1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh cách sử dụng các từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng việt và tiếng nhật

163 294 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 163
Dung lượng 2,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy tôi chọn làm đề tài luận văn tốt nghiệp bậc cao học của tôi là: So sánh cách sử dụng các từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng Việt và tiếng Nhật thân tộc trong cả hai ngôn ngữ Vi

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

LƯƠNG THÁI DIỄM QUỲNH

SO SÁNH CÁCH SỬ DỤNG CÁC TỪ CHỈ QUAN HỆ THÂN TỘC TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG NHẬT

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

LƯƠNG THÁI DIỄM QUỲNH

SO SÁNH CÁCH SỬ DỤNG CÁC TỪ CHỈ QUAN HỆ THÂN TỘC TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG NHẬT

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

_

Trước hết, tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia TP.HCM, các Thầy Cô phòng Sau đại học – Quản lý khoa học, các Thầy Cô chuyên ngành Ngôn ngữ học, các Thầy Cô chuyên ngành tiếng Nhật đã tham gia giảng dạy và trang bị kiến thức cho tôi trong toàn quá trình học và làm luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn Giáo sư – Tiến sĩ Bùi Khánh Thế – người

đã tận tình hướng dẫn, sửa chữa và giúp tôi hoàn thành luận văn này

Sau cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, các anh chị học viên lớp cao học Ngôn ngữ học khóa 2007, các đồng nghiệp, các bạn bè đã động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học này

Trân trọng cảm ơn

Lương Thái Diễm Quỳnh

Trang 4

QUY ƯỚC VIẾT TẮT

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

BẢNG QUY ƯỚC VIẾT TẮT ii

MỤC LỤC iii

DẪN NHẬP 1

1 Lý do chọn đề tài, mục đích nghiên cứu 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 3

2 Phạm vi nghiên cứu 4

3 Lịch sử nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 6

5 Cơ sở lý luận 7

6 Ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn của đề tài 8

7 Bố cục của luận văn 10

CHƯƠNG I: VỀ QUAN HỆ THÂN TỘC VÀ TỪ CHỈ NGƯỜI CÓ QUAN HỆ THÂN TỘC TRONG TIẾNG VIỆT 12

1.1 Khái niệm chung về quan hệ thân tộc, về từ chỉ người có quan hệ thân tộc 12

1.1.1 Nguồn gốc văn hóa và tổ chức cộng đồng 12

1.1.2 Khái niệm chung về quan hệ thân tộc, từ chỉ người có quan hệ thân tộc 14

1.1.2.1 Khái niệm về quan hệ thân tộc 14

1.1.2.2 Khái niệm về từ chỉ người có quan hệ thân tộc 14

1.1.2.3 Đặc điểm của nhóm từ chỉ người có quan hệ thân tộc 16

1.2 Sử dụng các từ chỉ người có quan hệ thân tộc trong tiếng Việt 26

1.2.1 Sử dụng từ chỉ người có quan hệ thân tộc để xưng hô trong gia đình Việt 26

1.2.1.1 Trong cùng một thế hệ 27

Trang 6

1.2.1.2 Giữa các thế hệ với nhau 34

1.2.1.3 Sử dụng các từ chỉ người có quan hệ thân tộc trong xưng hô phân biệt huyết thống 40

1.2.1.4 Sử dụng các từ chỉ người có quan hệ thân tộc trong xưng hô phân biệt nội ngoại 45

1.2.2 Sử dụng các từ chỉ người có quan hệ thân tộc để xưng hô ngoài phạm vi gia đình 46

1.2.2.1 Sử dụng các từ chỉ người có quan hệ thân tộc ở nơi làm việc 46 1.2.2.2 Sử dụng từ chỉ người có quan hệ thân tộc trong trường học 48

1.2.2.3 Sử dụng từ chỉ người có quan hệ thân tộc ngoài xã hội 53

1.3 Tiểu kết 1 54

CHƯƠNG II: TỪ CHỈ NGƯỜI CÓ QUAN HỆ THÂN TỘC TRONG TIẾNG NHẬT, DÙNG TỪ CHỈ NGƯỜI CÓ QUAN HỆ THÂN TỘC ĐỂ XƯNG HÔ TRONG GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI NHẬT 56

2.1 Sử dụng từ chỉ người có quan hệ thân tộc trong xưng hô gia đình của người Nhật 56

2.2 Sử dụng từ chỉ người có quan hệ thân tộc trong xưng hô ngoài xã hội của người Nhật 61

2.3 Kính ngữ, đặc trưng văn hóa của người Nhật, một phần quan trọng trong giao tiếp của người Nhật 68

2.3.1 Định nghĩa kính ngữ 68

2.3.2 Các hình thức của kính ngữ 68

2.3.3 Vai trò của kính ngữ trong xưng hô, giao tiếp hàng ngày 70

2.3.4 Hiệu quả của kính ngữ trong xưng hô, giao tiếp hàng ngày 71

2.3.5 Vận dụng kính ngữ cho thích hợp vào xưng hô, giao tiếp hàng ngày không dễ dàng 78

2.3.6 Các loại kính ngữ dùng trong xưng hô, giao tiếp 79

2.3.7 Hình thức thể hiện của kính ngữ 86

2.3.8 Sử dụng kính ngữ trong xưng hô, giao tiếp hàng ngày phù hợp với

đối tượng và ngữ cảnh 100

Trang 7

2.4 Tiểu kết 2 102

CHƯƠNG III: SO SÁNH, ĐỐI CHIẾU GIỮA TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG NHẬT VỀ VIỆC SỬ DỤNG NHỮNG TỪ CHỈ NGƯỜI CÓ QUAN HỆ THÂN TỘC TRONG XƯNG HÔ, GIAO TIẾP HÀNG NGÀY 104

3.1 Những điểm giống nhau giữa tiếng Việt và tiếng Nhật về việc sử dụng những từ chỉ người có quan hệ thân tộc trong xưng hô, giao tiếp hàng ngày 104

3.2 Những điểm khác nhau giữa tiếng Việt và tiếng Nhật về việc sử dụng những từ chỉ người có quan hệ thân tộc trong xưng hô, giao tiếp hàng ngày 124

3.3 Tiểu kết 3 137

KẾT LUẬN 139

TÀI LIỆU THAM KHẢO 145

PHỤ LỤC vi

Trang 8

DẪN NHẬP

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI, MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

1.1 Lý do chọn đề tài

phát triển mới, có những mối quan hệ mới về quốc gia, về dân tộc, về ngôn ngữ, đang thu hút sự đầu tư của nhiều nước trên thế giới như Anh, Pháp, Đức,

Mỹ, Nhật…Trước thực tế ấy việc học ngoại ngữ dần dần trở thành một nhu cầu lớn đối với toàn xã hội Dĩ nhiên việc học ngoại ngữ cũng xuất phát từ những động cơ khác nhau Có những người học ngoại ngữ vì yêu thích, nhiều người học vì đó là điều kiện cần thiết để kiếm được việc làm như ý muốn, nhiều người học ngoại ngữ để qua đó có thể thu nhận thêm những tri thức văn hóa, khoa học mới … Dù với mục đích nào thì mỗi người hẳn đều có lý do chính đáng để chọn cho mình một hoặc vài ngoại ngữ thích hợp Tôi đã chọn tiếng Nhật Về mặt kinh tế thì Nhật là cường quốc kinh tế đứng thứ 2 trên thế giới sau Mỹ, còn về ý chí và tinh thần học hỏi, khắc phục khó khăn thì phải nói rằng ở người Nhật có nhiều bài học quý Thực tế cho thấy Nhật Bản là một đất nước nghèo tài nguyên khoáng sản, lịch sử của Nhật trải qua các cuộc tranh chấp quyết liệt giữa các Shogun, Samurai Nhật Bản đã từng tham gia vào cuộc chiến tranh thế giới thứ hai và chịu thất bại nặng nề Cuối cuộc chiến tranh đó hai quả bom nguyên tử đã tàn phá Hiroshima và Nagasaki Tuy nhiên người Nhật không hề nản chí, họ đã kiên trì khôi phục xây dựng đất nước và chỉ trong thời gian ngắn đã vươn lên chiếm một trong những vị trí dẫn đầu thế giới Điều này thật đáng khâm phục và là tấm gương đáng để học tập Tiếng Nhật là phương tiện quan trọng để giúp ta tìm hiểu, tiếp nhận các bài học quý đó Bởi vì ngôn ngữ là một công cụ của giáo dục, bao gồm truyền thụ và tiếp nhận Dĩ nhiên, cũng như trong bất kỳ việc học một ngoại ngữ nào,

