1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phương thức bản ngữ hóa từ ngoại lai trong tiếng hán

175 60 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 175
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với một bề dày lịch sử, một nền văn hoá đồ sộ như Trung Quốc cùng với một tinh thần dân tộc cao, do đó khi tất cả các “sản phẩm” từ nước ngoài du nhập vào Trung Quốc thì ít nhiều cũng bị

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA: ĐÔNG PHƯƠNG HỌC

Ngành: Châu Á học



TRẦN QUANG HUY

PHƯƠNG THỨC BẢN NGỮ HOÁ TỪ NGOẠI LAI

TRONG TIẾNG HÁN

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH CHÂU Á HỌC

MÃ SỐ: 60.31.50

Người hướng dẫn khoa học

TS HỒ MINH QUANG

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2012

Trang 2

Lời cảm ơn

Luận văn này là kết quả của một quá trình học tập và nghiên cứu khoa học của tác giả tại khoa Đông Phương học – Đại học quốc gia Thành Phố Hồ Chí Minh - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn:

- TS Hồ Minh Quang đã tận tình hướng dẫn, góp ý cho chúng tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

- Các Giảng viên và Thầy cô khoa Đông Phương học và phòng Sau Đại học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn – Thành phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình giảng dạy, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường

- Gia đình và bạn bè thân hữu luôn ủng hộ chúng tôi về mặt vật chất lẫn tinh thần, để chúng tôi có đủ nghị lực hoàn thành tốt luận văn này

TP Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 4 năm 2012

Tác giả Trần Quang Huy

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 5

NỘI DUNG 13

Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài 13

1.1: Từ ngoại lai và vấn đề giao lưu tiếp xúc văn hoá-ngôn ngữ 13

1.1.1 Vấn đề giao lưu tiếp xúc văn hoá – ngôn ngữ 13

1.1.2 Thuật ngữ “từ ngoại lai” trong tiếng Hán 16

1.2: Một số vấn đề trong quá trình bản địa hoá từ ngoại lai trong tiếng Hán 21

1.2.1: Sự định hình từ ngoại lai trong tiếng Hán 21

1.2.2: Việc chuẩn hóa từ ngoại lai trong tiếng Hán 25

Tiểu kết chương 1 27

Chương 2: Các thời kỳ hình thành và phát triển từ ngoại lai trong tiếng Hán 28

2.1: Thời viễn cổ 28

2.2: Tiên Tần, Lưỡng Hán 32

2.3: Nguỵ, Tấn, Nam Bắc Triều, Tuỳ, Đường 35

2.3.1 Từ ngoại lai gốc Phạn 37

2.3.2 Từ ngoại lai gốc Tây Vực 50

2.3.3: Từ ngoại lai có nguồn gốc từ các dân tộc du mục 55

2.4: Tống, Nguyên, Minh, Thanh 56

2.5 Giai đoạn cận hiện đại 60

2.5.1 Từ ngoại lai trong tiếng Hán cuối thời nhà Thanh đến nửa đầu thế kỷ XX 60

2.5.2 Từ ngoại lai trong tiếng Hán nửa cuối thế kỷ XX 63

Tiểu kết chương 2 68

Chương 3: Các phương thức Hán hoá từ ngoại lai 70

3.1 Hán hoá ngữ âm 70

3.1.1 Hán hoá số lượng âm tiết 70

3.1.1.1 Đơn giản hoá số lượng âm tiết 70

3.1.1.2: Phức tạp hoá số lượng âm tiết 72

3.1.2 Âm tố, tổ hợp âm tố và Hán hoá kết cấu âm tiết 73

3.1.2.1 Phép đối ứng ngữ âm và cách đọc âm Hán 73

3.1.2.2: Phân cắt kết cấu âm tiết 76

3.1.3 Những từ Hán hoá ngữ âm không phải là “tiếng bồi” 79

3.2 Hán hoá ngữ nghĩa 80

3.2.1 Sự thay đổi nghĩa của từ và sắc thái kèm theo 80

3.2.1.1 Thu hẹp nghĩa của từ 80

3.2.1.2 Mở rộng nghĩa của từ 81

3.2.1.3 Mở rộng nghĩa để tạo thành từ 83

3.2.1.4 Thay đổi sắc thái kèm theo 84

3.2.2 Hư cấu hoá ngữ nghĩa và phân tích lại 85

3.2.2.1 Hư cấu hoá ngữ nghĩa 85

3.2.2.2: Phân tích lại 86

3.2.2.3 Sự cạnh tranh nghĩa của từ 87

3.2.2.4 Thẩm thấu nghĩa của từ 88

3.2.2.5 Phiên dịch và Hán hoá ngữ nghĩa từ ngoại lai 88

3.3 Hình thức Hán hoá ngữ pháp 90

3.3.1 Tỉnh giảm hình thái học của từ 90

3.3.2 Hán hoá hình thức kết cấu từ ngữ 91

Trang 4

3.4 Hán hoá hình thái học trên văn tự, chữ viết 93

3.4.1: Hán hoá mang tính rõ ràng 93

3.4.2 Hán hoá mang tính không rõ ràng (tính ẩn) 95

3.4.2.1: Hình thành các hình thái học xác định trên sách vở 96

3.4.2.2: Thói quen sử dụng phổ biến 97

3.4 Các hình thức dịch mượn trong từ ngoại lai tiếng Hán 98

3.4.1 Dịch âm và từ ngoại lai dịch âm 98

3.4.1.1 Phạm vi và tính chất dịch âm 98

3.4.1.2 Dịch âm là một trong những phương thức chủ yếu khi tiếng Hán hấp thu từ ngoại lai 101

3.4.2 Dịch ý và từ dịch ý 103

3.4.2.1 Tính chất và phạm vi của từ dịch ý 103

3.4.2.2 “Ý hoá” là khuynh hướng chủ yếu của tiếng Hán khi hấp thu từ ngoại lai 106

3.4.3 Từ ngoại lai dịch âm kiêm dịch ý 108

3.4.3.1 Từ ngoại lai “âm và ý có mối quan hệ với nhau” 109

3.4.3.2 Từ ngoại lai “nửa dịch âm nửa dịch ý” 111

3.4.3.3 Từ ngoại lai “dịch âm thêm thành phần biểu ý” 112

3.4.4 Dịch hình và từ dịch hình 114

3.4.4.1 Đặc điểm và tính chất của dịch hình 114

3.4.4.2 Đặc điểm và tính chất của từ dịch hình 116

3.4.5 Từ mẫu tự 116

3.4.5.1 Sự xuất hiện từ mẫu tự 116

3.4.5.2 Phạm vi từ mẫu tự 118

Tiểu kết chương 3: 120

Chương 4: Việc tiếp nhận từ ngoại lai trong tiếng Hán vào tiếng Việt 122

4.1 Bối cảnh lịch sử và sự tiếp xúc văn hoá Hán – Việt 122

4.2 Từ ngoại lai gốc Phạn trong tiếng Hán du nhập vào tiếng Việt (từ Phạn – Hán – Hán – Việt) 125

4.2.1 Hoàn cảnh lịch sử từ ngoại lai gốc Phạn trong tiếng Hán du nhập vào tiếng Việt 125

4.2.2 Một số từ ngoại lai Phạn – Hán – Hán – Việt 126

4.3 Từ ngoại lai gốc Nhật trong tiếng Hán du nhập vào tiếng Việt (từ Nhật – Hán – Hán – Việt) 127

4.3.1 Hoàn cảnh lịch sử Từ ngoại lai gốc Nhật trong tiếng Hán du nhập vào tiếng Việt.127 4.3.2 Một số từ ngoại lai Hán – Nhật – Hán – Việt 129

4.4 Từ ngoại lai Hán – Việt gốc Ấn Âu trong tiếng Việt 131

Tiểu kết chương 4: 133

KẾT LUẬN 134

TÀI LIỆU THAM KHẢO 137

Phụ lục 147

Trang 5

Thật vậy, ngôn ngữ có mối quan hệ mật thiết với các hoạt động của xã hội, đặc biệt là hoạt động giao lưu và tiếp xúc văn hoá của một dân tộc này với một dân tộc kia Việc giao lưu văn hoá là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự tiến bộ của

xã hội loài người Thậm chí chúng ta cũng có thể nói, nếu không có giao lưu văn hoá thì loài người cũng không có tiến bộ, và thế giới ngày hôm nay cũng sẽ không có xã hội phát triển phồn vinh như vậy Nhìn xung quanh, từ phương diện ăn, mặc, ở, đi lại của chúng ta ngày hôm nay, những phương diện nào lại không có dấu tích của giao lưu văn hoá Nếu như không có việc giao lưu văn hoá của mấy ngàn năm hay đặc biệt là vài trăm năm trở lại đây, thì xã hội ngày hôm nay của chúng ta có được như vậy không? Cho đến ngày nay, vấn đề này ngày càng chiếm một vị trí quan trong xã hội Kể từ năm 1992, sau khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, chiến tranh Lạnh chấm dứt, cơ chế kinh tế thị trường nhanh chóng được hầu hết các quốc gia trên thế giới chấp nhận, và đánh dấu một thời đại mới bắt đầu, đó chính là thời đại toàn cầu hoá Dưới tác động của những tiến bộ trong tin học và viễn thông, sự giao lưu rộng rãi trên phạm vi toàn

Trang 6

cầu diễn ra trong mọi lĩnh vực, từ toàn cầu hoá kinh tế, nó kéo theo toàn cầu hoá chính trị, văn hoá, xã hội, và cả ngôn ngữ nữa…

Vấn đề từ ngoại lai trong tiếng Hán là vấn đề tuy không mới nhưng vẫn là vấn đề luôn được các nhà nghiên cứu quan tâm Vì trong xã hội ngày nay, lượng thông tin ngày càng lớn, nhu cầu giao tiếp trao đổi thông tin ngày càng tăng, nhiều sự vật, hiện tượng mới xuất hiện… do đó, muốn giao tiếp được thuận lợi thì việc vay mượn từ ngữ

từ một dân tộc khác là một việc tất yếu Vì thế vốn từ ngoại lai này ngày càng tăng và biến đổi không ngừng Chính vì đặc tính trên mà việc nghiên cứu vốn từ này trong bối cảnh hiện nay là rất cần thiết Hơn thế nữa, Trung Quốc là nước được biết đến như một quốc gia lớn có ảnh hưởng đến các lĩnh vực của các nước khác như văn hóa, kinh tế, chính trị và đặc biệt là ngôn ngữ Nhưng khi tìm hiểu sâu hơn về ngôn ngữ Trung Quốc và quá trình phát triển của nó, ta lại phát hiện một điều thú vị Thì ra, một phần trong tiếng Hán cũng được vay mượn, bằng chứng là lớp từ ngoại lai đã chiếm vị trí tương đối trong tiếng Hán Với một bề dày lịch sử, một nền văn hoá đồ sộ như Trung Quốc cùng với một tinh thần dân tộc cao, do đó khi tất cả các “sản phẩm” từ nước ngoài du nhập vào Trung Quốc thì ít nhiều cũng bị Hán hoá trước khi được người dân Trung Quốc sử dụng một cách rộng rãiVậy lớp từ ngoại lai ấy đã du nhập vào tiếng Hán như thế nào và người Trung Quốc đã dùng phương thức gì để biến lớp từ vay mượn ấy thành của mình? Với nhiều lý do như thế đã thúc đẩy chúng tôi đi sâu tìm hiểu đề tài "phương thức bản ngữ hóa từ ngoại lai trong tiếng Hán"

sẽ có ý nghĩa vô cùng quan trọng Trong đó, từ ngoại lai là một trong những biểu hiện

rõ nhất của sự tiếp xúc ngôn ngữ, sự giao lưu văn hoá và phát triển xã hội Qua quá trình tiếp ngữ ngôn ngữ giữa các quốc gia dân tộc, với lượng từ tiếp thu ngày càng nhiều thì đây cũng là một áp lực đối với người dân Trung Quốc trong việc biến chúng thành một lớp từ của riêng mình Từ những mục đích rõ ràng trên có thể thấy đề tài về

Trang 7

phương thức bản ngữ hoá từ ngoại lai trong tiếng Hán có một số ý nghĩa khoa học và thực tiễn sau:

• Ý nghĩa khoa học của đề tài:

- Qua việc nghiên cứu quá trình và cách thức du nhập của lớp từ ngoại lai trong tiếng Hán, đề tài sẽ cung cấp thêm những chứng cứ cho lý luận tiếp xúc ngôn ngữ, mà cụ thể là sự giao thoa ngôn ngữ trong khu vực Đông Á, và sự va chạm giữa các ngôn ngữ trong và ngoài vùng văn hóa chữ Hán

- Tìm hiểu lịch sử phát triển từ ngoại lai trong tiếng Hán và sự ảnh hưởng tất yếu của từ ngoại lai tiếng Hán sang tiếng Việt trong lịch sử hình thành và phát triển của tiếng Việt

• Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:

- Đề tài nếu được nghiên cứu một cách nghiêm túc và khoa học, cùng với niềm say mê của bản thân, chúng tôi hy vọng rằng đề tài sẽ mang lại nhiều kiến thức

bổ ích cho những ai quan tâm đến tiếng Hán và đặc biệt là nhóm từ ngoại lai trong tiếng Hán Đồng thời, nếu đề tài này được nghiên cứu thành công sẽ góp phần vào kho tài liệu tham khảo cho sinh viên chuyên ngành Trung Quốc học nói riêng và những ai nghiên cứu về Châu Á học nói chung

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Từ ngoại lai là một trong những đối tượng nghiên cứu được các nhà ngôn ngữ học quan tâm nhiều nhất Đối với Trung Quốc, là một nước có diện tích lớn trong khu vực Châu Á, một nước đa dân tộc, có dân số đông nhất thế giới hiện nay và đặc biệt là một quốc gia có nền văn minh lâu đời thì việc nghiên cứu từ ngoại lai trong tiếng Hán

là một công việc vô cùng khó khăn và phức tạp Chẳng hạn như Trung Quốc trong những thời kỳ lịch sử nhất định, sẽ có những mối quan hệ giao lưu, tiếp xúc văn hoá, ngôn ngữ với một dân tộc hay một quốc gia cụ thể nào đó, tuỳ vào hoàn cảnh lịch sử cũng như những đặc điểm văn hoá, ngôn ngữ của hai dân tộc khác nhau sẽ kết hợp tạo nên lớp từ ngoại lai mang vừa tính chất lịch sử cũng vừa mang tính chất văn hoá của hai dân tộc đó Vì thế một công việc khó khăn được đặt ra là đòi hỏi người Trung

