sách công cụ Nếu ở các sách thông thường nội dung được trình bày từ đầu đến cuối, các chương, phần liên kết với nhau theo trật tự logic, thì trong từ điển mỗi mục từ được xử lý riêng biệt và độc lập tương đối Người sử dụng không đọc từ điẻn từ đầu đén cuối mà chỉ cần tìm tòi lời giải thích cho chính điều cụ thể đang đặt ra Để phục vụ tra cứu, các đơn vị trong từ điển được sắp xếp thao một trật tự nhất định, thường là trật tự hình thức để người đọc dễ tìm kiếm

b) Đặc điểm về tính khách quan, chuẩn mực của thông tin:

Thông tin trong từ điển – một loại sách tra cứu, phải có tính khách quan, tính tiêu chuẩn Từ điển không phải là một công trình sáng tác, các thông tin trong từ điển không phải là những kiến giải, những luận chứng, ý kiến cá nhân mà là sự đúc kết hiểu biết từ tri thức truyền thống của nhân loại, từ thực tế sử dụng ngôn ngữ, từ thành quả

và kết quả nghiên cứu ngôn ngữ hiện thời Nói cách khác, thông tin trong từ điển có tính chất giáo khoa, tính điển chế

c) Đặc điểm về cung cấp thông tin:

Đơn vị được cung cấp thông tin trong từ điển là kí hiệu ngôn ngữ như từ, hình

vị, tổ hợp từ cố định,… có nghĩa là từ điển cung cấp thông tin về ký hiệu Tuy nhiên, từ luôn gắn với sự vật mà nó hiển thị Nghĩa của từ được hình thành trong nhận thức của người nói qua sự liên tưởng giữa vỏ ngữ âm của từ với khái niệm và sự vật mà nó biểu thị Do đó trong từ điển vừa có những thông tin về ký hiệu, vừa có những thông tin về

sự vật Điều này thể hiện rỏ nhất trong từ điển giải thích, từ điển song ngữ Loại từ điển chỉ cung cấp thông tin về kí hiệu là từ điển chính tả, từ điển viết tắc, từ điển ngữ pháp… và chỉ cung cấp thông tin về sự vật là từ điển bách khoa, từ điển chuyên môn…

Trang 19

d) Đặc điểm về cấu trúc:

Từ điển là một công trình cấu trúc đôi Bên trái cuốn từ điển, xét theo chiều dọc,

là bảng kê danh mục từ ngữ được xếp theo một trật tự nhất định Danh mục này được chọn lựa theo yêu cầu, mục đích tính chất của quyển từ điển và tạo thành cấu trúc chặt chẽ trong toàn bộ quyển từ điển, gọi là cấu trúc vĩ mô Cấu trúc vĩ mô của từ điển là một chỉnh thể nghiêm ngặc, mỗi đơn vị tồn tại trong đó đều có lí do quan hệ với những đơn vị khác Bên phải cuốn từ điển là khối ngữ liệu được cắt ngang với một đoạn văn bản độc lập, tạo thành cấu trúc vi mô Cấu trúc vi mô biểu thị toàn bộ hệ thống thông tin khác nhau, và những hệ thống này được lấp đầy bởi những thông tin cụ thể trong mỗi từ cụ thể

Có những sách tra cứu mà lý do nào đó tính chất điển chế bị hạn chế, tính hệ thống trong cấu trúc còn tùy tiện, lỏng lẻo, thì người ta không gọi là từ điển (sổ tay dùng từ, sổ tay phương ngữ,…) Ngược lại có những tác phẩm không mang tên từ điển,

không sắp xếp theo trật tự hình thức, nhưng lại là từ điển đích thực chẳng hạn; Nhĩ Nhã

của Trung Quốc biên soạn cách đây hơn 3000 năm, sắp xếp theo đề tài, là quyển từ

điển ý niệm xưa nhất thế giới; Cũng được sắp xếp theo đề tài, Vân đài loại ngữ của Lê

Quý Đôn là từ điển bách khoa đầu tiên của Việt Nam

1.1.4 Công dụng của từ điển

Trên thế giới có nhiều người gọi từ điển là thầy giáo không dùng lời gọi là thầy giáo vì từ điển dạy con người nhiều điều, cho ta kiến thức, hiểu biết trong suốt cả đời Những tri thức, thông tin mà từ điển cung cấp thể hiện cụ thể ở mấy dạng sau:

a) Cung cấp thông tin liên quan đến các mặt từ vựng, ngữ nghĩa, ngữ pháp, chử viết, phát âm… Giúp người đọc nắm chắc và nhuần nhuyễn phương pháp biểu đạt của ngôn ngữ, nâng cao trình độ ngữ văn Đó là công dụng của từ điển một thứ tiếng (từ điển đơn ngữ)

Trang 20

b) Cung cấp kiến thức để sử dụng một ngôn ngữ khác (trong đó có mức độ: đọc hiểu được, dịch xuôi, giao tiếp, dịch ngược hoặc viết bằng ngôn ngữ khác) Đó là công dụng của từ điển song ngữ

c) Cung cấp hiểu biết sâu sắc về một lĩnh vực, đó là công dụng của từ điển bách khoa

d) Cung cấp hiểu biết về thuật ngữ chuyên môn, từ ngữ khoa học kỹ thuật trên

cơ sở nắm vững tiếng mẹ đẽ Đó là công dụng của từ điển chuyên môn

Trong số những từ điển ngôn ngữ, loại từ điển giải thích chuẩn có vai trò quan trọng trong việc tiêu chuẩn hóa ngôn ngữ Tính tiêu chuẩn hóa của loại từ điển này thể hiện ở mọi thông tin được cung cấp: Các đơn vị được chuẩn hóa về chử viết phát âm,

về nguồn gốc từ nguyên, về đặc điểm ngữ pháp và lời giải thích nghĩa

1.2 Từ Điển Học

1.2.1 Định nghĩa

Từ điển học là một bộ môn ngôn ngữ học nghiên cứu về lí luận và kĩ thuật biên

soạn các loại từ điển (Một số vần đề về từ điển và từ điển học)

Đây là một nghành học quan trọng của ngôn ngữ học ứng dụng Mặt dù trên thế giới, từ điển đã tồn tại trải qua mấy ngàn năm và ngày càng phát triển phong phú đa dạng, nhưng lí luận về từ điển học mới chỉ hình thành hơn nữa thế kỷ nay gắn với tên tuổi L.Sherba, Kacaret, L.Zgusta…

Lí luận từ điển học tập trung nghiên cứu và giải quyết vấn đề cơ bản là:

Loại hình của từ điển và các loại từ điển

Nghiên cứu về cấu trúc vĩ mô của từ điển

Nghiên cứu về cấu trúc vi mô của từ điển

Ngoài ra gần đây các nhà ngôn ngữ học còn tập trung nghiên cứu về các vấn đề lịch sữ từ điển và nhất là vấn đề công nghệ biên soạn từ điển, tức là việc áp dụng những phương pháp của công nghê thông tin vào công tác từ điển