để học tốt tiếng Nhật người học cần hiểu biết về văn hóa nhật Và mặt khác, qua tiếng Nhật, qua hoạt động ngôn ngữ của người Nhật ta lại càng hiểu sâu

về văn hóa Nhật

Trang 9

phép tắc, lễ nghi, quan hệ trên dưới, trong ngoài trong ứng xử, giao tiếp Điều này cũng được phản ánh trong hoạt động ngôn ngữ của người Nhật, biểu hiện

đình Bất kỳ người Việt nào sau một thời gian lao động vất vả để mưu sinh giải quyết các yêu cầu về đời sống vật chất và tinh thần của đời người hoặc nhu cầu hàng ngày, đối mặt và vượt qua những khó khăn, thử thách đều muốn

về với mái ấm gia đình Chính gia đình là nguồn lực tinh thần giúp mọi người quên đi những nhọc nhằn, những khó khăn vất vả, là nơi nghỉ ngơi sau thời gian làm việc mệt nhọc để chuẩn bị cho những ngày lao động sắp tới Chính nét văn hóa và tình cảm gia đình này cũng được phản ánh trong sinh hoạt ngôn ngữ và là một trong những nguyên nhân khiến cho trong tiếng Việt có

thuộc các loại hình ngôn ngữ khác nhau Tiếng Nhật thuộc loại hình ngôn ngữ chắp dính, tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập Hình thái của từ khi hoạt động trong lời nói có cách biểu hiện khác nhau Cụ thể là từ của tiếng Việt vẫn giữ nguyên hình thức vốn có trong lời nói, còn từ của tiếng Nhật tùy theo chức năng cú pháp trong câu nói mà có thể được biểu hiện bằng cách kết hợp các phụ tố khác nhau nên hình thức của từ có thay đổi Hai nước, hai dân tộc nói hai thứ tiếng này lại ở trong hai khu vực địa lý rất xa nhau, có những

khác” (Bách khoa thư Nhật Bản, bản dịch tiếng Việt, Trung tâm nghiên cứu Nhật Bản, Hà Nội, 1995,

tr.133-134 )

2

Trong luận văn này từ xưng hô được dùng dựa theo bản dịch Bách khoa thư Nhật Bản, do Trung tâm

nghiên cứu Nhật Bản thực hiện (dịch từ tiếng Anh do R.Bowring và P.Korniki chủ biên), Hà Nội 1995 Biểu thức “từ chỉ vị thế thành viên có quan hệ thân tộc” hoặc “từ chỉ người có quan hệ thân tộc” để nói rõ

các từ như ông, bà, cha, mẹ, chú, bác, con, cháu, anh, chị, em,…Tác giả Đinh Văn Đức, trong Ngữ pháp

tiếng Việt, từ loại, dùng từ xưng hô và cho rằng “khái niệm nhân xưng là hết sức khác biệt so với các ngôn

ngữ biến tố” ( tr.177-178)

Trang 10

đặc điểm văn hóa, lịch sử, phong tục khác nhau Nhưng có thể nói cả người Nhật và người Việt đều chú trọng quan hệ gia đình và sử dụng những từ chỉ vị thế các thành viên có quan hệ thân tộc (ở phần tiếp theo sẽ gọi tắt: “chỉ người

có quan hệ thân tộc”) rất thường xuyên

sánh trường từ vựng về quan hệ thân tộc trong tiếng Việt và trường từ vựng này trong tiếng Nhật có thể làm phát lộ ra nhiều điều giúp chúng ta hiểu biết sâu hơn về văn hóa Nhật và nhờ đó mà có thể sử dụng tốt hơn tiếng Nhật Vì vậy tôi chọn làm đề tài luận văn tốt nghiệp bậc cao học của tôi là:

So sánh cách sử dụng các từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng Việt và tiếng Nhật

thân tộc trong cả hai ngôn ngữ Việt – Nhật, có thể thấy được điểm giống nhau

và khác nhau giữa tiếng Việt – tiếng Nhật về sử dụng từ chỉ vị thế các thành viên có quan hệ thân tộc vào việc xưng hô, giao tiếp hàng ngày, rút ra được những kinh nghiệm trong giảng dạy tiếng Nhật cho người Việt, cũng như dạy tiếng Việt cho người Nhật và gợi mở một số hướng có thể tìm hiểu sâu, rộng

về ngôn ngữ và về văn hóa khi nghiên cứu so sánh

được Hội đồng tuyển sinh cao học khóa 2007 – 2010 thông qua, tôi tự nhận thấy đề tài đó quá rộng và không đủ thời gian, cũng như tôi không đủ sức thực hiện Tôi xin được giới hạn phạm vi nghiên cứu hẹp hơn là chỉ tìm hiểu cách dùng nhóm từ này trong hoạt động xưng hô và được người hướng dẫn khoa học đồng ý Nội dung luận văn này vì vậy được trình bày theo hướng đã giới hạn đề tài theo tên gọi đã có và chỉ tìm hiểu cũng như so sánh cách dùng lớp

từ này trong khi xưng hô

1.2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu này hướng vào một số mục tiêu sau đây:

- Nắm được cách sử dụng những từ chỉ người có quan hệ thân tộc trong tiếng Việt

Trang 11

- Từ kết quả nghiên cứu trên rút ra một số kết luận và kiến nghị

2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Do giới hạn về thời gian và về khả năng của người nghiên cứu nên phạm

vi nghiên cứu của đề tài này được giới hạn như sau:

- Thu thập ngữ liệu qua các văn bản tiếng Việt và tiếng Nhật có sử dụng nhiều từ chỉ người có quan hệ thân tộc

- Khảo sát trực tiếp thực tế sử dụng những từ chỉ người có quan hệ thân tộc trong tiếng Việt

- Khảo sát trực tiếp thực tế sử dụng những từ chỉ người có quan hệ thân tộc trong tiếng Nhật, xưng hô trong giao tiếp của người Nhật từ đó hiểu các đặc trưng văn hóa của Nhật

- So sánh, đối chiếu giữa tiếng Việt – tiếng Nhật về cách dùng những từ chỉ người có quan hệ thân tộc trong xưng hô

3 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU

Trong cả tiếng Nhật và tiếng Việt, các từ chỉ người có quan hệ thân tộc được dùng rất phổ biến, không chỉ dùng để xưng hô trong gia đình mà còn được dùng linh hoạt trong xã hội Có thể nói rằng lớp từ xưng hô chỉ người có quan hệ thân tộc ngày càng được sử dụng rộng rãi trong xã hội Việc nghiên cứu cách sử dụng những từ chỉ người có quan hệ thân tộc, so sánh đối chiếu giữa tiếng Việt – tiếng Nhật về những từ chỉ người có quan hệ thân tộc có thể

Trang 12

làm nổi lên đặc trưng văn hóa của hai nước, góp phần đẩy mạnh mối quan

hệ giao lưu của hai nước Việt Nhật về văn hoá, ngôn ngữ

Điểm lại lịch sử nghiên cứu và các công trình đã được thực hiện:

- Luận văn thạc sĩ “Các từ ngữ dùng để xưng hô trong tiếng Việt và tiếng

Hàn” của người Hàn Quốc Kim Jae Chon Từ luận văn này rút ra được những

điểm tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ Hàn – Việt Qua đó hiểu rõ thêm về đặc trưng ngôn ngữ - văn hoá – xã hội của hai dân tộc

- Luận văn thạc sĩ “Các từ xưng hô thân tộc và một số ứng dụng trong

việc dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ” của chị Huỳnh Cẩm Thúy Từ kết quả

nghiên cứu của luận văn tác giả rút ra được cách sử dụng thực tế của các từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng Việt, kết luận và đề xuất một số ứng dụng trong việc giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ

- Tạp chí Ngôn ngữ số 1-1995 bài viết của Hoàng Anh Thi “Một số đặc

điểm văn hóa Nhật – Việt qua việc khảo sát hệ thống từ xưng hô”, trong đó

tác giả bàn về cách sử dụng những từ xưng hô thân tộc trong tiếng Việt và tiếng Nhật, so sánh sự khác nhau giữa hai ngôn ngữ về khả năng đóng vai, sử dụng từ xưng hô trong hoạt động giao tiếp

- Sách Các ngôn ngữ phương Đông do Mai Ngọc Chừ chủ biên, NXB

ĐHQG Hà Nội, 2001, cũng đề cập đến đặc điểm sử dụng từ trong tiếng Nhật

- Nguyễn Đức Tồn, Nghiên cứu đặc trưng văn hóa của dân tộc qua ngôn

ngữ và tư duy ngôn ngữ, Việt Nam những vấn đề ngôn ngữ và văn hóa, Hội

ngôn ngữ học Việt Nam – Trường ĐHNN Hà Nội, 1993; Nguyễn Đức Tồn,

Tìm hiểu đặc trưng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ và tư duy ở người Việt,

