Trong phần Nội dung gồm có 4 chương, trong đó chúng tôi quan tâm và chú trọng làm rõ một số vấn đề chính: nhận thức của phụ huynh về vai trò của gia đình trong giáo dục con, nội dung, ph
NỘI DUNG
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chức năng giáo dục của gia đình và trẻ vị thành niên được nhiều nhà khoa học xã hội quan tâm, đã có nhiều nghiên cứu, bài viết đề cập đến vấn đề này:
1.1.1 Tiếp cận xã hội học:
Dưới cách tiếp cận xã hội học có nghiên cứu của tác giả Nguyễn Minh Hòa
(2000) với cuốn Hôn nhân gia đình trong xã hội hiện đại, Đặng Cảnh Khanh - Lê
Thị Quý (2007) với cuốn Gia đình học, Mai Quỳnh Nam (2004) với cuốn Trẻ em gia đình xã hội, Lê Thi (2006) với cuốn Cuộc sống và biến động của hôn nhân, gia đình Việt Nam hiện nay, Lê Ngọc Văn (1996) với cuốn Gia đình Việt Nam với chức năng xã hội hóa, .v…v…
Các tác giả đề cập và phân tích nhiều khía cạnh như tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, biến chuyển xã hội, sự thay đổi cấu trúc xã hội đến sự thay đổi chức năng giáo dục của gia đình, có sự chuyển tiếp chức năng XHH của gia đình Việt Nam từ truyền thống sang hiện đại Các tác giả chỉ ra rằng sự biến đổi chức năng của gia đình phụ thuộc vào sự biến đổi của các điều kiện kinh tế - xã hội
1.1.2 Tiếp cận tâm lý học
Khác với tiếp cận xã hội học phần lớn thiên về các yếu tố vĩ mô tác động đến chức năng giáo dục của gia đình, các nghiên cứu tâm lý học lại thiên về các yếu tố vi mô như: nhận thức, tâm lý, tình cảm, lối sống … của cha mẹ, con cái; mối quan hệ tương tác giữa cha mẹ - con cái, những nguyên nhân từ yếu tố cá nhân; đồng thời dẫn chứng bằng những trường hợp cụ thể … Điển hình như nghiên cứu của Trần Thị Lan Hương (2004) với cuốn Tìm hiểu thế giới tâm lý của tuổi vị thành niên,
Phan Thị Mai Hương (2007) với cuốn Cách ứng phó của trẻ vị thành niên với hoàn cảnh khó khăn,…
Tuy nhiên, sự phân chia như trên chỉ mang tính tương đối Trong nhiều trường hợp, chúng tôi thấy khó tách bạch các nghiên cứu theo lối tiếp cận xã hội học và tâm lý học, bởi lẽ xu hướng liên ngành khiến các nghiên cứu xã hội học có cả tâm lý học và ngược lại, một vài nghiên cứu mà chúng tôi tiếp cận được đan xen xã hội học, tâm lý học, văn hóa học Chẳng hạn như: nghiên cứu của tác giả Đặng Phương Kiệt (2006), Phạm Côn Sơn (2003), v…v và một số bài viết trên Báo, Tạp chí, Internet
1.2.1 Các nghiên cứu về gia đình
Với sáu chương trong công trình nghiên cứu có tên "Gia đình", tác giả
Yvonne Castellan (2002) đã sơ lược các kiểu, đặc điểm của các gia đình trên thế giới: gia đình Nga, Bắc Mỹ, Mỹ La Tinh, Hinđu, Trung Quốc, Châu Phi Đen và Hồi giáo, trong đó đi sâu và phân tích rõ đặc thù của gia đình Pháp hiện nay Yvonne Castellan dành riêng Chương 3 để tìm hiểu về "Di sản của gia đình Sự xã hội hóa của giới trẻ" Tác giả nêu và giải quyết câu hỏi "Gia đình chuyển giao cái gì cho cá thể loài người với tất cả các nghĩa của từ này?" - Chuyển giao di truyền học và việc XHH Tác giả chỉ ra quá trình XHH: đứa bé bắt đầu từ mối quan hệ với chính mình
- mối quan hệ với mẹ - sau đó bắt đầu với những xung năng, tiếp xúc với những vật làm hài lòng và dần dần quá trình XHH trở nên phức tạp Nói cách khác, đó là quá trình phát triển: sinh lý - tình cảm - xã hội Để kết luận nghiên cứu của mình, tác giả đặt ra 10 câu hỏi về gia đình và đưa ra những câu trả lời gợi mở
Khi nghiên cứu về những tác động ban đầu của công nghiệp hoá, đô thị hoá tới gia đình, trong cuốn Hôn nhân gia đình trong xã hội hiện đại (2000), tác giả Nguyễn Minh Hòa nhận định: chức năng xã hội hoá trẻ em từ gia đình đã chuyển giao dần cho xã hội thông qua nhà trường và các phương tiện truyền thông đại chúng theo lối công nghệ Trong xã hội công nghiệp, đô thị hoá và kinh tế thị trường, các gia đình phải hoạt động với một tốc độ rất cao Vì vậy, họ không còn thời gian chăm lo giáo dục con cái Tác giả cũng cho rằng xu hướng gia đình giao phó con cho trường học ngày càng tăng lên