Trang 8

Quốc phải biết cách khéo léo trong việc tiếp nhận và sử dụng nhóm từ ngoại lai có nguồn gốc phức tạp này

4 Phương pháp nghiên cứu

Với phạm vi có diện rộng như vậy, nội dung của đề tài không dàn trải theo kiểu bình quân chủ nghĩa, mà kế thừa một cách triệt để những thành tựu có sẵn đã được thừa nhận, trên cơ sở đó tập trung khảo sát, mô tả những vấn đề có nội dung phục vụ cho chiến lược của đề tài

Về phương pháp luận khoa học chung, chúng tôi vận dụng phương pháp lịch sử

- logic Bằng phương pháp lịch sử - logic, chúng tôi mô tả quá trình phát sinh, phát triển của từ ngoại lai trong tiếng Hán, từ đó thấy được bản chất cũng như quy luật của các phương thức bản ngữ hoá từ ngoại lai trong tiếng Hán

Bên cạnh phương pháp lịch sử - logic, chúng tôi còn sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp Trong quá trình phát triển lâu dài và phức tạp của nhóm từ ngoại lai cần phải phân tích ra từng giai đoạn thích hợp từ đó mới có thể thấy được những phương phức tiếp nhận nhóm từ ngoại lai của người dân Trung Quốc vào việc sử dụng giao tiếp hằng ngày

Ngoài ra, trong khi tiến hành phương pháp này, chúng tôi cũng thực hiện kết hợp phương pháp thống kê phân loại

5 Lịch sử vấn đề

Ngay từ thời xa xưa, khi xã hội loài người bắt đầu hình thành thì ngôn ngữ cũng nhanh chóng phát triển Do nhu cầu phát triển xã hội ngày càng tăng, việc giao tiếp, buôn bán, thương mại, giao lưu văn hoá giữa các dân tộc trong một quốc gia hay các giữa các quốc gia với nhau cũng theo đà phát triển Vì thế trong quá trình giao lưu, tiếp xúc ấy muốn đạt hiệu quả cao đòi hỏi phải có sự tiếp xúc về ngôn ngữ, từ đó sự phát triển về ngôn ngữ cũng trở nên nhanh chóng và ngày một phức tạp hơn Trước những hiện trạng thực tế trên, các nhà ngôn ngữ học đã không ngừng nghiên cứu vấn đề này,

mà đặc biệt là từ ngoại lai – một hiện tượng ngôn ngữ tiêu biểu cho quá trình tiếp xúc ngôn ngữ Ngôn ngữ Hán, đặc biệt là chữ Hán – một thành tựu vĩ đại của người Trung Quốc, ra đời từ rất sớm và có một quá trình phát triển liên tục trong suốt chiều dài lịch

Trang 9

sử Về căn bản chữ Hán hiện nay đã hấp thu không ít vốn từ được du nhập từ các dân tộc khác hay các quốc gia khác trên thế giới Do đó, vốn từ ngoại lai này chiếm một vị trí nhất định trong ngôn ngữ Hán Nhưng thái độ của các nhà nghiên cứu đối với thành viên đặc biệt này như thế nào, quan tâm nhiều hay ít, quan tâm về mặt nào, và với mục đích gì… thì không hoàn toàn giống nhau Tiêu biểu và đi đầu trong việc nghiên cứu vấn đề này, trước hết có thể kể đến là tác giả Sử Hữu Vi 史有为 , một nhà nghiên cứu nhiệt tâm với nhiều công trình nghiên cứu về nhóm từ ngoại lai này Điển hình là tác phẩm “Từ ngoại lai – sứ giả của các nền văn hoá khác nhau” 《外来词 – 异文化的使者》[71] Nội dung chính của tác phẩm này, phần lớn tác giả giới thiệu khái quát các loại từ ngoại lai xuất hiện trong tiếng Hán trong suốt hơn 3000 năm Dưới góc nhìn liên kết giữa lịch sử và ngôn ngữ, tác giả đã miêu tả sự đa dạng muôn màu của nhóm

từ vựng này Đối với thành quả nghiên cứu từ ngoại lai vô cùng phức tạp của lớp người đi trước thì tác phẩm “Từ ngoại lai – sứ giả của các nền văn hoá khác nhau”

《外来词 – 异文化的使者》là một sự chỉnh lý và bổ sung tất yếu Nội dung chính của tác phẩm là dẫn dắt người đọc đi qua từng thời kỳ lịch sử của Trung Quốc: từ thuở khai thiên lập địa, xã hội sơ khai cho đến thời kỳ hiện đại, thời kỳ của khoa học kỹ thuật Trong từng thời kỳ, sẽ có những sự kiện nổi bật đánh dấu sự quan hệ, giao lưu giữa Trung Quốc với các dân tộc và các quốc gia trong khu vực Tác phẩm không dừng lại ở việc làm tài liệu tham khảo mà nó còn được xem nhưng một cuốn từ điển nhỏ về từ ngoại lai Đây thực sự là một công trình nghiên cứu có giá trị

Ngoài ra, nhà nghiên cứu Sử Hữu Vi còn có hàng loạt các bài báo chuyên luận

về vấn đề từ ngoại lai Trong đó đáng chú ý nhất là bài viết “Bàn luận tiếp xúc ngôn ngữ thời đương đại và từ ngoại lai” 《论当代语言接触与外来词》[70] Trong bài viết này, ông đã nêu lên được các mô thức và sự thay đổi trong vấn đề tiếp xúc ngôn ngữ, từ đó đưa ra một số ảnh hưởng của chúng đối với từ ngoại lai Một điểm nữa đáng chú ý trong bài viết này là chế ước việc tiếp xúc ngôn ngữ và các nhân tố của từ ngoại lai Ở quan điểm này, tác giả đã nêu bật lên các đặc điểm của ngôn ngữ và văn hoá, qua đó đề ra một số chính sách ngôn ngữ và hiện trạng ngoại ngữ ở Trung Quốc hiện nay Cuối bài viết, tác giả còn nêu lên những quan điểm của mình về vấn đề tiếp xúc ngôn ngữ trong thế kỷ mới, thế kỷ của khoa học kỹ thuật

Trang 10

Vấn đề nghiên cứu từ ngoại lai trong bối cảnh đất nước Trung Quốc hiện nay đã thu hút không ít sự quan tâm từ các nhà nghiên cứu nổi tiếng như nhà nghiên cứu Thái Mai 蔡梅 với sách chuyên khảo “Các vấn đề quy phạm và hình thức mới của từ ngoại lai trong tiếng Hán hiện đại” 《 现 代 汉 语 外 来 词 的 新 形 式 及 其 规 范 问 题 》[73] Trong công trình nghiên cứu này, phần lớn ông đưa các lý thuyết về từ ngoại lai Nhà nghiên cứu Lý Huyền Ngọc 李玄玉, với tác phẩm “Từ dịch âm trong tiếng Hán: tính dân tộc và tính thời đại” 《汉语音译词:民族性和时代性》[55] Lý Huyền Ngọc cho rằng: trong quá trình tiếng Hán hấp thu từ dịch âm, một mặt từ dịch âm phải chịu

sự chế ước và cải tạo của quy luật kết cấu của tiếng Hán, mặt khác từ dịch âm còn phải dựa vào những đặc điểm các dân tộc và các hình thức dân tộc trong tiếng Hán để trở thành thành viên chính thức trong lớp từ vựng tiếng Hán Hay tác giả Chu Khánh Chi 朱庆之cũng có bài “Bàn luận vấn đề nghiên cứu từ ngoại lai trong tiếng Hán” 《汉语

外来词研究杂谈》[31] cũng cho biết hiện trạng nghiên cứu vấn đề từ ngoại lai trong tiếng Hán trong lịch sử như: vấn đế nghiên cứu đối với từ ngoại lai có liên quan đến Phật giáo, hệ thống nghiên cứu từ vay mượn tiếng Mông Cổ trong tiếng Hán vào thời nhà Nguyên, từ vay mượn tiếng Tiên Ti vào thời trung cổ, hay việc nghiên cứu từ ngoại lai trong tiếng Hán vào thế kỷ thứ XIX Từ những hiện trạng và kết quả nghiên cứu vấn đề trên, tác giả đã rút ra mấy điểm phản ánh về việc nghiên cứu từ ngoại lai trong tiếng Hán hiện nay không như mong đợi, ông cho rằng có ba nguyên nhân chủ yếu sau: thứ nhất người nghiên cứu không có nhận thức được về vấn đề nghiên cứu tiếp xúc ngôn ngữ đối với việc nghiên cứu sự thay đổi trong ngôn ngữ là có một giá trị quan trọng Nguyên nhân thứ hai là người nghiên cứu cần phải nắm rõ lịch sử ra đời và phát triển của tiếng Hán và từ đó hình thành nhận thức rõ ràng ưu khuyết điểm Cuối cùng tác giả cho rằng nhà nghiên cứu có kiến thức kết cấu quá hẹp, không đủ năng lực

để nghiên cứu các vấn đề về tiếp xúc ngôn ngữ Đây cũng là một trong số ít các nhà nghiên cứu nêu ra những yêu cầu quan trọng đối với một nhà nghiên cứu về vấn đề từ ngoại lai

Gần đây, việc nghiên cứu về từ ngoại lai trong tiếng Hán trở nên sôi động hơn với các công trình nghiên cứu như : “Từ vay mượn tiếng Nhật trong tiếng Hán đương đại qua trang Nhật báo Nhân dân” 《从人民网日本版看当代汉语中的日语借词》

Trang 11

của tác giả Quách Phục Lương 郭 伏良[66], công trình nghiên cứu “Từ vay mượn tiếng Hán trong phương ngôn Mân Nam và tiếng Thái” 《闽南方言与泰语中的汉语借词》của tác giả Ngô Thánh Dương 吴圣杨 [60] Với công trình “Từ vay mượn tiếng Nhật trong tiếng Hán đương đại qua trang Nhật báo nhân dân”, Quách Phục Lương 郭伏良đã phân loại từ vay mượn tiếng Nhật, nêu lên tác dụng tích cực trong việc sử dụng từ nhóm từ vay mượn tiếng Nhật, cuối cùng là các vấn đề quy phạm trong việc sử dụng nhóm vay mượn này Tác phẩm được viết ngắn gọn và súc tích nhưng lại có tính khái quát cao Còn trong công trình nghiên cứu “Từ vay mượn tiếng Hán trong phương ngôn Mân Nam và tiếng Thái” của tác giả Ngô Thánh Dương吴圣

杨là chỉ chuyên đi sâu nghiên cứu về nhóm từ vay mượn trong phương ngôn Mân Nam và tiếng Thái Với nội dung dàn trải, tác giả đã giới thiệu tương đối đầy đủ từ vấn

đề giao lưu tiếp xúc văn hoá giữa nhóm người Mân Nam và người Thái, từ đó dẫn đến việc hình thành các nhóm từ vay mượn giữa hai dân tộc này

Trên thực tế, vấn đề vốn từ ngoại lai trong tiếng Hán hiện nay vẫn chưa được các nhà nghiên cứu Việt Nam quan tâm một cách thoả đáng Với những ý nghĩa thực tiễn đã nêu ra, chúng ta đang thiếu một công trình khảo sát toàn diện về vấn đề nghiên cứu từ ngoại lai trong tiếng Hán, mà trong đó vấn đề về các phương thức tiếp nhận nhóm từ này trong tiếng Hán cũng không kém phần quan trọng, góp phần vào việc nghiên cứu các lớp từ ngoại lai trong tiếng Việt Hy vọng, đề tài này có thể đóng góp được ít nhiều vào việc thực hiện các công trình như vậy

6 Bố cục của luận văn

Nội dung của đề tài được chia làm bốn chương Trước hết để nắm rõ vấn đề nghiên cứu thì nội dung tất yếu của chương một là nêu lên những vấn đề về thuật ngữ của từ ngoại lai, những ý kiến, quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu về khái niệm cũng như tên gọi “từ ngoại lai”, và các phương thức lựa chọn từ ngoại lai và phương thức bản ngữ hoá từ ngoại lai trong tiếng Hán

Sau khi đã có các khái niệm cũng như những nội dung chủ yếu về từ ngoại lai, bước tiếp theo là khảo sát sự hình thành và phát triển của từ ngoại lai trong tiếng Hán

Trang 12

như thế nào, nội dung của chương hai là quá trình du nhập từ ngoại lai của Trung Quốc qua từng thời kỳ lịch sử, gồm có thời viễn cổ; thời Tiên Tần – Lưỡng Hán, thời Ngụy Tấn, Nam Bắc triều, Tùy – Đường, cận hiện đại Tùy vào từng thời kỳ có những biến cố lịch sử mà lớp từ ngoại lai mang đặc điểm riêng của thời kỳ đó, từ đó rút ra quy luật cũng như các hình thức phương thức để bản ngữ hoá nhóm từ ngoại lai này

Qua quá trình tìm hiểu lịch sử phát triển của nhóm từ ngoại lai trong tiếng Hán

ở chương hai, từ đó sẽ giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về các quy luật và phương thức tiếp nhận từ ngoại lai ở Trung Quốc như thế nào Vì thế nội dung của chương ba sẽ là các phương thức Hán hoá từ ngoại lai trong tiếng Hán như: phương thức Hán hoá về mặt ngữ âm, về mặt từ vựng, về ngữ pháp và về mặt ý nghĩa Cụ thể

có các loại từ ngoại lai: mượn âm, mượn hình và âm, vừa mượn âm vừa mượn nghĩa, mượn hình đơn thuần