1.2.2 Vị trí của từ điển học

Trang 21

Là một môn ứng dụng quang trọng của ngôn ngữ học, từ điển học có vị trí đặt biệt

a) Từ điển học có quan hệ chặt chẽ với từ vựng học Đơn vị của cấu trúc vĩ mô

từ điển (nhất là từ điển ngôn ngữ) chủ yếu là đơn vị từ vựng ngôn ngữ Để cung cấp thông tin cho mục từ, cần khảo sát toàn diện đặc điểm từ vựng, đặc biệt là về ý nghĩa từ vựng Cho nên nhiều chuyên luận về từ vựng học có những chương về từ điển học, ngược lại một số công trình từ điển học cũng có phần đầu hay phần cuối bàn về từ vựng học Từ thực tế đó, nhiều người coi từ điển là bộ phận của từ vựng học

b) Tuy nhiên trong cấu trúc vi mô của từ điển không chỉ có những thông tin về

từ vựng, mà còn có những thông tin về ngữ pháp, ngữ dụng, tu từ,… Tức là nhà từ điển phải quan tâm và áp dụng thành quả nghiên cứu của nhiều bộ môn khác nhau của ngôn ngữ Mặt khác, trong quá trình xây dựng và phát triển, từ điển học đã hình thành hệ lí thuyết và phương pháp của mình Chẳng hạn, nguyên tắc xây dựng cấu trúc vĩ mô, cấu trúc vi mô, vai trò của dữ liệu từ điển, các kiểu giải thích từ điển, phương pháp trình bày, cách chuyển chú,… Những thành quả trong nghiên cứu và phát triển từ điển học cũng có tác động trở lại, thúc đẩy sự nghiên cứu của bình diện ngôn ngữ khác, như từ vựng học, ngữ pháp học, ngữ nghĩa học… Nhấn mạnh đặc trung này, nhiều người cho rằng từ điển học là một bộ môn của ngôn ngữ học

c) Là một bộ môn của ngôn ngữ học ứng dụng Từ điển học có mối quan hệ trực tiếp với sự phát triển của sự nghiệp văn hóa giáo dục Từ điển phản ánh những tri thức xã hội, những kiến thức khoa học hiện đại dưới dạng cô đọng hoặc dầy đủ Lúc này những vấn đề của từ điển học đã vượt ra khỏi phạm vi của ngôn ngữ học Hơn nữa,

từ điển học là một trong những bộ môn của ngôn ngữ học có điều kiện ứng dụng khoa học kĩ thuật hiện đại, đặc biệt là phương pháp và thành quả của công nghệ thông tin Việc xây dựng ngân hàng dữ liệu trên máy tính với hệ thống tra cứu nhanh, đa diện đã thay thế những kho phiếu tư liệu khổng lồ Chương trình biên soạn từ điển trên máy tính, công tác mã hóa từ điển, những phương tiện multi-media… đang thu hút nhiều

Trang 22

chuyên gia tin học và ngôn ngữ học Có thể nói, từ điển học hiện đại còn mang tính chất một công nghệ

Như vậy, tuy là một bộ môn thuộc ngôn ngữ học, nhưng từ điển là một lĩnh vực nghiên cứu đặc thù có nhiệm vụ và phương pháp của một bộ môn độc lập

5 KHÁI NIỆM TỪ- NGỮ -CÂU, PHÂN LOẠI TỪ XÉT VỀ MỤC ĐÍCH CẤU TẠO

2.1 Khái niệm Từ, Phân loại Từ

5.1.1 Khái niệm từ

Trong luận văn này như đã nêu ở trên chúng tôi đồng ý với khái niệm về từ

được nêu ra trong tác phầm Cơ sở ngôn ngữ học đại đương của tác giả Nguyễn Thiệt

Giáp Tuy rằng trong ngôn ngữ học có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về từ nhưng chung quy lại tất cả đều thống nhất với nhau về những đặc điểm nhất định như:

- Là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa

- Có khả năng vận dụng độc lập

- Có thể tái hiện tự do trong lời nói

Như vậy, ta có thể đi đến một định nghĩa chung về từ:

Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có

chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu

5.1.2 Phân loại từ xét về mục đích cấu tạo

Chúng tôi chấp nhận quan điểm cho rằng xét về mặt cấu tạo thì trong tiếng Việt

có thể phân loại từ như sau:

a) Từ đơn: Là từ được cấu tạo bằng một tiếng

Vi dụ: nhà, xe, cây, hoa ,tôi, bạn, anh,chị, gió, mây, mưa, trời, đất, vui, buồn … b) Từ ghép: Là những từ có hai hay nhiều tiếng được ghép lại với nhau, giữa các tiếng có quan hệ với nhau về nghĩa

Vi dụ: Anh em, Ông bà, Cha mẹ, Non sông, Hoa lá, Tươi sáng, Thanh bạch, May vá, Nấu nướng, Công ty, Nhà văn…

Trang 23

Kết hợp tiêu chí số lượng tiếng với các bộ phận giống nhau trong từ, có thể phân

từ láy thành các loại sau:

* Từ láy đôi: Là từ láy gồm có 2 tiếng Có các dạng cấu tạo láy đôi sau:

- Từ láy bộ phận: Thường giống nhau ở phần vần hoặc phần phụ âm đầu Giống nhau ở phần phụ âm đầu gọi là láy âm, giống ở phần vần gọi là từ láy vần

Giống cả phần vần, phụ âm đầu và thanh điệu

Ví dụ: Xanh xanh, đỏ đỏ, đùng đùng, lù lù, cười cười, hiền hiền…

Giống phụ âm đầu, phần vần, khác nhau về thanh điệu

Ví dụ : đu đủ, cỏn con, đo đỏ, tim tím…

Giống nhau ở phụ âm đầu và âm chính, khác nhau ở thanh điệu và âm cuối do

sự chi phối của quy luận dị hóa

Ví dụ: đèm đẹp, bàn bạt, sành sạch, tôn tốt, …

* Từ láy ba và láy tư

Trang 24

Từ láy ba thường dựa trên cớ chế láy hoàn toàn Ví dụ: Sạch sành sanh, cỏn còn con, nhũn nhùn nhun, khít khìn kịt, xốp xồm xộp, sát sàn sạt…

Láy tư: Hăm hăm hở hở, vội vội vàng vàng, lảm nhản làm nhàm, bồi hổi bồi hồi…

d) Từ ngẫu hợp: Các tiếng tổ hợp với nhau một cách ngẫu nhiên Lớp từ này có thể bao gồm những từ gốc thuần Việt, những từ vay mượn gốc Hán, những từ vay mượn gốc Ấn - Âu …

Ví dụ: Cà phê, a xít, xà phòng, a pha tít, cổ hũ, mè nhèo, ba láp, ba hoa, bồ hóng, xi măng…

2.2 Khái niệm về Ngữ:(Đoạn ngữ)

Một nhóm các từ có liên hệ trực tiếp với nhau ở trong câu goi là tổ hợp từ, xét theo mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành tổ hợp từ, người ta phân biệt tổ hợp từ thành 3 loại: tổ hợp từ có quan hệ chủ vị, tổ hợp từ có quan hệ bình đẳng, tổ hợp từ có quan hệ chính phụ Loại tổ hợp từ thứ ba này được gọi là một đoạn ngữ

