Bằng nhiều góc độ tiếp cận theo quan điểm nghiên cứu của mình, các tác giả đã nêu bật quan điểm của V.I.Lênin về dân chủ, chỉ ra sự khác nhau cơ bản giữa dân chủ tư sản và dân chủ vô sản
Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta đang bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đây là thời kỳ chuyển đổi giữa xã hội cũ còn tồn tại những hạn chế với xã hội mới đang nảy sinh và phát triển Xét về mặt kinh tế đây là thời kỳ chuyển biến từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu sang nền kinh tế công nghiệp và tiếp cận kinh tế tri thức Xét về mặt xã hội đó là sự chuyển biến từ xã hội truyền thống lên xã hội hiện đại tiến tới một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, con người có cuộc sống ấm no hạnh phúc
Trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay, dân chủ có vai trò đặc biệt quan trọng và có ý nghĩa quyết định đến sự thành công của công cuộc đổi mới đất nước Một xã hội muốn phát triển bền vững thì trước hết xã hội ấy phải được xây dựng trên nền tảng của sự ổn định và dân chủ Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, là mục tiêu và động lực phát triển xã hội Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã nói: "Dân chủ là cái quý báu nhất của nhân dân" [76,7] và thực hành dân chủ là chìa khóa để mở ra mọi cánh cửa của sự phát triển
Trong hơn 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, bộ mặt của xã hội đã có những thay đổi rõ rệt, quyền lợi của nhân dân lao động ngày càng được quan tâm, việc thực hiện và phát huy dân chủ ngày càng được mở rộng
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu rất đáng trân trọng, hiện nay trong xã hội còn tồn tại nhiều khó khăn, bức xúc và bất công Trên thực tế, quyền làm chủ của nhân dân chưa được tôn trọng và phát huy đầy đủ trong đời sống xã hội, không ít hiện tượng mất dân chủ, dân chủ hình thức, bệnh quan liêu, tư tưởng phong kiến, gia trưởng còn nặng nề Đồng thời, cũng xuất hiện khuynh hướng dân chủ cực đoan, dân chủ không đi liền với thực hiện kỷ cương và pháp luật, cơ chế và pháp luật bảo đảm thực hiện dân chủ chưa được cụ thể hóa và hoàn thiện
Thực trạng trên do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân sâu xa từ đời sống kinh tế xã hội, từ thói quen lối sống, tập tục sản xuất nông nghiệp lạc hậu, mặt bằng dân trí còn thấp, cơ chế chế tài luật pháp chồng chéo, thiếu đồng bộ chưa thực sự đi vào cuộc sống, chưa trở thành nhu cầu thiết yếu trong điều chỉnh quan hệ xã hội, việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở chưa thật sự đầy đủ và có hiệu quả Để đạt được những thắng lợi trong công cuộc xây dựng xã hội mới, trong thời kỳ đổi mới Đảng ta đã đề ra chương trình đổi mới toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Đảng ta xác định rõ nhiệm vụ cải tạo xã hội cũ xây dựng xã hội mới là nhiệm vụ của toàn dân, toàn xã hội Thành công của công cuộc đổi mới không đem lại lợi ích cho ai khác ngoài nhân dân Chủ nghĩa xã hội, như Hồ Chí Minh khẳng định là xã hội do nhân dân lao động làm chủ Quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội là quá trình xây dựng chế độ xã hội mới đảm bảo thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động Trong xã hội đó, dân chủ thể hiện lợi ích và quyền lực chân chính của nhân dân, đó là "dân làm chủ" và "dân là chủ"
Có thể nói nhân dân là lực lượng nòng cốt, quan trọng nhất trong quá trình đổi mới Bởi lẽ, “Dễ vạn lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong” (Hồ Chí Minh) Chính vì vậy, trong quá trình lãnh đạo cách mạng
Việt Nam Đảng ta luôn khẳng định cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân thực hiện và vì sự ấm no hạnh phúc của nhân dân; chế độ chủ nghĩa xã hội là chế độ của nhân dân, do nhân dân lao động làm chủ, sự nghiệp xây dựng và phát triển đó là của nhân dân, do nhân dân thực hiện (Hồ Chí Minh)
Cùng với thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh là một thành phố lớn năng động, một trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của cả nước.Vì vậy, việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở thành phố Hồ Chí Minh góp phần quyết định đến sự thành công của công cuộc đổi mới đất nước Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế thế giới đã mở ra cho chúng ta những vận hội mới, bên cạnh đó cũng đầy rẫy những khó khăn thách thức; việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở thành phố Hồ Chí Minh vô cùng phức tạp và trở thành một nhiệm vụ mang tính cấp bách Chọn vấn đề “Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về dân chủ với việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình, tác giả muốn góp phần giải quyết nhiệm vụ trên.
Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài
Từ trước đến nay, vấn đề “dân chủ” đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của đông đảo các học giả, các nhà khoa học trong và ngoài nước Đối với Việt Nam việc nghiên cứu vấn đề “Quan điểm của chủ nghĩa Mác –
Lênin về dân chủ với việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở thành phố Hồ Chí Minh” là một vấn đề mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc Liên quan đến vấn đề này có rất nhiều công trình nghiên cứu được thể hiện ở các hướng tiếp cận dưới đây:
Hướng tiếp cận thứ nhất, đề cập đến khái niệm dân chủ và các hình thức dân chủ trong lịch sử có các công trình sau: “Một số khía cạnh của khái niệm dân chủ” của TS Đỗ Trung Hiếu (Tạp chí Thông tin khoa học xã hội, số 231, 2002); “Một số cách tiếp cận của khái niệm dân chủ” của tác giả Nguyễn Đăng Quang (Tạp chí Thông tin Lý Luận, số 175, 1992); “Nền Dân chủ tư sản và những kinh nghiệm thực tiễn” của tác giả Vũ Dương Ninh (Tạp chí Thông tin lý luận, số 4, 1992); “Khái niệm dân chủ” của tác giả Nguyễn Quang Quýnh (Tạp chí Hiến pháp lược khảo, số 14, 1962) Các bài viết này bàn sâu về khái niệm “dân chủ”, đồng thời đề cập đến các khía cạnh chính trị, triết học của dân chủ và sự phát triển của các hình thức dân chủ trong lịch sử
Hướng tiếp cận thứ hai, có các công trình đề cập đến quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về dân chủ và kế thừa di sản tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin về dân chủ, trong đó phải kể đến các công trình tiêu biểu sau: “Tư
Tưởng của V.I.Lênin về dân chủ” của PGS.TS Trịnh Doãn Chính, TS Đinh
Ngọc Thạch, TS Trần Hùng, TS Trần Chí Mỹ đồng chủ biên (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004) Bằng nhiều góc độ tiếp cận theo quan điểm nghiên cứu của mình, các tác giả đã nêu bật quan điểm của V.I.Lênin về dân chủ, chỉ ra sự khác nhau cơ bản giữa dân chủ tư sản và dân chủ vô sản, phân tích những bài học đối với quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội ở nước ta hiện nay
Các tác phẩm “Bàn về dân chủ chủ nghĩa xã hội” của V.I.Lênin (Nxb
Sự Thật, 1962); “Bàn về dân chủ vô sản” V.I.Lênin (Nxb Sự Thật, 1973);
“Về chế độ dân chủ tư sản và chuyên chính vô sản” V.I.Lênin (Nxb Sự Thật, 1968); “Bàn về dân chủ trong quản lý xã hội” (Nxb Chính trị quốc gia,
2003); “Góp phần nhìn lại di sản tư tưởng của Mác – Lênin về dân chủ” của tác giả Nguyễn Thế phấn (Tạp chí Thông tin lý luận, số 174, 1992) Nhìn chung các tác phẩm này đã trình bày rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa, nêu ra được điểm khác biệt cơ bản cũng như bản chất của nền dân chủ tư sản và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và trình bày vai trò của dân chủ trong quản lý xã hội
Hướng tiếp cận thứ ba, có các công trình đề cập đến tư tưởng Hồ Chí
Minh về dân chủ và kế thừa di sản tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ Trong đó phải kể đến các công trình : “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và vận động nhân dân trong tác phẩm dân vận” của tác giả Nguyễn Thị Kim Hoa
(Tạp chí Lý luận chính trị số 6, 2005); “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và phép nước” của tác giả Vũ Văn Châu (Tạp chí Lý luận chính trị, số 7, 2006); đề tài nghiên cứu khoa học “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và sự vận dụng trong sự nghiệp đổi mới hiện nay” của tác giả Phạm Hồng Chương và
Nguyễn Thị Hương Giang năm 2001; “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ với việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở Việt Nam”, luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Hữu Tâm (2009), Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn, Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh; “Thực hiện dân chủ ở cơ sở theo tư tưởng Hồ Chí Minh” của tác giả Nguyễn Long Khánh, (Tạp chí cộng sản, số 16, 2001) Các công trình trên đều trình bày tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, đồng thời nghiên cứu vấn đề vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ vào công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước trên tất cả các mặt kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội
Hướng tiếp cận thứ tư, các công trình đề cập đến vấn đề thực hiện quy chế dân chủ cơ sở và phát huy dân chủ ở nước ta hiện nay tiêu biểu có các công trình sau:
Luận văn tiến sỹ của Đoàn Nam Hương “Quan điểm Mácxít về dân chủ và thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong điều kiện hiện nay tại Tây Ninh” (2007), đã trình bày những cơ sở lý luận chung về phạm trù “dân chủ”, đồng thời nêu bật được quan điểm Mácxít về “dân chủ” và việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở Tây Ninh trong điều kiện hiện nay
Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Văn Vui “ Quy chế dân chủ cơ sở thành phố Hồ Chí Minh những vấn đề lý luận và thực tiễn” (2005), đã trình bày những vấn đề lý luận và thực tiễn ở thành phố Hồ Chí Minh trong việc thực hiện quy chế dân chế cơ sở, luận văn cũng đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm xây dựng và hoàn thiện quy chế dân chủ cơ sở ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
“Nghị quyết của Đảng và thực tiễn cuộc sống - tác động của việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở đến quá trình đổi mới hệ thống chính trị cơ sở ở nước ta hiện nay” của tác giả Nguyễn Đức Ngọc (Tạp chí Khoa học xã hội, số 5, 2006)
“Về dân chủ đại diện dân chủ trực tiếp và dân chủ bán trực tiếp thời kỳ
1945-1946” của Lê Thị Phương Thảo (Tạp chí Lịch sử đảng, số 11, 1997);
“Bước đầu tìm hiểu những luận đề triết học xã hội về dân chủ và dân chủ hóa ở nước ta” của Hoàng Chí Bảo (Tạp chí triết học, số 68, 1990); “Dân chủ và cơ chế thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta: quan điểm, lý luận và phương pháp nghiên cứu” của Hoàng Chí bảo (Tạp chí Thông tin Lý luận, số
Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Mục đích của luận văn: Luận văn tập trung làm rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về dân chủ và thực trạng thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở thành phố Hồ Chí Minh Trên cơ sở đó tác giả đề ra một số giải pháp góp phần thúc đẩy việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Nhiệm vụ của luận văn: Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết một số nhiêm vụ sau:
Thứ nhất : Phân tích làm rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về dân chủ
Thứ hai : Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Thứ ba : Đề xuất một số giải pháp góp phần thúc đẩy việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Trong khuôn khổ của luận văn tác giả cố gắng giải quyết các nhiệm vụ của luận văn trên cơ sở phân tích và làm rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về dân chủ, khảo sát thực trạng và đề xuất một số giải pháp góp phần thúc đẩy việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được thực hiện dựa trên nguyên tắc thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về dân chủ và vấn đề xây dựng nền dân chủ mới ở Việt Nam
Tác giả sử dụng phương pháp biện chứng duy vật làm phương pháp chung nhất trong quá trình nghiên cứu, đồng thời vận dụng kết hợp các phương pháp như: phân tích và tổng hợp, logich và lịch sử, phương pháp khái quát hóa trong quá trình nghiên cứu và trình bày luận văn.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa khoa học: Luận văn làm rõ vấn đề dân chủ và thực hiện dân chủ theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh Đồng thời nêu những nguyên tắc thực hành dân chủ trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế ở Việt Nam Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn góp phần nâng cao nhận thức về dân chủ và vấn đề thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở thành phố Hồ Chí Minh; đồng thời luận văn cũng có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy vấn đề dân chủ và quy chế dân chủ cơ sở ở nước ta hiện nay.
Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phần tài liệu tham khảo; luận văn bao gồm 2 chương, 5 tiết
Chương 1: Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về dân chủ
Chương 2: Vấn đề thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ DÂN CHỦ
ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ DÂN CHỦ
CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ DÂN CHỦ
“Dân chủ” là một hiện tượng xã hội – lịch sử phức tạp, từ lâu đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều khoa học khác nhau trong hệ thống các khoa học xã hội nhân văn Ở cấp độ lý luận và phương pháp luận chung, dân chủ là đối tượng nghiên cứu của triết học Ở cấp độ chuyên biệt, dân chủ là đối tượng nghiên cứu của chính trị học và các khoa học khác như đạo đức, pháp luật…
Thuật ngữ “dân chủ” xuất hiện rất sớm trong xã hội Hy lạp cổ đại gắn liền với những cải cách của Solong vào thế kỷ thứ VI - TCN và sự hình thành thể chế dân chủ tại Athens (Aten) vào nửa sau thế kỷ thứ V- TCN Theo tiếng
Hy lạp cổ đại “dân chủ” được tạo thành bởi hai từ “Desmos” có nghĩa là nhân dân và “Kratos” có nghĩa là quyền lực Như vậy dân chủ (Desmos Kratos) có nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân và do nhân dân thực hiện quyền lực của mình trong tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội
Trong nhà nước Aten, nền dân chủ Aten là nền dân chủ trực tiếp, các quyết định của các thành bang không phải do tầng lớp quý tộc hay những người giàu có quyết định, mà trực tiếp do các công dân của thành bang thảo luận và quyết định, thông qua đại hội nhân dân mỗi công dân có quyền tham gia và biểu quyết một cách bình đẳng những vấn đề chung của xã hội Như vậy, khái niệm dân chủ dùng để chỉ một hình thức nhà nước mà ở đó quyền lực thuộc về nhân dân chứ không chỉ thuộc về những người giàu có hay những người thuộc tầng lớp quý tộc Như vậy thuật ngữ dân chủ chỉ xuất hiện khi trước đó đã tồn tại ba yếu tố: nhân dân, quyền lực công cộng và mối quan hệ giữa chúng
Nội dung khái niệm dân chủ về cơ bản vẫn giữ nguyên đến ngày nay, tuy nhiên khái niệm dân chủ thời cổ đại và hiện nay có sự khác nhau cơ bản về tính trực tiếp của mối quan hệ sở hữu quyền lực công cộng và cách hiểu về khái niệm nhân dân
Quyền lực trước hết là quyền uy và sức mạnh của con người được thể hiện trong những tổ chức xã hội nhất định Trong xã hội công xã nguyên thủy, quyền lực của nhân dân được bộc lộ và thực hiện trong những tổ chức tự quản của công xã Trong xã hội có giai cấp và nhà nước, quyền lực ấy được thể chế hóa vào chế độ nhà nước và pháp luật và cũng từ khi xã hội có giai cấp ra đời dân chủ được thực hiện dưới hình thức mới – hình thức nhà nước với tên gọi là: chính thể dân chủ, nền dân chủ hay chế độ dân chủ
Dân chủ là khái niệm mang tính lịch sử Dân là những ai? Những người nào được coi là dân điều này hoàn toàn phụ thuộc vào bản chất chế độ xã hội quy định Từ khi xã hội phân chia thành giai cấp tùy theo từng xã hội cụ thể nhất định, ai được coi là dân do bản chất giai cấp của giai cấp thống trị xã hội quy định
Dân chủ với tính cách là quyền lực của nhân dân đã xuất hiện từ rất sớm, ngay từ xã hội công xã nguyên thủy – xã hội chưa có giai cấp Trong xã hội đó để duy trì sự tồn tại của mình, con người đã biết tự tổ chức ra những hoạt động mang tính cộng đồng, xã hội, các thành viên công xã đều bình đẳng tham gia vào mọi việc của xã hội Việc cử ra những người đứng đầu các cộng đồng để thực hiện những quy định chung hoặc phế bỏ người đứng đầu nếu người đó không thực thi những quy định chung được giao cho mọi thành viên quyết định thông qua đại hội nhân dân Đó là hình thức dân chủ sơ khai, chất phát của những tổ chức tự quản trong xã hội chưa có giai cấp