Từ những vấn đề nghiên cứu về từ ngoại lai trong tiếng Hán nói trên, đã phần nào giúp cho chúng ta có cái nhìn khái quát về quá trình hình thành, phát triển cũng như những phương thức Hán hoá lớp từ ngoại lai này như thế nào để chúng có thể trở thành thành viên chính thức trong lớp từ vựng tiếng Hán Vậy trong quá trình phát triển của lớp từ ngoại lai trong tiếng Hán này, chúng có ảnh hưởng đến tiếng Việt không, và những ảnh hưởng của chúng như thế nào đối với tiếng Việt ? Đây là vấn đề quan trọng trong việc nghiên cứu và tìm hiểu quá trình phát triển tiếng Việt Vì thế để phần nào nghiên cứu về vấn đề này thì nội dung dự kiến của chương bốn sẽ là: Lớp từ ngoại lai tiếng Hán trong tiếng Việt Ở chương này với nội dung khái quát quá trình tiếp xúc và du nhập văn hoá Hán, trong đó nổi bật nhất là việc văn hoá Việt đã tiếp thu chữ Hán Tuỳ theo từng thời kỳ lịch sử giao lưu tiếp xúc giữa hai nền văn hoá Việt – Hán mà việc hình thành từ Hán Việt cũng khác nhau Từ ngoại lai trong tiếng Hán qua từng thời kỳ lịch sử sẽ có những tác động đến từ Hán – Việt trong tiếng Việt Cụ thể là những từ ngoại lai gốc Phạn trong tiếng Hán được người Việt có ảnh hưởng đến từ ngữ cũng như văn hoá Phật giáo ở Việt Nam hay là những từ ngoại lai gốc Nhật trong tiếng Hán khi du nhập vào tiếng Việt nó có một tầm quan trọng đối với việc phát triển ngôn ngữ cũng như xã hội Việt Nam…

Trang 13

NỘI DUNG

Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài

1.1 Từ ngoại lai và vấn đề giao lưu tiếp xúc văn hoá-ngôn ngữ

1.1.1 Vấn đề giao lưu tiếp xúc văn hoá – ngôn ngữ

Tiếp xúc và giao lưu văn hóa đều có một nghĩa chung là sự gặp gỡ, trao đổi, vay mượn và có sự tác động qua lại giữa hai nền văn hóa Thế nhưng, khi nói đến tiếp xúc

là nói tới sự tiếp xúc giữa hai mô hình văn hóa và ảnh hưởng của một nền văn hóa này đối với một nền văn hóa khác, trong một thời gian dài, trên một quy mô rộng, làm biến đổi cấu trúc và cơ chế vận hành của văn hóa đi vay mượn [21, tr.154] Vậy, hiện tượng tiếp xúc và giao lưu văn hóa chỉ xảy ra khi có hai hay nhiều nền văn hoá cọ sát với nhau thông qua các cư dân của mình, thông qua các thực tiễn cộng cư và hoạt động (sản xuất, buôn bán hàng hoá, giao lưu, chiếm đóng,…) trên cùng một khu vực địa lý ở những giai đoạn lịch sử nhất định, dẫn đến những biến đổi (bao gồm củng cố hoặc đào thải) có yếu tố văn hoá vốn có của mình và hình thành những cấu trúc, nội dung và những đặc điểm mới mang đặc trưng của nền văn hoá ngoại lai Sau khi thông qua quá trình tiếp xúc và giao lưu văn hóa, thì việc tiếp biến văn hóa là một kết quả tất yếu Tiếp biến văn hóa là một hình thức biến nhiều lợi ích tiềm năng mà giao lưu văn hóa đem lại thành những lợi ích thực tế Đây là hiện tượng tiếp nhận có lựa chọn một số yếu tố văn hóa ngoại lai và biến đổi chúng sao cho phù hợp với điều kiện sử dụng bản địa, và sau một thời gian sử dụng và biến đổi tiếp thì chúng trở thành những yếu tố văn hóa bản địa ngoại sinh [18] Do đó có thể nói tiếp xúc văn hoá và tiếp biến văn hoá là những khâu kế tiếp nhau tất yếu

Động cơ làm nảy sinh giao lưu tiếp xúc văn hoá khá đa dạng, bao gồm:

- Động cơ kinh tế: thể hiện qua các hình thức như trao đổi hàng hoá nhằm cải thiện đời sống, khai thác các nguồn nguyên liệu mà mình không có (khoáng sản, lâm thổ sản, vật liệu xây dựng…), tăng cường lực lượng lao động bằng cách thuê mướn nhân công nước ngoài,

Trang 14

- Động cơ chính trị: gìn giữ hoà bình; tìm kiếm uy quyền; bành trướng thế lực

và can thiệp bằng các cuộc xâm chiếm lãnh thổ

- Động cơ tôn giáo và hệ tư tưởng: du nhập tôn giáo, tín ngưởng, các lễ hội tôn giáo mới; hoặc học tập các hệ tư tưởng cách mạng hay cải cách

- Động cơ cá nhân, hiểu biết và nhu cầu tâm lý – xã hội: do hôn nhân, hiếu kì,

cô đơn, nhu cầu cảm thông và chia sẻ (ví dụ như trao đổi các trang blog nhật ký cá nhân trên Internet ngày nay), học tập nâng cao tri thức (y dược học, toán học, ngoại ngữ, địa lý…)

- Do vị trí địa lý, lãnh thổ nằm kề nhau

Việc tiếp xúc văn hoá dễ dàng nhận thấy nhất là trên lĩnh vực ngôn ngữ (như hệ thống từ vay mượn, các cá thể từ ngoại lai trong các thứ ngôn ngữ; hoặc như hệ thống cách đọc âm Hán – Việt,…), trang phục, tín ngưỡng – tôn giáo, cho đến những khía cạnh biến đổi chậm hơn nhưng sâu sắc hơn như hệ tư tưởng, văn chương, mỹ thuật, khoa học, mô hình chính trị nhà nước… Quá trình tiếp xúc thường diễn ra toàn diện trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế đến chính trị, văn hoá, tôn giáo, và những tiếp xúc đa dạng đó luôn luôn có mối liên quan chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau Tùy theo tình hình, việc tiếp xúc có thể làm nảy sinh những cấu trúc hoàn toàn mới trong văn hoá và ngôn ngữ của các cộng đồng

Trong bối cảnh toàn cục của giao lưu tiếp xúc văn hoá, quá trình tiếp xúc ngôn ngữ diễn ra là một sự tất yếu và cũng là một điểm nổi bật nhất, cơ bản nhất của việc giao lưu, tiếp xúc văn hoá giữa các dân tộc với nhau

Tiếp xúc ngôn ngữ:

Tiếp xúc ngôn ngữ là hiện tượng thường thấy trong quá trình phát triển của hầu hết mọi ngôn ngữ trên thế giới Nó xuất hiện khi có hiện tượng song ngữ hay đa ngữ

do nguyên nhân địa lý, kinh tế, chính trị, quân sự hay văn hóa… [9, tr.19] Ngôn ngữ

là công cụ giao tiếp cơ bản của con người và là một hiện tượng xã hội cũng giống như văn hoá Một câu hỏi được đặt ra là yếu tố văn hoá tác động đến những khâu nào trong

hệ thống ngôn ngữ và quá trình giao tiếp bằng ngôn ngữ và ngược lại ngôn ngữ đã tác động thế nào đến quá trình tiếp xúc văn hoá

Trang 15

Các kiểu tiếp xúc ngôn ngữ và chủ thể tiếp xúc ngôn ngữ cũng như động cơ tiếp xúc đều giống như tiếp xúc văn hoá Tiếp xúc ngôn ngữ là sự cọ sát của hai hay nhiều nhóm người nói các ngôn ngữ khác nhau, thuộc về các văn hoá khác nhau Mức độ tiếp xúc càng rộng rãi và mạnh mẽ bao nhiêu thì kết quả tiếp xúc càng sâu sắc bấy nhiêu trên lĩnh vực ngôn ngữ: đó là việc hình thành các nhóm từ vay mượn, từ ngoại lai, các hiện tượng hình thái học mới, các kết cấu cú pháp mới Ví dụ trong tiếng Việt hiện đại tồn tại hàng vạn từ Hán Việt là minh chứng cho lịch sử tiếp xúc mạnh mẽ, sâu rộng và trường kỳ hàng ngàn năm giữa tiếng Việt với tiếng Hán

Như vậy, mỗi quy mô và tính chất tiếp xúc ngôn ngữ đều có thể mang lại nhiều kết quả khác nhau Một tiếp xúc trực tiếp, quy mô lớn và lâu dài chắc chắn phải mang lại một kết quả vay mượn to lớn, mang tính hệ thống Nhưng một tiếp xúc gián tiếp (chẳng hạn qua thư tịch) thông qua một số cư dân đặc biệt (trí thức, thương gia, phiên dịch…) vẫn có thể dẫn đến hình thức vay mượn mang tính hệ thống

Tuy nhiên, kết quả tiếp xúc về mặt ngôn ngữ học thường là không đồng đều nhau ở các ngôn ngữ tiếp xúc Những ngôn ngữ của các nền văn hoá, quốc gia yếu hơn

sẽ tiếp thu mạnh mẽ hơn các yếu tố ngôn ngữ của nền văn hoá, quốc gia mạnh Nói một cách khác, ngôn ngữ của dân tộc yếu, kém phát triển phải học nền văn hoá mạnh qua vốn từ ngữ của các dân tộc phát triển hơn Do điều kiện lịch sử, kết quả của tiếp xúc ngôn ngữ có thể dẫn đến những trạng thái hết sức khác nhau: có ngôn ngữ tiếp tục tồn tại và phát triển sau khi đã được làm giàu thêm bằng vốn từ ngữ vay mượn qua quá trình tiếp xúc, có những ngôn ngữ biến đổi mạnh mẽ không chỉ về vốn từ ngữ, mà còn

cả cấu trúc hình thái, cú pháp, để trở thành một ngôn ngữ pha trộn, có ngôn ngữ thậm chí bị tiêu diệt hoàn toàn, chỉ để lại một vốn liếng ít ỏi làm thành cơ tầng của ngôn ngữ pha trộn mới nảy sinh trên cơ sở ngôn ngữ ngoại lai và vốn liếng ít ỏi của ngôn ngữ gốc

Khi đi tìm hiểu sự tiếp xúc này, ta dễ dàng nhận ra quá trình tiếp xúc ngôn ngữ diễn ra trên bình diện từ vựng là mạnh mẽ nhất, sau đó mới là hai bình diện còn lại là ngữ pháp và ngữ âm.1 Những sản phẩm của quá trình tiếp xúc này, có khi tản mạn có

1 Vấn đề trong hai bình diện này, cái nào diễn ra rõ rệt hơn trong phạm vi nghiên cứu hạn hẹp này, chúng tôi sẽ không đề cập đến

Trang 16

khi theo hệ thống, mà ta chúng tôi gọi đó là từ ngoại lai Đây là đối tượng mà chúng tôi sẽ bàn kỹ ở những phần sau

1.1.2 Thuật ngữ “từ ngoại lai” trong tiếng Hán

Từ ngoại lai là sản phẩm dễ thấy, thu nhận rõ ràng nhất của một quá trình tiếp xúc ngôn ngữ, mà tiếp xúc ngôn ngữ lấy giao lưu, tiếp xúc văn hoá làm tiền đề, vì thế

từ ngoại lai cũng được xem là một vết tích văn hóa được lưu giữ trên một nền văn hoá khác Do đó ta có thể hiển, từ ngoại lai là sự kết tinh kết tinh của việc tiếp xúc văn hoá hoặc là kết quả của quá trình dung hợp giữa con người và ngôn ngữ

Trong tiếng Hán, khái niệm từ ngoại lai được gọi bằng thuật ngữ “ngoại lai từ 外来词”, và bản thân tên gọi này cũng là ngoại lai, vì nó có nguồn gốc bên ngoài Nhưng chỉ là ngoại lai về mặt ý nghĩa, khái niệm, còn lớp vỏ ngữ âm và hình thức văn

tự thì hoàn toàn mang dáng vẻ Trung Quốc, nó tương đương với từ foreign word trong tiếng Anh Nhưng trong tiếng Anh còn có một từ foreignism có nghĩa là từ ngữ ngoại

lai, nên các học giả Trung Quốc đã dịch thành “ngoại lai ngữ 外来语” Trong hai thuật ngữ này đều xuất hiện yếu tố “foreign”, và đây là yếu tố thường bị người Trung Quốc hiểu sai, hiểu nhầm Họ cho rằng đây chính là những thứ của nước ngoài, mà trên thực

tế thì bản thân “ngoại lai từ” còn bao gồm cả yếu tố sự khác biệt về địa lý, hoặc sự thay đổi thuộc về bản chất

Do đó, foreign word hay foreignism tuyệt đối không thể hiểu đơn thuần là

“những từ ngữ có nguồn gốc từ tiếng nước ngoài, mà nên hiểu là “từ ngữ có nguồn gốc

từ ngôn ngữ của các dân tộc khác”, bao gồm có hai nguồn gốc là ngôn ngữ nước ngoài

và ngôn ngữ của các dân tộc khác trong nước Ví dụ như từ “sa phát 沙发” (có nghĩa

là vật dụng dùng để ngồi: ghế sô-pha), có nguồn gốc là từ sofa trong tiếng Anh, đó là

từ ngoại lai có nguồn gốc từ tiếng nước ngoài; “Khảm sĩ man 坎士镘” (cái cuốc của người Duy Ngô Nhĩ, mặt cuốc khá lớn), có từ nguyên trong tiếng Duy Ngô Nhĩ là

ketmen, đây là từ ngoại lai có nguồn gốc từ ngôn ngữ các dân tộc thiểu số khác

Tiếng Hán trước đó sử dụng hai khái niệm là “ngoại quốc ngữ外国语” và “dịch ngữ 译语” (“dịch” có nghĩa là phiên dịch, thông dịch) Đến đầu thế kỷ XX, người Trung Quốc mới bắt đầu vay mượn khái niệm “ngoại lai ngữ 外来语” từ tiếng Nhật và

Trang 17

cho đến những năm 50 của thế kỷ XX thì mới bắt đầu sử dụng thuật ngữ tự tạo là

“ngoại lai từ 外来词” Hiện nay phạm vi sử dụng tên gọi “ngoại lai ngữ 外来语” ngày càng thu hẹp mà cụ thể chỉ gói gọn trong giới nghiên cứu và sử dụng tiếng Nhật, còn giới ngôn ngữ học Trung Quốc thì đã chuyển sang sử dụng khái niệm “ngoại lai từ 外

来词” hoặc “tá từ借词” (“tá”: vay mượn; “tá từ” có thể dịch là từ vay mượn) [72, tr.4]