Hai tác giả Đặng Cảnh Khanh - Lê Thị Quý trong Gia đình học (2007) nghiên cứu chi phí dành cho giáo dục con, thời gian dành chăm sóc con cái trung bình/ngày, phương thức, nội dung giáo dục con cũng như tìm hiểu những quy chuẩn và phương pháp giáo dục gia đình hiện nay Một số kết quả đáng chú ý là: thời gian các gia đình dành chăm sóc con trung bình/ngày ít Nội dung giáo dục gia đình chú trọng đến đạo đức xã hội, đạo đức gia đình và các giá trị bản thân hơn việc dạy làm kinh tế Và, giáo dục thông qua phương pháp truyền miệng, giải thích, nói nhiều lần được các gia đình coi trọng Nghiên cứu này cho thấy sự phối hợp giữa giáo dục gia đình với việc hỗ trợ của cộng đồng là biện pháp giáo dục có hiệu quả và được các gia đình ủng hộ Các tác giả cũng nêu lên khuyến nghị là tăng cường vai trò của các cơ quan chính quyền trong việc quản lý các quá trình, hiện tượng và các quan hệ xã hội
Tác giả Vũ Khiêu cho rằng cần nhận định và khái quát lại toàn bộ thực trạng, diễn biến, quan điểm, giải pháp chung quanh vấn đề gia đình Cần phân tích, so sánh đặc điểm hình thành và sự phát triển của gia đình trong lịch sử phương Tây, phương Đông và ở Việt Nam; đánh giá, so sánh đúng về gia đình Việt Nam trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa Từ đó nêu lên những đặc thù của gia đình Việt Nam từ quá khứ đến tình hình, nhiệm vụ của gia đình Việt Nam hôm nay và tương lai Ông đã phân tích ba mảng vấn đề trong bài Gia đình Việt Nam trên con đường công nghiệp hóa và hiện đại hóa [20,tr.6]: những vấn đề gia đình đang được đặt ra hiện nay ở các nước phương Tây; vấn đề khai thác truyền thống gia đình ở các nước phương Đông; những vấn đề của gia đình ở Việt Nam hôm nay và mai sau
Trong bài Vị trí của gia đình trong sự phát triển xã hội ngày nay [34, tr66-
72], Bùi Thị Kim Quỳ bắt đầu chương I bằng cách đặt vấn đề "Phải chăng ngày nay gia đình đang đứng trước cơn lốc của khủng hoảng thời đại?" và tác giả đã đưa ra những cứ liệu để khẳng định điều đó Tác giả cho rằng "Mối quan hệ lỏng lẽo dần do ngoại cảnh thời nay đã đổi khác Cuộc sống và việc làm tất bật, do nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao hơn, cha mẹ lăn vào kiếm thêm thu nhập, có khi cả tuần chỉ gặp gỡ trò chuyên với con được một đôi lần" Những nét nổi bật của khủng hoảng gia đình hiện nay là: Tình yêu, hôn nhân; quan hệ giữa các thành viên; hình thức, qui mô gia đình thay đổi; quan niệm về đạo đức truyền thống Nội dung "Củng cố vị trí gia đình trong cuộc đối mới và phát triển xã hội hôm nay" được đề cập ở chương II Tác giả so sánh việc thực hiện các chức năng của gia đình ngày xưa và ngày nay, đưa ra giải pháp cho gia đình hiện đại: cởi mở và liên kết, hướng về chuẩn mực mới của đào tạo; phải có sự gắn kết giữa gia đình và nhà trường, cha mẹ cần có kiến thức về tâm lý, sư phạm, dinh dưỡng Cuối cùng tác giả đề cao vai trò của người phụ nữ trong xã hội hiện đại
Quan tâm đến vấn đề Đạo nghĩa trong gia đình, tác giả Phạm Côn Sơn [36] tập trung làm rõ tương quan gia huấn xưa và nay, phân tích vai trò của gia huấn qua các loại hình văn học (truyện cổ tích, ca dao …), tổng hợp những bài gia huấn và gương hiếu người xưa Nói đến gia huấn thời nay, tác giả cho rằng cần chấn chỉnh lại nền nếp gia đình mà việc duy trì nếp sống đạo đức của tông tộc, thực hiện gia huấn, gia lễ, gia phong là việc làm đáng khích lệ