NXB ĐHQG Hà Nội, 2002 cho thấy được mối quan hệ mật thiết giữa văn hóa

và ngôn ngữ

- Bài viết của GS.Bùi Khánh Thế,Về hệ thống đại từ xưng hô trong tiếng

Chàm (một số vấn đề chung với khu vực), Tạp chí Ngôn ngữ số 1, 1990, trang

43-46 cho thấy được cách dùng và vai trò của đại từ xưng hô trong giao tiếp (nghiên cứu cụ thể trong tiếng Chàm)

Trang 13

- Nguyễn Văn Chiến, Sắc thái địa phương của các danh từ thân tộc

trong tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ số 2, 1991, nêu rõ việc sử dụng từ chỉ

quan hệ thân tộc được sử dụng trong tiếng Việt ở các địa phương khác nhau Ngoài ra, còn rất nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả người Việt, cũng như người Nhật (các tác giả và tên sách được ghi rõ ở mục Tài liệu tham khảo) cũng đề cập nhiều về từ xưng hô thân tộc của tiếng Việt, tiếng Nhật

nghiên cứu của các bậc đi trước, tôi viết luận văn này hướng vào mục đích so sánh cách sử dụng các từ chỉ người có quan hệ thân tộc trong tiếng Việt và trong tiếng Nhật để thấy rõ điểm giống nhau, khác nhau về cách sử dụng từ chỉ người có quan hệ thân tộc giữa hai ngôn ngữ này, để làm rõ một số đặc trưng văn hóa của Nhật (sử dụng nhiều kính ngữ, phân biệt rõ “ở ngoài” và

“thuộc về tôi”) cũng như một số đặc trưng văn hóa của người Việt trong việc

sử dụng từ chỉ người có quan hệ thân tộc để xưng hô Từ kết quả so sánh đó tôi cũng rút ra một số kết luận và đưa ra một số lời khuyên để người học tiếng Việt, tiếng Nhật như ngôn ngữ thứ hai có thể học tập tốt hơn

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để thực hiện đề tài này, tôi sử dụng các phương pháp:

- Khảo sát, miêu tả, phân tích tổng hợp về mặt ngữ nghĩa và ngữ dụng, sử dụng autoshapes…

- So sánh, đối chiếu để thấy được những điểm tương đồng và khác biệt giữa văn hoá ngôn ngữ Nhật và văn hoá ngôn ngữ Việt

dụng những từ chỉ người có quan hệ thân tộc, đặc trưng văn hoá để làm nguồn

tư liệu nghiên cứu

nhỏ gửi cho một số người Việt, một số người Nhật để biết ý kiến của người dùng khi sử dụng từ chỉ người có quan hệ thân tộc để xưng hô Những ý kiến thu thập được giúp người nghiên cứu biết được tâm lý của người dùng, qua đó hiểu được một nét văn hóa trong hoạt động ngôn từ

Trang 14

5 CƠ SỞ LÝ LUẬN

Đề tài này của luận văn về hoạt động ngôn ngữ không chỉ liên quan đến các vấn đề ngôn ngữ học mà còn đòi hỏi người nghiên cứu phải nắm được những đặc điểm về văn hóa, xã hội của chủ nhân ngôn ngữ Vì vậy người thực hiện đề tài phải dựa trên cơ sở lý thuyết của ngôn ngữ học và cơ sở lý thuyết của văn hóa học ở các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến đề tài

Về mặt ngôn ngữ học các vấn đề được đặt ra trong lý thuyết ngữ dụng học như lý do của việc dùng từ ngữ này hay từ ngữ khác trong hoạt động nói năng, các yếu tố liên quan đến con người (người nói > < người nghe, người viết > < người đọc) trong quá trình giao tiếp bằng ngôn ngữ như tâm lý, sinh

lý, bối cảnh xã hội khi giao tiếp…đều phải được chú ý khi nghiên cứu hiện tượng dùng những từ chỉ người có quan hệ thân tộc để xưng hô Những vấn

đề này được tác giả Nguyễn Đức Dân, trong sách Ngữ dụng học (tập một)

trình bày qua việc giới thiệu tổng quan về hành vi ngôn ngữ, lý thuyết hội thoại và lý thuyết lập luận, về hiển ngôn và hàm ngôn Và tác giả Nguyễn

Thiện Giáp trong công trình Dụng học Việt Ngữ cũng đã giới thiệu các hiện

tượng ngôn ngữ đó qua ngữ liệu cụ thể là tiếng Việt Đặc biệt Chương mười

của sách này Diễn ngôn và văn hóa (tr.195 – 215) giúp cho tôi những ý tưởng

rất căn bản về dụng học giao văn hóa khi tìm hiểu và so sánh cách dùng từ chỉ người có quan hệ thân tộc để xưng hô trong giao tiếp

hóa và văn hóa học, sau mục định nghĩa về văn hóa tác giả Trần Ngọc Thêm

đã xác định ba đặc trưng và chức năng của văn hóa Theo tác giả này “đặc trưng thứ ba của văn hóa là tính nhân sinh…Do mang tính nhân sinh, văn hóa trở thành sợi dây nối liền con người với con người, nó thực hiện chức năng giao tiếp và có tác dụng liên kết họ lại với nhau Nếu ngôn ngữ là hình thức của giao tiếp thì văn hóa là nội dung của nó” (tr.12) Ý tưởng này được triển

khai chi tiết hơn ở Chương bốn có nội dung bàn về văn hóa tổ chức đời sống

cá nhân, trong đó mục § 3 nói sâu hơn về văn hóa giao tiếp và nghệ thuật ngôn từ

Trang 15

và tiếp theo là giải thích các hoạt động ngôn từ có chứa những từ chỉ người có quan hệ thân tộc, tôi đã khai thác và dựa nhiều vào các ý tưởng có tính định

hướng trong sách Cơ sở văn hóa Việt Nam về nghi thức lời nói, về sự phong

phú của hệ thống xưng hô, về các đặc trưng cơ bản của nghệ thuật ngôn từ Việt Nam (tr.155-165)

6 Ý NGHĨA KHOA HỌC, Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Kết quả nghiên cứu của luận văn này có thể giới thiệu rõ được những từ chỉ người có quan hệ thân tộc thường dùng trong tiếng Việt, tiếng Nhật

Những từ chỉ người có quan hệ thân tộc thường hay dùng trong tiếng Việt: ông, bà, cha, mẹ, chú, thím, bác, cô, dì, cậu, mợ, anh, chị, em, anh em họ…phân chia theo nội ngoại, theo giới tính, theo mối quan hệ huyết thống, theo thứ bậc, theo tuổi tác vd như: bà nội, bà ngoại, ông nội, ông ngoại, cha

vợ (chồng), mẹ vợ (chồng), anh trai, em trai, chị gái, em gái, chú, thím, bác trai, bác gái, dì, dượng, cậu, mợ, anh họ, chị họ, em trai họ, em gái họ, em dâu, em rể, anh em cột chèo…

Những từ chỉ người có quan hệ thân tộc thường hay dùng trong tiếng Nhật: sobo (bà), sofu (ông), sofubo (ông bà), haha (mẹ), chichi (cha), fubo, chichihaha, ryoshin (cha mẹ), imouto (em gái), otouto (em trai), ane (chị), ani (anh), kyodai (anh em), tsuma (vợ), otto (chồng), fùfu (vợ chồng), musume (con gái), musuko (con trai), kodomo (con) v.v…

So sánh cách sử dụng những từ thân tộc giữa tiếng Việt – tiếng Nhật qua

đó thấy được: tiếng Nhật chú trọng đến sự phân chia trong ngoài Từ chỉ người có quan hệ thân tộc trong tiếng Nhật chia thành hai nhóm chính: những

từ chỉ người có quan hệ thân tộc dùng cho “tôi”, tức ở bên trong (uchi) và những từ chỉ người có quan hệ thân tộc dùng cho “người khác”, tức ở bên ngoài (soto)

Chẳng hạn từ chỉ người có quan hệ thân tộc dùng cho “tôi”: ông (sofu), thì từ chỉ người có quan hệ thân tộc dùng cho “người khác”: ông (ojīsan) Từ ông (ojīsan) cũng có khi được dùng thay thế đại từ xưng hô