Trong tiếng Anh còn có một số từ gần nghĩa với foreign word hay foreignism, nhưng trong đó có alien word và alienism thì gần nghĩa hơn cả và được cũng dịch sang

tiếng Hán thành những thuật ngữ: “ngoại lai từ 外来词” hay “ngoại lai ngữ 外来语”,

nhưng alien lại có ý nghĩa thiên về “ngoại quốc từ外国词” Từ gần nghĩa với alienism

là peregrinism, có nghĩa là từ ngữ du nhập nước ngoài vào Những từ này đều chưa thể

hiện toàn diện nội hàm ý nghĩa của từ ngoại lai, mang tính bị động Nếu như vấn đề được nhận thức dưới góc nhìn tích cực và chủ động thì có những từ loan word,

borrowed word và borrowing, có ý nghĩa là từ mượn dùng lại (từ ngôn ngữ khác), dịch

ý thành “tá từ 借词” Tên gọi được sử dụng sớm nhất đó là “ngoại lai ngữ 外来语”, nhưng về sau mọi người lại dùng “tá từ 借词” tương đối nhiều Thế nhưng “tá từ 借

词” và “giới từ 介词” trong tiếng Hán lại đồng âm nên thường gây nhiều phiền toái trong giao tiếp Do đó, để tránh sự nhầm lẫn trong cách sử dụng hai thuật ngữ này mà các nhà ngôn ngữ Trung Quốc đã phân biệt: “giới từ 介词” được thay thế bằng “tiền trí từ 前置词”, còn cách gọi “tá từ 借词” có thể được sử dụng thay thế bởi các thuật ngữ: “ngoại lai từ 外来词” hoặc “ngoại lai ngữ外来语”, những thuật ngữ này thì dần dần chiếm ưu thế và được sử dụng một cách phổ biến Đương nhiên mỗi người có một

sở thích và thói quen sử dụng riêng Một số học giả thì vẫn sử dụng “tá từ 借词”, một

số học giả lại phân biệt giữa “tá từ 借词”và “ngoại lai từ 外来词” [72]

Thế nhưng, một số thuật ngữ tiếng Anh vừa kể trên đều dùng để chỉ những từ dịch âm hoàn toàn hoặc những từ có hình thức và đặc điểm khá giống với từ nguyên, chúng không khác gì mấy so với từ nguyên Còn đối với những từ một phần là dịch âm một phần do các thành phần ngôn ngữ của dân tộc đi vay mượn cấu thành thì được gọi

là hybrid word, tiếng Hán nên dịch lại thành “hỗn hợp từ 混合词”, “hỗn thành từ 混

成词” hoặc “hỗn huyết từ 混血词” Hiện tại, “ngoại lai từ 外来词” hay “ngoại lai ngữ

Trang 18

外来语”, “tá từ 借词” trong tiếng Hán thì cũng bao gồm bộ phận “hỗn huyết” này Ví

dụ như “Ti tửu 啤酒” (có nguồn gốc từ beer trong tiếng Anh) và “tỷ tát bính比萨饼”

(có nguồn gốc từ pizza trong tiếng Anh), thì trong đó “tửu酒” và “bính 饼” là những

thành phần thêm vào và chúng là những thành phần cố hữu trong tiếng Hán

Ngoài ra còn có một loại từ vựng đặc biệt khác, chiếm một số lượng khá lớn đó

là từ Hán tự có nguồn gốc từ tiếng Nhật Ví dụ “câu lạc bộ 俱乐部” dịch âm từ club

trong tiếng Anh có nguồn gốc từ tiếng Nhật, “trà đạo茶道” có nguồn gốc từ những từ

tự tạo trong tiếng Nhật Chúng không giống với từ ngoại lai dùng tiếng Hán trực tiếp dịch ý trong ngôn ngữ của dân tộc khác Một số từ Hán tự này tuy được sinh ra từ tiếng Nhật nhưng sau khi vào trong tiếng Hán vẫn dùng âm tiếng Hán, chỉ vay mượn hình thức Hán tự của Nhật Bản, nghĩa của tự này vẫn là những tự tiếng Hán sẵn có, hoặc hình thành trên nghĩa tiếng Hán và không giống như những từ dịch âm thông thường Đây là hiện tượng đặc biệt mượn hình mà không mượn âm Do tính đặc thù này nên từ trước đến nay trong giới nghiên cứu ngôn ngữ có những cách nhìn không giống nhau Có người thừa nhận tính đặc thù từ Hán tự trong tiếng Nhật nhưng vẫn cho rằng lớp từ này nên xếp vào từ ngoại lai Có người phản đối, không tán thành ý kiến trên, thậm chí có người thẳng thắn cho tất cả lớp từ này phải thuộc về tiếng Hán Chu Tổ Mô 周祖谟trong “Bàn luận về từ vựng tiếng Hán” [33] cho rằng đây là từ ngoại lai có nguồn gốc từ phương Tây thông qua Nhật Bản, giả sử như nếu người Trung Quốc trực tiếp dịch, có thể từ ngoại lai sẽ khác đi Tôn Thường Tự 孙常叙trong “Từ vựng tiếng Hán” [75] cho rằng đây là từ vay mượn – từ vay mượn hình thức viết Cao Danh Khải 高名凯, Lưu Chính Đàm 刘正埮 trong “Nghiên cứu từ ngoại lai trong tiếng Hán hiện đại” [29] cũng xếp nhóm từ này vào lớp từ ngoại lai

Bắt đầu vào khoảng giữa thế kỷ XX, những từ hoặc thành phần từ ngữ lấy chữ viết trong ngôn ngữ phương Tây đã liên tục xuất hiện trong tiếng Hán, trong đó xuất hiện sớm nhất có thể là “OK” và “X 光” Nhưng đến cuối thế kỷ 20, hình thức này đã thấy rất nhiều trong tiếng Hán, số lượng thống kê trên 100 từ Điều này đã khiến cho ranh giới giữa “ngoại lai từ 外来词” và “ngoại ngữ từ 外语词” trở nên vô cùng mơ hồ,

và cũng chính vì điều này mà không thể chỉ lấy hình thức Hán hoá làm thước đo đánh

Trang 19

giá “ngoại lai từ外来词”, mà phải xem xét đến việc tần suất sử dụng nó trong ngữ dụng [72, tr.5]

Sự thay đổi thuật ngữ từ ngoại lai cũng diễn ra khá phức tạp Trước thời hiện đại, trong tiếng Hán đã từng sử dụng các từ “dịch ngữ 译语”, “dịch danh 译名”, “dịch

từ 译词”, “ngoại quốc ngữ 外国语” dùng để chỉ từ ngoại lai “Dịch ngữ 译语” là thuật ngữ dùng để chỉ những từ ngữ đã được phiên dịch Song song với cách dùng trên,

“dịch danh 译名” vẫn còn được dùng cho đến ngày nay, và đây cũng là tên gọi mơ hồ Thuật ngữ này cũng dùng để chỉ những từ dịch ý và những từ dịch âm Các khái niệm

và tên gọi có kèm theo “词” (từ) đã tồn tại và ổn định trong tiếng Hán, do đó bắt đầu xuất hiện tên gọi “dịch từ 译词” nhưng nó cũng không phải là thuật ngữ chuyên ngành,

vì có hàm nghĩa mơ hồ

Còn “ngoại quốc ngữ 外国语” trên thực tế đây là một cách nói thông dụng, nhưng lại là thuật ngữ không chính thức, dùng để chỉ những từ của ngôn ngữ nước ngoài nhưng vẫn chưa trở thành ngôn ngữ của dân tộc đó

Đến thời cận đại, thuật ngữ khoa học chính thức bắt đầu được sử dụng đó là

“ngoại lai ngữ 外来语” “Ngoại lai ngữ 外来语” này từ thập niên đầu của thế kỷ trước (năm 1902) đã được vay mượn từ tiếng Nhật, mãi cho đến đầu thập niên 50 thì bị giới hạn phạm vi sử dụng, chủ yếu dùng để chỉ những từ dịch âm hoàn toàn hay chỉ dịch một bộ phận, ngoài ra còn dùng để chỉ những từ Hán tự vay mượn từ trong tiếng Nhật

Giữa thập niên 50, một số học giả trong nước (như Cao Danh Khải 高名凯, Lưu Chính Đàm 刘正埮) cảm thấy rằng “ngoại lai ngữ 外来语” thì không hay, không nhịp nhàng bằng với cách sử dụng kết cấu hậu tố “- 词” trong thuật ngữ từ vựng học tiếng Hán và đã tiến hành chỉnh sửa, đến năm 1958 mới chính thức sử dụng tên gọi “ngoại lai từ 外来词” [71, tr.9], và tên gọi này dùng để bao quát các loại từ dịch âm và các từ Hán tự trong tiếng Nhật Ngày nay người ta thường lấy tên gọi này để làm phạm vi hạn định cho những từ có nguồn gốc từ bên ngoài Do tên gọi “ngoại lai từ 外来词” khá hợp lý, phù hợp thói quen sử dụng của người Hán và được tiếp thu một cách rộng rãi,

do đó thuật ngữ này dần dần đã mở rộng phạm vi sử dụng và thay thế cho cách sử

Trang 20

dụng “ngoại lai ngữ 外来语” trong nhiều trường hợp, và trở thành một trong những hình thức sử dụng chủ yếu Nhưng “ngoại lai ngữ 外来语” do được sử dụng sớm hơn

và có mối quan hệ đặc biệt trong tiếng Nhật, do đó nó vẫn không mất đi mà trở thành thuật ngữ khá quan trọng và có sức ảnh hưởng nhất định trong cách dùng từ của người Trung Quốc, do đó nó vẫn được tiếp tục sử dụng trong một số lĩnh vực nhất định, ví dụ như trong giới ngôn ngữ tiếng Nhật, các nhà ngôn ngữ học Đài Loan, và trong lúc thảo luận các vấn đề về phạm vi của từ ngoại lai thì vẫn sử dụng thuật ngữ này

Ngoài ra cũng còn một số thuật ngữ khác là “tá nhập ngữ 借入语”, “tá dụng ngữ 借用语”, “tá tự 借字”, “tá từ 借词”, “tá ngữ 借语” Chúng đều là những hình

thức tương ứng với từ loan words trong tiếng Anh Trong đó “tá nhập ngữ 借入语” xuất hiện sớm nhất, xuất hiện trong bộ từ điển Anh - Hán do K Hemeling biên soạn năm 1905 [49] “Tá dụng ngữ 借用语” có nguồn gốc từ tiếng Nhật, được tìm thấy trong tác phẩm nổi tiếng của Hồ Dĩ Lỗ 胡以鲁 [43] với nội dung chủ yếu là việc mượn

âm, mượn “kiểu chữ” nước ngoài, và việc vay mượn “quốc tự” của dân tộc bên ngoài

để tạo ra những hình thức mới, chủ yếu dùng để chỉ những từ Hán tự trong tiếng Nhật Vào thập niên 50, xuất hiện tên gọi “tá từ 借词” do người Trung Quốc dịch ý từ tiếng

Anh loan words, thông thường nó được xem là hình thức đồng nghĩa của “từ ngoại lai

外来词” Cũng có người cho rằng “tá từ 借词” chỉ được dùng cho những từ dịch âm, chẳng hạn như trong tác phẩm của Vương Lực 王力[89] có nêu lên cách nhìn nhận về

“tá từ 借词” Trong quá trình hấp thu từ ngữ nước ngoài, ban đầu người Trung Quốc vay mượn và sử dụng trực tiếp những từ ngữ nước ngoài, sau đó mới dần dần bản địa hóa chúng thành “ngoại lai từ 外来词”; qua quá trình bản địa hóa lớp từ nước ngoài này được đưa vào trong hệ thống từ vựng, ngữ pháp, ngữ âm của ngôn ngữ Hán, từ đó mới chính thức gọi chúng là từ ngoại lai trong tiếng Hán Cách hiểu và cách sử dụng từ ngoại lai theo hướng này rất giống với tính chất và chức năng của “tá từ 借词” [71, tr.10]

Trang 21

1.2 Một số vấn đề trong quá trình bản địa hoá từ ngoại lai trong tiếng Hán

1.2.1 Sự định hình từ ngoại lai trong tiếng Hán

Từ ngoại lai khi du nhập vào một ngôn ngữ, chúng sẽ luôn luôn chịu sự tác động bởi những quy luật vốn có về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp trong ngôn ngữ đó Chính những tác động này, một từ nguyên của một ngôn ngữ khác sẽ cho ra những dị bản khác nhau trong ngôn ngữ tiếp nhận Qua một quá trình sàng lọc, mà cụ thể là quá trình đào thải những từ ngoại lai không phù hợp hoặc hoàn chỉnh hóa những từ ngoại lai thích hợp, ngôn ngữ đó sẽ lưu giữ và tiếp thu những sản phẩm vay mượn hoặc lai tạo tốt nhất để làm phong phú thêm vốn từ vựng của mình

Tiếng Hán luôn tích cực trong việc tiếp nhận vốn từ ngoại lai từ nhiều ngôn ngữ khác nhau, do đó việc tiếp nhận này luôn diễn ra trên bình diện rộng với mức độ khá sâu Quá trình sàng lọc đó đã phát huy tối đa vai trò của mình trong quá trình tiếp nhận phức tạp này Thực tế chứng minh rằng, việc du nhập từ ngoại lai đã làm hệ thống từ vựng tiếng Hán phát triển hơn, phong phú hơn, chứ không làm cho chúng suy yếu hơn hay kém phát triển hơn Và rõ ràng, nếu như không có sự thúc đẩy và tác động của từ ngoại lai thì hệ thống từ vựng tiếng Hán không dễ dàng có được một sự phong phú đa dạng như hiện nay

Để đảm bảo từ vựng tiếng Hán được phát triển một cách lành mạnh, và để thúc đẩy việc giao lưu tiếp xúc ngôn ngữ trong tiếng Hán được diễn ra dễ dàng, thuận lợi hơn, nhiệm vụ sàng lọc, chuẩn hóa từ ngoại lai là công việc không thể xem nhẹ Người Trung Quốc gọi quá trình này là quy phạm hoá từ ngoại lai Việc quy phạm hoá từ ngoại lai thì không có nghĩa làm hạn chế hay cản trở việc tiếp nhận từ ngoại lai mà trái lại nó giống như một chất xúc tác nhằm thúc đẩy quá trình tiếp thu từ ngoại lai diễn ra nhanh chóng và dễ dàng hơn, và hỗ trợ cho việc sử dụng lớp từ ngữ này được tốt hơn