Trong công trình nghiên cứu Gia đình Việt Nam với chức năng xã hội hóa, tác giả Lê Ngọc Văn (1996) đã trình bày những đặc điểm của quá trình chuyển tiếp chức năng XHH của gia đình Việt Nam từ truyền thống sang hiện đại Phân tích sự biến đổi chức năng XHH của gia đình, những thách đố mới và những giải pháp cho gia đình Việt Nam trong chức năng XHH Tác giả coi gia đình và chức năng của gia đình là một phạm trù lịch sử - xã hội, chịu ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện kinh tế
- xã hội, truyền thống văn hóa, dân tộc, chính sách nhà nước Ở phần hai: Vai trò của giáo dục gia đình trong sự hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam trong cuốn Gia đình và vấn đề giáo dục gia đình
[54, tr.137-256], nhiều nghiên cứu về giáo dục gia đình được trình bày như: Chức năng xã hội hóa của gia đình của tác giả Võ Tấn Quang; Giáo dục gia đình - những thách đố mới của Kiên Giang; Vai trò của gia đình trong sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ em của Phạm Nguyệt Lãng; Gia đình với việc hình thành nhân cách trẻ em của Ngô Công Hoàn; Gia đình và giáo dục trong gia đình của Vũ Sơn; Gia đình Việt Nam và vấn đề giáo dục gia đình trong sự chuyển đổi của đất nước hiện nay của Lê Thi Các tác giả chỉ ra những yếu tố mà qua đó gia đình thực hiện chức năng XHH; vai trò của gia đình trong quá trình xây dựng nhân cách của trẻ; những chức năng, những biến đổi chức năng cũng như “loạn chức năng” của giáo dục gia đình dưới tác động của các yếu tố kinh tế - xã hội mới; trình bày những đặc trưng cơ bản của giáo dục gia đình; những hệ quả tích cực và tiêu cực của sự chuyển đổi từ gia đình truyền thống sang gia đình hiện đại; nêu lên một số kiến nghị Về mặt lý luận, tác giả Võ Tấn Quang có đề xuất và phân tích tính cấp thiết của việc xây dựng khoa học giáo dục gia đình Các tác giả dựa trên lối tiếp cận xã hội học, tâm lý học và cả văn hóa học Tuy nhiên, một số tác giả thiếu những minh họa định lượng khi mô tả thực trạng
NHẬN THỨC, SỰ QUAN TÂM CỦA CHA MẸ VỀ GIÁO DỤC
VỀ GIÁO DỤC CON VỊ THÀNH NIÊN 2.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu - Phường Long Bình
Phường Long Bình có diện tích 3500,36 hecta - là một phường ngoại ô thành phố Biên Hòa, được thành lập ngày 29/08/1994 theo nghị định 109-NĐ/CP của Chính phủ trên cơ sở tách từ Phường Tam Hòa và xã Phước Tân huyện Long Thành Phường Long Bình nằm ở phía Đông thành phố Biên Hoà, nằm giữa 3 trục đường giao thông chính là đường sắt Bắc Nam (phía Bắc); xa lộ Hà Nội (phía Tây) và Quốc Lộ 15 (phía Tây Nam), phía Bắc giáp với phường Tân Biên, Tân Hoà và xã
Hố Nai 3 huyện Trảng Bom; phía Tây giáp phường Tân Hiệp, Tam Hoà; phía Tây Nam giáp phường An Bình và Long Bình Tân; phía Đông và Đông Nam giáp xã Phước Tân, An Hoà và xã Hố Nai 3 huyện Trảng Bom
Bản đồ 1: Vị trí địa lý phường Long Bình
(Nguồn: http://www.dongnai.gov.vn/dong-nai/tongquan_KT-XH/2006-01-
13/Ban_do_Tp_Bien_Hoa)
2.1.2 V ề dân s ố, gia đ ình, tr ẻ em
Phường Long Bình được chia thành 9 khu phố với 274 tổ nhân dân; phường có dân số đông nhất thành phố Biên Hoà, được xem là một địa bàn sôi động Tính đến 1/6/2010 phường có 10.512 hộ với 86.976 người, chiếm gần 10% dân số toàn thành; trong đó số nhân hộ khẩu tạm trú chiếm 34% Cơ cấu gia đình hai thế hệ chiếm tỷ lệ cao (7.793 hộ, chiếm 74%), toàn phường có số người trong độ tuổi đến trường vào loại cao nhất, nhì của thành phố với 6.250 học sinh
Theo báo cáo số 223/BC-UBND ngày 13/12/2010 của Ủy ban nhân dân phường Long Bình, trong năm 2010, địa phương đã củng cố Ban Chỉ đạo phòng chống bạo lực gia đình và Tổ phòng chống bạo lực gia đình của 09 Khu phố Các Tổ phòng chống bạo lực gia đình đã tổ chức hòa giải, xử lý, nhắc nhở tại khu dân cư Củng cố Ban Chỉ đạo và Ban Chủ nhiệm Câu lạc bộ gia đình công nhân trẻ hạnh phúc tại Khu phố 3 Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác gia đình của địa phương cũng còn một số tồn tại Trong năm, phường có 12 vụ bạo lực gia đình và phát hiện có 59 trường hợp có nguy cơ xảy ra bạo lực gia đình Phường có 3/9 Khu phố đạt danh hiệu Khu phố văn hóa, tỷ lệ Khu phố đạt và giữ vững danh hiệu Khu phố văn hóa chưa đạt mục tiêu Nghị quyết