Như vậy, “Dân chủ là phạm trù chỉ quyền làm chủ của nhân dân trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Trong xã hội không có giai cấp và không có nhà nước, dân chủ được bộc lộ và được thực hiện dưới những hình thức tổ chức tự quản của xã hội Còn trong xã hội có giai cấp và nhà nước thì dân chủ được thể chế hóa vào chế độ nhà nước và nó trở thành hình thức chính quyền nhà nước” [87,443]
Trong Từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 1) nêu rõ: “Dân chủ là hình thức thiết chế chính trị của xã hội dựa trên việc thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do Dân chủ cũng được vận dụng vào tổ chức và hoạt động của những tổ chức và thiết chế chính trị nhất định” [97,817]
Mỗi loại hình dân chủ chỉ ra đời và tồn tại trong một thời kỳ lịch sử gắn liền với một chế độ kinh tế xã hội nhất định, tính lịch sử của dân chủ còn cho thấy dân chủ ra đời ngày càng hoàn thiện, đỉnh cao của sự hoàn thiện là khi chủ nghĩa cộng sản được thiết lập, lúc đó những cơ sở kinh tế - xã hội của sự tồn tại nhà nước không còn nữa, thì nhà nước sẽ bị tiêu vong như V.I.Lênin đã nhận định “Chế độ dân chủ cũng là nhà nước, do đó, nhà nước mà mất đi thì chế độ dân chủ cũng mất theo Chỉ có cách mạng mới thủ tiêu được nhà nước tư sản Còn nhà nước nói chung tức chế độ dân chủ triệt để nhất thì chỉ có thể tiêu vong mà thôi” [60,24]
Cùng với tính lịch sử, dân chủ với tư cách là một phạm trù chính trị luôn gắn với xã hội có giai cấp và nhà nước tức là một chế độ dân chủ thể hiện thông qua nhà nước, vì vậy sẽ không có thứ “dân chủ chung chung, phi giai cấp”, “dân chủ thuần túy”, dân chủ bao giờ cũng mang tính giai cấp
Dân chủ cũng là một phạm trù đa nghĩa, dân chủ còn được hiểu với tư cách là một hệ giá trị phản ánh trình độ phát triển của cá nhân và cộng đồng xã hội trong quá trình giải phóng xã hội, chống áp bức, bóc lột và nô dịch để tiến tới tự do bình đẳng Chính vì vậy, trong bản chất của mình dân chủ đối lập với chuyên chế, dân chủ gắn liền với tự do, bình đẳng, công bằng xã hội trong quan hệ con người, là điều kiện giải phóng năng lực sáng tạo cho cá nhân con người, nó trở thành nhu cầu thiết thực, nội tại của đời sống con người cũng như toàn xã hội Nhìn từ phương diện này dân chủ là một hệ giá trị xã hội bền vững cho mọi thời đại, nó được quan niệm là tư cách, là tiêu chuẩn của sự tiến bộ xã hội, dân chủ đóng vai trò là mục tiêu, là động lực của sự phát triển, cũng là điều kiện để hình thành và phát triển nhân cách con người
1.1.1 Điều kiện hình thành quan điểm chủ nghĩa Mác –
Lênin về dân chủ Điều kiện kinh tế - xã hội hình thành quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin về dân chủ
Xã hội vận động và phát triển không ngừng luôn luôn gắn liền với các yếu tố tác động đến sự phát triển cụ thể, do đó mỗi cộng đồng xã hội hay một quốc gia dân tộc trong từng thời kỳ phát triển đều có những đặc trưng riêng Tương ứng với từng yếu tố đặc trưng của xã hội, thì hệ tư tưởng và nền dân chủ của xã hội cũng được biểu hiện dưới nhiều trạng thái khác nhau C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã kế thừa những quan niệm về dân chủ trong lịch sử để hình thành nên quan điểm của mình về dân chủ
Dân chủ với tính cách là một thiết chế nhà nước không xuất hiện tức thời mà phải trải qua một quá trình phát sinh và phát triển từ thấp đến cao, từ ít đến nhiều, từ những yếu tố dân chủ lẻ tẻ trong từng lĩnh vực kinh tế, tư tưởng xã hội đến một nền dân chủ gắn liền với chế độ thống trị của một giai cấp nhất định Như vậy dân chủ không xuất hiện tùy ý, tùy tiện theo ý muốn chủ quan của con người, mà theo yêu cầu khách quan của lịch sử, dân chủ ra đời trong những điều kiện lịch sử nhất định, nó là sản phẩm của tiến trình lịch sử
NỘI DUNG QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ DÂN CHỦ
1.2.1 Quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về dân chủ