Do đó, chỉ có việc tiếp thu và sử dụng từ ngoại lai theo một quy chuẩn rõ ràng mới có thể giảm thiểu được tốt nhất tình trạng thiếu nhất quán, vô phương hướng trong quá trính phát triển lớp từ vựng đặc biệt này trong tiếng Hán

Quan sát tình hình tiếp thu từ ngoại lai trong xã hội Trung Quốc hiện nay, ta dễ dàng nhận thấy có ba khuynh hướng và ba đặc điểm đáng chú ý [38, tr.187]

Trang 22

+ Ba khuynh hướng đó là:

1) Dịch ý theo kiểu “mỳ ăn liền”, như 2) Dịch âm theo kiểu “cá tính hoá”, “tiêu khiển hoá”

3) Chuyển ngữ mã một cách “tuỳ tiện hoá”, “bất chấp mọi thủ đoạn”, tuỳ

ý rập khuôn máy móc các mẫu tự, chữ cái

+ Ba đặc điểm là:

1) Từ ngoại lai trong tiếng Hán trên phạm vi thế giới xuất hiện ngày càng nhiều do đó đã nhanh chóng xâm nhập vào tiếng Hán trên lãnh thổ Trung Quốc Nguyên nhân chính có thể là do sự phổ cập Internet, sự truyền bá thông tin trên truyền hình, báo điện tử cùng với tần suất giao lưu, tiếp xúc các đội ngũ lao động trong và ngoài lãnh thổ Trung Quốc Trong thời đại ngày nay, việc phát triển tiếng Hán ắt phải được nhìn từ góc độ toàn cầu hoá Với phạm vi vô cùng to lớn của xu hướng toàn cầu hoá, sự phát triển của tiếng Hán không chỉ là sự phát triển riêng lẻ của tiếng Hán trên lãnh thổ Trung Quốc Sự phát triển của tiếng Hán hải ngoại lại có ảnh hưởng trực tiếp

và nhanh chóng đối với đối với sự phát triển của tiếng Hán trong nước Do đó, sự phát triển từ ngoại lai tiếng Hán cũng không chỉ là sự phát triển từ ngoại lai tiếng Hán trên lãnh thổ Trung Quốc mà còn là sự phát triển từ ngoại lai tiếng Hán trên phạm vi toàn thế giới Từ ngoại lai tiếng Hán hải ngoại xuất hiện ngày càng nhiều, đã lan truyền một cách sâu rộng và nhanh chóng, từ đó làm cho số lượng từ ngoại lai trong nội địa Trung Quốc tăng lên rất nhiều

2) Hiện nay xuất hiện những từ ngoại lai kỳ dị, chúng được lan truyền rộng khắp và nhanh chóng Sự tiếp xúc tiếng Hán trong và ngoài nước diễn ra ngày càng sôi nổi Trong quá trình giao lưu, tiếp xúc ấy, từng khu vực khác nhau trong và ngoài nước luôn sáng tạo ra những từ ngoại lai đồng nguyên dị tính

3) Những kiểu viết kỳ lạ xuất hiện ngày càng nhiều Ngày nay, việc nhập liệu bằng máy tính được sử dụng rất phổ biến, do cách đánh máy bằng phiên âm qua

đó đã góp phần làm gia tăng sự kỳ lạ trong từ ngoại lai, biến chúng thành những từ đồng âm khác hình (Như từ “Y muội nhi 伊妹儿” và “y muội nhĩ 伊妹尔” : email, thư điện tử)

Trang 23

Từ ngoại lai trong xã hội hiện nay mang 3 quynh hướng, 3 đặc điểm đã khiến cho chúng vốn phức tạp nay càng phức tạp hơn Từ ngoại lai theo kiểu “mỗi người dịch một phong cách” đã từng bước làm gia tăng thêm tính phức tạp, hỗn loạn là điều khó tránh khỏi Vì thế, công việc quy phạm hoá từ ngoại lai không phải là công việc có cũng được mà không cũng được, cũng không được xem nhẹ, mà phải xem đây là một công việc vô cùng quan trọng

Nguyên tắc thông thường của việc quy phạm hoá từ vựng là “đánh giá và chọn lựa” [34] Khi xem xét các quy phạm từ ngữ thì cần phải kết hợp nguyên tắc thói quen

và nguyên tắc lý tính lại với nhau [78] Việc quy phạm hoá từ ngoại lai cũng nên thực hiện như vậy Việc quy phạm hoá từ ngoại lai cần phải xem xét trên hai phương diện

1) Ngữ dụng:

Khi xem xét các vấn đề quy phạm từ ngoại lai, nên chú ý đến các đặc điểm biểu hiện ý nghĩa khác nhau của các từ ngữ này, chức năng ngữ dụng và sắc thái hình thái học; xem xét các nhân tố trong ngữ dụng Vì thế nên xem xét một cách toàn diện để từ

đó mà không phải quy phạm quá mức chặt chẽ, nên cho phép sự tồn tại của các từ ngoại lai dị hình, làm cho chúng thích ứng với các nhu cầu ngữ dụng khác nhau Nhưng đối với các hình thái học kỳ dị thực sự không cần thiết thì nên tiến hành theo các quy phạm sau:

Ví dụ như: từ dịch ý của “Hỗ liên võng互联网” (internet) là cách dịch hay nhất

và đúng nhất, thích hợp với việc sử dụng từ ngữ một cách rộng rãi nhất Nhưng tại sao

đã có “hỗ liên võng 互联网” lại còn có thể tiếp nhận thêm từ “nhân đặc võng因特网” (internet)? Điều này có thể là do việc sử dụng từ ngữ trong xã hội quyết định “Nhân đặc võng 因特网” đã được sử dụng trong xã hội một cách phổ biến, có ép buộc loại bỏ

nó đi thì không những vô ích, không có tác dụng mà nhiều khi cũng không cần thiết Theo Cao Danh Khải 高名凯, và Lưu Chính Đàm 刘正埮 đề xuất “Nhị tính nguyên tắc 二并原则” trong nguyên tắc “Dị cách tính dụng 异格并用” [29, tr.181-183], có nghĩa là: những từ ngữ có phong cách khác nhau thì có thể được sử dụng song hành Dựa trên những nguyên tắc trên thì hai từ “hỗ liên võng 互联网” và “nhân đặc võng 因特网” được phép song song tồn tại và sử dụng Tuy nhiên khó mà có thể phân tích

Trang 24

rõ sự khác biệt trong cách biểu đạt nghĩa của hai từ “hỗ liên võng 互联网” và “nhân đặc võng 因特网”, nhưng vì mức độ sử dụng từ quá lớn nên khó lòng mà ngăn cấm hay loại bỏ chúng Mặc khác, phong cách, sắc thái của “nhân đặc võng 因特网” cũng

có một chút khác biệt bởi vì hình thái học của từ “nhân đặc võng 因特网” biểu hiện sắc thái ngoại lai Hay một ví dụ khác tương tự: “điện tử bưu kiện电子邮件” và “Y muội nhi 伊妹儿” (email) Ở đây, từ “Y muội nhi 伊妹儿” do nó được sử dụng thông thường và có một giá trị sử dụng nhất định, cho nên nó được phép cùng tồn tại với từ

“điện tử bưu kiện 电子邮件” [38]

Cao Danh Khải 高名凯, và Lưu Chính Đàm 刘正埮 đề xuất “Tam nhất nguyên tắc三一原则” (tức là “một từ, một âm, một tự”) [29, tr.179-181] Nguyên tắc này chủ yếu được sử dụng cho các từ dịch âm có hình thức khác nhau mà trong ngữ dụng không biểu đạt sự khác biệt; hoặc dùng cho việc quy phạm, chọn lựa giữa các từ dịch ý

có hình thái học khác nhau Ví dụ như “hỗ liên võng 互联网” và “hỗ liên võng互连

网”, “nhân đặc võng 因特网” và “anh đặc võng 英特网” Việc lựa chọn hay đào thải một từ cần phải căn cứ vào tính phổ biến hoặc việc sử dụng nhiều hay ít Trong “Từ điển Hán ngữ hiện đại” 现代汉语词典 (2005) [85], chỉ sử dụng hai từ “hỗ liên võng 互联网” và “nhân đặc võng 因特网”, không sử dụng “hỗ liên võng 互连网” và “anh đặc võng 英特网”, đã phần nào thể hiện được phương hướng phát triển trong việc quy phạm từ

Cũng có một số từ ngoại lai hình thức không phù hợp, biểu đạt lại không rõ ràng trong tiếng Hán, trong lúc sử dụng luôn tạo sự khó chịu hay kỳ quặc, nhưng do có nhu cầu trong giao tiếp nên cũng không cần thiết phải phải đào thải hay ngăn cản sự phát triển của chúng, mà việc cần làm là phải điều chỉnh sao cho chúng thích hợp trong việc sử dụng hàng ngày Ví dụ như dịch ý từ “quảng trường 广场” trong từ Plaza (có nghĩa: trung tâm mua sắm lớn), không nên vội vàng thừa nhận và sử dụng nó như một từ trong tiếng Hán,

và khi từ điển tiếp thu sử dụng thì cần phải thận trọng, cũng không nên lập tức loại bỏ (trên thực tế thì cũng khó mà loại bỏ được); một điều có thể làm là điều chỉnh sao cho nó phù hợp với cách sử dụng ngôn ngữ của người Trung Quốc, và kết quả của việc điều chỉnh đó cũng rất có thể làm tăng thêm nghĩa mới của từ “quảng trường 广场”, hoặc làm

Trang 25

xuất hiện thêm một từ mới có cùng hình dạng với từ “quảng trường 广场” vốn có trong tiếng Hán, điều này rất có lợi đối với việc phát triển từ vựng

2) Phải có kiến thức cơ bản về ngôn ngữ và văn tự Đây chính là nền tảng vững chắc cho công việc quy phạm hóa từ ngoại lai, đồng thời cũng là kim chỉ nam trong việc định hướng cho quá trình Hán hóa cũng như quy phạm hóa từ ngoại lai, góp phần làm cho tiếng Hán phát triển một cách lành mạnh

1.2.2 Việc chuẩn hóa từ ngoại lai trong tiếng Hán

Việc bản địa hóa từ ngoại lai trong tiếng Hán cũng có thể gọi là quá trình Hán hoá từ ngoại lai, quá trình này không hoàn toàn đồng nghĩa với việc quy phạm hoá từ ngoại lai, và cũng không đồng nghĩa với việc chuẩn hóa từ ngoại lai Ví dụ như hai từ ngoại lại theo phương thưc dịch ý là “hỗ liên võng 互联网” và “hỗ liên võng 互连网” đây chính là sản phẩm của quá trình Hán hoá Nhưng có những từ có hình thức kỳ dị

và cũng không có ngữ dụng gì khác biệt thì lúc này cần phải dùng đến các quy phạm

Từ dịch âm chỉ cần có ý nghĩa rõ ràng và hình thức kết cấu ngữ âm rõ ràng thì được cho là từ ngoại lai Hán hoá Vì thế “nhân đặc võng 因特网” và “anh đặc võng 英特

网” đều là từ dịch âm được Hán hoá, thế nhưng sự kỳ dị về hình thái học giữa “nhân đặc võng 因特网” và “anh đặc võng 英特网” cũng như sự biểu đạt ngữ nghĩa của chúng trong lúc sử dụng không có gì khác biệt, vì thế cần phải quy phạm chúng, giảm

đi phiên bản kỳ dị, điều này rất có lợi trong việc nâng cao hiệu quả giao tiếp

Việc quy phạm hoá từ vựng có những cấp độ khác nhau, những tiêu chuẩn trong phạm vi sử dụng ngôn ngữ cũng khác nhau Do đó việc Hán hoá từ ngoại lai phải dựa trên các đặc điểm ngôn ngữ khu vực mà xem xét, không nhất thiết là phải quy phạm hoá từ ngoại lai Ví dụ: “Y muội nhi 伊妹儿” là từ ngoại lai được Hán hoá, nhưng đặc điểm của nó là “俗称” (cách gọi dân gian), chính vì đặc điểm này đã quyết định đến việc hạn chế trong việc sử dụng Đương nhiên không thể nói chỉ có “điện tử bưu kiện 电子邮件” mới là từ quy phạm, còn “y muội nhi 伊妹儿” không phải là từ quy phạm Nhưng nếu như xét trên ngữ vực, cần phải xác định rõ phạm vi sử dụng từ ngữ, thì việc sử dụng chúng sẽ được tận dụng hiệu quả, việc xác định phạm vi sử dụng của từ cũng là một loại quy phạm

Trang 26

Hán hoá từ ngoại lai không đồng nghĩa với quy phạm hoá từ ngoại lai, thế nhưng việc Hán hoá từ ngoại lai là cơ sở của việc quy phạm hoá từ ngoại lai Ví dụ như sự xuất hiện các mẫu tự tiếng Anh trong quá trình giao tiếp tiếng Hán đồng nghĩa với việc chưa được thông qua quá trình dịch âm Hán tự, tức là thông qua quá trình Hán hoá, thì đừng mong nói đến việc quy phạm hoá trên nền tảng từ vựng tiếng Hán Qua hệ thống từ vựng trong tiếng Hán cho thấy rằng các mẫu tự sau khi Hán hoá thì mới có thể trở thành thành viên chính thức trong tiếng Hán, từ đó mới có cơ sở cho việc bắt đầu quy phạm hoá

Từ góc độ văn tự, ngôn ngữ xem xét công tác quy phạm hoá từ ngoại lai, trước hết phải tìm hiểu, nghiên cứu việc Hán hoá từ ngoại lai, bao gồm việc Hán hoá ngữ âm, Hán hoá ngữ nghĩa, Hán hoá các hình thức ngữ pháp và Hán hoá hình thái học Phải dựa vào các quy luật, đặc điểm của văn tự - ngôn ngữ để phân tích các hình thức và quy luật cơ bản của việc Hán hoá từ ngoại lai, đánh giá được trình độ Hán hoá từ ngoại lai Từ những nền tảng vừa kể trên mới có thể tiến đến việc xem xét việc quy phạm hoá từ ngoại lai