Theo Nguyễn Thiện Giáp: Ngữ là cụm từ sẳn có trong ngôn ngữ, có giá trị tương đương với từ, có nhiều đặc điểm giống từ;

- Chúng có thể tái hiện trong lời nói như các từ

- Về mặt ngữ pháp chúng cũng có thể làm thành phần câu, chúng cũng có thể là

cơ sở để cấu tạo nên các từ mới

- Về mặt ngữ nghĩa, chúng cũng biểu hiện những hiện tượng của thực tế khách quan gắn với những kiểu hoạt động khác nhau của con người

Trong ngôn ngữ biến hình hay ngôn ngữ đơn lập thì ngữ danh từ, ngữ động từ, ngữ tính từ là ba loại quan trong nhất Cấu tạo chung của chúng là bao gồm một thành

tố chính( head) và một thành tố phụ ( modifucation) Nếu thành tố chính là danh từ , ta

có ngữ danh từ, nếu thành tố chính là động từ thì ta có ngữ động từ, nếu thành tố chính

là tính từ thì ta có ngữ tính từ

Trang 25

Thuộc tính cơ bản nhất thường thấy ở các loại ngữ đoạn dù ở bất kỳ mô hình cấu trúc nào cũng đều có hai loại: mang tính thành ngữ (idiomatic) và một đơn vị kết hợp không mang tính thành ngữ (non-idiomatic) Do vậy, dựa trên bình diện ngữ nghĩa

và cấu trúc bên ngoài, có thể xác định hai thể loại ngữ đoạn chủ yếu là ngữ chức năng (functional expressions) hay còn gọi là ngữ cố định và ngữ kết hợp (composite units) còn gọi là ngữ tự do

Ngữ kết hợp ( ngữ tự do) là cấu trúc cú pháp, thể hiện sự kết hợp về mặt thành

tố cấu trúc của các đơn vị cấu thành (constituent structure) Việc nhận diện và phân

tích thể loại cấu trúc này thường đơn giản hơn so với thành ngữ chức năng Người học

có thể dựa trên qui tắc cấu trúc cụm từ, cấu trúc thành tố (phrase structure rules) để phân tích Ngữ đoạn ở thể loại này có thể được chia thành hai nhóm dựa trên phạm trù ngữ pháp và phạm trù từ vựng (grammatical and lexical categories)

Ngữ chức năng: là những ngữ đoạn cố định thường rất dễ nhận ra trong ngôn

bản bởi tính ổn định (stable) và thuộc tính thành ngữ (idiomatic) trong cấu trúc không thể phá vỡ được của nó Đó là các công cụ diễn đạt có sẵn của ngôn bản (discourse-structuring device Ngữ cố định trong tiếng Việt có thể được hiểu là một nhóm từ ngữ (các đơn vị “tiếng”) đi liền kề nhau được cố định hóa, mang tính chất chặt chẽ, sẵn có,

bắt buộc …VD: “Chờ hết nước hết cái” (theo Giáo sư Đỗ Hữu Châu) là một ngữ cố

định Nghĩa của nó không phải nghĩa từng đơn vị “tiếng” cộng lại như thường thấy

trong tiếng Việt Do tính cố định hóa, do tính chặt chẽ mà các “ngữ cố định” ít hay nhiều đều có tính thành ngữ (idiom).Ngữ cố định là một lọai phương tiện, một biện

pháp mà bất cứ ngôn ngữ nào cũng có nhằm khác phục một phần nào tính hữu hạn của

từ (hay” tiếng” trong tiếng Việt), tính không hàm súc, không cô đọng trong lời nói Vì

thế, để xác định được nghĩa các “ngữ cố định”, ta cần đối chiếm nó với các nhóm từ,

các từ tự do khác về phương diện ngữ nghĩa Có đối chiếu như thế, ta thấy hầu như tất

cả các ngữ cố định đều có cấu trúc ngữ nghĩa của một nhóm từ tự do Đây chính là đặc trưng cơ bản của ‘ngữ cố định”

Trang 26

2.3 Khái niệm về Câu

Câu là đơn vị của ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập

và có ngữ điệu kết thúc, mang một tư tưởng tương đối trọn vẹn có kèm thái độ của người nói hoặc chỉ biểu thị thái độ của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm với tư cách là đơn vị thông báo nhỏ nhất

Hay, nói một cách đơn giản: Câu là đơn vị nhỏ nhất thực hiện chức năng thông báo

2.4 Khái niệm về Thuật ngữ

Khái niệm thuật ngữ: Thuật ngữ là những từ ngữ dùng làm tên gọi cho các khái niệm, các đối tượng được xác định một cách chặt chẽ, chuẩn xác trong mỗi nghành nghề, mỗi lĩnh vực khoa học chuyên môn

Ví dụ: Thuật ngữ ngôn ngữ học: từ vựng, ngữ pháp, âm vị, hình vị, câu, chức năng cú pháp,…

Thuật ngữ y học: Tĩnh mạch, mạch máy, viên hô hấp, xét nghiệm, cấp cứu, siêu

âm, điện tâm đồ…

Theo tác giả Nguyễn Khánh Toàn trong quyển Về vấn đề xây dựng thuật ngữ

khoa học (Nxb KHXH, năm 1997): Thuật ngữ có năm tiêu chuẩn sau:

Tính chính xác, tính hệ thống, tính chất ngôn ngữ dân tộc, tính ngắn gọn, tính dễ dùng

Đồng thời chúng tôi tán đồng với quan điểm được trình bày trong giáo trình Cơ

sở ngôn ngữ học và tiếng Việt ( Mai Ngọc Trừ, Vũ Đức Nghiệu và Hoàng Trọng

Phiến) theo đó thuật ngữ có ba đặc điểm sau: Tính chính xác, tính hệ thống, tính quốc

Trang 27

Khái niệm nghĩa (Sense) của từ đã được nêu ra từ lâu và cũng đã có nhiều cách hiểu, nhiều định nghĩa khác nhau Luận văn xin đưa ra đây định nghĩa vắn tắt như sau:

Nghĩa của từ là những liên hệ được xác lập trong nhận thức của chúng ta giữa những cái mà nó (từ) chỉ ra (những cái mà nó làm tín hiệu cho)

Nghĩa của từ thường được phân loại cụ thể như sau:

Nghĩa biểu vật (Denotative Meaning): Là liên hệ giữa từ với sự vật (hoặc hiện

tượng, thuộc tính, hành động ) mà nó chỉ ra Bản thân sự vật, hiện tượng, thuộc tính, hành động đó người ta gọi là biểu vật hay cái biểu vật (denotat) Biểu vật có thể hiện thực hoặc phi hiện thực, hữu hình hay vô hình, có bản chất vật chất hoặc phi vật chất