Triết học Mác ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX đã khắc phục không chỉ tính phiến diện của chủ nghĩa duy vật trước đó, xác lập hình thức hiện đại của chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy vật biện chứng, mà còn thể hiện những nguyên lý của nó vào tiến trình của lịch sử xã hội; trong đó có lĩnh vực chính trị, nó đã tạo ra bước ngoặc cách mạng trong lịch sử triết học Tuy nhiên, triết học Mác ra đời không phải một cách ngẫu nhiên, hình thành trên một mảnh đất trống không, mà là sự kế tục có chọn lọc và phát triển tư tưởng dân chủ trong lịch sử nâng nó lên một tầm cao mới gắn với cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản và lực lượng xã hội tiến bộ vì những giá trị nhân văn và dân chủ đích thực
Vào thời kỳ chuyển tiếp tư tưởng (1841-1844), C.Mác đã tìm hiểu dân chủ từ góc độ giá trị, xem nó như sự chiến thắng của lý trí trước cái phi lý, sự khẳng định của nhân tính trước cái phi nhân tính, khắc phục sự “tha hoá” chính trị vốn là yếu tố bản chất dưới chế độ phong kiến
Trong tác phẩm “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của
Hêghen” được C.Mác viết vào mùa hè năm 1843, Mác đã phê phán quan điểm duy tâm, thần bí, mang nặng tính chất dung hòa về chính trị của Hêghen về nhà nước để đi đến một tư tưởng dân chủ triệt để Nếu trong quan điểm pháp quyền mình nhìn đâu Hêghen cũng thấy được sự trùng hợp giữa nhà nước (khi đó là nhà nước quân chủ Phổ) và xã hội công dân, xem nhà nước là sự triển khai của ý niệm, thì ngược lại C.Mác xem nhà nước là sự phát triển tất yếu của xã hội, đồng thời ông vạch ra sự tha hóa của nhà nước đối với xã hội công dân mà chế độ quân chủ là “biểu hiện hoàn chỉnh của sự tha hóa ấy” [67,353] Cũng trong tác phẩm này C.Mác đã đề cập đến chế độ dân chủ như mục tiêu đã đạt được của vận động lịch sử trong thời kỳ này, Ông viết:
“Chế độ dân chủ là câu đố đã được giải đáp của mọi hình thức chế độ nhà nước ngày càng hướng tới cơ sở hiện thực của nó, tới con người hiện thực, nhân dân hiện thực và được xác định là sự nghiệp của nhân dân Chế độ nhà nước ở đây xuất hiện với tính cách là sản phẩm tự do của con người”
Trong giai đoạn này C.Mác đã đưa ra tuyên bố chính trị của mình: một nền dân chủ thực sự phải gắn liền với sự nghiệp của nhân dân Tuyên bố đó làm nổi bật sự khác biệt giữa C.Mác và phái Hêghen trẻ Nếu như phái Hêghen trẻ đỗ lỗi thất bại của cuộc cách mạng cho “sự tham gia không thành công của đám đông”, thì ngược lại C.Mác và Ph.Ăngghen xem quần chúng nhân dân là lực lượng tích cực không thể thiếu trong các biến cố lớn lao của lịch sử “Hoạt động lịch sử càng lớn lao thì do đó, quần chúng, mà hoạt động lịch sử đó là sự nghiệp của mình, cũng sẽ lớn lên theo” [68,123]
Vào năm 1844, cùng với những luận điểm đầu tiên của chủ nghĩa duy vật biện chứng, C.Mác và Ph.Ăngghen đã thực hiện bước chuyển từ lập trường dân chủ cách mạng sang lập trường chủ nghĩa xã hội khoa học, từ đó quan điểm dân chủ cũng được phát triển lên một bước mới, chế độ dân chủ theo quan điểm của C.Mác là chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản Trong hàng loạt tác phẩm như Hệ tư tưởng Đức, Tuyên ngôn Đảng cộng sản,
Ngày 18 tháng sương mù của Luipônnapáctơ, Phê phán cương lĩnh Gôta, Chống Đuyrinh, Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước, vấn đề dân chủ đã được hình thành với những nội dung cơ bản đóng vai trò là định hướng đối với cuộc cách mạng vô sản và sự nghiệp xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa của các nước trên toàn thế giới
Tìm hiểu tư tưởng cơ bản của C.Mác và Ph.Ăngghen về dân chủ ta có thể thấy một số nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, C.Mác và Ph.Ănghen kế thừa những nhân tố hợp lý trong hoạt động thực tiễn và nhận thức của nhân loại về dân chủ, đặc biệt là việc tán thành cho rằng dân chủ là một nhu cầu khách quan của nhân dân lao động, dân chủ là quyền lực của nhân dân Trong tác phẩm “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen”, lần đầu tiên C.Mác đã trình bày một cách có hệ thống quan điểm của mình về dân chủ và nhà nước thông qua việc phê phán quan điểm duy tâm của Hêghen trong lĩnh vực triết học pháp quyền C.Mác đã bác bỏ quan niệm của Hêghen coi nhân dân là “vật liệu”, là