2.1.3 Tình hình kinh t ế x ã h ội , vi ệc l àm
Phường có 04 Khu công nghiệp đóng chân trên địa bàn là Amata và LoTeCo, AgTEX, khu công nghiệp vừa và nhỏ tại khu phố 8, với khoảng 40 ngàn công nhân, lao động làm việc tại các xí nghiệp [85] Phường được quy hoạch 104 ha khu dân cư còn lại đang chờ quy hoạch tiếp giai đoạn 2
Toàn phường hiện có 2.249 cơ sở dịch vụ buôn bán, kinh doanh thương mại,
01 khách sạn, 04 nhà nghỉ và 2.344 hộ cho thuê phòng trọ với 37.000 người thuê trọ Phường có 05 khu vực buôn bán tập trung, đây là những khu vực buôn bán tự phát chưa được quy hoạch vào nơi ổn định
Tiềm năng phát triển kinh tế của phường là rất lớn, xác định cơ cấu kinh tế của phường là thương mại, dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp, trong đó ngành thương mại dịch vụ là then chốt Ngành nông nghiệp trồng trọt, chăn nuôi đang có hướng chuyển đổi cơ cấu ngành nghề và di dời chăn nuôi nên các hộ chăn nuôi đang có hướng chuyển đổi sang dịch vụ cho thuê phòng trọ, do địa phương thu hút đông lao động nên nhu cầu về dịch vụ cho thuê phòng trọ là rất lớn Định hướng phát triển kinh tế của phường được xác định chủ yếu là Thương mại dịch vụ - Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp - Chăn nuôi trồng trọt; tốc độ phát triển kinh tế hàng năm tăng từ 15-17%, trong đó tỷ trọng thương mại dịch vụ: 60%, Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp 25%; Nông nghiệp 15% [80]
2.1.4 Văn hóa, thông tin, nghệ thuật
Cũng theo báo cáo số 223/BC-UBND, trong năm 2010 số cơ sở kinh doanh có liên quan đến lĩnh vực văn hóa là 178 cơ sở, trong đó có: 15 Nhà nghỉ - khách sạn, 80 quán cà phê, 64 tiệm Internet, 02 cơ sở massage; 08 tiệm hớt tóc nữ và 09 điểm kinh doanh băng đĩa, Karaoke Địa phương tổ chức tuyên truyền các nội dung như: kỷ niệm các ngày lễ lớn, tổ chức họp mặt, liên hoan văn nghệ nhân kỷ niệm các ngày truyền thống của các ngành, đoàn thể, tuyên truyền phòng chống ma túy, trật tự an toàn giao thông, phát động thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, phát động tập luyện thể dục, thể thao
Hệ thống truyền thanh của phường hiện có 02 cụm loa (01 cụm đặt tại Ủy ban nhân dân và 01 cụm tại Khu phố 5A), hàng ngày thực hiện công tác tiếp âm các chương trình của cấp trên, chương trình thời sự của địa phương, bản tin nội bộ của phường, tuyên truyền các ngày lễ lớn và các chương trình hoạt động của địa phương
2.1.5 Tình hình an ninh tr ật tự, an to àn xã h ội
Phường cũng là một trong những địa bàn trọng điểm, phức tạp nhất về trật tự an toàn xã hội thành phố Tình hình tội phạm nói chung và trẻ em vi phạm pháp luật nói riêng đều cao hơn so với các xã, phường khác trong thành phố Do đây là địa bàn có nhiều ngành nghề kinh doanh dịch vụ nên dễ bị các đối tượng lợi dụng hoạt động Địa bàn có 252 cơ sở kinh doanh có liên quan đến an ninh trật tự; có 297 đối tượng các loại, cùng với số đối tượng tại chỗ còn một số ít đối tượng ở các địa phương khác đến ẩn nấp, trốn tránh pháp luật chờ thời cơ thuận lợi tiếp tục hoạt động “làm ăn” Hoạt động của tội phạm trong những năm qua nổi lên một số loại tội phạm nguy hiểm như cướp, cưỡng đoạt tài sản, trộm cắp xe với thủ đoạn đua nóng, đánh nhau gây rối trật tự công cộng Theo Báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết 09/CP, Chương trình phòng chống tội phạm giai đoạn 1998 - 2010 của Ban Chỉ đạo phòng chống tội phạm phường Long Bình, một số nét về tình hình tội phạm trên địa bàn phường từ năm 1998 - 2010 như sau [57, tr1-11]:
Các loại tội phạm: đã xảy ra 54 vụ mua bán ma túy, bắt 141 đối tượng; cảnh cáo, đình chỉ kinh doanh 67 lượt cơ sở kinh doanh “nhạy cảm” (cà phê đèn mờ, sử dụng tiếp viên nữ massage không có chứng chỉ hành nghề…); phát hiện 69 vụ đánh bạc bắt 139 đối tượng; xảy ra 19 trường hợp trẻ em bị xâm hại
Trẻ em vi phạm pháp luật: Từ năm 1998 - 2010 đã xảy ra 38 vụ 54 em, với các hành vi: cướp tài sản, trộm cắp, gây rối đánh nhau, bỏ nhà đi bụi; chuyển Công an thành phố khởi tố 03 em có hành vi cướp tài sản, lập hồ sơ đề xuất đưa đi trường giáo dưỡng 45 em Hàng năm đưa ra kiểm tra trước dân từ 8 - 10 thiếu niên có biểu hiện vi phạm pháp luật; lập hồ sơ vào giáo dục tại địa phương hàng năm từ 3 - 5 em Riêng trong năm 2009, có 28 em nghiện Game Online, trong đó có 22/28 em đã nghỉ học; và 25 em vi phạm pháp luật, có biểu hiện vi phạm pháp luật, các em này chủ yếu tập trung ở Khu phố 4, Khu phố 5 và Khu phố 5A
* Nh ận xét: Phường Long Bình có ưu điểm về vị trí địa lý, thuận lợi về phát triển kinh doanh, dịch vụ; lực lượng lao động dồi giàu Tuy nhiên, với dân số đông và nhiều dân nhập cư, tốc độ phát triển kinh tế nhanh, nhiều cơ sở kinh doanh có liên quan đến văn hóa, an ninh trật tự… nên gặp khó khăn trong công tác quản lý Tình hình trật tự, an toàn xã hội phức tạp, một số khu phố chưa đạt khu phố văn hóa, tình trạng bạo lực gia đình vẫn tiếp diễn… Tất cả đã ảnh hưởng đến việc thực hiện vai trò giáo dục con cái của các gia đình
2.2 Đặc điểm của khách thể trong mẫu nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu 36 ông bố, bà mẹ; thảo luận 02 nhóm, trong đó 01 nhóm cha mẹ có con ngoan và 01 nhóm cha mẹ có con chưa ngoan, phát phiếu khảo sát thu thập ý kiến của 120 gia đình và 20 em vị thành niên trên địa bàn phường Long Bình Tổng quan về đặc điểm khách thể nghiên cứu như sau:
- Đối với 36 phụ huynh được phỏng vấn sâu:
Gi ới tính : Nữ chiếm phần đông (26/36) so với nam (10/36) Số nữ nhiều hơn số nam, bởi lẽ một số gia đình cho rằng việc giáo dục con cái thì để vợ nói và cũng có thể do yếu tố tâm lý tác động: học viên là nữ nên gia đình muốn người vợ trò chuyện sẽ thuận lợi hơn
HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC CON VỊ THÀNH NIÊN TRONG
Nhà xã hội học R.E.Park phát biểu xác đáng rằng “Người ta sinh ra không phải đã là con người, mà chỉ trở thành con người trong quá trình giáo dục” [1, tr62] Một tác giả khác -Goode (1964) cho rằng trong mối tương quan giữa gia đình và xã hội, nếu gia đình không thực hiện đầy đủ các chức năng của nó thì những mục tiêu rộng lớn của xã hội cũng sẽ không đạt được Những phát biểu đó của các ông đã khái quát được vai trò đặc biệt quan trọng của giáo dục và giáo dục gia đình Trong phạm vi gia đình, hoạt động giáo dục con cái của cha mẹ được thể hiện qua ba chiều kích: nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và thời gian dành cho việc giáo dục con
3.1.1 Nh ững nội dung giáo d ục con
Theo cách hiểu của chúng tôi, nội dung, lĩnh vực, vấn đề giáo dục con là tất cả những gì cha mẹ nói, hướng dẫn, chỉ bảo nhằm giúp con hiểu biết, nhận thức hoặc/và để con vâng theo, làm theo Mai Huy Bích phân chia thành bốn lĩnh vực giáo dục chính: đạo đức, văn hóa (học tập), hướng nghiệp và giáo dục giới tính [1]
Yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đòi hỏi con người mới có những phẩm chất tốt, đó là những con người vừa có đức, vừa có tài Đối với xã hội, cá nhân được kỳ vọng là người có kiến thức, bản lĩnh ở lĩnh vực chuyên môn, có nhân cách của người lao động: có lương tâm nghề nghiệp, trung thực, tuân thủ pháp luật Đối với gia đình, cá nhân được kỳ vọng là người hiếu thảo, chung thủy, làm tròn trách nhiệm và bổn phận, Để đạt được những mục tiêu đó trong tương lai, VTN cần phải được giáo dục những gì từ môi trường giáo dục gia đình? Nội dung giáo dục con cái của các gia đình đang hướng vào những vấn đề gì? chú trọng và chưa chú trọng những vấn đề gì?