Ví dụ: Đất, trời, mưa, nắng, nóng, lạnh, ma, quỷ, thánh, thàn, thiên đường, địa

ngục,

Nghĩa biểu niệm (Significative Meaning): Là liên hệ giữa từ với ý (hoặc ý nghĩa,

ý niệm – Signification – nếu chúng ta không cần phân biệt nghiêm ngặt mấy tên gọi này) Cái ý đó người ta gọi là cái biểu niệm hoặc biểu niệm (sự phản ánh các thuộc tính của biểu vật vào trong ý thức của con người)

Ngoài hai thành phần nghĩa trên đây, khi xác định nghĩa của từ, người ta còn phân biệt hai thành phần nghĩa nữa Đó là nghĩa ngữ dụng và nghĩa cấu trúc

Nghĩa ngữ dụng (Pragmatical Meaning), còn được gọi là nghĩa biểu thái, nghĩa hàm chỉ (Connotative Meaning), là mối liên hệ giữa từ với thái độ chủ quan, cảm xúc của người nói

Nghĩa cấu trúc (Structural Meaning) là mối quan hệ giữa từ với các từ khác trong hệ thống từ vựng Quan hệ giữa từ này với từ khác thể hiện trên hai trục: Trục đối

vị (Paradigmatical Axis) và Trục ngữ đoạn (Syntagmatical Axis) Quan hệ trên trục đối

vị cho ta xác định được giá trị của từ, khu biệt từ này với từ khác, còn quan hệ trên trục ngữ đoạn cho ta xác định được ngữ trị (Valence) – khả năng kết hợp – của từ

Trang 28

6.2 Phương pháp miêu tả nghĩa của từ

4 GIỚI THIỆU ĐÔI NÉT VỀ HUỲNH TỊNH CỦA VÀ TÁC PHẨM ĐẠI NAM QUẤC ÂM TỰ VỊ

4.1 Tác giả Huỳnh Tịnh Của

Huỳnh Tịnh Của còn gọi là Huỳnh Tịnh Trai hay Paulus Của (1830 – 1908) Ông là người vừa thông Hán tự vừa giỏi Pháp văn và chữ Latinh Theo Kito giáo, năm

12 tuổi được sang học ở một trường đào tạo Pulo- Pinang Huỳnh Tịnh Của từng đi học đạo và lên đến chức thầy tu nhưng sau đó ông đã hoàn tục và lập gia đình

Năm 1862, sau khi ba tỉnh miền đông Nam kỳ thuộc Pháp, ông bắt đầu giúp việc cho chính phủ thuộc địa làm thông ngôn rồi lãnh việc phiên dịch văn án

Ngoài việc là một viên chức của chính quyền thuộc địa ông còn là một nhà văn, nhà báo nổi tiếng Ông cùng với Trương Vĩnh Ký là người khởi xướng phong trào báo chí ở nước ta, cả hai sáng lập tờ Gia Định Báo xuất bản năm 1865 Ông từng giữ vai trò chủ bút một thời gian và làm biên tập viên nhiều năm cho tờ báo quốc ngữ đầu tiên này

Chính trên tờ Gia Định Báo, ông đã tỏ ra xuất sắc trong các bài khảo cứu về cổ tích, khoa học phổ thông đồng thời sưu tầm nhiều bài thi ca cổ, ông còn phiên dịch nhiều bài diễn văn, nghị định, công văn bằng tiếng Pháp ra chữ Quốc ngữ

Huỳnh Tịnh Của còn là người soạn thảo ra bộ từ điển Việt Nam giải nghĩa bằng tiếng Việt mà trước ông chưa có ai làm, là một học giả chịu ảnh hưởng nhiều từ văn hóa phương Tây, cùng với Trương Vĩnh Ký cổ động người Việt dùng chữ Quốc ngữ viết theo mẫu tự Latinh Ông tỏ ra là một người yêu chuộng văn hóa dân tộc, biết giữ gìn, khai thác cái di sản tinh thần của cha ông bằng cách phiên âm phổ biến những án văn thơ của người Việt

Trang 29

Trong cuộc đời làm công chức, ông được ban thưởng các huy chương: Đại Nam hàn lâm viện trực học sĩ ( Me1daille Đ’offcierndu Dragon Đ’annam), Đại Pháp hàn lâm kiêm diệp ( Me1dialle Đ’offcier Đ’académie), Ngũ đẳng bắc đẩu bội tinh (Chevalier de La Lelgion D’honneur), và Kim khánh cao miêu ( Offcier D l’ordre Royal du Cambodge)

Theo Nguyễn Liên Phong, ông là người “ Hình dung nho nhả, tính nết cẩn thận hiền lành (…) đã quá tuổi hưu trí mà nhà nước đoái tưởng ngài tuổi lớn nhà nghèo, cho làm luôn” Mặt dù được chính quyền Pháp hậu đãi, có quyền chức lớn, ông tỏ ra là người khiêm tốn, giản dị, làm công chức cao cấp mà nhà vẫn thanh bần Lúc về già ông còn chịu những cái tang quá đau đớn vì tất cả các con ông đều mất sớm

Sau khi ông bệnh mất, thống đốc Nam kỳ thời bấy giờ có đến đọc một bài truy điệu đề cao cuộc đời và sự nghiệp của ông trong đó có câu “ Nội Nam kỳ, từ thuở tân trào, thì ông Huỳnh Tịnh Của là bản mặt văn nhơn vẩn súc”

Huỳnh Tịnh Của không có những tác phẩm sáng tác như tiểu thuyết, thi ca quyển Chuyện Giải Buồn dù do chính ông viết ra nhưng đa số nội dung các chuyện đều được lấy ở các sách Trung Hoa như Chiến Quốc Sách, Trang Tử Nam Hoa Kinh, Liêu Trai Chí Dị, thỉnh thoảng ông còn dịch ngay ở Hán văn ra và gần như không dùng trí tưởng tượng để sáng tác thêm vào tình tiết mới

Huỳnh Tịnh Của là một nhà văn biên khảo, một nhà làm từ điển và phiên dịch các sách viết bằng chữ Nôm, chữ Hán và chữ Quốc ngữ, gần phân nữa số tác phẩm của ông là những án văn xưa của người Việt được ông phiên âm ra chữ Quốc ngữ để tiếp tục cái đích giảng giải luân lý của nho gia xưa, vừa phổ biến thứ chữ Quốc ngữ mới vào quảng đại quần chúng

Đại cương có thể chia tác phẩm của ông ra làm hai loại

- Loại sưu tập và biên khảo

- Loại phiên âm và chú thích

Luận văn xin đưa ra đây một số tác phẩm tiêu biểu của ông như:

Trang 30

1 Maximes et Proverbes Sài gòn, Imprimerie du gouvernement, 1882

3 Chuyện giải buồn rút trong các sách hay, để giúp trong các trường học cũng những người học tiếng Annam In lần thứ I Sài Gòn, bản in quản hạt, 1886