“phương tiện” biểu đạt nội dung ý niệm nhà nước, theo C.Mác nhân dân là chủ thể đích thực của nhà nước và bởi vậy xét về bản chất, nhà nước không có chủ quyền, mà chủ quyền ấy thuộc về nhân dân
Thứ hai, tính tất yếu lịch sử của sự thay thế dân chủ tư sản bằng dân chủ kiểu mới tức dân chủ vô sản sau này gọi là dân chủ xã hội chủ nghĩa Dân chủ tư sản là sự phát triển về chất, đó là bước phát triển nhảy vọt so với nền chuyên chế, độc tài của chế độ phong kiến, quân chủ Bình đẳng, bình quyền tự do cá nhân là nội dung nổi bật của dân chủ tư sản Đó là nội dung không có trong chế độ phong kiến, đó là những yếu tố tích cực có ý nghĩa tiến bộ khách quan của nền dân chủ tư sản Song dân chủ không phải là khái niệm bất biến và dân chủ tư sản không phải là khái niệm phi lịch sử mà nó gắn liền với vận mệnh của chủ nghĩa tư bản Ở giai đoạn đầu khi giai cấp tư sản là giai cấp tiên tiến của xã hội, giữ vai trò trung tâm của thời đại thì dân chủ tư sản có tác dụng tích cực trong việc tập hợp lực lượng chống phong kiến Nhưng khi chủ nghĩa tư bản phát triển thành chủ nghĩa đế quốc thể hiện tính chất phản động ăn bám và thối nát của nó, thì dân chủ tư sản ngày càng bị thu hẹp, nhân dân lao động ngày càng bị áp bức bóc lột nặng nề và bình đẳng, tự do, bác ái chỉ dành cho giai cấp tư sản, giai cấp có của trong xã hội Trong cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt trước nguy cơ mất còn, giai cấp tư sản thống trị đã không ngần ngại bóp ngẹt dân chủ, thẳng tay chuyên chính đàn áp mọi cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Sự đối lập giữa dân chủ và độc tài, chuyên chế phát xít là sự mâu thuẫn không thể điều hòa được Xét về bản chất, nền dân chủ tư sản là nền dân chủ dành cho thiểu số giai cấp tư sản chứ không phải là dân chủ cho nhân dân lao động và nhiều tầng lớp giai cấp khác Nền dân chủ đó tuyệt nhiên không phải là nền dân chủ của dân, do dân, vì dân Chính vì vậy, cần phải có một nền dân chủ khác thay thế nền dân chủ tư sản khi nền dân chủ tư sản đã làm xong nhiệm vụ lịch sử của mình, đó là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
C.Mác và Ph.Ăngghen đã nhận thấy xã hội tư sản không thể khắc phục được mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa cao của nền sản xuất xã hội và chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đối với tư liệu sản xuất, mâu thuẫn này ngày càng trầm trọng hơn Trong Tuyên ngôn Đảng cộng sản, C.Mác viết: “Xã hội tư sản hiện đại sinh ra từ trong lòng xã hội phong kiến đã bị diệt vong, không xóa bỏ được đối kháng giai cấp Nó chỉ đem những giai cấp mới, những điều kiện áp bức mới, những hình thức đấu tranh mới thay thế cho những giai cấp, những điều kiện áp bức, những hình thức đấu tranh cũ mà thôi” [69,597]
Trong “Tình cảnh giai cấp công nhân Anh”, Ph.Ăngghen cũng vạch ra mâu thuẫn không thể tránh khỏi của xã hội tư sản, đó là mâu thuẫn về lợi ích dẫn đến sự đối kháng giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản Khi mà giai cấp công nhân – những người hoàn toàn bị tước hết tư liệu sản xuất phải bán sức lao động của mình cho nhà tư bản, họ là những người nô lệ làm thuê là lực lượng chủ yếu tạo ra của cải cho xã hội phải sống trong tình cảnh nghèo khổ cùng cực, bị xem như súc vật thì hiển nhiên, giai cấp công nhân phải tìm cách thoát khỏi cái tình cảnh đã biến họ thành súc vật ấy, phải đấu tranh cho một tình cảnh tốt hơn, hợp với con người hơn