Trả lời cho câu hỏi “Cô/ chú dạy con về những nội dung, vấn đề gì ?” thì các bậc cha mẹ liệt kê ra rất ít nội dung, thường là nhắc con học, chọn bạn mà chơi, phòng tránh cái xấu, đạo đức Khi chúng tôi hỏi thêm những nội dung khác thì người trả lời cho biết họ “cũng có nói” (với thái độ không chắc chắn) hoặc “ít nói cái đó” hoặc “không nói” Những nội dung khác mà cha mẹ ít dạy con là: giáo dục giới tính, lối sống, ứng xử, việc nhà, niềm tin tôn giáo, chăm sóc sức khỏe bản thân; kiến thức tự nhiên, xã hội…
Một cách tổng quát, nội dung, lĩnh vực mà các bậc cha mẹ dạy dỗ, chỉ bảo con là phong phú nhưng không sâu Đa phần người trả lời chỉ chú ý đến nhắc nhở con học hành, bảo con biết thương cha mẹ, chọn bạn mà chơi, phải biết đạo đức: kính trên nhường dưới, lễ phép, không tham lam, giúp đỡ người khó khăn, ứng xử tốt v v…
Từ những gì cha mẹ chia sẻ, chúng tôi tổng hợp và chia thành các mảng nội dung và vấn đề chính như: (1) Nội dung về học hành gồm: nhắc nhở học hành, làm bài tập; nói về lợi ích, mục đích của việc học, tác hại của việc học không đến nơi đến chốn; động viên, khuyến khích con học, hướng dẫn con làm bài tập (2) Nội dung về đạo đức xã hội gồm: lễ phép, kính trên nhường dưới, biết thương cha mẹ, ứng xử tốt, giúp bạn, giúp người khó khăn, tam cương, ngũ thường (3) Nội dung về các giá trị bản thân gồm: tiết kiệm, có ý thức, tính tự lập, sự cố gắng (4) Nội dung phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội gồm: không chơi với bạn xấu, không tham lam ăn cắp, đừng mê chơi, đừng nghe người xấu xúi giục, cẩn thận khi bạn mời uống nước, kể về những trường hợp làm sai, làm xấu để con tránh (5) Nội dung về vai trò giới gồm: công việc và nhiệm vụ của con trai, con gái; tính cách và cách ứng xử của con trai, con gái phải làm sao cho phù hợp (6) Nội dung giáo dục giới tính, chăm sóc sức khỏe sinh sản gồm: không ngồi chỗ mà đàn ông mới vừa chỗ ngồi đó đứng lên; không yêu đương sớm, (nói về người khác) dùng bao cao su; (nói về người khác) có thai hoang; vệ sinh phụ nữ khi đến tháng (7) Nội dung việc nhà, nội trợ gồm: hướng dẫn con làm món ăn, nhắc con lau quét nhà, giặt đồ, dọn dẹp (8) Một số nội dung khác gồm: hướng nghiệp, kiến thức về tự nhiên, kỹ thuật công nghệ, niềm tin tâm linh, tôn giáo
3.1.1.1 Vai trò của cha mẹ trong việc giáo dục và tạo điều kiện cho con học tập
Theo Đức Minh, để giúp con cái trong việc học tập, cha mẹ cần theo một số nguyên tắc sau: (1) giáo dục con về mục đích, động cơ và thái độ học tập; (2) giúp con học tập; (3) dành cho con những điều kiện tối thiểu cần thiết; (4) liên hệ, phối hợp với giáo viên, nhà trường; (5) tôn trọng việc học và giờ học của con
Cả trong khảo sát bằng bảng hỏi và phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm, kết quả đều cho thấy cha mẹ rất quan tâm đến việc học của con và họ xem đây là vấn đề quan tâm nhất, quan trọng nhất với số lượng ý kiến đánh giá là 11/36 Sự quan tâm đó thể hiện rõ qua các hoạt động:
Nhắc nhở con học hành, làm bài tập; nói về lợi ích, mục đích của việc học, tác hại của việc học không đến nơi đến chốn
Thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nền kinh tế tri thức phát triển nhanh chóng, xã hội đã đặt ra nhiều yêu cầu ở người lao động, trong đó tiêu chí bắt buộc cần có là trình độ học vấn của người lao động Thực tế cho thấy, bằng cấp được nhiều người coi trọng vì nó gắn liền với địa vị xã hội, loại hình công việc đảm nhận và đồng lương được hưởng
Tất cả cha mẹ đều muốn con học hành tốt Trong những nội dung trao đổi, giao tiếp hàng ngày giữa cha mẹ và con cái đều có liên quan đến vấn đề học tập Phụ huynh cho rằng, ở tuổi VTN không có gì quan trọng bằng việc học hành, nhiệm vụ chính ở tuổi này là học tốt Cha mẹ có con ngoan, ý thức việc học và học tốt thì ít phải bận tâm việc nhắc con học, nhưng ngược lại cha mẹ có con chưa ngoan, ham chơi, lười học và học kém thì việc học của con là nỗi lo lắng, quan tâm hàng đầu của họ Nội dung thường xuyên được cha mẹ đề cập về việc học của con là: nhắc nhở, động viên con học hành, làm bài tập; nói về lợi ích, mục đích của việc học, tác hại của việc học không đến nơi đến chốn
"Chị nhắc nhở, bảo con ráng lo học hành, đừng có mê chơi Có học mới có tương lai" (Trích Biên bản PVS số 6, Nữ, nội trợ)
Đầu tư vật chất, dành cho con những điều kiện cần thiết phục vụ học tập