Trang 16

Tiếng Nhật chú trọng phân chia theo trong, ngoài Người bên trong là những người có mối quan hệ thân thiết, gần gũi, cùng gia đình, cùng công ty, thuộc nhóm của mình ở thời điểm nói Người bên ngoài là những người xa lạ, mới quen, người thuộc công ty khác, thuộc nhóm khác với mình ở thời điểm nói Chính vì vậy mà cũng một từ để gọi mẹ khi gọi trực tiếp mẹ thì dùng okāsan nhưng khi nói từ mẹ với người khác thì lại dùng haha và nếu nói mẹ của người khác thì cũng chỉ dùng okāsan mà thôi chứ không dùng haha

Vì có những khác biệt trong cách dùng từ chỉ quan hệ thân tộc như vậy nên người Việt học tiếng Nhật gặp khó khăn và thường mắc lỗi trong các văn bản dịch khi chuyển từ Nhật sang Việt hay từ Việt sang Nhật

Cũng có sự đồng nhất các nét nghĩa giữa hai ngôn ngữ, chẳng hạn như cũng phân chia tỉ mỉ em gái, em trai, chị gái, anh trai… để phân biệt người cùng thế hệ hàng trên Nhưng bên cạnh đó cũng có những khác biệt rất rõ nét, chẳng hạn như một nét nghĩa rất đặc trưng đối với tiếng Việt là nét nghĩa quan

hệ huyết thống nội – ngoại Ở tiếng Việt phân biệt rõ phía bên nội và phía bên

ngoại: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; cháu nội, cháu ngoại,… Ngược lại tiếng Nhật ông, bà, cháu đều là chung không phân biệt theo quan niệm bên

mẹ hay bên bố mà phân biệt cái ở trong,thuộc về tôi, và cái ở ngoài không thuộc về tôi.Chẳng hạn như khi nói “Mẹ thì hiền” thì cho dù người nghe là mẹ hay là người khác đi nữa thì cũng dùng từ mẹ để biểu thị mà thôi, khác hẳn với tiếng Nhật Một điểm nữa là trong tiếng Việt có sự phân chia chú, bác, dượng hay cô, dì, thím, mợ…nhưng ở tiếng Nhật thì không có sự phân chia như vậy, chỉ có sự phân chia chú, bác, dượng…của tôi thì dùng oji, còn chú, bác, dượng của người khác thì dùng ojisan; cô, dì thím, mợ…của tôi thì dùng oba, còn cô, dì, thím,mợ của người khác thì dùng obasan

Quan sát những từ chỉ người có quan hệ thân tộc dùng cho tôi và những

từ chỉ người có quan hệ thân tộc dùng cho người khác thì ta thấy những từ dùng cho người khác thường theo quy tắc kết hợp o + từ chỉ người có quan hệ thân tộc dùng cho tôi + san hoặc go + từ chỉ người có quan hệ thân tộc dùng cho tôi Đây cũng chính là cách dùng kính ngữ của người Nhật

Trang 17

Thiết nghĩ những nét đặc biệt này phản ánh một đặc điểm nào đó về phong tục, xã hội, lịch sử, văn hóa của hai dân tộc, của hai loại hình, khu vực văn hóa, … được biểu hiện qua ngôn ngữ

Kết quả so sánh có những đóng góp tích cực về mặt lý thuyết:

Giúp người học hiểu biết được hệ thống các từ chỉ quan hệ thân tộc và sử dụng các từ chỉ quan hệ thân tộc thay thế cho đại từ xưng hô ở cả hai ngôn ngữ Việt – Nhật

Những kết quả nghiên cứu này cho thấy trong tiếng Việt và tiếng Nhật,

có thể dùng từ chỉ người có quan hệ thân tộc thay thế cho đại từ xưng hô trong xưng hô, giao tiếp hàng ngày

Qua việc so sánh chỉ rõ được những điểm giống nhau và khác nhau giữa tiếng Việt và tiếng Nhật về dùng các từ chỉ người có quan hệ thân tộc để xưng

hô, giao tiếp hàng ngày Điều đó giúp người Nhật học tiếng Việt và người Việt học tiếng Nhật khắc phục được những khó khăn trong việc học ngôn ngữ thứ hai

Kết luận và đưa ra hướng nghiên cứu mở rộng tiếp theo của đề tài:

Vận dụng kết quả so sánh, đối chiếu giữa tiếng Việt – tiếng Nhật về những từ chỉ người có quan hệ thân tộc vào việc dạy tiếng Việt cho người Nhật và dạy tiếng Nhật cho người Việt (nói rõ điểm khác biệt trong cách sử dùng từ thân tộc giữa hai ngôn ngữ cho người học hiểu, và như vậy trong quá trình dạy tiếng có thể lồng ghép giới thiệu cả một số đặc điểm văn hóa để người học có thể tiếp thu và sử dụng ngôn ngữ một cách toàn diện hơn)

7 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN

Luận văn được trình bày theo bố cục gồm ba chương, ngoài phần dẫn nhập và phần kết luận

Dẫn nhập:

Lý do chọn đề tài, mục đích nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, lịch sử nghiên cứu, các vấn đề được đặt ra trong đề tài luận văn, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn Các vấn đề về ngôn ngữ học và văn hóa học làm cơ sở lý thuyết cho việc nghiên cứu đề tài luận văn được dựa vào mục năm ở phần dẫn nhập

Trang 18

Chương I: Về quan hệ thân tộc và từ chỉ người có quan hệ thân tộc trong

tiếng Việt

dùng từ chỉ người có quan hệ thân tộc để xưng hô trong giao tiếp của người Nhật

dụng những từ chỉ người có quan hệ thân tộc trong xưng hô, giao tiếp hàng ngày

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Trang 19

CHƯƠNG I

VỀ QUAN HỆ THÂN TỘC VÀ TỪ CHỈ NGƯỜI CÓ QUAN

HỆ THÂN TỘC TRONG TIẾNG VIỆT

1.1 Khái niệm chung về quan hệ thân tộc, từ chỉ người có quan hệ thân tộc trong tiếng Việt:

1.1.1 Nguồn gốc văn hóa Việt Nam, tổ chức cộng động là nguyên nhân dẫn đến người Việt sử dụng các từ chỉ người có quan hệ thân tộc rất rộng rãi:

Nguồn gốc:

Văn hóa Việt Nam có nơi khởi nguồn ở miền Bắc khai nguyên Việt Nam, là một trong những nền văn hóa lâu đời nhất ở trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương Qua quá trình giao lưu và tiếp xúc văn hoá, ngôn ngữ, Việt Nam đã tiếp thu ảnh hưởng lớn của văn hoá Trung Hoa, văn hoá Ấn Độ, văn hóa Việt Nam đã tiếp biến rất nhiều đặc điểm gần giống với những dân tộc của miền Châu Á, và khác những nước ở khu Thái Bình Dương (như là Campuchia, Lào và Thái Lan) mà đã chịu một phần lớn ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ

Ảnh hưởng Trung Hoa được coi là ảnh hưởng lớn nhất của một nước ngoài trên nền văn hóa cổ truyền Việt Nam, tuy vậy người Việt Nam đã vẫn giữ gìn được rất nhiều nét văn hóa riêng của mình, mà cho tới ngày hôm nay những phong tục riêng đó vẫn quan trọng vô cùng trong đời sống của người Việt

Có nhiều nhà viết sử cho rằng là trước khi tiếp nhận ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa, văn hóa Đông Sơn có gốc ở miền Bắc Việt Nam (mà cũng đã phát triển mạnh ở những nước khác ở khu Thái Bình Dương) là phần đầu của lịch

sử Việt Nam

Có thể nói chung văn hóa của Việt Nam là một tích hợp đặc biệt gồm nhiều nền văn hóa cổ xưa rồi quy tụ cùng với văn hóa bản địa của người Việt, ngoài ảnh hưởng rất đậm nét văn hóa Trung Hoa cũng có ảnh hưởng đáng kể

Trang 20

Tổ chức cộng đồng và tính cộng đồng

Tác giả Trần Ngọc Thêm, sách Cơ sở văn hóa Việt Nam nhận xét: “Nét

đặc trưng số một của làng xã Việt Nam là tính cộng đồng” và “tính cộng đồng

và tính tự trị là hai đặc trưng cơ bản của nông thôn Việt Nam” (tr.89, tr.96)