Trong tác phẩm “Bản thảo kinh tế triết học” C.Mác đã trình bày vấn đề lao động bị tha hóa, đối với người lao động, lao động là cái gì đó bên ngoài công nhân không thuộc về anh ta, mà thuộc về người khác nên trong lao động anh ta không tự khẳng định mình mà phủ định mình, không cảm thấy mình sung sướng mà cảm thấy mình khổ sở, chỉ có ngoài lao động người công nhân mới cảm thấy là chính mình, trong quá trình lao động anh ta cảm thấy bị tách khỏi bản thân Lao động của người công nhân trong xã hội tư sản tạo ra của cải cho giai cấp tư sản nhưng cũng chính nó tạo ra sự bần cùng hóa cho người công nhân Từ việc tha hóa trong lao động dẫn đến sự tha hóa trên bình diện rộng hơn là tha hóa bản thân con người, tha hóa loài Bản thân xã hội tư sản không thể giải quyết triệt để vấn đề lao động bị tha hóa, cũng như không thể giải quyết những mâu thuẫn trong lòng xã hội tư sản C.Mác khẳng định: Nền dân chủ tư sản chưa thể khắc phục được sự tha hóa con người, bởi lẽ nó tạo ra một nô dịch mới, thay thế cho sự nô dịch phong kiến, đó là sự nô dịch của ông chủ tư bản với người công nhân làm thuê Nhà nước tư sản đã thể chế hóa sự nô dịch ấy bằng hệ thống pháp luật của mình Để khắc phục sự tha hóa điều trước tiên là phải tuân thủ cơ sở hình thành sự tha hóa ấy Vì vậy, theo dòng chảy của lịch sử và quy luật của sự tiến hóa xã hội thì xã hội tư sản, nền dân chủ tư sản không phải là sự lựa chọn cuối cùng của nhân loại
Thứ ba, C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng sự tồn tại của các giai cấp chỉ gắn liền với những giai đoạn lịch sử nhất định của sự phát triển sản xuất; đấu tranh giai cấp tất nhiên đưa đến chuyên chính vô sản; bản thân sự chuyên chính này chỉ là bước quá độ đi đến xóa bỏ mọi giai cấp và đi đến một xã hội không có giai cấp Chuyên chính vô sản được C.Mác xem là quy luật phát triển về mặt chính trị xã hội của một xã hội bước vào cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa; chính vì vậy chuyên chính vô sản là chế độ chính trị của giai cấp vô sản, chuyên chính vô sản chính là sự thay thế nhà nước tư sản, dân chủ tư sản bằng nền dân chủ chân chính, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Thuật ngữ “chuyên chính vô sản” được C.Mác sử dụng đầu tiên trong tác phẩm “Đấu tranh giai cấp ở Pháp từ 1848 đến 1850” Trong tác phẩm này, C.Mác đã lập luận một cách sâu sắc về chuyên chính vô sản Ông chỉ ra rằng, trong tiến trình cách mạng không ngừng, nền chuyên chính vô sản cần phải đối lập lại với nền chuyên chính tư sản hiện có Giai cấp vô sản không thể sử dụng bộ máy bóc lột của giai cấp tư sản vào những lợi ích kinh tế chính trị xã hội của mình mà cần phải đập tan bộ máy nhà nước tư sản, xóa bỏ giai cấp tư sản, thiết lập bộ máy chính quyền của giai cấp mình Chuyên chính vô sản được coi là bước quá độ đi đến xóa bỏ mọi giai cấp, mọi nhà nước “Chuyên chính giai cấp của giai cấp vô sản được coi là giai đoạn quá độ tất yếu để đi đến xóa bỏ những sự khác nhau về giai cấp nói chung, xóa bỏ tất cả những mối quan hệ sản xuất làm cơ sở cho những sự khác nhau về giai cấp ấy, xóa bỏ tất cả những mối quan hệ xã hội tương ứng với những quan hệ sản xuất đó, đi đến bước ngoặt trong tất cả những tư tưởng sinh ra từ những quan hệ xã hội đó”[70,125]
Thứ tư, xuất phát từ sự vận động của lịch sử nhân loại, dựa trên quy luật xã hội phổ biến, dựa trên sự vận động của phương thức sản xuất xã hội C.Mác và PhĂngghen đã tiên đoán rằng: chuyên chính vô sản với tính cách là chế độ dân chủ của nhân dân chỉ là bước quá độ để đi đến dân chủ toàn diện, đi đến thủ tiêu nhà nước – công cụ thống trị của một giai cấp Chuyên chính vô sản là bước quá độ để thủ tiêu sự đối kháng giai cấp, xóa bỏ tính hình thức của nền dân chủ, gắn liền với nhà nước pháp quyền tư sản Thực tiễn xã hội đã chứng minh sự tiên đoán của C.Mác và Ph.Ăngghen không phải là sự mơ hồ, vô căn cứ khi mà giai cấp tư sản không thể thống trị xã hội được nữa vì nó không thể đảm bảo cho người nô lệ của nó ngay cả một mức sống nô lệ; như thế có nghĩa là “sự tồn tại của giai cấp tư sản không còn tương dung với sự tồn tại của xã hội nữa” [69,612], lúc này sẽ có một bước chuyển từ xã hội này sang xã hội khác Trong “Phê phán cương lĩnh