Nhận thức được tầm quan trọng của việc học nên phụ huynh đầu tư vật chất và tạo điều kiện để con học tốt Cụ thể là: mua sách vở, đồ dùng học tập, khi con yêu cầu mua vật dụng để phục vụ việc học là mua ngay, cho con đi học thêm Những gia đình khá giả thuê gia sư về dạy kèm, mua máy vi tính cho con học
"Đồ dùng học tập, sách vở mua đầy đủ Có cho đi học thêm Tháng nào cũng đến gặp cô giáo hỏi xem con có trốn học không Nhà trường cần gì thì đáp ứng cái đó" (Trích Biên bản PVS số 16, Nữ, nội trợ)
Ngay cả những gia đình hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nhiều con còn ở tuổi đi học, cha mẹ vẫn cố gắng lo toan để con được học tốt
"Con lớn tiền học học thêm 1 triệu, con nhỏ 600 ngàn/tháng rất tốn kém Tốn nhưng con học tốt chị rất phấn khởi trong lòng Nghe con học được là mừng, đời mình khó, ra không bằng ai nên rất muốn con thành tài.” (Trích Biên bản PVS số
Liên hệ, phối hợp với giáo viên, nhà trường
Giáo dục gia đình và giáo dục nhà trường tuy có nội dung và phương pháp khác nhau; song, có cùng một đối tượng giáo dục là trẻ em và cùng một mục đích là tạo ra những công dân hữu ích cho xã hội, nhất là trong tình hình chung hiện nay, thời gian trẻ ở trường và dành cho việc học nhiều hơn thời gian ở nhà Chính vì vậy người ta kêu gọi sự gắn kết chặt chẽ, mật thiết giữa gia đình và nhà trường
Ngoài việc động viên, nhắc nhở con học tập, đầu tư kinh tế cho việc học của con thì phụ huynh cũng cho biết họ còn liên hệ, trao đổi và phối hợp với nhà trường để làm sao cho việc học của con em được tốt 35/36 người cho biết gia đình có đi họp phụ huynh, có số điện thoại của giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn chính để liên hệ hỏi tình hình học tập của con khi cần thiết
"Có, có giấy mời đi họp đủ Xin số điện thoại thầy cô hỏi về học tập" (Trích
Biên bản PVS số 18, Nam, chạy xe ôm)
Một số phụ huynh hài lòng và đánh giá sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình những năm gần đây dần tốt hơn và so với trước
NHỮNG TÁC NHÂN ẢNH HƯỞNG ĐẾN VAI TRÒ GIÁO DỤC CỦA GIA ĐÌNH
VAI TRÒ GIÁO DỤC CỦA GIA ĐÌNH 4.1 Tác nhân bên ngoài
Nguyễn Linh Khiếu đã khái quát tác động của môi trường xã hội đến chức năng giáo dục của gia đình trong bối cảnh toàn cầu hóa như sau:“Cùng với sự biến đổi vô cùng to lớn của đời sống xã hội thời kỳ đổi mới, gia đình Việt Nam cũng diễn ra sự biến đổi một cách toàn diện Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đã tác động mạnh mẽ đến mọi mặt đời sống gia đình Bên cạnh những tác động tích cực, những cơ hội phát triển mới, gia đình Việt Nam cũng đang đứng trước nhiều nguy cơ và thách thức mới (…) Những tác động này đang tạo ra một môi trường xã hội ô nhiễm nặng nề, hết sức bất lợi đối với sự bền vững và phát triển của gia đình nói chung, giáo dục gia đình và sự trưởng thành của trẻ em nói riêng” [72] Nhận định này đã nói lên sự tác động mạnh mẽ của yếu tố bên ngoài đến chức năng giáo dục của các gia đình
Trong khi trò chuyện, trao đổi với những phụ huynh gặp khó khăn trong việc dạy con, chúng tôi nhận thấy sự bức xúc, tuyệt vọng của những bậc làm cha, làm mẹ Nhiều người có công việc và lối sống tốt, quan tâm vun vén cho gia đình, đóng góp cho cộng đồng, xã hội nhưng vẫn gặp khó khăn trong việc giáo dục con Họ phải dùng đến cụm từ “Bất lực” để nói về việc dạy con
“Gia đình không gương mẫu thì con hư nhưng đây gia đình gương mẫu, hưu trí nhà nước mà cũng khó dạy con” (Trích Biên bản PVS số 13, Nữ, hưu trí)
Chúng tôi rất đồng ý với Mai Huy Bích khi ông cho rằng trách nhiệm về số trẻ em hư nhiều ở thành phố không riêng của gia đình mà còn của các thể chế khác Nguyên nhân sâu xa không chỉ do giáo dục mà còn do tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội [1, tr69] Nói cách khác, nhân cách, bản sắc của trẻ là kết quả tổng hòa của những mối tương tác trong và ngoài gia đình, của các môi trường XHH mà trẻ tham gia
4.1.1 Các chương tr ình, ho ạt động của địa phương
Chúng tôi chưa tìm hiểu về công tác gia đình và trẻ em từ chính quyền địa phương mà tìm hiểu gián tiếp thông qua sự chia sẻ của các gia đình Một số gia đình không quan tâm và không đi họp, sinh hoạt ở địa phương Có hai lý do chủ yếu khiến họ không đi họp là: quá bận, không có thời gian và không thích đi họp hành Còn lại, những người thường đi họp tổ dân phố và các cuộc họp khác của địa phương nói rằng họ không nghe hoặc rất ít được nghe phổ biến, hướng dẫn, tuyên truyền kiến thức về tâm sinh lý VTN, cách giáo cục con VTN Nội dung chính của các cuộc họp thường là vấn đề an ninh địa phương, phòng chống tội phạm, đóng góp làm đường xá, giữ nếp sống văn hóa … Một số ít nói rằng có nghe nhắc nhưng chỉ nói sơ, nội dung không sâu, không có chuyên đề riêng, thường là nhắc nhở quản lý con cái Chỉ có 2/36 người (01 cán bộ khu phố và 01 cán bộ hưu trí) nói họ được phổ biến nhiều về nội dung giáo dục VTN