Quy phạm hoá từ ngoại lai dựa trên nền tảng nguyên lý học mang ý nghĩa văn

tự - ngôn ngữ học chính là đặc điểm và quy luật Hán hoá từ ngoại lai, nguyên lý học không nhất thiết quyết định đến các tiêu chuẩn quy phạm từ ngoại lai Bởi vì đặc điểm thói quen thường không đồng nhất với đặc điểm lý tính, đặc điểm lý tính cũng không chắc chắn áp đảo đặc điểm thói quen Nhưng nếu không có nền tảng nguyên lý học thì các tiêu chuẩn quy phạm hoá từ ngoại lai càng khó có thể được xây dựng một cách hoàn chỉnh được Còn nếu không có kiến thức khoa học về nền tảng nguyên lý học thì cũng không có một tiêu chuẩn nào để đánh giá một cách chính xác và khách quan, khó tránh khỏi thái độ chủ quan, tuỳ tiện hay cứng nhắc, giáo điều Việc chọn lựa từ thích hợp cũng khó mà mang được tính khoa học, lý tính Chưa kể đến việc nghiên cứu quy phạm hoá nguyên lý học thì luôn có nhiều rủi ro, nguy hiểm Bởi vì đặc điểm của nó là mang tính tuỳ ý rất cao, khiến cho việc nghiên cứu trở nên phổ biến hoá và quần chúng hoá Dựa vào việc nghiên cứu quy phạm hoá nguyên lý học cho dù nó không được hoàn hảo, có nhiều khuyết điểm, nhiều sai sót nhưng đây có thể là bước “thử sai” để không ngừng tiếp cận chân lý, cái đúng đắn trong khoa học

Trang 27

Tiểu kết chương 1

- Từ ngoại lai là kết quả tất yếu của quá trình tiếp xúc ngôn ngữ, mà tiếp xúc ngôn ngữ lấy giao lưu, tiếp xúc văn hoá làm tiền đề Từ ngoại lai góp phần vào sự phát triển và làm phong phú thêm kho từ vựng trong một ngôn ngữ nào đó

- Có rất nhiều thuật ngữ dùng để chỉ khái niệm “từ ngoại lai” 外来词: “ngoại lai ngữ” 外来语, “ngoại quốc ngữ” 外国语, “tá từ” 借词, “dịch từ” 译词, “hỗn hợp từ” 混合词… trong đó, thuật ngữ “từ ngoại lai” 外来词 được sử dụng chính thức và rộng rãi vào những năm 50 của thế kỷ XX Nội hàm của từ ngoại lai là chỉ những lớp từ có nguồn gốc từ nước ngoài và những lớp từ có trong các ngôn ngữ ngoại tộc Đây là khái niệm mang tính toàn diện và khoa học nhất trong số các khái niệm còn lại

- Một khi từ ngoại lai gia nhập vào thành phần từ vựng trong tiếng Hán thì chúng luôn chịu sự tác động bởi lớp từ bản ngữ trong tiếng Hán Sự tác động này mang tính chất tích cực, giúp cho lớp từ ngoại lai này dần dần thích ứng với việc sử dụng ngôn ngữ hằng ngày Đó chính là công tác quy phạm hoá từ ngoại lai Đây là một công việc hết sức quan trọng, góp phần định hướng cho tiếng Hán phát triển một cách lành mạnh

- Hán hoá từ ngoại lai là bước đầu quan trọng cho việc quy phạm hoá từ ngoại lai Từ ngoại lai với những hình thức, kết cấu “ngoại lai” kỳ lạ, hoàn toàn khác với hình thức và kết cấu vốn có trong tiếng Hán, do đó không phù hợp với ngữ dụng Việc tiếp nhận và sử dụng từ ngoại lai trong một thời gian dài là bước đầu Hán hoá chúng trở thành thành viên chính thức trong từ vựng tiếng Hán Có rất nhiều phương thức Hán hoá từ ngoại lai như: Hán hoá về mặt ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp và hình thức viết chữ

Trang 28

Chương 2: Các thời kỳ hình thành và phát triển từ ngoại lai

trong tiếng Hán

Trung Quốc là một trong bốn nền văn minh cổ đại lớn của nhân loại, bên cạnh

đó, nền văn hóa Trung Hoa có sức ảnh hưởng vô cùng to lớn đối với các quốc gia

trong khu vực Nhưng trong quá trình tiếp xúc và giao lưu văn hóa Trung Hoa và với

các quốc gia khác trên thế giới luôn diễn ra theo hai chiều, và vì thế nền văn hóa Trung

Hoa cũng tiếp thu không ít từ các nền văn hóa khác, điển hình là lớp từ ngoại lai trong

tiếng Hán Do Trung Quốc là một quốc gia có chiều sâu về văn hóa, chiều dài về lịch

sử nên việc xác định giữa từ bản ngữ và từ ngoại lai quả thực là một công việc không

mấy đơn giản hoặc không muốn nói vô cùng khó khăn Vì vậy, để có thể xác định

được hai lớp từ trên được dễ dàng và chắc chắn hơn nên xét chúng trong từng giai

đoạn lịch sử cụ thể nhất định

2.1 Thời viễn cổ

Trong lịch sử phát triển loài người, lịch sử và văn hoá là hai mặt có mối quan hệ

mật thiết, không thể tách rời Sự nối tiếp và phát triển của xã hội chính là sự tổng hợp

của lịch sử và đồng thời cũng hình thành lên lịch sử Lịch sử cần phải được ghi chép

lại thể hiện sự tồn tại và phát triển của xã hội Ngôn ngữ là một loại công cụ truyền tải,

nhưng nó được cho là một thành quả văn hoá đặc biệt, đồng thời là một loại công cụ

vô hình rất dễ mất đi Việc bảo tồn ngôn ngữ luôn dựa vào con đường truyền miệng và

văn tự từ đời này sang đời khác Từ ngoại lai, trên thực tế có hai bộ phận, một bộ phận

đã hình thành trên văn tự, phần còn lại vẫn còn lưu giữ trên văn nói, chưa có văn tự cố

định Cho dù là loại nào đi chăng nữa, chúng cũng đều được hình thành trong văn hoá,

trong lịch sự Trong suốt 5000 năm, từ cổ tới kim, xung đột dân tộc và việc giao lưu

văn hoá với các vùng đất xung quanh Trung Nguyên rộng lớn luôn luôn diễn ra và

chưa từng gián đoán Sự giao lưu và xung đột này chắc chắn được kết tinh thành từ

ngoại lai ở một mức độ nào đó Trung Quốc có lịch sử văn tự gần 4000 năm, nếu tính

truyền thuyết thì cũng hơn 5000 năm Lịch sử thời viễn cổ trước 5000 năm chỉ có thể

dựa vào hiện vật khảo cổ và ngôn ngữ “khảo cổ” Ngôn ngữ được hình thành sớm hơn

Trang 29

văn tự không biết bao nhiêu năm, đồng thời ngôn ngữ vừa là một hệ thống có trình tự, vừa là vật tích tầng bị ảnh hưởng mang tính ngẫu nhiên, mỗi một thời đại đều có một

số ngôn ngữ nào đó gia nhập vào làm thành viên mới, cho dù qua mỗi thời kỳ đã đào thải không ít thành viên cũ nhưng luôn để lại một cho thế hệ sau một bộ phận vô cùng

to lớn, nếu không như vậy thì ngôn ngữ đã không phát triển thành một hệ thống vô cùng to lớn cho đến ngày nay

Kết quả nghiên cứu cho thấy, tuy chúng ta vẫn chưa hoàn toàn nắm vững nhưng

có thể phát hiện một số vết tích ngoại lai Một số vết tích ngoại lai này, có một số là vay mượn từ ngữ, một số là tầng đáy lớp từ vựng

Ví dụ như thập nhị địa chi của Trung Quốc là hệ thống tên gọi thường dùng để tính giờ trong một ngày, hoặc tính tháng, tính năm Theo khảo cứu của Quách Mạt Nhược [65], tên năm của Trung Quốc có sự tương ứng nhất định với 12 cung của Tây phương, mà nơi bắt nguồn là Babylon Sự tương ứng như sau[71]:

“Dần” 寅 gọi là “Nhiếp Đề Cách” 摄提格,tương đương cung “Xử nữ”, tiếng

Babylon là šupa, tiếng Phạn là svāti

“ Mão” 卯 là “Đơn Yên” 单阏, tương đương cung “Sư Tử”, tiếng Babylon là

šarru

“Thìn” 辰 là “Chấp Từ” 执徐, tương đương cung Cự Giải, tiếng Babylon là

kaksidi hoặc là kakzizi, nghi ngờ là đã lượt bỏ đi âm kak

“Tỵ” 巳 là “Đại Hoang Lạc” 大荒落, tương đương cung Song Tử, tiếng Á Gia Đức là tuâmurabuti

“Ngọ” 午 là “Đôn Tường” 敦 牂, tương đương với cung Kim Ngưu, tiếng

Babylon là gu-an-na, nghi ngờ có yếu tố dịch ý

“Mùi” 未 là “Hiệp Kháp” 协恰, tương đương với cung Bạch Dương, tiếng

Babylon là ekue

“Thân” 申là “Nhuế Hán 芮汉, tương đương với cung Song Ngư, tiếng Babylon

là nunu/ số nhiều là nune

“Dậu” 酉là “Tác Ngạc 作噩/ Tác Lạc 作洛”, tương đương với cung Bảo Bình,

tiếng Babylon là gula

Trang 30

“Tuất” 戌 là “Yêm Mậu” 阉茂 , tương đương với cung Ma Kết, tiếng Á Gia Đức là enzu

“Hợi” 亥 là “Đại Uyên Hiến” 大 渊 献, tương đương cung Nhân Mã, tiếng

Babylon là pabilsag

“Tý” 子là “Khốn Đôn” 困敦, tương đương với cung Thiên Hạt, tiếng Babylon

là girtab

“Sửu” 丑 là “Xích Bị Nhã” 赤备若, tương đương với cung Thiên Bình, tiếng

Tô Mỹ là ziba-anna, tiếng Á Gia Đức là zibanitu

Vả lại, tên gọi 12 cung này theo như quan điểm của một số nhà ngôn ngữ học Trung Quốc là khá xa lạ với tiếng Hán, và không thể dùng hình vị đơn âm tiết của tiếng Hán cổ đại để giải thích [71]

Chúng ta đều biết, Babylon là khu vực có thành tựu rực rỡ về thiên văn Thêm vào đó mối quan hệ của người Hoa Hạ cổ đại với phương Tây đã được ghi chép lại trong nhiều sử sách cổ đại của Trung Quốc Vì vây, việc 12 tên gọi này du nhập vào Trung Quốc là điều hoàn toàn có thể xảy ra

Trung Quốc cổ đại cũng có tên gọi 12 tháng khác so với hiện nay: tháng một -

Cô辜, tháng hai - Từ 徐, tháng ba - Tâu 陬, tháng tư - Như 如, tháng năm - 寎, tháng sáu - Dư 余, tháng bảy: Cao 皋, tháng tám - Thả ( thư) 且, tháng chín - Tương 相, tháng mười - Tráng 壮, tháng mười một - Huyền 玄, tháng mười hai - Dương 阳

Quách Mạt Nhược 郭沫若 đã lấy tiếng Babylon để so sánh, phát hiện ra rằng hơn một nửa âm đầu gần giống nhau, cho rằng đây không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên Những tên gọi này trong tiếng Hán hoàn toàn không thể giải thích được ý nghĩa, rất có thể chỉ đơn thuần là sự ký âm Tên gọi các tháng trong năm của nhiều dân tộc ở phương Tây đều mang tên rất đặc biệt mà người Trung Quốc vốn có thói quen dùng con số để gọi tên tháng (một số tên gọi tháng hiện nay Đông Nguyệt 冬月, Lạp Nguyệt

腊月” xuất hiện cũng rất muộn) Người Hoa Hạ vốn dĩ là một dân tộc có thành phần chính là người Trung Nguyên, đồng thời có sự tiếp hợp nhiều nguồn văn minh các khu

Trang 31

vực xung quanh, do đó việc du nhập cách gọi tên tháng ngoài cách gọi truyền thống như trên là hoàn toàn có thể

Hoặc như từ “bút笔” , vào thời cổ đại “笔” được gọi là “bất luật不律” Trong

“Thuyết văn” 说文thời Đông Hán có ghi lại: “笔,秦谓之笔。聿,所以书也。楚谓之聿,吴谓之不律,燕谓之弗。”(Tần gọi là Bút Duật là vật dùng để viết Sở gọi là Duật, Ngô gọi là Bất luật, Yên gọi là Phất.) Xét từ hai phương diện văn tự và ngữ âm, những từ này đều có cùng nguồn gốc, căn cứ vào điều này có thể suy đoán ra

vào thời viễn cổ, hai âm tiết p- và l- cấu thành hay từ phụ âm kép [ pl ] Nước Sở và

nước Ngô vào thời viễn cổ là khu vực cư trú của Tam Miêu và Bách Việt sống hoà hợp với tộc Hán Mà Tam Miêu và Bách Việt có quan hệ mật thiết với tộc người nói

ngữ hệ Nam Đảo ở miền Nam Trong ngữ hệ Nam Đảo có một từ bulut, có nghĩa là sợi thiên nhiên, lông mềm; trong tiếng Ấn Độ cũng có balut, có nghĩa là quét lên, bôi lên

Từ đó chúng ta có thể thấy, những từ trên đều có những hình thức đối ứng về mặt ngữ

âm trong tiếng Hán Do đó rất có khả năng “bút笔” chính là từ thông qua tộc Bách Việt vay mượn từ ngữ hệ Nam Đảo, cũng chính là vết tích từ ngoại lai thời viễn cổ Qua ví dụ trên có thể phần nào nói lên mối quan hệ thân thiết giữa tiếng Hán với ngữ

hệ Nam Đảo [42]

“飞廉”(phi liêm) và 风 (phong) “飞廉” (phi liêm) là cách gọi thần gió trong tiếng Sở “Sở Từ” 楚辞, nhưng trên thực tế cũng gọi là phong 风 Vậy nó có nguồn gốc từ khu vực nào? Vẫn có nhiều ý kiến khác nhau về lai lịch của nó Theo nghiên cứu gần đây, đây chính là những gì còn sót lại của tiếng Di (Đông Di), đối với tiếng Hán mà nói đây cũng là sự vay mượn từ bên ngoài Có một nhà nghiên cứu Đông