Làng là một tổ chức khá khép kín Làng thường có đình làng là nơi thờ cúng các vị thành hoàng và hội họp dân làng, nơi tổ chức các lễ hội quan trọng Làng được bao bọc bởi lũy tre làng và có cổng làng, trong làng còn có cây đa,

có giếng làng, đình làng và có thể có cả chùa Những người đứng đầu làng được mọi người tôn kính, thường là những người già cả, người có nhiều uy tín, công tích với cộng đồng cư dân trong làng Làng thường có những luật tục Làng biểu hiện tất cả những nét tốt đẹp của văn hóa Việt Nam thời xưa, mặt khác cũng còn những tục lệ, tàn tích lạc hậu, xưa cũ mà nay không còn phù hợp

hiểu là một gia đình lớn, gồm có nhiều thế hệ có quan hệ máu mủ ruột thịt cùng chung sống Gia đình được tổ chức theo thứ bậc chặt chẽ, người dưới phải có hiếu và kính trọng người trên, người trên có nghĩa vụ phải chăm lo dạy dỗ con cháu nên người

được sử dụng rất rộng, có tính xã hội, cụ thể là không chỉ giới hạn trong phạm

Trang 21

1.1.2.1 Khái niệm quan hệ thân tộc:

Quan hệ thân tộc là chỉ quan hệ gần gũi, thân thiết, có huyết thống (trực tiếp hoặc gián tiếp), trong gia đình, dòng họ

1.1.2.2 Khái niệm về từ chỉ người có quan hệ thân tộc:

Từ chỉ người có quan hệ thân tộc nguyên thủy là từ xưng hô giữa những người có mối quan hệ gần gũi, thân thiết có huyết thống (trực tiếp hoặc gián tiếp), trong gia đình, dòng họ Số lượng những từ này ở tiếng Việt khá phong phú

Sở dĩ thế là vì trong tiếng Việt:

+ Có sự phân biệt bậc trên và bậc dưới, so sánh:

Sự phân biệt đó có mức độ tỉ mỉ không đồng đều nhau Chẳng hạn:

+ Ở bậc trên thì phân biệt tỉ mỉ hơn ở bậc dưới So sánh:

Trang 22

+ Ở bên nội thì phân biệt tỉ mỉ hơn ở bên ngoại So sánh:

Bên Nội: bác, chú

Bên Ngoại: cậu

+ Ở bên có quan hệ cùng huyết thống thì phân biệt tỉ mỉ hơn ở bên không

có quan hệ cùng huyết thống So sánh:

Không có quan hệ cùng huyết thống: mợ dượng

+ Ở bên nam phân biệt tỉ mỉ hơn ở bên nữ So sánh:

Trang 23

Biểu đồ của Thompson về các mối quan hệ thân tộc thể hiện rất đầy

đủ, rõ ràng và được sắp xếp theo hệ thống dọc và hệ thống ngang Hệ thống ngang thể hiện các mối quan hệ tầng bậc ngang bằng nhau Hệ thống dọc thể

hiện mối quan hệ trên dưới (ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại cùng tầng bậc; bậc dưới: cha, mẹ, chú, bác, cô, dì, cậu phải lễ phép và kính trọng đối với bậc trên ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại)

1.1.2.3 Đặc điểm về từ chỉ người có quan hệ thân tộc:

Từ chỉ người có quan hệ thân tộc là một nhóm có nhiều đặc điểm đáng chú ý về mặt ngôn ngữ học Trước hết ở tiếng Việt cũng như ở tiếng Nhật đây

là một nhóm từ thường có thể dùng với hai ý nghĩa: dùng với ý nghĩa chính xác của chúng để xưng hô với anh em bà con ở trong gia đình (chức năng định danh); và dùng với ý nghĩa mở rộng để xưng hô ở ngoài xã hội với những người vốn không có quan hệ thân thuộc gì với mình Riêng ở tiếng Việt cách dùng thứ hai là cách dùng phổ biến Những từ chỉ người có quan hệ thân tộc ngày càng được dùng rộng rãi ngoài xã hội với mong muốn kéo gần khoảng cách, tạo sự gần gũi thân thiện khi giao tiếp giữa người nói và người

đối thoại Chẳng hạn một đôi từ như từ ông và từ bà do có cách dùng quá

rộng và quá phổ biến nên đã trở thành những từ có hai nội dung ý nghĩa hết sức xa nhau So sánh ý nghĩa của hai từ đó, khi dùng để chỉ những người sinh

ra cha mẹ mình và khi dùng trong những câu:

+ “ Thưa ông, tôi đã hoàn thành nhiệm vụ được giao” (một nhân viên báo

cáo với giám đốc sau khi hoàn thành nhiệm vụ)

+ “Mời bà vào” (một bảo vệ cơ quan mời một khách nữ vào phòng giám

đốc sau khi đã hỏi ý kiến giám đốc)

Trong cả hai ý nghĩa, phần lớn danh từ chỉ quan hệ thân tộc đều có thể dùng để làm lời hô, lời gọi Ở hai câu trên từ “ông”, “bà” không còn ý nghĩa dùng để chỉ người sinh thành ra ba mẹ mình Khi dùng như thế, có thể chỉ dùng một mình, mà cũng có thể dùng chúng kèm thêm với những tiếng

“thưa”, “bẩm”, “ơi”, “à”, “ạ”, “nhé”…

Trang 24

+ “Thưa ông, có khách đến tìm ạ” (Một nhân viên nói chuyện với

ông chủ của mình)

+ “Bà ơi, để cháu dẫn bà qua đường nhé” (Một cháu bé nói với một bà

lão đang muốn qua đường)

Phần lớn danh từ chỉ quan hệ thân thuộc đều có khả năng đặt trước một tên riêng, tạo thành một tổ hợp có quan hệ đồng vị

+ “Ông Quang hôm nay không đến đón Quang rồi”

Nhưng thực ra, về mặt ngữ âm, hai bên có chỗ khác nhau: trường hợp

đầu “Chị Tâm mới đến à?” cả tổ hợp đọc liền một hơi và đọc hơi nhấn mạnh ở tên riêng; trường hợp sau “Chị Tâm và mẹ Tâm mới đến à?” hai tiếng đọc có

hơi rời nhau và đều cùng nhấn mạnh như nhau

Về mặt ý nghĩa cũng khác nhau: trường hợp đầu “Chị Tâm mới đến à?”

để chỉ đối tượng xưng hô với người nói là một người nữ có tuổi lớn hơn người

nói và tên là Tâm Trường hợp “Chị Tâm và mẹ Tâm mới đến à?”, “Bố Tý hôm nay ở nhà à?”, “Ông Quang hôm nay không đến đón Quang rồi” để chỉ

chị của tâm, mẹ của Tâm, bố của Tý, ông của Quang

Trang 25

chúng ông, tụi ông, tụi anh, tụi chị, chúng em, chúng con, bọn con…

Ngôi thứ hai

Cụ, ông, bà, bác, chú, anh, con, cháu,…

Ba, mẹ, cô, chị,…

Các cụ, các ông, các bác, các anh, các con, các bà, các cô, các chị,…

Ngôi thứ ba

Ông ấy, bác ấy, anh ấy,

bà ấy, cô ấy, con ấy,…

Các ông ấy, các bác ấy, các anh ấy, các bà ấy, các cô ấy,…

người Việt cộng tồn hai, ba thế hệ (ông-bà, cha-mẹ, con cái hoặc cha-mẹ, con cái) nên xưng hô thân tộc trong gia đình chủ yếu dùng giữa các vai sau:

- Trong cùng một thế hệ:

+ Chồng và vợ + Anh, chị và em

- Giữa các thế hệ:

+ Cha/mẹ và con + Ông/bà và cháu + Cụ và chắt

Trang 26

năng định danh và từ ấy dùng để xưng gọi là trùng nhau Theo thói quen của người Việt trong trường hợp này không dùng đại từ xưng hô chính danh như:

tôi, tao, mày, nó … Các đại từ xưng hô chính danh này chỉ được dùng trong

một số trường hợp đặc biệt nào đó thôi

Ngoài ra từ xưng hô chỉ người có quan hệ thân tộc còn được phân chia

theo giới tính (Nam: ông, chú, cậu, ba, anh; Nữ: bà, cô, dì, mẹ, chị, mợ), trên

dưới (bác – chú; anh – em; chị - em), nội ngoại (Nội: chú, thím, cô, bác; Ngoại: cậu, dì, mợ, dượng), huyết thống (Có huyết thống: chú, bác, cậu, cô,

dì; Không có huyết thống: mợ, thím, dượng)

những từ chỉ vai trò, vị trí, quan hệ, làm cho hệ thống xưng hô sử dụng từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng Việt càng thêm phong phú

những từ chỉ vai trò, vị trí, quan hệ xã hội để xưng hô Tùy từng từ chỉ người

có quan hệ thân tộc mà có thể kết hợp với từ chỉ vai trò, vị trí, quan hệ để xưng hô thích hợp