“Không, hầu như không có Đi họp tổ dân phố thì nhắc nhở về an ninh, đề phòng tội phạm, sống có ý thức, có việc gì trên đưa về thì nói cho biết rồi đóng góp ý kiến Có những gia đình đặc biệt như nghèo khó, ốm đau, phạm tội người ta nói chung chung thôi chứ nói rõ về giáo dục con VTN thì không” (Nữ, nội trợ, SN
10/10 người trả lời là nam giới không tham gia đoàn thể nào của địa phương, một số người trả lời là nữ có tham gia Hội phụ nữ và thi thoảng có đi họp, sinh họat trong Hội nhưng cũng rất ít khi nghe phổ biến nội dung, kiến thức về giáo dục con VTN, nếu có nội dung cũng không chuyên sâu
“Cô sinh hoạt bên phụ nữ, có nhắc nhưng không đi sâu lắm Chỉ nói sơ sơ là quản lý con cái thôi chứ nói sâu hoặc chuyên đề thì không” (Trích Biên bản PVS số
Một kênh thông tin khác có thể cung cấp thông tin, kiến thức cho các gia đình để giáo dục con tốt là những tờ rơi, tài liệu dưới dạng Hỏi - đáp, tranh gấp … có liên quan đến giáo dục VTN nhưng người trả lời cho biết là họ chưa được tiếp cận những dạng tài liệu đó
Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo Phòng chống tội phạm phường Long Bình thì địa phương đã phát động phong trào trong nhân dân, kết hợp với việc tuyên truyền trong các tổ chức đoàn thể xã hội, nêu cao vai trò của các hội viên, đoàn viên trong việc nắm tình hình, bảo vệ và giáo dục trẻ em, ngăn chặn tội phạm trong lứa tuổi vị thành niên Hàng năm, Hội Liên hiệp phụ nữ và Công an phường đều ký kế hoạch liên tịch về Giáo dục con em trong gia đình không phạm tội và tệ nạn xã hội Như vậy, mặc dù các chương trình tuyên truyền của địa phương đã có nhưng phụ huynh trong mẫu nghiên cứu này chưa tiếp cận được với các thông tin, kiến thức, kỹ năng nuôi dạy con vị thành niên từ địa phương, tổ chức, đoàn thể
4.1.2 B ạn b è c ủa con vị th ành niên
Trong năm tác nhân XHH 10 trong đời người thì nhóm bạn cùng lứa tuổi là một tác nhân quan trọng, nhất là trong giai đoạn trẻ đi học Theo George Hebert Mead, nhóm bạn cùng lứa tuổi là những người khác quan trọng.Nhóm bạn cùng lứa tuổi khác với gia đình ở chỗ tạo điều kiện cho trẻ tham gia vào nhiều hoạt động không có sự giám sát trực tiếp của người lớn Và trong một xã hội đang thay đổi nhanh chóng thì nhóm bạn cùng lứa tuổi thường “ganh đua” với ảnh hưởng của cha mẹ [45, tr.170] VTN sẽ học hỏi được nhiều điều tích cực nếu chơi với nhóm bạn tốt và ngược lại sẽ bị “lây lan” những điều tiêu cực từ bạn chưa tốt
Hầu hết phụ huynh đều cho biết con cái có bạn và nhận xét là bạn con cũng bình thường, tốt Tuy nhiên có 03/36 trường hợp không biết gì về bạn của con và 07/36 trường hợp không hài lòng về bạn bè của con Những cha mẹ có con ngoan thì an tâm về mối quan hệ bạn bè của con Qua tìm hiểu và quan sát của phụ huynh thì những người bạn này ngoan, lễ phép và chăm học Trong khi đó, những cha mẹ có con chưa ngoan, gặp khó khăn trong việc dạy con thường than phiền rằng con họ khó bảo do chơi với bạn xấu, nghe lời bạn bè nhiều hơn nghe lời cha mẹ Trong suy nghĩ của nhiều phụ huynh có con chưa ngoan, con ham chơi, mê Game, học sút là do bạn bè mà ra
“Con thì coi như là hắn đua chúng đua bạn, đang học là hắn bỏ học… Nguyên nhân nói đúng coi như là bạn bè của nó ở ngoài, nó thúc đẩy kêu, lôi kéo, gia đình nói nó, nó bảo học không theo được thì nó không học nữa” (Trích Biên bản PVS số
Nhóm bạn có vai trò quan trọng nhất ở lứa tuổi VTN, và trong quá trình
(10) Năm tác nhân XHH: Gia đình, nhà trường, nhóm bạn cùng lứa tuổi, phương tiện truyền thông đại chúng và dư luận
XHH thường phát sinh mâu thuẫn giữa gia đình với nhóm bạn Mâu thuẫn này được tạo ra do sự khác biệt thế hệ trong khi các mẫu văn hóa luôn thay đổi hoặc do mối quan tâm của gia đình thường có tính chất định hướng, mục tiêu dài hạn trong khi nhóm bạn lại tạo ra những sở thích nhất thời, ngắn hạn [53]
Bạn bè của con đã “cạnh tranh” với cha mẹ về sự ảnh hưởng như thế nào? Những chuyện riêng tư, tình cảm, muộn phiền con chỉ chia sẻ với bạn bè như đã nêu trên Những sự phản đối, cấm đoán của cha mẹ về mối quan hệ bạn bè của con ngày càng làm tăng khoảng cách và giảm sự thông hiểu lẫn nhau giữa cha mẹ và con cái
4.1.3 Truy ền thông đại chúng