Di cho rằng tiếng Tungut và Cao Ly có quan hệ với nhau ( Cao Ly gọi gió là “Bột Lãm” 孛缆 , hiển nhiên cùng nguồn gốc với “phi liêm飞廉”, sau khi di chuyển ở những nơi khác nhau đã trở thành hệ thống ngôn ngữ khác nhau, chẳng hạn như ngữ tộc Nam Đảo, tiếng Bách Việt cổ ở đại lục hoặc ngữ tộc Động Đài hiện nay đều có quan hệ với nhau [86]

Trang 32

“谷” (Cốc) và “禾” (Hoà) “稻” (Đạo) trong tiếng Hán ở miền Nam lại gọi là

“Cốc” 谷, “Hoà” 禾 Gần đây, ngôn ngữ học so sánh lịch sử kết hợp với ngành thực vật, khảo cổ đã khoả sát và phát hiện ra rằng hai chữ “Cốc” 谷 và “Hoà” 禾 có thể bắt nguồn từ ngôn ngữ tộc người Choang Động Ngành trồng trọt lúa nước khởi nguồn từ phía Tây Nam Quảng Tây, phía Nam tỉnh Vân Nam của Trung Quốc ngày nay, Việt Nam, Lào và miền Bắc Thái Lan cùng với khu vực Thiện Bang nước Miến Điện Cư dân sinh sống tại khu vực đó nằm trong địa phận Trung Quốc thì được gọi là Bách Việt, cũng chính là người Choang Động ngày nay Tộc người Hán thời cổ đại sau khi

di chuyển xuống phía Nam cùng chung sống với tộc Bách Việt ngay từ thời thượng cổ những cư dân ở đây đã biết cách trồng lúa, đồng thời cũng có thể vay mượn từ ngữ

tương ứng Thông qua ngôn ngữ so sánh có thể phục nguyên hình thức sơ khai là khau, sau này phân hoá thành hai chi hệ k’ao và hau, “Cốc” 谷và “Hoà” 禾 trong tiếng Hán dùng để phân biệt cách vay mượn từ hai chi hệ này [30]

2.2 Tiên Tần, Lưỡng Hán

Việc giao lưu giữa tộc người Hán và các tộc người xung quanh đã được định hình ở thời kỳ thượng cổ, thì càng về sau càng được mở rộng Sự giao lưu này bên cạnh tính chất vốn dĩ của nó là tính giao lưu dân gian ra, còn được diễn ra theo mô thức dung hợp dân tộc Mô thức này mang tính chính trị, được diễn ra song song với những cuộc khai phá, mở mang của người Hán Vì vậy so với thời kỳ trước quá trình tiếp thu từ ngoại lai của tiếng Hán mang khá đậm tính chủ động

Suốt một thời kỳ dài qua ba triều đại Hạ, Thương, Chu, người Hán đã giao lưu khá nhiều với các dân tộc xung quanh (còn gọi là các tộc Tứ Di四夷, Bát Man 八蛮, Thất Mân 七闽, Ngũ Nhung五戎, Lục Địch六狄) Nhưng trong đó chỉ có thời nhà Chu là còn lưu giữ lại một số ít sách vở có ghi chép những từ ngữ có nguồn gốc ngoại lai Ví dụ như vào thời đó có một loại dao gọi là “khinh lữ轻吕”,cũng gọi là “khinh kiếm” 轻剑 là một loại binh khí có hai lưỡi Theo một số kết quả khảo cứu của Quách Mạt Nhược 郭沫若cho rằng đó chính là từ “kính lộ” 径路 của Hung Nô (âm qingrak

Trang 33

trong tiếng Đột Quyết) 1[65] Khổng Tử thời Xuân Thu có nhắc đến “Kỳ lân” 麒麟 ,

có thể là hươu cao cổ ở Châu Phi, mà phương ngữ phía đông Xômali hiện nay gọi là

giri Vào thời đó có thể truyền từ Châu Phi qua Trung Á rồi vào Trung Quốc thông qua “lời đồn” trong quá trình giao lưu giữa các dân tộc mà đã thần kỳ hóa nó trở thành con vật thần bí Đặc điểm giao lưu mang tính chính trị thời kỳ này diễn ra một cách tự nhiên, việc khai phá thiếu tính chủ động

Nhà Tần tuy tồn tại chỉ trong một thời gian ngắn nhưng nó đã để lại những từ ngữ mà các khu vực bên ngoài còn giữ lại và thể hiện sự ảnh hưởng đó cho đến ngày

nay Hiện nay các quốc gia trên thế giới gọi Trung Quốc là China, chính là căn cứ vào

âm của chữ“Tần秦”vào thời kỳ đó lan truyền đi khắp nơi Hình thức sớm nhất có

thể là Cin, về sau trong tiếng Phạn chữ Cin có thể đồng nghĩa với từ Cina có nghĩa là văn vật, tư duy, trí tuệ nên sửa lại là Cina Tiếng La Mã gọi là Sinae, tiếng Hy Lạp gọi

là Thin, đều là biến dị của“Tần 秦” Còn China trong tiếng Anh thì càng về sau mới

có và từ này có nguồn gốc từ trong tiếng Phạn mà ra Sau đó, chữ “Tần秦”lại thông qua Phật giáo mà sau đó trở về Trung Quốc Do hai loại hình thức khác nhau trong chữ Phạn nên dịch thành “Chi Na 支 那 ” Cina và “Chấn Đán 震 旦 ” Cinisthāna/

Chinistan Qua đó thấy rằng thời nhà Tần là thời kỳ quan trọng đánh dấu sự phát triển đối với việc ngoại giao trong xã hội người Hán [71]

Vào thời Lưỡng Hán đã diễn ra hai lần tiếp xúc dân tộc lớn Lần thứ nhất là qua những cuộc chiến tranh và giao hảo giữa tộc người Hán và Hung Nô, lần tiếp xúc này diễn ra trên diện rộng trong suốt một thời gian dài Lần thứ hai là vào thời Tây Hán, Trương Khiên 张骞 được cử đi sứ sang Tây Vực2, từ đó đã vén mở được bức màn thần

bí của Tây Vực, đồng thời đặt nền tảng để tiến một bước củng cố mối quan hệ giữa Trung Nguyên và Tây Vực Hai lần tiếp xúc này lần đầu tiên đã để lại trong tiếng Hán một số lượng lớn từ ngoại lai được ghi chép lại suốt một thời kỳ

hệ thống chữ Kim thời Lưỡng Chu”, - NXB Khoa học

trong biên niên sử Trung Hoa từ khoảng thế kỷ thứ III TCN tới thế kỷ thứ VII Phạm vi của Tây Vực vô cùng rộng lớn, từ khu vực phía Tây Ngọc Môn quan và Dương quan, phần lớn là để chỉ Trung Á hay là phần phía Đông nhất của nó, nghĩa là khu vực bồn địa Tarim, theo nghĩa rộng bao gồm Trung Cận Đông, Ấn Độ, Ả Rập và

Trang 34

Quá trình tiếp xúc giữa người Hán và người Hung Nô đã cho ra một kết quả là một bộ phận người Hung Nô bị đồng hoá bởi tộc người Hán, còn một bộ phận khác có thể đã di chuyển địa bàn cư trú sang phía Tây Trong thời kỳ này, tiếng Hán đã tiếp nhận một lượng từ ngoại lai từ tiếng Hung Nô, và chủ yếu là các tên gọi vương vị quan chế, và một số tên gọi đồ dùng Ví dụ như:

“Hồ” 胡 : tự xưng của tộc Hung Nô, là một cách dịch âm khác của Hung (Nô)

匈奴 , có nghĩa gốc là người hoặc trời làm chủ Căn cứ vào nhiều nguồn tư liệu tiếng nước ngoài ghi lại, tiếng Hán và Hung Nô có tên gọi khác nhau, từ nguyên có thể là

ghua (n) (a)

“Thiền Vu/ Thiện Vu” 单于/ 善于 : tên hiệu của vua Hung Nô Từ nguyên có

thể là šenogu/ šenhu hoặc sanok/ tsanak

“Sanh Lê Cô Đồ” 撑犁孤涂 : tên gọi thêm của Thiền Vu, nghĩa là Thiên tử

“Sanh Lê” 撑犁 từ nguyên có thể là tangara/ tängri ( thiên: 天 ), từ nguyên của “Cô Đồ/ Cô Đồ” 孤涂/ 孤屠 có thể là kutu/ togh (tử: 子)

“Yên Thị/ Yên Chi” 阏氏/ 烟支 : Hoàng hậu Hung Nô, vợ chính thức của Thiền

Vu Có hai cách gọi nhưng có thể nguồn gốc không giống nhau “Yên Thị” 阏氏 có

thể là ashi/ aši, hay hati/ hatin “Yên Chi” 烟支 còn được gọi là “燕支/ 焉支/ 撚支” bắt nguồn từ tên một ngọn núi cổ Yên Chi焉支 là yanči/ yanši (tiếng Hung Nô), do

ngọn núi này sản xuất ra Yên Chi Hoa (胭脂) – son, vật dụng có liên quan với phụ nữ,

và nghĩa rộng là phụ nữ đã lập gia đình

“Đồ Kỳ/ Chư Kỳ” 屠耆/ 诸耆 : tôn hiệu Vương hầu Hung Nô, có vị trí thấp hơn

Thiền Vu Từ nguyên có thể gần gần với tuki hay šoki/ čoki

“Tê Tỉ 犀比/ Tư Phi 胥纰/ Tê Tì 犀毗/ Sư Tỉ 师比/ Tư Phi 私纰/ Tiên Ti 鲜

卑” : móc câu, vốn là tên gọi con thú may mắn trong văn hoá Hung Nô Từ nguyên có

thể là serbi

Trang 35

“Quách Lạc 郭落/ Quách Lạc 郭洛/ Câu Lạc 钩络/ Khoách Lạc廓落/ Lạc 络” :

dây lưng Từ nguyên có thể qwaghlag/ qwaghrag

Bên cạnh đó, việc tiếp xúc với Tây Vực cũng đã mang lại cho tiếng Hán một lượng từ vựng ngoại lại đáng kể Ví dụ:

“Lạc Đà 骆驼” : ban đầu gọi là “Thác tha 橐它/ Thác tha 橐他/ Thác đà 橐

佗”,về sau chữ viết dần dần ý nghĩa hoá, trở thành “Thác đà 橐驼” do sau này phần ngữ âm không chính xác mà cuối cùng viết thành “Lạc đà骆驼” Từ nguyên có thể

dada trong tiếng Hung Nô

“Sư tử” 狮子: ban đầu “sư/ sư tử 师/ 师子” Từ nguyên có thể là tiếng Ba Tư cổ

šer , hoặc trong tiếng Đông Iran šē/ šī Cùng thời đó cũng có các từ như “Toan Nghê

猊/ Tôn nhĩ 尊耳” , là tên gọi khác của sư tử, xuất xứ và từ nguyên của các từ này vẫn chưa rõ

“Mục túc” 苜蓿 : còn có các tên gọi “Mục túc目宿/ Mục túc 牧蓿/ Mộc túc 木

” Từ nguyên trong tiếng Đại Uyển có thể là buksuk/ buxsux/ buxsuk

“Thạch lựu” 石榴: ban đầu “An Thạch lựu” 安石榴 , còn gọi là “Nhược lựu”

若榴 Từ nguyên vẫn còn chưa rõ nhưng có thể bắt nguồn từ tiếng Iran Arsak (tên

nước An Tức) hay tiếng Sogdian1: anārāka

“Tỳ bà” 琵琶 : vốn là “枇杷” còn gọi là “枇杷, bề bà鼙婆” Từ nguyên có thể

bắt nguồn từ tiếng Iran barbat, hoặc có quan hệ với tiếng Hy Lạp cổ barbiton

2.3 Ngụy, Tấn, Nam Bắc Triều, Tùy, Đường

Nhìn từ lịch sử hình thành và phát triển xã hội Trung Quốc, chúng ta dễ dàng thấy được ngay từ buổi sơ khai, tộc người Hán đã tích cực chủ động khai phá, mở mang bờ cõi, đã không ít lần gây chiến tranh với các dân tộc xung quanh Trong một thời gian dài giao lưu, tiếp xúc với các dân tộc xung quanh, số lượng từ ngoại lai trong

Trang 36

tiếng Hán không ngừng tăng lên, góp phần thúc đẩy việc giao lưu giữa các dân tộc diễn ra dễ dàng hơn Điển hình là lớp từ ngoại lai gốc Phạn trong tiếng Hán

Tiếng Phạn là một cổ ngữ của Ấn Độ Nó có vị trí quan trọng trong văn hoá Ấn

Độ và các văn hoá vùng Đông Nam Á, tương tự như vị trí tiếng Latinh và tiếng Hy Lạp trong Châu Âu trung cổ Là một ngôn ngữ tế lễ của các tôn giáo như Ấn Độ giáo, Phật giáo Bắc tông, Jaina giáo Tiếng Phạn thuộc nhóm ngôn ngữ Ấn – Aryan của hệ ngôn ngữ Ấn Âu và như vậy nó có cùng gốc với phần lớn ngôn ngữ Châu Âu hiện đại,

và cũng cùng nguồn với những ngôn ngữ Châu Âu cổ như tiếng Latinh và tiếng Hy

Lạp Mối quan hệ có thể được minh hoạ qua hai từ cha và mẹ sau đây:1

- Tiếng Phạn: pitṛ पतृ (phát âm gần như pi-tri) và mātṛ मातृ (phát âm gần như

Đó chính là sự trao đổi, buôn bán và truyền giáo thông qua con đường tơ lụa Trung Quốc là nước đầu tiên tìm ra cách trồng dâu nuôi tằm, lấy kén ươm tơ, dệt lụa sớm nhất trên thế giới vào khoảng thế kỷ III trước Công Nguyên Tơ lụa thời đó được dành riêng cho vua chúa và hàng quý tộc, sau này lụa tơ tằm được đưa đi các vùng Con đường tơ lụa dần dần được hình thành từ đó Thế kỷ II trước Công Nguyên, Trương Khiên 张骞 nhận lệnh từ Hán Vũ Đế đi về phía Tây tìm người Nguyệt Chi nhằm kết đồng minh chống lại quân Hung Nô Trải qua nhiều gian khổ, Trương Khiên张骞đã tìm được người Nguyệt Chi ở khu vực miền Bắc Ấn Độ ngày nay Trên đường về ông cùng tuỳ tùng đã mang theo nhiều sản vật mà triều đình rất quan tâm, nhờ đó những tuyến đường nhỏ trước đây được kết nối lại, nhiều tuyến mới được khai phá và an toàn