4 Sách bác học sơ giải ( Simples Lectures Surdiverses Sciences) Sài gòn, nhà

in Rey Et Curiol, 1887

5 Sách quan chế Sài gòn, bản in nhà nước, 1888

6 Đại Nam quấc âm tự vị, quyển I, Sài gòn, nhà in Rey Curiol et Cie, quyển I (1895 ), quyển II ( 1896)

7 Quan âm diễn ca Sài Gòn, nhà in Xưa Nay, 1898

Ngoài ra ông còn có một loạt tác phẩm viết vào đầu thế kỷ XX như:

Gia lễ ( 1904), Phép đo ( 1905), Thơ mẹ giạy con(1905), Trần sanh diễn ca ( 1905), Văn đoàn diễn ca (1906), Bạch viên tôn các truyện (1906), Chiêu quân cống hồ

- bổn củ soạn lại (1906), Ca trù thể cách (19070, Tôn tữ vưu truyện (1907), Thoại khanh châu thuấn (1908), Câu hát góp (1910)

4.2 Bối cảnh lịch sử và lý do biên soạn bộ Đại Nam quấc âm tự vị

Khi Paulus Huỳnh Tịnh Của bước vào cái tuổi Tam thập nhị lập thì quân đội Pháp bắt đầu đánh chiếm thành Gia Định, mấy năm sau 1862 ba tỉnh miền đông Nam

kỳ lần lược vào tay người Pháp rồi năm năm sau nữa 1867 pháp thôn tính luôn ba tỉnh miền Tây Thế là miền Nam Việt Nam hoàn toàn đặt dưới sự thống trị của thực dân Pháp Lịch sử việt nam đến đây thực sự bước vào một giai đoạn mới, giai đoạn vong quốc Xã hội bắt đầu thay đổi, văn chương học thuật cùng với thời thế mà biến chuyển theo

Riêng ở miền Nam, khi gót giày xâm lược dày xéo trên quê hương ta , nhiều nhà văn đã tích cực dùng văn chương làm một thứ lợi khí chống xâm lăng Hầu hết những nhà văn thời đó đều là những nhà Nho, xuất thân ở cửa khổng sân trình và dĩ nhiên mọi tác phẩm của họ đều được viết bằng chữ Nôm hoặc chữ Hán Cùng thời với các nhà văn quyết liệt ủng hộ cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Pháp như Nguyễn Đình

Trang 31

Chiểu , Phan Văn Trị, Thủ Khoa Huân, không kể một số ít các Nho sĩ chính thức hợp tác với chính quyền thực dân như Tôn Thọ Tường, còn có một số người tân học ra làm việc cho Pháp và theo khuynh hướng văn học mới Nổi danh nhất là hai nhà biên khảo chịu ảnh hưởng của văn hóa Tây phương đặc biệt là văn chương Kito giáo là Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Của Chính hai nhà văn này đã có công tích cực phổ biến chữ Quốc Ngữ ở giai đoạn phôi thai, trong khi đa số nhà Nho thời bấy giờ cho chữ Quốc Ngữ là thứ văn tự do kẽ thù sáng chế, hô hào dân chúng chống đối triệt để

Ngược dòng lịch sử, từ thế kỷ XVI, các giáo sĩ Tây phương đã bắt đầu đến truyền giáo ở Việt Nam và do nhu cầu giảng đạo họ mới nghĩ ra việc lấy mẫu tự La Tinh để phiên âm tiếng Việt, tạo thành thứ chữ viết mà ngay nay ta gọi là chữ quốc ngữ Rồi trải qua mấy thế kỷ từ khi mà bộ từ điển Việt- Bồ - La ( Dictionarium Annamiticum Lusitanum Latium)_ của Alexandre De Rhodes in tại Rome vào năm

1651 cho đến trước khi đất Nam kỳ thuộc Pháp, thứ chữ ấy không bao giờ được chính quyền Việt Nam công nhận và hầu hết dân chúng cũng không biết đến thứ chữ ấy Thời bấy giờ chữ Quốc Ngữ chỉ được sử dụng ở các giáo đường, tu viện, giáo khu mà thôi Phải đợi cho đến cuối thế kỷ XIX chữ Quốc Ngữ mới thoát ra ngoài phạm vi các nhà dòng và phổ cập vào dân chúng Cho nên ta có thể nói những người Việt Nam đầu tiên biết được chữ Quốc Ngữ đều là được tiếp thu từ các trường dòng, chính Huỳnh Tịnh Của cũng xuất thân từ các trường dòng Kito giáo nên mới thông thạo được chữ Quốc Ngữ

Nhưng đến khi Pháp nắm chính quyền ở miền Nam thì họ rất coi công việc phổ biến chữ Quốc Ngữ là một vấn đề quan trọng liên quan đến chính trị Chủ tâm của người Pháp là muốn cắt đứt ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa đối với người Việt, hủy diệt hoàn toàn cái gốc tinh thần đạo đức của Nho gia mà họ cho là đã ăn sâu vào tâm thức của người Việt, hun đúc cho người Việt cái tinh thần trung quân ái quốc cực đoan, chống ngoại xâm một cách kịch liệt Đối với người Pháp chữ Nôm hay chữ Hán đều là thứ văn tự của Trung Quốc, muốn cho dân chúng ủng hộ chính quyền mới thì phải triệt

Trang 32

tiêu thứ chữ ấy đi và thay vào đó là chữ Quốc Ngữ thứ văn tự được sáng tạo theo mẫu

tự La Tinh giống với chữ Pháp

Thâm ý người pháp muốn biến Nam kỳ thành thuộc địa coi như là một quận của Pháp Sắc lệnh ngày 25-5-1881 của Thống đốc Nam kỳ có điều khoản quy định rằng: “ Dân bản xứ An Nam sinh và cư ngụ ở Nam kỳ là người Pháp, một khi người dân bản

xứ đã chấp nhận sự thống trị của người Pháp thì họ bắt buộc phải học tiếng của chúng

ta và chấp nhận những phong tục tập quán của chúng ta, chúng ta không thể ban bố quyền công dân cho những ai không hiểu được nền văn minh của chúng ta”

Vì những lí do vừa nêu trên người Pháp muốn hủy diệt hẳn chữ Nôm, chữ Hán đem chữ Quốc Ngữ thay vào rồi lần lần sẽ dùng hẳn chữ Pháp dạy dân miền Nam y như người Pháp ở chính quốc

Trong hoàn cảnh lịch sữ Việt Nam hậu bán thế kỷ XIX, có lẽ Paulus Huỳnh Tịnh Của cùng với Petrus Trương Vĩnh Ký là hai nhà văn biết lợi dụng chính sách thông minh của Pháp lúc bấy giờ để phổ biến chữ Quốc Ngữ vào quảng đại quần chúng, làm lợi cho bước tiến dân tộc Trong buổi đầu của nền văn chương Quốc Ngữ hai ông chính là những nhà văn tiên phong biên soạn nhiều tác phẩm viết bằng chữ Quốc Ngữ và được chính quyền Pháp giúp phương tiện ấn hành phổ biến