Trang 27

hệ gia đình là “dượng”, “thím” và “mợ” là ba từ chỉ người có quan hệ gia đình hầu như chỉ được dùng riêng lẻ hoặc dùng kèm theo tên riêng, theo quan hệ trong gia đình như “dượng Sơn”, “mợ Hai”, chứ không kết hợp với bất cừ từ chỉ vai trò, quan hệ nào

* Bảng kết hợp từ chỉ người có quan hệ thân tộc thường dùng trong xưng

hô có sử dụng từ chỉ người có quan hệ gia đình của người Việt

Con dì

Trang 28

quan hệ thân tộc đều thường được dùng lâm thời như đại từ xưng hô để thay thế cho đại từ xưng hô ở cả ba ngôi Đây là một cách dùng phổ biến của từ chỉ người có quan hệ thân tộc

Căn cứ vào tình hình dùng ở ba ngôi, chúng ta thấy:

- Ở ngôi thứ nhất, khả năng dùng có phần thu hẹp hơn Ở đây chỉ dùng

từ thân tộc trong phạm vi gia đình Ngoài xã hội cũng có thể dùng, nhưng chỉ dùng những khi nói năng một cách “tình cảm” (nếu không có hai điều kiện đó,

Trang 29

nghĩa là khi nói năng một cách bình thường ở ngoài xã hội thì chỉ dùng đại từ xưng hô chính danh ngôi thứ nhất “tôi”; nếu nói năng với thái độ tức giận hay thái độ kẻ cả hoặc với sắc thái thân mật đặc biệt thì chỉ dùng “tao”) Việc phân biệt số nhiều số ít ở đây cũng diễn đạt bằng cách thêm bớt yếu

tố “chúng” như ở đại từ hoặc trong một số trường hợp có thể dùng “bọn”

hoặc “tụi” (phương ngữ) là những danh từ tập hợp

Ví dụ: “Cháu chào ông ạ!”

“Chúng cháu chào ông ạ!”

- Ở ngôi thứ hai, khả năng dùng danh từ thân tộc lại rất thường xuyên,

nguyên nhân có lẽ vì ở ngôi này không có đại từ nào trung lập, các từ “mấy,

bay” thì quá khiếm nhã Do chỗ dùng quá thường xuyên như vậy, danh từ chỉ

người có quan hệ thân tộc ở đây đã trở thành những lối nói rất bình thường, không mang theo một màu sắc tình cảm nào như ở ngôi thứ nhất

Để diễn đạt số nhiều, ở ngôi này không dùng yếu tố chúng (hay bọn, tụi) như ở đại từ mà dùng yếu tố các như ở danh từ

Ví dụ: “Các anh không làm theo lời tôi nói phải không?”

- Ở ngôi thứ ba, cách dùng danh từ chỉ người có quan hệ thân tộc về cơ bản cũng giống như ở ngôi thứ hai Nhưng để phân biệt với ngôi thứ hai thường thường có gia thêm những từ như “ấy”, “đó”, “ta”v.v…

Ví dụ: “Tôi biết ông ấy, ông ấy là bạn của ba tôi”

“Anh ta không phải là bạn của tôi”

Nếu không phát âm rõ “ấy, đó, ta”…thì cách phát âm nhanh tạo kiểu nhập âm để phân biệt Sự cố gắng đối lập thường xuyên đó (giữa ngôi thứ hai

và ngôi thứ ba) đã đưa đến một kết quả là ở phương ngôn miền Nam khi phát

âm giảm nhẹ từ ấy đã sản sinh ra cả một loạt cách nhập âm mới, khiến có sự nhầm lẫn cho rằng đó là đại từ thực thụ:

Trang 30

Ví dụ: “Tôi gọi cho ổng nhưng ổng không bắt máy”

“Bả không nghe lời khuyên của tôi”

“Lát nữa ảnh đến”

“Tôi không đi chung với chỉ”

* Bảng những từ chỉ người có quan hệ thân tộc được dùng ở các ngôi

Số

Ngôi

chị, em, con, cháu,…

chúng ông, chúng em, chúng con, chúng cháu Ngôi thứ hai

Cụ, ông, bà, bác, anh, chị, cô, dì, chú, thím, cậu, mợ, dượng…

Các cụ, các ông, các anh,các chú, các cô…

ấy

Việc dùng từ chỉ người có quan hệ thân tộc thay cho đại từ ở tiếng Việt không đơn giản, vì ở đây người giao tiếp phải chịu sự chi phối của khá nhiều quy ước xã giao

Nói chung, ở gia đình thì dĩ nhiên phải theo đúng những mối quan hệ

họ hàng có thực trong cuộc sống để xưng hô Chỉ trường hợp gặp một người đối thoại có thứ bậc thấp hơn mình nhưng đã lớn, đã có cương vị trong xã hội

là phải đổi lại cách xưng hô bằng cách thay vào đó cách xưng hô của bậc con,

bậc cháu mình (chẳng hạn thay em bằng chú, bằng cô; thay cháu bằng anh, bằng chị …)

Ở ngoài xã hội thì chủ yếu phải dựa vào những tiêu chuẩn về tuổi tác, về cương vị

Giữa ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai bao giờ cũng phải có một sự đối ứng thích đáng Ở gia đình thì sự đối ứng đó phải thật chính xác (ví dụ: em – anh, chị, cháu – bác, chú, cô, cậu; con – cha, mẹ; cháu – ông, bà…); ở ngoài xã hội,

Trang 31

sự đối ứng đó có thể có phần lỏng lẻo hơn Ví dụ: “Xin ông cho con ít tiền”

(một người ăn xin nói với khách qua đường)

Chẳng hạn khi người nói là vai cháu, nói chuyện với cô của mình :

+ “Thưa cô, cháu đã làm bài rồi”

+ “Thưa cô, con đã làm bài rồi”

Trong hai câu trên ta thấy được nếu ứng với xưng hô giữa cô và cháu thì

chính xác phải dùng câu “Thưa cô, cháu đã làm bài rồi” Nhưng trong thực tế

xưng hô của người Việt, để thể hiện mối quan hệ thân thiết trong gia đình thì

câu “Thưa cô, con đã làm bài rồi” được dùng nhiều Như vậy xưng hô cô/con

để thể hiện quan hệ cô/cháu mặc dù không chính xác nhưng thực tế trong

xưng hô vẫn có thể dùng được

*Bảng xưng hô tương ứng giữa ngôi 1 và ngôi 2

Trang 32

Dùng trước tên riêng

Dùng để thay đại từ

Dùng làm loại từ

+ Hai từ “cha” và “mẹ” cũng chỉ thường dùng với nghĩa gốc với chức năng định danh Chúng không thể dùng làm thành phần đồng vị với danh từ như những từ “ông, bà, anh, chị” trong các cách nói “ông thợ điện, bà bán hàng, anh công nhân, chị giúp việc”… Muốn dùng ở các cương vị như thế thì phải thêm hai từ “thằng” hoặc “con” ở trước với sắc thái coi thường

So sánh:

Ông thợ điện - Thằng cha thợ điện

Bà bán hàng - Con mẹ bán hàng

Anh công nhân - Thằng cha công nhân

Chị giúp viêc - Con mẹ giúp việc

“Thằng cha”, “con mẹ” cũng có thể dùng làm từ thay thế, ví dụ:

“Kêu con mẹ nó cho tao!”

“Mày không biết tên thằng cha nó à?”