Trang 37

hơn do được sự bảo vệ của triều đình Tuyến đường mà Trương Khiên đã khai phá được người đời sau gọi là Con đường tơ lụa Từ đó, thông qua Con đường tơ lụa mà hai nền văn minh lớn là Ấn Độ và Trung Quốc được tiếp xúc với nhau dễ dàng, hơn nữa đây cũng là dấu hiệu đánh dấu việc giao lưu, tiếp xúc văn hoá Đông và Tây Trong lịch sử Trung Quốc, nhà Hán là một triều đại tồn tại khá dài (207 TCN đến 220 CN) và

có những thành tựu nổi bật, trong đó phải kể đến là những phát triển về ngôn ngữ Sự gia nhập từ ngữ ngoại tộc vào tiếng Hán không ngừng tăng lên, dẫn đến số lượng từ ngoại lai cũng tăng theo, đặc biệt là từ ngoại lai gốc tiếng Phạn Vào thời kỳ Đông Hán, Phật giáo bắt đầu truyền bá vào Trung Quốc Từ ngoại lai gốc Phạn trong tiếng Hán có mặt hầu hết trên mọi lĩnh vực của xã hội, nhưng qua thống kê thì phần lớn từ ngoại lai gốc tiếng Phạn này là thuộc lĩnh vực tôn giáo – Phật giáo Ngôn ngữ Phật giáo truyền vào Trung Quốc trên cơ bản có thể chia thành ba giai đoạn: giai đoạn đầu là vào thời Đông Hán thông qua tiếng Tây Vực phiên dịch mà truyền vào, giai đoạn tiếp theo là

do các tăng nhân Ấn Độ, Tây Vực phiên dịch lại sau khi vào Trung Nguyên, cuối cùng

là vào thời Đường, nhà sư Huyền Trang đã sang Tây Thiên thỉnh được chân kinh với

một số lượng lớn

2.3.1 Từ ngoại lai gốc Phạn

Do số lượng từ dịch trong Phật giáo vô cùng phong phú nên chỉ có thể giới thiệu

sơ lược như sau:

Phật tổ “Thích Ca Mâu Ni 释迦牟尼” (tiếng Phạn Sakya-muni) là người đã phác

thảo cho con người thấy được một thế giới hoàn toàn mới Thế giới này được cấu thành bởi Tam giới: Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới Trong Dục Giới có Thiên1 (chỉ các thiên thần), con người, A Tu La (còn gọi là Tu La 修罗, tức là Ma thần, Chiến thần hay còn gọi là Phi thiên, Vô Thiện thần, tiếng Phạn là Asura), súc sinh, quỷ và địa ngục – “Lục đạo 六趣” Có tu luyện Lục Đạo thì mới có thể tiến vào phạm vi Tứ Thánh: “Phật 佛”, “Bồ Tát 菩萨”, “Thanh Văn 声闻” (người giác ngộ do nghe giáo pháp của Phật tổ), “Duyên giác 缘闻” (người tự giác ngô ra học thuyết Nhân-duyên của Phật) có thể siêu thoát khỏi sự luân hồi sinh-tử, mãi mãi được giải thoát Tư tưởng

1 “Thiên” 天 dịch từ Deva trong tiếng Phạn, dịch âm là “Đề Bà” 提婆 Dùng để chỉ thiên giới, thiên thần, cũng dùng để chỉ thần hoặc quỷ có thế lực siêu nhiên

Trang 38

Phật giáo là tư tưởng xuất thế Khi đã xuất thế thì mới có thể đến một nơi hoàn toàn tốt đẹp, nơi đó gọi là núi “Tu Di sơn 须弥山” (Tiếng Phạn Sumeru) trong cõi Niết Bàn

Tu Di sơn còn gọi là “须迷楼 Tu Mê Lầu”, “须弥楼 Tu Mi Lầu”, “苏弥卢 Tô Mi Lô”; dịch ý có nghĩa là ngọn núi cao kỳ diệu, ngọn núi kim cang Phật giáo cho rằng thế giới có Cửu sơn bát hải, trong đó Tu Di sơn là trung tâm Đỉnh núi là nơi cư ngụ của

“Đế Thích Thiên 帝释天”, sườn núi là nơi “Tứ Thiên Vương 四天王” cư ngụ “Tu Di toạ 须弥座”, “Tu Di Đàng 须弥坛” là nơi thờ cúng Phật, Bồ Tát Trên núi Tu Di, Phật,

Bồ Tát, Thiên Thần cùng với La Hán (người đi truyền Phật pháp trong nhân gian), tạo thành một thế giới Phật

“Phật/ Phật Đà 佛/ 佛陀”: tôn hiệu của người tu hành đắc đạo Phật tức là Phật

Đà, còn gọi với các tên: “Phật Đà佛驮”, “Phật Đồ佛图”, “Phù Đồ浮图”, “Phù Đồ浮

屠”, “Phù Đầu浮头”, “Phù Đà浮陀”, “Bột Đà勃陀, “Bột Đà勃驮”, “Bộ Đa部多,

“Bộ Đà部陀”, “Mẫu Đà母陀”, “Mạt Đà没驮”, “Mẫu Đà母驮”, “Bộ Tha步他”, “Bộ

Đà步陀”, “Phúc Đậu复豆”, “Vật Tha 物他”, “Bột Đà馞陀” Tên gọi xuất hiện sớm nhất là “Phù Đồ 浮屠” hay “浮图” vào thời Đông Hán đều được dịch từ Buddho trong

tiếng Phạn Phật chính là tôn hiệu “Thích Ca Mâu Ni 释迦牟尼” sau khi Ngài tu hành đắc đạo (Tiếng Phạn là Sakya-Muni, có nghĩa là Thánh nhân của dòng tộc Thích Ca, tại thế vào khoảng năm 565 TCN- năm 486 TCN) Phật có nghĩa gốc là “Giác 觉” (“Giác sát觉察”, “Giác ngộ觉悟”), người Giác ngộ Giác có ba tầng ý nghĩa: một là

“Tự giác 自觉” (tự mình giác ngộ), hai là “Giác tha 觉化” (hạnh nguyện của bậc Bồ Tát), “Giác hạnh viên mãn 觉行圆满” Người có đầy đủ ba Giác thì mới gọi là Phật

Từ nguyên của “Phật Đà佛陀” trong tiếng Phạn là Buddha, do động từ Budh

(Giác 觉) + ngữ đuôi quá khá phân từ -ta cấu thành, nhưng không phải tất cả các dị thể

khác đều từ gốc trong tiếng Phạn mà ra Thông thường mọi người đều nghĩ Phật là tên gọi tắt của Phật Đà, kỳ thực là không phải như vậy Vì “Phật Đà” xuất hiện sau “Phật”, trong “Hậu Hán thư” 后汉书 và “Tam Quốc Chí” 三国志 đều gọi là Phật Trong Phật giáo, “Phật” là danh từ quan trọng nhất, không thể tỉnh lược đi được Căn cứ vào sử sách ghi chép và tình hình địa lý giao lưu văn hoá giữa Trung Quốc và Tây Vực cho

Trang 39

thấy rằng: thời kỳ đầu, kinh Phật đã thông qua gián tiếp một số ngôn ngữ ở Tây Vực

mà dịch lại, đặc biệt là thông qua tiếng Thổ Hoả La1 dịch ra Từ “Phật” cổ trong tiếng Hán có hai âm đọc là phụ âm hữu thanh và phụ âm vô thanh.2 Ban đầu là dùng phụ âm

hữu thanh để dịch pat trong tiếng Thổ Hoả La và pud hoặc pud trong tiếng Quy Từ.3

“Phù Đồ浮屠” là dịch từ Buddho trong tiếng Phạn sớm hơn “Phật佛”, là tên dịch sớm nhất Sau đó, do các cao tăng Tây Vực đến Trung Quốc để truyền kinh, dịch kinh mới

có từ “Phật 佛” dịch từ tiếng Thổ Hoả La, và dần dần thay thế cho “Phù Đồ浮屠” Tiếp sau đó việc dịch “Phật Đà佛陀” trong tiếng Phạn mới xuất hiện trong tiếng Hán,

và từ “Phật 佛” đã thay thế cho tất cả các tên gọi khác [56, tr.11-26]

Như vậy, trong suốt thời kỳ từ Đông Hán cho đến Nam Bắc triều, từ “Phật佛” trong tiếng Hán được đọc bằng phụ âm hữu thanh, nhưng đến thời Tuỳ Đường do việc dịch tên “Phật Đà佛陀” được phổ cập nên dần dần đổi cách đọc bằng phụ âm vô thanh Từ đó về sau, “Phật佛” dùng trong khẩu ngữ và trong hầu hết các tài liệu lịch

sử đã áp đảo cách dùng “Phật Đà佛陀” Điều này là do từ “Phật佛” trong tiếng Hán trên thực tế không có từ đồng âm, nó trở thành âm tiết độc nhất vô nhị, bản thân từ

“Phật佛” lại thúc đẩy các ngữ tố mới xuất hiện, do đó các ngữ tố này không thể nào

“chiếm đoạt” âm tiết này được Hơn nữa, hình thức đơn âm tiết “Phật佛” thì tiện hơn đôi âm tiết “Phật Đà佛陀”, và nó có thể kết hợp các ngữ tố khác để tạo thành hàng loạt các từ đôi âm tiết, thành ngữ, tục ngữ như: “Phật nha佛牙”, “Phật cốt 佛骨”,

“Phật nhãn佛眼”, “Phật kinh佛经”, “Phật quang佛光”, “Phật tổ佛祖”, “Phật tự佛

寺”, “Phật quốc佛国”, “Phật pháp佛法”, “Khẩu Phật tâm xà佛口蛇心”, “Lập địa thành Phật立地成佛”… Vì vậy, “Phật佛” là một trong những từ ngoại lai có sức ảnh hưởng sâu rộng, thậm chí nó đã trở thành biểu tượng của nền văn hoá truyền thống sau này

Trung Quốc, người ta đã phát hiện ra tài liệu cổ bằng ngôn ngữ này Sau khi các nhà khảo cổ nghiên cứu thấy rằng ngôn ngữ này có 2 phương ngữ khác nhau: quen gọi là Thổ Hoả La A (tiếng Yên Kỳ) và Thổ Hoả La B (tiếng Quy Từ) Tất cả chữ cái được sử dụng đều dựa trên thể chữ Brahmi (loại chữ cổ đại Ấn Độ được dùng rộng rãi nhất và quan trong nhất)

2 Hai âm đọc cổ của “Phật” 佛 trong tiếng Hán là bjwət và p‘jwət’

để ghi chép

Trang 40

“A Di Đà Phật 阿弥陀佛” còn gọi là “Di Đà Phật 弥陀佛”, “A Di Đà 阿弥陀” :

là một trong Tam thế Phật của Phật giáo Đại Thừa, là Giáo chủ thế giới tây phương cực lạc Phật A Di Đà cùng với “Đại Thế Chí Bồ Tát 大势至菩萨”, “Quan Âm Bồ Tát 观音菩萨” được tôn xưng là Tam thánh Tây phương A Di Đà Phật được dịch ý từ

Amitābha trong tiếng Phạn, có nghĩa gốc là vô lượng, do đó còn được gọi là “Vô Lượng Phật 无量佛” Phật A Di Đà còn có hai tôn hiệu Tôn hiệu thứ nhất là “Vô Lượng Thọ Phật 无量寿佛”, tiếng Phạn là Amitāyus, dịch âm thành “A Di Đà Dữu Tư

阿弥陀庾斯” Tôn hiệu thứ hai là “Vô Lượng Quang (Minh) Phật 无量光明佛”, hay

“Vô Lượng Thanh Tịnh Phật 无量清净佛”, tiếng Phạn là Amitābha, dịch âm là “A Di

Đà Bà Da 阿弥陀婆耶” Do hình tượng Phật A Di Đà là ánh sáng vô hạn, trường thọ

mà Đức Phật được các môn đồ vô cùng tôn sùng, lúc gọi tên Ngài phải chấp tay, rập đầu lạy Từ “Nam Mô 南无”( phiên âm đọc: nāmó) trong tiếng Phạn Namas hay Namo trong tiếng Pali, có nghĩa là quy y, kính lạy, quy phục, đem mình về với Namo có âm

dịch trong tiếng Hán là南无 (Nam mô, không phải là Nam vô; còn có các cách gọi khác: 南摩,南谟, 那谟, 纳谟, 那慕, 囊谟… ) thường đi liền với tôn hiệu của Phật, gọi đầy đủ thành: “Nam mô A Di Đà Phật 南无阿弥陀佛” Thậm chí giáo phái Thiên Đài1 còn cho rằng thường niệm tôn hiệu của Phật Di Đà lúc lâm chung, Đức Phật sẽ dẫn dắt đến thế giới Tây phương cực lạc Chính vì điều này đã làm cho các lễ nghi thường nhật trong Phật giáo bị đơn giản hoá, dẫn đến việc quần chúng hoá và thông dụng hoá Sau đó, trong quá trình sử dụng, thuật ngữ này gần như đã trở thành thói quen cửa miệng của toàn dân, dần dần mất đi ý nghĩa cụ thể nguyên bản của nó, trở thành sự biểu thị đơn thuần lòng cảm kích, cầu khấn trời đất, hơn nữa còn lược bỏ

“Nam mô”, chỉ còn “A Di Đà Phật” Hiện nay, trong giới trẻ đã bắt đầu sử dụng

“Thượng đế phù hộ” và Amen “阿门”, nhưng đối với người lớn tuổi, đặc biệt là phụ

nữ, “A Di Đà Phật” vẫn là thói quen để biểu thị tâm nguyện và chúc thọ

“Lư Xá Na Phật 卢舍那佛”: Phật Giáo Đại Thừa có khái niệm “Thân”, tức là thân thể Đức Phật do giác ngộ và tích tụ công đức mà thành Vì thế mà Phật được biểu

phố Đài Châu, tỉnh Triết Giang Người sáng lập tông phái này là Trí Nghỉ 智顗 (531 – 597), sống vào thời nhà Tuỳ

Ngày đăng: 11/05/2021, 23:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w