Do sự việc được thực dân yểm trợ đó, trong quá khứ khi viết về hai ông một số nhà nghiên cứu văn học đều chê là tay sai cùa thực dân Pháp và cho mọi công trình văn hóa của hai nhà văn miền Nam này chẳng qua chỉ là thực hiện chỉ thị của thực dân Pháp và giúp đở chúng tìm hiểu về các mặt lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ trong bước đầu cai trị nước ta

Trong phạm vi luận văn này chúng tôi không đi sâu vào chứng minh những ý kiến có phần thiên lệch ấy là phiến diện mà chỉ đưa ra sau đây những lí do mà theo chúng tôi là căn nguyên thúc đẩy Huỳnh Tịnh Của biên soạn bộ Đại Nam Quốc Âm Tự Vị:

 Đại Nam Quấc Âm Tự Vị ra đời là do nhu cầu của thời đại

Trang 33

Trước khi quyển từ điển này ra đời nước ta chưa hề có quyển từ điển nào giải nghĩa tiếng Việt bằng tiếng Việt cả Chữ Quốc Ngữ phát triển và phổ biến như một nguyên tắc tất yếu vì sự ưu việt của nó so với hai thứ chữ hiện hành cùng thời là chữ Hán và chữ Nôm, dễ viết dễ hiểu và tiếp thu đơn giản hơn nhiều thứ chữ tượng hình khó hiểu Người Việt bắt đầu quan tâm và đi tìm học chữ Quốc Ngữ, chính trong điều kiện ấy một quyển từ điển giải nghĩa tiếng Việt bằng tiếng Việt sẽ như một quyển cẩm nan dẫn đường mà những ai học và tìm hiểu về chữ Quốc Ngữ chắc chắn là cần đến Như vậy sự ra đời của Đại Nam Quấc Âm Tự Vị là một tất yếu khách quan hoàn toàn phù hợp với nhu cầu của thời đại

 Do nhu cầu của một nhà thông ngôn

Huỳnh Tịnh Của xuất thân là thông ngôn cho người Pháp, có thể chính vì lí do nghề nghiệp này mà ông nhận thấy sự cần thiết phải có một bộ từ điển định nghĩa rỏ tiếng Việt để mỗi khi làm công việc phiên dịch ông tránh bớt được sai lầm, nhất là những sai lầm trong các công văn tòa án có thể gây hại cho nhiều người vô tội

Chữ quốc ngữ có tính cách biểu âm, ghi chép tiếng nói người Việt một cách chính xác, giản dị có thể tránh những lộn xộn, thiếu minh bạch vì chưa thống nhất cách viết và cách đọc như chữ Nôm Những ai từng học qua chữ Nôm đều nhận thấy rằng lắm khi chữ Nôm có thể đọc thành nhiều cách khác nhau tùy theo nghĩa của mỗi câu văn Trong khi đó chữ Quốc Ngữ không bao giờ mắc phải vấn đề này, nếu viết đúng chữ thì không thể đọc lầm vì mỗi chữ có một hình thức khác nhau theo tiếng nói, không thể viết chữ này mà đọc ra mấy chữ khác được

 Do niềm yêu thích tìm hiểu chữ Quốc Ngữ

Điểm lại những tác phẩm của Huỳnh Tịnh Của ta thấy rằng ông là một người có

xu hướng làm từ điển Ngoài việc phiên dịch lưu các án văn xưa của tiền nhân ông còn chú ý nghi chép thu thập nhiều từ ngữ, thành ngữ tục ngữ của dân tộc và mỗi câu đều được ông giải nghĩa rỏ ràng Một người thích tìm tòi sưu tập ngôn ngữ dân tộc như ông thì phải có một tình cảm lớn với chữ Quốc Ngữ, với ngôn ngữ dân tộc, cũng chính vì

Trang 34

cái tình cảm ấy mà ông mới có cam đảm cặm cụi bỏ ra hơn bốn năm trời để hoàn thành

bộ Đại Nam Quốc Âm Tự Vị

TIỂU KẾT

Trong chương này, luận văn trình bày một số vấn đề về lý thuyết cơ bản, một số định nghĩa về từ điển, từ điển học, cấu trúc của từ điển để giúp cho người đọc nắm bắt được phần nào ý nghĩa những khái niệm sẽ được sử dụng trong các trương sau Ngoài

ra chúng tôi còn giới thiệu sơ lược về cuộc đời của tác giả Huỳnh Tịnh Của và tác phẩm Đại Nam quấc âm tự vị của ông nhằm giúp người đọc hiểu hơn về hoàn cảnh ra đời và mục đích chính mà tác giả biên soạn bộ từ điển này

Trang 35

CHƯƠNG II:

TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC VÀ CẤU TẠO CÁC MỤC TỪ TRONG QUYỂN

TỪ ĐIỂN ĐẠI NAM QUẤC ÂM TỰ VỊ

1.TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC CỦA QUYỂN TỪ ĐIỂN

1.1 Đối tượng, tính chất, mục đích của quyển từ điển

Đại Nam Quấc Âm Tự Vị là quyển từ điển giải thích tiếng Việt được Huỳnh Tịnh Của biên soạn trong vòng bốn năm và xuất bản đầu tiên vào năm 1895, đây là quyển từ điển giải thích tiếng Việt bằng tiếng Việt đầu tiên của nước ta với quy mô lớn

và lượng từ phong phú, đề cập đến nhiều lĩnh vực Tuy xét về tiêu chuẩn hiện đại thì Đại Nam Quấc Âm Tự Vị theo như nhận xét của tác giả vẫn chưa đạt đến trình độ là một quyển từ điển thực thụ nhưng nếu xét về giai đoạn ra đời và so sánh nó với một số quyển từ điển trước đó và ngay cả những quyển được biên soạn vào thời kỳ đầu của thế

kỷ XX, thì với nội dung thông tin, số lượng mục từ và sự phong phú về các nhóm từ ngữ thì Đại Nam Quấc Âm Tự Vị gần đạt đến trình độ của một quyển bách khoa thư tiếng Việt

Vì đây là một quyển tự vị giải nghĩa từ tiêng Việt nên đối tượng của nó không

có giới hạn Chỉ cần là người có hứng thú và thích tìm tòi nghiên cứu về từ vị thì đều

sử dụng được bộ Đại Nam Quấc Âm Tự Vị này

Đại Nam Quấc Âm Tự Vị được Huỳnh Tịnh Của biên soạn trong vòng hai năm Trước khi quyển tự điển của Huỳnh Tịnh Của ra đời, nước ta chưa có quyển tự điển nào giải nghĩa tiếng Việt bằng tiếng Việt Hầu hết các bộ tự điển từ thời Alexandro De Rhodes cho đến hậu bán thế kỷ XIX chỉ có thể coi là những quyển tự vị song ngữ, hoặc Việt – Latinh, hoặc Việt- Pháp, không thể gọi là từ điển tiếng Việt Vỳ vậy một quyển

từ điển toàn bằng tiếng Việt là rất cần thiết cho những ai muốn học tiếng Việt và những

Trang 36

người cầm bút viết văn, giống như trong lời tiểu tự Huỳnh Tịnh Của đã viết: “ Ta nghĩ

hể có tiếng nói, ắc phải có tự vị làm chuẩn thẳng”