Trang 33

“Cha” và “mẹ” thường chỉ dùng ở trong gia đình Nếu thấy

“cha” dùng ở ngoài xã hội thì đó phải là vùng công giáo ( giáo dân dùng để xưng hô với cha xứ, xưng “con”, gọi “cha” ) Riêng từ “mẹ” không chỉ dùng trong gia đình mà còn dùng rộng ra ngoài xã hội với một mức độ phổ biến cao, dùng để xưng hô “ Mẹ Việt Nam anh hùng ”

Ví dụ: “Tết này chúng ta chuẩn bị ít quà đi biếu mẹ”

“Con của mẹ đã hy sinh vì tổ quốc, chúng ta có nghĩa vụ phải chăm lo cho mẹ thật tốt”

Cũng có thể dùng “cha” và “mẹ” trước một danh từ riêng như một thành phần đồng vị

Ví dụ: “Cha Tâm và mẹ Tâm đã đến rồi” (ý nói cha của Tâm và mẹ của

Tâm đã đến rồi)

1.2 Sử dụng từ chỉ người có quan hệ thân tộc trong tiếng Việt:

1.2.1 Sử dụng từ chỉ người có quan hệ thân tộc để xưng hô trong gia đình Việt:

hoạt cộng đồng Thường thì trong một gia đình Việt luôn luôn tồn tại hai, ba thế hệ cùng sống chung với nhau với quan niệm “hạnh phúc là con đàn cháu đống chung sống vui vẻ hoà thuận với nhau” Hiện nay, với lối sống thoáng hơn, nhiều cặp vợ chồng thích ra ở riêng, tồn tại hai thế hệ, ba mẹ và con Tuy nhiên số gia đình sống quây quần trên ba thế hệ vẫn tồn tại rất phổ biến trong cộng đồng Việt Ở đây, chúng ta sẽ nghiên cứu, khảo sát việc sử dụng từ xưng

hô thân tộc trong gia đìnn phổ biến có ba thế hệ: ông bà, cha mẹ, con cháu với các vai xưng hô phổ biến:

+ Trong cùng một thế hệ: + Giữa các thế hệ:

- Chồng và vợ - Cha/mẹ và con

- Anh, chị và em - Ông/bà và cháu

Trang 34

- Sử dụng từ chỉ người có quan hệ thân tộc trong xưng hô phân biệt huyết

thống (Có huyết thống: chú, bác, cậu, cô, dì; Không có huyết thống mà chỉ có mối quan hệ trong gia đình: mợ, thím, dượng)

- Sử dụng từ chỉ người có quan hệ thân tộc trong xưng hô phân biệt nội

ngoại (nội: chú, cô, bác; ngoại: cậu, dì), những từ không có quan hệ huyết

thống chỉ có mối quan hệ gia đình cũng được dùng với chức năng xưng hô

(nội: thím; ngoại: mợ, dượng)

1.2.1.1 Trong cùng một thế hệ:

Xưng hô giữa vợ chồng với nhau:

- Xưng hô giữa vợ chồng trực tiếp với nhau:

+ Vợ >< chồng: xưng hô em >< anh; chồng >< vợ: xưng hô anh >< em (cách xưng hô này thường thấy trong hầu hết các gia đình)

“Chiều nay anh ghé cơ quan đón em nhé!” (chồng nói với vợ)

“Anh nhớ đón em sớm” (vợ nói với chồng)

+ Vợ >< chồng: xưng hô tôi >< ông; chồng >< vợ: xưng hô tôi >< bà (cách xưng hô này thường thấy ở các cặp vợ chồng lớn tuổi hoặc những cặp

vợ chồng trẻ khi giận nhau)

“Bà kêu thằng Tý lên gặp tôi” (chồng nói với vợ)

Trang 35

“Tôi kêu thằng Tý lên gặp ông rồi đấy” (vợ nói với chồng) “Ông toàn làm theo ý ông thì hỏi tôi làm gì” (vợ nói khi giận)

“Bà chẳng bao giờ nghe lời tôi” (chồng nói khi giận)

+ Vợ >< chồng: xưng hô em >< ông xã; chồng >< vợ: xưng hô anh ><

bà xã (cách xưng hô này thuờng thấy ở những cặp vợ chồng trẻ, xưng hô thân mật)

“Tối nay em có nấu món ăn mà ông xã thích đấy” (vợ nói với chồng)

“Bà xã của anh nấu ăn là ngon nhất” (chồng nói với vợ)

+ Vợ >< chồng: xưng hô em >< mình; chồng >< vợ: xưng hô anh >< mình (cách xưng hô này thường thấy ở các vùng quê)

“Mình chưa ăn cơm à?” (vợ nói với chồng)

“Anh đợi mình về cùng ăn cho vui” (chồng nói với vợ)

+ Vợ >< chồng: xưng hô em >< ba, bố + tên con đầu lòng; chồng >< vợ: xưng hô anh >< mẹ, má+tên con đầu lòng (cách xưng hô này cũng đuợc

sử dụng phổ biến trong các gia đình Việt)

“Bố Tý ra đây xách đồ phụ em với” (vợ nói với chồng)

“Mẹ Tý đợi anh chút nhé!” (chồng nói với vợ)

“Ba bé Na đi lấy xe đi!” (vợ nói với chồng)

“Má bé Na ra nhanh nha!” (chồng nói với vợ)

Các cách xưng hô trên là sử dụng khi vợ chồng trực tiếp nói chuyên với nhau Khi vợ chồng xưng hô lẫn nhau khi nói với nguời ngoài thì cách xưng

hô giữa vợ chồng có thể có sự thay đổi

- Vợ >< chồng đề cập về nhau khi nói chuyện với người thứ ba:

+ Vợ >< chồng: xưng hô phù hợp với vai trò, vị trí, tuổi tác của người nghe >< ông xã + tôi/em/con/cháu (tùy vào đối tượng đang nói chuyện có vai trò, vị trí, tuổi tác và mối quan hệ như thế nào); Chồng >< vợ: xưng hô phù hợp với vai trò, vị trí, tuổi tác của người nghe >< bà xã + tôi/em/con/cháu (tùy vào đối tượng đang nói chuyện có vai trò, vị trí, tuổi tác và mối quan hệ như thế nào)

Trang 36

“Em không biết ông xã em có thích kiếu áo này không nữa” (vợ nói

về chồng với người bán áo sơmi)

“Bà xã cháu lát nữa mới về ạ” (chồng nói chuyện với giám đốc của vợ)

+ Vợ >< chồng: xưng hô phù hợp với vai trò, vị trí, tuổi tác của người nghe >< chồng + tôi/em/con/cháu (tùy vào đối tượng đang nói chuyện có vai trò, vị trí, tuổi tác và mối quan hệ như thế nào); Chồng >< vợ: xưng hô phù hợp với vai trò, vị trí, tuổi tác của người nghe >< vợ + tôi/em/con/cháu (tùy vào đối tượng đang nói chuyện có vai trò, vị trí, tuổi tác và mối quan hệ như thế nào)

“Để tôi về rủ vợ tôi đi chung cho vui” (chồng nói chuyện với bạn)

nghe >< nhà + tôi/em/con/cháu (tùy vào đối tượng đang nói chuyện có vai trò,

vị trí, tuổi tác và mối quan hệ như thế nào); Chồng >< vợ: xưng hô phù hợp với vai trò, vị trí, tuổi tác của người nghe >< nhà + tôi/em/con/cháu (tùy vào đối tượng đang nói chuyện có vai trò, vị trí, tuổi tác và mối quan hệ như thế nào)

“Vợ em dạo này có khoẻ không?”(Một chị cùng cơ quan hỏi người chồng) “Nhà em khỏe chị ạ” (Chồng trả lời về vợ của mình)

“Chồng em hết bệnh chưa?” (Một chị cùng cơ quan hỏi người vợ)

“Nhà em khỏe rồi chị ạ” (vợ trả lời về chồng của mình)

+ Vợ >< chồng: xưng hô phù hợp với vai trò, vị trí, tuổi tác của người nghe >< anh ấy; Chồng >< vợ: xưng hô phù hợp với vai trò, vị trí, tuổi tác của người nghe >< cô ấy

“Dạo này chồng em ít ghé cơ qua ” (Một chị cùng cơ quan hỏi người vợ) “Anh ấy bận việc lắm chị ạ” (Vợ trả lời về chồng của mình)

“Dạo này vợ em ít ghé chơi” (Một chị cùng cơ quan hỏi người chồng)

“Cô ấy về quê rồi chị ạ” (Chồng trả lời về vợ của mình)

Khi người thứ ba là bạn bè thân thiết của vợ/chồng thì trong thực tế xưng

hô vợ/chồng rất hiếm khi dùng “chồng tôi”, “nhà tôi”, “ông xã tôi”, “anh ấy”; hay xưng hô chồng/vợ rất hiếm khi dùng “vợ tôi”, “nhà tôi”, “bà xã tôi”, “cô

Trang 37

ấy” mà thường dùng “chồng tớ”, “nhà tớ” “ông xã tớ”, “vợ tớ”, “nhà tớ”, “bà xã tớ” Đây cũng một phần là do ảnh hưởng xưng hô cậu - tớ giữa hai người bạn thân với nhau

Ví dụ: “Để tôi về rủ vợ tôi đi chung cho vui” thường hay thay thế bằng:

“Để tớ về rủ vợ tớ đi chung cho vui”

Đôi khi trong thực tế ta cũng nghe được những cách xưng hô khiếm nhã giữa vợ/chồng với nhau như tao/mày, hoặc là xưng hô về vợ/chồng mình với người thứ ba như “chồng tao”, “nhà tao” “ông xã tao”, “vợ tao”, “nhà tao”,

“bà xã tao” Những cách xưng hô này thường thấy khi người nói và đối tượng nghe có mối quan hệ không tốt hay đang khi cãi nhau, giận dữ

Ví dụ: “Chồng tao không thích gặp mặt mày nữa”

“Mày cút ngay, đừng để nhà tao thấy mặt mày”

Những cách xưng hô khiếm nhã “chồng tao”, “nhà tao” “ông xã tao”,

“vợ tao”, “nhà tao”, “bà xã tao” cần được sửa đổi và bỏ hẳn nếu có thể, để không làm ảnh hưởng đến truyền thống văn hóa tốt đẹp từ lâu đời của dân tộc Việt Nam ta

+ Vợ >< chồng: xưng hô phù hợp với vai trò, vị trí, tuổi tác của người nghe >< ba, bố + tên chồng; Chồng >< vợ: xưng hô phù hợp với vai trò, vị trí, tuổi tác của người nghe >< mẹ, má + tên vợ (cách dùng này thường thấy khi

vợ hoặc chồng nói về đối phương với con của mình)

“Na ơi, lát nữa ba Bính về đấy” (vợ nói về chồng với con mình, tên Na) “Con ngoan đi, mẹ Tâm sắp đi chợ về rồi” (chồng nói về vợ với con)

- Cách nói khi đề cập đến vợ/chồng của người khác:

+ Người nói >< vợ người khác: xưng hô tôi, em, con, cháu (phù hợp với vai trò, vị trí, tuổi tác của người nghe) >< vợ + ông, anh, chú, em, con, cháu (phù hợp với vai trò, vị trí, tuổi tác của người nghe); Người nói >< chồng người khác: xưng hô tôi, em, con, cháu (phù hợp với vai trò, vị trí, tuổi tác của người nghe) >< chồng + bà, chị, cô, em, con, cháu (phù hợp với vai trò, vị trí, tuổi tác của người nghe)

“Vợ anh sắp sinh chưa?” (hỏi về vợ của anh đồng nghiệp)

Trang 38

vị trí, tuổi tác của người nghe)

“Viết tên ông xã chị vào đây” (yêu cầu một chị bổ sung lý lịch)

“Nhớ chở bà xã cháu đến dự tiệc luôn nhé” (chú giám đốc nói với anh nhân

viên)

+ Người nói >< vợ người khác: xưng hô tôi, em, con, cháu (phù hợp với vai trò, vị trí, tuổi tác của người nghe) >< nhà + ông, anh, chú, em, con, cháu (phù hợp với vai trò, vị trí, tuổi tác của người nghe); Người nói >< chồng người khác: xưng hô tôi, em, con, cháu (phù hợp với vai trò, vị trí, tuổi tác của người nghe) >< nhà + bà, chị, cô, em, con, cháu (phù hợp với vai trò, vị trí, tuổi tác của người nghe)

“Nhà anh mới sinh bé trai à?” (hỏi về vợ của anh đồng nghiệp)

“Cho chú gửi lời hỏi thăm nhà cháu”(hỏi thăm chồng của một nữ nhân viên)

+ Người nói >< vợ người khác: xưng hô tôi, em, con, cháu (phù hợp với vai trò, vị trí, tuổi tác của người nghe) >< mẹ, má + tên con đầu lòng; Người nói >< chồng người khác: xưng hô tôi, em, con, cháu ( phù hợp với vai trò, vị trí, tuổi tác của người nghe) >< bố, ba + tên con đầu lòng (Cách xưng hô này thường dùng khi người nói biết rõ về gia đình người nghe và giữa hai bên có mối quan hệ thân thiết.)

“Bố Tý không đi chung với em à?” ( hỏi về chồng của 1 em đồng nghiệp, em

này có đứa con trai đầu lòng tên Tý)

“Má bé Na khoẻ không em?” (hỏi về vợ của anh bạn nhỏ tuổi hơn, anh này

có đứa con gái đầu lòng tên Na)

Trang 39

Xưng hô giữa anh, chị, em với nhau:

- Xưng hô trực tiếp giữa anh, chị, em với nhau:

+ Anh >< em: xưng anh, gọi em (cả em trai và em gái đều gọi em); Em

>< anh: xưng em, gọi anh

“Anh mua cho em chiếc xe hơi này nè” (anh trai nói với em trai)

“Anh mua cho em con búp bê này nè” (anh trai nói với em gái)

“Anh đọc truyện cho em nghe đi” (em trai nói chuyện với anh)

“Anh giúp em mặc chiếc váy này nhé!” (em gái nói chuyện với anh)

+ Chị >< em: xưng chị, gọi em (cả em trai và em gái đều gọi em); Em >< chị: xưng em, gọi chị

“Chị mua cho em chiếc xe hơi này nè” (chị gái nói với em trai)

“Chị mua cho em con búp bê này nè” (chị gái nói với em gái)

“Chị đọc truyện cho em nghe đi” (em trai nói chuyện với chị)

“Chị giúp em mặc chiếc váy này nhé!” (em gái nói chuyện với chị)

- Anh, chị, em đề cập về nhau khi nói chuyện với người thứ ba:

+ Anh >< em: xưng tôi, em, con, cháu, anh, chị (phù hợp với vai trò, vị trí, tuổi tác của người nghe) >< em + tôi, em, con, cháu (phù hợp với vai trò,

vị trí, tuổi tác của người nghe) Trường hợp có hai đứa em một trai, một gái thì dùng phân biệt rõ ràng “em trai”, “em gái” + tôi, em, con, cháu, anh, chị (phù hợp với vai trò, vị trí, tuổi tác của người nghe); Em >< anh: xưng hô tôi,

em, con, cháu, anh, chị (phù hợp với vai trò, vị trí, tuổi tác của người nghe)

>< anh + tôi, em, con, cháu (phù hợp với vai trò, vị trí, tuổi tác của người nghe)

“Thưa bác, em cháu năm nay vào lớp Một ạ”(anh nói về em với bạn của ba)

“Thưa bác, em trai cháu năm nay vào lớp Một ạ”(anh nói về em trai với bạn

Trang 40

+ Chị >< em: xưng tôi, em, con, cháu, anh, chị (phù hợp với vai trò, vị trí, tuổi tác của người nghe) >< em + tôi, em, con, cháu, anh, chị (phù hợp với vai trò, vị trí, tuổi tác của người nghe) Trường hợp có hai đứa em một trai, một gái thì dùng phân biệt rõ ràng “em trai”, “em gái” + tôi, em, con, cháu (phù hợp với vai trò, vị trí, tuổi tác của người nghe); Em >< chị: xưng

hô tôi, em, con, cháu, anh, chị (phù hợp với vai trò, vị trí, tuổi tác của người nghe) >< chị + tôi, em, con, cháu, anh, chị (phù hợp với vai trò, vị trí, tuổi tác của người nghe)

“Thưa bác, em cháu năm nay vào lớp Một ạ”(chị nói về em với bạn của ba)

“Thưa bác, em trai cháu năm nay vào lớp Một ạ”(chị nói về em trai với bạn

của ba)

“Thưa bác, em gái cháu năm nay vào lớp Một ạ”(chị nói về em gái với bạn

của ba)

“Chị tôi lớn hơn tôi năm tuổi” (em nói với bạn về chị)

Trong quan hệ giao tiếp thực tế thì trường hợp sử dụng phân biệt rõ “em trai”, “em gái” như trên rất thường hay sử dụng nhưng rất ít khi sử dụng

“anh trai”, “chị gái”, có chăng là được sử dụng nhiều trong văn viết

Trong câu “Chị tôi lớn hơn tôi năm tuổi” hay “Anh tôi lớn hơn tôi năm tuổi” thường được dùng trong xưng hô giao tiếp hơn là nói “Chị gái tôi lớn hơn

tôi năm tuổi”, “Anh trai tôi lớn hơn tôi năm tuổi” Vì trong giao tiếp khi

người nói dùng “anh tôi”, “chị tôi”, người nghe đương nhiên hiểu đó là “anh trai” “chị gái” của người nói mà không cần phải phân biệt rõ ràng “anh trai tôi”, “chị gái tôi” như trong một số văn viết

- Cách nói khi đề cập đến anh, chị, em của người khác:

+ Người nói >< anh người khác: xưng tôi, em, con, cháu, anh, chị (phù hợp với vai trò, vị trí, tuổi tác của người nghe) >< anh + ông, anh, chú, bà, chị,

cô, em, con, cháu (phù hợp với vai trò, vị trí, tuổi tác của người nghe)

“Anh con có khỏe không?” (hỏi về người anh khi nói với con của bạn)

“Anh con khỏe ạ” (trả lời về anh khi nói với bạn mẹ)

Ngày đăng: 11/05/2021, 23:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w