Trong thời kỳ bấy giờ, những tác phẩm cổ súy cho sự phát triển của chữ Quốc Ngữ đều bị quy kết là vũ khí chinh phục của người phương Tây và đều bị giới nho sĩ yêu nước bài xích, tuy nhiên không vì vậy mà Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Của đáng bị quy kết là công cụ của giặc ngoại xâm Nên nhớ chính thứ chữ Hán hiện đang được sử dụng vào thời ấy cũng không hoàn toàn là của người Việt, nó cũng chính là ngôn ngữ của Trung Quốc truyền bá qua ta khi ta bị Bắc thuộc hơn ngàn năm Nhìn nhận một cách khách quan về sự phát triển tất yếu của thời đại ta sẽ thấy giá trị to lớn của nó trong thời kỳ bấy giờ khi chữ Hán và chữ Nôm đã không còn phù hợp và tất yếu sẽ bị loại trừ bởi một ngôn ngữ tiến bộ hơn là chữ Quốc Ngữ, một ngôn ngữ tiện lợi, dễ hiểu, dễ viết và nhanh chóng hơn hẳn chữ Hán – Nôm

Chính người Trung Quốc và Nhật Bản là hai quốc gia từng sử dụng chữ Hán như ta cũng đã từng nghiên cứu tìm cách làm thế nào để La Tinh hóa văn tự của họ cho

dễ phổ thông Vậy thì việc lợi dụng một thứ chữ đã được các cố đạo phương Tây sáng chế để biên soạn một bộ tự điển bằng chữ Quốc Ngữ như Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Của trong thời kỳ mà chữ Quốc Ngữ còn phôi thai, còn bị nhiều người chống đối không tin vào lợi ích của thứ chữ mới ấy là một việc làm hết sức cần thiết, giúp dân tộc ta thoát khỏi áp lục của chữ Hán, một thứ văn tự biểu ý khó nhớ, khó viết, khó truyền bá chỉ dành cho giới Nho sĩ để tiếp nhận một thứ văn tự biểu âm mà mọi người có thể học một cách nhanh chóng nhẹ nhàng và khả năng phổ biến dễ dàng hơn

Như vậy về bản chất không thể quy kết Đại Nam Quấc Âm Tự Vị Của Huỳnh Tịnh Của là một tác phẩm phục vụ cho hoạt động xâm lược của thực dân Pháp mà đây

là đứa con đầu của ngành từ điển học, là khai quốc công thần trong việc cổ súy cho sự phát triển của chữ Quốc Ngữ, một ngôn ngữ mà Huỳnh Tịnh Của nhìn nhận rằng có thể thay thế cho chữ Hán vì tính chất phổ biến rộng rải của nó đến mọi tầng lớp trong xã

Trang 37

hội, ai cũng có thể học và tiếp nhận dễ dàng chứ không phức tạp và khó khăn như Hán

tự vồn kén người học và gần như chỉ dành cho giới Quan lại, Nho sĩ

Nếu như lúc mới ra đời đối tượng và tính chất của Đại Nam Quốc Âm Tự Vị là truyền bá chữ quốc ngữ đến đại đa số quần chúng nhân dân thì ngày nay đối tượng và tính chất của nó cũng đã có sự thay đổi Ngày nay Đại Nam Quốc Âm Tự Vị như một nguồn tư liệu đa dạng phong phú và không thể thiếu cho những ai có nhu cầu nghiên cứu về tiếng Việt, sự hình thành phát triển, cách phát âm, cách viết gốc của các từ Nam

Bộ, ngoài ra đây còn là tác phẩm giải nghĩa tiếng Việt chứa đựng số lượng từ cổ lớn nhất với nhiều từ ngữ cổ và gần như thất chuyền về cả cách đọc viết và nghĩa của nó

Vì vậy Đại Nam Quấc Âm Tự Vị càng thể hiện vai trò và giá trị của nó trong việc nghiên cứu và phát triển tiếng Việt

Đây là một quyển từ điển được cấu tạo theo kiểu từ điển giải thích đơn ngữ tuân thủ trật tự gồm

- mục từ tiếng việt – giải thích bằng tiếng việt

1.2 Cấu tạo của quyển từ điển

Khác với các quyển từ điển song ngữ ra đời trước đó như từ điển Việt – Bồ - La ( Dictionarium Annamiticum Lusitanum Latinum) của Alexandre de Rhodes, Từ điển Dictionaire Annammite Francais của Jean Bonet, Từ điển Dictionarium Latino Annamiticum của J.L.Taberd, Đại Nam Quốc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Của là một quyển tự điển giải thích đơn ngữ (chỉ giải thích một ngôn ngữ duy nhất là tiếng Việt

mà thôi) và đây cũng là từ điển giải thích tiếng Việt đầu tiên ở Việt Nam

Cấu trúc chung của mọi loại từ điển, khác hẳn với các loại sách khác ở chổ từ điển có cấu trúc đôi, có tính hệ thống chặt chẽ Các mục từ trong một quyển từ điển được sắp xếp theo một trật tự nhất định, mỗi mục từ là một đơn vị độc lập, có nội dung riêng biệt Cấu trúc của từ điển giải thích vào loại đa dạng và phức tạp nhất trong các loại từ điển Lí luận từ điển học hiện đại đã có một bước ngoặt đáng kể với các khái

niệm cấu trúc vĩ mô và cấu trúc vi mô mà J Rey Debove đưa ra Cấu trúc vĩ mô hay

Trang 38

còn gọi là cấu trúc bảng từ: Các mục từ trong từ điển giải thích phải được thu thập theo những tiêu chí nhất định, tạo thành một bảng từ có cấu trúc chặt chẽ, có tính hệ thống,

đảm bảo sự nhất quán Cấu trúc vi mô hay còn gọi là cấu trúc mục từ: J Rey Debove

coi mỗi mục từ trong từ điển có cấu trúc như một câu, trong đó đơn vị mục từ là chủ ngữ, các thông tin là vị ngữ; L Zgusta gọi hai thành phần chính của cấu trúc vi mô là phần đề (mục từ) và phần chính (các thông tin) Hai quan niệm này cùng nêu lên một đặc tính cơ bản của cấu trúc mục từ, đó là tính "Đề - Thuyết" Trong từ điển giải thích, nội dung cơ bản là thông tin ngữ nghĩa, mà thành phần hạt nhân là phần định nghĩa

Những đặc điểm trên là tiêu chí chung về cấu tạo của một quyển từ điển giải nghĩa, tuy nhiên Đại Nam Quốc Âm Tự Vị lại có cấu tạo tương đối đặc biệt hơn Thứ nhất theo Huỳnh Tịnh Của, Đại Nam Quốc Âm Tự Vị không phải là một quyển từ điển

mà đây là một quyển tự vị vì với ông “ Tự điển phải có chú giải, mỗi chữ, mỗi tiếng

đều phải dẫn điển, dẫn tích nguyên là chữ sách nào, nguyên là lời ai nói, cả thảy đều phải kinh truyện làm thầy Cứ như tự vị cũng là sách hội biên các thứ chữ, cũng các tiếng nói song trong ấy chú thích chữ một, nghĩa một mà không dẫn điển tích gì Tuy sách ta có chú giải rộng, có đem những lời ngạn ngữ, có trưng những lời chuẩn đích trong các ca văn hay như là Ca trù, Chinh phụ ngâm, Kim Vân Kiều, vân vân; nhưng vậy cũng là chuyện chơi, chuyện ngoài, không phải là kinh điển Suy một lẽ ấy, dẫu sách ta rộng rải, tưởng tất thế nào, cũng chưa dám bì với tự vị tàu mà gọi là tự điển”

Đây là quyển từ điển được cấu tạo theo kiểu từ điển giải thích đơn ngữ, bộ tự điển tiếng Việt giải nghĩa bằng tiếng Việt, được viết bằng chữ Quốc Ngữ, có in kèm theo chữ Hán và chữ Nôm, các từ đầu mục được sắp sếp theo thứ tự a, b, c,d… của mẫu tự Latinh giống với phần đông các bộ từ điển phương Tây như Pháp, Anh, Đức

Các đơn tự, các từ ngữ, các thành ngữ đều được viết bằng chữ Quốc Ngữ và giải nghĩa bằng chữ Quốc Ngữ Tuy trong bộ từ điển này tác giả có dùng thêm chữ Hán và chữ Nôm nhưng chữ Nôm chỉ có ở sau những đơn tự nào không phải gốc chữ Hán mà

là tiếng Việt thuần túy, được tác giả ghi tắt bằng chữ “n” (nghĩa là Nôm) Những chữ

Trang 39

Hán chỉ có ở sau những đơn tự gốc Hán và một số ít từ ngữ, thành ngữ Hán Việt được tác giải ghi tắt bằng chữ “c” ( nghĩa là Chữ) Khi nào một chữ vừa dùng trong chữ Hán vừa dùng trong chữ Nôm thì được viết tắt bằng hai chữ “c.n”(nghĩa là Chữ và Nôm)

Theo tiểu tự ở đầu sách, phần chữ Hán được viết theo tự điển Khang Hi, phần chữ Nôm căn cứ vào các ca vãn hay như Ca trù, Chinh phụ ngâm khúc, Kim Vân Kiều,…phần chữ Quốc Ngữ thì tùy theo thói quen, giữ cho thiệt tiếng thiệt vần

Tác giả sắp các đơn tự theo thứ tự a, b, c, giống với cách sắp xếp của phần đông các bộ tự điển phương Tây như Anh , Pháp, Đức… tuy nhiên chúng ta cũng thấy lối sắp xếp đơn tự trong bộ Đại Nam Quấc Âm Tự Vị có nhiều điểm đặc biệt khác với nhiều bộ Tự Điển Việt Nam như:

Các chữ A, Ă, Â hoặc O, Ô, Ơ hay E, Ê, U, Ư nằm trong mỗi đơn tự sắp kề nhau thay vì hết chữ A rồi sang Ă, Â hay hết O rồi mới sang Ô, Ơ,…

Ví dụ:

Sau chữ Am ( A khởi đầu) rồi đến chữ Ẵm ( Ă khởi đầu), Âm ( chữ Â khởi đầu)

Ấm, Ầm, Ẩm, rồi lại trở lại An, Án ( A khởi đầu)

Sau chữ Án đến chữ Ăn, Ân, Ấn, Ẩn, rồi trở lại Ang Tác giả không đi theo tuần

tự là chữ này hết rồi mới đến chữ khác

Sau chữ Chõi ( vần oi khơi đầu bằng chữ O), đến chữ Chôi ( vần ôi, khởi đầu bằng chữ Ô), Chôi, Chồi, Chổi, Chơi ( vần Ơi khởi đầu bằng chữ Ơ) Chới, Chời, rồi lại trở lại với chữ Chòm ( khởi đầu bằng vần Om chữ O)

Tác giả không ghi những chữ mà vần khởi đầu bằng một chữ cho hết mà lại nhảy qua những chữ vần khởi đầu khác sau đó lại quay trở về với chữ có vần khởi đầu

Như vậy cách viết này thật sự làm rối và gây khó khăn cho việc tra cứu của người dùng, nó cũng là một nhược điểm mà luận văn sẽ đề cập thêm ở phần sau

Trang 40

Huỳnh Tịnh Của cũng không tuân theo thứ tự chính tả thông thường, không tuân thủ theo nguyên tắc Âm vị học Ông không hề sắp sếp xếp riêng các chữ Gh, Kh, Ng,

Nh, Th mà để chúng nằm trong thứ tự các chữ G, K, N, T

Cách viết này không vi phạm nguyên tắc chính tả mà thậm chí còn làm cho các mục từ dễ tìm kiếm hơn, gọn hơn

Sau chữ H, tác giả sắp xếp chữ Y rồi đến I, không sắp xếp Y sau chữ X như các

tự điển theo mẫu tự a, b, c, của phương Tây

Các thanh điệu cũng không được đặt theo thứ tự thống nhất

Ví dụ: Trong mục từ D, tác giả sắp xếp từ Da rồi lại đến Dạ, Dá, Dà, Dã Như vậy sau thanh Ngan lại là thanh Nặng rồi lại đến Sắc- Huyễn – Ngã Không hề tuân thủ nguyên tắc sử dụng thanh điệu là Ngan – Huyền – Hỏi – Ngã – Sắc – Nặng như theo chuẩn chính tả ngày nay

Sau mỗi từ đầu mục, tác giả giải nghĩa thêm một số từ ngữ hoặc thành ngữ có liên quan đến từ đầu mục đó

Ví dụ: Sau tiếng Ba có ghi và giải nghĩa các tiếng như: Ba ba, ba sanh, ba hồn

bảy vía, ba bảy hai mươi mốt, ba lo, ba dãy ba ngang, ba vuông bảy chòn, ba chớp ba sáng, ba chìm bảy nổi, ba bó một vạ, ba rọi, ba chánh, cái đinh ba, ba lô ba la, con ba

ba, bánh ba ba

Sau tiếng Chuối có ghi và giải nghĩa các tiếng như: Cây chuối, chuối cây, lá

chuối, bẹ chuối, tầu chuối, buồng chuối, quày chuối, nải chuối, đọt chuối, bắp chuối, dây chuối, chỉ chuối, mềm như chuối, chuối cau, chuối cơm…, ăn không biết lột vỏ chuối, chuối đút miệng voi, chuối đóng vóc

Đặc biệt nhiều từ ngữ đáng lẽ chỉ nên nêu ra ra trong ví dụ tác giả lại giải nghĩa

ra một cách không cần thiết

Ví dụ: trong từ Da, tác giả dẫn ra hai từ Da Trâu, Da Lợn và giải thích cụ thể, thiết nghĩ tác giả chỉ cần trích dẫn như ví dụ chứ không nhất thiết phải cần giải nghĩa hai từ này

Ngày đăng: 11/05/2021, 23:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w